1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Non - Sông đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở thơ phú thế kỉ X - thế kỉ XV

95 268 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 507,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X – thế kỉ XV đã ghi dấu ấn đậm nét trong tiến trình lịch sử văn học với nhiều thành tựu rực rỡ. Được nảy sinh từ chính quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc, văn học giai đoạn này đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình: phản ánh hình ảnh con người Việt, đất nước Việt, qua đó thể hiện được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Thế kỉ X – thế kỉ XV cũng là thời đại của những chiến công. Biết bao ngọn núi, con sông trên khắp đất Việt đã ghi tên mình vào lịch sử dân tộc. Những ngọn núi, con sông ấy không chỉ là những danh lam thắng cảnh của một giang sơn cẩm tú mà còn gắn với những câu chuyện lịch sử, những chiến công hiển hách, nơi đã tạo dựng nên những hình tượng người anh hùng bất hủ, lưu danh muôn đời. Có những địa danh lịch sử như bến Chương Dương, cửa Hàm Tử, ải Chi Lăng, núi Chí Linh, sông Bạch Đằng... đã chững chạc bước vào địa hạt văn chương y như những điển cố, những biểu tượng quen thuộc. Các địa danh này được thơ, phú thế kỉ X – thế kỉ XV và các đời sau nhắc đi nhắc lại, mỗi người một vẻ, từ Trần Quang Khải, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn, các tác giả thời Hồng Đức đến Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Văn Siêu... Có thể nói, viết về non sông đất Việt trong cảm hứng lịch sử, thơ phú ở giai đoạn từ thế kỉ X – thế kỉ XV đã đạt được những thành tựu to lớn cả về số lượng và chất lượng. Nó đã góp phần quan trọng làm nên diện mạo rực rỡ của một thời kì văn học, góp phần hình thành nên hai nội dung lớn của văn học: yêu nước và nhân văn. Đây là hai nội dung xuyên suốt văn học trung đại Việt Nam, tạo nên hai truyền thống lớn của văn học dân tộc.

Trang 1

có giá trị về mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, để lại cho thế hệ saumột kho tàng kinh nghiệm nghệ thuật quý báu, tạo cơ sở nền tảng cho văn học hiệnđại Việt Nam kế thừa và phát triển.

Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X – thế kỉ XV đã ghi dấu ấn đậm néttrong tiến trình lịch sử văn học với nhiều thành tựu rực rỡ Được nảy sinh từ chínhquá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc, văn học giai đoạn này

đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình: phản ánh hình ảnh con ngườiViệt, đất nước Việt, qua đó thể hiện được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc

Thế kỉ X – thế kỉ XV cũng là thời đại của những chiến công Biết bao ngọnnúi, con sông trên khắp đất Việt đã ghi tên mình vào lịch sử dân tộc Những ngọnnúi, con sông ấy không chỉ là những danh lam thắng cảnh của một giang sơn cẩm tú

mà còn gắn với những câu chuyện lịch sử, những chiến công hiển hách, nơi đã tạodựng nên những hình tượng người anh hùng bất hủ, lưu danh muôn đời Có nhữngđịa danh lịch sử như bến Chương Dương, cửa Hàm Tử, ải Chi Lăng, núi Chí Linh,sông Bạch Đằng đã chững chạc bước vào địa hạt văn chương y như những điển

cố, những biểu tượng quen thuộc Các địa danh này được thơ, phú thế kỉ X – thế kỉ

XV và các đời sau nhắc đi nhắc lại, mỗi người một vẻ, từ Trần Quang Khải, NguyễnTrãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn, các tác giả thời Hồng Đức đến Ngô Thì Sĩ,Nguyễn Văn Siêu Có thể nói, viết về non sông đất Việt trong cảm hứng lịch sử,thơ phú ở giai đoạn từ thế kỉ X – thế kỉ XV đã đạt được những thành tựu to lớn cả

về số lượng và chất lượng Nó đã góp phần quan trọng làm nên diện mạo rực rỡ củamột thời kì văn học, góp phần hình thành nên hai nội dung lớn của văn học: yêu

Trang 2

nước và nhân văn Đây là hai nội dung xuyên suốt văn học trung đại Việt Nam, tạonên hai truyền thống lớn của văn học dân tộc

2 Về thực tiễn

Văn học trung đại chiếm một số lượng không nhỏ trong chương trình Ngữ

văn ở trường phổ thông Ở mảng thơ phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong cảm

hứng lịch sử của giai đoạn văn học từ thế kỉ X – thế kỉ XV, có hai tác phẩm được

giảng dạy đó là: “Tụng giá hoàn kinh sư” – Ngữ văn 7 và “Phú sông Bạch Đằng” –

Ngữ văn 10 Với luận văn này, người viết mong muốn đóng góp thêm những ý kiến

nhỏ giúp cho việc giảng dạy tác phẩm trong trường phổ thông trở nên toàn diện và

hệ thống hơn

Hơn nữa, trong bối cảnh vấn đề chủ quyền biển đảo đang là vấn đề nóng hổihiện nay thì việc tìm hiểu đề tài này có ý nghĩa rất thiết thực trong việc bồi dưỡnglòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần tự hào dân tộc, qua đó thức tỉnh ý thứctrách nhiệm đối với vấn đề chủ quyền dân tộc ở mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt

là đối với thế hệ trẻ

Đó là những lí do đã gợi dẫn người viết tiếp cận với đề tài: “Non”,

“Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở thơ phú thế kỉ X – XV

II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu một cách bao quát và hệ thống về

những bài thơ, bài phú viết về“Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở

giai đoạn từ thế kỉ X - XV qua các tập thơ văn tiêu biểu giai đoạn này: “Hoàng Việtthi văn tuyển”, “Thơ văn Lý - Trần”, “Nguyễn Trãi toàn tập”, “Thơ văn Lê ThánhTông”, “Phú Việt Nam cổ và kim” Qua đó, người viết muốn có cái nhìn khách

quan và khoa học về thơ phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch

sử ở giai đoạn văn học này Trên cơ sở đó, ghi nhận những thành tựu, những đónggóp của văn học thế kỉ X – thế kỉ XV trong lịch sử văn học dân tộc

Xét ở góc độ sư phạm, người viết nhận thấy việc đưa những tác phẩm viết vềnhững địa danh lịch sử vào nhà trường còn hạn chế Đó là một trong những nguyên

Trang 3

nhân dẫn đến tình trạng thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay thờ ơ với lịch sử nước nhà, amhiểu lịch sử Trung Quốc hơn lịch sử dân tộc Khám phá giá trị thơ phú viết về

“Non”, “Sông” trong cảm hứng lịch sử, người viết mong sẽ được góp thêm tiếng

nói vào việc đưa những tác phẩm viết về đề tài lịch sử nói chung và thơ, phú viết vềđịa danh lịch sử nói riêng vào việc giảng dạy trong nhà trường phổ thông

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trân trọng và kế thừa những gợi ý của người đi trước, bổ sung những tìm tòimới, đề tài tập trung nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống và chi tiết về đặcđiểm nội dung cũng như mối quan hệ giữa cảm hứng lịch sử trong văn học giai đoạnnày với các cảm hứng khác

III LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Cảm hứng lịch sử xuất hiện trong văn học từ rất sớm Nó phôi thai từ vănhọc thời Lý, có những bước phát triển lớn mạnh ở văn học thời Trần, Lê Cho đếnmãi thế kỉ XIX – XX, ta vẫn còn bắt gặp cảm hứng lịch sử trong các tác phẩm Nhưvậy, cảm hứng lịch sử là một trong những mạch cảm hứng quan trọng, xuyên suốtcác sáng tác của tiến trình văn học dân tộc Viết về cảm hứng lịch sử, các tác giảthường xoay quanh ba vấn đề lớn: cảm hứng trước các nhân vật lịch sử, cảm hứngtrước các địa danh lịch sử và cảm hứng trước các sự kiện lịch sử Tuy nhiên, trongquá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, cảm hứng trước các sự kiện lịch sử thườngđược thể hiện một cách gián tiếp thông qua các nhân vật và sự kiện lịch sử Chính vìvậy, khi tiến hành nghiên cứu, các tác giả cũng tập trung chủ yếu ở hai nội dung lớnnày

1 Những công trình, bài viết về nhân vật lịch sử ở thơ, phú thế kỉ X – XV

GS.TS Lã Nhâm Thìn trong cuốn “Thơ Nôm Đường luật” đã có những khảosát, thống kê chi tiết về những bài thơ vịnh nhân vật lịch sử trong “Hồng Đức quốc

âm thi tập” Theo đó, tác giả chỉ ra rằng: “Cảm hứng chung bao trùm đề tài, chủ đềviết về nhân vật lịch sử Việt Nam là cảm hứng yêu nước và tự hào dân tộc Vịnh cácnhân vật lịch sử Việt Nam, các tác giả có ý thức về sự gắn bó chặt chẽ giữa họ vớiđất nước, nhân dân, dân tộc” [28, 104]

Trang 4

Tác giả Bùi Duy Tân trong bài viết “Cảm hứng dân tộc, cảm hứng nhân vănqua thơ Nôm vịnh sử của Lê Thánh Tông” đăng trên Tạp chí Văn học số 8 năm

1997 đã đi sâu phân tích cảm hứng dân tộc, cảm hứng nhân văn rất độc đáo, đặc sắctrong sáng tác thơ Nôm của Lê Thánh Tông Bùi Duy Tân nhận xét: “Chỉ đến thời

Lê Thánh Tông mới xuất hiện lối thơ vịnh Nam sử và viết bằng chữ Nôm của chínhnhà vua Lê Thánh Tông là người đầu tiên dùng chữ Nôm để vịnh nhân vật lịch sử,

mở đường cho sự xuất hiện của một lối thơ rất độc đáo và phong phú về cảm hứngdân tộc, cảm hứng nhân văn trong văn học trung đại” [26, 30]

Như vậy điểm qua những bài viết về nhân vật lịch sử trong thơ, phú thế kỉ X– XV chúng tôi nhận thấy, hầu hết các bài viết đều khẳng định rằng, trong văn họctrung đại Việt Nam có một dòng thơ văn viết về các nhân vật lịch sử Đó có thể làcác nhân vật Nam sử và cũng có thể là nhân vật Bắc sử Trong đó, các nhà nghiêncứu lại đặc biệt đề cao những tác phẩm viết về nhân vật lịch sử của dân tộc Các nhànghiên cứu đều khẳng định rằng: cảm hứng về đất nước, về dân tộc là cảm hứng chủđạo tạo nên vẻ đẹp của các hình tượng nhân vật lịch sử

2 Những công trình, bài viết về địa danh lịch sử ở thơ phú thế kỉ X – XV

Trong cuốn “Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn”,tác giả Bùi Văn Nguyên đã đi sâu tìm hiểu những địa danh lịch sử gắn liền với cuộckhởi nghĩa Lam Sơn và người anh hùng Lê Lợi như: núi Lam Sơn, núi ChíLinh qua đó để làm rõ hơn mối quan hệ giữa “địa linh” và “nhân kiệt” Tác giảkhẳng định: “ đối với xã hội loài người, môi trường, hoàn cảnh không có ý nghĩaquyết định mà chính bản thân con người tự quyết định lấy vận mệnh của mình, dântộc của mình” [14, 269] Trên cơ sở đó, Bùi Văn Nguyên đã đi phân tích một số bàiphú nổi tiếng đầu thời Lê như: “Chí Linh sơn phú”, “Lam Sơn giai khí phú” củaNguyễn Mộng Tuân, “Lam Sơn Lương thủy phú” của Lê Thánh Tông để minhchứng cho quan điểm đó

