1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh

85 482 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ...

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN CẢNH

ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế

Mã số : 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NHƯ PHÁT

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

NGUYỄN VĂN CẢNH

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 9

1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư nước ngoài 9

1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 13

1.3.Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam 17

1.4 Các biện pháp ưu đãi đầu tư theo pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 22

1.5 Ưu đãi đầu tư theo luật đầu tư năm 2014 29

1.6 Một số kinh nghiệm ưu đãi đầu tư nước ngoài 39

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 44

2.1 Thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư nước ngoài 44

2.2 Kết quả đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua 58

2.3 Kết quả thực hiện ưu đãi đầu tư nước ngoài ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua 61

2.4 Đánh giá pháp luật Việt Nam về ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài từ thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 63

2.5 Phương hướng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 66

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB : The Asian Development Bank

Ngân hàng Phát triển châu Á

AFTA : ASEAN Free Trade Area

Khu vực thương mại tự do ASEAN

APEC : Asia-Pacific Economic Cooperation

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

BTC : Bộ Tài chính

ĐTNN : Đầu tư nước ngoài

EU : European Union

Liên minh Châu âu

FDI : Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GCNĐKĐT : Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

GDP : Gross Domestic Products

Tổng sản phẩm quốc nội

GTGT : Giá trị gia tăng

IMF : International Monetary Fund

Quỹ tiền tệ quốc tế

JETRO : Japan Export Trade Research Organization

Trang 5

QH : Quốc hội

TPP : Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement

Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương

UBND : Uỷ ban nhân dân

VAT : Value Added Tax

Thuế giá trị gia tăng

VCCI : Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

WTO : World Trade Organization

Tổ chức thương mại quốc tế

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn cho thấy rằng trong nhiều năm đổi mới của đất nước đã khẳng định rằng khi nhà nước sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật trong quản lý thì tình hình kinh tế, chính trị xã hội ổn định, phát triển Nếu nhà nước buông lỏng vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện, lợi dụng những sai sót khuyết thiếu trong các quy định của nhà nước để trục lợi, lũng đoạn nền kinh tế, tạo nguy hại cho cơ chế thị trường nay đã phức tạp lại càng phức tạp hơn Vì thế rất khó để quản lý, kiểm soát ở một số lĩnh vực trong đó có lĩnh vực đầu tư nước ngoài

Trong quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài bộc lộ nhiều vấn đề và bất cập Điều đó được thể hiện trên các mặt như pháp luật về đầu tư còn có những bất cập cần sửa đổi, bổ sung Cơ chế chính sách chưa đồng bộ và chưa tạo được động lực phát triển mạnh, một số cơ chế, chính sách, chưa sát với thực tế thiếu tính khả thi, chỉ có trên ý chí nhưng kết quả lại không được như vậy Nhiều cấp nhiều ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những

cơ chế, chính sách mới có tác dụng thực tế, thay đổi hoặc cải cách khai thác triệt để nguồn vốn đầu tư nước ngoài Việc ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành luật còn rất chậm Thực tiễn quản lý vẫn còn trong tình trạng chồng chéo hoặc phân tán, trong quá trình quản lý thực hiện chức năng của nhà nước đối với các bộ ngành và các cơ quan có thẩm quyền như cục đầu tư nước ngoài, ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế, sở

kế hoạch đầu tư của các địa phương trong vùng chưa thật gắn kết đồng đều Những thiếu sót bất cập nói trên đã ảnh hưởng không tốt đến mọi mặt tình hình kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đòi hỏi các cơ quan thực hiện chức năng

Trang 7

quản lý nhà nước phải lưu tâm giải quyết Chẳng hạn như tình trạng chảy máu chất xám, lộ bí mật nhà nước, vấn đề về môi trường sinh thái, thiết bị công nghệ lạc hậu, quản lý xuất nhập cảnh của người nước ngoài, các hoạt động của các thương nhân, hiệp hội thương nhân nước ngoài bị buông lỏng, một số chủ đầu tư nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư, thu hút đầu tư bằng mọi giá, chạy theo số lượng dự án đầu tư, dự án ảo, thiếu sự tính toán bền vững cho lâu dài, thiếu tính thực tế, các dự án chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, thiếu sự đồng bộ, liên kết giữa nhà nước và các địa phương Vì vậy mà nguồn vốn thu hút đầu tư nước ngoài và sự phát triển của địa phương chưa thật tương xứng với tiềm năng hoặc đánh giá tiềm năng chưa đúng, chưa phù hợp Đây cũng chính là những khuyết thiếu của hoạt động đầu tư nước ngoài tại các vùng kinh tế, làm hạn chế sự phát triển bền vững của từng địa phương có dự án đầu tư và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cả nước

Trong giai đoạn hiện nay đầu tư là một lĩnh vực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, vấn đề để thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để phát huy mọi tiềm lực trong và ngoài nước rất quan trọng nếu không phát triển thì sẽ thụt lùi Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi cả về tự nhiên và giao thông, thuận lợi trong việc thông thương, giao lưu buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới

Sau gần ba thập niên đổi mới và mở cửa kinh tế, nền kinh tế nước ta đang hội nhập ngày càng cao vào nền kinh tế toàn cầu Sau thời kỳ cải cách

và mở cửa cũng như những đổi mới căn bản trong nhận thức đường lối, chính sách ĐTNN nhất là FDI đã đạt được nhiều thành tích vào công cuộc phát triển nền kinh tế nước nhà Mới đây nhất Luật đầu tư 2014 ra đời thay thế luật đầu

tư 2005 với những quy định đổi mới tiến bộ hơn Những quy định về đầu tư nước ngoài hấp dẫn cùng một thị trường giàu tiềm năng đã đẩy nhanh tốc độ

Trang 8

phát triển của đất nước, đồng thời với đường lối đối ngoại của nhà nước ta trong các quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và phát huy nội lực, tận dụng ngoại lực để hỗ trợ phát huy các ưu thế trong nước Ngoài việc phải có các biện pháp bảo đảm đầu tư nước ngoài, nhà nước cũng cần phải dành cho đầu tư nước ngoài những ưu đãi, tận dụng mọi nguồn lực bên ngoài góp phần phát triển kinh tế xã hội vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh

Tuy vậy trên thực tế, nguồn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu xây dựng hội nhập quốc tế cũng như chưa tương xứng với tiềm lực về thu hút FDI của Việt Nam Do những biện pháp ưu đãi chưa thật sự hấp dẫn, do đường lối chính sách chưa thật thỏa đáng, chưa lôi kéo được các nhà ĐTNN, chưa tạo ra một sân chơi bình đẳng hay vẫn còn sự phân biệt kì thị áp đặt đối xử đầu tư trong nước và ngoài nước

Đầu tư nước ngoài đang đặt ra nhiều vấn đề như: chất lượng đầu tư, công nghệ, giá trị gia tăng, sự bất bình đẳng giữa các vùng miền, thuế, doanh nghiệp, pháp luật, chính sách của Việt Nam đối với ĐTNN, văn bản chính sách của các vùng miền địa phương, cách thực thi các văn bản pháp luật, hệ thống pháp luật của Việt Nam về ưu đãi đầu tư nước ngoài có được thực hiện công bằng hay không, có thực sự có ưu đãi đối với ĐTNN không, Việt Nam

có thực hiện tốt các điều ước, chính sách hội nhập quốc tế hay không ?

