1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình kinh tế lượng về lý thuyết tăng trưởng kinh tế

20 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 256,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ HỆ SỐ ĐẦU TƯ TĂNG TRƯỞNG ICOR TẠI VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 1986 2015) LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia. Một đất nước mạnh hay yếu giờ đây không chỉ dựa vào sức mạnh vũ trang, quân đội mà sẽ dựa vào sự phát triển của nền kinh tế của quốc gia đó. Qua 3 lý thuyết về tăng trưởng kinh tế (Lý thuyết tăng trưởng của Adam Smith, Lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes và lý thuyết tăng trưởng của trường phái cổ điển mới), có thể thấy 4 nguồn lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế là: Tài nguyên thiên nhiên, Tích luỹ tư bản (đầu tư), Vốn nhân lực, Tiến bộ công nghệ. Trong bài tiểu luận này, chúng em xin đề cập đến mối quan hệ giữa Đầu tư và Tăng trưởng kinh tế. Cụ thể hơn, chúng em sẽ xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế hay tốc độ tăng của GDP và hệ số ICOR. Hệ số ICOR (Incremental CapitalOutput Ratio) thể hiện để tăng một đồng GDP cần đầu tư bao nhiêu đồng. Hệ số ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại. Để xác định được mối quan hệ đó thì Kinh tế lượng là công cụ rất quan trọng và rất đắc lực hỗ trợ chúng ta. Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng em sẽ tiến hành chạy thử một mô hình kinh tế lượng dựa theo một mẫu số liệu mà nhóm thu thập được; từ đó, sẽ tìm ra được mô hình ước lượng tối ưu nhất để xác định mức độ phụ thuộc của sự tăng trưởng kinh tế với tích luỹ vốn (đầu tư). Bài tiểu luận của chúng em gồm 3 phần chính: • Phần 1: Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế • Phần 2: Xây dựng mô hình • Phần 3: Diễn giải kết quả Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện, chúng em đã cố gắng tham khảo, tìm tòi tài liệu và vận dụng kiến thức đã tích luỹ từ các môn học kinh tế trước đây để thể hiện đề tài một cách tốt nhất. Bên cạnh đó chúng em cũng nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình từ cô Nguyễn Thúy Quỳnh trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình này. Do vốn kiến thức còn hạn chế, bài tiểu luận của chúng em chắc chắn sẽ còn thiếu sót. Rất mong nhận được sự nhận xét và ý kiến đóng góp từ phía thầy cô cũng như từ phía các bạn để đề tài nghiên cứu của chúng em được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn I. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 1. Mô hình Tân cổ điển Vào cuối thế kỉ 19, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ , trường phái kinh tế Tân cổ điển ra đời. Bên cạnh một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế tương đồng cùng trường phái cổ điển, mô hình này có các quan điểm mới sau: Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của vốn. Từ đó họ đưa ra hai khái niệm: • Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động • Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng vốn tương ứng với sự gia tăng lao động Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglass Y=F(k,l,r,t). Sau khi biến đổi, CobbDouglass thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng các biến số: g=t+ak+bl+cr Trong đó: • g: tốc độ tăng trưởng GDP • k,l,r: tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên • t: phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kĩ thuật • a, b, c: các hệ số, phản ánh tỉ trọng của các yếu tố đầu vào trong tổng sản phẩm: a+b+c=1 2. Mô hình Keynes Mô hình nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong xác định sản lượng của nền kinh tế: sau khi phân tích các xu hướng biến đổi của tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, và ảnh hưởng của chúng đến tổng cầu , khẳng định cần thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao tổng cầu và việc làm trong xã hội Nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế. Những chính sách làm tăng tiêu dùng: tác động vào tổng cầu; sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư, đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế, công trái nhà nước để bổ sung ngân sách, tăng đầu tư của nhà nước vào các công trình công cộng và một số biện pháp hỗ trợ khác khi đầu tư tư nhân giảm sút Phát triển tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỉ 20, hai nhà kinh tế học là Harod nguời Anh và Domar người Mĩ đưa ra mô hình xem xét mối quan hệ tăng trưởng với các nhu cầu về vốn: g=sk=ik Trong đó: • g: tốc độ tăng trưởng • s: tỉ lệ tiết kiệm • i: tỉ lệ đầu tư • k: hệ số ICOR: hệ số gia tăng tư bản đầu ra Hệ số ICOR phản ánh trình độ kĩ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư (để tăng 1 đồng tổng sản phẩm cần k đồng vốn).

