MỤC LỤC 1. Lý thuyết thị trường hiệu quả 1 1.1. Khái niệm 1 1.2. Phân loại 1 2. Lý thuyết tài chính hành vi 1 2.1. Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi 1 2.2. Ứng dụng của lý thuyết tài chính hành vi 2 2.3. Những nguyên lý và lý thuyết cơ bản của tài chính hành vi 2 3. Lý thuyết bộ ba bất khả thi 3 3.1. Khái niệm 3 3.2. Chứng minh bộ ba bất khả thi 5 3.2.1. Dùng mô hình tam giác đều 5 3.2.2. Dùng đồ thị (R, Y) 6 3.3. Thực trạng thực hiện bộ ba bất khả thi trên thể giới( Trung Quốc) và ở Việt Nam 7 3.3.3. Thế giới Trung Quốc 7 3.3.4. Việt Nam 8
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
BÀI TẬP NHÓM
LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI
LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI
LỚP: Kế toán doanh nghiệp (VB2K19) GVHD:
Niên học: 2016-2018
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1
Trang 3MỤC LỤC
LỚP: Kế toán doanh nghiệp (VB2K19) 1
1 GVHD: 1
Niên học: 2016-2018 1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1 2
1.Lý thuyết thị trường hiệu quả 1
1.1.Khái niệm 1
1.2.Phân loại 1
2.Lý thuyết tài chính hành vi 1
1.3.Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi 1
1.4.Ứng dụng của lý thuyết tài chính hành vi 2
1.5.Những nguyên lý và lý thuyết cơ bản của tài chính hành vi 2
3.Lý thuyết bộ ba bất khả thi 3
1.6.Khái niệm 3
Sự kết hợp bộ ba bất khả thi 5
1.7.Chứng minh bộ ba bất khả thi 5
1.7.1.Dùng mô hình tam giác đều 5
1.7.2.Dùng đồ thị (R, Y) 6
1.8.Thực trạng thực hiện bộ ba bất khả thi trên thể giới( Trung Quốc) và ở Việt Nam 7
1.8.1.Thế giới- Trung Quốc 7
1.8.2.Việt Nam 8
Trang 41 Lý thuyết thị trường hiệu quả
1.1 Khái niệm
Một thị trường được gọi là hiệu quả khi thị trường đạt hiệu quả về thông tin, ví dụ như giá cả của các loại tài sản, giao dịch cổ phiếu trái phiếu, bất động sản phản ánh đầy đủ các thông tin đã biết trên thị trường Do đó không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá khứ Có thể nói một cách ngắn gọn là các nhà đầu tư không thể khôn hơn thị trường
Để hiểu rõ thị trường hiệu quả chúng ta xem xét ngược lại với thị trường hiệu quả là thị trường kém hiệu quả
Là thị trường mà ở đó các hiện tượng có thể dự báo trước, Ví dụ : Hiện tượng mỗi lần phát hành giá cổ phiếu hay mỗi lần chia cổ phiếu thì giá cổ phiếu sẽ tăng lên Giá cổ phiếu OTC luôn thấp hơn giá cổ phiếu trước khi niêm yết Nhiều doanh nghiệp sắp đưa lên sàn thì các nhà đầu tư đã mua hết số lượng trên sau đó chờ lên sàn họ lại bán giá tăng lên nhằm mục đích đầu cơ để tăng lợi nhuận Chính những điều này làm cho thị trường kém hiệu quả
Cũng giống như khi chúng ta tham gia đầu tư bất kỳ một nghành nghề nào, việc thông tin hữu ích và chính xác vô cùng quan trọng giúp chúng ta có niềm tin, có một kế hoạch rõ ràng và khả năng mang lại hiệu quả cao hơn
1.2 Phân loại
Thị trường hiệu quả được phân ra 3 dạng: dạng yếu, dạng trung bình và dạng mạnh
• Thị trường hiệu quả dạng yếu: có thể kiếm được thu nhập thặng dư bằng cách sử dụng các chiến lược đầu tư dựa trên nghiên cứu giá cổ phiếu trong giai đoạn trước hoặc các số liệu tài chính khác Trên lý thuyết, nhà đầu tư giỏi hoàn toàn có thể tìm kiếm lợi nhuận bằng việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, và các thông tin liên quan khác
• Thị trường hiệu quả dạng trung bình: giá cổ phiếu điều chỉnh trong vòng một thời gian rất nhỏ
và mang tính chất công bằng trước những thông tin được công bố rộng rãi trên thị trường
• Thị trường hiệu quả mạnh: giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin trên thị trường và không ai có thể kiếm được lợi nhuận thặng dư trong dài hạn Tuy nhiên, cũng không có gì lạ khi trong một thị trường hiệu quả mạnh một số nhà đầu tư vẫn kiếm được mức lợi nhuận cao hơn thị trường một cách thường xuyên, vì với hàng ngàn quỹ đầu tư khắp toàn cầu thì việc ngẫu nhiên xuất hiện một vài nhà đầu tư thông minh là chuyện bình thường