Để hiểu rõ một cách cụ thể, lý giải những vấn đề còn vướng mắc, tác

giả chọn đề tài: “Ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” để làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học Trong luận văn này, tác giả

hướng tới nghiên cứu cơ bản về sự hình thành, phát triển các biện pháp ưu đãi đầu tư và thực trạng đầu tư nước ngoài, đặc biệt là ưu đãi đối với dự án đầu tư

Trang 9

trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam tại Việt Nam nói chung, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ưu đãi đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam, được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, hội nghị chuyên đề, hội thảo được tổ chức, nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ và một số công trình nghiên cứu đã được công bố trong thời gian qua như:

- TS Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam NXB Khoa học xã hội

- TS Vũ Trường Sơn (2001), Đầu tư nước ngoài với tăng trưởng kinh

tế Việt Nam, NXB Thống kê

- TS Mai Ngọc Cường (2001), Hoàn thiện chính sách và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia

- TS Phùng Xuân Nhạ (2000), Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ CNH Malaysia, kinh nghiệm đối với Việt Nam, NXB Nghiên cứu kinh tế và

- Luận văn “Pháp luật về thành lập và đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp”, Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Hồng Thanh Bạch năm 2013

Trong luận văn, tác giả đã có sự phân tích và đánh giá cụ thể, nêu ra những điểm vướng mắc và kiến nghị, tuy nhiên vẫn ở mức độ là một vấn đề nằm

Trang 10

trong đề tài của luận văn

- “Thực trạng đầu tư thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài”, luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Luật năm 2007 của

tác giả Phạm Thị Kim Phượng Luận văn nghiên cứu và phân tích, trình bày khá chi tiết các vấn đề liên quan đến thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng luận văn được thực hiện vào thời gian Luật Doanh nghiệp 2005 mới được áp dụng, khác hẳn với bối cảnh hiện nay khi mà Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014 đã có hiệu lực Hơn nữa, mục đích chủ yếu của luận văn là nghiên cứu đánh giá thực trạng đầu tư thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài theo Luật Doanh nghiệp

- Luận văn “Quyền thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2009 của tác giả Bùi Thị Thúy

Triều[33] Luận văn đã nghiên cứu quy định của pháp luật cũng như thực trạng về quyền thành lập doanh nghiệp FDI, bao gồm: quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư và địa bàn thành lập doanh nghiệp FDI, quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp, hình thức và tỷ lệ góp vốn, quyền lựa chọn đối tác để thành lập doanh nghiệp FDI

Luận văn “Pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu tư nước ngoài”; luận văn

thạc sỹ luật học năm 2012 của tác giả Đào Thu Hương[22] Theo tìm hiểu của tác giả, đây là luận văn có những nội dung nghiên cứu gần nhất, liên quan

nhất với đề tài “Ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” của

tác giả Tuy nhiên, luận văn của tác giả Đào Thu Hương hướng đến mục đích:

“trình bày sự quan trọng và cần thiết của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam, so sánh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với các nước khác, các số liệu kết quả đầu tư qua các năm từ đó tìm

ra phương hướng giải pháp ” Điều này khác với mục đích đề tài mà tác giả

Trang 11

nghiên cứu, vì thế cách thức nghiên cứu, cách thức trình bày cũng như ý nghĩa khoa học, giá trị ứng dụng mà hai đề tài mang lại là khác nhau

Như vậy, đến thời điểm này, chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể, chi tiết và riêng biệt về ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Luận văn làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn của các biện pháp ưu đãi, áp dụng pháp luật và chính sách đối với đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng Qua đó thấy được thực trạng thu hút và sử dụng FDI của đất nước, khu vực, địa phương đặc biệt qua nghiên cứu áp dụng tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Qua đó có cái nhìn tổng thể về tình hình kinh tế xã hội đề ra chiến lược thích hợp FDI trong thời gian tới Luận văn còn nêu lên một số vấn đề đặt ra, mối liên hệ giữa nhà nước và địa phương trong việc áp dụng chính sách pháp luật về ưu đãi đầu tư, mối liên hệ tác động của các biện pháp ưu đãi với thực trạng FDI ở Việt Nam nói chung, các khu vực, địa phương nói riêng Sau đó đưa ra đề xuất những việc cần làm trong thời gian tới nhằm đẩy mạnh việc thu hút FDI, qua đó góp phần hoàn thiện pháp luật, chính sách của Việt Nam về ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau: + Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đầu tư nước ngoài, ưu đãi dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

+ Làm rõ thực trạng chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nói chung, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nói riêng

+ Đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật về ưu đãi đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Văn bản pháp luật, chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài của Việt Nam, Văn bản chính sách pháp luật của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Phạm vi nghiên cứu: Các chính sách pháp luật về ưu đãi đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật việt Nam, văn bản chính sách pháp luật của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Văn bản tổng kết, kết quả số liệu đánh giá tình trạng ưu đãi đầu tư qua các năm

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích các chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài đồng thời so sánh đối chiếu với các chính sách ưu đãi của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Qua đó thấy được khuyết điểm, bất cập trong chính sách ưu đãi đầu

tư nước ngoài của Việt Nam và sự liên kết đối với địa phương, khu vực

- Ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu kinh

tế, luận văn sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:

+ Phân tích, so sánh: các nội dung của chính sách ưu đãi của Việt Nam được phân tích so sánh, xem xét Các nội dung chính sách ưu đãi dự án của thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có điểm giống và khác nhau ra sao

+ Hệ thống và liên ngành: các chính sách ưu đãi đầu tư trực tiếp nước ngoài thường xuyên có liên quan, tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế và các hoạt động của đời sống chính trị - xã hội, nên cần được phân tích hệ thống và liên ngành mới thấy được hiệu quả của chính sách

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn có những đóng góp cơ bản sau đây :

- Tổng hợp, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận và luận điểm khoa học về ưu đãi đầu tư

Trang 13

- Đưa ra đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về ưu đãi đầu tư tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, một địa phương có tiềm năng phát triển lớn mạnh nhưng chưa được đánh giá đúng

- Chỉ ra định hướng phát triển, giải pháp cho các vấn đề còn hạn chế từ

đó bổ sung, hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn được chia làm 2 chương với nội dung sau:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật ưu đãi đầu tư

nước ngoài

- Chương 2 : Thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp

luật về ưu đãi dự án đầu tư đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài qua thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư nước ngoài

1.1.1 Khái niệm đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là một trong những vấn đề chiến lược quan trọng để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, việc tranh thủ nguồn vốn từ các nhà đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam mang ý nghĩa vô cùng to lớn khi đất nước đang tiến hành công cuộc hiện đại hóa công nghiệp hóa, do đó việc tranh thủ nguồn vốn, chuyển giao vốn từ quốc gia phát triển sẽ tạo bước đà cho việc phát triển đất nước

Theo nghĩa thông thường thì đầu tư chính là việc hi sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu hút về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định, trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra trước đó

