TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- NỊNH THỊ LUYỆN Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI THỊ TRẤN ĐU – HUYỆN PHÚ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NỊNH THỊ LUYỆN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI THỊ TRẤN ĐU – HUYỆN PHÚ LƯƠNG
Thái Nguyên, năm 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NỊNH THỊ LUYỆN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI THỊ TRẤN
ĐU – HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NỊNH THỊ LUYỆN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI THỊ TRẤN
ĐU – HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Huệ
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CÁM ƠN Học phải đi đôi với hành, do đó sinh viên sau 4 năm ngồi trên ghế nhà trường sẽ có khoảng thời gian thực tập tốt nghiệp Qua đó, sinh viên sẽ gặt hái được những thành quả sau:
- Đánh giá được năng lực thực tế của bản thân, nhận ra được điểm mạnh và điểm yếu của bản thân
- Học hỏi được kinh nghiệm làm việc trong môi trường chuyên nghiệp
và điều quan trọng nữa không thể thiếu đó là kinh nghiệm sống Bác hồ từng dạy “Có tài mà không có đức là vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc
gì cũng khó”, bởi vậy mà chúng ta nên nhớ, khi ra ngoài thực tế cuộc sống không phải chỉ học cách làm việc của họ, mà chúng ta cần phải học cả những kinh nghiệm sống quý báu mà những thế hệ đi trước đã có được, để từ đó học hỏi, tiếp thu để trau dồi và hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, bởi chúng ta là nguồn lực của đất nước
- Hơn thế nữa, đa phần sinh viên ra trường hiện nay đều có nguy cơ thất nghiệp cao, do vậy mà khoảng thời gian thực tập còn tạo cho sinh viên có được cơ hội cọ sát với môi trường làm việc theo đúng chuyên nghành mà trên thực tế, nhiều sinh viên ra trường thất nghiệp, một số lại làm trái nghành, bởi vậy sinh viên cần tận dụng tối đã khoảng thời gian thực tập hữu ích này
- Kết thúc thời gian thực tập, sinh viên được cọ sát với môi trường thực
tế, bổ sung những kiến thức còn thiếu khi ngồi trên giảng đường, tạo điều kiện cho sinh viên áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực, phẩm chất cho những cán bộ tương lai, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu cần thiết của xã hội
Với mục đích và tầm quan trọng trên, được sự phân công của khoa Môi trường đồng thời được sự tiếp nhận của phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Phú Lương Tôi đã tiến hành đề tài “ Đánh giá công tác quản lý, thu
gom, xử lý rác thải sinh hoạt và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên”
Trang 4Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, các cô, chú, các anh, các chị công tác tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương Đặc biệt hơn nữa, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, Th.S Nguyễn Thị Huệ người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Do thời gian tực tập có giới hạn, trình độ chuyên môn của bản thân còn rất hạn chế, kinh nghiệm có thể nói là chưa có Nên khóa luận hoàn toàn không thể tránh được những sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Lương, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nịnh Thị Luyện
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các phương pháp xử lý CTR đô thị một số nước 10
Bảng 2.2: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam 2008 11
Bảng 2.3: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2008 13
Bảng 4.1: Quy định mức thu phí vệ sinh môi trường 31
Bảng 4.2: Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 37
Bảng 4.3: Lượng rác thải phát sinh tại hộ gia đình 38
Bảng 4.4: Thành phần rác thải tại các điểm phát sinh 40
Bảng 4.5: Lịch phân ca thu gom theo các tuyến 42
Bảng 4.6: Lượng rác phát sinh và thu gom được tại thị trấn Đu 43
Bảng 4.7: Lượng rác phát sinh và thu gom được tại thị trấn Đu 43
Bảng 4.8: Loại hình xử lý rác thải tại thị trấn Đu 50
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Cơ cấu tổ chức Ban quản lý môi trường - đô thị huyện Phú Lương 28
Hình 4.2: Đánh giá tình hình thu phí VSMT trên địa bàn thị trấn Đu 33
Hình 4.3: Ý kiến của người dân về việc phân loại rác tại nguồn 45
Hình 4.4: Đánh giá hoạt động thu gom của công nhân 47
Hình 4.5: Đánh giá thái độ làm việc của các công nhân thu gom rác 47
Trang 76 TT- BTC Thông tư- bộ công thương
7 TB/TU Thông báo/ban thường vụ tỉnh ủy
8 QĐ – UBND Quyết định/ủy ban nhân dân
9 CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
10 BCLCTR Bãi chôn lấp chất thải rắn
11 BCLVS Bãi chôn lấp vệ sinh
12 BCLCTRVS Bãi chôn lấp chất thải rắn vệ sinh
Trang 8MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung Error! Bookmark not defined 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Error! Bookmark not defined 1.3 Yêu cầu của đề tài 1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Các khái niệm có liên quan 4
