1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở lâm đồng

88 447 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng, trong đó có liên kết của hộ nông dân với các chủ thể trong chuỗi cung ứng đóng vai trò then chốt để giải quyết những vấn đề nêu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ANH VŨ

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận văn của mình được thực hiện dựa vào sự hiểu biết và quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, cố gắng thực hiện của bản thân cùng với sự hướng dẫn tận tình của TS Lê Anh Vũ (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng) Công trình nghiên cứu này của tôi không sao chép bất kì nghiên cứu của cá nhân hay tổ chức nào Các thông tin, tư liệu, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và được trích dẫn nguồn gốc tài liệu tham khảo rõ ràng

Hà Nội, ngày 29 tháng 6 năm 2016

Học viên thực hiện

Vũ Thị Chanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và các cán bộ, giáo viên tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn Lâm khoa học Xã hội Việt Nam, đặc biệt là Khoa Kinh tế học đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, học tập trong suốt thời gian vừa qua

Đặc biệt cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Anh Vũ (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng), đã chỉ bảo, hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo, các đồng nghiệp tại

cơ quan tôi đang công tác đã thông cảm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ thời gian, công việc và tài liệu tham khảo; tới gia đình và các bạn bè xung quanh đã động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng, song hiểu biết và năng lực bản thân còn hạn chế nên chắc chắn luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được

sự quan tâm và đóng góp ý kiến của các cá nhân, bạn bè quan tâm để luận văn được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 29 tháng 6 năm 2016

Học viên

Vũ Thị Chanh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN 9

1.1 Liên kết kinh tế và tiếp cận liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản 9 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản 19 1.3 Kinh nghiệm liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản tại một số nước trên thế giới 20

Chương 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG RAU Ở LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2011-2015 26

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng 26

2.2 Khái quát sự phát triển ngành rau ở Lâm Đồng 31

2.3 Chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng 38

2.4 Thực trạng liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng 50

2.5 Một số mô hình liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng 57

2.6 Đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng 59

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG RAU Ở LÂM ĐỒNG,GIAI ĐOẠN 2017 - 2025 64

3.1 Bối cảnh 64

3.2 Quan điểm liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng 68

3.3 Một số giải pháp tăng cường liên kết chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng 69 KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Hiện trạng diện tích gieo trồng rau Huyện/Thành phố (ha) 32Bảng 2.2: Chủng loại của các nhóm rau chính được sản xuất tại Lâm Đồng 33Bảng 2.3: Sản lượng rau tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015 (tấn) 34Bảng 2.4: Diện tích gieo trồng (canh tác) rau ứng dụng công nghệ cao tính đến năm 2015 35Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu rau tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 –

2015 37Bảng 2.6: Tình trạng đầu vào nguyên liệu sản xuất rau củ quả ở Lâm Đồng 39

DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP VĂN BẢN

Hình 2.1: Chuỗi cung ứng rau tỉnh Lâm Đồng 44Hộp 1: Tổ hợp tác rau ở xã Lạc Lâm, huyện Đơn Dương 52Hộp 2: Tình trạng đóng gói sản phẩm của Hợp tác xã Anh Đào 54

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, sản xuất và kinh doanh hàng nông sản nói chung và sản phẩm rau nói riêng của nước ta còn manh mún, tự phát, sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản thấp, giá thành cao, chất lượng chưa phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của thị trường, sự liên kết giữa sản xuất – kinh doanh - chế biến- tiêu thụ còn lỏng lẻo Trong những năm gần đây, sản xuất rau ở nước ta đã dần đi vào ổn định, tăng trưởng về số lượng và cải thiện về chất lượng Các địa phương có lợi thế sản xuất rau luôn bổ sung cho nhau nhằm ổn định thị trường rau Tuy nhiên, sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi ngành rau còn nhiều bất cập, hạn chế, thiếu bền vững

Nông nghiệp của Lâm Đồng là nông nghiệp đặc trưng, có một số sản phẩm chủ lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu như chè, hoa, rau, tiêu Là tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, có nhiều lợi thế về thổ nhưỡng và khí hậu để phát triển các cây trồng có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới Dựa vào thế mạnh này, Lâm Đồng đã hình thành một vùng chuyên canh rau lớn nhất cả nước, tập trung chủ yếu tại thành phố Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng

Nghề trồng rau ở Lâm Đồng vốn có từ lâu đời và hiện nay dưới tác động của kinh tế thị trường, người dân đã biết kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống với khoa học kỹ thuật hiện đại trong canh tác, tạo nên sự đa dạng về chủng loại, gia tăng sản lượng và giá trị kinh tế Thế nhưng, một thực tế nghiệt ngã là, càng tăng sản lượng người dân vùng này lại càng lo tình trạng

“được mùa rớt giá” vì không tự quyết định được đầu ra cho sản phẩm.Ngành sản xuất rau công nghệ cao của tỉnh chưa phát triển đúng tầm, bởi hầu hết các vùng sản xuất rau chính ở các địa phương của tỉnh còn manh mún, nặng về phương thức truyền thống lâu đời Bên cạnh đó, chưa có sự quy hoạch toàn

Trang 9

2

diện, sản xuất rau an toàn trong nhà màng, nhà lưới, rau mầm,… chưa nhiều, chưa có nhiều hộ sản xuất rau an toàn theo VietGAP, chưa được tổ chức thành hệ thống và liên kết trên quy mô lớn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm Việc áp dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên rau còn tùy tiện Đầu ra của sản phẩm chưa ổn định, phụ thuộc mạnh vào các thương lái thu mua nhỏ

và ép giá, chưa được bao tiêu sản phẩm Hơn nữa, nông dân không chủ động được giống, thiếu vốn sản xuất lẫn thông tin thị trường, cán bộ khuyến nông chuyên về rau chưa nhiều

Để phát triển nông nghiệp cao hơn, tham gia sâu hơn vào phân công lao động quốc tế, tham gia liên kết trong nội vùng Tây Nguyên, liên kết các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế Vấn đề liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau

ở Lâm Đồng, trong đó có liên kết của hộ nông dân với các chủ thể trong chuỗi cung ứng đóng vai trò then chốt để giải quyết những vấn đề nêu trên Luận văn nghiên cứu những lợi thế so sánh của tỉnh, sự phát triển nông nghiệp của Lâm Đồng, từ đó góp phần nghiên cứu và đề ra các giải pháp tăng cường liên kết

phát triển chuỗi cung ứng rau cho tỉnh Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài

“Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng” làm đề tài luận văn thạc

sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hirschman (1958) cho rằng Liên kết bao gồm các liên kết ngược

(Backward linkage) và liên kết xuôi (Forward linkage) Trong đó, các hiệu

ứng liên kết ngược nảy sinh từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành nào

đó; còn hiệu ứng liên kết xuôi phát sinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các hoạt động kéo theo Từ quan điểm của Hirschman, nhiều tác giả sau này đã quan tâm đến các liên kết ngược giữa nông nghiệp và các ngành cung ứng đầu vào cho nông nghiệp, liên kết xuôi giữa hoạt động nông nghiệp với các hoạt động phân phối và chế biến

Trang 10

3

Tiếp cận liên kết cụm ngành M Porter (1990) cho rằng Cụm ngành là một nhóm các công ty, các tổ chức hiệp hội liên quan với nhau trong một lĩnh vực cụ thể, cùng tập trung tại một khu vực địa lý, liên kết dựa vào những khía cạnh tương đồng và bổ sung

Giroud và Scott (2006) và nhiều nghiên cứu khác đã phân biệt hai loại liên kết: liên kết dọc (vertical linkages) và liên kết ngang (horizontal linkages) Hazell & Roell (1983) cũng chỉ ra các hình thức liên kết trong mô hình liên kết nông nghiệp và CNCB như liên kết giữa các hộ sản xuất với nhau, giữa hộ sản xuất với DN chế biến và với thương lái

