Để giảm thiểu những tác hại này, cần thiết phải tiến hành các hoạt động theo dõi, đánh giá mức độ nguy hiểm để kịp thời áp dụng các biện pháp can thiệp hỗ trợ đối với người bệnh và người
Trang 2Chủ biên:
PGS.TS Nguyễn Thanh Long
Tập thể biên soạn:
TS Trương Đình Bắc PGS.TS Phan Trọng Lân ThS Trần Quốc Bảo ThS Vũ Thị Minh Hạnh
TS Nguyễn Thị Kim Liên ThS Nguyễn Thị Hồng Diễm
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Tại nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, việc sử dụng rượu bia được coi là một phương thức giao tiếp và trở thành thói quen mang đậm nét văn hoá truyền thống Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có thể đem lại cho người sử dụng cảm giác hưng phấn, khoan khoái, lưu thông huyết mạch… Tuy nhiên rượu bia lại là chất gây nghiện nên người sử dụng rất dễ lạm dụng và phụ thuộc Uống rượu bia vượt ngưỡng an toàn là tác nhân nguy hiểm gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với sức khoẻ của người uống Để giảm thiểu những tác hại này, cần thiết phải tiến hành các hoạt động theo dõi, đánh giá mức độ nguy hiểm
để kịp thời áp dụng các biện pháp can thiệp hỗ trợ đối với người bệnh và người
có nguy cơ sức khỏe do sử dụng rượu bia
Tài liệu này được xây dựng và lưu hành nhằm cung cấp cho nhân viên y tế và những người có nhu cầu trong cộng đồng bộ công cụ giúp dễ dàng nhận biết, xác định mức độ nguy cơ đối với sức khỏe do sử dụng rượu bia và sớm áp dụng các biện pháp giảm tác hại Đồng thời còn giúp cung cấp bằng chứng cho nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) tiếp cận, tư vấn và truyền thông về tác hại của sử dụng rượu bia đối với những người chưa sử dụng hoặc sử dụng với nguy cơ thấp… Tài liệu được xây dựng trên cơ sở tham khảo các bộ công cụ
đã và đang được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới như: CAGE (Cut down Annoyed Guilty Eyeopener), MAST (Michigan Alcohol Screening Test), SADD (The short Alcohol Dependence Data questionnaire) và đặc biệt là AUDIT (The Alcohol Use Disorders Identification Test)…
AUDIT là phương pháp do Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) xây dựng, đây là một phương pháp đơn giản, thực hiện sàng lọc mức độ lạm dụng rượu bia chỉ trong thời gian vài phút AUDIT cung cấp bằng chứng để xác định các biện pháp can thiệp thích hợp giúp người lạm dụng rượu bia giảm hoặc ngừng sử dụng rượu bia và nhờ vậy có thể giảm thiểu những tác hại do rượu bia gây ra đối với sức khỏe AUDIT còn là công cụ tiện lợi không chỉ cho nhân viên y tế tại tuyến CSSKBĐ mà còn dễ sử dụng cho tất cả những người có chung mối quan tâm đối với các hoạt động phòng chống tác hại của sử dụng rượu bia như: công an, cán
bộ tư pháp, các nhà cung cấp dịch vụ xã hội trong cộng đồng…
Do được biên soạn dựa theo AUDIT cùng một số tài liệu tham khảo của các nước và đã có hiệu chỉnh nên bộ công cụ sàng lọc này có những ưu điểm nổi bật sau đây:
- Phù hợp với cách thức sàng lọc của quốc tế, bảo đảm yêu cầu tiêu chuẩn hóa
- Phân loại được cấp độ nguy cơ do sử dụng rượu bia đối với mỗi người: nguy cơ thấp, có hại, nguy hiểm và phụ thuộc/nghiện rượu bia
- Ngắn gọn, tốn ít thời gian (5-7 phút) và linh hoạt
- Phù hợp với năng lực chuyên môn và tính chất công việc của nhân viên y
tế ở các tuyến khác nhau
Trang 4- Người sử dụng rượu bia cũng có thể tự đánh giá về mức độ nguy cơ của bản thân để tự điều chỉnh mức độ uống
- Phù hợp với định nghĩa theo Phân loại Bệnh tật Quốc tế lần thứ 10 10) về phụ thuộc bia rượu và sử dụng rượu bia ở mức có hại
