Đặc điểm phân bố theo sinh cảnh của các loài ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi ở khu vực nghiên cứu ..... DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Thành phần loài, tỉ lệ phần trăm % các loài ốc cạn thuộc phân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ của các tổ
chức và cá nhân Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới: Phòng Đào tạo Đại học, Phòng
Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục, Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều
kiện tốt nhất cho em thực hiện khoá luận, Ban Chủ nhiệm khoa Sinh- Hoá và
Trung tâm thư viện đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thu thập thông tin,
tra cứu các tài liệu về đề tài này
Em xin cảm ơn các giảng viên, các cán bộ trong Bộ môn Động vật - Sinh thái đã tạo điều kiện cho em về dụng cụ, hoá chất và địa điểm trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên lớp K52 ĐHSP Sinh, các bạn sinh viên trong nhóm đề tài nghiên cứu về ốc cạn năm học 2014 – 2015, khoa Sinh – Hoá, Trường Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình và trao đổi cho tôi những
kinh nghiệm trong suốt thời gian qua
Em xin gửi lời tri ân tới tất cả những người thân trong gia đình, nhân dân
và chính quyền xã Nậm Nèn cùng toàn thể bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ
em trong thời gian qua
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới ThS Đỗ Đức Sáng, người trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và truyền thụ những kiến thức, kinh nghiệm cho
em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận
Sơn La, tháng 05, năm 2015
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Ngát
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
Trang 5MỤC LỤC
ĐẦU……… ………
1 1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.4 Nội dung nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.6 Khái quát tình hình nghiên cứu 3
1.6.1 Ở Việt Nam 3
1.6.2 Ở tỉnh Điện Biên và khu vực nghiên cứu 5
1.7 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 7
1.8 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu 8
1.8.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.8.2 Điều kiện kinh tế xã hội 11
1.9 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 12
1.9.1 Phương tiện nghiên cứu 12
1.9.2 Phương pháp nghiên cứu 12
PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………15
Chương 1: Đa dạng thành phần loài và đặc điểm hình thái của phân lớp Có phổi tại khu vực nghiên cứu……….15
1.1 Danh sách thành phần loài phân lớp Có phổi ở khu vực nghiên cứu 15
1.2 Một số nhận định về thành phần loài ở khu vực nghiên cứu 32
1.3 So sánh mức độ đa dạng thành phần loài giữa khu vực nghiên cứu với một số khu vực lân cận 34
Trang 6Chương 2: Phân bố của phân lớp Có phổi theo sinh cảnh khu vực nghiên cứu……… 38 2.1 Đặc điểm sinh cảnh khu vực nghiên cứu 38 2.2 Đặc điểm phân bố theo sinh cảnh của các loài ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi ở khu vực nghiên cứu 39
NGHỊ……… 41
3.1 Kết luận 41 3.2 Kiến nghị 41
KHẢO……… 42
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Thành phần loài, tỉ lệ phần trăm (%) các loài ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi theo sinh cảnh ở KVNC, hạng phân bố của loài 15 Bảng 2: Chỉ số tương đồng về đa dạng loài giữa KVNC với các khu vực khác… 36 Bảng 3: Tỉ lệ số lượng cá thể, loài, giống, họ ốc ở cạn theo sinh cảnh ở KVNC 39
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí các điểm thu mẫu 8 Biểu đồ 1: Tỉ lệ phần trăm (%) số lượng cá thể trong các họ ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi ở KVNC 33 Biểu đồ 2: Số loài, giống, họ ốc cạn trong phân lớp Có phổi ở KVNC, Tây Trang, TP Sơn La, KBTTN Xuân Nha 36 Biểu đồ 3: Tỉ lệ phần trăm (%) số lượng cá thể các loài ốc cạn thuộc phân lớp
Có phổi trong sinh cảnh tự nhiên và nhân tác 40 Biểu đồ 4: Số lượng loài, giống, họ ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi trong sinh cảnh tự nhiên và sinh cảnh nhân tác 40
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Ngành Thân mềm (Mollusca) là một trong những ngành lớn của giới Động vật, Chân bụng (Gastropoda) là lớp duy nhất trong ngành có đại diện sống