Các nghiên cứu về nội dung liên kết

Nghiên cứu nền nông nghiệp hợp đồng, thiết lập cơ sở pháp lý đảm bảo cho lợi ích của nông dân trong liên kết nông nghiệp với công nghiệp chế biến,

cụ thể hơn là nhà doanh nghiệp chế biến với người nông dân, Humphrey, J and Schmitz (2000) đã nhấn mạnh các liên kết giữa hộ nông dân với doanh nghiệp chế biến, thường dẫn đến thua thiệt cho hộ nông dân Nông nghiệp hợp đồng là một hệ giải pháp để có thể giúp giảm thiểu những rủi ro đó Song, nếu nhà nước không có những giải pháp kiểm soát sẽ rất khó có thể đảm bảo được lợi ích thực thụ của nông dân tham gia chuỗi cung ứng Ở các vùng có lợi thế so sánh sản xuất quy mô lớn nguyên liệu cho DN chế biến thì sự liên kết CN và NN chế biến lại có ý nghĩa quyết định đến lợi ích gia tăng của DN

và NN Ở cấp độ nhà nước địa phương, liên kết trong thực thi các giải pháp giám sát, theo dõi và đánh giá các quy hoạch mà nhà nước đã xây dựng mang tính thực tiễn cao cho vùng Phối hợp liên ngành là hết sức cần thiết để thực thi các giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn

Theo Sykuta và Parcell (2003), sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp đưa ra những luật lệ cho việc giao dịch nông sản qua việc phân

bổ thật rõ ba yếu tố chính: lợi ích, rủi ro, và quyền quyết định Thực hiện

Trang 11

4

nông nghiệp hợp đồng là hệ giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn là ND thiết thòi trong quan hệ với DN chế biến và DN thu mua Hệ giải pháp thực hiện nông nghiệp hợp đồng mang tính đồng thuận giữa ND, DN và những người quản lý ở các địa phương có các vùng chuyên canh

Các nghiên cứu tiếp cận liên kết chuỗi

Tiếp cận nghiên cứu liên kết theo chuỗi được sử dụng nhiều trong nghiên cứu liên kết kinh tế theo cụm ngành và liên kết theo lãnh thổ kinh tế theo sự phân bố không gian địa - kinh tế của chuỗi Somuah và các cộng sự (2013) đã phân tích liên kết ở cấp độ vĩ mô trong thực thi chính sách nông nghiệp và phát triển cụm ngành CNCB dựa trên bản đồ hóa các chuỗi giá trị

và cho rằng, sự gắn kết giữa các lãnh thổ để hỗ trợ cho chuỗi sản xuất lúa gạo chưa được thiết lập Sự chia cắt giữa các vùng nông nghiệp với các doanh nghiệp chế biến cũng làm cho việc giảm sút mức độ tiếp cận dinh dưỡng từ những sản phẩm chế biến đa dạng khác và nâng cao giá trị gia tăng cho sản xuất nông nghiệp của Ghana

Khi phân tích quản trị trong Global Value Chains, Humphrey và Schmitz (2001) đã làm rõ vai trò hoạch định chính sách phát triển các cụm ngành kết nối chuỗi cung cứng toàn cầu Trong một quốc gia, việc phân bố các chuỗi giá trị để có thể liên kết được chuỗi cung ứng toàn cầu phải được các địa phương phối hợp với nhau thực thi chính sách hỗ trợ chuỗi, hỗ trợ marketting ; tạo sự minh bạch trong tiếp cận thông tin thị trường nội địa và toàn cầu, liên kết chuyển giao công nghệ trong các cụm ngành của chuỗi cung ứng; phân tích những thay đổi trong chuỗi cung ứng nhằm ứng phó với những thách thức khủng hoảng kinh tế

Michael E Porter (1990), đã phân tích các liên kết bên trong và khu vực địa lý của chuỗi và nhấn mạnh “các liên kết tạo ra cơ hội giảm chi phí thông qua hai cơ chế: điều phối và tối ưu hóa” Ông đã xem xét vấn đề vị trí

Trang 12

5

địa lý hoạt động chuỗi giá trị có ảnh hưởng đến các chi phí hoạt động của chuỗi Ông nhấn mạnh, vị trí địa lý phản ánh lựa chọn chính sách, và một số khía cạnh văn hóa truyền thống, hoặc do tính chuyên môn hóa đầu vào.Các nghiên cứu phổ biến liên quan đến thị trường như liên kết bốn nhà; liên kết

ND – DN; liên kết DN với nhau Mô hình liên kết 4 nhà được đề cập đến trong các nghiên cứu của Võ Hữu Phước (2014)[9], Võ Thị Kim Sa (2013) [10], Ma Ngọc Ngà (2014) [8]

Những nghiên cứu về liên kết kinh tế của hộ nông dân: Liên kết kinh tế

của hộ nông dân được đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Đồng và Lê Anh Vũ (2016), bản chất của liên kết kinh tế là sự hợp tác cùng phát triển của hai hay nhiều bên không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mối quan hệ liên kết, chính là bảo đảm về lợi ích của các bên tham gia liên kết kinh tế Do đó, các bên tất yếu sẽ liên kết với nhau nhằm đảm bảo, gia tăng lợi ích của mình Liên kết nông dân – doanh nghiệp cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong đó Hồ Quế Hậu đã đưa ra khá đầy đủ về nội dung, các tiêu chí và các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên kết này đồng thời phân tích tổng quát về thực trạng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến nông sản Việt Nam trong thời gian qua Mối liên kết này còn được đề cập đến dưới một tên gọi khác là nông nghiệp hợp đồng trong một số nghiên cứu gần đây của Lê Hữu Ảnh, Bảo Trung

Cho đến nay đa số các tác giả nghiên cứu về vấn đề liên kết kinh tế của hộ nông dân trên từng lĩnh vực nhỏ khác nhau như nghiên cứu về quan hệ kinh tế với hộ nông dân thông qua các hợp đồng sản xuất tại các vùng chè và mía ở Sơn

La của tác giả Nguyễn Thị Hà (2010), Nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân ở tỉnh Thái Bình của tác giả Vũ Đức Hạnh (2015)

Các nghiên cứu về chuỗi cung ứng rau

Trang 13

Hồ Thanh Sơn và Đào Thế Anh (2006) tổng hợp 4 kênh cung ứng rau an toàn tại Hà Nội, trong đó người sản xuất bán 85% sản lượng rau an toàn cho người thu gom, 10% cho các công ty trung gian và tỷ lệ rất ít còn lại được bán cho người bán lẻ hoặc cho khách hàng tiêu dùng Nghiên cứu chỉ ra rằng vấn

đề của người sản xuất rau an toàn là làm thế nào để người người tiêu dùng tin

và mua sản phẩm rau an toàn, đồng thời kiến nghị cần phải có cơ chế hợp đồng để đảm bảo chất lượng rau cung cấp và thực hiện phạt hợp đồng nếu có

sự vi phạm ở cả các bên Tuy nhiên nghiên cứu này chưa chỉ ra được các biến động thị trường cũng như những rủi ro của người nông dân khi tham gia chuỗi cung ứng này

Đa số chuỗi cung ứng được nghiên cứu cho các doanh nghiệp, có một

số ít nghiên cứu trong nước đề cập đền chuỗi cung ứng hàng nông sản và sự tham gia của người nông dân trong chuỗi cung ứng hàng nông sản Cũng hầu như chưa có nghiên cứu nào về liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản, gắn kết người nông dân với thị trường nông sản trong nước và toàn cầu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về liên kết

phát triển chuỗi cung ứng nông sản, thực trạng liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau tại Lâm Đồng, luận văn đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng

Mục tiêu cụ thể

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn

đề liên quan đến liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng

Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu về liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau có nội dung rất rộng, bao gồm liên kết trong mua nguyên vật liệu; liên kết trong quá trình sản xuất, chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng; liên kết trong phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả Trong khuôn khổ phạm vi luận văn Thạc

sỹ, tác giả tập trung nghiên cứu liên kết trong tiêu thụ sản phẩm rau, những vấn đề về liên kết cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, liên kết trong sản xuất cũng được đề cập nhưng ở mức nhất định

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Thu thập tài liệu thứ cấp: Đề tài thu thập, phân tích và khai thác thông tin

từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức cá nhân liên quan hoặc gián tiếp đến liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản ở nước ta nói chung và ở Lâm Đồng nói riêng Đồng thời, đề tài thu thập các tài liệu của các tổ chức và các học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài trong thời gian qua

Trang 15

8

Đề tài kết hợp cùng các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phương pháp phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách

Để thu thập số liệu mới luận văn tiến hành điều tra thực địa tại một số xã, huyện và hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Trong đợt điều tra thực địa, luận văn sử dụng phương pháp chính là phương pháp phỏng vấn sâu các hộ nông dân ở huyện Đơn Dương, Đức Trọng, phỏng vấn sâu một số trang trại và các hợp tác xã sản xuất rau trên địa bàn thành phố Đà Lạt

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết phát triển

chuỗi cung ứng nông sản

Chương 2: Thực trạng liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng

giai đoạn 2011-2015

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết phát triển chuỗi

cung ứng rau ở Lâm Đồng giai đoạn,2017- 2025

Trang 16

9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT

PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN 1.1 Liên kết kinh tế và tiếp cận liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản

1.1.1 Liên kết kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm liên kết kinh tế

Đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về liên kết kinh tế Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống thuật ngữ kinh

tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hóa và gần đây mới gọi là liên kết

Trong ngôn ngữ Latinh “Liên kết kinh tế” đựợc viết là “Intergration” hiểu là sự kết hợp, hòa hợp, hợp nhất Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia hướng đến hình thành một không gian kinh

tế thống nhất, rộng lớn, thông qua việc tạo điều kiện cho thị trường thế giới mở rộng, xóa bỏ thuế quan, thay đổi phân công lao động quốc tế, đồng bộ hóa khoa học công nghệ trong khu vực và thế giới nhằm tối đa hóa lợi ích của các nước

Theo David (1999) “Liên kết kinh tế chỉ các tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với

sự tăng trưởng bền vững”

Theo Từ điển Thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và Phổ biến tri thức bách khoa thì: Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước Mục tiêu là tạo ra mối liên kết kinh tế ổn định thông qua các hoạt động

Trang 17

10

kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung, bảo vệ lợi ích cho nhau Liên kết kinh tế là quá trình xâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồng kinh tế để khai thác tốt các tiềm năng của các chủ thể tham gia liên kết Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vị khu vực và quốc tế

Theo Hồ Quế Hậu (2012), Liên kết kinh tế trong kinh tế thị trường

và hội nhập kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh

tế khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế

xã hội chung

Điều 1 quyết định số 38/1989/QĐ-HĐBT ngày10/04/1989 của Hội đồng

bộ trưởng về liên kết kinh tế trong SX lưu thông và dịch vụ: “Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất”

Từ những quan niệm trên, có thể phát biểu tổng quát về liên kết kinh tế

như sau: Liên kết kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế nhằm thực hiện phân công, hiệp tác và chuyên môn hóa nhằm đạt được lợi ích kinh tế, xã hội cao hơn trong sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng và mở rộng thị trường Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách

bù đắp sự thiếu hụt của mình từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên Đây là điểm then chốt nói lên bản chất đích thực của liên kết kinh tế

Trang 18

11

1.1.1.2 Các hình thức, phương thức liên kết

Các hình thức liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các tác nhân là những pháp nhân độc lập rất đa dạng, tuy nhiên có thể nêu các hình thức liên kết cơ bản:

Hợp đồng miệng (Thỏa thuận miệng)

Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó Hợp đồng miệng cũng được các bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, bàn bè, anh em ruột, ) hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên, hợp đồng miệng trong thực tế thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa

 Phương thức liên kết

Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo các phương thức chiều dọc (liên kết dọc) hoặc chiều ngang (liên kết ngang), trong nội bộ ngành hoặc giữa các

Trang 19

12

ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc

tế Cụ thể:

Thứ nhất, liên kết dọc là kiểu liên kết toàn diện nhất bao gồm từ sản

xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian

Trong chuỗi giá trị, liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong các khâu khác nhau của chuỗi như liên kết giữa người sản xuất, là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm) với cung ứng vật tư đầu vào (còn gọi là liên kết ngược), hay với người thu mua và doanh nghiệp chế biến (còn gọi là liên kết xuôi) Mục đích của liên kết dọc là nhằm tiết kiệm các chi phí sản xuất, đảm bảo sự ổn định, chất lượng trong hoạt động của chuỗi thông qua giám sát và quản lý chuỗi

Hai là, liên kết ngang là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức

hay cá nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy mô của tổ chức liên kết Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như Hợp tác

xã, liên minh, hiệp hội và có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định

Trang 20

13

Trong chuỗi giá trị, liên kết ngang là liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu của chuỗi như liên kết giữa những người sản xuất với nhau hay liên kết giữa các doanh nghiệp cùng hoạt động trong cùng lĩnh vực Liên kết ngang nhằm tận dụng lợi thế nhờ quy mô để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi

1.1.2 Chuỗi cung ứng

1.1.2.1 Khái niệm chuỗi cung ứng

Khái niệm chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX

và nó thực sự tạo ra cuộc cách mạng trong nền kinh tế thế giới Cho đến nay,

đã có nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng nông sản Tác giả xin trích lược một số định nghĩa về chuỗi cung ứng như sau:

Ganeshan và cộng sự [24] cho rằng chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng

Quan điểm của Lambert, Stock và Elleam [30, tr.13-15] cho rằng chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp chịu trách nhiệm mang sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường

Theo Mentzer và cộng sự [31, tr.4] lập luận rằng chuỗi cung ứng là tập hợp của 3 thực thể hoặc nhiều hơn (có thể là pháp nhân hoặc thể nhân) liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguyên liệu đến khách hàng

Theo Chopra và Meindl [19] hiểu rằng chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thỏa mãn yêu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chi bao gồm nhà sản xuất và người phân phối mà còn có cả người vận chuyển, nhà xưởng, người bán lẻ và bản thân

Trang 21

14

khách hàng Hay chuỗi cung ứng hiểu một cách đơn giản đó là sự kết nối các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình kinh doanh

Theo Chou và cộng sự : chuỗi cung ứng là mạng lưới toàn cầu nhằm phân phối sản phẩm và dịch vụ từ nguyên liệu ban đầu đến người tiêu dùng cuối cùng thông qua dòng chảy thông tin, phân phối và mua sắm đã được thiết lập

Tác giả Christopher [20] cho rằng, chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng Theo Hội đồng tổ chức chuỗi cung ứng (2010): chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng

Như vậy, theo các định nghĩa đã trích dẫn, về cơ bản một chuỗi cung ứng bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động

cơ bản nhất, gồm:

- Cung cấp: tập trung vào các hoạt động mua nguyên liệu như thế nào? Mua từ đâu và khi nào nguyên liệu được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất

- Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng

- Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả

Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể kết luận rằng: Chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách

Trang 22

15

hàng cuối cùng Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản,

đó là: tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng; hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống

Như vây, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp mà còn liên quan nhà vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng Chuỗi cung ứng chính là một “ thực thể” thống nhất của tất cả các tổ chức, đơn vị thực hiện các chức năng sản xuất, phân phối một loại hàng hóa tới thị trường của nó Về bản chất chuỗi cung ứng được tạo ra từ sự liên kết đa hướng giữa các tổ chức thành viên có năng lực chuyên môn hóa cao, nhằm tận dụng sức mạnh cộng hưởng giữa các thành viên để có được lợi thế cạnh tranh cho toàn chuỗi

1.2.2.2 Thành phần và mục tiêu của chuỗi cung ứng nông sản

Chuỗi cung ứng nông sản bao gồm nhà cung cấp đầu vào nông nghiệp,

nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà phân phối, nhà cung cấp các dịch vụ hỗ trợ ( kho bãi, vận chuyển, thông tin, tài chính ) trong một ngành hàng nông sản cụ thể

Theo Lambert [30] cho rằng một chuỗi cung ứng bao gồm hệ thống các thực thể và các kết nối giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng Hay một chuỗi cung ứng về cơ bản bao gồm các thành phần đó là các pháp nhân (các doanh nghiệp cung ứng, doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ), các tổ chức, các mạng lưới và các thể nhân Sự kết nối giữa các thành tố trên được xem là các kết nối hoặc các mối quan hệ

Một định nghĩa khác của Harland cho rằng một mạng lưới chuỗi cung ứng bao gồm toàn bộ con người, những vật thể hoặc sự kiện được gọi là