(ICD Tập trung vào các thông tin sử dụng rượu bia gần đây của đối tượng
Tài liệu hướng dẫn gồm 3 phần trong đó phần I và phần II dành cho tất cả những người cùng có chung mối quan tâm về tác hại của sử dụng rượu bia, cách sàng lọc phân loại nguy cơ và thực hiện can thiệp giảm tác hại Phần III dành để hướng dẫn triển khai thực hiện tại tuyến y tế cơ sở nhằm sàng lọc, phát hiện và triển khai các can thiệp thích hợp với từng cấp độ nguy cơ
Ban biên soạn xin chân thành cảm ơn Tổ chức HealthBridge tại Việt Nam đã hỗ trợ tài chính và các chuyên gia trong, ngoài ngành Y tế góp ý về chuyên môn giúp chúng tôi hoàn thành tài liệu này Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, tài liệu sẽ không trách khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được góp ý quý báu của đồng nghiệp để tài liệu hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau
Tập thể biên soạn
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG RƯỢU BIA VÀ TÁC HẠI ĐỐI VỚI SỨC KHỎE
DO LẠM DỤNG RƯỢU BIA 1
I Một số khái niệm có liên quan 1
1 Khái niệm rượu bia 1
2 Phân loại rượu bia 1
3 Đơn vị rượu 1
4 Mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia 1
II Thực trạng sử dụng rượu bia 3
1 Trên thế giới 3
2 Tại Việt Nam 3
III Tác hại của sử dụng rượu bia đối với sức khỏe 4
PHẦN II: HƯỚNG DẪN SÀNG LỌC VÀ CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI CHO NGƯỜI SỬ DỤNG RƯỢU/BIA 6
1 Mục đích của sàng lọc 6
2 Đối tượng thực hiện 6
a) Đối tượng sử dụng tài liệu 6
b) Đối tượng được sàng lọc 6
3 Địa điểm thực hiện 6
4 Phương pháp thực hiện 7
Nội dung bộ câu hỏi 7
5 Quy trình sàng lọc và can thiệp 10
a) Tiếp cận đối tượng 10
b) Hoàn thành bộ công cụ 11
c) Đánh giá mức độ nguy cơ 12
d) Can thiệp nhanh 12
6 Kỹ năng tiến hành hoạt động can thiệp 13
6.1 Nhóm Mức độ I - Cung cấp thông tin về tác hại của rượu bia 13
6.2 Nhóm Mức độ II - Đưa ra lời khuyên 14
6.3 Nhóm Mức độ III - Tư vấn nhanh 16
6.4 Nhóm Mức độ IV - Chuyển đến cơ sở y tế chuyên khoa 17
7 Lập kế hoạch theo dõi cho người có nguy cơ và người nhà 18
PHẦN III: TỔ CHỨC THỰC HIỆN 19
1 Lập kế hoạch thực hiện 19
2 Tập huấn 20
3 Theo dõi 20
4 Phản hồi 20
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 71
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG RƯỢU BIA VÀ TÁC HẠI ĐỐI VỚI SỨC KHỎE DO LẠM DỤNG RƯỢU BIA
I Một số khái niệm có liên quan
1 Khái niệm rượu bia
Rượu bia là đồ uống có cồn được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột
và đường có trong nhiều loại hoa quả, ngũ cốc
2 Phân loại rượu bia
Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với rượu bia TCYTTG thường phân loại theo nồng độ cồn và chia thành 3 loại:
3 Đơn vị rượu
“Đơn vị rượu” là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại rượu bia với
nhiều nồng độ khác nhau
“Đơn vị rượu” đang được áp dụng phổ biến tại nhiều nước trong đó có Việt
Nam theo khuyến cáo của TCYTTG: 1 đơn vị rượu bằng 10 gam rượu nguyên chất
4 Mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia
Theo Bảng phân loại DMS.IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) của Hiệp hội Tâm thần Mỹ, rối loạn do sử dụng đồ uống có cồn được chia làm 2 mức độ: Lạm dụng (alcohol abuse) và phụ thuộc rượu bia (Alcohol dependence)
Trong tài liệu này, để áp dụng cho can thiệp cộng đồng, việc đánh giá nguy cơ
do sử dụng rượu bia dựa theo hướng dẫn trong bộ công cụ sàng lọc AUDIT Có