ở cạn và ở nước Ốc cạn thuộc hai phân lớp: phân lớp Có phổi (Pulmonata) và phân lớp Mang trước (Prosobranchia), chúng giữ vai trò quan trọng trong nhiều
hệ sinh thái và gắn bó mật thiết với đời sống con người
Những lợi ích to lớn của ốc cạn phải kể đến như: là mắt xích thức ăn trong các chuỗi thức ăn và lưới thức ăn của nhiều hệ sinh thái; vỏ của trai, ốc dùng để khảm trai, hàng mĩ nghệ, làm vật trang trí, để nung vôi; là nguồn thực phẩm dễ kiếm và có hàm lượng dinh dưỡng cao; làm nguyên liệu chế thuốc vẽ; làm một
số vị thuốc trong y học cổ truyền với bộ phận chủ yếu là thịt và nhớt của chúng
Ngoài những vai trò có lợi kể trên, một số loài ốc ở cạn còn là sinh vật
gây hại đối với sản xuất nông nghiệp như các loài ốc sên (Achtina fulica), sên trần (Arionnidae) phá hoại cây trồng; là vật chủ trung gian truyền bệnh cho con
người, gia súc: ốc tai truyền bệnh sán lá gan cho trâu bò, ốc mút truyền bệnh sán
lá gan nhỏ cho người
Vì thế việc nghiên cứu các loài ốc ở cạn, nhất là đặc điểm khu vực phân
bố và thành phần loài là nhiệm vụ cấp thiết Tuy nhiên Thân mềm Chân bụng ở cạn chưa được khảo sát đầy đủ ở các vùng cảnh quan tiêu biểu trên lãnh thổ Việt Nam và những dữ liệu khoa học về thành phần loài, đặc điểm sinh học còn hạn chế Từ đó, đặt ra nhiệm vụ cần tiếp tục mở rộng việc điều tra thống kê thành phần loài, đặc điểm phân bố của Thân mềm Chân bụng ở cạn Đặc biệt tại khu vực xã Nậm Nèn thuộc huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên tính đến nay chưa có một công trình nào được tiến hành, trong khi đó nơi đây với địa hình chủ yếu là núi đá vôi và rừng tự nhiên là nơi sống thích hợp của nhiều loài động vật trong
đó có ốc cạn; nơi đây giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, dân trí thấp, sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác các sản phẩm tự nhiên; tài nguyên động thực vật nhanh chóng cạn kiệt trong đó có loài Thân mềm ở cạn Hơn nữa, phân lớp Có phổi với số lượng và thành phần loài phong phú thì công tác điều
Trang 9tra nghiên cứu để làm rõ thành phần và đặc điểm phân bố của chúng cần được tiến hành nhiều hơn
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thành phần và đặc điểm phân bố của phân lớp Có phổi (Gastropoda: Pulmonata) ở khu vực xã Nậm Nèn, Mường Chà, Điện Biên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định thành phần loài ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi (Pulmonata) ở khu vực xã Nậm Nèn, Mường Chà, Điện Biên
- Nghiên cứ u đă ̣c điểm phân bố của các loài ốc cạn phân lớp Có phổi (Pulmonata) theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu nhập và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
- Tiến hành thu nguồn mẫu ở ngoài thực địa, xử lý mẫu vật
- Điều tra, phỏng vấn nhân dân địa phương
- Phân tích và định loại nguồn mẫu vật thu được
- Tìm hiểu đặc điểm từng loại sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu
- Lập danh sách các loài ốc cạn trong phân lớp Có phổi theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu
- Đánh giá độ đa dạng và so sánh với khu vực khác
1.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài ốc cạn trong phân lớp Có phổi ở khu vực nghiên cứu So sánh dẫn liệu về phân lớp Có phổi ở các khu vực lân cận với khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của ốc cạn trong phân lớp Có phổi theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài hoàn thành sẽ cung cấp nguồn dẫn liệu mới có tính hệ thống cho khoa học về loài ốc cạn trong phân lớp Có phổi ở khu vực xã Nậm Nèn, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên tiến tới các chuyên khảo, tạp chí sinh học, động vật chí…
Trang 10- Các mẫu ốc thu được sẽ cung cấp cho bộ môn Động vật – sinh thái, khoa Sinh – Hoá, trường Đại học Tây Bắc nguồn mẫu vật phục vụ trong quá trình giảng dạy các học phần như: Động vật không xương sống, Sinh thái học, Tiến hoá…
1.6 Khái quát tình hình nghiên cứu ốc cạn
1.6.1 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam và vùng Đông Dương nói chung, cùng với ốc nước ngọt, ốc ở
cạn đã được điều tra nghiên cứu từ giữa thế kỉ XIX Theo Đặng Ngọc Thanh (2008) quá trình nghiên cứu ốc cạn ở Việt Nam cho đến nay có thể chia thành 3 giai đoạn: từ năm 1840 đến năm 1900, giai đoạn từ năm 1900 đến năm 1975, giai đoạn sau năm 1975 đến nay [17]