Trang 23

16

các thành tố hoặc các nút Hakansson và Snehota (1989), Hakansson và Johasson (1992) đều cho rằng trong phạm vi tiếp cận mạng lưới theo ngành thì các thành tố, các hoạt động và các nguồn lực đều được xác định

Các tác nhân tham gia vào chuỗi cung ứng bao gồm

1 Nhà cung cấp nguyên vật liệu được xem như thành viên bên ngoài-có năng lực sản xuất không giới hạn, có vai trò quan trọng cung cấp nguyên vật liệu cho nhà máy sản xuất, nguồn nguyên liệu có thể nằm ở khắp mọi nơi trên thế giới, các vùng nông thôn hẻo lánh, Trong luận văn nghiên cứu này, nhà cung cấp bao gồm nội địa và nước ngoài được nhà sản xuất lựa chọn tùy thuộc vào năng lực và uy tín của họ

2 Nhà sản xuất có vai trò chế biến thành những sản phẩm phục vụ nhu cầu của cuộc sống Trong luận văn nghiên cứu này, nhà sản xuất chính là hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã, công ty trồng rau

3 Thương lái: Là người thu mua rau trực tiếp từ người sản xuất, thương lái có thể chỉ là người thu mua, cũng có thể là hợp tác xã, doanh nghiệp,công

ty mua sản phẩm với số lượng lớn

4 Nhà bán buôn (siêu thị lớn như Metro,…) có vai trò cung ứng hàng hóa thông qua người bán lẻ hoặc có thể bán trực tiếp ra thị trường nhưng với một

Trang 24

17

7 Ngoài năm nhân tố trên thì một nhân tố khác không thể thiếu đối với chuỗi cung ứng đó là hệ thống vận tải, chuyên chở,…đây là những nhân tố tạo nên sự thành công của một chuỗi cung ứng

1.1.3 Phát triển chuỗi cung ứng nông sản

Phát triển chuỗi cung ứng nông sản là phát triển các liên kết tối ưu giữa các doanh nghiệp/các chủ thể ở các giai đoạn khác nhau từ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, đến sản xuất và cung ứng sản phẩm đầu ra tới người tiêu dùng,một mặt góp phần tận dụng sức mạnh cộng hưởng giữa các thành viên để có được lợi thế cạnh tranh cho toàn chuỗi, mặt khác nhằm tăng hiệu quả hoạt động, đảm bảo hài hòa các lợi ích một cách bền vững của các tác nhân trong chuỗi, góp phần vào sự phát triển ổn định về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường

Phát triển chuỗi cung ứng nông sản là nâng cao được vị thế cạnh tranh, đi vào phát triển một cách bền vững và hiệu quả Các thành viên trong chuỗi có sự hợp tác chặt chẽ về phân công lao động, từ đó mỗi thành viên sẽ tự tìm công đoạn mà mình tham gia hiệu quả nhất mà chủ động hợp tác Như vậy nếu trong một ngành khi triển khai chuỗi cung ứng thể hiện rõ sự hợp tác, chắc chắn sẽ diễn ra quá trình cơ cấu lại ngành đó trên nhiều phương diện về qui

mô, phương thức sản xuất, phân phối, tiêu dùng nhằm hướng đến tính bền vững và khai thác triệt để lợi thế so sánh của từng thành viên trong chuỗi, qua

đó từng bước tham gia sâu vào chuỗi toàn cầu

1.1.4.Sự cần thiết phải liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản

Trong các chuỗi cung ứng luôn tồn tại các mâu thuẫn do sự bất cân xứng giữa cung và cầu Mỗi chuỗi cung ứng bao gồm các tổ chức độc lập nhưng lại

có liên đới đến các dòng chuyển giao về hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan cũng như dòng chảy về tài chính từ điểm xuất phát đến khách hàng cuối cùng Các thành viên của các tổ chức thường trở nên liên quan với nhau trong hoạt động quản lý chuỗi cung ứng để liên kết kế hoạch, thực

Trang 25

Liên kết phát triển chuỗi cung ứng là rất cần thiết, bởi vì liên kết phát triển chuỗi cung ứng không chỉ giải quyết được làm thế nào các thành viên trong chuỗi chia sẻ trách nhiệm và lợi ích thu được từ việc cải thiện lợi ích chung, mà còn giải quyết được tính kém linh hoạt trong quản lý Liên kết chặt chẽ giúp các thành viên chuỗi cung ứng sẽ cân đối cung cầu một cách hiệu quả và gia tăng lợi ích chung cho toàn bộ chuỗi Tuy nhiên các thành viên trong chuỗi, do xuất phát từ các tổ chức độc lập khác nhau và hoạt động trước tiên vì lợi ích bản thân, nên luôn tồn tại mâu thuẫn trong chuỗi Giải quyết mâu thuẫn và hợp tác với nhau sẽ mang lại nhiều lợi ích, gồm: giảm tồn kho, cải tiến dịch vụ khách hàng, sử dụng nhân sự hiệu quả hơn, phân phối tốt hơn bằng cách giảm số lần chu trình, tăng tốc thị trường sản phẩm mới nhanh hơn, tập trung mạnh hơn vào các năng lực cốt lõi và cải tiến hình ảnh chung

Nội dung liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản: Phát triển sự liên kết, hợp tác dọc trong ngành hàng nông sản: (i) Phát triển sự liên kết, hợp tác

dựa trên cơ chế đồng sở hữu, (2)Phát triển sự liên kết, hợp tác dựa trên cơ chế

hợp đồng, (3) Liên kết dựa trên sự tín nhiệm; Phát triển sự liên kết, hợp tác ngang trong ngành hàng nông sản: (1) Phát triển sự liên kết, hợp tác giữa các

hộ nông dân/người sản xuất, dựa trên cơ chế đồng sở hữu, (2) Phát triển sự liên kết, hợp tác giữa các hộ nông dân/người sản xuất trên cơ sở cam kết tự

nguyện và cùng có lợi; Tạo lập lòng tin và sự cố kết; Chia sẻ lợi ích và rủi ro

Trang 26

19

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản

Yếu tố thị trường: Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển càng mạnh

thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động Trên thực tế sản xuất, ở mỗi vùng, mỗi địa bàn có những điều kiện khác nhau Thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản xuất của mình, điều đó quyết định có nên sản xuất sản phẩm hay không và bán được giá cao hay thấp Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển thấp thì giá bán càng bất lợi cho nhà sản xuất; ngược lại thị trường sôi động, nông sản hàng hóa giao dịch nhiều thì nơi ấy tạo lập được giá đúng với bản chất của thị trường Để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong điều kiện của người nông dân còn khó khăn, nhất là thiếu các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất, khi ấy buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với các nhà có ñiều kiện cung cấp các dịch vụ đầu vào, đầu ra Càng nhiều hộ có nhu cầu cung cấp dịch vụ thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động

Trình độ của nền sản xuất: Sản xuất hàng hoá càng cao thì nhu cầu

liên kết càng lớn Trên thực tế, bất cứ nền sản xuất của nước nào mang tính tự cấp, tự túc sẽ không xuất hiện quá trình liên kết, hợp tác, nếu có cũng mang tính giản đơn; trong sản xuất nông nghiệp thể hiện rất rõ yếu tố này Ở Việt Nam, trình độ sản xuất nông nghiệp ở các vùng có khác nhau, thì mức độ hợp tác, liên kết cũng khác nhau

Sự phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật: Sự phát triển và ứng

dụng khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng quan trọng đối với sản xuất nông sản, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản xuất và đặc biệt tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường Muốn vậy, nhà sản xuất, chế biến cũng như các đơn vị lưu thông hàng hoá buộc phải áp dụng ngày càng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật và công tiên tiến; khi ấy yêu cầu liên kết với “nhà khoa học” sẽ ngày càng cao, nhất là liên kết trong các dịch vụ bảo đảm chất lượng của hàng hoá Đây là

Trang 27

20

yêu cầu đòi hỏi tất yếu của các sản phẩm nông nghiệp khi sản xuất ra để tiếp cận được thị trường Chất lượng của các mối quan hệ liên kết,hợp tác trong các chuỗi cung ứng nông sản và trong ngành hàng nông sản có ảnh hưởng quan trọng đến việc duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của từng thành viên trong chuỗi cung ứng và trong ngành hàng nông sản đó