Đặng Thanh Lê trong bài “Về giai đoạn khai sáng thơ Nôm Đường luật Cảmhứng lịch sử qua thơ Lê Thánh Tông” đã đánh giá cao cảm hứng về địa danh lịch sử

của vị vua này: “Lê Thánh Tông là nhà thơ đã lưu chuyển khái niệm Tổ Quốc trong

Trang 5

lĩnh vực lịch sử, địa lí, chính trị, xã hội và hình tượng giang sơn trong thơ chữ Hán

thành hình tượng non sông đất nước trên các tác phẩm viết bằng thể thơ Nôm

Đường luật” [10, 9] Đồng thời tác giả cũng khẳng định: “Lê Thánh Tông đã là một

con người không phải đi tìm hình của nước mà đi họa hình đất nước Những bức

tranh về “Nam quốc”, “Nam thiên” là những hình tượng có giá trị gây ấn tượng vềnon sông tổ quốc mà tác giả đã đem đến cho người đọc”.[11, 10]

Nếu như trong văn học thời Lý, cảm hứng lịch sử chủ yếu được khơi nguồn

từ nhân vật lịch sử thì đến thời Trần, cảm hứng lịch sử bắt nguồn từ cả hai mặt:nhân vật lịch sử và địa danh lịch sử “Giáo trình văn học trung đại Việt Nam” doGS.TS Lã Nhâm Thìn chủ biên đã khẳng định: “Nhiều địa danh lịch sử gắn vớichiến công chống giặc đã vào thơ với một cảm hứng mãnh liệt, được mô tả bằngnhững hình tượng kì vĩ, trong sáng, chứa đựng những lời phẩm bình mang tư tưởnglớn.” [31, 67]

PGS Bùi Duy Tân thì cho rằng: “trong văn học Việt Nam trung đại có một sốbài phú chữ Hán miêu tả cảnh quan thiên nhiên vốn là di tích lịch sử trong các cuộcchiến tranh vệ quốc: Bạch Đằng giang phú, Chí Linh sơn phú, Xương Giang phú đều nổi tiếng được người xưa và nay cho là hay, là đẹp Ông cha ta đã cho thêm thểphú những phẩm chất thẩm mĩ mới để đặc tả cảm hứng mới của tinh thần yêu nước

Những bài thơ phú viết về địa danh lịch sử ở giai đoạn văn học này đềukhẳng định chân lí: trong mối quan hệ giữa “địa linh” (đất thiêng) và “nhân kiệt”(người giỏi) thì “nhân kiệt” là yếu tố quyết định Ta thắng giặc không chỉ ở “đấthiểm” mà bởi dân tộc ta có “đức cao”, “đức lành” Khẳng định “địa linh” bởi “nhân

Trang 6

kiệt” đó chính là sự khẳng định vai trò quan trọng và vị trí quyết định của con ngườitrong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của các tác giả thời trung đại.

Như vậy, qua sự tìm hiểu trên chúng tôi nhận thấy: đã có những tác giả,những công trình nghiên cứu đề cập đến cảm hứng lịch sử trong thơ, phú thế kỉ X –thế kỉ XV Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở sự tìmhiểu cảm hứng lịch sử trong một số bài thơ, bài phú tiêu biểu mà chưa có công trìnhnghiên cứu nào khái quát toàn bộ cảm hứng lịch sử trong thơ, phú từ thế kỉ X – thế

kỉ XV Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, đồng thời tiếp tụcnghiên cứu, tiến hành khảo sát một cách hệ thống thơ, phú của giai đoạn văn họcnày, chúng tôi hi vọng có thể đóng góp một phần nhỏ bé trong sự nhìn nhận, đánhgiá những giá trị về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của thơ phú thế kỉ X –

XV viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử.

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

1 Phương pháp thống kê

Đây là phương pháp đầu tiên nhằm cung cấp những dữ kiện, số liệu chínhxác, tạo cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu Sử dụng phương pháp thống kê, người

viết tiến hành thống kê những bài thơ, phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong

cảm hứng lịch sử ở thế kỉ X – thế kỉ XV, từ đó tiến hành phân loại những tác phẩmtheo nhóm

2 Phương pháp phân tích, khái quát, tổng hợp

Là phương pháp cơ bản và cần thiết để làm sáng tỏ những luận điểm mà luậnvăn đề cập tới

3 Phương pháp lịch sử

Tìm hiểu sơ lược những tiền đề lịch sử - xã hội, tư tưởng, văn hóa thế kỉ X –XV; đặt văn học giai đoạn này trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dântộc, làm cơ sở chung để nghiên cứu cụ thể giá trị nội dung và hình thức nghệ thuậtcủa thơ, phú viết về non sông trong cảm hứng lịch sử ở văn học giai đoạn khởi đầucủa nền văn học trung đại

Trang 7

4 Phương pháp liên ngành

Liên ngành giữa văn học và lịch sử, văn học và văn hóa

Phối hợp các phương pháp nghiên cứu, chúng tôi muốn triển khai đề tài mộtcách cặn kẽ, khoa học theo logic chung của toàn luận văn

V DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Luận văn sẽ cung cấp những số liệu thống kê về số lượng thơ phú viết về

“Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở văn học thế kỉ X – thế kỉ XV để

phục vụ cho công tác nghiên cứu mảng văn học này

Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của thơ, phú viết về “Non”, “Sông”

đất Việt trong văn học thế kỉ X – XV

Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy tác phẩm văn

học trung đại trong nhà trường nói chung và thơ phú viết về “Non”, “Sông” đất

Việt trong cảm hứng lịch sử nói riêng trở nên toàn diện và hệ thống hơn

VI CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, nội dung luận

văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài.

Chương 2: Những nội dung cơ bản của cảm hứng lịch sử ở thơ phú viết

về “Non”, “Sông” đất Việt trong văn học thế kỉ X - thế kỉ XV.

Chương 3: Cảm hứng lịch sử ở thơ phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt của văn học thế kỉ X- thế kỉ XV trong mối quan hệ với các nguồn cảm hứng khác.

Trang 8

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 GIỚI THUYẾT MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Khái niệm cảm hứng, cảm hứng chủ đạo và cảm hứng lịch sử

Trước khi tìm hiểu về cảm hứng lịch sử, luận văn xin giới thuyết qua kháiniệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo Bởi lẽ, đây là hai khái niệm cơ sở để từ đóhiểu về cảm hứng lịch sử

- Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê: “Cảm hứng là trạng thái tâm lí

có cảm xúc và hết sức hứng thú, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạtđộng có hiệu quả” [22, 145]

- “Từ điển Hán Việt” của Đào Duy Anh viết: “Cảm hứng là cảm xúc vì tình

gì hay cảnh gì mà sinh ra hứng thú hoặc thi văn, hoặc hành động” [1, 58]

Từ hai định nghĩa về cảm hứng được trình bày trong từ điển như trên, có thểthấy, bản chất của cảm hứng là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào

đó vừa có ý nghĩa trong đời sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm Điều đó cónghĩa là, để tạo ra được cảm hứng, ngoài yếu tố nhận thức, đối tượng phải có khảnăng hấp dẫn, tạo ra những khoái cảm, hứng thú, lôi cuốn tình cảm của con người

về phía nó, tạo ra tâm lí khao khát tiếp cận và đi sâu tìm hiểu, chinh phục nó

Cảm hứng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người Trướchết, cảm hứng làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức và hoạt động trí tuệ Khi

có cảm hứng đối với một đối tượng nào đó, con người sẽ dồn sự tập trung cao độcủa nhận thức, tình cảm vào đối tượng, khiến cho quá trình này trở nên nhạy bén vàsâu sắc Cuối cùng, cảm hứng làm nảy sinh khát vọng hành động và tạo điều kiện

Trang 9

thúc đẩy con người sáng tạo Như vậy, khi có cảm hứng, con người sẽ phát huy mộtcách tối đa khả năng sáng tạo của mình.

Từ vai trò, động lực của cảm hứng đối với hoạt động sáng tạo của con người,soi vào văn học, cảm hứng là trạng thái tâm lí then chốt và bao trùm trong sáng táccủa nhà văn Cảm hứng thể hiện rõ nhất khi nhà văn bắt đầu viết nhưng cũng có thểbàng bạc xuyên suốt quá trình sáng tác Có thể khẳng định, sáng tác văn học nghệthuật không thể không có cảm hứng Khi có cảm hứng, sự căng thẳng của lí trí, sựmãnh liệt của cảm xúc kết hợp dồi dào với nhau làm cháy bùng lên ngọn lửa trong

tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ tạo ra tác phẩm Tuy nhiên, cảm hứngsáng tạo ở nhà văn không thể hiểu một cách giản đơn, thô thiển như là phút say mêbất chợt hoặc coi nó như là thần hứng trong nhà văn nảy sinh từ những cảm xúc tâmlinh kì quái Cảm hứng chỉ có thể là giây phút thăng hoa của một quá trình thainghén lâu dài, suy tư, nghiền ngẫm

1.1.1.2 Khái niệm cảm hứng chủ đạo

Ở trên, ta nói đến cảm hứng trong sáng tạo của nhà văn Nhưng bất kì mộttác phẩm văn học nào cũng cần phải thể hiện được tư tưởng của người nghệ sĩ Vậynên, cảm hứng phải gắn liền với tư tưởng Và cái cảm hứng gắn liền với tư tưởng ấyxuyên suốt một tác phẩm tạo thành cảm hứng chủ đạo

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thì: “Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tìnhcảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởngxác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những ngườitiếp nhận tác phẩm”.[5, 44]

Như vậy, cảm hứng chủ đạo gắn liền với đề tài, tư tưởng của tác phẩm Cảmhứng chủ đạo đem đến cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định,thống nhất tất cả các cấp độ, yếu tố của nội dung tác phẩm

Trang 10

của lịch sử có ảnh hưởng đến vận mệnh quốc gia, dân tộc đã tạo nên một trạng tháicảm xúc hưng phấn, thúc đẩy thi nhân phát huy trí tưởng tượng, óc sáng tạo để viếtnên những tác phẩm Cảm hứng lịch sử có thể là sự xúc động, thích thú, ám ảnh,rung động của thi nhân trước những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, địa danh lịchsử.

Trong phạm vi luận văn, người viết sẽ đi sâu phân tích cảm hứng, sự hứngthú, rung động của thi nhân trước những cảnh “Non”, “Sông” – những địa danhthiên nhiên gắn với lịch sử đấu tranh của nhân dân đất Việt

1.1.2 Khái niệm “Non”, “Sông” được sử dụng trong luận văn

Khái niệm “Non” (sơn), “Sông” (hà, giang) mà người viết sử dụng trong luậnvăn là những từ dùng để chỉ những ngọn núi, con sông của nước Việt Đó là nhữngđịa danh gắn với sự trường tồn của dân tộc qua công cuộc dựng nước và giữ nước,gắn với những nhân vật lịch sử mà tên tuổi của họ sống mãi với thời gian, trườngtồn cùng năm tháng

Các địa danh lịch sử luôn là đề tài hứng thú cho các thi nhân Các địa danh

ấy đã đi vào thơ ca của rất nhiều tác giả Trong dòng thơ, phú thế kỉ X – thế kỉ XV,các thi nhân đã tìm được nguồn cảm hứng của mình trước những ngọn núi, consông – nơi gắn liền với những câu chuyện lịch sử, những chiến công hiển hách, nơi

đã tạo dựng ra những người anh hùng bất hủ, lưu danh muôn đời Những sông BạchĐằng, cửa Hàm Tử, núi Chí Linh, dòng Xương Giang … đã chững chạc bước vàođịa hạt văn chương y như những điển cố quen thuộc Những địa danh ấy đã được thinhân nhắc đi nhắc lại, mỗi người một vẻ, mỗi tác phẩm một nét riêng

1.2 Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại thơ phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở văn học thế kỉ X – XV.