Giai đoạn từ năm 1840 đến năm 1900 số loài đã công bố là 448 (theo nguồn dẫn liệu của Fischer et Dautzenberg, 1904), trong đó ghi nhận được 339 loài thuộc phân lớp Có phổi (Pulmonata) [22] Có thể kể đến những công trình quan trọng trong giai đoạn từ năm 1840 đến năm 1900 của những chuyên gia được biết đến nhiều như: Morlet (1886, 1891, 1892), Dautzenberg et Hamdnville (1887), Dautzenberg (1893), Bavay et Dautzenberg (1899), Fischer (1848), Ancey (1888) [22, 27] Giai đoạn từ năm 1900 đến năm 1975 số loài đã công bố là 103, bổ sung 82 loài cho khu hệ ốc cạn Việt Nam [23] Trong giai đoạn này có thể kể đến những công trình của các tác giả sau: Bavay et Dautzenberg (1900, 1901, 1903), Mollendorff (1901), Dautzenberg et Fischer (1905); trong thời kì này cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm việc nghiên cứu ốc cạn hầu như bị ngừng lại, ngoại trừ một số rất ít công trình khảo sát kết hợp với địa chất ở các đảo Hoàng Sa (Paracels) và Bạch Long Vĩ (Saurin, 1955, 1960)
và một số điểm khác ở Bắc Bộ (S Jaeckel, 1950; Varga, 1963) [24, 25, 27] Giai đoạn sau năm 1975 đến nay, phải tới sau chiến tranh Việt Nam, việc nghiên cứu
ốc ở cạn mới tiếp tục được chú ý nghiên cứu, tuy muộn hơn, bắt đầu bằng một
số công trình khảo sát đầu tiên về thành phần và phân bố ốc ở cạn ở một số khu vực ở phía bắc Việt Nam, trong giai đoạn này đã công bố 259 loài, bổ sung 246
Trang 11loài mới cho khu hệ ốc cạn Việt Nam, trong đó có 186 loài (thuộc 16 họ) trong phân lớp Có phổi
Như vậy, từ tình hình nghiên cứu trên cho thấy việc nghiên cứu ốc cạn ở Việt Nam không được diễn ra liên tục, bị gián đoạn theo những giai đoạn biến
cố của lịch sử; những hoạt động khảo sát chủ yếu do các tác giả nước ngoài thực hiện; nội dung nghiên cứu trong giai này chủ yếu là thống kê thành phần loài của các vùng khác nhau và cho đến nay ốc cạn ở Việt Nam chưa được khảo sát đầy đủ ở các vùng cảnh quan tiêu biểu trên lãnh thổ Việt Nam mà chủ yếu tập chung tại các khu vực thuộc vùng Đông Bắc, Việt Nam như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn; vùng núi Tây Bắc cũng đã có một số công trình được điều tra chủ yếu ở các tỉnh như: Yên Bái, Sơn La, Lai Châu; vùng đảo, vùng đồng bằng
và vùng ven biển còn ít được khảo sát
1.6.2 Ở tỉnh Điện Biên và khu vực nghiên cứu
Nhìn chung tại tỉnh Điện Biên việc điều tra, nghiên cứu về ốc cạn nói chung và về phân lớp Có phổi nói riêng còn rất hạn chế, đến nay mới có một công trình nghiên cứu của Đỗ Văn Nhượng, Đinh Phương Dung (2012), đã ghi nhận được 54 loài thuộc 35 giống và 13 họ; trong đó có 38 loài trong phân lớp
Có phổi thuộc 23 giống và 10 họ tại khu vực Tây Trang [2] Xét riêng về thành
phần loài phân lớp Có phổi thu được kết quả như sau
Về bậc họ:
Trong 10 họ phát hiện ở Tây Trang thì họ Bradybaenidae, họ Camaenidae,
họ Subulinidae với 4 giống (chiếm 17,39% tổng số giống) Tiếp theo là họ Ariophantidae với 3 giống (chiếm 13,04%) Họ Achatinidae, họ Clausiliidae với
2 giống (chiếm 8,7% tổng số giống) Họ Trochomorphidae, họ Plectopylididae,
họ Streptaxidae, họ Vertiginidae với 1 giống (chiếm 4,35% tổng số giống)
Họ Ariophantidae có số lượng loài đa dạng nhất với 8 loài (chiếm 21,05% tổng số loài) Tiếp theo là 3 họ: họ Bradybaenidae, họ Clausiliidae, họ Subulinidae với 6 loài (chiếm 15,79% tổng số loài) Họ Camaenidae với 5 loài (chiếm 13,16% tổng số loài) Họ Achatinidae, họ Trochomorphidae với 2 loài
Trang 12(chiếm 5,26% tổng số loài) Cuối cùng là các họ: họ Plectopylididae, họ Streptaxidae, họ Vertiginidae với 1 loài (chiếm 2,63% tổng số loài)
Xét về số lượng loài, họ Bradybaenidae có độ phong phú cao nhất với
2076 cá thể (chiếm 55,42% tổng số cá thể); họ Ariophantidae với 737 cá thể (chiếm 19,67% tổng số cá thể), họ Subulinidae với 341 cá thể (chiếm 9,1% tổng
số cá thể); họ Achatinidae với 268 cá thể (chiếm 7,15% tổng số cá thể); họ Clausiliidae với 144 cá thể (chiếm 3,84% tổng số cá thể ); họ Streptaxidae với
83 cá thể (chiếm 2,22% tổng số cá thể); họ Trochomorphidae với 55 cá thể (chiếm 1,47 % tổng số cá thể ), họ Camaenidae với 26 cá thể (chiếm 0,69% tổng
