1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản

96 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, phân công lao động luôn được xem là hướng gợi mở cho các nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề bình đẳng giới hay phân tích vị thế của người phụ nữ trong gia đình nhằm nêu lên thực trạng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Thị Hồng Yến

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

TRONG HỘ GIA ĐÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ SẢN XUẤT MUỐI

SANG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI HUYỆN HẢI HẬU - NAM ĐỊNH)

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Phân công lao động giữa vợ và chồng

trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản”

(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Hậu – Nam Định) là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các biên bản phỏng vấn sâu, số liệu tổng hợp từ phiếu khảo sát mà tôi dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực địa từ tháng 04 đến tháng 06 năm

2016 tại xã Hải Chính và xã Hải Chiều, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Yến

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học: Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Duy Luân đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này

Tôi cũng xin cảm ơn Học viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong suốt quá trình theo học ở đây

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo – những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng bổ ích trong quá trình học tập

Tôi xin cảm ơn các thầy giáo tham gia Hội đồng xét duyệt đề cương luận văn

đã có những ý kiến hết sức quý báu để tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và nhân dân xã Hải Chính, xã Hải Triều, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vì đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu tại địa phương

Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên xã hội học của Khoa Lý luậ chính trị và xã hội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ cho cuộc khảo sát của tôi

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình và những người thân yêu của tôi

đã ủng hộ, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Học viên

Nguyễn Thị Hồng Yến

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC HỘP vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG ICƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 17

1.1 Các khái niệm làm việc 17

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài 20

1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 25

CHƯƠNG 2PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ SẢN XUẤT MUỐI SANG NTTS 27

2.1 Thực trạng quy hoạch theo vùng của xã Hải Chính, Hải Chiều và quá trình chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS 27

2.2 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất muối và NTTS 31

CHƯƠNG 3 HỆ QUẢ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG HỘ GIA ĐÌNH CHUYỂN TỪ SẢN XUẤT MUỐI SANG NTTS VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 52

3.1Quyền ra quyết định giữa vợ và chồng trong HGĐ sản xuất muối và HGĐ NTTS 52 3.2 Các yếu tố tác động đến sự thay đổi vị thế của người phụ nữ sau quá trình chuyển từ sản xuất muối sang NTTS 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

1 Kết luận 66

2 Kiến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Tài liệu bằng tiếng Việt 71

Tài liệu bằng tiếng Anh 73

PHỤ LỤC 74

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng nhân công lao động theo vùng sản xuất của xã Hải Chính năm

2015 28 Bảng 2.2 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong lao động sản xuất muối 36 Bảng 2.3 Mô hình phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất muối 39 Bảng 2.4 Phân công lao động giữa vợ và chồng các công việc gia đình trong sản

xuất muối 40 Bảng 2.5 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong các công việc cộng đồng

của HGĐ sản xuất muối 41 Bảng 2.6 Mô hình phân công lao động giữa vợ và chồng trong NTTS 43 Bảng 2.7 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất NTTS 44 Bảng 2.8 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong tham gia công việc cộng

đồng 47 Bảng 2.9 Nguyên nhân người chồng muốn vợ tham gia nhiều hơn vàocác công

việc cộng đồng 49 Bảng 2.10 Động cơ để người vợ tham gia các công việc cộng đồng 49 Bảng 3.11 Quyền ra quyết định chính giữa vợ và chồng trongsản xuất muối và

NTTS 53 Bảng 3.12 Quyền quyết định chi tiêu các công việc trong gia đình 58

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Lý do chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS 29 Biểu đồ 2.2: Đánh giá về kinh tế của hộ sau khi chuyển từ sản xuất muối sang

NTTS 30 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ kiếm việc làm thêm của vợ và chồng khi có thời gian rảnh

trong sản xuất muối và NTTS 34 Biểu đồ 2.4 Đánh giá phân công lao động giữa vợ và chồng sau khi chuyển từ

làm muối sang NTTS 50 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ trao đổi công việc làm ăn giữa vợ và chồng sau khi chuyển