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

-*** -BÁO CÁO KINH TẾ LƯỢNG

MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ HỆ SỐ ĐẦU TƯ TĂNG TRƯỞNG ICOR TẠI VIỆT NAM

(GIAI ĐOẠN 1986 - 2015)

Nhóm thực hiện:

Lớp:

Khóa: 53 Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thúy Quỳnh

Trang 2

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

I Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 4

1 Mô hình Tân cổ điển 4

2 Mô hình Keynes 4

3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại 5

4 Nghiên cứu về mối quan hệ của tốc độ tăng trưởng kinh tế và hệ số ICOR 5

II Xây dựng mô hình 6

1 Giải thích mô hình 6

2 Mô hình nghiên cứu 8

III Diễn giải kết quả 10

1 Mô tả thống kê 10

2 Mô hình hồi quy tuyến tính ước lượng 12

3 Kiểm định mô hình 13

4 Khiếm khuyết của mô hình 14

LỜI KẾT 15

PHỤ LỤC 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia Một đất nước mạnh hay yếu giờ đây không chỉ dựa vào sức mạnh vũ trang, quân đội mà sẽ dựa vào

sự phát triển của nền kinh tế của quốc gia đó Qua 3 lý thuyết về tăng trưởng kinh tế (Lý thuyết tăng trưởng của Adam Smith, Lý thuyết tăng trưởng của trường phái

Keynes và lý thuyết tăng trưởng của trường phái cổ điển mới), có thể thấy 4 nguồn lực

cơ bản của tăng trưởng kinh tế là: Tài nguyên thiên nhiên, Tích luỹ tư bản (đầu tư), Vốn nhân lực, Tiến bộ công nghệ

Trong bài tiểu luận này, chúng em xin đề cập đến mối quan hệ giữa Đầu tư và Tăng trưởng kinh tế Cụ thể hơn, chúng em sẽ xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế hay tốc độ tăng của GDP và hệ số ICOR Hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) thể hiện để tăng một đồng GDP cần đầu tư bao nhiêu đồng Hệ số ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp và ngược lại

Để xác định được mối quan hệ đó thì Kinh tế lượng là công cụ rất quan trọng và rất đắc lực hỗ trợ chúng ta Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng em sẽ tiến hành chạy thử một mô hình kinh tế lượng dựa theo một mẫu số liệu mà nhóm thu thập được; từ

đó, sẽ tìm ra được mô hình ước lượng tối ưu nhất để xác định mức độ phụ thuộc của sự tăng trưởng kinh tế với tích luỹ vốn (đầu tư)

Bài tiểu luận của chúng em gồm 3 phần chính:

 Phần 1: Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

 Phần 2: Xây dựng mô hình

 Phần 3: Diễn giải kết quả

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện, chúng em đã cố gắng tham khảo, tìm tòi tài liệu và vận dụng kiến thức đã tích luỹ từ các môn học kinh tế trước đây để thể hiện đề tài một cách tốt nhất Bên cạnh đó chúng em cũng nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình từ cô Nguyễn Thúy Quỳnh trong suốt quá trình thực hiện đề tài Chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình này

Do vốn kiến thức còn hạn chế, bài tiểu luận của chúng em chắc chắn sẽ còn thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét và ý kiến đóng góp từ phía thầy cô cũng như từ phía các bạn để đề tài nghiên cứu của chúng em được hoàn thiện hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

I Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế

1 Mô hình Tân cổ điển

Vào cuối thế kỉ 19, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ , trường phái kinh tế Tân cổ điển ra đời Bên cạnh một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế tương đồng cùng trường phái cổ điển, mô hình này có các quan điểm mới sau:

Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của vốn Từ đó họ đưa ra hai khái niệm:

 Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng số lượng vốn cho một đơn vị lao động

 Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng vốn tương ứng với sự gia tăng lao động

Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglass Y=F(k,l,r,t) Sau khi biến đổi, Cobb-Douglass thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng các biến số:

g=t+ak+bl+cr

Trong đó:

 g: tốc độ tăng trưởng GDP

 k,l,r: tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên

 t: phần dư còn lại, phản ánh tác động khoa học kĩ thuật

 a, b, c: các hệ số, phản ánh tỉ trọng của các yếu tố đầu vào trong tổng sản phẩm: a+b+c=1

2 Mô hình Keynes

Mô hình nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong xác định sản lượng của nền kinh tế: sau khi phân tích các xu hướng biến đổi của tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, và ảnh hưởng của chúng đến tổng cầu , khẳng định cần thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao tổng cầu và việc làm trong xã hội

Nhấn mạnh vai trò điều tiết của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế Những chính sách làm tăng tiêu dùng: tác động vào tổng cầu; sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp, giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư, đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế, công trái nhà nước để bổ sung ngân sách, tăng đầu tư của nhà nước vào các công trình công cộng và một số biện pháp hỗ trợ khác khi đầu tư tư nhân giảm sút

Trang 5

Phát triển tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 của thế kỉ 20, hai nhà kinh tế học là Harod nguời Anh và Domar người Mĩ đưa ra mô hình xem xét mối quan hệ tăng trưởng với các nhu cầu về vốn:

g=s/k=i/k

Trong đó:

 g: tốc độ tăng trưởng

 s: tỉ lệ tiết kiệm

 i: tỉ lệ đầu tư

 k: hệ số ICOR: hệ số gia tăng tư bản- đầu ra

Hệ số ICOR phản ánh trình độ kĩ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư (để tăng 1 đồng tổng sản phẩm cần k đồng vốn)

3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại

Sau một thời gian áp dụng mô hình kinh tế chỉ huy của Keynes, quá nhấn mạnh tới vai trò bàn tay hữu hình của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, hạn chế bàn tay vô hình, tạo trở ngại cho quá trình tăng trưởng Các nhà kinh tế học của trường phái hỗn hợp ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp ở những mức độ khác nhau

Vì thế, đây được coi là mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại, nội dung cơ bản của

nó là: Giống mô hình của Keynes, quan niệm sự cân bằng của kinh tế xác định tại giao

AS và AD Thống nhất với mô hình kinh tế tân cổ điển, mô hình kinh tế học hiện đại cho rằng tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đó là tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công nghệ Thống nhất với kiểu phân tích của hàm sản xuât Cobb-Douglass về sự tác động của các yếu tố trên với tăng trưởng

Các nhà kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với mô hình Harrod-Domar về vai trò tiết kiệm và vốn đầu tư trong tăng trưỏng kinh tế Chính vì thế , nhiều người cho rằng mô hình kinh tế hỗn hợp là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển

và học thuyết kinh tế của Keynes

4 Nghiên cứu về mối quan hệ của tốc độ tăng trưởng kinh tế và hệ số ICOR

Ở Việt Nam, Trong tạp chí Công nghệ - Ngân hàng số 42 xuất bản tháng 9/2009,

TS Nguyễn Phi Lân có đưa ra bài viết “Lạm phát Việt Nam 2008 nhìn từ góc độ tiết kiệm và đầu tư” trong đó đã chứng minh mức tăng ICOR liên tục đã tác động tiêu cực

tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2007, thông qua ảnh hưởng tới