số cá thể); họ Plectopylididae với 11 cá thể (chiếm 0,29% tổng số cá thể); họ
Vertiginidae với 5 cá thể (chiếm 0,13% tổng số cá thể)
Về bậc giống:
Trong 23 giống phát hiện ở khu vực Tây Trang thì giống Macrochlamys
có 6 loài (chiếm 15,79% tổng số loài); giống Phaedusa có 5 loài (chiếm 13,16% tống số loài); giống Subulina có 3 loài (chiếm 7,89% tổng số loài); có 4 giống: Aegista, Bradybaena, Videna, Coniglobus có 2 loài (chiếm 5,26% tổng số loài);
có 16 giống: Achatina, Limicolaria, Megaustenia, Oxytesta, Acusta, Plectotropis, Amphidromus, Ganesella, Camaena, Hemiphaedusa, Plectopylis, Haplotychius, Paropeas, Prosopeas, Leptinaria, Paraboysidia có 1 loài (chiếm
2,63% tổng số loài)
Về bậc loài:
Trong 38 loài đã phát hiện được ở khu vực Tây Trang có 8 loài chỉ định
loại đến giống (Limicolaria sp., Macrochlamys sp., Aegista sp 2, Aegista sp 3, Hemiphaedusa sp., Subulina sp 1, Subulina sp 2, Paraboysidia sp.) đó có thể là
những loài mới hoặc là những sai khác, biến dị
Trong danh sách những loài bắt gặp ở KVNC, căn cứ vào phạm vi phân
bố có thể xác định 2 nhóm loài:
Nhóm loài phân bố rộng, đã gặp ở các khu vực khác trên lãnh thổ Việt
Nam, gồm 8 loài: Achatina fulica, Macrochlamys amboinensis, Bradybaena
Trang 13similaris, Amphidromus dautzenbergi, Coniglobus albidus, Hemiphaedusa sp., Paropeas douvillei, Prosopeas lavilei
Nhóm loài chỉ phân bố ở Tây Trang chưa gặp ở nơi nào khác của Việt
Nam gồm 30 loài: Limicolaria sp., Macrochlamys benoiti, Macrochlamys bilineata, Macrochlamys sogdiana, Macrochlamys despecta, Macrochlamys sp., Megaustenia messageri, Oxytesta oxytes, Acusta tourannensis, Plectotropis subinflexa, Aegista sp 2, Aegista sp 3, Bradybaena jourdyi, Videna timorensis, Videna sapeca, Coniglobus nux, Ganesella fulvescens, Camaena vayssierei, Phaedusa bensoni, Phaedusa phongthoensis, Phaedusa sorella, Phaedusa paviei, Phaedusa eupleura, Plectopylis multispira, Haplotychius dorri, Leptinaria unilamellata, Subulina octona, Subulina sp 1, Subulina sp 2, Paraboysidia sp
Tại khu vực xã Nậm Nèn, Mường Chà, Điện Biên đến nay vẫn chưa có công trình điều tra, làm rõ về thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài
ốc cạn
1.7 Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài ốc cạn trong phân lớp Có phổi thuộc khu vực xã Nậm Nèn, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
- Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là bản A, bản B, bản Huổi Đo, bản Huổi Bon, bản Nậm Nèn 1, xã Nậm Nèn, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
- Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 5 năm
2015
Thời gian nghiên cứu được phân bố cụ thể như sau:
Thời gian Các nội dung công việc thực hiện
6/2014 - Thu thập, nghiên cứu thông tin về khu vực nghiên cứu
- Thu thập, nghiên cứu các tài liệu định loại, mô tả và các tài liệu chuyên ngành khác
7/2014 - Tiến hành các đợt đi thu mẫu
Trang 148/2014-9/2014 - Tiến hành các đợt đi thu mẫu
- Lập đề cương nghiên cứu
10/2014-11/2014 - Tiến hành các đợt đi thu mẫu
- Phân tích và định loại mẫu vật
12/2014 - Phân tích và xử lý số liệu
- Tiến hành mô tả mẫu
1/2015-2/2015 - Tổng kết số liệu đề tài
3/2015-4/2015 - Viết và hoàn thành đề tài
5/2015 - Báo cáo đề tài
1.8 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu
1.8.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Mường Chà là một huyện vùng cao biên giới, nằm phía Tây Bắc của tỉnh Điện Biên, được điều chỉnh lần gần đây nhất theo Nghị định 135/2006/NĐ-CP
ngày 14 tháng 11 năm 2006 Diện tích: 1.826 km² Ranh giới của huyện cụ thể
như sau: phía Đông tiếp giáp với huyện Tủa Chùa và Tuần Giáo, phía Tây tiếp giáp với huyện Mường Nhé và nước Lào, phía Nam tiếp giáp với thành phố Điện Biên Phủ, phía Bắc tiếp giáp với thị xã Mường Lay, bao gồm 1 thị trấn và
14 xã Trong đó, xã Nậm Nèn có 3.619,82 ha diện tích tự nhiên và 2.539 nhân khẩu Địa giới hành chính xã Nậm Nèn: Đông giáp xã Trung Thu, huyện Tủa Chùa; Tây giáp các xã: Hừa Ngài, Huổi Mí, huyện Mường Chà; Nam giáp các xã: Sính Phình, Mường Báng, huyện Tủa Chùa và xã Mường Mùn, huyện Tuần Giáo; Bắc giáp xã Pa Ham, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên [28]
\
Nậm Nèn
Trang 15