sang NTTS 56

Trang 8

DANH MỤC HỘP

Hộp 2.1: Sự khác biệt chung giữa sản xuất muối và NTTS 31

Hộp 2.2: Phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất muối 32

Hộp 2.3: Phân công lao động giữa vợ và chồng trong NTTS 32

Hộp 2.4 Người già tham gia lao động sản xuất muối 37

Hộp 2.5 Nghề phụ tạo ra thu nhập cho người dân khi kết thúc vụ muối 38

Hộp 2.6 Làm muối thu nhập thấp người phụ nữ không có tiếng nói riêng 40

Hộp 2 7 Tư tưởng mới của người chồng khi chuyển sang NTTS 48

Hộp 3.1: Quyền tự quyết của phụ nữ trong công việc sau khi chuyển sang NTTS 60

Hộp 3.2: Phân công trách nhiệm trong gia đình 64

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển xã hội một cách bền vững Thực tế lại cho thấy, phụ nữ không bình đẳng với nam giới và chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới Họ gặp nhiều những khó khăn và thách thức trong cuộc sống (Mai Huy Bích, 1999) Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, phụ nữ đã trở thành một nhân tố quan trọng đóng góp vào kinh tế gia đình nói riêng, có những vị thế

và vai trò trong xã hội nói chung (Lê Thị Quý, 2010) Chính vì vậy, nghiên cứu về vai trò của nữ giới trong phát triển kinh tế chính là một cách nhằm giúp cho việc tạo nên

sự bình đẳng hơn giữa nam và nữ

Ở Việt Nam, mô hình sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản theo kinh tế hộ gia đình diễn ra rất phổ biến ở các vùng ven biển Do đó, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào hoạt động sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản với quy mô và mức độ rất lớn Trong sản xuất nông nghiệp, nghề nuôi trồng thủy sản cũng là lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất trong những năm gần đây ở Việt Nam cũng như ở khu vực Đông Nam Á Theo báo cáo của Hội nghị nuôi trồng thủy sản Châu Á Thái Bình Dương 2013: “Nước ta có 82% lực lượng lao động nữ trong nuôi trồng và chế biến thủy sản, trong đó phụ nữ đóng góp từ 50% đến 85% trong tổng số các hoạt động nuôi trồng thủy sản và lớn hơn nhiều so với sự đóng góp của họ trong đánh bắt thủy sản” (Hội nghị, 2013) Trong ngành sản xuất muối, đóng góp công lao động của phụ nữ là không hề nhỏ Theo báo cáo của Cục chế biến Thương mại Nông lâm thủy sản và nghề muối năm 2012: Tỷ lệ phụ nữ miền Bắc tham gia sản xuất muối chiếm từ 75% đến 90%, cao hơn so với tỷ lệ phụ nữ miền Trung và miền Nam chỉ chiếm từ 60% đến 85% Vậy, sự khác biệt về loại hình sản xuất có ảnh hưởng tới phân công lao động theo giới và đặc biệt sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình?

Đến nay, các nghiên cứu về giới trong các hộ gia đình ngư dân ở Việt Nam mới tập trung vào vai trò của phụ nữ với tư cách là người nội trợ và tham gia khu vực dịch

vụ hỗ trợ nghề thủy hải sản, hoặc tập trung vào vai trò của nam giới với tư cách là người tạo ra nguồn thu nhập, tổ chức các hoạt động sản xuất, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản

Trang 10

Trên thực tế, quy trình sản xuất muối đơn giản hơn nhiều so với quy trình nuôi trồng thủy sản về sự đa dạng và các kiến thức khoa học kỹ thuật cần thiết mà cả những kinh nghiệm được đúc kết lâu năm Do đó, trong sản xuất muối người phụ nữ thường đóng vai trò chủ chốt và ra các quyết định trong quá trình sản xuất Điều này trong nghề nuôi trồng thủy sản lại không được thể hiện rõ Vì vậy, có quan điểm mang định kiến giới rằng: nuôi trồng thủy sản là lĩnh vực của nam giới vì đòi hỏi cao hơn về trình độ kỹ thuật Đây là một quan niệm sai lầm khi đánh giá thấp vai trò của phụ nữ trong tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật

Làm muối và nuôi trồng thủy sản là hai nghề khác nhau nên quy trình sản xuất cũng có sự khác biệt Trên thực tế, đang có xu hướng chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản đang diễn ra ngày càng phổ biến do nghề muối có thu nhập thấp hơn so với nghề nuôi trồng thủy sản Quá trình chuyển đổi này khiến phụ nữ phải thay đổi và thích ứng về nhiều mặt từ kỹ thuật, hiểu biết để đáp ứng nhu cầu của công việc cho đến phân công lao động và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và cộng đồng Việc kinh tế gia đình phát triển tốt hơn liệu có thể giúp nâng cao vai trò và vị thế của người phụ nữ là người đóng góp vào thu nhập của hộ gia đình? Và dường như có mối liên hệ ít nhiều chặt chẽ giữa việc chuyển đổi loại hình sản xuất từ nghề làm muối sang NTTS và vị thế, vai trò của người phụ nữ trong sản xuất và trong gia đình? Xuất phát

từ thực tiễn và những câu hỏi này nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Phân công lao động giữa

vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản” (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Hậu – Nam Định)