1 Linh Sơn tạp ứng Chu Văn An

2 Chi Lăng động Phạm Sư Mạnh

3 Qúa Phù Đổng độ Tạ Thiên Huân

4 Qúa Phong Khê Trần Lôi

5 Thiên Hưng trấn phú Nguyễn Bá Thông

Trang 11

Viết về

“Non”

Thơ

6 Đề Tây Đô thành Nguyễn Mộng Trang

7 Hạ qui Lam sơn I Nguyễn Trãi

8 Hạ qui Lam sơn II Nguyễn Trãi

10 Núi Thần Phù Lê Thánh Tông

Phú

1 Chí Linh sơn phú Nguyễn Trãi

3 Chí Linh phú Nguyễn Mộng Tuân

4 Chí Linh sơn phú Lí Tử Tấn

5 Chí Linh sơn phú Trình Thuấn Du

6 Lam Sơn lương thủy phú Lê Thánh Tông

Viết về

“Sông”

Thơ

1 Tụng giá hoàn kinh sư Trần Quang Khải

3 Qúa hàm Tử quan Trần Lâu

5 Đông Triều thu phiếm Trần Nguyên Đán

6 Bạch Đằng giang Nguyễn Sưởng

7 Bạch Đằng giang Trần Minh Tông

8 Giang hành thứ HồngChâu Kiểm chính vận

Nguyễn Phi Khanh

10 Lâm cảng dạ bạc Nguyễn Trãi

11 Thần Phù hải khẩu Nguyễn Trãi

12 Hải khẩu dạ bạc hữu cảm Nguyễn Trãi

13 Qúa Thần Phù hải khẩu Nguyễn Trãi

14 Bạch Đằng hải khẩu Nguyễn Trãi

15 Hàm Tử quan Nguyễn Mộng Tuân

16 Thần Phù hải môn lữ thứ Lê Thánh Tông

17 Sông Bạch Đằng Lê Thánh Tông

18 Trú Xương Giang Lê Thánh Tông

19 Song Ngư sơn Các tác giả thời Hồng Đức

20 Thần Phù sơn Các tác giả thời Hồng Đức

21 Nam Công sơn Các tác giả thời Hồng Đức

22 Chích Trợ sơn Các tác giả thời Hồng Đức

Phú 1 Bạch Đằng giang phú2 Hậu Bạch Đằng giang phú Nguyễn Mộng TuânTrương Hán Siêu

3 Xương Giang phú Lí Tử TấnNhìn vào kết quả khảo sát thống kê ta thấy:

Trang 12

Trong giai đoạn văn học từ thế kỉ X – thế kỉ XV, có một số lượng tương đốilớn những bài thơ, phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử.Trong đó có 9 bài phú chữ Hán, 27 bài thơ viết bằng chữ Hán và 6 bài thơ viết bằngchữ Nôm.

Đã có nhiều ngọn núi, con sông trên khắp đất Việt – những chứng nhân củalịch sử đã chững chạc bước vào địa hạt văn chương như: ải Chi Lăng, cửa Hàm Tử,bến Đông Triều, dòng Xương Giang, núi Thần Phù… Trong đó, có những địa danh

đã hóa thân bất tử, đã trở thành ngọn nguồn sáng tác của thi nhân nhiều thế hệ nhưsông Bạch Đằng, núi Lam Sơn, núi Chi Linh, cửa Thần Phù…

Viết về “Non”, “Sông” trong cảm hứng lịch sử ở thơ, phú thế kỉ X – thế kỉ

XV, các thi nhân chủ yếu tập trung miêu tả những núi, những sông gắn liền vớicuộc kháng chiến chống quân xâm lược của nhà Trần và nhà Lê Cùng với cácnhững chiến thắng vang dội của ta, những địa danh lịch sử cũng đã ghi danh mìnhvào những trang vàng của lịch sử dân tộc

1.3 Tiền đề lịch sử - xã hội, tư tưởng, văn hóa của thơ phú viết về “Non”,

“Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở văn học thế kỉ X – thế kỉ XV.

1.3.1 Tiền đề lịch sử - xã hội

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc.Trong suốt thời kì Bắc thuộc nhân dân ta đã bao phen lật đổ ách thống trị của phongkiến phương Bắc với các cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Bôn, MaiThúc Loan, Dương Đình Nghệ…Nhưng chỉ với chiến thắng của Ngô Quyền trênsông Bạch Đằng năm 938 thì kỉ nguyên độc lập dân tộc mới thực sự được mở ra vớinhân dân Đại Việt Từ chiến thắng có ý nghĩa lịch sử quyết định đó, nhân dân tabước vào công cuộc xây dựng một quốc gia tự chủ, vững mạnh Mở đầu cho thời kì

tự lực, tự cường của dân tộc là hai vương triều Lí - Trần, hai vương triều phục hưngcủa dân tộc

Nếu như chiến thắng của Lí Thường Kiệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệtkhiến cho nhà Tống khoảng 200 năm sau đó vì kinh hãi mà không còn ý định dòmngó nước ta thì ở đời Trần còn lưu danh ba trận đánh oanh liệt, quét sạch quân

Trang 13

Nguyên Mông hung hãn Chiến công năm Nguyên Khang thứ 7 (1258) mãi mãi làniềm tự hào, là sức mạnh cổ vũ cả dân tộc trong những cuộc chiến đấu mới Sauhơn 20 năm tạm hòa hoãn, đấu tranh ngoại giao khó khăn, phức tạp, từ 1282 cảnước đã thống nhất một ý chí quyết tâm đánh giặc cứu nước Đội quân vệ quốc nhàTrần đã liên tiếp giành thắng lợi trước hai cuộc tấn công của nhà Nguyên năm 1285

và 1287 – 1288 Như vậy, trong vòng chưa đầy 30 năm, dân tộc ta đã ba lần đánhtan quân xâm lược Khí thế hào hùng của thời đại đánh thắng giặc được mệnh danh

là “Hào khí Đông A”, đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm và tâm lí của con ngườithời đại

Đến cuối thế kỉ XIV, nhà nước phong kiến trải qua một cuộc khủng hoảnglớn Hồ Qúi Li thay ngôi nhà Trần và đã cho tiến hành một cuộc cải cách có tínhchất định hướng cho tương lai Nhưng cuộc cải cách ấy lại không cải thiện đượctình hình xã hội Mặt khác, chính sách của Hồ Qúi Li đã đụng chạm đến quyền lợicủa tầng lớp quí tộc nhà Trần nên không những không được ủng hộ mà còn vấpphải sự chống cự của nhiều tầng lớp dân chúng Lợi dụng tình thế đó, nhà Minh đưachiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, đem quân sang xâm lược nước ta Triều Hồ rồi triềuHậu Trần đã rất tích cực, quyết tâm, anh dũng chống xâm lược Nhưng tất cả đềuthất bại Như vậy, sau gần 5 thế kỉ giành và giữ gìn độc lập, đến đây, đất nước ta lại

bị phong kiến nước ngoài đô hộ và phải chờ đến chiến thắng của nghĩa quân LamSơn năm 1427, độc lập dân tộc mới được vãn hồi Có thể nói, cuộc kháng chiếnmười năm của người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn là một trong nhữngcuộc kháng chiến gian khổ vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc Lê Lợi phải vừa đánhgiặc, vừa xây dựng quân đội, vừa xây dựng chính quyền Tuy gian khổ, khó khăn làvậy nhưng cuối cùng kháng chiến vẫn giành được thắng lợi Ta thắng giặc, ấy là bởi

ta có được sức mạnh của toàn thể dân tộc

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào

Cuộc kháng chiến do Lê Lợi lãnh đạo đã giải phóng đất nước khỏi ách thốngtrị bạo tàn của giặc Minh, mở đường tiến lên cho lịch sử dân tộc

Trang 14

Như vậy, qua lịch sử đấu tranh của dân tộc, ta có thể nhận thấy: trong cáccuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cho dù có phải trải qua vô vàn những khókhăn, thử thách, phải “nếm mật nằm gai” nhưng cuối cùng, chiến thắng vẫn nằmtrong tay nhân dân Đại Việt Ta thắng bởi ta có nhiều “nhân kiệt”, có những vịtướng tài như: Lí Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi… Ta thắngbởi ta huy động được sức mạnh lớn lao của toàn thể dân tộc Ta thắng còn bởi ta có

“địa linh”, có những núi, những sông hiểm trở Tất cả những nhân tố đó đã hòa hợp

để tạo nên nguồn sức mạnh to lớn, quét sạch lũ cướp nước và lũ bán nước Nhữngcon người ấy, những địa danh lịch sử ấy đã hóa thân bất tử để rồi sau đó nhữngngười, những núi, những sông đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca.Những sông Bạch Đằng, núi Chí Linh, núi Lam Sơn, dòng Xương Giang, cửa HàmTử…đã trở thành chứng nhân cho những chiến thắng vang dội của ta: chiến thắngcủa Ngô Quyền, của Trần Hưng Đạo trên dòng Bạch Đằng giang; hay núi Lam Sơn– nơi đã chở che cho cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi ngay từ nhữngbuổi đầu khởi nghĩa… Những núi, những sông ấy còn chứng kiến những thất bạithảm hại của quân thù: cửa Hàm Tử - nơi nguyên soái của giặc là Toa Đô bị chémđầu; bến Chương Dương – nơi tổng chỉ huy của giặc là Thoát Hoan phải mang tànquân tháo chạy…Chiến thắng vinh quang đã làm cho nhiều tên núi, tên sông bìnhthường của đất nước trở thành bất tử Đó cũng là lí do tại sao, trong văn học ViệtNam thế kỉ X – thế kỉ XV lại xuất hiện nhiều những bài thơ, bài phú viết về “Non”,

“Sông” trong cảm hứng lịch sử đến vậy

1.3.2 Tiền đề tư tưởng, văn hóa

Nhà nước phong kiến Việt Nam thời đại Lí – Trần sử dụng Nho – Phật – Đạo

để xây dựng thành hệ tư tưởng của thời đại “đa tôn giáo hòa đồng”, tạo nên nềntảng tinh thần của xã hội, tạo nên sức mạnh tư tưởng – tâm lí của con người thờiđại

* Phật giáo

Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (vào khoảng cuối thế kỉ thứ I, đầu thế kỉthứ II), Phật giáo đã sớm ăn sâu vào mọi ngõ ngách trong đời sống của con người

Trang 15

Đến thời đại nhà Lí, Phật giáo trở thành quốc giáo, trở thành hệ tư tưởng chính, chiphối mọi mặt của đời sống xã hội Văn học giai đoạn này nói chung, thơ phú viết vềcảm hứng lịch sử nói riêng cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó.