Chính sách của Nhà nước: Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà

nước đóng vai trò định hướng cho phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển nền nông nghiệp và mối liên kết giữa các chủ thể nói riêng Yếu tố này càng được quan tâm đúng đắn kịp thời thì hiệu quả liên kết càng cao Các chính sách: Chính sách kinh tế nhiều thành phần; Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp; Chính sách giá cả, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp; Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng và các chính sách

hỗ trợ kèm theo

Yếu tố tổ chức sản xuất: Đây là yếu tố quan trọng để gắn kết các

“nhà” trong mối quan hệ liên kết kinh tế (như liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp) Để phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, đòi hỏi các chủ thể trực tiếp sản xuất (nhà nông) và cả công đoạn của quá trình sản xuất - chế biến ra sản phẩm nông nghiệp có tác động và mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp ở mức độ khác nhau, các “nhà” và quá trình liên kết phải có sự liên kết, hợp tác với nhau, nhằm khắc phục những hạn chế và mâu thuẫn của quá trình sản xuất đến lưu thông, nhất là tính tự phát và cạnh tranh không lành mạnh

1.3 Kinh nghiệm liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản tại một

số nước trên thế giới

Thái Lan và Nhật Bản là hai nước có nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp thời gian qua Nhiều mô hình và kinh nghiệm sản xuất từ các nước này có thể sẽ được chuyển giao vào áp dụng tại Việt Nam Tuy nhiên, việc lựa chọn các kinh nghiệm và mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của

Trang 28

21

nước ta là rất quan trọng, nhằm tăng tính chủ động cho phía Việt Nam trong quá trình hợp tác đầu tư trong sản xuất và xuất khẩu nông sản với họ

 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan vốn là một nuớc nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân

Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói, chủng loại rau của Thái Lan rất phong phú Hiện nay có trên 100 loại rau được trồng ở Thái Lan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến Có sự kết nối chặt chẽ trong phát triển chuỗi cung ứng rau của Thái Lan Thông thường phần lớn các thương lái thu gom rau trực tiếp tại các nông hộ và chở rau đi bằng xe tải Một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp rau ra chợ bằng cách chuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình Rau thường được vận chuyển vào buổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn lớn ở Băng Cốc Khoảng hơn 20% lượng rau ở các chợ bán buôn được đưa đến các siêu thị và khuynh hướng này đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau an toàn ở Thái Lan

Đối với Thị trường giao dịch theo hợp đồng: Cục nội thương trực thuộc Bộ Thương mại thiết lập thị trường để phục vụ cho các giao dịch theo hợp đồng giữa người nông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng Cục nội thương đề ra tiêu chuẩn hàng hoá, đề ra mẫu hợp đồng tiêu chuẩn, Văn phòng thương mại của Cục nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạt động ký kết, giám sát thực hiện hợp đồng, tham gia cùng với bên trọng tài và các bên ký kết giải quyết mâu thuẫn khi có tranh chấp

Tóm lại chuỗi cung ứng rau của Thái Lan được ghi nhận như sau:

- Tổ chức chuỗi cung ứng rau và quả ở Thái Lan biểu hiện tính khoa học và hợp lý thông qua sự hợp tác rất cao của Người Thái trong sản xuất – tiêu thụ - kinh doanh hoa quả ở các chợ đầu mối

Trang 29

- Công nghệ chế biến rất phát triển, tận dụng tất cả các phụ phẩm cho chế biến thành thành phẩm (vỏ bưởi, vỏ cam quýt, hạt bí ngô…), mang lại giá trị gia tăng cao cho sản phẩm;

Các chính sách và phương thức quản lý minh bạch, phân công nhiệm vụ rõ rang giữa nhà quản lý và các doanh nghiệp, nông dân được tôn trọng và đối

xử bình đẳng trong kinh doanh

Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là đất nước có diện tích sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, dân số lại đông thứ 10 trên thế giới nhưng trong suốt nhiều năm qua Nhật Bản vẫn luôn duy trì là nhà xuất khẩu nông sản, thủy sản và công nghệ lớn thứ tư trên thế giới Đặc biệt Nhật Bản đã tạo được một chuỗi cung ứng nông nghiệp hàng đầu của khu vực châu Á Thái Bình Dương Chuỗi cung ứng nông sản Nhật Bản có sự kết nối chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ cuối cùng Một ví dụ điển hình về thành công của chuỗi cung ứng nông sản ở Nhật Bản

là sự ra đời của chợ đầu mối Ota đấu giá sản phẩm nông nghiệp đầu tiên trên thế giới Chợ đầu mối nông sản được coi là mắt xích then chốt nhất cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm của nông dân Hàng hóa tập trung ở đây được giao cho các chuyên gia bán hàng để đấu giá Chợ chỉ chấp nhận các sản phẩm hữu

cơ và sẽ trực tiếp đi thu gom về kho vận Tại đây sản phẩm được phân loại và đóng gói dựa theo chất lượng, trọng lượng, kích thước và mẫu mã sau đó cho vào các hộp được dán nhãn tên và địa chỉ người sản xuất cùng với những thông số liên quan, đồng thời được đánh mã dễ dàng được quản lý Chợ đầu mối bán hàng đáp ứng tâm lý tiêu dùng của người Nhật Bản Chợ Ota đã rất thành công trong những phiên đấu giá, tuy nhiên không phải lúc nào cũng

Trang 30

23

đấu giá cao hơn giá sàn dự kiến nhưng chợ đầu mối vẫn trả cho người nông dân giá sàn đã ký trước đó Chợ đầu mối cung cấp thông tin phản hồi của khách hàng và có in định kỳ các catalogue giới thiệu các mặt hàng ở chợ, các thông tin được công khai minh bạch Các chuyên gia thị trường của Mỹ kết luận “Chợ đầu mối Ota của Nhật Bản sẽ đảm bảo 90% thành công của bất kỳ của một doanh nghiệp quốc tế nào muốn thâm nhập vào thị trường này” Sự vận hành thành công của chợ đầu mối Ota cũng như giá trị gia tăng mà người tiêu thụ Nhật Bản của khu chợ này đạt được đã cho thấy một chuỗi cung ứng nông sản ở Nhật Bản khá hiệu quả

Cũng giống như Việt Nam, Nhật Bản có diện tích sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ và manh mún nhưng người nông dân họ đã biết liên kết các hộ nông dân nhỏ lẻ này với nhau, họ cùng gom đất và vốn để sản xuất Trong quá trình sản xuất, người nông dân Nhật Bản đã áp dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất, họ có quy định chặt chẽ thời gian thu hoạch, chế độ bảo quản các sản phẩm nông nghiệp Đặc biệt họ có đội ngũ kỹ thuật viên máy tính nhập toàn bộ số liệu về sản phẩm và những lưu ý chi tiết gửi cho sàn đấu giá Đúng giờ quy định, sàn đấu giá có xe vận chuyển hàng hóa thu mua của người dân

về chợ đầu mối để người dân yên tâm sản xuất

Nông dân Nhật Bản đã tổ chức chặt chẽ và có hiệu quả, toàn bộ khâu sản xuất đầu vào cho đến sản xuất tiêu thụ Ở các tổ hợp tác sản xuất, có sự kết nối với các chuyên viên kỹ thuật của HTX địa phương, với chu kỳ một tuần một lần các chuyên viên kỹ thuật sẽ đến để kiểm tra quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm

Những bài học kinh nghiệm có khả năng áp dụng cho tỉnh Lâm Đồng

Qua nghiên cứu các mô hình liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản trên thế giới, ta có thể rút ra một số bài học mang tính gợi mở cho Lâm Đồng như sau:

Một là: Chú trọng liên kết trong quan hệ mua bán giữa người sản xuất

và các tác nhân trong chuỗi cung ứng Trong liên kết giữa doanh nghiệp với

Trang 31

24

nông dân, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân quyết định sự thành công của hình thức sản xuất theo hợp đồng Doanh nghiệp chính là người kết nối các mối quan hệ vớinhà khoa học, ngân hàng, để tạo cơ sở cho việc thiết lập quan

hệ liên kết bền vững với nông dân

Hai là: Từ kinh nghiệm của các nước có thể thấy các mối liên kết

ngang dọc cần được xây dựng trên cơ chế thị trường nhưng phải cùng hướng tới sự phát triển chung của ngành, theo một chiến lược cụ thể Theo đó các tác nhân gắn kết với nhau cả về lợi ích và trách nhiệm đối với sự phát triển của chuỗi cung ứng và toàn ngành Vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp, các chợ đầu mối và hợp tác xã tín dụng nông nghiệp là đặc biệt quan trọng đối với

sự phát triển của chuỗi cung ứng Các hợp tác xã kiểu mới cần được nâng cao năng lực và huy động các nguồn lực chính từ các hoạt động liên kết, để có thể cung cấp các dịch vụ nông nghiệp, chế biến, cung cấp vật tư và hàng tiêu dùng, tín dụng và ngân hàng, bảo hiểm, kho tàng, vận tải, khuyến nông, tiếp thị sản phẩm và các dịch vụ hỗ trợ cho nông dân và cộng đồng nông thôn

Ba là: Vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng, không chỉ ở việc

động viên khuyến khích mà còn thực sự đi sâu vào công tác tổ chức phối hợp các lực lượng theo những mô hình tổ chức có sự tham gia của cả đại diện nông dân và các chủ thể trong chuỗi thực hiện việc liên kết từ trung ương xuống cơ sở Nhà nước còn có thể dùng luật pháp để tạo ra các cơ chế quản lý sản xuất, quản lý giá cả để điều phối sản xuất và điều hòa quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân Nhà nước còn tạo điều kiện về khoa học công nghệ để quá trình sản xuất và liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp hiệu quả hơn

Bốn là: Thực tiễn cho thấy không có ở đâu phương thức nông nghiệp

theo hợp đồng có thể thành công với mọi loại nông sản và trong mọi trường hợp Điều đó đòi hỏi công tác qui hoạch phát triển liên kết kinh tế giữa doanh

Trang 32

25

nghiệp chế biến với nông dân phải trên cơ sở đảm bảo các điều kiện cần thiết thì mới thành công

Năm là: Các mô hình thành công cho thấy chính cơ chế tự thực thi là

cơ sở quyết định nhất cho mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi Tính bức thiết của đầu ra của nông dân, đầu vào của doanh nghiệp; tiến bộ kỹ thuật làm sự gia tăng chất lượng và giá trị nông sản; đặc biệt là vai trò của việc khuyến khích nông dân đầu tư vào các sản phẩm chuyên biệt là hết sức quan trọng vì nó sẽ kết dính được nông dân với sản xuất loại nông sản đã hợp đồng với doanh nghiệp

Sáu là: Cần phải giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa hai bên

Tuy nhiên lợi ích của nông dân phải được xem trọng, ưu tiên chăm sóc thì hợp đồng mới thu hút được nông dân, mới có động lực để phát triển Mặt khác, nông nghiệp theo hợp đồng khó tránh khỏi tình trạng độc quyền nên Nhà nước phải có luật pháp và giải pháp kiểm soát độc quyền để bảo vệ lợi ích của nông dân

Trang 33

26

Chương 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG RAU

Ở LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2011-2015

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Lâm Đồng là một tỉnh miền núi trong 5 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, nằm ở phía Nam Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên 9.773,54 km2 chiếm khoảng 18% tổng diện tích tự nhiên Vùng Lâm Đồng là đầu nguồn của hệ thống sông lớn như hệ thống sông Đa Nhim chảy về Ninh Thuận, hệ thống sông Krông Nô chảy về Sêrêpook và hệ thống sông Đồng Nai chảy về vùng Đông Nam Bộ

Lâm Đồng giáp với các tỉnh Đắc Lắk, Đăk Nông ở phía Bắc; Tiếp giáp với các tỉnh vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ ở phía Đông; giáp các tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận ở phía Nam; Đông Nam giáp với tỉnh Bình Thuận; phía Tây giáp với tỉnh Đồng Nai; phía Tây Nam giáp với tỉnh Bình Phước Hệ thống giao thông quốc lộ 20, 27, 28, 55, 723, nối liền tỉnh Lâm Đồng với các tỉnh vùng Tây Nguyên, vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ (có hệ thống cảng biển phát triển), vùng Đông Nam Bộ (vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng phát triển kinh tế lớn và năng động nhất cả nước)

Vị trí địa lý như trên tạo điều kiện thuận lợi cho Lâm Đồng mở rộng giao lưu với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng Đông Nam Bộ

và Duyên hải miền Trung Các hoạt động tăng cường liên kết giữa Lâm Đồng với các vùng kinh tế trên về phát triển kinh tế, du lịch và mở rộng thị trường các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao sẽ tạo điều kiện, những cơ hội tốt để phát huy các tiềm năng thế mạnh phát triển kinh tế, xã hội cho tỉnh Lâm Đồng

Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Lâm Đồng được coi

Trang 34

27

là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm năng lớn Tỉnh có 5 thế mạnh: Phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc

Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình từ 18-25oC, thời tiết ôn hoà và mát mẻ quanh năm Lượng mưa trung bình 1.750-3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85-87% Tài nguyên khí hậu Lâm Đồng là một yếu tố nổi trội và thuận lợi để bố trí

cơ cấu cây trồng vật nuôi có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới Tuy nhiên, thời tiết khí hậu của Lâm Đồng cũng có một số hạn chế cần lưu ý trong quá trình phát triển KT-XH như: cường độ nắng thấp làm hạn chế năng suất cây trồng, do đó cần chú ý phát triển các giống cây trồng đặc sản có chất lượng tốt và giá trị cao Ngoài ra,Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng cũng đang phải gánh chịu những tác động của biến đổi khí hậu BĐKH sẽ khiến cho việc sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn hơn Sự gia tăng về nhiệt

độ và những thay đổi về lượng mưa và phân bố lượng mưa sẽ tác động lên sản xuất nông nghiệp, trong đó có sản phẩm rau ở Lâm Đồng Chẳng hạn, BĐKH làm cho những khó khăn do thiếu nước sản xuất gia tăng vào mùa khô ở nhiều nơi; cường độ và tần suất xuất hiện của thiên tai như lũ lụt và hạn hán gia tăng; chu kỳ phát sinh, phát triển của sâu bệnh hại cây trồng và dịch bệnh trên gia súc thay đổi BĐKH gây ra các hiện tượng giông lốc, mưa đá… bất thường gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhà kính, nhà lưới trồng rau ở Lâm Đồng

Về tài nguyên đất: Lâm Đồng có 9 nhóm đất khác nhau Đất có độ dốc dưới 250 chiếm trên 50%, đất dốc trên 250chiếm gần 50% Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp

Trang 35

28

Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa và đặc biệt là độ cao so với mực nước biển là điều kiện lý tưởng cho Lâm Đồng có thể hình thành và phát triển ngành nông nghiệp có giá trị gia tăng cao cũng như ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Tuy nhiên, để sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cần phải có diện tích đất đai với quy mô lớn, trong khi đất sản xuất nông nghiệp ở Lâm Đồng lại nhỏ lẻ và manh mún, gây ra một số khó khăn và đẩy chi phí đầu tư đầu vào cho sản xuất rau như làm nhà lưới, nhà kính, hệ thống tưới tiêu…

Tài nguyên nước: Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng Nguồn nước phong phú, hệ thống sông suối khá dày, tiềm năng thuỷ điện rất lớn Nhìn chung, tài nguyên nước của tỉnh có nguồn sinh thủy rộng, modul dòng chảy lớn, chất lượng nước tốt có thể đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp nhất là ngành trồng rau và hoa Tuy nhiên trong thời gian gần đây, tình trạng khan hiếm nước và khô hạn đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất rau ở Lâm Đồng

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Theo số liệu thống kê dân số năm 2015 là 1.273.317 người, tăng 1,01%

so với năm 2014, trong đó dân số ở khu vực thành thị chiếm khoảng từ 40,12% còn lại khu vực nông thôn chiếm khoảng từ 59,88% Dân số trong độ tuổi lao động là 789.972 người, trong đó 713.977 người đang làm việc trong các ngành kinh tế Như vậy, Lâm Đồng là tỉnh có nguồn lao động dồi dào, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là ngành nông nghiệp Người dân Lâm Đồng với đức tính cần cù, chịu khó, sáng tạo, hiếu học

ra sức lao động, hiệu quả và học tập; có khả năng tiếp thu và vận dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật, mạnh dạn đầu tư cho sản xuất, chịu khó học hỏi các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp và là một trong những nguồn lực quan trọng, khơi dậy sức mạnh