Theo từ điển bách khoa toàn thư thì “Đầu tư là việc bỏ ra nguồn lực, nhân lực, tài lực nào đó sao cho có hiệu quả kinh tế xã hội”

Như vậy, đầu tư phải mang lại một giá trị nhất định, giá trị sau phải lớn hơn giá trị ban đầu của các nguồn lực đầu tư Mục đích không thể phủ nhận từ các nhà đầu tư nhằm tạo ra lợi nhuận Tuy nhiên không phải mọi hoạt động đầu tư đều đem lại lợi nhuận mà nó phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố theo quy luật phát triển của nền kinh tế trị trường

Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and Development – OECD), FDI được hiểu theo nghĩa rộng hơn:

“FDI là các hoạt động kinh tế của các cá nhân và pháp nhân kể cả việc cho vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm tạo dựng các

Trang 15

quan hệ kinh tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hưởng thực sự về quản lý”[35]

Theo Luật Đầu tư năm 2005 thì “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại toài sản hữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật

có liên quan” Tài sản đầu tư ở đây bao gồm: tiền, vật, giấy tờ có giá và

quyền tài sản được quy định trong pháp luật dân sự

Lênin cho rằng: Đầu tư là yếu tố cần thiết để tạo ra một lượng của cải lớn trong xã hội, đầu tư không chỉ đem lại nguồn lực cho bản thân doanh nghiệp mà còn là hình thức tư sản tất yếu của xã hội Nếu không có hoạt động đầu tư thì có thể xem xã hội đang rơi vào trạng thái đứng yên, thụt lùi vì nó sẽ không tạo ra giá trị thặng dư trong xã hội” [36, tr.60]

Từ những vấn đề trên, chứng minh rằng đầu tư phải có tính sinh lời, mỗi nhà đầu tư đều mong muốn mang lại lợi nhuận tốt nhất, không một nhà đầu tư nào chỉ mong muốn nhận được một khoản giá trị chỉ bẳng đúng hoặc thấp hơn so với vốn ban đầu

Đối với đầu tư nước ngoài, theo cách hiểu thông thường đó là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu Thông thường đầu tư nước ngoài được chuyển nguồn vốn từ nước phát triển sang những nước đang phát triển, nước chậm phát triển rất ít có các trường hợp ngược lại

Tại khoản 12 Điều 3 Luật đầu tư năm 2005: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”[28]

Tuy nhiên khi Luật đầu tư năm 2014 ra đời thay thế cho Luật đầu tư năm 2005 lại không đưa ra một định nghĩa về đầu tư nước ngoài, mà chỉ tập

Trang 16

trung làm rõ bản chất của đầu tư nước ngoài thông qua các khái niệm: đầu tư kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài Tại khoản 4 Điều 3 Luật đầu tư 2014 quy

định “đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện các hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn; mua cổ phần; phần vốn góp; của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” Còn tại khoản 13 Điều 3 Luật đầu tư năm 2014 quy định “nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” Như vậy dù luật đầu tư năm 2014 không đưa ra định

nghĩa thế nào là đầu tư nước ngoài nhưng về cơ bản chung vẫn là việc dịch chuyển nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư

Từ những vấn đề nêu trên, có thể định nghĩa về đầu tư nước ngoài như sau: “Đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa tiền và các tài sản hợp pháp khác vào Việt Nam thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn; mua cổ phần; phần vốn góp; của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận”

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, đầu tư nước ngoài là một hiện tượng luân chuyển dòng vốn

từ quốc gia này sang quốc gia khác Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, các quốc gia luôn tìm cách để phát triển không chỉ bằng nguồn lực trong nước mà bằng các nguồn lực của các quốc gia khác, điều này đã tạo ra sự hợp tác đầu

tư toàn diện hơn đối với các quốc gia về vấn đề kinh tế Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã trở thành cầu nối đối với các quốc gia lại với nhau trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên xét về tổng thể thì đa phần các nước phát triển tiếp

Trang 17

nhận nguồn vốn từ các nước khác thấp hơn so với các quốc gia đang và kém phát triển điều này phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, tài chính của mỗi quốc gia trên thế giới

Thứ hai, chủ thể đầu tư nước ngoài là các nhà đầu tư nước ngoài thực

hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư bao gồm: các tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài và cá nhân mang quốc tịch nước ngoài

Nhìn chung vì đầu tư nước ngoài bản chất chính là dịch chuyển nguồn vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác, do đó, chủ thể thực hiện việc chuyển vốn đó có thể là cá nhân, tổ chức mang yếu tố nước ngoài, nghĩa là không được thành lập tại nước sở tại hoặc có quốc tịch tại nước sở tại Tuy nhiên đối với các tổ chức kinh tế dù có vốn 100% đầu tư nước ngoài nhưng được thành lập tại Việt Nam thì không thể xem đó là nhà đầu tư nước ngoài Đối với cá nhân thì vấn đề xác định quốc tịch còn phù thuộc vào quy định của mỗi nước

có thể là nơi sinh ra, cư trú, làm việc tuy nhiên theo pháp luật Việt Nam về quốc tịch thì cá nhân (bao gồm cả pháp nhân) có quốc tịch nước ngoài là cá nhân, pháp nhân không mang quốc tịch Việt Nam

Thứ ba, đầu tư nước ngoài được tiến hành thông qua các hình thức đầu

tư Muốn đầu tư thì các nhà đầu tư nước ngoài phải có những hình thức đầu tư theo quy định của nước tiếp nhận vốn đầu tư Trước khi Luật đầu tư 2014 ra đời, luật đầu tư 2005 quy định hình thức đầu tư bao gồm: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Tuy nhiên theo quy định của Luật đầu tư 2014 thì không còn

đề cập, phân biệt giữa hai hình thức đầu tư, mà theo đó nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam phải tiến hành một trong các hình thức đầu tư như: thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn; mua cổ phần; phần vốn góp; của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư

Trang 18

Thứ tư, hoạt động đầu tư nước ngoài phải mang tính tìm kiếm lợi nhuận

Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam đều mong muốn tìm kiếm lợi nhuận, điều này được phản ánh trong bản chất của đầu tư là mang lại giá trị thặng dư lúc sau sẽ lớn hơn so với vốn đầu tư ban đầu Thông qua các hình thức đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm kiếm cho mình những cơ hội, thị trường để có thể tìm kiếm lợi nhuận một cách tốt nhất Theo thống kê, các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt động đầu tư tại Việt Nam đa phần tập trung nhiều nhất ở các khu công nghiệp, với nguồn lao động trẻ, dồi dào và giá thành hợp lý đã tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ cho nhà đầu tư nước ngoài, điều này còn thể hiện qua ngân sách đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Do đó, có thể thấy rằng, đầu tư nước ngoài phải mang tính lợi nhuận thông qua các dự án đầu tư, tuy nhiên bên cạnh tính lợi nhuận thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải đảm bảo các nghĩa vụ, trách nhiệm xã hội Đây là vấn đề nhà nước luôn quan tâm và xem là một sự cam kết giữa quốc gia Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài

1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI)

là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này

Tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong

Trang 19

những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" Cụ thể hơn: FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi

1.2.2 Nội dung đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hình thức truyền thống và phổ biến của FDI là thành lập tổ chức kinh

tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã

nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất Hình thức này phổ biến

ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các

dự án quy mô lớn Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con thuộc công ty mẹ xuyên quốc gia

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu

tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư) Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm

về kết quả kinh doanh Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 20

Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện

kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình

độ tay nghề người lao động Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận

Hình thức cũng rất phổ biến ở Việt Nam là thành lập doanh nghiệp liên

doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa các bên hoặc các bên nước chủ nhà với các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại Như vậy, hình thức doanh nghiệp liên doanh tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước ngoài Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công

cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể

có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, pháp luật Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý yếu

Trang 21

Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại Do đó, về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC Tuy nhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh

Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT: BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam BTO và BT là các hình thức phát sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự

Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải

là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước ; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách

Trang 22

nhà nước Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh

tế Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi

ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp: Khi thị trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khai thông, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước

sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này

Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu

tư nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI Khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Tuy nhiên, khi

tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ bản là để thu hút vốn

và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà

1.3.Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

Mỗi hiện tượng, sự vật đều có hai mặt Vì vậy, hoạt động đầu tư nước ngoài cũng có những tác động tích cực và tiêu cực đối với quốc gia nhận đầu tư

1.3.1 Tác động tích cực

Đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả các nguồn lực trong nước

Trang 23

Đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chủ trương xây dựng nền kinh

tế thông qua nội lực trong nước luôn được quan tâm Theo thống kê, các doanh nghiệp Việt Nam đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sự hội nhập kinh tế toàn cầu, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là một quy lực tất yếu do

đó các doanh nghiệp trong nước đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức không hề nhỏ Sự tranh thủ về nguồn vốn các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ tạo ra động lực cho các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam luôn được Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá cao Năm 2015 với nền kinh tế thế giới không mới khả quan, thì GDP Việt Nam tăng 6,3% trong sáu tháng đầu năm 2015 Với sự tăng trưởng đáng kinh ngạc đó, cần phải kể đến sự đóng góp của lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [37, tr.2]

Một là, bổ sung nguồn cho tổng vốn đầu tư xã hội

Đầu tư nước ngoài của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không chỉ phát triển mạnh mẽ về tổng số dự án đầu tư qua các thời kì, mà nó còn thể hiện qua số lượng vốn tăng trưởng qua các năm Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tăng nhanh qua các thời kỳ, từ khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư xã hội (1991 – 2000) lên 69,47tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư xã hội (2001 – 2011) Tỷ trọng khu vực đầu tư nước ngoài trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 – 2011 tăng 5,4% [38, tr.9].Tuy nhiên chỉ trong vòng một năm 2015 tổng số vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam lên đến 25,984 tỷ USD [37, tr.4]

Hai là, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu

Sự phát triển của đầu tư nước ngoài đã tạo ra một hệ thống các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển đáng kể Nhà nước với chức năng phát triển kinh tế luôn tạo điều kiện để hoạt động đầu tư nước ngoài phát

Trang 24

triển, trong các biện pháp điều kiện đó, là sự ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu,

ưu đãi đối với các dự án đầu tư tại các nơi khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế điều này làm cho hoạt động xuất nhập khẩu với Việt Nam phát triển

Theo báo cáo kỷ yếu 25 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 Không chỉ vậy, đầu tư nước ngoài còn thay đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng tỷ trọng mặt hàng chế tạo Một trong các thị trường đáng kể đó là thông qua kênh đầu tư nước ngoài, Việt Nam tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc

Ba là, đầu tư nước ngoài còn góp phần tăng ngân sách nhà nước

Thông qua các hoạt động đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam phải chịu các loại thuế, điều này sẽ góp phần bổ sung vào ngân sách nhà nước, tạo ra một nguồn thu chủ yếu và thường xuyên đối với ngân sách nhà nước

Bốn là, đầu tư nước ngoài kéo theo việc chuyển giao công nghệ

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, các doanh nghiệp chủ yếu thuộc dạng nhỏ và vừa Do đó, việc tranh thủ ngồn vốn để nâng cao hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp trong nước luôn được quan tâm Đầu tư nước ngoài

đa phần đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt là khu công nghệ cao nơi mà được ưu tiên áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh là rất cao Do đó, thông qua đầu tư nước ngoài, Việt Nam sẽ tiếp nhận các dây chuyền, công nghệ mới từ các nước phát triển

Trang 25

Thông qua việc liên doanh giữa các nhà đầu tư Việt Nam với nhà đầu

tư nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Việt Nam học hỏi được các kinh nghiệm quản lý, đào tạo, hơn nữa là sự tiếp thu các công thức, dây chuyển sản xuất của các nước đầu tư vào Việt Nam

Năm là, đầu tư nước ngoài tạo việc làm, nâng cao chất lượng lao động

Vấn đề giải quyết lao động trong nước luôn được nhà nước quan tâm,

nó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người lao động và còn ảnh hưởng đến kinh tế về lâu dài Tuy nhiên với tình trạng chung về người lao động không có việc làm, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một đầu mối quan trọng để giải quyết Một trong những lý do để các nhà đầu tư nước ngoài đầu

tư vào Việt Nam một phần cũng nhờ nguồn lao động Việt Nam dồi dào và rẻ Các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế đa phần là các lao động Việt Nam, do đó việc thu hút đầu tư nước ngoài sẽ giải quyết một số vấn đề về việc làm của Việt Nam

Bên cạnh đó, khi người lao động Việt Nam được làm việc ở một môi trường công nghiệp, với kinh nghiệm quản lý, điều hành của nhà đầu tư nước ngoài, các lao động Việt Nam sẽ càng ngày vững tay nghề, nâng cao chất lượng lao động tại Việt Nam, xóa dần cách làm việc nông nghiệp Điều này sẽ tạo ra một nguồn lao động vững tay nghề, góp phần đẩy mạnh các mặt hàng của Việt Nam có thể cạnh tranh với các nước trên thế giới

Sáu là, đầu tư nước ngoài góp phần hội nhập kinh tế

Điều lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1977 là một văn bản luật đầu tiên điều chỉnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên đối tượng đầu tư vào Việt Nam chỉ dừng lại ở một số nước xã hội chủ nghĩa

Sự phát triển kinh tế toàn cầu đã làm cho các quốc gia hợp tác ngày càng nhiều, nhiều vùng kinh tế được thành lập và phát triển Trong bối cảnh

đó, Việt Nam không thể tự nhốt mình, do đó sự hợp tác, hội nhập là điều tất

Trang 26

yếu trong giai đoạn hiện nay Pháp luật đầu tư là một kênh vô cùng quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài để Việt Nam từng bước hội nhập Xét về phương diện quan hệ xã hội và pháp luật thì Việt Nam tham gia càng nhiều các tổ chức kinh tế thì các quy phạm pháp luật Việt Nam bắt buộc phải thay đổi theo Năm 2007 Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Quốc tế, đây

có thể được xem là một cột mốc thể hiện sự hợp tác của Việt Nam với các nước trên thế giới, điều này làm cho các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng có nhiều dự án đầu tư vào Việt Nam Các quốc gia trong khối Asean sẽ chính thức thành lập cộng đồng kinh tế chung Asean, Việt Nam gia nhập hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Viết tắt là TPP) đều này chứng tỏ, khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đầu tư, thì Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới ngày càng nhanh hơn, rộng hơn