Với cái nhìn phóng khoáng, viên dung, đạo Phật đã san bằng mọi bức tườngngăn cách giữa con người và con người, giữa con người với thế giới ngoại tại ĐạoPhật lúc nào cũng bao dung, thông cảm, luôn chủ trương chung sống hòa bình,không đối kháng, nhờ vậy đã tập hợp được một lực lượng tinh thần to lớn, góp phầnvào những thắng lợi vẻ vang của dân tộc Giáo lí này của đạo Phật đã ảnh hưởng rấtlớn đến suy nghĩ và hành động của con người thời Lí - Trần đồng thời cũng gópphần quan trọng tạo nên chất nhân văn sâu sắc trong những sáng tác văn chương

Đạo Phật cũng xóa nhòa ranh giới giữa con người với thiên nhiên Triết líPhật giáo cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều chung một bản thể Với quan niệm ấy,văn học thời kì này dễ dàng đem nhập con người làm một với thiên nhiên Các tácgiả thời kì này tìm đến thiên nhiên để tâm hồn được thư thái, yên tĩnh Tâm hồn cóthư thái, yên vui thì các thi nhân mới sáng tạo được những áng thơ văn ca ngợivương triều, ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên mĩ lệ, gửi gắm được niềm tự hào về giangsơn, đất nước

* Nho giáo

Sau khoảng 2 thế kỉ (từ thế kỉ X – thế kỉ XII) Phật giáo là hệ tư tưởng chínhthống của thời đại đã dần dần nhường bước cho Nho giáo Đến đầu thế kỉ XV, tưtưởng chính thống là Nho giáo và thế giới quan Nho giáo cũng được các thi nhânphản ánh trong các sáng tác văn chương Cảm hứng lịch sử trong giai đoạn văn họcnày là nơi tập trung sự ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, ảnh hưởng từ sự lựa chọn đốitượng lịch sử đến sự vận dụng các quan niệm Nho giáo để bình luận lịch sử

1.4 Một số đặc điểm của cảm hứng lịch sử trong văn học trung đại Việt Nam

Cảm hứng lịch sử là một trong những mạch cảm hứng quan trọng và xuyênsuốt các sáng tác trong tiến trình văn học dân tộc Tuy nhiên, cảm hứng lịch sửkhông giống nhau ở sáng tác của mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm và mỗi thời kì văn học

Trang 16

Vậy nên, để khái quát được đặc điểm của cảm hứng lịch sử trong nền văn học trungđại là một việc làm tương đối khó khăn Trong phạm vi luận văn, người viết mạnhdạn trình bày một vài đặc điểm cơ bản của cảm hứng lịch sử trong nền văn họctrung đại trên cơ sở đã đọc và tham khảo một số tài liệu liên quan.

1 Cảm hứng lịch sử xuất hiện sớm và là mạch nguồn xuyên suốt nền văn họctrung đại Việt Nam

Cảm hứng lịch sử xuất hiện khá sớm trong nền văn học trung đại Nó bắt đầuđược phôi thai từ văn học thời Lí, phát triển mạnh mẽ ở thời đại nhà Trần – Lê;trong suốt những thế kỉ XV – XVIII, cảm hứng lịch sử vẫn còn tiếp tục được pháttriển Đến cuối thế kỉ XIX, ta vẫn còn nhận thấy dấu vết của cảm hứng lịch sử trongmột số sáng tác

2 Viết về cảm hứng lịch sử, các tác giả thời trung đại thường thể hiện niềmhứng thú, say mê của mình trước các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, địa danh lịch

sử Tuy nhiên, ở mỗi thời kì khác nhau, ngòi bút của thi nhân có thể nghiêng vềnhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử hay địa danh lịch sử

Ví như trong văn học thời Lí, cảm hứng lịch sử không bắt nguồn từ nhữngđịa danh lịch sử mà bắt nguồn từ nhân vật lịch sử Và hầu hết những nhân vật lịch

sử thời kì này đều là những nhà sư Sở dĩ như vậy là do, dưới thời Lí, Phật giáo làquốc giáo, những môn đồ của Phật Thích Ca Mâu Ni là những người có công lao tolớn trong việc xây dựng nhà nước độc lập buổi đầu Họ trở thành những thần tượngđược cả xã hội ca tụng

Sang đến thời Trần – Hồ, cảm hứng lịch sử được khơi nguồn từ cả hai mặt:nhân vật lịch sử và địa danh lịch sử Chính những chiến công vang dội của quân dânnhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông đã mang đến nguồncảm hứng bất tận cho các thi nhân Ta thấy trong văn học dáng dấp của rất nhiềunhân vật lịch sử - những người anh hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc nhưTrần Hưng Đạo, Trần Nguyên Đán… Ta còn thấy trong văn chương, hình ảnh củanhiều ngọn núi, con sông – những chứng nhân của lịch sử như: cửa Hàm Tử, ải ChiLăng, sông Bạch Đằng…

Trang 17

Đến thế kỉ XV, cảm hứng lịch sử trong văn học phát triển mạnh mẽ Cảmhứng ấy xuất hiện trong sáng tác của nhiều thi nhân và xuất hiện ở nhiều thể loạivăn học Bên cạnh thơ chữ Hán, ở thể loại phú cảm hứng lịch sử cũng xuất hiệnđậm nét trong sáng tác của Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn… Viết về cảm hứng lịch

sử ở giai đoạn này, các tác giả chủ yếu hướng ngòi bút của mình vào nhân vật lịch

sử và địa danh lịch sử Những địa danh gắn liền với cuộc kháng chiến chống quânMinh xâm lược của Lê Lợi như: núi Lam Sơn, dòng Xương Giang…trở đi trở lạitrong sáng tác của nhiều thi nhân Còn khi viết về nhân vật lịch sử, ta thấy trongsáng tác thời kì này bên cạnh những bài thơ vịnh nhân vật Bắc sử còn xuất hiệnnhững bài thơ vịnh nhân vật lịch sử Việt Nam Đó có thể là: “…những tấm gươngcứu nước thời Hùng Vương như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử; thời nghìnnăm đấu tranh giành quyền tự chủ như: Lí Ông Trọng, Trưng Vương, Triệu TrinhNương Đặc biệt là một số nhân vật đương thời như: Lê Khôi, Lương Thế Vinh,Nguyễn Trực cũng được các tác giả ngợi ca và bày tỏ lòng tiếc thương khi họ thànhngười thiên cổ Cảm hứng chung, bao trùm đề tài, chủ đề viết về nhân vật lịch ửViệt Nam là cảm hứng yêu nước và tự hào dân tộc” [31, 162] Tiêu biểu cho mảng

đề tài này là Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức

Từ thế kỉ XVI trở đi, thơ viết về cảm hứng lịch sử tiếp tục phát triển cả về sốlượng và chất lượng Các tác giả Hà Nhậm Đại, Lê Quang Bí, Phùng Khắc Hoan,Giáp Hải… đến Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Nguyễn Du…đều có thơ viết

về cảm hứng lịch sử để lại Trong thơ chữ Hán viết về cảm hứng lịch sử thì thơ viết

về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử chiếm vị trí chủ yếu Ví như trong “Khiếuvịnh thi tập” của Hà Nhậm Đại, cảm hứng lịch sử bắt nguồn từ những chiến cônglẫy lừng của các nhân vật lịch sử như: Ngô Quyền, Lí Thường Kiệt, Trần HưngĐạo, Lê Lợi… Ở giai đoạn sau đó, cảm hứng lịch sử ít hướng về những chiến công

mà ở đó đau đáu một nỗi buồn nhân thế, u hoài, nuối tiếc thời đại đã qua

Như vậy về đối tượng lịch sử, thơ văn viết về cảm hứng lịch sử thường đượcbắt nguồn từ sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử hay địa danh lịch sử Tuy nhiên, ở mỗi

Trang 18

giai đoạn khác nhau, sự quan tâm của các thi nhân lại hướng về những đối tượngkhác nhau.

3 Cảm hứng lịch sử gắn liền với cảm hứng yêu nước và chất chứa chất nhânvăn

Cảm hứng yêu nước là một trong những truyền thống lớn của nền văn họcdân tộc Viết về cảm hứng lịch sử, các thi nhân đều xuất phát từ tấm lòng yêu nướcthiết tha và lòng tự hào, tự tôn dân tộc Đó là lòng tự hào trước những chiến côngvang dội của quân dân Đại Việt trước những thế lực xâm lược hung hăng, tàn bạo

Đó là giọng điệu hào sảng của thi nhân khi viết về những truyền thống tốt đẹp củadân tộc Là giọng điệu ngợi ca đầy kiêu hãnh khi viết về những người, những núi,những sông – những con người, những địa danh đã viết nên lịch sử của dân tộc.Chính tấm lòng yêu nước thiết tha đã chắp cánh cho thi hứng của thi nhân bay bổng,

để rồi từ đó cho ra đời những áng văn chương

Bên cạnh đó, cảm hứng lịch sử trong văn học trung đại còn thấm đượm chấtnhân văn Ngay từ những sáng tác viết về cảm hứng lịch sử đầu tiên, tư tưởng nhânvăn đã xuất hiện và càng về sau, tư tưởng nhân văn càng được thể hiện một cáchđậm nét Chất nhân văn được thể hiện trước hết ở sự khẳng định và đề cao giá trịcủa con người trong lịch sử Cả Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lí Tử Tấn, NguyễnMộng Tuân… đều khẳng định rằng: trong mối quan hệ giữa “địa linh” và “nhânkiệt”, thì “nhân kiệt” mới là yếu tố quyết định sự thắng lợi: “Giặc tan muôn thủathăng bình/ Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao” Tư tưởng nhân văn còn được thểhiện ở ước muốn về một cuộc sống hòa bình của dân tộc Và tư tưởng ấy còn cóngay cả trong nỗi niềm hoài cổ của thi nhân

Trên đây, người viết đã khái quát một vài đặc điểm cơ bản của cảm hứng lịch

sử trong nền văn học trung đại Việt Nam Trong phạm vi luận văn, người viết sẽ đisâu tìm hiểu về cảm hứng lịch sử khi viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong thơ, phúthế kỉ X – thế kỉ XV, để từ đó thấy rõ hơn đặc điểm chung của cảm hứng lịch sửtrong văn học trung đại đồng thời chỉ ra được những nét riêng, độc đáo của cảmhứng lịch sử trong giai đoạn văn học này so với các giai đoạn văn học khác

Trang 19

* Tiểu kết

Như vậy, trong chương một người viết đã đi giới thuyết một cách khái quátnhất về một số vấn đề chung liên quan đến đề tài Đó là một số khái niệm cơ bảnnhư: khái niệm cảm hứng, khái niệm cảm hứng chủ đạo để trên cơ sở đó hiểu mộtcách đúng đắn về cảm hứng lịch sử của thơ phú thế kỉ X – thế kỉ XV khi viết về

“Non”, “Sông” đất Việt Tuy nhiên, cảm hứng lịch sử trong văn học không tự nhiên

mà có Nó được hình thành dựa trên những tiền đề lịch sử, văn hóa, tư tưởng nhấtđịnh và thế kỉ X – thế kỉ XV hội tụ đầy đủ những điều kiện để cảm hứng lịch sử nảy

nở và sinh sôi

Trong chương một, người viết cũng đưa ra kết quả khảo sát, thống kê nhữngtác phẩm thơ phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở văn họcthế kỉ X – thế kỉ XV Đây chính là cơ sở để qua đó, người viết sẽ tiến hành phântích, đánh giá những giá trị nội dung, tư tưởng của mảng văn học đặc sắc này

Ngoài ra, với chương mở đầu, người viết cũng mạnh dạn khái quát một vàiđặc điểm của cảm hứng lịch sử trong văn học trung đại Việt Nam để từ đó thấyđược những điểm chung và những điểm riêng độc đáo của cảm hứng lịch sử trongthơ phú viết về “Non”, “Sông” đất Việt ở văn học thế kỉ X – thế kỉ XV

Trang 20

CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CẢM HỨNG LỊCH

SỬ Ở THƠ PHÚ VIẾT VỀ “NON”, “SÔNG” ĐẤT VIỆT TRONG VĂN HỌC

THẾ KỈ X – THẾ KỈ XV 2.1 Tái hiện những chiến thắng của ta.