4 mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia, bao gồm:
a) Sử dụng rượu bia hợp lý, nguy cơ thấp
Lý tưởng nhất vẫn là không nên uống rượu bia; nếu đã uống chỉ nên giữ ở mức
không quá 2 đơn vị rượu/ngày đối với nam giới và không quá 1 đơn vị rượu/ngày đối với nữ giới 1
1 Nguồn: Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 82
Với mức độ dung nạp này, những hậu quả của rượu bia đối với sức khoẻ thường
ở mức tối thiểu, tương ứng với mức <8 điểm (đánh giá theo bộ công cụ sàng lọc)
b) Sử dụng rượu bia ở mức nguy cơ (Hazardous use of alcohol)
Là việc sử dụng rượu bia ở mức độ dẫn đến nguy cơ gây hại cho người uống Những người này mặc dù chưa chịu những tác hại về sức khỏe do rượu/bia gây
ra nhưng họ có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như: ung thư, tim mạch, v.v hoặc nguy cơ chấn thương, bạo lực hay hành vi liên quan đến pháp luật, giảm khả năng làm việc, và gặp phải các vấn đề xã hội do tình trạng nhiễm độc rượu, bia cấp tính gây nên, tương ứng với mức từ 8-15 điểm
c) Sử dụng rượu bia ở mức có hại (Harmful use of alcohol)
Là việc sử dụng rượu bia ở mức gây ra các tổn hại về sức khỏe Những tổn hại này có thể về thể chất (tổn thương gan, suy chức năng gan, tim mạch, v.v.) hay tâm thần (trầm cảm, loạn thần,v.v.) hoặc các hậu quả xã hội khác (tai nạn thương tích, bạo lực, giảm khả năng làm việc,v.v.), tương ứng với mức từ 9-16 điểm
d) Phụ thuộc/nghiện rượu bia
Là tình trạng lệ thuộc vào rượu bia được đặc trưng bởi sự thèm muốn (nhu cầu uống mãnh liệt), mất kiểm soát (không thể ngừng uống mặc dù rất muốn dừng), tăng mức độ dung nạp, ảnh hưởng đến thể chất, tương ứng với mức từ 20 điểm trở lên
Năm 1992, nghiện rượu bia được liệt kê vào nhóm rối loạn hành vi và tâm thần
do sử dụng các chất tác động tâm thần với những tiêu chí nhận diện thuộc mục
F10.2 trong ICD-10
- Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng
- Khó khăn trong việc kiểm soát tập tính sử dụng: thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc, mức sử dụng
- Xuất hiện hội chứng cai khi ngừng sử dụng hoặc giảm liều
Trang 9Mức tiêu thụ đồ uống có cồn rất khác nhau giữa các quốc gia và khu vực2 Các quốc gia có mức tiêu thụ cao nhất là các nước phát triển, hầu hết thuộc vùng Bắc bán cầu Một số nước như Ac-hen-ti-na, Úc, Niu-Di-Lân, Nam Phi, Bắc Mỹ và Nam Mỹ có mức tiêu thụ trung bình Các nước ở Bắc Phi, cận Sahara, Đông Địa Trung Hải, Nam Á và Ấn Độ Dương tiêu thụ ở mức thấp do đây là các khu vực
có tỷ lệ cao dân cư theo đạo Hồi (không cho phép người dân sử dụng đồ uống có cồn)
Các loại đồ uống có cồn được tiêu thụ hàng năm trên thế giới gồm: rượu mạnh (spirit) chiếm 45%; bia chiếm 36%; rượu nhẹ (wine) chiếm 11%; đồ uống có cồn khác chiếm 11% Xu hướng chung trên toàn cầu cho thấy bia là loại đồ uống có cồn được tiêu thụ tăng nhanh hơn so với rượu trong những thập kỷ gần đây
Đồ uống có cồn không chính thống đang là vấn đề nan giải ở tất cả các khu vực trên toàn cầu do các sản phẩm này có thể chứa các chất gây hại, ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe người sử dụng trong khi lượng tiêu thụ như đã nêu là khá lớn Các quốc gia có mức tiêu thụ đồ uống có cồn càng thấp có tỷ lệ tiêu dùng sản phẩm không chính thống càng cao Các nước nghèo và các nước đang phát triển thường sử dụng các sản phẩm đồ uống không chính thống nhiều hơn các nước phát triển Ở Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á, những sản phẩm không chính thống chiếm đến 56,2% và 69% mức tiêu thụ đồ uống có cồn trung bình/ người/năm3