2.1.1.1 Khái niệm về chất thải 4
2.1.1.2 Khái niệm về chất thải rắn 4
2.1.1.3 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt 4
2.1.1.4 Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn 4
2.1.1.5 Thành phần chất thải rắn 5
2.1.1.6 Hoạt động thu gom, vận chuyển, quản lý, xử lý chất thải rắn 6
2.1.2 Cơ sở pháp lý 6
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
2.2.1 Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới 8
2.2.1.1 Tình hình phát sinh thu gom và phân loại rác thải trên thế giới 8
2.2.1.2 Tình hình xử lý rác thải trên thế giới 9
2.2.2 Hiện trạng quản lý rác thải ở Việt Nam 10
2.2.2.1 Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải ở Việt Nam 10
2.2.2.2 Tình hình xử lý rác ở Việt Nam 14
2.2.3 Tình hình quản lý rác thải tại tỉnh Thái nguyên 17
Trang 92.2.4 Các phương pháp xử lý rác thải ở tỉnh Thái Nguyên 18
2.3 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu bằng chính sách – pháp luật 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 20
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp thu nhập thông tin 20
3.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 21
3.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên giaError! Bookmark not defined. 3.4.4 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Đu - huyện Phú Lương - Thái Nguyên 22
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
4.1.1.1 Vị trí địa lý 22
4.1.1.2 Địa hình địa - chất 22
4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 23
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên 23
4.1.1.5 Cảnh quan môi trường 23
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thị trấn Đu 24
4.1.2.1 Về dân số, lao động 24
Trang 104.1.2.2 Chức năng đô thị 24
4.1.2.3 Về kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng 25
4.1.2.4 Về cơ sở hạ tầng 26
4.2 Thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu - huyện Phú
Lương - tỉnh Thái Nguyên ……… 27 4.2.1 Hệ thống cơ cấu bộ máy quản lý rác thải sinh họat tại thị trấn Đu –
huyện Phú Lương – Thái Nguyên 27 4.2.2 Thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu – huyện
Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên 30 4.2.2.1 Tình hình thu phí VSMT tại thị trấn Đu - huyện Phú Lương - tỉnh
Thái Nguyên 30 4.2.2.2 Tình hình xử lý vi phạm môi trường 33 4.2.2.3 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu bằng biện pháp
quản lý hành chính 34 4.2.3 Một số nhận xét về công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu 4.2.3.1 Thuận lợi 36 4.2.3.2 Các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản lý rác thải sinh hoạt 36 4.3 Thực trạng công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thị trấn
Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 37 4.3.1 Lượng phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu - Phú
Lương - Thái Nguyên 37 4.3.1.1 Lượng phát sinh rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu - Phú lương - Thái
Nguyên 38 4.3.1.2 Thành phần rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu, Phú Lương, Thái
Nguyên 39 4.3.2 Hiện trạng công tác thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thị trấn
Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 41 4.3.3 Na cộng đồng về công tác thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị
trấn Đhận thức củu - huyện Phú Lương 44
Trang 114.4 Tình hình xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu 48
4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên 52
4.5.1 Giải pháp trong công tác thu gom, vận chuyển rác 52
4.5.2 Giải pháp giảm lượng chất thải, thu hồi và tái chế chất thải rắn 54
4.5.3 Giải pháp tổ chức, kinh tế - xã hội 55
4.5.4 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về môi trường 56
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 12PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
“Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước,với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới”
Đó là lời mở đầu của chỉ thị số 36-CT-TW ngày 25/06/1998 của bộ chính trị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tiếp đó ngày 15/11/2004, Bộ chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết
số 41-NQ/TW “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Hai văn kiện quan trọng với cùng một nội dung đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng và sự tiến triển logic của quá trình chỉ đạo cơ quan đầu não của Đảng liên quan đến các quan điểm và chính sách bảo vệ môi trường
Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị và nghị quyết trên, các ngành, các cấp trong cả nước và đã và đang đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm và suy thoái môi trường
Cùng với cả nước, ban lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây đã có những chủ trương chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất sạch hơn…