Có thể nói, lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranhdựng nước và giữ nước Ngay từ buổi đầu sơ khai, nhân dân ta đã phải trải qua biếtbao những trận chiến để chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc Đến thời

kì phong kiến tự chủ, nhân dân Đại Việt lại biết bao lần phải cầm giáo, cầm gươm

để đấu tranh lại với những kẻ thù hung hăng, tàn bạo Nhưng vượt lên tất cả, bằngtấm lòng yêu nước nồng nàn, bằng ý chí quyết tâm đánh giặc để bảo vệ hòa bìnhcho non sông, nhân dân ta đã lần lượt đánh bại các thế lực thù địch Thế kỉ X – thế

kỉ XV cũng là một thời kì như vậy Vượt lên trên mọi thử thách, gian lao những vịanh hùng dân tộc như: Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi…đã đưanhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Và sống trong không khí hàohùng của thời đại chiến thắng giặc đó, các thi nhân trong sáng tác của mình khônggiấu khỏi niềm tự hào trước những chiến công, trước những kì tích của nhân dânĐại Việt Viết về “Non”, “Sông” trong cảm hứng lịch sử, các tác giả không thể bỏqua nội dung đặc sắc này Những sông Bạch Đằng, những núi Chí Linh, núi LamSơn, ải Chi Lăng, dòng Xương Giang, cửa Hàm Tử…được nhắc đến trong thơ phúthế kỉ này trước hết là bởi nơi đây đã chứng kiến biết bao chiến thắng oanh liệt củaquân dân Đại Việt

2.1.1 Chiến địa Bạch Đằng, Chương Dương – Hàm Tử

Trước hết, hãy ngược dòng thời gian trở về quá khứ để chứng kiến nhữngtrận chiến oai hùng trên chiến địa Bạch Đằng

Nhà thơ Hoàng Trung Thông trong bài thơ “Mưa trên sông Bạch Đằng” đãtừng viết:

Bạch Đằng ơi! Tôi rửa mặt dòng sông Nghe sôi máu anh hùng trong huyết quản.

Trang 21

Thật vậy, Bạch Đằng giang – dòng sông của lịch sử, dòng sông của thi canghệ thuật đã khắc ghi tên mình vào triệu triệu trái tim của người dân đất Việt.Nhắc nhớ đến Bạch Đằng giang, người ta nghĩ ngay tới hình ảnh của một dòng sôngvới quang cảnh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình nhưng cũng vô cùng hùng vĩ, hiểmyếu Nhắc nhớ đến Bạch Đằng giang, người ta còn nghĩ ngay đến một địa danh lịch

sử nổi tiếng – nơi đã bao lần ghi lại dấu tích của những trận đánh lớn trong các cuộckháng chiến chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Lật giở những trang vàng củalịch sử dân tộc, ta thấy hình ảnh sừng sững của một dòng sông Bạch Đằng đầy kiêuhãnh mà trước hết đó là hình ảnh của dòng sông Bạch Đằng gắn liền với người anhhùng Ngô Quyền trong cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán vào năm 938

Có thể nói, một ngàn năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, tinhthần yêu nước của nhân dân ta như một ngọn lửa được ủ dưới tro than, lúc âm ỉ, lúclại bùng lên thành những cuộc khởi nghĩa tràn đầy khí thế đuổi giặc để dành lại độclập, tự do cho dân tộc Tuy nhiên, phải đến chiến thắng của Ngô Quyền trên dòngBạch Đằng giang thì khát vọng đó mới được thực hiện Và trong trận đánh ấy, dòngBạch Đằng đã ghi tên mình vào lịch sử đất nước với tư cách là yếu tố quan trọnglàm nên bước ngoặt cho nền độc lập của dân tộc

Trận đánh thứ hai diễn ra trên sông Bạch Đằng là trận đánh của Lê Hoànchống Tống vào năm 981 Và tại chính dòng Bạch Đằng lịch sử này, cùng với tàichỉ huy của Lê Hoàn, địa thế nơi đây đã một lần nữa phá tan đạo quân nhà Tống doLưu Từng, Giả Thực cầm đầu Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã giáng một đònnặng nề vào tư tưởng bành trướng của vua tôi nhà Tống Tên tuổi của Lê Hoàn vàquân tướng nhà tiền Lê mãi mãi khắc sâu vào lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm,bảo vệ tổ quốc của dân tộc ta Âm vang của dòng sông Bạch Đằng cũng ngân vangtheo dòng lịch sử hào hùng của đất Việt

Cho đến năm 1288, lại thêm một lần nữa Bạch Đằng giang ghi tên mình vàolịch sử Cùng với Trần Hưng Đạo, với quân dân nhà Trần, dòng Bạch Đằng lại trởthành nơi diễn ra trận đánh hào hùng vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc, đánh tanquân xâm lược Nguyên Mông bạo tàn, mở ra một kỉ nguyên mới cho nước nhà

Trang 22

Ba trận đánh diễn ra trên sông Bạch Đằng như ba mốc son chói lọi, ngờisáng tinh thần yêu nước của dân tộc Bạch Đằng giang – nhân chứng cho nhữngchiến công hào hùng đã đi vào lịch sử, đánh dấu một vị trí quan trọng trong côngcuộc đánh giặc giữ nước, bảo vệ hòa bình cho non sông Và cũng từ đây, bên cạnhmột dòng Bạch Đằng lịch sử, ta còn thấy sự xuất hiện của sông Bạch Đằng – mộtdòng sông của văn học Dòng sông ấy đã gợi tứ, gợi hứng cho thi nhân của biết baothời đại, để rồi từ đó, những tác phẩm văn chương hay nhất về Bạch Đằng giang lầnlượt ra đời Đó là Trần Minh Tông với “Bạch Đằng giang”, Trương Hán Siêu với

“Bạch Đằng giang phú”, Nguyễn Trãi với “Bạch Đằng hải khẩu”, Nguyễn MộngTuân với “Hậu Bạch Đằng giang phú” … Đắm mình trong dòng thơ văn về BạchĐằng, ta như được sống lại một thời kì vàng son của dân tộc Những năm tháng củathời oanh liệt cứ thế theo con sóng Bạch Đằng lớp sau xô lớp trước mà trở về

Và nhắc nhớ đến chiến tích thơ văn trên dòng thơ văn Bạch Đằng, ta khôngthể không nhắc đến “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu Bằng lối kết cấuđối đáp giữa khách và các bô lão, tác giả đã tái hiện chiến tích trên sông Bạch Đằngđầy sinh động nhưng cũng hết sức khách quan:

Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã Cũng là bãi đất xưa, Ngô chúa phá Hoằng Thao

Chỉ bằng hai câu văn ngắn gọn, súc tích và có chọn lọc, các bô lão đã kể lạitoàn bộ quá trình lịch sử tại chiến địa Bạch Đằng Cách kể này giúp tác giả tái hiệnlại toàn bộ tiến trình lịch sử, toàn bộ những sự kiện diễn ra trên chiến địa BạchĐằng theo chiến tích và theo trục trôi chảy của thời gian ngược về quá khứ: năm

1288, vua tôi nhà Trần đánh tan quân Nguyên Mông, cách đó ba thế kỉ, vào năm

938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán cũng tại chiến địa Bạch Đằng Có thể nói,chỉ với hai câu văn, tác giả đã tái hiện toàn bộ lịch sử với những sự kiện lịch sử thật

rõ ràng, thật khúc chiết Và không chỉ tái hiện lịch sử, để có thể hiểu rõ hơn vềnhững trận chiến xảy ra trên chiến địa Bạch Đằng, tác giả còn tái hiện lại nhữngchiến tích ấy:

Đương khi ấy:

Trang 23

Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói Trận đánh được thua chửa phân

Chiến lũy bắc nam chống đối

Có thể thấy, với cuộc chiến Bạch Đằng, quân dân nhà Trần đã tiến quân vớikhí thế vô cùng hào hùng và bối cảnh chiến trường hiện lên thật hoành tráng: đó làcảnh thuyền bè san sát nối đuôi nhau kéo dài hàng nghìn dặm, là cờ quạt phấp phớibay theo chiều gió Và trong khung cảnh chiến trường đó là sự xuất hiện đầy dũngmãnh của quân đội nhà Trần, người người, lớp lớp với giáo gươm tua tủa Vậy nên,trận đánh giữa vua tôi nhà Trần với giặc Nguyên Mông xâm lược trở nên vô cùngcăng thẳng, quyết liệt:

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ Bầu trời đất, chừ sắp đổ

Ta thấy trong trận đánh ấy, sự đối đầu giữa ta và địch không chỉ là sự đối đầu

về lực lượng mà còn là sự đối đầu về ý chí: ta với lòng yêu nước, với sức mạnhchính nghĩa, địch “thế cường” với bao mưu mô, chước quỷ Chính vì vậy, trận đánhdiễn ra vô cùng ác liệt Những hình tượng thơ kì vĩ, mang tầm vóc của đất trời,

những hình tượng đặt trong thế đối lập: “nhật nguyệt/mờ”, “trời đất/đổi”, báo hiệu

một cuộc thủy chiến kinh thiên động địa

Như vậy, bằng một loạt những hình ảnh kì vĩ, bằng lời văn ngắn, nhịp vănmạnh phù hợp với diễn biến trận đánh, tác giả Trương Hán Siêu đã tái hiện trướcmắt ta một cuộc thủy chiến vô cùng ác liệt đồng thời giúp ta cảm nhận thật rõ khíthế hào hùng của vua tôi nhà Trần năm ấy Đó là khí thế của hổ báo, có thể lấn át cảsao Ngưu trên bầu trời Khí thế ấy thật là hùng mạnh, thật là đẹp đẽ biết bao

Trong chặng đường lịch sử oai hùng của dân tộc, nhà Trần đã cắm nhữngmốc son chói lọi với ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông, tạo nên mộtthời đại oanh liệt với hào khí Đông A bất tử Hào khí ấy bao trùm cả núi sông và indấu đậm nét trong các sáng tác văn chương, để rồi non nửa thế kỉ sau trận BạchĐằng, Trần Minh Tông vẫn còn như thấy sát khí của trận huyết chiến ác liệt ấy:

Trang 24

Sơn hà kim cổ song khai nhãn

Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan Giang thủy đinh hàm tà nhật ảnh Thác ghi chiến huyết vị tằng can

Dịch nghĩa:

Non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoảng qua như một lúc dựa vào lan can

Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối Còn ngỡ là máu chiến trường thủa trước chưa từng khô

Phạm Sư Mạnh trong bài thơ “Đề Thạch môn sơn” cũng khắc họa rõ nétcảnh ra quân của quân dân nhà Trần với một hào khí Đông A lừng lẫy núi sông:

Hải phố thiên mông đồng Hiệp môn vạn tinh chiên Phản trưởng điện ngao cực Vãn hà tẩy binh chiên Chí kim tứ hải dân Trường thuyết cầm Hồ niên

Dịch nghĩa:

Bãi biển có hàng nghìn chiếc thuyền Cửa Hiệp môn có hàng vạn cờ xí Lấy chân ngao dựng cực dễ như trở bàn tay Kéo sông ngân hà rửa sạch mọi tanh hôi Đến nay khắp nhân dân bốn biển

Đều nhắc mãi năm xưa bắt giặc Hồ

Nếu Phạm Sư Mạnh tái hiện cảnh chiến trận thông qua âm thanh của tiếngchiêng, tiếng trống; bằng hình ảnh của nghìn chiếc thuyền ở cửa biển, hình ảnh của

lá cờ lệnh tung bay thì Nguyễn Trãi trong “Bạch Đằng hải khẩu” lại tái hiện cảnh

Trang 25

chiến trận qua kết quả cụ thể của một trận đánh Thi sĩ như được sống lại một thời

đã qua, một thời lẫy lừng, oanh liệt của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo:

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc Qua trầm kích chiết ngạn tầng tầng

Dịch nghĩa:

Núi nổi lên từng khúc như cá kình bị chặt

Bờ lượn quanh từng đợt, nơi đây giáo gãy, đòng bị chìm kể biết là bao

Như vậy, có thể thấy, chiến công oanh liệt của quân dân ta chống quânNguyên Mông trên sông Bạch Đằng đã làm cho nhiều nhân sĩ thời khởi nghĩa LamSơn cảm kích Không chỉ Nguyễn Trãi mà Nguyễn Mộng Tuân cũng say sưa thánphục, rồi nhân cái đà làm văn ca ngợi truyền thống đất nước, ông đã sáng tác bàiphú thứ hai gọi là “Hậu Bạch Đằng giang phú” với ý nghĩa truy tụng chiến công nhàTrần Qua ngòi bút miêu tả của thi nhân, người đọc thấy hiện lên sự đối lập giữa ta

và địch Đó là sự đối lập giữa cái thế hung hăng của giặc với cái thế bình tĩnh vàvững chắc của ta:

Hung hăng dùng thế chẻ tre, tấp tểnh lệnh quân truyền rộng Toa Đô tiến ra bể, Hoan, Aí xôn xao; Ô Mã vượt biên thùy, Lạng Sơn náo động.