2 Tại Việt Nam
Đồ uống có cồn chủ yếu bao gồm: rượu (rượu mạnh, rượu nhẹ) và bia Các sản phẩm đồ uống có cồn khác chiếm tỷ trọng không đáng kể Trong khi mức tiêu thụ đồ uống có cồn của toàn thế giới trong gần 2 thập kỷ qua hầu như không thay đổi thì Việt Nam lại là một trong số ít quốc gia có xu hướng gia tăng nhanh Mức tiêu thụ rượu bia bình quân/người/năm quy đổi ra cồn nguyên chất đã tăng từ 1,35 lít năm 2001 lên 3,3 lít năm 2007; 3,54 lít năm 2008 và khoảng 4 lít năm
2010, trong đó tỷ trọng từ bia cao hơn từ rượu Năm 2008, trong 3,54 lít quy cồn nguyên chất được tiêu thụ bình quân/người, bia chiếm 51,4%, tương đương 1,82 lít (Bộ Công thương, 2009)
Những năm gần đây, rượu tự nấu không bảo đảm chất lượng hoặc các loại rượu được sản xuất/chế biến không hợp pháp đang là vấn đề rất đáng lo ngại ở Việt
2 Theo phân loại của TCYTTG, có 6 khu vực: châu Mỹ, châu phi, Đông Địa Trung Hải, Tây Thái Bình Dương, Đông Nam Á và châu Âu Việt Nam thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương
3 Nguồn: WHO, GISAH, 2010 (Global Informaition System on Alchol related Harm)
Trang 104
Nam Theo thông lệ phân loại quốc tế, những đồ uống có cồn không chính thống này chiếm tỷ trọng rất cao, ước tính có thể chiếm tới khoảng 70% mức tiêu thụ bình quân/người/năm ở Việt Nam (TCYTTG, 2012) Tình trạng gian dối trong kinh doanh rượu hoặc rượu tự pha chế, chủ yếu là pha Methanol gây hậu quả chết người vẫn còn ghi nhận tại một số địa phương
Việt Nam còn đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng nhanh tỷ lệ vị thành niên
và thanh niên sử dụng rượu bia Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong vị thành niên và thanh niên đã tăng gần 10% sau 5 năm (từ 51% năm 2003 lên 60% năm 2008) Năm 2008, tỷ lệ có sử dụng rượu bia là 79,9% đối với nam giới và 36,5% đối với
nữ giới, trong đó có 60,5% nam giới và 22% nữ giới cho biết đã từng say rượu bia Tỷ lệ có sử dụng rượu bia trong nhóm tuổi không được pháp luật cho phép (14-17 tuổi) đã tăng từ 34,9% lên 47,5% và trong độ tuổi 18-21 cũng đã tăng từ 55,9 lên 67%4
III Tác hại của sử dụng rượu bia đối với sức khỏe
Xét trên phương diện các tác động trực tiếp và gián tiếp của đồ uống có cồn đến hàng loạt các cơ quan trong cơ thể thì rượu bia là chất độc5 Mức độ tác hại đối với sức khỏe do sử dụng rượu bia với từng cá nhân là khác nhau, tùy thuộc vào các yếu tố như: tuổi; giới tính; đặc điểm sinh học; mức dung nạp bình quân; địa điểm, bối cảnh và cách thức uống của người sử dụng, v.v
Mô hình về mối liên hệ giữa tiêu thụ rượu bia và hậu quả với sức khỏe
Ghi chú:
- Cách thức sử dụng rượu bia có liên quan cả các vấn đề sức khỏe cấp tính và mạn tính
- Mức tiêu thụ bình quân là tác nhân gây ra các bệnh mạn tính thông qua các ảnh hưởng sinh
hóa/lệ thuộc
4 Báo cáo chung Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ II (SAVY II)- Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, UNICEF, WHO Hà Nội 2010; WPRO 2010: Health of adolescent in Vietnam
5 Thomas F Babor et al 2010 Alcohol: No ordinary commodity- a summary of the second edition Addiction
Cách thức uống Mức tiêu thụ bình quân
Say /ngộ độc
Bệnh mạn tính
Thương tích, tử vong (TNGT, bạo lực, tự tử)
Các vấn đề xã hội trước mắt
Các vấn đề xã hội lâu dài
Sử dụng rượu bia
Yếu tố trung gian
Hậu quả liên quan rượu bia
Trang 115