Vậy một thị trường phát triển lành mạnh đòi hỏi trước hết nó phải là một thị trường hiệu quả Tuy nhiên, trên thị trường chứng khoán có một nhân tố rất quan trọng, không thể bỏ qua, đó là yếu
tố tâm lý, nó khiến thị trường có thể hoạt động lệch lạc ngay cả khi đó là một thị trường hiệu quả
2 Lý thuyết tài chính hành vi
Tài chính học hành vi là lĩnh vực tài chính sử dụng các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên thị trường tài chính
1.3 Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi
Khi thị trường hội đủ 3 yếu tố:
Trang 5• Hành vi bất hợp lý của nhà đầu tư,
• Hiệu ứng bất hợp lý mang tính hệ thống,
• Giới hạn kinh doanh chênh lệch giá
1.4 Ứng dụng của lý thuyết tài chính hành vi
Tuy lý thuyết tài chính hành vi vẫn đang còn ở dạng sơ khai, còn tồn tại nhiều vấn đề gây tranh cãi, chưa có những cơ sở và nguyên lý vững chắc như lý thuyết chính thống hiện đại như mối quan hệ giữa rủi ro - tỷ suất sinh lợi, thị trường hiệu quả - kinh doanh chệnh lệch giá, và là một sự
bổ sung hơn là tách biệt khỏi lý thuyết tài chính chính thống nhưng về bản chất, lý thuyết tài chính hành vi vẫn có tác dụng trong các trường hợp:
• Giải thích các hành vi không hợp lý của nhà đầu tư
• Điều chỉnh các mô hình định giá các tài sản tài chính bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, sản phẩm phái sinh, hàng hóa…
• Ứng dụng trong lý thuyết quản trị công ty hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp,
• Giải thích tính tương tác giữa các thị trường khác nhau
1.5 Những nguyên lý và lý thuyết cơ bản của tài chính hành vi
Lý thuyết kỳ vọng: Nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản lỗ quan
trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn
Sự không yêu thích rủi ro: Tính không cân xứng trong tâm lý rõ ràng giữa những giá trị mà
con người kỳ vọng vào lợi nhuận và thua lỗ, được gọi là sự ghét rủi ro Không yêu thích rủi ro có thể giải thích rằng xu hướng của nhà đầu tư giữ chứng khoán bị lỗ quá lâu trong khi bán chứng khoán lời quá sớm
Tính toán bất hợp lý: sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, có thể giải thích nhiều
hiện tượng như lựa chọn nghịch với sở thích (preference reversals), sợ thua lỗ (loss aversion), và hiệu ứng phân bổ tài khoản, thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ
Quá tự tin và phản ứng thái quá hay bi quan: thể hiện qua việc đánh giá cao bản thân,
phóng đại hiểu biết của mình nhiều trường hợp dẫn đến hiểu sai giá trị thông tin, tính chính xác của thông tin, hiểu sai cả ý nghĩa của thông tin
Lệch lạc do tình huống điển hình: Nhà đầu tư có xu hướng không quan tâm nhiều đến những
nhân tố dài hạn, mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn Ví dụ khi giá cổ phiếu bắt đầu tăng liên tục 3, 4 năm hoặc dài hơn như trường hợp của Mỹ và Tây Âu từ năm
1982 đến 2000, hay Trung Quốc trong 10 năm trở lại đây thì nhiều nhà đầu tư cho rằng lợi nhuận cao từ cổ phiếu là việc “bình thường” Nhưng khi thị trường đi xuống trong ngắn hạn thì mức sinh lời cao là “không bình thường”
Tính bảo thủ: Khi điều kiện kinh tế vĩ mô hay vi mô thay đổi người ta có xu hướng chậm
phản ứng với những thay đổi đó, và gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một giai đoạn dài hạn trước đó Từ đó, dẫn đến phản ứng thái quá khi kết quả không như mong đợi
- Trang
Trang 62-Phụ thuộc vào kinh nghiệm: Các kinh nghiệm, hay quy tắc học được thường giúp chúng ta ra
quyết định nhanh chóng và dễ dàng hơn nhiều Nhưng trong một số trường hợp, dựa dẫm quá nhiều vào các quy tắc đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi Và đặc biệt là người ta thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng Lý thuyết này giúp giải thích tại sao thị trường thỉnh thoảng hành xử một cách vô ý thức