Hai vua Trần bí mật ra khơi, vào phía trong động cao lánh bóng Thế nước: tựa băng rữa tàn xuân; lòng người: vẫn thành đồng vững đóng.

Quanh hoàng tộc: bao bậc anh tài, cạnh thánh triều: bao người trung dũng.

Dân chúng đều hăng: hiền tài được trọng.

Hiến, Nghiễn, Khánh Dư gắng chí vuốt nanh Thượng tướng, quốc công dốc lòng lương đống.

Và nhờ có sự đoàn kết một lòng giữa quân và dân nên vua tôi nhà Trần đãtạo ra được một sức mạnh tổng hợp vô địch, dẫn đến những chiến thắng huy hoàng:

Trang 26

Mũ sắt giáp công, thanh danh rền vang sấm động;

Cung giương diệt thù, nghĩa khí tuôn dậy gió tràn.

Nghe hơi quân ta mà Thoát Hoan bỏ chạy Mũi tên chẳng mất mà Lệ Cơ đầu hàng.

…Bọn Ô Mã cùng đường tận số; lũ kình nghê vướng lưới tiêu tan

Tiếng thét vang trời, núi non tưởng chừng sạt đỉnh; thây trôi đầy biển, tôm cá được dịp đầy nang.

Bạch Đằng giang – chứng nhân lịch sử, nơi đã bao lần ghi dấu những chiếnthắng vang dội của quân dân Đại Việt trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm

đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thi nhân Và khi đến với dòng thơ văn viết

về chiến địa này, người đọc như được trở về với quá khứ lịch sử, trở về với nhữngtrang sử hào hùng của dân tộc để chứng kiến những trận đánh “kinh thiên động địa”khiến cho “Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ/ Bầu trời đất chừ sắp đổ”, và để rồi nhưđược vỡ òa trong niềm vui chiến thắng của quân dân ta

Không chỉ có Bạch Đằng mới là nơi diễn ra những trận chiến ác liệt, nhữngHàm Tử, Chương Dương cũng chững chạc bước vào lịch sử dân tộc, chững chạcbước vào địa hạt văn chương với tư cách là những địa danh lịch sử - những nơi đãchứng kiến chiến thắng vang dội của ta Và mở đầu cho dòng thơ văn viết về Hàm

Tử, Chương Dương là “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải Mở đầu bài thơ, tácgiả đã tạo dựng tư thế chiến đấu hết sức bất khuất của quân dân đời Trần và bứctranh toàn cảnh của cuộc chiến đấu chống quân Nguyên Mông:

Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan

Trang 27

ngạn sông Hồng, nơi diễn ra trận quyết chiến, mở màn cho cuộc phản công củaquân dân nhà Trần tháng 4 năm 1285 Chương Dương, Hàm Tử là hai cái tên tượngtrưng cho cả một chiến dịch lớn, một chiến dịch có ý nghĩa quyết định với chiếnthắng mà trong đó, các yếu tố đều chuyển hóa hết sức mau lẹ và bất ngờ: từ nhỏ yếuchuyển thành sức mạnh vũ bão; từ ngăn chống và lùi bước chuyển sang đuổi đánh,

từ trường kì kháng chiến chuyển sang chớp nhoáng tiêu diệt kẻ thù Bấy giờ, saunhiều tháng liên tiếp đuổi theo hai vua Trần không có kết quả, bọn giặc NguyênMông chỉ biết ỷ vào sức mạnh đã dần lâm vào thế bị động Bị rơi đúng vào giữa cáichiến lược rút lui hết sức thần kì của Trần Hưng Đạo, bọn chúng trở thành lúngtúng, mất phương hướng, chán nản, mệt mỏi vô cùng Nhiều đạo quân của nhà Trần

kế tiếp đánh thốc vào các cứ điểm của phòng tuyến địch trên sông Hồng, làm chochúng tan vỡ, kéo nhau tháo chạy Đón đúng thời cơ, vào tháng 5 năm 1285, TrầnNhật Duật cùng một số tướng lĩnh được lệnh đem quân đến đón giặc ở cửa Hàm Tử

Và trận Hàm Tử đã nổ ra đúng như dự kiến của quân đội nhà Trần Giặc NguyênMông đại bại Thừa thắng, Trần Quang Khải cùng một số tướng lĩnh khác lại đượclệnh đem quân đánh úp Chương Dương Thoát Hoan bị rơi vào một thế trận áp đảo

cả mặt bộ lẫn mặt thủy, cố liều chết mà đánh cũng không sao cầm cự nổi Với “Phògiá về kinh”, chỉ bằng hai câu thơ mười tiếng ngắn gọn, Trần Quang Khải đã khắchọa tư thế của dân tộc vào hình thế núi sông anh linh muôn thủa, với bản lĩnh quảcảm vô song, với phong thái ung dung, đường hoàng, làm chủ tình thế Ta hãy đọclại hai câu thơ:

Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan

Bình dị thế thôi mà nghe âm vang cả tiếng trống trận thúc liên hồi, tiếnggươm khua, tiếng giáo dập, tiếng hò reo dậy đất Từ hai câu thơ cô đọng, hàm súc,người đọc cảm nhận được không khí chiến tranh, cảm nhận được “hào khí ĐôngA”, “Ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu” và cảm nhận được cả hình ảnh oai phong lẫmliệt của tướng sĩ nhà Trần Một cảm xúc hân hoan tràn ngập trong tâm hồn vị chiếntướng thắng trận đang kiêu hãnh trở về kinh đô trong sự chào đón nồng nhiệt của

Trang 28

nhân dân Và kể từ sau Trần Quang Khải thì Hàm Tử, Chương Dương đã nghiễmnhiên trở thành những điển cố văn học nổi tiếng, được thơ văn yêu nước nhiều đờicủa ta nhắc đi nhắc lại: Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Ngô Thì Sĩ, Phạm QúyThích, Nguyễn Văn Siêu…mỗi người một vẻ đều nhắc đến những điển cố này

Những năm kháng chiến chống quân Nguyên Mông, những năm gian khổnhưng cũng hết sức oai hùng để rồi mãi về sau nhân dân cả nước vẫn còn nhắc nhớnhau về những năm tháng bắt thù Cho nên mãi đến cuối đời Hồ, hơn trăm năm saucuộc kháng chiến, Trần Lâu khi đi qua cửa Hàm Tử vẫn còn thấy tiếng trống trận vàbóng cờ lệnh, vẫn còn nghe như tiếng quân giặc sặc nước, lục sục chết chìm dướiđáy sông:

Cổ chinh hung dũng triều thanh cấp

Kỳ bái sâm si trúc ảnh tà.

Vương đạo hồi xuân nồng cổ thụ

Hồ quân bão hận thấu hàn ba Toa Đô thụ thủ tri hà xứ Thủy lục sơn thanh nhập vọng xa

(Qúa Hàm Tử quan)

Dịch nghĩa:

Tiếng sóng dồn dập như chiêng trống đổ hồi Bóng tre nghiêng ngả như cờ quạt tung bay Vương Đạo làm cho mùa xuân trở lại, cây cối xanh tươi Quân Hồ ôm hận như ấm ức, lục sục trong sóng lạnh Toa Đô nộp đầu ở chỗ nào đây

Nước biển non xanh trông vời xa tít

Như vậy, bằng những câu văn ngắn gọn mà súc tích, các thi nhân đã làmsống lại trước mắt người đọc hình ảnh của những trận chiến oai hùng vào bậc nhấtcủa lịch sử dân tộc Những địa danh lịch sử như Bạch Đằng, Hàm Tử, ChươngDương trở thành nơi chứng kiến, nơi lưu giữ những chiến công vang dội của conngười đất Việt trong công cuộc bảo vệ non sông

Trang 29

2.1.2 “Núi tổ” Lam Sơn, căn cứ địa Chí Linh

Đến văn học thời Lê, nếu như trong lĩnh vực thơ trữ tình, người đọc thấyvắng bóng những bài thơ tổng kết một cách ngắn gọn với cảm xúc hào hùng trướcnhững chiến công vang dội của ta như “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải thì ởthể phú, người đọc thực sự bị lôi cuốn vào bức tranh toàn cảnh của cuộc khángchiến mà trong đó, hào khí của nghĩa quân và của dân tộc được miêu tả bằng nhữnghình tượng kì vĩ và nhạc điệu dạt dào Âm hưởng hào hùng của cuộc kháng chiếnđược các tác giả gửi gắm rất nhiều qua các địa danh gắn liền với những chiến thắngoai hùng của dân tộc: Chí Linh, Khôi Huyện, Bồ Đằng, Trà Lân, Ninh Kiều, TốtĐộng, Lạng Giang, Xương Giang…Trong đó, Chí Linh và Lam Sơn là những địadanh được ghi lại như một dấu ấn sâu đậm nhất

Nói về núi Lam Sơn, Hàn lâm viện Dương Trực Nguyên ca ngợi Lam Sơn là

“đất tổ” nhà Lê sinh nghiệp đế, dựng nền độc lập Ông viết:

Lam Sơn chỉ xích thiên Nam vọng Vạn cổ nguy nguy sáng nghiệp công

Ta đây núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình

Và để ca ngợi ngọn núi này, Nguyễn Mộng Tuân đã làm hai bài phú: “PhúLam Sơn” và “Lam Sơn giai khí phú” Tuy ở Lam Sơn, nghĩa quân ta chưa cónhững trận quyết chiến lớn với kẻ thù nhưng các thi nhân đương thời đều nhận thấy

Trang 30

rất rõ vai trò quan trọng của Lam Sơn với nghĩa quân đồng thời chỉ ra rằng: LamSơn chính là đầu mối của mọi thắng lợi.