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã giúp cho tỉnh Thái Nguyên ngày một phát triển hơn, một mặt tạo sự phát triển kinh tế, tạo công
ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người dân Mặt khác, đây cũng là nguy
cơ làm giảm chất lượng môi trường
Một trong những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay ở nước ta đó là rác thải sinh hoạt – đây là một thách thức lớn được toàn xã hội quan tâm
Trang 13Nền kinh tế xã hội càng phát triển, dân số gia tăng thì nhu cầu tiêu thụ của con người càng tăng lên Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng, làm mất cảnh quan văn hoá đô thị và nông thôn…
Hiện nay tình trạng rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên chưa có đánh giá một cách đầy đủ dẫn đến việc thu gom và quản lý rác thải gặp nhiều khó khăn và chưa có biện pháp xử lý rác thải phù hợp cũng như chưa có công tác bảo vệ môi trường hiệu quả
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn
của cô giáo Th.S Nguyễn Thị Huệ tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
công tác quản lý, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt và đề xuất giải pháp bảo
vệ môi trường tại thị trấn Đu - huyện Phú Lương - Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Đánh giá được thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu
+Đánh giá được thực trạng công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu
+ Đề xuất một số biện pháp quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phương
1.3 Yêu cầu của đề tài
+ Đánh giá khách quan, số liệu trung thực
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường mang tính cụ thể và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
Trang 14+ Vận dụng và phát huy đƣợc các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về chất thải
Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]
2.1.1.2 Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn – CTR (còn gọi là rác) là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật CTR phát sinh từ những hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó CTR sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]
2.1.1.3 Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]
2.1.1.4 Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn
a Nguồn phát sinh chất thải rắn
Có thể phân ra các nguồn phát sinh chất thải rắn như sau (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]:
- Từ sinh hoạt: Phát sinh từ các hộ gia đình, các khu biệt thự và các căn
hộ chung cư
- Từ khu thương mại: Phát sinh từ các nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn, nhà trọ, các trạm sửa chữa bảo hành và dịch vụ
Trang 16- Từ cơ quan công sở: Phát sinh từ trường học, bệnh viện, văn phòng cơ quan chính phủ
- Từ hoạt động giao thông và các công trình xây dựng: Phát sinh từ các hoạt động xây dựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải
-Từ dịch vụ công cộng đô thị: đó là các hoạt động dọn rác vệ sinh đường phố, công viên, khu vui chơi giải trí
- Từ hoạt động công nghiệp: Phát sinh từ các hoạt động sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công Đối với rác thải công nghiệp độc hại phải được quản lý và xử lý riêng
- Từ hoạt đông nông nghiệp: Phát sinh từ đồng ruộng, ao, vườn, chuồng trại…Các loại chất thải bao gồm: phân, rác, rơm rạ, thức ăn thừa…
b Phân loại chất thải rắn
Các loại chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách Có thể phân loại chất thải rắn như sau (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]:
Theo mức độ nguy hại, chất thải rắn được phân thành các loại:
- Chất thải nguy hại: Bao gồm các loại hoá chất gây phản ứng, độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan…Có nguy cơ đe doạ đến sức khoẻ của con người và động vật cây cỏ
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp
- Chất thải không nguy hại: Là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
Trang 17thị là bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố) (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]
2.1.1.6 Hoạt động thu gom, vận chuyển, quản lý, xử lý chất thải rắn
Theo điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn
- Hoạt động thu gom chất thải rắn: Là hoạt đông tập hợp, phân loại, đóng gói và giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận
- Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyển trở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp
- Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
- Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích
2.1.2 Cơ sở pháp lý
+ Căn cứ luật BVMT 2005 được quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006;
+ Căn cứ nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 28/2/2006 hướng dẫn thực hiện luật BVMT;
Trang 18+ Căn cứ nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo
vệ môi trường;