Trang 36

29

tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ mới Tuy nhiên, trình độ kỹ thuật còn thấp, nông dân vẫn còn áp dụng các phương sản xuất rau truyền thống, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều trong sản xuất, ảnh hưởng đến môi trường đất, sản phẩm không có tính cạnh tranh về chất lượng

và an toàn thực phẩm Tỉnh Lâm Đồng cần có kế hoạch đào tạo nâng cao trình

độ sản xuất của người dân để có khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống Khi chất lượng nguồn lao động của tỉnh Lâm Đồng được cải thiện cũng đồng nghĩa với việc nâng cao năng lực liên kết kinh tế của hộ nông dân với các chủ thể liên kết khác trong chuỗi cung ứng rau, là điều kiện quan trọng đảm bảo cho liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng đạt hiệu quả cao, bền vững

Theo báo cáo phát triển KTXH của UBND tỉnh năm 2015, tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 58.006.600 triệu đồng, tăng 10,33% so với cùng kỳ Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt đạt 9.648.600 triệu đồng, tăng 10,55%, chiếm tỷ trọng 49,55%; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 9.648.600 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 17,26%; khu vực dịch vụ đạt 18.561.800 triệu đồng, tăng 10,34%, chiếm tỷ trọng 33,19% so với cùng kỳ Như vậy, ngành nông nghiệp là ngành mũi nhọn kinh tế hàng đầu của tỉnh, nhất là nông nghiệp công nghiệp cao càng được tỉnh chú trọng đầu tư và phát triển trong chiến lược tái cơ cấu nông nghiệp của tỉnh, trong khi rau là sản phẩm chủ lực trong ngành nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng

Như vậy, với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong thời gian qua đã mang lại những lợi thế nhất định cho Lâm Đồng trong phát triển nông nghiệp nói riêng và các ngành kinh tế khác nói chung

2.1.3 Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật

Mạng lưới giao thông: Hiện nay hệ thống đường bộ của Lâm Đồng

tương đối dày và phân bố khá đều trong tỉnh, cho phép các phương tiện giao thông có thể đến được hầu hết các xã và đáp ứng được nhu cầu đi lại

Trang 37

30

của nhân dân Tỉnh Lâm Đồng có sân bay Liên Khương thuộc cụm cảng hàng không sân bay miền Nam, đường băng dài 2080 m, rộng 40 m, Hiện nay đang nâng cấp thành sân bay quốc tế Hiện ngành đường sắt đã khôi phục đoạn từ ga Đà Lạt đến Trại Mát dài 8km phục vụ du lịch với tần suất 2 -3 chuyến/ ngày Mạng lưới giao thông được đầu tư mở rộng và nâng cấp nên chất lượng được được cải thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát trển kinh tế xã hội của tỉnh Lâm Đồng

Thủy lợi: toàn tỉnh hiện nay có 590 công trình thủy lợi lớn, vừa và nhỏ, trong đó có 211 hồ chứa, 284 đập dâng, 20 trạm bơm và 75 công trình cống, kênh khác và trên 876 km kênh mương các cấp đã cung cấp nước tưới cho 115.000 ha đất canh tác Trong năm 2013, các công trình thủy lợi đã phát huy hiệu quả chủ động tưới cho đạt 53% so với tổng diện tích gieo trồng cần tưới toàn tỉnh Bên cạnh đó, một số vùng nông dân còn sử dụng nước ngầm để tưới cho rau, hoa

Hệ thống điện: Đến nay 100% số xã đã có điện Lưới điện truyền tải

tới hầu hết các trung tâm huyện lỵ, với tiết diện dây dẫn đảm bảo, đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện năng cho các hộ phụ tải và trong sản xuất nông nghiệp, nhất là nhu cầu điện năng trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao với hệ thống điện thắp sáng trong các nhà kính trồng rau và hoa ở Lâm Đồng

2.1.4 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tác động đến sự liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng

Tiềm năng, lợi thế

- Tỉnh Lâm Đồng có điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi cho sản xuất rau Đây là một lợi thế so sánh giữa Lâm Đồng với khu vực các tỉnh lân cận

và cả nước

- Lâm Đồng có diện tích đất nông nghiệp thuận lợi cho phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung, ứng dụng cơ giới hóa và các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, trong đó có sản phẩm rau

Trang 38

31

- Hệ thống giao thông của tỉnh khá thuận lợi, đáp ứng được yêu cầu vận chuyển hàng hóa sản xuất nông nghiệp cung cấp cho các tỉnh phía nam và miền trung, thúc đẩy và phát triển thị trường cho sản phẩm nông nghiệp, thông qua đó thúc đẩy sản xuất nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao

- Nông dân có truyền thống trồng rau lâu đời, bên cạnh đó người dân chịu khó học hỏi, có khả năng tiếp thu và vận dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật, mạnh dạn đầu tư cho sản xuất, chịu khó học hỏi các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, hiệu quả

Khó khăn

- Diện tích sản xuất nông nghiệp một số vùng như Đà Lạt, Lạc Dương sản xuất không liền vùng liền khoảnh, manh mún, địa hình đất đai không bằng phẳng khó khăn trong việc vận chuyển các vật tư phục vụ sản xuất và vận chuyển sản phẩm thu hoạch được

- Địa hình dốc cao, hệ thống thuỷ lợi còn thiếu, hoạt động chưa hiệu quả, đặc biệt hiện tượng thiếu nước tưới trong mùa khô tại một số khu vực sản xuất cũng ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất và chất lượng rau

- Nông dân có kinh nghiệm trồng rau lâu đời nhưng trình độ kỹ thuật còn thấp, nông dân vẫn còn áp dụng các phương thức sản xuất rau truyền thống, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều trong sản xuất, ảnh hưởng đến môi trường đất, sản phẩm không có tính cạnh tranh về chất lượng và an toàn thực phẩm

2.2 Khái quát sự phát triển ngành rau ở Lâm Đồng

Rau được trồng tại Lâm Đồng từ thời Pháp thuộc trong những năm 1930 Trải qua hơn 70 năm, diện tích trồng rau tại Lâm Đồng đã không ngừng mở rộng, lan rộng từ Đà Lạt tới các huyện xung quanh để trở thành vựa rau lớn nhất

Việt Nam.Tình hình năng suất, diện tích và sản lượng rau ở Lâm Đồng

Trang 39

32

Trong những năm gần đây diện tích rau ở Lâm Đồng ngày càng được mở rộng So với năm 2011 đến nay diện tích trồng rau tăng hơn 10.000 ha Tính đến 2015, diện tích trồng rau của tỉnh đạt khoảng 57.481 ha, trong đó diện tích rau chủ yếu tập trung tại các huyện/thành phố: Đơn Dương, Đức Trọng,

 Lạc Dương là khu vực mới phát triển, với diện tích 6.612 ha, chiếm 6,3% tổng diện tích trồng rau Nhưng khu vực này đang có thiên hướng mở rộng sang trồng hoa và dâu tây trong tương lai

 Đà Lạt với diện tích trồng rau là 9.800 ha, chiếm 17% diện tích cả tỉnh Đà Lạt là nơi có điều kiện có thể sản xuất được rau với năng suất và chất lượng cao Rau Đà Lạt từng bước được sản xuất theo phương pháp rau an toàn Tuy vậy, vấn đề giống, công nghệ sản xuất hiện đại, công nghệ sau thu hoạch và chế biến rau vẫn còn là những lĩnh vực cần có các nhà đầu tư Thương hiệu rau Đà Lạt đã được công nhận, hiện đang tiếp tục xây dựng tiêu

Trang 40

33

chuẩn GAP cho thương hiệu rau Đà lạt để đáp ứng cho thị trường xuất khẩu.Tuy nhiên, giá đất ở đây cao, nông dân trồng rau đang chuyển sang trồng các loại nông sản khác cho lợi nhuận cao hơn như hoa, dâu tây và phát triển du lịch