Đây núi tổ: đầu mối của thiên hạ Bởi thế mà Lam Sơn mới lừng danh

Không những vậy, đến đoạn tiếp theo của bài phú, tác giả còn tiếp tục ngợica:

Núi cao trời đặt,

Tự đất Phật Hoàng

Tổ tiên phát tích Điềm ứng đế vương Đất trời phù hộ Lửa vượng cháy lừng

Hay ở “Lam Sơn giai khí phú”, Nguyễn Mộng Tuân cũng khẳng định vai tròcủa núi Lam Sơn trong sự nghiệp kháng Minh của dân tộc:

Đây núi tổ của muôn núi

Có năm sắc hiện tầng không Mịt mù bát ngát

Cây cỏ mông lung Chim chóc lượn bay, báo hiệu bậc anh tài xuất hiện Chúng dân nhóm họp, nào hay khắp trên dưới đồng lòng

Như vậy, có thể thấy, viết về núi Lam Sơn, nguồn cảm hứng của thi nhânxoay quanh hình tượng: Lam Sơn là “núi tổ” của muôn núi Hay nói cách khác đi,Lam Sơn chính là ngọn núi “đầu mối” của thiên hạ, tức ngọn núi nơi quê hươngngười anh hùng làm nhiệm vụ tiên phong, nối tiếp truyền thống yêu nước của dântộc tự ngàn xưa, đốt cháy rực ngọn lửa truyền thống quật cường đó, để cho ngọn lửa

từ Lam Sơn lan ra cả nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp, đánh gục ý chí của bọngiặc Minh xâm lược, đem lại độc lập, tự do cho nước nhà

Trang 31

Đề tài về đất thiêng Lam Sơn còn được nhiều nhân sĩ khác khai thác và viếtdưới những hình thức thơ ca khác, thí dụ như Nguyễn Trãi trong bài thơ “Đề kiếm”

đã viết về Lam Sơn với tất cả cảm xúc chân thành của mình:

Lam Sơn tự tích ngọa thần long Thế sự huyền tri tại chưởng trung Đại nhậm hữu qui thiên khải thánh Xương kì nhất ngộ hổ sinh phong

Nghĩa là:

Rồng thần từ xưa nằm ở Lam Sơn Việc đời đã biết trước như nắm trong tay Việc lớn đã chọn người, trời báo cho thánh biết Thời thịnh mà gặp được, thì hùm sinh gió tức bay được

Không có những đoạn văn miêu tả trực tiếp những trận đối đầu giữa ta vàđịch, nhưng với những gì mà các tác giả viết về Lam Sơn, ta vẫn thấy ở đó khí thếđuổi giặc bừng bừng của dân tộc Chính từ Lam Sơn mà nghĩa quân của ta được baobọc, chở che trong những ngày đầu gian khó; và cũng chính từ Lam Sơn mà ngọnlửa yêu nước và ý chí quyết tâm đánh giặc của nhân dân ta được thổi bùng lên mộtcách mạnh mẽ, tạo nên nguồn sức mạnh vô cùng to lớn, chuẩn bị cho những trậnquyết chiến tiếp theo

Trong những sáng tác viết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, bên cạnh nhữngsáng tác về “núi tổ Lam Sơn”, người ta còn chú ý nhiều đến chùm phú viết về núiChí Linh gồm bốn bài phú của bốn nhà thơ nổi tiếng nhất thời ấy là Nguyễn Trãi,Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn và Trình Thuấn Du Sở dĩ núi Chí Linh được nhiềuthi nhân nhắc nhớ đến vậy là do, đây là cứ điểm phòng ngự quyết liệt nhất của cuộckháng chiến, là nơi mà ranh giới giữa sự tồn tại và diệt vong của nghĩa quân có lúcchỉ còn trong gang tấc, là nơi thử thách đến mức cao nhất phẩm chất của lãnh tụnghĩa quân, là nơi chứng kiến một cách đầy đủ, cụ thể và toàn diện nhất cái quangcảnh chiến đấu hết sức hào hùng của những con người một lòng một dạ chiến đấuđến cùng cho sự nghiệp giải phóng đất nước Chính vì vậy mà sau khi lên ngôi

Trang 32

hoàng đế, Lê Lợi đã sai một số văn thần làm thơ về núi Chí Linh, trên cơ sở ôn lạiquá khứ đầy gian nan, thử thách, nâng cao lòng tự hào về thắng lợi huy hoàng củacuộc kháng chiến và thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của sự nghiệp xâydựng đất nước đang bắt đầu Từ những góc độ khác nhau, các tác giả đã triển khai

đề tài về núi Chí Linh theo một hướng chung là thông qua việc làm sáng tỏ về giátrị lịch sử của căn cứ kháng chiến này mà phản ánh quá trình của cuộc khởi nghĩaLam Sơn từ những ngày gian nan, khốn đốn cho đến khi phản công dồn dập vàgiành được những thắng lợi hoàn toàn cũng như ý nghĩa lịch sử to lớn của nó đốivới sự phát triển của dân tộc Tuy cùng chung một đề tài nhưng bốn tác giả, bốn cátính sáng tạo riêng đã tạo cho mỗi bài phú một cốt cách riêng, có sức rung độngriêng

Nhờ được tôi luyện trực tiếp trong chiến đấu và sống trong âm hưởng anhhùng ca của thời đại, các tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn,Trình Thuấn Du có vốn hiểu biết dồi dào về cuộc sống, đất nước và con người trongkháng chiến Phú của họ là bản hợp ca tổng kết chiến tranh, nơi thể hiện sức mạnhchính nghĩa và âm hưởng hào hùng của công cuộc vệ quốc vĩ đại Ở đó họ đã dựngnên những bức phù điêu về tập thể nghĩa binh anh dũng, bức tranh oai hùng củanhững trận quyết chiến sinh tử, sức mạnh và phẩm chất của dân tộc trong suốt cuộckháng chiến

Theo dòng thơ văn của các tác giả, người đọc các thế hệ như được chứngkiến toàn bộ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của nhân dân Đại Việt từ những buổi đầu

“nếm mật nằm gai” đến lúc nghĩa quân vùng lên với những trận đánh liên tiếp vàcuối cùng là những chiến thắng vang dội của ta khiến cho lũ giặc phải “phách lạchồn xiêu”

Được trực tiếp tham gia vào chiến trận, dù ở vị trí quân sư như Nguyễn Trãihay tham gia vào các ban văn võ như Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn… hoặc sốngtrong âm hưởng hào hùng của cuộc kháng chiến như Lê Thánh Tông và hội TaoĐàn…họ thấu hiểu hơn ai hết tinh thần quật khởi và khí thế ngùn ngụt của nghĩaquân:

Trang 33

Sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay Chu Kiệt bỏ cũi, Hoàng Thành phơi thây Đất Nghệ An chiếm lại, Tây Đô thu nhanh về tay.

(Chí Linh sơn phú – Nguyễn Trãi) Vua ta khởi nghĩa núi Lam Thế mạnh bừng bừng như lửa Hào kiệt theo tựa mây ùn Hiệu lệnh tan như sấm vỡ.

(Chí Linh sơn phú – Nguyễn Mộng Tuân)

Sức mạnh ấy, khí thế ấy tất nhiên không phải ngày một ngày hai mà có Đó

là kết quả của một quá trình lâu dài bền bỉ từ khi “dựng gậy làm cờ” để “chiêu hiềnđãi sĩ” rồi vượt qua biết bao gian khổ Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lượcthì cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của người anh hùng Lê Lợi có thể coi là một trongnhững cuộc chiến đấu khó khăn, gian khổ vào bậc nhất Trong các đời Lê, Lý, Trầnbọn xâm lược tuy cũng rất mạnh nhưng lần nào cũng ở vào cái thế của kẻ từ xanghìn dặm mà đến, và ta dẫu có yếu hơn nhưng thường có thế “dĩ dật đãi lao” màcuối cùng thắng được chúng Lần này thì khác hẳn Vì quý tộc nhà Trần suy thoái,

vì nhà Hồ không được nhân dân ủng hộ, giặc Minh đã đặt được ách thống trị trênđất nước ta Đến khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa (1418), bộ máy thống trị xâm lượcbắt đầu xây dựng từ năm 1407 đã hình thành khắp các phủ, huyện Để đánh giặcTống hay Nguyên Mông, Lý Thường Kiệt hay Trần Quốc Tuấn có cả một bộ máychính quyền mạnh mẽ Lê Lợi thì không thế Ông phải vừa đánh giặc, vừa xây dựngquân đội, vừa xây dựng chính quyền Là những người sát cánh cùng Lê Lợi ngay từnhững buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấnhiểu rõ hơn ai hết những gian khổ, khó khăn mà nghĩa quân phải đối mặt Đó lànhững khó khăn của buổi đầu kháng chiến: quân yếu, lương hết, bị giặc bao vây nơilam chướng

Khi nghĩa binh mới nổi, thế giặc hoành hành

Cả nước anh hào như lá thu sương

( Chí Linh sơn phú – Nguyễn Trãi)

Trang 34

Nhưng vượt qua hết thảy những khó khăn, nghĩa quân Lam Sơn dần lớnmạnh Họ tiến hành liên tục những trận quyết chiến và lần lượt giành hết thắng lợinày đến thắng lợi khác

Chiếm Đỗ Gia để tranh chỗ lợi, Qua Khả Lưu vượt sông để đánh đắm quân thù Sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay

Chu Kiệt bỏ cũi, Hoàng Thành phơi thây

Và kết quả tất yếu của những lần tiến quân liên tiếp với khí thế ngùn ngụtnhư vậy là những chiến thắng vang dội của ta:

Giặc mỏi mệt ngày càng thua chạy Trận Thị Cầu như ổ kiến làm vỡ đê Trận Tốt Động như gió mạnh gãy cành cây Trần Hiệp, Lý Lượng như dưới hố cọp sa Vương Thông, Mã Kỳ như vạc sôi cá nhảy.

Cũng giống như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân trước những chiến côngvang dội của quân ta cũng không giấu nổi niềm tự hào:

Đánh Ai Lao như củi khô mau gẫy, khua Tây Đô như khăn phủ mở tung

Uy lớn đã lan ra ngoài cõi, bọn giặc đều lọt vào vòng trong

Khôi Huyện phất cờ, thì tên Qúy chết lăn, tên Kỳ thua chạy

Trà Long khua trống thì tên Thạch bỏ mạng, tên Chính cùng đường

Cõi đất mở muôn dặm, ngôi cao ngự sáu rồng

Nước non thế vững của cải kho chung”

(Chí Linh sơn phú – Nguyễn Mộng Tuân)

Như vậy, bằng những hình tượng kì vĩ, bằng nhạc điệu dạt dào, các tác giả đãtái hiện trước mắt người đọc bao thế hệ toàn cảnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: từnhững buổi đầu đầy gian nan thử thách đến chỗ lật ngược tình thế, tiến hành liêntiếp những cuộc tiến công và cuối cùng là những chiến thắng “vang dội non sông”.Hòa mình trong âm hưởng của phú, ta như được sống trong không khí hào hùng của

Trang 35

thời đại đánh giặc, như được hòa mình trong khí thế tiến quân bừng bừng của nghĩaquân và như được vỡ òa trong những niềm vui chiến công lừng lẫy.