Chú thích: điểm thu mẫu
Hình 1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí các điểm thu mẫu
- Địa hình
Kiểu địa hình của huyện Mường Chà chủ yếu là núi trung bình và núi cao
có độ cao tuyệt đối so với mực nước biển trung bình từ 350m - 1.800m, với độ dốc bình quân từ 160
- 450 Địa hình chia cắt phức tạp do có nhiều núi cao và khe sâu tạo thành
Địa hình Nậm Nèn bị chia cắt mạnh có nhiều núi cao chủ yếu là núi đá vôi xen lẫn đồi tạo nên nhiều thung lũng nhỏ hẹp, có dòng sông Nậm Mức chạy dọc theo, độ dốc lớn kết hợp với lượng mưa trong năm nhiều nên đất thường xuyên bị xói mòn, bạc màu, độ phì nhiêu thấp Do chủ yếu là núi đá vôi nên có nhiều cấu trúc hang, hốc và kẽ đá có chứa mùn bã hữu cơ và độ ẩm cao nhất là vào mùa mưa, thích hợp cho nhiều động vật đất cư trú trong đó có ốc cạn [6, 18]
- Khí hậu: khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 (nóng, ẩm, mưa nhiều); mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau (khí hậu lạnh và khô hanh)
Nhiệt độ: nhiệt độ bình quân năm từ 18-200C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối
là 400C Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 20
Độ ẩm: độ ẩm không khí trung bình từ 83-85% nhưng vào các tháng 3, 4,
5 thời tiết khô nóng do ít mưa và còn bị ảnh hưởng của gió Lào nên độ ẩm của không khí có thể xuống thấp mức từ 40-50%
Trang 16Chế độ gió, bão: khu vực chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính là gió mùa đông bắc thổi vào các tháng 10, 11, 12 và tháng giêng; gió mùa tây nam thổi vào các tháng 3, 4, 5 Địa phương ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão nhiệt đới nhưng hay xảy ra các hiện tượng như: lốc xoáy, sạt lở đất, lũ quét, động đất…
Đặc điểm sông suối: Mường Chà có hệ thống sông suối khá phong phú với nhiều con sông suối có lưu lượng nước lớn Phải kể đến đầu tiên là 2 con sông chính đó là sông Đà và sông Nậm Mức
Với đặc điểm khí hậu như vậy, nơi đây là môi trường khí hậu thuận lợi cho ốc cạn sinh sống, sự chênh lệch về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa giữa mùa mưa và mùa khô là nhân tố quyết định sự khác biệt về thành phần loài ốc cạn giữa 2 mùa [6, 18]
Sự phân bố lượng nước trong khu vực kéo theo nền nhiệt ẩm biến đổi không đồng đều, thường thì khu vực sông ngòi có hệ thống thảm thực vật phong phú do đó cung cấp nguồn thức ăn cho nhiều loài ốc đặc biệt là lá cây, rêu, lớp thảm mục [6,18]
- Tài nguyên sinh vật
+ Tài nguyên thực vật: rừng Mường Chà có tổng diện tích khoảng 8.537.286 ha, chủ yếu là rừng tự nhiên Tuy nhiên những năm gần đây, nguồn tài nguyên này đang bị xâm hại và suy giảm nhanh chóng do nhiều nguyên nhân dẫn đến nhiều loài quý hiếm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Trong khi
đó ốc cạn phần lớn sử dụng thực vật làm nguồn thức ăn, chính vì vậy mà nó ảnh hưởng đến sự phân bố của ốc cạn rất lớn [28]
Trang 17+ Tài nguyên động vật: cùng với sự suy giảm nhanh chóng nguồn tài nguyên rừng thì nguồn tài nguyên động vật cũng dần bị cạn kiệt Nhiều loài quý hiếm đã bị tuyệt chủng cục bộ tại địa phương, nhiều loài thì đang suy giảm số lượng một cách nhanh chóng, trong đó có sự cạn kiệt dần của ốc cạn bởi sự khai thác, sử dụng của người dân địa phương [28]
1.8.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Xã Nậm Nèn có 3.619,82 ha diện tích tự nhiên và 2.539 nhân khẩu Do chủ yếu là dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp nên vẫn còn tập quán canh tác lạc hậu như du canh, du cư, chặt phá rừng làm nương rẫy, dân cư sinh sống chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên do đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đa dạng loài nơi đây, trong đó phải kể đến ốc cạn
- Giáo dục y tế
+ Y tế: toàn huyện có một Trung tâm Y tế, mỗi xã đều có một trạm y tế Đội ngũ y bác sĩ thường xuyên được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn Hầu như 100% số bản trong huyện đều có y tá chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Thực hiện tốt pháp lệnh dân số, kế hoạch hóa gia đình Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bằng nhiều hoạt động thiết thực của các cấp, các ngành và toàn xã hội được chú trọng; tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng đến nay là 23,19%, giảm 11% so với năm 2005