+ Nghị định số 59/2007/NĐ – CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn; + Căn cứ thông tư số 39/2008/TT- BTC ngày 19/05/2008 về việc hướng dẫn thực hiện nghị định số 174/2007/NĐ – CP ngày 29/11/2007 của chính phủ
về phí BVMT đối với chất thải rắn;
+ Căn cứ vào nghị định số 117/2009/NĐ – CP ngày 31/12/2009 của chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
+ Thông báo số 160 – TB/TU ngày 10/10/2006 của ban thường vụ tỉnh
uỷ về đề án giải quyết các vấn đề bức xúc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
+ Quyết định số 74/2007/QĐ – UBND về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 192.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình phát sinh thu gom và phân loại rác thải trên thế giới
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh, công nghiệp hoá - hiện đại hoá phát triển mạnh đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường Xã hội phát triển, nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng lên dẫn đến lượng rác thải cũng tăng lên nhanh chóng
Lượng rác tính theo đầu người ở một số nước như sau (Nguyễn Thị Anh Hoa, 2006)[5]:
Canada: 1,7 kg/người/ngày
Australia: 1.6 kg/người/ngày
Thuỵ Sỹ: 1,3 kg/người/ngày
Thuỵ Điển: 1,3 kg/người/ngày
Trung Quốc: 1,3 kg/người/ngày
Trên thế giới, ở một số nước đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải sinh hoạt rất hiệu quả
- Hà Lan: Người dân phân loại rác thải và những gì có thể tái chế sẽ được tách riêng Những thùng rác với kiểu dáng khác nhau được sử dụng trong thành phố Thùng lớn màu vàng ở gần siêu thị để chứa các đồ kính, thuỷ tinh Thùng màu xanh nhạt để chứa giấy Tại các nơi đông dân cư sinh sống thường đặt hai thùng rác màu sắc khác nhau, một loại chứa rác có thể phân huỷ và loại không phân huỷ (Tổng cục môi trường, 2007)[9]
- Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành ba loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau: Rác hữu cơ, rác vô cơ và giấy vải thuỷ tinh, các kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn loại: giấy, thuỷ tinh, kim loại, nhựa…đều được đưa đến các cơ sở tái chế hàng hoá (Tổng cục môi trường, 2007)[9]
Trang 202.2.1.2 Tình hình xử lý rác thải trên thế giới
Xã hội càng phát triển thì rác thải càng nhiều và việc xử lý rác thải càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Xử lý rác thải là một vấn đề tổng hợp liên quan cả về kỹ thuật lẫn kinh tế và xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu
và áp dụng các biện pháp kỹ thuật công nghệ xử lý chất thải rắn đang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt
là các nước công nghiệp phát triển, nơi sử dụng nhiều thành tựu khoa học trong sản xuất kinh doanh
Hiện nay, nhiều nước đã nghiên cứu ra nhiều biện pháp tái sử dụng lại chất thải rắn Kinh nghiệm một số nước cho thấy có 90% chai và trên 90% can được đưa vào sử dụng trung bình từ 15 – 20 lần trong quá trình xử lý rác, người ta có thể tái chế các loại nhiên liệu rắn và than cốc (Nguyễn Ngọc Cường, 2006)[2]
Tuỳ theo điều kiện thực tế của mỗi nước mà phương pháp và trình độ công nghệ xử lý chất thải rắn cũng khác nhau:
- Ở Mỹ: Hàng năm có 15% chất thải rắn được tái chế, khoảng 16% được thiêu đốt, 67% còn lại được chôn lấp ở 2.900 bãi rác Mỹ đang thực hiện phương pháp xử lý chất thải rắn thành năng lượng (113 nhà máy thực hiện) Với phương pháp này có thể giảm 70-90% tổng lượng chất thải rắn và thu hồi nhiệt lượng để chuyển thành điện năng (Nguyễn Đình Hương, 2006)[4]
- Ở Đức: Rất chú trọng đến biện pháp tái sinh chất thải rắn, lượng chất thải rắn chôn lấp có xu hướng giảm dần (70% năm 1990 chỉ còn lại 46% ở những năm cuối thế kỷ 20), nguyên nhân chính là do chính phủ quy định công nghệ chôn lấp phải tiên tiến, bãi chôn lấp chỉ tiếp nhận rác đã qua thiêu huỷ hoặc xử lý sơ bộ (nghiền, nén) (Nguyễn Đình Hương, 2006)[4]
Trong khi đó, ở các nước đang phát triển còn phải đối mặt với những khó khăn về xử lý chất thải Chủ yếu là thiếu kinh phí, thiếu kinh nghiệm, thường xử lý tập trung, xử lý chôn lấp (Mockva 90%, Seoul 70%, Istanbunl – Nhổ Nhĩ Kỳ 87,5%, Budapest – Hungari 50%, Bangkok 85%, Philipin xấp xỉ
Trang 2190%, Việt Nam gần 100%, chỉ một khối lương rất nhỏ được chế biến phân bón và đốt xấp xỉ 2%) với những kỹ thuật tiên tiến Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực của các chính quyền đô thị và sự quan tâm của nhà nước (Nguyễn Đình Hương, 2006)[4]
Bảng 2.1: Các phương pháp xử lý CTR đô thị một số nước
TT Tên nước
Các phương pháp xử lý (%)
Chôn lấp
Chế biến phân bón compost
Đốt
Các phương pháp khác
Không thu năng lượng
Thu hồi năng lượng
2.2.2 Hiện trạng quản lý rác thải ở Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải ở Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể
về phát triển kinh tế - xã hội Từ năm 2005 đến trước thời điểm năm 2000 Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ Năm 2013, Việt Nam có tổng cộng
770 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh), 14 đô thị loại I (thành phố), 10 đô thị loại II (thành phố), 52 đô thị loại