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phân công lao động theo giới trong gia đình dưới góc độ xã hội học luôn được các nhà khoa học chú trọng và tìm hiểu, đặc biệt là trước những biến đổi không ngừng của xã hội hiện nay Dựa trên thực trạng nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình ai làm việc gì trong gia đình, các nghiên cứu đều cho rằng vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng khi thực hiện các công việc trong gia đình và mô hình phân công lao động truyền thống ít có sự thay đổi hay chuyển biến trong xã hội hiện nay Đặc biệt, sự khác biệt về phân công lao động trong quá trình chuyển đổi hình thức sản xuất mới ít nhiều sẽ tạo nên những thay đổi đáng kể giữa vai trò của cả hai giới

Trang 11

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước thuộc lĩnh vực đề tài

Những nghiên cứu về giới trên thế giới xuất phát từ các phong trào xã hội của phụ nữ Phong trào nữ quyền, phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, đòi giải phóng phụ nữ khỏi lệ thuộc vào nam giới đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử Quan điểm giới có nguồn gốc từ các lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển rất sôi động ở các xã hội phương Tây, bắt đầu từ thế kỷ XVIII Lý thuyết nữ quyền tạo nên các phong trào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị của nam giới, phê phán quyết liệt chế độ áp bức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ, tạo lập bình đẳng giới Kể

từ đó, phong trào nữ quyền ngày càng phát triển rộng khắp trong các nước Châu Âu, Bắc Mỹ và lan rộng ra các nước khác, hình thành nên các phong trào nữ quyền mới ở thế kỷ XX Từ mục tiêu ban đầu là bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ, xóa bỏ cái gọi là “chế độ nam trị”, phong trào nữ quyền dần trở thành môi trường để hình thành nên những lý thuyết xã hội về sự khác biệt và bất bình đẳng giới như các thuyết

nữ quyền (Feminist theory) và những dòng tư tưởng “Phụ nữ trong phát triển” Mặc dù

có chung mục đích là vì sự phát triển của phụ nữ chống lại chế độ nam trị, nhưng lý thuyết nữ quyền có nhiều trường phái khác nhau; thậm chí, có những trường phái mâu thuẫn nhau gay gắt Có thể nêu một số lý thuyết nữ quyền có ảnh hưởng mạnh đến xã hội phương Tây thời gian qua là: Nữ quyền tự do, Nữ quyền mác-xit, Nữ quyền xã hội chủ nghĩa, Nữ quyền phúc lợi, Nữ quyền triệt để, Nữ quyền hiện sinh, Nữ quyền phân tâm; và gần đây xuất hiện một số lý thuyết nữ quyền mới, như: Nữ quyền hậu hiện đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụ nữ thế giới thứ ba (R.L.PANIGRAHY DASARATHI BHUYAN, 2006)

Vấn đề về giới nảy sinh từ rất lâu cùng với sự phát sinh, phát triển của loài người và xã hội Sự bất bình đẳng về giới trong lịch sử phát triển của nhân loại đòi hỏi nhân loại tiến bộ phải thay đổi nhận thức và hành vi về giới Do đó, những nghiên cứu

về giới trên thế giới xuất phát từ các phong trào xã hội của phụ nữ (Janet Henshall Momsen, 2004) Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về vấn đề giới và vị thế, vai trò của phụ nữ trong phân công lao động Các thuyết về phong trào nữ quyền, phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ nhằm đấu tranh bảo vệ và mở rộng các quyền cho phụ nữ Phong trào nữ quyền là một lực lượng xã hội để thay đổi mối quan hệ giới nhằm nâng cao địa vị của người phụ nữ trong gia đình (Collin, 1991) Chính các lý

Trang 12

thuyết nữ quyền này đã tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội

và đã tạo nên những quan điểm lý luận và làn sóng nữ quyền đấu tranh giải phóng phụ

nữ và bình đẳng giới rất sôi động ở các xã hội này Giai đoạn này các nhà phụ nữ học gọi là: “Làn sóng nữ quyền thứ nhất” (The First Wave of Feminism) và “Làn sóng nữ quyền thứ hai” (The Fisrt Wave of Feminism) Trong giai đoạn này không thể không nhắc đến những quan điểm về bình đẳng giới trong gia đình được nhắc đến bởi một nhà nghiên cứu nữ quyền có tên tuổi nhất, đó là Mary Wollstonecrafi trong cuốn sách