Lý thuyết tâm lý đám đông: Tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của
con người cũng như nhà đầu tư, không phân biệt việc có kinh nghiệm hay không Và lý thuyết ảnh hưởng tâm lý đám đông này càng rõ nét khi nhà đầu tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh chóng, chưa có đầy đủ thông tin cần thiết Khi con người đối đầu với phán đoán của một nhóm lớn,
họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của họ Họ đơn giản nghĩ rằng tất cả những người khác có thể không sai
Tóm lại, để có những quyết định đầu tư hợp lý và đạt được nhiều lợi nhuận, nhà đầu tư nên hạn chế những ảnh hưởng tâm lý trong các lý thuyết nêu trên, thay vào đó là sử dụng tổng hợp các công cụ phân tích tài chính, tạo tiền đề vững chắc cho các quyết định
3 Lý thuyết bộ ba bất khả thi
1.6 Khái niệm
“Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3 Nó có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp tục kiểm soát vốn (giống như Trung Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn nhưng vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ , nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như Achentina hoặc hầu hết Châu Âu)" trích lời đề tặng Robert Mundell - Paul Kr ugman, 1999
Mô hình kinh tế Mundell- Fleming được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển trong những năm 1960 Và vào những năm 1980 khi vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc neo giữ tỷ giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng thì Lý thuyết bộ ba bất khả thi đã trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở
Lý thuyết bộ ba bất khả thi ( The impossible Trinity) chỉ một giả thuyết kinh tế cho rằng một quốc gia không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm:
Ổn định tỷ giá: giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện pháp ổn định
giá cả Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với rủi ro của nền kinh tế giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ Tất cả giúp làm cho môi trường đầu tư tốt lên Tuy nhiên tỷ giá cố định hay ổn định quá mức có mặt trái của nó Tỷ giá quá ổn định làm cho chính phủ mất đi một công cụ để hấp thụ các cú sốc bên trong và bên ngoài truyền dẫn vào nền kinh tế
Ví dụ lạm phát cao trong nước mà tỷ giá gần như cố định dễ dẫn đến nguy cơ hàng hóa mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hậu quả là xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng lên Ngoài ra tính quá cứng nhắc của tỷ giá còn ngăn cản không cho những nhà làm chính sách sử dụng công cụ chính sách phù hợp với thực tế diễn biến cả nền kinh tế, nhất là khi đang có dấu hiệu bong bóng tài sản Ví dụ vào những tháng đầu năm 2008 kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng lạm phát tăng tốc 2 con số Lúc
Trang 7bấy giờ tỷ giá dao động mức 1 USD=16.500 VND Nhiều nhà kinh tế lúc bấy giờ đưa ra đề xuất để cho tỷ giá giảm xuống mức 1 USD = 15.500 VND để nhập khẩu lạm phát thấp ở nước ngoài về.Tỷ giá giảm làm cho giá hàng nhập khẩu giảm đi Kết quả của việc giảm tỷ giá, tức để cho đồng nội tệ lên giá, kéo theo giá hàng nhập khẩu giảm đi (nếu các yếu tố khác không đổi) Vào thời điểm này do dòng vốn chảy vào nền kinh tế Việt Nam quá nhiều nên tỷ giá có lúc đã giảm xuống khoảng 1 USD
= 15.500 VND Vấn đề là thay vì nhập khẩu các vật tư cần thiết cho sản xuất giúp hạ nhiệt lạm phát thì các doanh nghiệp Việt Nam lại nhập khẩu quá nhiều ô tô Nhìn chung tỷ giá quá cứng nhắc chẳng những có khả năng dẫn đến bất ổn trong tăng trưởng, rủi ro lạm phát cao mà còn dẫn đến phân bổ sai nguồn lực và tăng trưởng không bền vững
Tự do hóa dòng vốn: Hội nhập tài chính hợp tác giữa các nền kinh tế, hay có thể nói là sự luân chuyển dòng vốn giữa các nền kinh tế
Lợi ích :