1.3.2 Tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực, đầu tư nước ngoài còn tạo ra những tác động tiêu cực sau đây:

Một là, đầu tư nước ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lí Mục đích của

các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó các nhà đầu tư đa phần tập trung đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, điều này sẽ làm mất cán cân bất cân xứng trong nền kinh tế Việt Nam Trong đó, nhà nước luôn tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các địa bàn ưu đãi đầu tư, đặc biệt các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn để giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế giữa các vùng trong cả nước, cân đối

sự phát triển giữa nông thôn và thành thị Tuy nhiên các nhà đầu tư nước ngoài

đa phần tập trung đầu tư ở những nơi, thành phố, đô thị phát triển, làm cho mất cán cân, cân bằng kinh tế giữa các vùng, địa phương ngày càng tách biệt hơn Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, bất động sản gia tăng trong khi đó các lĩnh vực

Trang 27

liên quan đến nông lâm ngư nghiệp lại ít có dự án đầu tư Điều này đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lý giữa công nghiệp và nông lâm nghiệp

Hai là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng

“chảy máu chất xám” Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi

về thu nhập, việc làm do vậy đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà nghiên cứu, công nhân lành nghề của nước ta về làm việc cho các nhà đầu tư nước ngoài

Ba là, chuyển giao công nghệ lạc hậu Dưới sự tác động của cuộc cách

mạng khoa học - kỹ thuật, quá trình nghiên cứu- ứng dụng ngày càng được rút ngắn, máy móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hậu Để loại bỏ chúng, nhiều nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các nước nhận đầu tư như một phần vốn góp Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của các nước nhận đầu tư ngày càng lạc hậu

Bốn là, chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn Các

nước nhận đầu tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài như: giảm thuế, miễn thuế, giảm tiền thuê đất điều này đôi khi tạo ra sự ưu đãi không công bằng giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam

Năm là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh

với các doanh nghiệp trong nước Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt các doanh nghiệp trong nước vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt về thị trường, lao động và các nguồn lực khác

1.4 Các biện pháp ưu đãi đầu tư theo pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

1.4.1 Khái niệm về ưu đãi đầu tư nước ngoài

Theo từ điển tiếng Việt thì ưu đãi “là việc dành cho những điều kiện, quyền lợi đặc biệt hơn so với người khác” Như vậy có thể thấy ưu đãi có sự

Trang 28

phân chia đối lập quyền lợi giữa những đối tượng khác nhau, có thể dành cho những đối tượng này những điều kiện cụ thể có lợi hơn so với đối tượng khác, làm cho quyền lợi giữa các đối tượng không cân bằng

Khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, với chủ trương phát triển kinh tế làm nòng cốt gắn liền với nghĩa vụ xã hội Nhà nước luôn khuyến khích các nhà đầu tư không chỉ trong nước mà ngoài nước sẽ hưởng các ưu đãi đầu tư, nếu các nhà đầu tư, đầu tư vào các lĩnh vực mà nhà nước quy định, đầu tư vào nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, hoặc các ngành nghề thuộc danh mục ưu đãi đầu tư của nhà nước

Tuy nhiên cần xác định rằng, các ưu đãi này phải do nhà nước quy định

và ban hành hoặc từng địa phương có những chính sách ưu đãi cụ thể nhưng không được trái với các nguyên tắc của pháp luật Không một ưu đãi nào mà các nhà đầu tư tự tạo ra cho mình hoặc các địa phương nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương mà ban hành các ưu đãi có lợi cho các nhà đầu tư mà làm tổn hại đến mục đích của đầu tư

Từ đó, có thể định nghĩa cơ bản về ưu đãi đầu tư như sau: “ưu đãi đầu

tư là tất cả các quy định do nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam mà theo quy định của pháp luật được hưởng các ưu đãi đầu tư trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhà nước với lợi ích của các nhà đầu tư”

Để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam mà không bị ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà đầu tư, thông thường giữa các quốc gia sẽ tiến hành ký với nhau các hiệp định về khuyến khích, bảo hộ đầu tư, nhằm mục đích vừa tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, vừa giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng Đối với các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư thì nước Việt Nam sẽ cam kết không quốc hữu

Trang 29

hóa hoặc trưng dụng dưới bất kì hình thức nào, vì nếu nước nhận đầu tư tùy tiện quốc hữu hóa hoặc trưng dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các nhà đầu tư, tuy nhiên đa phần các quốc gia trên thế giới vẫn có những trường hợp ngoài lệ cho phép nước nhận đầu tư được quyền quốc hữu hóa hoặc trưng dụng nếu vì lợi ích công cộng phục vụ cho mục đích quốc gia Khi nhà đầu tư

bị nước nhận đầu tư quốc hữu hóa hoặc bị trưng dụng thì sẽ được bền bù ngay lập tức với trị giá thích đáng

Tại Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ cộng hòa Argentina ngày 03 tháng 06

năm 1996 tại Điều 4 có quy định: “Mỗi bên sẽ không được phép áp dụng biện pháp quốc hữu hóa, tước quyền sở hữu hoặc bất kì biện pháp nào có hậu quả tương tự đối với đầu tư của nhà đầu tư mỗi bên ký kết kia trên lãnh thổ của mình, trừ các biện pháp về lợi ích công cộng, trên cơ sở không phân biệt đối xử

và tuân thủ quy định về thanh toán kịp thời, bồi thường đầy đủ và có hiệu quả

Sự bồi thường đó phải tính theo giá thị trường của nhà đầu tư tại thời điểm quyết định về tước quyền sở hữu được công bố công khai, bao gồm lãi tính từ ngày tước quyền sở hữu theo lãi suất thương mại thông thường được thanh toán không chậm trễ, có hiệu quả thực tế và tự do chuyển đổi” hay tại Hiệp

định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam với Nước Cộng hòa Italia có ghi nhận: “ các khoản đầu tư giữa hai Quốc gia ký kết hoặc của một trong các thể nhân hoặc pháp nhân của họ sẽ không bị quốc hữu hóa trực tiếp hoặc gián tiếp, không bị trưng dụng hoặc không bị áp dụng các biện pháp có tác dụng tương đương việc quốc hữu hóa hoặc trưng dụng trên lãnh thổ và trong vùng biển của hai Quốc gia ký kết, ngoại trừ vì mục đích công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, thì sẽ được hưởng sự đền bù ngay lập tức, đúng mức và thích đáng và điều kiện các biện pháp khác có được

Trang 30

thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử và phù hợp với thủ tục pháp lý thông thường”

Như vậy, xét về góc độ quốc gia, thì ưu đãi đầu tư không chỉ bao gồm các biện pháp, điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các chế độ ưu đãi của nước nhận đầu tư mà có thể bao gồm cả các vấn đề liên quan đến quốc hữu hóa, trưng dụng của nước nhận đầu tư đối với các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài

1.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến ưu đãi đầu tư

Như đã phân tích ưu đãi đầu tư là việc tạo ra các điều kiện thuận lợi hơn giữa nhà đầu tư này với nhà đầu tư khác, nếu như các nhà đầu tư đầu tư vào các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn đầu tư mà nhà nước cho phép được hưởng các ưu đãi đầu tư Như vậy, khi ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư

sẽ góp phần tạo ra sức cạnh tranh rất lớn giữa các nhà đầu tư, sự cạnh tranh ở đây thể hiện công bằng dưới sự quản lý của nhà nước

Ưu đãi đầu tư có tầm quan trọng rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư, nó tạo ra một động lực mà các nhà đầu tư lấy động lực đó để tiến hành các hoạt động đầu tư Tuy nhiên, trong bối cảnh giữa các quốc gia có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế xã hội, mà ở đó mỗi quốc gia sẽ có những chính sách ưu đãi đầu tư khác nhau Ở Việt Nam, hiện tại là một quốc gia đang phát triển, đang từng bước công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Do đó, vấn đề xây dựng nền kinh tế đang là nhiệm vụ trọng tâm, làm cách nào

để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều không chỉ

là nhiệm vụ của Trung ương, mà ngay cả các địa phương cũng có ban hành những ưu đãi khác để cho hoạt động đầu tư ngày càng nhiều hơn Những nhân

tố ảnh hưởng những đến ưu đãi đầu tư bao gồm:

Thứ nhất, hoạt động quản lý đầu tư nước ngoài của nhà nước

Trang 31

Nhà nước là người quản lý xã hội thông qua rất nhiều công cụ, một trong các công cụ đó chính là pháp luật Pháp luật về đầu tư nói chung và pháp luật ưu đãi đầu tư nói riêng đều là những văn bản pháp luật do nhà nước ban hành để quản lý đối với hoạt động ưu đãi đầu tư nói riêng và hoạt động đầu tư nói chung Mỗi địa phương có những chính sách khác nhau về ưu đãi đầu tư tuy nhiên, nhìn chung các ưu đãi do các địa phương ban hành không được trái với mục đích cơ bản mà nhà nước đã ban hành dựa trên pháp luật về

đầu tư Điển hình là, luật đầu tư năm 2014 quy định tại điều 15 như sau: “áp dụng thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường

có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp” Theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp thì

hiện nay mức thuế áp dụng cho thuế thu nhập doanh nghiệp là 22% Như vậy nếu nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi đầu tư thì sẽ được hưởng mức thuế suất thấp hơn với mức thuế do nhà nước quy định Tuy nhiên mỗi địa phương tùy theo tình hình phát triển của mình mà có thể đưa ra các mức thuế suất khác nhau để thu hút đầu tư vào địa phương mình, đa phần mức thuế suất đối với các địa phương là không giống nhau, nhưng phải đảm bảo các điều kiện

do pháp luật quy định về hưởng các ưu đãi đầu tư

Như vậy, nếu nhà nước có sự thay đổi về các chính sách quản lý về hoạt động đầu tư thì cũng sẽ ảnh hưởng đến các văn bản luật liên quan đến hoạt động đầu tư trong đó có ưu đãi đầu tư Do đó, sự quản lý nhà nước về đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến ưu đãi đầu tư

Thứ hai, sự phát triển kinh tế xã hội giữa các địa phương

Hiện nay, cả nước có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Mỗi tỉnh, thành phố điều có những điều kiện kinh tế, xã hội không giống nhau, theo báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 06 tháng đầu năm 2015 thì cả nước có 42 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư nước ngoài

Trang 32

Trong đó TP Hồ Chí Minh là địa phương thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,12 tỷ USD, chiếm 20,5% tổng vốn đầu tư đăng ký Đồng Nai đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,03 tỷ USD, chiếm 18,8% Hải Phòng đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 433,7 triệu USD, chiếm 7,9%

Như vậy, tùy thuộc vào tình hình kinh tế địa phương mà sẽ có sự đầu tư nước ngoài khác nhau, nơi nào có nền kinh tế phát triển sẽ nhận được nhiều

dự án đầu tư nước ngoài hơn so với các địa phương có nền kinh tế chưa phát triển Điều này sẽ tạo ra một cơ chế riêng biệt đó là, các địa phương có nền kinh tế phát triển sẽ ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư thấp hơn so với các địa phương có nền kinh tế chưa phát triển, các địa phương có nền kinh tế chưa phát triển sẽ đưa ra các ưu đãi đầu tư hấp dẫn nhất có thể để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào địa phương đó

Như vậy, tình hình phát triển kinh tế của mỗi địa phương cũng ảnh hưởng đến ưu đãi đầu tư

Thứ ba, sự cạnh tranh giữa các địa phương

Do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các địa phương, để thu hút nguồn vốn đầu tư vào địa phương mình, các nhà quản lý địa phương cần phải tìm ra một phương án để có thể lôi kéo các nhà đầu tư, một trong các biện pháp đó chính là việc ban hành các ưu đãi đầu tư

Muốn làm được điều đó, bản thân các địa phương phải thực hiện các hoạt động cạnh tranh lành mạnh không trái với pháp luật cũng như các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết liên quan đến hoạt động đầu tư, sự cạnh tranh này thể hiện ở dưới dạng: ban hành các văn bản điều chỉnh hoạt động ưu đãi đầu tư để cho các nhà đầu tư thấy được quyền lợi, lợi ích của mình khi đầu tư vào địa phương đó; Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, làm cho các nhà đầu tư tránh khỏi các thủ tục ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của các nhà

Trang 33

đầu tư; Nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý về hoạt động đầu tư; Nâng cao

cơ sở hạ tầng để các nhà đầu tư có đủ điều kiện để đầu tư

Có thể thấy, ở mỗi địa phương khác nhau sẽ ban hành các chính sách khác nhau để có thể thu hút đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, và một trong những chính sách đó chính là ban hành các ưu đãi đầu tư phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của địa phương mình Đặc biệt cần phải nhấn mạnh đến công tác quản lý các dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, bởi lẽ hiện nay các dự án đầu tư nước ngoài đang gặp rất nhiều vấn đề trong đó có vấn đề hoàn thành dự án, tránh tình trạng các dự án treo, chậm tiến độ ảnh hưởng đến

sự phát triển của địa phương

Thứ tư, nhu cầu hội nhập

Nhu cầu hội nhập ngày càng lớn giữa các quốc gia, do đó các quốc gia đang tiến hành hợp tác không chỉ về vấn đề chính trị mà còn biểu hiện ở nhu cầu kinh tế Các quốc gia sẽ tạo những điều kiện thuận lợi để cho các nhà đầu

tư nước ngoài đầu tư Những quốc gia nào có nền kinh tế chậm hoặc đang phát triển, thông thường nhu cầu kinh tế sẽ tăng cao, do đó việc huy động ngoại lực luôn là vấn đề cấp thiết, đứng trước bối cảnh như vậy, Việt Nam cũng tiến hành các ưu đãi đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