+ Giáo dục: toàn huyện đến năm học 2009 - 2010 có 60 trường Trong đó có: 18 trường mầm non, 41 trường phổ thông và 1 Trung tâm giáo dục thường
Trang 18xuyên, có 5 trường đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia, tăng 2, 3 lần so với năm 2004, số lượng học sinh ra lớp tăng bình quân 8 - 10%/năm.Chất lượng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn về trình độ đạt 96% trong đó 56% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn [29]
Nhờ sự chuyển biến cơ bản về giáo dục và y tế mà những năm gần đây người dân đã nâng cao được ý thức, trách nhiệm đối với việc bảo vệ môi trường
tự nhiên, trong đó có ý thức bảo vệ các nhóm sinh vật đất đặc biệt phải kể tới ốc cạn
- Tình hình kinh tế
Kinh tế còn chậm phát triển, chưa bền vững Sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, các cây lương thực được trồng nhiều Chăn nuôi gia súc, gia cầm còn với quy mô nhỏ lẻ Khi nền kinh tế còn khó khăn kéo theo chất lượng của người dân không được đảm bảo, việc sử dụng ốc núi đá làm thức ăn, làm thuốc
và để buôn bán vẫn còn phổ biến Điều đó đang đe doạ đến khu hệ ốc cạn nơi đây vì vậy cần sớm có biện pháp bảo tồn
1.9 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu
1.9.1 Phương tiện nghiên cứu
- Dụng cụ, thiết bị và hoá chất
+ Trong công tác nghiên cứu ngoài thực địa: Máy ảnh, lọ đựng mẫu, bản
đồ, thước dây, túi nilon, sổ tay, đèn pin, dao, giấy can,…
+ Trong quá trình nghiên cứu ở phòng thực hành: kính núp, giấy can, bút chì, thước palme, khay nhựa,…
+ Dung dịch ethanol 700
- Mẫu vật: tổng số mẫu thu được là 2.279 cá thể
1.9.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu mẫu vật
Ốc ở cạn được thu ở phạm vi rộng, thu mẫu từ con non đến con trưởng thành, thu cả mẫu đã chết chỉ còn lại vỏ Với những mẫu có kích thước lớn nhặt bằng tay, mẫu có kích thước bé có thể dùng sàng, đối với mẫu ốc bé lẫn trong đất mùn hoặc thảm mục có thể sử dụng phương pháp cho đất hoặc thảm mục
Trang 19vào chậu nước để mẫu nổi lên và vớt lấy mẫu Với những mẫu phổ biến cần thu với số lượng thích hợp Các mẫu được bảo quản trong túi nilon riêng, có ghi kí hiệu theo sinh cảnh, vị trí nơi thu mẫu
- Phương pháp điều tra cộng đồng địa phương
Phỏng vấn và điều tra trực tiếp người dân tại nơi thu mẫu và những người
am hiểu và quan tâm tới ốc cạn, đặc biệt đối với phân lớp Có phổi một số thông tin như: nơi ở, thức ăn, giá trị kinh tế, tình hình khai thác ốc cạn ở địa phương…
- Phương pháp quan sát ghi chép, chụp ảnh
Quan sát bằng mắt thường nơi phân bố của ốc cạn, chúng có thể bám trên các bộ phận của cây hay trên mặt đất, dưới thảm lá mục, trong hang đá, khe đá, chân núi đá vôi…Quan sát hoạt động kiếm ăn, di chuyển, hình thái ngoài, sự tác động của nhân dân đối với nơi phân bố của ốc cạn Ghi chép lại đầy đủ những thông tin về mẫu và môi trường sống vào sổ ghi chép thực địa Ảnh thực địa phải phản ánh được nội dung nghiên cứu như các loại sinh cảnh điển hình, các loại thảm thực vật, các loại địa hình, các tính chất đặc biệt của khu vực nghiên cứu, các mẫu đang hoạt động sống, các loài cây làm thức ăn của ốc cạn, các vị trí tập trung nhiều mẫu sống và chết
- Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu thu được
Đối với mẫu là vỏ ốc tiến hành bảo quản khô trong các túi nilon hoặc lọ đựng mẫu Mẫu sống được rửa sạch sau đó đun nước ấm cho ốc há miệng ra thì dừng đun, sau đó bảo quản trong dung dịch ethanol 700
- Phương pháp xác định chỉ số tương đồng
Để phân tích mối quan hệ về thành phần loài ốc cạn giữa khu vực nghiên cứu với khu vực khác, chúng tôi sử dụng chỉ số tương đồng S Chỉ số này được tính theo công thức sau:
S= 2C/(A+B) Trong đó: S là chỉ số tương đồng
A, B là tổng số loài của 2 khu hệ cần so sánh
C là số loài trùng nhau ở 2 khu hệ
- Phương pháp phân tích mẫu vật
Trang 20Ốc ở cạn được tập trung phân tích qua đặc điểm hình thái ngoài và hình thái giải phẫu Những đặc điểm hình thái ngoài thường được phân tích gồm: màu sắc, hình dạng, chiều cao, chiều rộng, kích thước miệng vỏ, vòng xoắn… Những đặc điểm này được thể hiện bằng số đo hay tỉ lệ của chúng Đặc điểm hình thái giải phẫu nội quan có giá trị định loại như cơ quan sinh sản, lưỡi bào…