Trang 6

lạm phát Phương pháp ước lượng được sử dụng trong bài viết là phương pháp hiệu ứng cố định (Fixed Effects - FE), được xem là tối ưu và hiệu quả hơn phương pháp truyền thống ước lượng bình phương nhỏ nhất OLS Kết quả của mô hình cho thấy việc duy trì tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong giai đoạn 2001 - 2007 bằng việc tăng cường đầu tư cho nền kinh tế mà không chú trọng tính hiệu quả của việc đầu tư đã tạo sức ép lớn về lạm phát trong các năm tiếp theo

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tìm được rất nhiều tài liệu nước ngoài nhấn mạnh mối quan hệ giữa hệ số đầu tư hiệu quả với tăng trưởng của nền kinh tế Bài viết

“Examining the appropriate measure of investments that support economic growth”

của Marites B Oliva (xuất bản tháng 10/2013) khẳng định ICOR là một chỉ tiêu đo lường hiệu quả của việc đầu tư và được chú trọng đến khi cân nhắc mục tiêu tăng trưởng ICOR thấp hơn dự kiến sẽ dẫn đến một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao hơn vì một

số ICOR thấp thường có nghĩa là quốc gia đó đã sử dụng hiệu quả các công nghệ hoặc việc sử dụng các công nghệ tiết kiệm vốn Nếu một nền kinh tế có vốn khan hiếm và lao động dồi dào, cần có một hệ số ICOR thấp, nếu không, nước đó sẽ sử dụng nhiều vốn và sử dụng ít lao động cho sản xuất

Có thể đánh giá chung từ các bài viết là tác giả đều gián tiếp chứng minh ảnh hưởng của hệ số ICOR đến tăng trưởng kinh tế thông qua ảnh hưởng của nó tới một

biến số khác, như lạm phát, tỷ lệ nghèo đói (Bài viết “Financing Goal 1 of the MDGs

in Africa: some evidence from cross-country data” của Abebe Shimeles, xuất bản

tháng 8/2010) Tuy vậy chúng ta vẫn không thể phủ nhận giữa ICOR và tốc độ tăng trưởng GDP có một mối liên hệ trực tiếp, theo như công thức được xây dựng từ mô hình tăng trưởng của Harrod - Domar Thông qua bài tiểu luận, nhóm sẽ xây dựng mô hình hồi quy chỉ với 2 biến ICOR và tốc độ tăng trưởng GDP để kiếm chứng mối quan

hệ nghịch chiều giữa hai biến số này

II Xây dựng mô hình

1 Giải thích mô hình

a) Giải thích các biến sử dụng

 Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (tốc độ tăng trưởng GDP):

Phản ánh tăng trưởng về mặt khối lượng hàng hóa và dịch cuối cùng của nền kinh tế được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (ở mô hình đang khảo sát là một năm) Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước được tính cho các ngành, các nhóm ngành, các loại hình kinh tế, vùng lãnh thổ, nhằm đánh giá nhịp điệu phát triển kinh tế của cả nước, một ngành hoặc một vùng lãnh thổ

Trang 7

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh

tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %

Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:

g = dY/Y × 100 (%)

Trong đó: Y là quy mô của nền kinh tế (GDP), g là tốc độ tăng trưởng GDP

 Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR):

Là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư thực hiện tăng thêm để tăng thêm 1 đồng tổng sản phẩm trong nước(GDP) Hệ số ICOR thay đổi tuỳ theo thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ khác nhau, phụ thuộc vào cơ cấu đầu tư và hiệu quả sử dụng đồng vốn Nếu hệ số ICOR thấp, chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao và ngược lại

Hệ số ICOR được tính theo công thức:

ICOR = (K t -K t-1 ) / (Y t -Y t-1 )

Trong đó: K là vốn, Y là sản lượng, t là kỳ báo cáo, t-1 là kỳ trước

Hệ số ICOR là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là một trong những cơ sở để rà soát

và sửa đổi mục tiêu đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả về chất lượng sử dụng vốn đầu tư

Hệ số ICOR phụ thuộc vào nguồn dự trữ và công nghệ sản xuất ICOR càng cao chứng

tỏ đầu tư càng đắt Hệ số ICOR ở một số nước có xu hướng tăng và ICOR ở các nước phát triển thường cao hơn ở các nước đang phát triển

b) Lý thuyết mô hình Kinh tế lượng và phương pháp luận

Mô hình kinh tế lượng là gì?