để tạo điều kiện tốt nhất về các ưu đãi đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài yên tâm thực hiện dự án đầu tư Vì vậy nhu cầu hội nhập kinh tế cũng là nhân tố

ảnh hưởng đến chính sách đầu tư của một quốc gia

Hiến pháp năm 2013 ra đời, về cơ bản vẫn kế thừa những tinh hoa của các bản hiến pháp trước đó, tuy nhiên các nội dung về chế định kinh tế đã có

sự thay đổi tư duy đáng kể, từ: “kinh doanh những ngành nghề nào pháp luật cho phép” thành: “kinh doanh những ngành nghề nào pháp luật không cấm”

Đã tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng Hơn nữa với sự hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam tiến hành tham gia Hiệp định hợp tác

Trang 34

kinh tế xuyên Thái Bình Dương ( TPP), chính thức tham gia Cộng đồng kinh

tế Asean đều này làm cho các văn bản luật trong nước phải thay đổi để phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế hiện nay Do đó, ngày 26 tháng 11 năm

2014 Quốc hội tại kỳ họp thứ 8 đã chính thức thông qua luật đầu tư số 67/2014/QH13 có hiệu lực thi hành ngày 1 tháng 7 năm 2015

Có thể nói, luật đầu tư năm 2014 đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, luật đầu tư năm

2014 đã có sự bổ sung cần thiết cho luật đầu tư năm 2005 chưa điều chỉnh hoặc điều chỉnh nhưng không còn phù hợp với các quan hệ đầu tư hiện nay

1.5 Ưu đãi đầu tư theo luật đầu tư năm 2014

Luật đầu tư năm 2014 đã có hiệu lực, đồng nghĩa với việc luật đầu tư năm 2005 sẽ hết hiệu lực thi hành Tuy nhiên, xét về phương diện thực tế mà nói thì những đóng góp luật đầu tư năm 2005 cần phải được ghi nhận bởi lẽ luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07 năm 2015 do đó quy định của luật đầu tư năm 2014 sẽ chưa đi vào cuộc sống nhiều, vì vậy nghiên cứu các quy định của luật đầu tư năm 2005 sẽ là tiền đề là cơ sở trong việc phân tích, đánh giá, làm rõ các quy định của luật đầu tư 2014

Luật đầu tư năm 2014 quy định rất cụ thể về ưu đãi đầu tư, trong đó có thể phân tích đánh giá ở nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau nhưng nhìn chung

có thể đánh giá hoạt động ưu đãi đầu tư đa phần tập trung vào vấn đề tài chính

là nhiều nhất Cụ thể như sau:

1.5.1 Ưu đãi về thuế

Thuế là một trong những nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, xét ở góc độ tương quan giữa nhà nước và doanh nghiệp thì hoạt động doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm tạo ra một khoản ngân sách cho nhà nước, từ đó nhà nước sẽ dùng ngân sách đó để cung cấp, điều phối

Trang 35

các hoạt động trong quản lý nhà nước về doanh nghiệp trong đó có một phần dịch vụ của nhà nước

Như vậy, nhà nước muốn tồn tại được thì phải có ngân sách, doanh nghiệp muốn làm ăn có hiệu quả thì các thủ tục về hành chính doanh nghiệp phải thông thoáng và hiệu quả Từ đó xuất hiện mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế và doanh nghiệp

Trong bối cảnh nhà nước đang thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì việc ưu đãi về thuế có tác dụng rất to lớn Như đã trình bày, mục đích của các nhà đầu tư, đầu tư vào Việt Nam là tìm kiếm lợi nhuận mà thuế là một khoản tiền rất lớn mà các nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện nghĩa vụ cho nhà nước Không phải bất kì một nhà đầu tư nào khi đầu tư vào Việt Nam điều được hưởng những quyền lợi ưu đãi về thuế, mà ở đó nhà đầu

tư nước ngoài phải đáp ứng được những điều kiện cơ bản theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là pháp luật về đầu tư Theo đó, nhà đầu tư khi được hưởng các ưu đãi đầu tư khi thuộc một trong các đối tượng như sau:

Một là, dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo quy định của

pháp luật về đầu tư Tại Điều 16 của Luật đầu tư năm 2014 quy định những ngành nghề sẽ được hưởng ưu đãi đầu tư bao gồm:

a) Hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao; hoạt động nghiên cứu và phát triển;

b) Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết kiệm năng lượng;

c) Sản xuất sản phẩm điện tử, sản phẩm cơ khí trọng điểm, máy nông nghiệp, ô tô, phụ tùng ô tô; đóng tàu;

d) Sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may, da giày

và các sản phẩm quy định tại điểm c;

Trang 36

đ) Sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số; e) Nuôi trồng, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; trồng và bảo vệ rừng; làm muối; khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi, sản phẩm công nghệ sinh học;

g) Thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải;

h) Đầu tư phát triển và vận hành, quản lý công trình kết cấu hạ tầng; phát triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị;

i) Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp;

k) Khám bệnh, chữa bệnh; sản xuất thuốc, nguyên liệu làm thuốc, thuốc chủ yếu, thuốc thiết yếu, thuốc phòng, chống bệnh xã hội, vắc xin, sinh phẩm

y tế, thuốc từ dược liệu, thuốc đông y; nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học để sản xuất các loại thuốc mới;

l) Đầu tư cơ sở luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết tật hoặc chuyên nghiệp; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

m) Đầu tư trung tâm lão khoa, tâm thần, điều trị bệnh nhân nhiễm chất độc màu da cam; trung tâm chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ em lang thang không nơi nương tựa;

n) Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô

Về cơ bản, luật đầu tư năm 2014 [29]đã mở rộng rất nhiều ngành nghề

ưu đãi đầu tư so với luật đầu tư năm 2005 Tại Điều 27 của luật đầu tư năm

2005 chỉ quy định 8 lĩnh vực ưu đãi đầu tư bao gồm: (1) Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo; (2) Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới; (3) Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao; (4) Sử dụng nhiều lao động; (5) Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, các dự án quan trọng, có

Trang 37

quy mô lớn; (6) Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao

và văn hóa dân tộc; (7) Phát triển ngành, nghề truyền thống; (8) Những lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích

Điều này hoàn toàn phù hợp trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, việc mở rộng về lĩnh vực ngành nghề đầu tư, bổ sung những lĩnh vực mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư ngày càng đầu tư nhiều vào Việt Nam

Hai là, dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp

luật về đầu tư

Theo luật đầu tư năm 2014 thì địa bàn ưu đãi đầu tư bao gồm:

Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Để xác định địa bàn có điều kiện kinh tế -

xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn phải dựa trên chủ trương phê duyệt của Thủ tướng chính phủ từng giai đoạn

cụ thể, hiện nay chưa có tiêu chí xác định thế nào là địa bàn có điều kiện kinh

tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn Tuy nhiên việc xác định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn dựa vào các văn bản sau: Quyết định số 2045/ QĐ – TTg ngày 10 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới,

xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2014 và 2015; Quyết định số 539/ QĐ- TTg ngày 1 tháng 04 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển

và hải đảo giai đoạn 2013 – 2015; Quyết định số 495/QĐ – TTg ngày 8 tháng

4 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013 – 2015; Quyết định số 30/2010/ QĐ- TTg ngày 18 tháng 07 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và

Trang 38

miền núi giai đoạn 2012 – 2015

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc xác định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn phụ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể do Thủ tướng phê duyệt, do đó các nhà đầu đầu tư nước ngoài khi thực hiện các dự án đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn

để được hưởng các ưu đãi đầu tư thì cần phải xác định vùng đó có nằm trong danh mục thuộc đối tượng có địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn không?