- Phương pháp định loại
Đối với các mẫu ốc ở cạn định loại dựa vào đặc điểm hình thái vỏ (màu sắc, kích thước, hình dạng, vòng xoắn, đỉnh vỏ, rãnh xoắn, miệng vỏ…) và đặc điểm giải phẫu (cơ quan sinh dục và lưỡi bào) Tuy nhiên đề tài mới chỉ tập chung phân tích, định loại dựa vào các dấu hiệu hình thái vỏ Quá trình định loại dựa vào các mô tả của Bavay và Dautzenberg và một số tài liệu khác, sắp xếp các đơn vị phân loại của Schileyko (2010)
- Phương pháp phân chia sinh cảnh
Theo cách phân chia của Đỗ Văn Nhượng, Đỗ Đức Sáng (2014) và căn cứ điều kiện thực tế khu vực xã Nậm Nèn đề tài phân chia khu vực nghiên cứu thành 2 dạng sinh cảnh chính: sinh cảnh tự nhiên (núi đá vôi,
rừng trên núi đá vôi…), sinh cảnh nhân tác (vườn cây, khu dân cư…)
Trang 21PHẦN 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA
PHÂN LỚP CÓ PHỔI Ở TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Danh sách thành phần loài phân lớp Có phổi ở khu vực nghiên cứu
Các loài ốc cạn trong phân lớp Có phổi phân bố theo sinh cảnh gặp ở xã Nậm Nèn, Mường Chà, Điện Biên được giới thiệu trong bảng 1 Ngoài ra bảng 1 còn thể hiện tỉ lệ phần trăm các loài ốc cạn thuộc phân lớp Có phổi phân bố trong các sinh cảnh ở KVNC và hạng phân bố của loài
Bảng 1: Thành phần loài, tỉ lệ phần trăm (%) các loài ốc cạn thuộc phân
lớp Có phổi theo sinh cảnh ở KVNC, hạng phân bố của loài
Sinh cảnh
Tự nhiên n%
Nhân tác n%
Ariophantidae Godwin - Austen, 1888
4 M imperator imperator (Gould, 1858) 18,94 48,5
5 M messageri (Bavay et Dautz., 1908) 1,61
Trang 2222 P douvillei (Dautz et Fischer, 1908) 0,76
23 P lavillei Dautz et Fischer, 1908 0,28
24 P ventrosulum Bavay et Dautz., 1908 0,14
Trang 23Giống Hemiplecta Albers, 1850
1 Hemiplecta esculenta Maassen, 2006 [h3.5]
Hemiplecta esculenta Maassen, 2006: Basteria, 70 (1-3): 13-18
Nơi thu mẫu chuẩn: Bắc Việt Nam [19]
Khu vực nghiên cứu: Bản B, Nậm Nèn
Vùng khác: Ninh Bình: Cúc Phương [17]; Sơn La: KBTTN Xuân Nha
[15]
Nhận xét: loài này có nhiều đặc điểm gần Hemiplecta pluto, sai khác ở kích
thước nhỏ hơn, gờ trên mặt vỏ nổi rõ (so với mịn) và lỗ rốn rộng Hemiplecta
esculenta phân bố cả ở những nơi có độ cao trên 1200m
Giống Macrochlamys Benson, 1832
2 Macrochlamys despecta (Mabille, 1887) [h3.2]
Nanina despecta Mabille, 1887: Bull Soc Mala France, 4: 79, pl I; fig 13, 14
Nơi thu mẫu chuẩn: Bắc Bộ, Việt Nam [20]
Synonym: Macrochlamys alluaudi B et D., 1900; Nanina alluaudi F et D., 1904
Số cá thể: 212 (số cá thể nghiên cứu: 100)
Trang 24Chẩn loại: kích thước lớn, vỏ mỏng, hình đĩa, bóng, màu vàng nhạt 6½ - 7
vòng xoắn phồng, mặt vỏ có nhiều gờ hình cánh cung, mịn Rãnh xoắn sâu và
rộng Tháp ốc tù, đỉnh vỏ phẳng Thể chai mỏng Lỗ rốn hẹp và sâu
Kích thước (mm): H 12,2-13,4; D 22,3-24; H/D 0,55-0,56; DA 12,7-13,5
Phân bố:
Khu vực nghiên cứu: Bản A, B, Huổi Đo; Nậm Nèn
Vùng khác: Bắc Cạn; Cao Bằng: Quảng Uyên; Hà Giang; Điện Biên: Tây
Trang; Hà Nam: Phủ Lý; Lạng Sơn: Tràng Định, Bắc Sơn; Ninh Bình: Cúc Phương; Quảng Ninh: Hạ Long; Thanh Hoá: Pù Luông; Sơn La: KBTTN Xuân
Nha [8, 20]
Nhận xét: loài này có nhiều đặc điểm gần Macrochlamys douvillei, sai khác ở
tháp ốc phẳng (so với nhô cao), lỗ miệng và số vòng xoắn Gặp rất phổ biến ở
nhiều nơi ở phía Bắc Việt Nam
3 Macrochlamys douvillei Dautzenberg et Fischer, 1905 [h3.3]
Macrochlamys douvillei D et F., 1905b: J Conch., 53: 351, pl VIII, fig 4-6
Nơi thu mẫu chuẩn: Hà Giang, Việt Nam [27]
Khu vực nghiên cứu: Bản Huổi Đo, Huổi Bon; Nậm Nèn
Vùng khác: Hà Giang; Thanh Hoá: Pù Luông; Sơn La: KBTTN Xuân Nha
[15, 21, 27]
Nhận xét: loài này có mật độ cá thể trong quần thể lớn
Giống Megaustenia Cockerell, 1912
4 Megaustenia imperator imperator (Gould, 1858) [h3.12]
Vitrina imperator Gould, 1858: Pro Boston Soc Nat His., 6: 422
Nơi thu mẫu chuẩn: Hồng Kông, Trung Quốc [18]
Trang 25Synonym: Helicarion maleficus Mabille, 1887; Helicarion imperator F et.,
1904
Số cá thể: 481 (số cá thể nghiên cứu: 150)
Chẩn loại: kích thước lớn, vỏ hình cầu, mỏng, màu vàng 3 vòng xoắn phồng,
bề mặt có các gờ hình cánh cung mịn Tháp ốc tù, đỉnh vỏ nhô cao Thể chai rất
mỏng Không có lỗ rốn
Kích thước (mm): H 20-32; D 27,5-45; H/D 0,71-0,73; DA 20-26