Trang 22III (thành phố), 63 đô thị loại IV (thị xã), còn lại đô thị loại V (thị trấn và thị tứ) (Báo xây dựng, 2014)[1] Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có
xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%
Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) (Tổng cục môi trường, 2008)[9]
Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị (Tổng cục môi trường, 2008)[9]
Bảng 2.2: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam 2008
STT Loại đô thị
Lương CTRSH bình quân trên đầu người (kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm
Trang 233 Loai II 0,72 3.433 1.253.045
(Nguồn: Tổng cục môi trường, 2008)
Qua bảng 2.2 ta thấy tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày);
đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị đến năm 2010 vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra (Tổng cục môi trường, 2008)[9]
Trang 24Bảng 2.3: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam đầu năm 2008
STT Đơn vị hành chính
Lượng CTRSH bình quân trên đầu
người (kg/người/ ngày)
Lượng CTRSH
đô thị phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm
(Nguồn: Tổng cục môi trường, 2008)
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ
có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh
Trang 25(5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh
ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng
20 tấn/ngày; TP Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã
Hà Giang 37,1 tấn/ngày (Tổng cục môi trường, 2008)[9]
2.2.2.2 Tình hình xử lý rác ở Việt Nam
Ở nước ta hiện nay đang sử dụng các phương pháp xử lý CTR sau đây: Chôn lấp, chế biến vi sinh, thiêu đốt, tái sinh, tái sử dụng và xử lý chất thải bằng công nghệ của hai công ty Tâm Sinh Nghĩa, Seraphin (Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp)[10]
là những bãi tự nhiên hoặc hoạt động không hiệu quả (Việt Báo, 2008)[6]
Về thực chất, đa số BCLCTR đó chỉ đơn thuần là nơi đổ rác lộ thiên, không được quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành đúng theo quy định bãi chôn lấp vệ sinh (BCLVS), vị trí thường gần khu dân cư (khoảng cách 200
- 500m, thậm chí có bãi chỉ cách khu dân cư 100m), không có lớp chống thấm
ở thành và đáy ô chôn lấp, không có hệ thống thu gom và xử lý nước rác, khí rác, quy trình vận hành chôn lấp không đúng kỹ thuật Đặc biệt là nước rác và khí rác do phân hủy kỵ khí từ các thành phần nước rác trong bãi chôn lấp và gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Chính vì vậy, trong 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải xử lý triệt để (theo quyết định 64/2003/QĐ - TTg ngày 22/04/2003 của thủ tướng chính phủ) có 52 bãi chôn lấp CTR trong đó có 3
Trang 26BCLCTR phải xử lý khẩn cấp trước năm 2005 (đóng cửa), 29 bãi phải nâng cấp cải tạo và 20 bãi phải xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm
b Chế biến phân vi sinh (compost)
Nước ta hiện có 10 nhà máy chế biến rác thải có thành phần hữu cơ cao thành phần bón vi sinh Các nhà máy xử lý CTR thành phân bón mới chỉ thực hiện ở thành phố lớn nhưng với quy mô công suất nhỏ Đó là nhà máy chế biến rác thải cầu Diễn (Hà Nội) với công suất xử lý 50 nghìn tấn rác trên năm (công nghệ Tây Ban Nha), nhà máy xử lý rác thải Nam Định với công suất xử
lý 250 tấn/ngày (công nghệ Pháp), công nghệ Dano - Đan mạch tại hooc Môn
- TP.HCM công suất 240 tấn/ngày, Ngoài ra, một số đô thị khác như Việt Trì, Vinh, Huế, Ninh Thuận, Cũng có nhà máy xử lý rác thải phân bón trong
đó công nghệ chế biến rác thải thành phân bón và các sản phẩm khác của nhà máy Đông Vinh (Vinh), Thủy Phương (Huế) và Ninh Thuận hoàn toàn do Việt Nam nghiên cứu và chế tạo
c Thiêu đốt
Ngoài công nghệ thiêu đốt CTR nguy hại từ công nghiệp tại khu liên hợp xử lý CTR Nam Sơn (Hà Nội), hiện nay nước ta chỉ sử dụng phương pháp thiêu đốt đối với CTR y tế Tính đến năm 2003, cả nước có 61 lò đốt CTR y tế (Cục bảo vệ môi trường, 2003)[3], trong đó:
- 14 lò sản xuất trong nước, các lò khác đều nhập từ nước ngoài
- 3/61 lò đốt có thiết bị xử lý khí thải (nhưng chỉ có 2 lò đốt vận hành thiết bị xử lý khí thải) Những lò khác không xử lý khí thải nên chưa kiểm soát được ô nhiễm không khí
- 2/61 lò đốt công suất lớn sử dụng chung với công suất >1 tấn/ngày được đặt bên ngoài bệnh viện, các lò đốt khác đều đặt trong khuôn bệnh viện
Tại thành phố Hà Nội, ngoài lò đốt chất thải y tế tập trung ở cầu Diễn với công suất 3.2 tấn/ngày và một số lò đốt riêng của một số bệnh viện, còn
có lò đốt CTR công nghiệp nguy hại với công suất 150 kg/h đã hoạt động từ năm 2003 (Cục bảo vệ môi trường, 2003)[3]
Trang 27- Công ty cổ phần đầu tư phát triển Tâm Sinh Nghĩa - ASC nghiên cứu
mô hình xử lý CTR chưa qua phân loại theo công nghệ An Sinh (ASC) tại nhà máy Thủy Phương (Huế)
Xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc đối với các địa phương trong cả nước, đặc biệt ở các đô thị, khu công nghiệp Tuy nhiên, hiện tại tất cả các địa phương đều sử dụng biện pháp chôn lấp chất thải với số lượng trung bình 1 bãi chôn lấp/1 đô thị, trong đó có tới 85-90% các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao bởi mùi và nước rỉ rác
Để tạo điều kiện hoàn thiện và triển khai, áp dụng các công nghệ xử lý rác thải hiện đại, phù hợp và đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường Bộ Xây dựng tiếp tục triển khai thí điểm xây dựng các nhà máy xử lý rác áp dụng công nghệ mở Bên cạnh đó tiến hành đánh giá các dự
án hiện đang triển khai, đề xuất kiến nghị để các dự án hoạt động hiệu quả
“Sẽ xây dựng thêm 3 nhà máy mới, trong đó bố trí 1 nhà máy ở đô thị,
1 ở vùng nông thôn và đặc biệt là 1 nhà máy ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long - khu vực khó khăn trong xử lý rác thải do thiếu đất Cũng cần xem xét lựa chọn các mô hình, nguồn đầu tư, công nghệ phù hợp nhất cả trong nước
và nước ngoài”, Phó Thủ tướng gợi ý hướng đi cụ thể (Nghị định CP số 59, 2007)[8]
Trang 28Các dự án mới này sẽ được nghiên cứu, lựa chọn thí điểm từ mô hình, công nghệ đến các cơ chế tài chính, đất đai, cơ cấu vốn, tiêu thụ sản phẩm đầu ra… từ đó tìm ra mô hình phù hợp để Chính phủ phê duyệt “Chương trình tổng thể về xử lý rác trên địa bàn cả nước”
- Hiện nay, mới có 2 nhà máy xử lý rác thải công nghệ trong nước với công suất 150-200 tấn/ngày Trong khi ước tính lượng chất thải phát sinh trên toàn quốc khoảng hơn 15 triệu tấn/năm
- Hiện tại, cả nước có trên 700 đô thị (từ loại V trở lên) và số lượng nhà máy xử lý rác cần đầu tư trong 5 năm tới khoảng hơn 60 nhà máy (Báo xây dựng, 2013)[1]
2.2.3 Tình hình quản lý rác thải tại tỉnh Thái nguyên
Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên năm 2005 tính đến thời điểm tháng 6/2005 hầu hết các thị trấn thuộc các huyện thị đều có hợp tác xã thu gom rác thải sinh hoạt (Báo xây dựng, 2013)[1]:
- Thị xã Sông Công: Thành lập ban quản lý đô thị với gần 30 công nhân, hơn 10 xe thu gom rác Mỗi ngày thu gom được 20 tấn rác và đổ tạm sau hàng rào Ủy ban nhân dân xã
- Huyện Đồng Hỷ: Thành lập hợp tác dịch vụ môi trường của Chùa Hang
- Huyện Võ Nhai: Cũng thành lập được hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Đình Cả từ năm 2003 với 2 xe đẩy tay và một công nông chở rác Huyện đã quy hoạch một khu vực để chôn lấp rác thải
- Huyện Phú Bình: Đã có đội thu gom rác, quy hoạch khu vực xử lý rác tập trung và đang tiến hành xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh
- Huyện Đại Từ: Đã có đội ngũ thu gom rác, đã có bãi xử lý rác thải
- Tại TP Thái Nguyên: Đô thị phát triển, diện tích đất ở ngày càng thu hẹp thì nhu cầu xử lý rác thải là một vấn đề bức thiết trong nhân dân Ngay từ năm 2001 chính quyền thành phố đã tổ chức thăm quan học tập các đô thị bạn và chính thức đưa vào áp dụng mô hình xã hội hóa thu gom rác thải bằng việc tại
Trang 29mỗi phường, xã thành lập một đội vệ sinh môi trường Kinh phí chỉ trả cho công tác thu gom rác sử dụng từ nguồn phí vệ sinh môi trường, thu của các hộ dân
Cùng với sự theo dõi, giám sát và chỉ đạo của thành phố kết hợp với việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nên hiện nay tình hình vệ sinh môi trường dần đi vào nề nếp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên môi trường và công trình đô thị và các đội vệ sinh phường, xã đã duy trì thực hiện các quy định về giờ thu gom rác thải, địa điểm tập kết rác thải, nhằm đảm bảo việc phối hợp nhịp nhàng, khoa học Toàn bộ lượng rác thải được thu gom, vận chuyển xử lý chôn lấp hợp vệ sinh tại bãi rác Đá Mài, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên
2.2.4 Các phương pháp xử lý rác thải ở tỉnh Thái Nguyên
Với tốc độ đô thị hóa đi đôi với phát triển nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ đã làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến môi trường đặc biệt là xử lý rác thải Mỗi ngày, các tỉnh, thành trong cả nước phải xử lý một khối lượng rác thải khổng lồ và nếu không có công nghệ xử lý rác hiệu quả, hạn chế tối đa tỷ lệ chôn lấp thì việc bảo vệ môi trường trong thời gian tới sẽ gặp nhiều thách thức, khó khăn
Trước thực tại đó, việc Công ty TNHH Thủy lực - Máy đã nghiên cứu thành công và cho ra đời công nghệ MBT-CD.08 trong xử lý rác thải được Bộ trưởng Bộ Xây dựng đánh giá cao (Báo xây dựng, 2013)[1] Công nghệ
“Made in Việt Nam” này tỏ ra khá hiệu quả khi khắc phục được nhiều nhược điểm mà các công nghệ xử lý rác khác đang phải “đau đầu” Không chỉ giúp
xử lý tối đa 100% chất thải rắn, không chôn lấp, không phát sinh ô nhiễm môi trường trong quá trình xử lý, góp phần tích cực bảo vệ môi trường, giảm phát thải CO2 mà còn cho phép thu hồi các sản phẩm có ích để tái chế thành các viên nhiên liệu đốt (thay thế các nhiên liệu đốt truyền thống, tiết kiệm tài nguyên) và gạch không nung… Khác với những nhà máy xử lý rác trước có đầu ra là phân vi sinh, những sản phẩm của công nghệ này có thị trường tiêu