Ba là, dự án đầu tư có quy mô lớn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện

giải ngân tối thiều 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư

Như vậy, đối với trường hợp này, nhà đầu tư muốn được hưởng các ưu đãi đầu tư thì trước hết phải có nguồn vốn đầu tư có quy mô từ 6.000 tỷ đồng trở lên và phải cam kết thực hiện giải ngân nguồn vốn tối thiểu 6.000 tỷ đồng trở lên trong thời hạn 03 năm kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư

Trong một số trường hợp, các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam đăng ký với một lượng vốn đầu tư lớn để được hưởng các ưu đãi của nhà nước, tuy nhiên đến khi tiến hành giải ngân thực hiện dự án lại chậm tiến độ gây ảnh hưởng đến hoạt động quản lý kinh tế xã hội của nhà nước cũng như tình trạng lãng phí, gây bức xúc trong xã hội Để khắc phục hậu quả

đó, Luật đầu tư năm 2014 đã kèm theo điều kiện đó là phải cảm kết giải ngân nguồn vốn tối thiểu đã cam kết trong thời hạn 03 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư

Bốn là, dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên

Luật đầu tư năm 2005 quy định lĩnh vực ưu đãi đầu tư khi nhà đầu tư

có dự án đầu tư sử dụng nhiều lao động, tuy nhiên các văn bản hướng dẫn luật đầu tư năm 2005 lại không có một văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là sử

Trang 39

dụng nhiều lao động, điều này dẫn đến một hệ lụy các nhà đầu tư mong muốn được hưởng các ưu đãi đầu tư, nhưng lại không biết phải thu hút bao nhiêu nguồn lao động để đủ điều kiện hưởng các ưu đãi đầu tư Do đó, luật đầu tư năm 2014 đã xác định rõ hai điều kiện để nhà đầu tư có thể được hưỡng các

ưu đãi đầu tư đó là: phải có dự án ở nông thôn và sử dụng đến 500 lao động trở lên

Điều này xuất phát từ việc đang cân bằng sự phát triển giữa nền kinh tế nông thôn và thành thị, từng bước đô thị hóa một số vùng nông thôn trong quy hoạch để xây dựng một đất nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa theo chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước

Như vậy, nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư thuộc một trong bốn trường hợp nêu trên thì sẽ được hưởng ưu đãi về thuế, tại điểm a khoản 1

Điều 15 luật đầu tư năm 2014 quy định “áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp” còn tại điểm b khoản 1 Điều 15 luật đầu tư năm 2014 tiếp tục quy định “ miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư”[29]

Đối với ưu đãi về tài chính đặc biệt là thuế thì luật đầu tư đã quy định

về hình thức ưu đãi bao gồm: áp dụng thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp hơn so với mức thuế thông thường, giảm và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp

và miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư Tuy nhiên luật đầu tư

và các văn bản hướng dẫn lại không quy định các trường hợp cụ thể, chúng ta cần phải đối chiếu theo quy định của pháp luật về thuế để xem xét các trường hợp được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 40

Đối với thuế nhập khẩu, luật đầu tư quy định được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tái tạo tài sản cố định, nguyên liệu, vật

tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư

1.5.2 Ưu đãi về các quyền liên quan đến sử dụng đất

Hiến pháp 2013 điều 53 quy định“Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Luật đất đai

2013 điều 5 quy định về người sử dụng đất “người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này” Như vậy các nhà đầu tư nước

ngoài tiến hành hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam sẽ chịu ràng buộc bởi các quy định của pháp luật Việt Nam trong đó có pháp luật về đất đai Các nhà đầu tư nước ngoài có thể được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất để tiến hành các hoạt động đầu tư Tuy nhiên hiện tại để các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư một cách có hiệu quả, tạo tâm lý vững chắc khi đầu tư trong các danh mục lĩnh vực, địa bàn đầu tư đã được nhà nước quy định thì nhà nước luôn tạo điều kiện tốt nhất, trong đó có ưu đãi về đất đai như: miễn, giảm tiền thuê đất, tiền

sử đụng đất, thuế sử dụng đất

Một là, miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước và tiền sử dụng đất

Khi nhà đầu tư tiến hành các hoạt động đầu tư có dự án thuộc trong

trường hợp sau đây: “(1) Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (2) Dự án

sử dụng đất xây dựng nhà chung cư cho công nhân của các khu công nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt bao gồm cả giá bán hoặc giá cho thuê nhà, trong cơ cấu giá bán hoặc giá cho thuê nhà không có chi phí về

Ngày đăng: 10/10/2016, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Kỷ yếu hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2013
34. Bùi Thị Thúy Triều (2009), Quyền thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Thúy Triều
Năm: 2009
35. ThS. Nguyễn Văn Tuấn (2005): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế ở Việt Nam”, NXB.Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: ThS. Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: NXB.Tư Pháp
Năm: 2005
22. Cơ quan của hội luật gia Việt Nam Báo an ninh tiền tệ http://antt.vn/ Link
1. Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2013, kế hoạch năm 2014 tỉnh Quảng Ninh ngày 17 tháng 12 năm 2013 Khác
2. Báo cáo tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2014, kế hoạch năm 2015 tỉnh Quảng Ninh ngày 18 tháng 12 năm 2014 Khác
3. Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài trên địa bản tỉnh Quảng Ninh cả năm 2015 và kế hoạch năm 2016 QĐ số 111/KHĐT-KTĐN ngày 13 tháng 1 năm 2016 Khác
4. Báo cáo tổng kết 25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Quảng Ninh ngày 30 tháng 8 năm 2012 Khác
5. Bộ tài chính (2013) Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ tài chính, hướng dẫn thi hành Nghị đinh số 218/2014/NĐ-CP Khác
6. Bộ tài chính (2014) Thông tư 77/2014/TT-BTC ngày 16/06/2014, hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 46/2014 ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ về quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước Khác
8. Bộ tài chính ( 2015 ) Thông tư 204/2015/TT-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Khác
9. Chính phủ (1977) Nghị định số 115/CP ban hành điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày 18 tháng 04 năm 1977 Khác
10. Chính phủ (2005) Nghị định 149/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Khác
11. Chính phủ (2006) Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư Khác
14. Chính phủ (2006) 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có diều kiện Khác
15. Chính phủ (2013) Nghị định 83/2013/NĐ-CP Ngày 22/07/2013 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế Khác
16. Chính phủ (2013) Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của chính phủ về thuế thu nhập doanh nghiệp Khác
17. Chính phủ (2013) Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật thuế giá trị gia tăng Khác
18. Chính phủ (2014) Nghị định số 46/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước ngày 15/05/2014 Khác
19. Chính phủ (2014) Nghị đinh số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w