Phân bố:
Khu vực nghiên cứu: Bản Nậm Nèn 1, Nậm Nèn
Vùng khác: Cao Bằng: Quảng Uyên, Trùng Khánh; Lạng Sơn: Bắc Sơn;
Hà Nam: Phủ Lý; Quảng Ninh: Hạ Long; Ninh Bình: Cúc Phương; Thanh Hoá:
Pù Luông; Sơn La: KBTTN Xuân Nha [15, 20, 21]
Nhận xét: loài này đặc trưng bởi lỗ miệng vỏ lớn, gần tròn Phân bố rất phổ
biến và có mật độ cá thể trong quần thể cao Nhóm loài Megaustenia phát triển
khoang áo phủ ngoài mặt vỏ để tăng cường trao đổi khí
5 Megaustenia messageri (Bavay et Dautzenberg, 1908)
Helicarion messageri B et D., 1908: J Conch., 56: 231
Nơi thu mẫu chuẩn: Nật Sơn, Kim Bôi, Hoà Bình, Việt Nam [23]
Số cá thể: 34 (số cá thể nghiên cứu: 20)
Chẩn loại: kích thước lớn, vỏ mỏng, màu nâu đất, hình cầu, 3 vòng xoắn phồng, mặt vỏ mịn Tháp ốc tù, đỉnh vỏ phẳng Thể chai không rõ Không có lỗ rốn Kích thước (mm): H 18-19,3; D 28-29,7; H/D 0,64-0,65; DA 17,5-19
Phân bố:
Khu vực nghiên cứu: Bản Nậm Nèn 1, Nậm Nèn
Vùng khác: Điện Biên: Tây Trang; Hoà Bình: Kim Bôi; Sơn La: KBTTN
Xuân Nha [11, 15, 20]
Nhận xét: loài này có kích thước bé nhất trong nhóm loài Megaustenia ghi nhận
ở Nậm Nèn, có nhiều đặc điểm giống với Megaustenia imperator, sai khác ở
kích thước đỉnh vỏ và lỗ miệng
Giống Microcystina Morch, 1872
Trang 266 Microcystina messageri Ancey, 1903
Microcystina messageri Ancey, 1903: J Conch., 1903, 57: 207, pl VIII, fig
8-10
Nơi thu mẫu chuẩn: Bắc Cạn, Việt Nam [20]
Số cá thể: 294 (số cá thể nghiên cứu: 100)
Chẩn loại: kích thước bé, hình cầu, màu trắng đục đến vàng, nhẵn 5½ vòng
xoắn phồng Tháp ốc tù, đỉnh vỏ nhô cao Miệng vỏ hình bán nguyệt, vành
miệng đơn Lỗ rốn hẹp nhưng rõ
Kích thước (mm): H 2,6-2,9; D 3,8-4,5; H/D 0,64-0,68; DA 2,1-2,3
Phân bố:
Khu vực nghiên cứu: Bản B, Nậm Nèn
Vùng khác: Bắc Cạn; Sơn La: KBTTN Xuân Nha [15, 22]
Nhận xét: loài này có hình dạng gần với Microcystina leucocystis, sai khác ở
kích thước nhỏ hơn Gặp rải rác vài nơi trong khu vực nghiên cứu, mật độ ở
những sinh cảnh đá vôi cao hơn nơi khác
Giống Sesara H Adams, 1865
7 Sesara sp [h3.10]
Số cá thể: 37 (số cá thể nghiên cứu: 25)
Chẩn loại: ốc cỡ nhỏ, màu xám, vỏ chắc chắn 5 vòng xoắn, hơi phồng Tháp ốc
tù Miệng dẹp, vành miệng đơn, trong miệng có 2 tấm răng, một tấm to, một tấm
nhỏ, làm vành miệng có một khuyết hõm
Kích thước (mm): H 2,7-3,5; D 7,8-9; H/D 0,35-0,39; DA 3-3,9
Phân bố:
Khu vực nghiên cứu: Bản Huổi Bon, Nậm Nèn
Nhận xét: đặc trưng của loài này là miệng có 2 tấm răng Sesara sp gần giống
với Macrochlamys despecta, chỉ khác ở đặc điểm kích thước (kích thước nhỏ so với kích thước lớn), miệng Sesara sp dẹp hơn Macrochlamys despecta, và có
răng (so với không có răng)
Giống Sivella Blanford, 1863
8 Sivella paviei (Morlet, 1884) [h3.4]
Trang 27Helix paviei Morlet, 1884: J Conch., 24: 386, pl XI, fig 1,1a
Nơi thu mẫu chuẩn: Phnômpênh, Campuchia [20]
Synonym: Trochomorpha tonkinorum Mabille, 1887; Plectotropis paviei Morlet,
1889
Số cá thể: 5 (số cá thể nghiên cứu: 5)
Chẩn loại: kích thước bé, vỏ hình nón dẹp, màu nâu nhạt 6 - 6½ vòng xoắn
phẳng, vòng cuối tạo gờ sắc ở giữa Tháp ốc tù, đỉnh vỏ nhô cao Miệng vỏ hình
lá Lỗ rốn mở rộng nhưng nông
Kích thước (mm): H 5-6,3; D 14-15,5; H/D 0,36-0,41; DA 5,5-5,9
Phân bố:
Khu vực nghiên cứu: Bản A, Nậm Nèn
Vùng khác: Cao Bằng: Quảng Uyên, Trùng Khánh; Lào Cai: Mường
Hum, Bát Sát; Hà Tĩnh: Hương Sơn; lưu vực sông Đà và sông Mã, Sơn La: KBTTN Xuân Nha [15, 20, 23]
Nhận xét: so với mô tả gốc của Morlet (1884), mẫu ở Nậm Nèn có kích thước
lớn hơn Sivella paviei phân bố dọc theo hệ thống của các sông Hồng, sông Đà
và sông Mã
HỌ BRADYBAENIDAE Pilsbry, 1939
Giống Bradybaena Beck, 1837
9 Bradybaena jourdyi (Morlet, 1886) [h3.15]
Helix jourdyi Morlet, 1886: J Conch., 34: 75
Nơi thu mẫu chuẩn: Lạng Sơn, Việt Nam [20]
Synonym: Helix jourdyi Dautz et Hamonville, 1887; Eulota jourdyi Moll., 1901
Số cá thể: 222 (số cá thể nghiên cứu: 90)
Chẩn loại: kích thước trung bình, vỏ hình cầu, màu xám nhạt đến nâu đất 5
vòng xoắn phồng, gờ trên mặt vỏ hình cánh cung nổi rõ Tháp ốc tù, đỉnh vỏ nhô
cao Vành miệng loe rộng Thể chai mỏng nhưng rõ Lỗ rốn hẹp và sâu
Kích thước (mm): H 13-16; D 16,7-20; H/D 0,78-0,8; DA 7,6-9
Phân bố:
Khu vực nghiên cứu: Bản Huổi Đo, Nậm Nèn