Trang 30thụ rộng lớn như viên đốt dùng cho đốt công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hoặc đốt phát điện, gạch không nung dùng xây dựng…
2.3 Tình hình quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu bằng chính sách – pháp luật
Công tác thực hiện, ban hành các văn bản quản lý nhà nước về rác thải cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội, thị trấn Đu đang đứng trước những thách thức về môi trường Huyện uỷ, UBND huyện Phú Lương, UBND thị trấn đã và đang cố gắng hoàn thiện cơ cấu bộ máy, cơ sở pháp lý phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn
Thị Trấn Đu đã thực hiện tốt các văn bản pháp luật của nhà nước, của tỉnh Thái Nguyên và huyện nhà về quản lý nhà nước về môi trường nói chung
và quản lý rác thải nói riêng
Cùng với việc chấp hành các chính sách, văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường nói chung và quản lý rác thải nói riêng thì UBND thị trấn Đu cũng
đã ban hành những công văn như: công văn hưởng ứng tuần lễ quốc gia nước sạch, vệ sinh môi trường,…
+ Tuyên truyền giáo dục cho người dân hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường hiện nay bằng các hình thức như: phát báo, phát tờ rơi
về công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn từng khối dân cư Tổ chức các buổi truyền thông về cách phân loại, thu gom và xử lý rác cho các nhà quản lý của từng khối cơ quan…
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Thực trạng công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu
- Thực trạng công tác xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu
- Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường tại thị trấn Đu nói riêng và huyện Phú Lương nói chung
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu nhập số liệu
Những số liệu thu nhập được như:
Trang 32- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị trấn Đu
- Các báo cáo tổng kết về công tác vệ sinh môi trường của thị trấn được thu nhập từ các phòng ban của UBND thị trấn Đu, hợp tác xã Hưng Phú
3.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Phỏng vấn bằng điều tra:
- Phạm vi phỏng vấn: Phỏng vấn tại địa bàn thị trấn Đu
- Đối tượng phỏng vấn: Hộ gia đình, cá nhân
- Hình thức phỏng vấn:
+ Phát phiếu điều tra: Điều tra 50 hộ gia đình trên địa bàn thuộc các xóm Thái An, Thác Lở, Dương Tự Minh, Lê Hồng Phong và các cán bộ công chức đang sinh hoạt tại địa bàn thị trấn Đu
+ Phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn trực tiếp người dân trên địa bàn nghiên cứu, phỏng vấn ban quản lý khu chợ, đồng thời phỏng vấn những công nhân tham gia công tác thu gom, cũng như trực tiếp xử lý rác tại bãi rác của thị trấn
3.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia có chuyên môn về vấn đề tài nguyên và môi trường như giảng viên giảng dạy chuyên ngành tài nguyên và môi trường, các cán bộ quản lý bãi rác…
3.4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu
Tiến hành tổng hợp số liệu và các thông tư đã thu thập được trong thời gian thực tập Toàn bộ số liệu được thực hiện trên bảng biểu, số liệu được quản
lý và phân tích trên máy tính với phần mềm Microsoft Excel và soạn thảo văn bản sử dụng Microsoft word
Trang 33PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị trấn Đu là thị trấn huyện lỵ miền núi, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, có vai trò thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện Phú Lương và các xã giáp ranh thuộc huyện Đại Từ và huyện Định Hoá; nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông, có các tuyến quan trọng chạy qua như: Quốc lộ 3, đường tỉnh lộ 263 thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội
Địa giới hành chính thị trấn Đu:
- Phía Bắc, phía Tây giáp xã Động Đạt, Phấn Mễ
- Phía Đông giáp xã Động Đạt, Yên Lạc và xã Tức Tranh
- Phía Nam giáp xã Phấn Mễ
Thị trấn Đu sau khi mở rộng theo đề án số Số: 129/ĐA-UBND ngày 30
tháng 01 năm 2013 có diện tích 940,75ha Dân số là 8.583 nhân khẩu, với
2.516 hộ, gồm có 16 tiểu khu: Dương Tự Minh, Lê Hồng Phong, Thác Lở, Thái An, Cầu Trắng, Thọ Lâm, Cây Châm, Tân Lập, Cây Thị, Làng Lê, Cầu Lân, Lân 1, Lân 2, Giá 1, Mấu 2, Tràng Học
4.1.1.2 Địa hình địa - chất
Thị trấn Đu nằm ở phía Bắc của huyện Phú Lương, thuộc trung du của huyện miền núi phía Bắc, địa hình khá bằng phẳng, nằm xen kẽ với đồi núi là những cánh đồng ruộng màu mỡ, thị trấn có địa hình đặc trưng là đồi núi có
độ cao từ 1000 – 1200m thích hợp cho trồng cây lúa nước và cây chè đặc trưng và thuận lợi cho phát triển các mặt bằng để kinh doanh và phát triển các ngành dịch vụ buôn bán
Trang 344.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Thị trấn Đu nằm trong vùng khí hậu đặc trưng của phía Bắc thuộc trung
du miền núi đó là nền khí hậu nhiệt đới đặc thù và được chia làm 2 mùa rõ rệt
là mùa mưa và mùa khô