• Hữu hình quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn giúp nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư
• Vô hình : Tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập
Lợi ích lớn nhất-lợi ích vô hình-mang lại từ hội nhập tài chính là tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập Trên thực tế chính nhờ vào quá trình tự do hóa tài chính cuối những thập niên 1990, nhất là sau trở thành thành viên WTO 2007 mà chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách sâu rộng, trong đó có cải cách thủ tục hành chính và chất lượng thể chế
Mặt trái: Hội nhập tài chính cũng được đánh giá là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh tế những năm gần đây Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và mang tính đầu cơ Mặc dù vậy hội nhập tài chính cũng được đánh giá là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh tế những năm gần đây Các cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 1990 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng có nguyên nhân từ hội nhập tài chính nhưng thiếu quy tắc điều tiết kèm theo Tình trạng bong bóng chứng khoán và bất động sản ở Việt Nam giai đoạn 2005-2008 dẫn đến những bất ổn kinh tế vĩ
mô một phần cũng do tự do hóa tài chính nhưng thiếu cơ chế giám sát tương thích Dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và mang tính đầu cơ
Chính sách tiền tệ độc lập: là những chính sách mà nhà nước thực hiện nhằm mục đích điều
tiết kinh tế, nhưng không quan tâm đến những chính sách đến tỉ giá hay tăng giảm, hay các biến số
vĩ mô khác
Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để thực hiện chính sách phản chu kỳ kinh tế Chẳng hạn nếu nền kinh tế có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hay thắt chặt cung tiền và ngược lại Trong các trường hợp này chính phủ không quan tâm đến tỷ giá tăng hay giảm và các biến số kinh tế vĩ mô khác Chính vì sự độc lập tiền tệ này
mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định hơn Tuy nhiên độc lập tiền tệ quá mức có thể là một cái cớ để chính phủ lạm dụng thực hiện các chiến lược tăng trưởng méo mó trong ngắn hạn
- Trang
Trang 8Độc lập tiền tệ nhiều hơn vì vậy dễ dẫn đến bất ổn định trong tăng trưởng và tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao Đó là chưa kể độc lập tiền tệ quá mức có khả năng làm cho chính phủ tiền tệ hóa chi tiêu chính phủ bằng cách phát hành tiền trang trải cho thâm hụt ngân sách Hậu quả là nền kinh tế rơi vào mất ổn định với tình trạng lạm phát
Sự kết hợp bộ ba bất khả thi
Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ Điều này có nghĩa chính phủ đã mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài
Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá thả nỗi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá Với lựa chọn này, chính phủ (NHTW) được quyền tự do
ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo những nguyên tắc của thị trường
Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị trường vốn đóng Lựa chọn này có nghĩa chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ
1.7 Chứng minh bộ ba bất khả thi
1.7.1 Dùng mô hình tam giác đều
Hình bên dưới là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi Mỗi cạnh thể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá, và hội nhập tài chính hoàn toàn Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu hội nhập tài chính đói ngược với đỉnh kiểm soát vốn; mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn; mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa Ví dụ,mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá ổn định đạt được bởi đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với đỉnh thả nổi hoàn toàn
Cuối cùng, mục tiêu tỷ giá ổn định và hội nhập tài chính đạt được bởi đỉnh liên minh tiền tệ Hoàn toàn không khả thi để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu
Trang 9Bảng Tóm tắt nguyên lý hoạt động của bộ ba bất khả thi
Dựa vào bảng tóm tắt ta có thể thấy rằng một quốc gia không thể thực hiện đồng thời ba mục tiêu Nếu đạt được mục tiêu dòng vốn lưu động hoàn toàn và hệ thống tỉ giá cố định thì nhà nước phải thực hiện kế hoạch kiểm soát vốn, và như vậy thì dòng vốn không thể chảy vào nền kinh tế một cách tự do được, nghĩa là không thực hiện được mục tiêu dòng vốn lưu động tự do Tương tự, một khi thực hiện được mục tiêu hệ thống tỉ giá cố định và dòng vốn lưu động vào nền kinh tế tự do thì không thể thực hiện được mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập vì phải thực hiện liên minh tiền tệ ( liên minh tiền tệ có thể được hình dung giống như việc các quốc gia liên minh các chính sách tiền
tệ giống như khối EU hiện nay) Và còn lại, để có được mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập, và tự do hóa dòng vốn thì phải hi sinh hệ thống tỉ giá cố định Và khi đó thì phải thực hiện biện pháp để tỉ giá thả nổi
1.7.2 Dùng đồ thị (R, Y)
Trên mỗi hình vẽ với kí hiệu các đường như sau:
BP: Tập họp các tổ họp giữa sản lượng và lãi suất mà tại đó có sự cân bằng cán cân thanh
toán
LM: Đường LM biểu diễn một tập hợp các điểm cân bằng trên thị trường tiền tệ L và M là
các chữ cái viết tắt của các từ tiếng Anh Liquidity Preference và Money Supply nghĩa là nhu cầu giữ
tiền mặt của cá nhân và cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ của nhà nước Đường LM được dùng trong phân tích IS-LM
r : Lãi suất
Y : Đường tổng cầu.
IS: Đường IS biểu thị tập hợp các mức lãi suất và thu nhập cân bằng thị trường hàng hóa vĩ
mô IS là kết hợp hai chữ cái viết tắt của Investment và Saving trong tiếng Anh, nghĩa là đầu tư và tiết kiệm Đường IS được sử dụng trong phân tích IS-LM
Trường hợp 1 : Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ
Hình: Thị trường vốn đóng
- Trang
6-Dòng vôn lưu động hoàn toàn Chính sách tiền tệ độc lập
Hệ thống tỷ giá cố định
Ví dụ:
Kiểm soát vốn Không Có Có Trung Quốc trước cải cải cách tháng 7/2005
Liên minh tiền tệ Có Không Có EU
Tỷ giá thả nổi Có Có Không Nhật, Úc
Trang 10Xuất phát từ A thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm dịch chuyển LM đến LM1 LM1 cắt
IS tại B thì có R thấp hơn, có Y1 >Yo làm cho xuất khẩu ròng NX giảm làm mất cân bằng tỷ giá Nếu nhà nước cho hội nhập tài chính làm cho áp lực càng lớn đối với cố định tỷ giá => hội nhập tài chính sẽ không tồn tại
Trường hợp 2 : Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính
Xét tại điểm A nếu nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì đường LM dịch chuyển xuống thành LM1 Đường LM1 cắt IS tại B có r thấp làm dòng vốn dịch chuyển ra nước ngoài và tại
đó có mức sản lượng Y1 lớn hon mức sản lượng Yo làm cho xuất khẩu ròng giảm => cung ngoại tệ giảm cầu ngoại tệ tăng => không thể ổn định tỷ giá
Trường hợp 3 : Ổn định tỷ giá và hội nhâp tài chính
Xét tại điểm A thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ đường LM dịch chuyển LM1 , LM1 cắt IS tại B lúc này tại B có r thấp , xuất khẩu ròng giảm (NX) làm tỷ giá biến đổi Nhà nước phải bù đắp khoản khoản ngoại tệ này bằng cách bom ngoại tệ vào thị trường => làm LM1 dịch chuyển LM => chính sách tiền tệ vô tác dụng
1.8 Thực trạng thực hiện bộ ba bất khả thi trên thể giới( Trung Quốc) và ở Việt Nam
1.8.1 Thế giới- Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia áp dụng khá thành công bộ ba bất khả thi vẫn chưa tự do hóa dòng vốn Trung Quốc bắt đầu chính sách mở cửa kinh tế vào năm 1979 Tuy nhiên, trong 5 năm đầu tiên của thời kỳ mở cửa, công cuộc cải cách dường như chưa chạm đến hệ thống tài chính ngân hàng Cho đến nay, hệ thống dịch vụ tài chính ở Trung Quốc vẫn bị chính phủ khống chế và kiểm