Có thể chia các loại rau trồng ở Lâm Đồng làm 3 nhóm chính: Rau ăn

củ, rau ăn quả và rau ăn lá

Bảng 2.2: Chủng loại của các nhóm rau chính được sản xuất tại Lâm Đồng Nhóm

53,00 46,20 46,70 47,02 46,00 Xà lách, Cải thảo, Bó xôi, Rau

cải, Bắp cải,Rau thơm các loại, Cần tây, Paro hành, Nha đam, Đọt bí, Đọt su su, Rau muống,

Xà lách xoong, Rau mầm, nấm các loại; Súp lơ, Kim châm, Artiso, Bông bí…

Rau

ăn

quả

27,00 23,10 20,00 18,84 39,00 Su su, Cà tím, Bầu, Bí, Cà chua,

Mướp đắng,Dưa leo, Đậu cove, Đậu Hòa lan, Ớt ngọt, Ớt cay, Chanh

Rau

ăn củ

20,00 30,80 33,30 34,14 15,00 Khoai tây, Cà rốt, Hành tây, Củ

cải đỏ Su hào,Củ cải, Củ dền,

Củ hồi

Nguồn: BC quy hoạch RAT, DA NC chiến lược ngành nông nghiệp Lâm Đồng

Báo cáo của Jica – Nhật Bản năm 2015

Ngày đăng: 10/10/2016, 17:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Hữu Ảnh và các cộng sự (2011), Hình thức hợp đồng sản xuất giữa doanh nghiệp với hộ nông dân - trường hợp nghiên cứu trong sản xuất chè và mía đường tại tỉnh Sơn La, Tạp chí Khoa học và Phát triển, ĐH NN Hà Nội Tập 9, số 6: 1032 – 1040 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Phát triển, ĐH NN Hà Nội
Tác giả: Lê Hữu Ảnh và các cộng sự
Năm: 2011
4. JAICA (2015), Dự án hỗ trợ tỉnh Lâm Đồng xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng tiếp cận đa ngành và cải thiện môi trường đầu tư trong nông nghiệp. Báo cáo cuối cùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án hỗ trợ tỉnh Lâm Đồng xây dựng mô hình phát triển nông "nghiệp theo hướng tiếp cận đa ngành và cải thiện môi trường đầu tư trong nông "nghiệp
Tác giả: JAICA
Năm: 2015
5. Hồ Quế Hậu (2013), Liên kết giữa Doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam. LA tiến sĩ kinh tế chính trị, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết giữa Doanh nghiệp chế biến nông sản với nông "dân ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Quế Hậu
Năm: 2013
6. Trần Thanh Hương, 2013. Liên kết giữa Doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài: thực trạng, vấn đề và giải pháp. Tạp chí nghiên cứu kinh tếsố 1 (416): 37 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
8. Ma Ngọc Ngà (2014), Liên kết 4 nhà trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2014 của Viện Kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết 4 nhà trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu "Long
Tác giả: Ma Ngọc Ngà
Năm: 2014
9. Võ Hữu Phước (2014), Nghiên cứu, ứng dụng mô hình "Liên kết bốn nhà" vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp nông thôn tỉnh Trà Vinh. LA tiến sĩ Kinh tế phát triển, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết bốn nhà
Tác giả: Võ Hữu Phước
Năm: 2014
10. Võ Thị Kim Sa (2013), Sự liên kết của nông dân vùng Tây Nam Bộ trong các nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa. LA tiến sĩ xã hội học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự liên kết của nông dân vùng Tây Nam Bộ trong các "nhóm và tổ chức hợp tác để phát triển nông nghiệp hàng hóa
Tác giả: Võ Thị Kim Sa
Năm: 2013
11. Huỳnh Thị Thu Sương (2012), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ, trường hợp nghiên cứu: Vùng Đông Nam Bộ.LA tiến sĩ, Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp "tác trong chuỗi cung ứng đồ gỗ, trường hợp nghiên cứu: Vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Thị Thu Sương
Năm: 2012
13. Bảo Trung (2008), Phát triển các hình thức sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý kinh tế, số 22 (9+10/2008): 60-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quản lý kinh tế
Tác giả: Bảo Trung
Năm: 2008
14. Phạm Thị Vân (2016), Giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế vùng ở Tây Nguyên. LA tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế vùng ở Tây Nguyên
Tác giả: Phạm Thị Vân
Năm: 2016
15. Viện nghiên cứu rau quả (2014),“Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại – Cải thiện chất lượng và an toàn sản phẩm rau tươi thông qua tiếp cận chuỗi giá trị - Giai đoạn II” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực "phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại – Cải thiện "chất lượng và an toàn sản phẩm rau tươi thông qua tiếp cận chuỗi giá trị - Giai "đoạn II
Tác giả: Viện nghiên cứu rau quả
Năm: 2014
16. Lê Anh Vũ (2015), "Liên kết nội vùng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên". Báo cáo đề tài nghiên cứu thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước, mã số TN3/X16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết nội vùng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên
Tác giả: Lê Anh Vũ
Năm: 2015
17. Lê Anh Vũ &Lê Thị Thị Thu Hiền, Kinh tế hộ, trang trại và vấn đề liên kết phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng. Tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), số 4 (16) 2014, tr3-9.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ, trang trại và vấn đề liên kết "phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng". Tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), số 4 (16) 2014, tr3-9
18. Anh Ngoc Nguyen and el. (2008), Foreign Direct Invesment in Việt Nam: Is there any Evidence of Technological Spillover Effects. MPRA Paper No 7273 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MPRA Paper
Tác giả: Anh Ngoc Nguyen and el
Năm: 2008
20. Christopher. M (1998), Logistics and Supply Chain Management. Pitman Publishing, Londres Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics and Supply Chain Management
Tác giả: Christopher. M
Năm: 1998
21. Douglass C.North (1998), “Institution, institutional change and economic performance”, NXB Khoa học xã hội & Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Hà Nội-1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Institution, institutional change and economic performance
Tác giả: Douglass C.North
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội & Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ
Năm: 1998
23. Friedmann, John, and Michael Douglass (1978), Agropolitan Development: Towards a New Strategy for Regional Planning in Asia. In Fu-chen Lo and Kamal Salih (eds.)Growth Pole Strategy and Regional Development Policy, New York: Pergamon Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agropolitan Development: "Towards a New Strategy for Regional Planning in Asia". In Fu-chen Lo and Kamal Salih (eds.)"Growth Pole Strategy and Regional Development Policy
Tác giả: Friedmann, John, and Michael Douglass
Năm: 1978
27. Hirschman A. O (1958). The strategy of economic development. Yale University Press. New Haven Sách, tạp chí
Tiêu đề: The strategy of economic development
Tác giả: Hirschman A. O
Năm: 1958
28. Humphrey. J and Schmitz. H (2000), Governance and Upgrading: Linking Industrial Cluster and Global Value Chain Research. IDS Working Paper 120, Brighton, 37p Sách, tạp chí
Tiêu đề: IDS Working Paper 120, "Brighton
Tác giả: Humphrey. J and Schmitz. H
Năm: 2000
29. Isard. W(1960). Industrial Complex Analysis, in Methods of Regional Analysis. MIT Press, Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Industrial Complex Analysis", in "Methods of Regional Analysis
Tác giả: Isard. W
Năm: 1960

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Chủng loại  của các nhóm rau chính được sản xuất tại Lâm Đồng  Nhóm - Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở lâm đồng
Bảng 2.2 Chủng loại của các nhóm rau chính được sản xuất tại Lâm Đồng Nhóm (Trang 40)
Bảng 2.3: Sản lượng rau tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015 (tấn) - Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở lâm đồng
Bảng 2.3 Sản lượng rau tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015 (tấn) (Trang 41)
Bảng 2.4:. Diện tích gieo trồng (canh tác) rau ứng dụng công nghệ cao - Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở lâm đồng
Bảng 2.4 . Diện tích gieo trồng (canh tác) rau ứng dụng công nghệ cao (Trang 42)
Bảng 2.6: Tình trạng đầu vào nguyên liệu sản xuất rau củ quả ở - Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở lâm đồng
Bảng 2.6 Tình trạng đầu vào nguyên liệu sản xuất rau củ quả ở (Trang 46)
Hình 2.1: Chuỗi cung ứng rau tỉnh Lâm Đồng - Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở lâm đồng
Hình 2.1 Chuỗi cung ứng rau tỉnh Lâm Đồng (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w