Có nhiều định nghĩa về kinh tế lượng, thông qua các định nghĩa nhận thấy đo lường kinh tế không phải là nội dung duy nhất của kinh tế lượng Phạm vi của kinh tế lượng rộng hơn, thể hiện qua một số định nghĩa sau:

 Kinh tế lượng bao gồm việc áp dụng thống kê toán cho các số liệu kinh tế để củng

cố về mặt thực nghiệm cho các mô hình do các nhà kinh tế toán đề xuất và để tìm

ra lời giải bằng số

 Kinh tế lượng là sự phận tích về lượng các vấn đề kinh tế hiện thời dựa trên việc vận dụng đồng thời lý thuyết và thực tế được thực hiện bằng các phương pháp suy đoán thích hợp

Trang 8

 Kinh tế lượng được các nhà kinh tế học sử dụng như là một công cụ hữu ích trong việc vừa kết hợp khả năng sử dụng các lý thuyết kinh tế cũng như phân tích thực nghiệm với việc mô hình hóa lý thuyết, qua đó ước lượng được các quan hệ kinh

tế hoặc dự báo hiện tượng kinh tế

Việc xây dựng mô hình kinh tế lượng được tiến hành theo các bước sau đây:

 Bước 1: Nêu vấn đề lý thuyết cần phân tích và các giả thiết về mối quan hệ giữa các biến kinh tế

 Bước 2: Thiết lập các mô hình toán kinh tế

 Bước 3: Xây dựng mô hình kinh tế lượng

 Bước 4: Thu thập số liệu

 Bước 5: Ước lượng thông số số

 Bước 6: Kiểm định giả thiết thống kê, nếu kiểm định cho kết quả tốt thì dự báo, chưa tốt thì xây dựng lại mô hình

 Bước 7: Sử dụng mô hình để dự báo hoặc đưa ra các chính sách kinh tế

5 Mô hình nghiên cứu

Dựa vào mô hình của Harrod - Domar, có thể thấy hai biến số tốc độ tăng trưởng GDP và hệ số gia tăng vốn đầu ra có mối quan hệ là nghịch biến Chúng ta sẽ xây dựng

mô hình hồi quy tuyến tính 2 biến để chứng minh mối quan hệ này

Áp dụng phương pháp luận của kinh tế lượng, khi biết giá trị của hai biến qua các năm, cụ thể là tốc độ tăng trưởng GDP và hệ số gia tăng vốn đầu ra, ta hoàn toàn có thể giả thiết giữa các biến số này có mối quan hệ tuyến tính và thiết lập mô hình biểu diễn mối quan hệ gữa chúng dưới dạng:

MH: g = β 1 + β 2 ICOR

Bảng 1 Tên biến và giải thích biến

Tên biến Thuộc tính

biến Giải thích biến Đơn vị Nguồn số liệu

g Biến phụ thuộc Tốc độ tăng

trưởng GDP Phần trăm %

thống kê Việt Nam

icor Biến độc lập Hệ số ra tăng

Tuy nhiên, ngoài hệ số ICOR, tốc độ tăng trưởng GDP còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào sản xuất như tư bản, lao động, công nghệ,…Vì vậy, để khẳng định phương trình tuyến tính chỉ bao gồm hai

Trang 9

biến như trên sẽ chưa thực sự chính xác Nhưng để làm rõ ràng nhất mối quan hệ giữa xuất khẩu và GDP, ta có thể gộp các tác động còn lại thành nhiễu, đặt là ui:

g = β 1 + β 2 ICOR + u i

a) Các giả thiết

Để xử lý được mô hình, chúng ta cần các giả thiết sau: (với X là biến độc lập, Y

là biến phụ thuộc)

GT1: Biến độc lập X ( biến giải thích) là phi ngẫu nhiên, tức là giá trị của chúng được cho trước