Sử dụng rượu bia là nguyên nhân chủ yếu gây ra 30 bệnh và là nguyên nhân kết hợp gây nên 200 bệnh theo ICD 10 năm 1992 Rượu bia là yếu tố nguy cơ gây tử vong xếp thứ 8 trên toàn cầu (chiếm 4% số trường hợp tử vong toàn cầu) và là yếu tố nguy cơ gây tử vong hàng đầu đối với nam giới trong nhóm tuổi từ 15-59 Rượu bia là yếu tố nguy cơ xếp thứ 3 trong số 19 yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với gánh nặng bệnh tật toàn cầu
Ở Việt Nam, sử dụng rượu/bia là là yếu tố gây ra 2,9% trường hợp tử vong và 2,2% gánh nặng bệnh tật quốc gia6
Nếu người dân Việt Nam uống rượu bia ở mức thấp nhất (0-2,5 gam quy đổi theo cồn nguyên chất/ngày) thì số trường hợp tử vong hằng năm có thể giảm được ít nhất là 13.923 trường hợp ở nam giới và 1.558 trường hợp ở nữ giới Sử dụng rượu bia khi tham gia điều khiển các phương tiện giao thông còn là nguyên nhân gây ra 6% số vụ tai nạn giao thông ở nước ta năm 2011, khoảng 15% các trường hợp tai nạn giao thông tại các khoa cấp cứu có sử dụng rượu bia7
Trang 12• Phát hiện sớm các nguy cơ đối với sức khỏe do lạm dụng rượu bia để tiến
hành kịp thời can thiệp giảm tác hại
• Giúp những trường hợp phụ thuộc rượu bia được kết nối với các dịch vụ
điều trị chuyên sâu
• Giảm chi phí điều trị đối với các bệnh có nguyên nhân từ sử dụng rượu
bia
• Góp phần nâng cao sức khỏe và phòng chống tác hại của lạm dụng rượu
bia trong cộng đồng
2 Đối tượng thực hiện
a) Đối tượng sử dụng tài liệu
- CBYT thôn bản, nhân viên công tác xã hội tại cộng đồng
- CBYT tại các trạm y tế xã, phường; trường học; nhà máy; doanh nghiệp, v.v
- CBYT tại các phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa các tuyến; các phòng khám chuyên khoa, phòng mạch…
- Người sử dụng rượu bia và gia đình họ
- Các đối tượng khác có quan tâm đến giảm thiểu tác hại do lạm dụng rượu bia, v.v
b) Đối tượng được sàng lọc
- Người có sử dụng rượu bia trong cộng đồng: cần được tiến hành sàng lọc
và phân loại về mức độ nguy cơ đối với sức khỏe do sử dụng rượu bia theo định kỳ hằng năm
- Người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt là những người mắc bệnh mạn tính và các rối loạn sức khỏe liên quan đến phụ thuộc rượu bia: viêm tụy, xơ gan, viêm dạ dày, bệnh lao, rối loạn thần kinh, bệnh cơ tim, trầm cảm hoặc cố gắng tự sát, hoặc các bệnh tâm thần khác
3 Địa điểm thực hiện
- Tại cộng đồng
Trang 13- Phần 1: có 3 câu hỏi (câu 1, câu 2 và câu 3) thu thập bằng chứng về sử
dụng rượu bia đến mức có hại
- Phần 2: có 3 câu hỏi (câu 4, câu 5 và câu 6) thu thập bằng chứng về phụ thuộc rượu bia
- Phần 3: có 4 câu hỏi (câu 7, câu 8, câu 9 và câu 10) thu thập bằng chứng
về sử dụng rượu bia đến mức nguy hiểm
Nội dung bộ câu hỏi
1 Xin cho biết mức độ uống
rượu/bia của Anh/chị
trong 12 tháng vừa qua
+ Chưa bao giờ
(chuyển sang câu 9 và câu 10)
+ ≤ 1 lần/tháng + 2-4 lần/tháng + 2-3 lần/tuần + ≥ 4 lần/tuần
thường uống bao nhiêu?
+ 1-2 lon/chai bia, cốc rượu vang 120ml hay chén rượu mạnh 30ml + 3-4 lon/chai bia, cốc rượu vang 120ml hay chén rượu mạnh 30ml + 5-6 lon/chai bia, cốc rượu vang 120ml hay chén rượu mạnh 30ml + 7-9 lon/chai bia, cốc rượu vang 120ml hay chén rượu mạnh 30ml + ≥ 10 lon/chai bia, cốc rượu vang 120ml hay chén rượu mạnh 30ml
3 Có khi nào trong một lần
uống, Anh/chị uống hết 6
chai/lon bia hay 6 ly rượu
vang 120ml hay 6 chén
rượu 30ml hoặc nhiều
hơn nữa không?
+ Không bao giờ + Ít hơn hằng tháng + Hằng tháng
+ Hằng tuần + Hằng ngày hoặc gần như hằng ngày
(Nếu câu hỏi 2 và câu hỏi 3 có số
đ iểm đều bằng “0” thì chuyển