Cũng giống như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, khi Lê Lợi khởi binh ởLam Sơn chống quân Minh xâm lược, Lí Tử Tấn tham gia ngay từ những ngày đầu.Trên đường hành quân chống giặc, Lí Tử Tấn đã đi qua nhiều nơi như ải Pha Lũy(Lạng Sơn), Thị Kiều Thành, Bồ Đề, Đông Quan (Hà Nội), đặc biệt dấu chân củaông cũng đã từng qua ải Chi Lăng, dòng Xương Giang Xương Giang là tên tự củadòng sông Thương, nằm bên bờ cũng có môt thành trì có tên Xương Giang Cả tênsông lẫn tên thành đều gắn liền với chiến thắng lừng lẫy: Chi Lăng – Xương Giang,kết thúc thắng lợi mười năm kháng chiến chống quân Minh (1427 – 1428) của nghĩaquân Lam Sơn Đứng trước dòng sông lịch sử, cảm xúc của nhà thơ cộng với tâmthế của người lính và vượt lên trên hết là suy cảm của một tri thức trước vận mệnhđất nước, ông đã viết bài “Xương Giang phú” để ngợi ca chiến công lừng lẫy củanghĩa quân: 7 vạn quân Minh phơi thây chiến địa, mấy trăm tên tướng lĩnh của giặc

bị bắt sống trong đó có những tên khét tiếng như Thôi Tụ, Hoàng Phúc…

Với “Xương Giang phú”, Lí Tử Tấn đã miêu tả hết sức khái quát và cô đọngnhững trận đánh từ ải Chi Lăng cho đến trận đánh giặc trên thành Xương Giang.Trước hết tác giả nói về cái vẻ bên ngoài hết sức bình thường của ngôi thành XươngGiang, như không có gì hiểm trở:

Cồn cát rải rác Bãi lau rườm rà

Ầm ầm sóng vỗ Dồn dập nước sa Không sâu, không nông

Dễ lội dễ qua Một bó sậy vượt sang, không hiểm như Cù Đường, Diễm Dự Nhiều ngọn roi ném xuống, không lo như Hắc thủy, Đại hà.

Trang 36

Nhưng thực tế, bên trong lũ giặc đã đào hầm hào, cắm chông, chôn địa lôirất cẩn thận Ấy thế nhưng, đến khi phía ta chỉ “tiếng trống nổi vang”, “ngọn cờthẳng tiến” rồi lập tức:

Sấm vang, chớp nhoắng

Ra quỷ vào thần Giặc kia mất vía Phải tan tác dần

Như vậy, qua sự phân tích trên ta thấy, những bài thơ, phú viết về “Non”,

“Sông” trong cảm hứng lịch sử ở văn học thế kỉ X – thế kỉ XV đã hoàn thành xuấtsắc sứ mệnh lịch sử của mình: phản ánh, tái hiện những chiến công vang dội củanhân dân Đại Việt trước những tên giặc hung hăng, tàn bạo Qua những bài thơ, bàiphú ấy, người đọc như được sống trong không khí sục sôi của thời đại gian khổ, khókhăn nhưng cũng vô cùng oanh liệt của dân tộc để qua đó thêm hiểu, thêm yêu,thêm tự hào về truyền thống giết giặc của cha ông

2.2 Khắc ghi những thất bại của giặc

Không chỉ lưu giữ những chiến thắng vang dội của ta, thơ, phú viết về

“Non”, “Sông” đất Việt trong cảm hứng lịch sử ở văn học thế kỉ X – thế kỉ XV cònkhắc ghi những thất bại của quân xâm lược

Bạch Đằng giang – dòng sông lấp lánh trong lịch sử dân tộc với bao chiếncông chói lọi nhưng cũng chính dòng sông ấy là mồ chôn quân giặc, là nỗi thất kinhcủa bè lũ xâm lược:

Bạch Đằng một bãi chiến tràng Xương phơi trắng đất máu màng đỏ sông

(Đại Nam Quốc sử diễn ca)

Qua ngòi bút miêu tả của Trương Hán Siêu, trận chiến diễn ra trên sông BạchĐằng là trận đánh “thư hùng chửa phân” Và trong cái thế giằng co đó, bọn LưuCung nhà Nam Hán thời Ngô Quyền cố bày ra mưu ma chước quỷ, còn bọn Hốt TấtLiệt nhà Nguyên đời Trần lại hung hăng cậy mạnh Thời nào bọn xâm lăng cũngkhoác lác, cứ tưởng chỉ “gieo roi một lần” là “quét sạch Nam bang bốn cõi” Nhưng

Trang 37

rồi cuối cùng chính nghĩa sẽ thắng gian tà, giặc “hung đồ hết lối”, chuốc nhục muônđời:

Thế nhưng:

Trời cũng chiều người, hung đồ hết lối

Đúng là một cuộc đụng độ ác liệt! Đây là lần thứ ba bọn xâm lược NguyênMông tiến quân sang nước ta và cũng là lần thứ ba bị đánh cho “tan tác tro bay”.Trong trận quyết chiến trên chiến địa Bạch Đằng, quân nhà Trần đại thắng, bắt đượchơn bốn trăm chiếc thuyền, nhiều tướng nhà Nguyên như Ô Mã Nhi, Phàm Tiếp bịbắt sống; Phạm Nham bị Trần Quốc Tuấn cho trảm quyết, cánh thủy quân của quânNguyên Mông hoàn toàn bị tiêu diệt Chiến thắng vinh quang này của nhân dân ĐạiViệt được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử kháng chiến của dân tộcViệt Nam và cũng được xem là thắng lợi tiêu biểu nhất của quân Đại Việt trong bacuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Mặc dù về sau này, “Giao Chỉ” hãycòn “ngứa ngáy trong tim Hốt Tất Liệt” nhưng đại thắng của quân đội Đại Việt trênsông Bạch Đằng đã phá vỡ hoàn toàn âm mưu xâm lược Đại Việt của chúng

Với chiến thắng vang lừng đó, trận thủy chiến oanh liệt về sau trở thành một

đề tài khá phổ biến cho thi nhân ngâm vịnh Một tác giả khuyết danh còn để lại mộtcâu đối ở một ngôi đền địa phương vùng sông Bạch Đằng với ý nghĩa phê phánlòng tham của bè lũ cướp nước và sự thất bại thảm hại của chúng:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục Đằng Giang tự cổ huyết do hồng

Trang 38

Mồ chôn quân thù cao như núi, cây cỏ xanh tươi Nước thủy triều ngoài biển ầm ầm đá núi lởm chởm

Non nửa thế kỉ sau trận Bạch Đằng, Trần Minh Tông vẫn còn như thấy sátkhí của trận thủy chiến ác liệt ấy:

Giang thủy đình hàm tàn nhật ảnh Thác nghi chiến huyết vị tằng can

“Hậu Bạch Đằng giang phú”, Nguyễn Mộng Tuân lại cố gắng đi miêu tả chi tiết hơn

sự thảm bại của quân thù:

Bọn Ô Mã cùng đường tận số; lũ kình nghê vướng lưới tiêu tan Tiếng thét vang trời, núi non tưởng chừng sạt đỉnh;

Thây trôi đầy biển, tôm cá được dịp đầy nang Thế ta bừng bừng, trận Xích Bích nào sánh kịp;

Cảnh giặc hoảng loạn, gió Hoài, Phì nọ truyền sang.

Chinh chiến cùng đường, giặc đành lụi bại Trùng Hưng dưng nghiệp, ta lại huy hoàng!

Sang thế kỉ XV, khi đến xâm lược nước ta, giặc Minh đã gieo bao tội ác tàytrời, chúng khiến cuộc sống con người bên dòng Xương Giang vốn “muôn thủathanh bình” nay bao trùm là một màu ảm đạm, thê lương:

Giặc Minh xâm lấn Lập trại đắp thành Chiếm giữ đất cát Tàn hại sinh linh

Trang 39

Quả là những tội ác khiến trời không dung, đất không tha Nhưng “hung đồhết lối”, trước sự phản công liên tiếp của ta, chúng lần lượt phải chuốc lấy hết thấtbại này đến thất bại khác:

Những miền Pha Lũy, Kê Lăng oai hùng đã dậy Mấy trận Bình Than, Lộng Nhãn thế mạnh khôn ngăn Sấm vang, chớp nhoắng

Ra quỷ vào thần Giặc kia mất vía Phải tan tác dần Thế rồi:

Bắt Thôi Tụ, giết Liễu Thăng

Lý Khánh nộp mạng, Hoàng Phúc đầu hàng Toán này xô nhau trở giáo

Toán kia bỏ chạy cùng đoàn Xương chất thành núi, máu chảy đầy hang Bốn cõi mây mờ quét sạch

Giữa trời ánh sáng huy hoàng

Lịch sử dân tộc đã ghi, cuối năm 1426, Lê Lợi sai Nguyễn Lý và Lê Văn Anđem 3 vạn quân bao vây bốn mặt, lại dựng rào lũy ở tả ngạn sông Xương Giang đểngăn chặn Quân Minh tuy đang ở thế thua nhưng vẫn còn đông và mạnh Thôi Tụ

dự tính vào thành Xương Giang làm nơi trú quân để phối hợp với Vương Thông,nhưng khi tiến gần đến Xương Giang mới biết là thành đã bị quân Lam Sơn hạ.Thôi Tụ phải đóng quân ở ngoài cánh đồng Xương Giang và xung quanh, cáchthành Xương Giang khoảng 3 km, đắp lũy đất để phòng thủ Quân Minh đóng ở vịtrí mà phía Nam là thành Xương Giang kiên cố; phía Tây Bắc và Tây Nam là sôngThương; phía Đông Nam là sông Lục Nam Lê Lợi bèn sai các quân thủy bộ cùngtiến quân bao vây; lại chia quân chặn hết các ải Mã Yên, Chi Lăng, Pha Lũy Thôi

Tụ và Hoàng Phúc muốn tiến cũng không được mà muốn lui cũng không xong.Ngày 15 tháng 10 năm 1427, quân Minh đại bại, nghĩa quân đã tiêu diệt tất cả 10

Trang 40

vạn quân địch, giết Liễu Thăng, bắt sống Thôi Tụ cùng 300 võ tướng khác Chiếnthắng Xương Giang có ý nghĩa to lớn đối với cuộc khởi nghĩa của ta: buộc giặcMinh phải đầu hàng, kết thúc cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh của nhândân ta, giành hòa bình, độc lập cho đất nước sau 20 năm bị đô hộ (1407 – 1427).

Qua sự phân tích trên ta thấy, vịnh sử nước Nam không phải là một đề tàimới lạ nhưng nó lại là nguồn thi hứng mới trong thơ Nôm trung đại thế kỉ XV Vàchính cảm hứng lịch sử này đã mang đến nét mới mẻ, độc đáo cho những sáng táccủa Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức Cảm hứng lịch sử trong nhữngsáng tác này xuất phát từ những cảnh quan gắn liền với chiến tích lịch sử dân tộc Ởchùm thơ viết về địa danh lịch sử thường mang cảm hứng tự hào, lạc quan, ngưỡng

mộ trước vẻ đẹp của quang cảnh non sông, đất nước; nơi ghi dấu những chiến công

và những đau thương của một thời dựng nước và giữ nước Mỗi dòng sông, ngọnnúi như sông Bạch Đằng, núi Song Ngư… đều mang hồn thiêng đất Việt Hòachung với dòng thơ ca viết về Bạch Đằng, “Bạch Đằng giang” của các tác giả thờiHồng Đức đã làm sống dậy không khí chiến trận trên sông năm nào và gọi về trong

ta niềm kiêu hãnh về một thời hào hùng, oanh liệt của cha ông Không có cái thảmkhốc:

Bạch Đằng một bãi chiến tràng Xương phơi trắng đất máu màng đỏ sông

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Nhưng các hình ảnh “thằng Ngô dại”, “hồn Ô Mã lạc loài đâu” vẫn gợi lênnhững hồn phách bơ vơ, vất vưởng của những tên giặc đại bại năm xưa:

Rửa không thay thảy thằng Ngô dại Dịu một lâng lâng khách Việt hầu

Nọ đỉnh Thái Sơn rành rạnh đó Nào hồn Ô Mã lạc loài đâu?

Bốn phương phẳng lặng kình bằng thóc Thong thả dầu ta bủa lưới câu.

Ngày đăng: 10/10/2016, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w