GT2: Kỳ vọng của yếu tố ngẫu nhiên ui=0 :

E[ui/Xi] =0 GT3: Các ui có phương sai bằng nhau:

Var[ui/Xi] = δ2

GT4: Không có sự tương quan giữa các nhiễu ui :

Cov [uiuj/XiXj]=E[uiuj/XiXj]=0 GT5: Không có sự tương quan giữa ui với Xi:

Cov [ui/Xi]=0 GT6: Ui có phân phối N(0;δ2)

GT7: Mô hình là tuyến tính theo tham số

GT8: Số quan sát n lớn hơn số tham số của mô hình (thỏa mãn)

GT9: Giá trị của X không đồng nhất ở tất cả các quan sát (thỏa mãn)

GT10: Mô hình được xác định đúng Tức là nó phải tuân theo lý thuyết hoặc giả thuyết nào đó

c) Nguồn số liệu

Để ước lượng mô hình, ta sử dụng bảng 1(Phụ lục) về số liệu tốc độ tăng trưởng GDP và hệ số gia tăng vốn đầu ra của Việt Nam từ 2000-2013 (đơn vị của tốc độ tăng trưởng GDP: %) Số liệu về Tốc độ tăng trưởng GDP được lấy từ Tổng cục Thống kê, còn số liệu về ICOR được tính toán dựa trên nguồn từ IMF

Trang 10

III Diễn giải kết quả

1 Mô tả thống kê

Bảng 2 Kết quả mô tả thống kê các biến trong mô hình theo Stata

icor 30 4,28 1,289587 1,9 6,9

g 30 6,576667 1,632786 2,5 9,5 Variable Obs Mean Std Dev Min Max

Bảng kết quả mô tả thống kê các biến cho thấy mô hình thỏa mãn 11 giả thiết đã nêu Có 30 quan sát có số liệu ICOR trong giai đoạn 1986 - 2015, 30 quan sát có số liệu tốc độ tăng trưởng GDP, như vậy có 30 quan sát có số liệu của cả 2 biến số

 Các giá trị của g có sự dao động lớn, giá trị lớn nhất gấp 3,8 lần giá trị nhỏ nhất

 Các giá trị của icor cũng có sự dao động lớn, giá trị lớn nhất gấp 3,6 lần giá trị nhỏ nhất

Xem xét trực quan từ số liệu, ta thấy hai biến số có mối quan hệ nghịch biến

Hình 1 Biểu đồ Scatter mô tả số liệu về g và ICOR (theo Stata)

icor

Nguồn: Stata

 Về hệ số gia tăng vốn đầu ra ICOR:

Ngày đăng: 10/10/2016, 21:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tên biến và giải thích biến - Mô hình kinh tế lượng về lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Bảng 1. Tên biến và giải thích biến (Trang 8)
Bảng kết quả mô tả thống kê các biến cho thấy mô hình thỏa mãn 11 giả thiết đã nêu. Có 30 quan sát có số liệu ICOR trong giai đoạn 1986 - 2015, 30 quan sát có số liệu tốc độ tăng trưởng GDP, như vậy có 30 quan sát có số liệu của cả 2 biến số. - Mô hình kinh tế lượng về lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Bảng k ết quả mô tả thống kê các biến cho thấy mô hình thỏa mãn 11 giả thiết đã nêu. Có 30 quan sát có số liệu ICOR trong giai đoạn 1986 - 2015, 30 quan sát có số liệu tốc độ tăng trưởng GDP, như vậy có 30 quan sát có số liệu của cả 2 biến số (Trang 10)
Bảng 2. Kết quả mô tả thống kê các biến trong mô hình theo Stata - Mô hình kinh tế lượng về lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Bảng 2. Kết quả mô tả thống kê các biến trong mô hình theo Stata (Trang 10)
Bảng 3. Bảng kết quả hồi quy của mô hình tính toán trên Stata - Mô hình kinh tế lượng về lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Bảng 3. Bảng kết quả hồi quy của mô hình tính toán trên Stata (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w