Nền nhiệt độ của thị trấn khá phức tạp, về mùa đông nhiệt độ xuống thấp vào khoảng 90C – 150C còn về mùa hè thì nhiệt độ khá cao khoảng từ
300C – 350C và độ ẩm giao động từ 80 – 90% Lượng mưa trung bình là 1200 – 1600 mm về mùa mưa còn mùa khô thì lượng mưa xuống rất thấp vào khoảng
200 – 300 mm Lượng nước bốc hợi bình quân của thị trấn là 986 mm/năm Chế độ gió khu vực thị trấn Đu chịu tác động của hai hướng gió chủ đạo: gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam Trên địa bàn thị trấn chỉ có 2,20ha đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng, điều này cho thấy hệ thống sông ngòi của thị trấn không được nhiều, nguồn nước chủ yếu của thị trấn là sông Đu chảy qua thị trấn và nhiều kênh nhỏ dẫn nước
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên nước
Đất sông ngòi, suối và mặt nước chuyên dùng chỉ chiếm 2,20 ha tổng diện tích của toàn thị trấn vì vậy mà lượng nước dùng cho tưới tiêu nông nghiệp và hoạt động ống của con người vào mùa khô là rất khó khăn và thiếu nguồn nước sạch
- Tài nguyên đất
Tổng diện tích của thị trấn Đu là 219,9ha trong đó có 111,94ha là diện tích đất nông nghiệp và 97,48 ha diện tích là đất phi nông nghiệp, 10,48 ha chưa được sử dụng
- Tài nguyên nhân văn
Thị trấn Đu có truyền thống đấu tranh anh dũng, đã đóng góp sức người sức của cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
4.1.1.5 Cảnh quan môi trường
Trang 35- Cảnh quan
Đường quốc lộ 3A, đi qua thị trấn Đu ảnh hưởng lớn đến phát triển không gian của thị trấn Đu.Dân cư sống chủ yếu hai bên trục đường đường quốc lộ 3A và dọc theo đường quốc lộ có các trung tâm hành chính văn hóa, nơi
có trụ sở làm việc của cơ quan huyện, thị trấn, các công trình dịch vụ công cộng như: Trụ sở huyện ủy, UBND huyện, thị trấn, nhà văn hóa, bệnh viện huyện, khu thương mại
Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thị trấn đang từng bước hoàn thiện
và phát triển như: giao thông, điện lực, thương mại
- Môi trường
+ Khu công viên cây xanh
Cây xanh toàn bộ thị trấn Đu tổ chức thành một hệ thống hành lang dọc hai bên đường là chủ yếu và tổ chức trồng các cây xanh ven sông Đu là lá phổi của sự phát triển đô thị
+ Vệ sinh môi trường: Hiện nay đã thu gom được khoảng 80% lượng chất thải rắn phát sinh và được đưa đến bãi chôn lấp của thị trấn
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Đu
4.1.2.1 Về dân số, lao động
- Theo báo cáo của UBND thị trấn Đu ngày 30/01/2013 thì tính đến ngày 31/12/2012 thị trấn Đu có 4.506 nhân khẩu thường trú và 137 khẩu tạm trú, 1.307 hộ, mật độ dân số bình quân là 2.030 người/km2; Năm 2012 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thị trấn là 1,56%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 16,8%
- Tổng số lao động trong độ tuổi có khả năng lao động là 2.397, trong
đó lao động nông nghiệp 719 người (chiếm 30%), lao động phi nông nghiệp 1.678 người, (chiếm 70%)
4.1.2.2 Chức năng đô thị
Thị trấn Đu là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của huyện Phú Lương, có tiềm năng phát triển các ngành nghề như thương mại kinh doanh
Trang 36dịch vụ, sản xuất hàng hóa và phục vụ các nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong huyện; là nơi trung chuyển tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trong và ngoài khu vực, có thể thu hút lao động và nhu cầu nhân dân các vùng về thị trấn định cư, xây dựng thị trấn Đu phát triển nhanh thành đô thị lớn mạnh
4.1.2.3 Về kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng
Thị trấn Đu, huyện Phú Lương đã được UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận đạt tiêu chuẩn đô thị loại 5 vào năm 2013 Với diện tích đất tự nhiên là 940,75ha, dân số 8.617 người/2.266 hộ Là đơn vị có đường giao thông đi lại thuận tiện, có nhiều cơ quan nhà nước đóng trên địa bàn, là trung tâm giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng miền trong huyện Nguồn thu nhập chính của nhân dân với thế mạnh là kinh doanh dịch vụ và sản xuất tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, trên địa bàn có nhiều cơ quan, công chức, viên chức nhà nước Đời sống vật chất tinh thần của đại bộ phận nhân dân được nâng lên, cơ sở hạ tầng đang từng bước được đầu tư xây dựng góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
a Về kinh tế
* Kinh doanh dịch vụ thương mại, tiểu thủ công nghiệp
- Dịch vụ thương mại: Trong 9 tháng đầu năm kinh doanh dịch vụ thương mại trên địa bàn phát triển khá ổn định, hàng hóa đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp: Sản xuất tiểu thủ công nghiệp những tháng đầu năm với các ngành nghề như: Gia công cơ khí, gò hàn, nhôm kính, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến gỗ được đầu tư phát triển theo hướng bền vững, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp sản xuất đa dạng phong phú, chất lượng sản phẩm được nâng cao, hình thức mẫu mã có nhiều cải tiến, đảm bảo sức cạnh tranh về nhu cầu của người tiêu dùng
* Về sản xuất nông nghiệp