“A Vindication of the Right of Women” được dịch là “Một biện minh cho quyền phụ nữ” (xuất bản năm 1872) Chính Mary Wollstonecraft đã đưa ra quan điểm rằng các quyền của phụ nữ cần phải được thực hiện trước hết và ngay tại gia đình

Sự đa dạng của các học thuyết về nữ quyền như nữ quyền xã hội chủ nghĩa của Michele Barrell, nữ quyền cấp tiến của Sylvia Walby, nữ quyền tự do của Betty Friedan (bà là nhà khoa học đã có những tranh luận nổi tiếng với Tallcon Parsons trên bình diện quan điểm của thuyết Cấu trúc chức năng) đã mang đến những nghiên cứu

về phụ nữ và gia đình một làn gió mới không chỉ về nội dung nghiên cứu mà còn là cả một hướng tiếp cận đặc biệt Đặc biệt, quan điểm Giới và Phát triển (Gender and Deverlopment GAD), sau khi xuất hiện đã tạo nên phong trào xã hội rộng lớn và có đóng góp tích cực đến sự phát triển không chỉ của phụ nữ mà của cả xã hội, không chỉ ảnh hưởng mạnh ở xã hội phương Tây phát triển mà còn ở nhiều xã hội đang phát triển, nhất là châu Á, châu Phi và Nam Mỹ (Gloria Bowles, 1983)

Theo các nhà xã hội học nữ quyền, mặc dù có nhiều nghiên cứu về gia đình nhưng cách nhìn nhận mang tính thiên vị nam giới nên không khách quan về mặt giới

Cụ thể như nhà xã hội học Parsons, ông cho rằng, nam giới giữ vai trò “công cụ”, tham gia các công việc xã hội để kiếm thu nhập đám bảo cho cuộc sống gia đình; phụ nữ giữ vai trò “tình cảm” trong gia đình, nhằm lo thỏa mãn những nhu cầu tình cảm cho các thành viên trong gia đình và vai trò này hết sức quan trọng không thể quy giản Việc phân chia như vậy được coi là có lợi cho xã hội (Mai Huy Bich, 2009) Nhưng dưới cái nhìn của các nhà nữ quyền thì đây chỉ là sự biện minh nguyên trạng và giữ phụ nữ ở nà nhằm hợp pháp hóa sự thống trị của nam giới và cái có lợi cho nam giới thì được coi là có lợi cho xã hội Vì vậy, cần đưa người phụ nữ vào mẫu nghiên cứu, nhất là công việc nhà của phụ nữ

Trang 13

Nghiên cứu theo quan điểm của phụ nữ cho thấy, nam giới và phụ nữ cảm nghiệm đời sống gia đình theo những cách khác nhau chứ không hoàn toàn giống nhau như nhiều ý kiển khẳng định A.Oakley trong công trình nghiên cứu “Housewife” đã kết luận, phụ nữ nhìn nhận việc nhà khác hẳn nam giới Đối với họ, đó là một loại công việc không thể thiếu, nhưng nặng nhọc, buồn tẻ và không được chồng họ cũng như xã hội coi trọng Rõ ràng, gia đình luôn thể hiện quan hệ quyền lực không ngang nhau, do đó, dẫn đến sự phân phối không công bằng các công việc và nguồn lực giữa nam và nữ

Như vậy, từ trước những năm 1960, thuyết nữ quyền và quan điểm giới đã chỉ

ra sự khác nhau về những trải nghiệm thực tế cuộc sống và cảm nhận về đời sống gia đình giữa nam giới và phụ nữ Do đó, nhiều thập kỷ sau các nghiên cứu về giới đều tập trung phân tích sự phân bố không đồng đều các nguồn lực và quyền quyết định trong gia đình giữa nam và nữ, cũng như giữa các thế hệ Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, quyền lực của nữ giới thường gắn chặt với phúc lợi trẻ em với bằng chứng từ các ưu tiên trong chỉ tiêu của họ Hơn nữa, phụ nữ không bình đẳng với nam giới, bị nam giới

áp bức, kể cả ngoài xã hội và trong gia đình Việc kiểm soát nguồn lực cho phép nam giới tạo ra một diện rộng các vai trò của mình và thu hẹp đáng kể những lựa chọn dành cho phụ

nữ Việc phân chia vai trò được xem là điểm mấu chốt trong khung lý thuyết của phái nữ quyền Họ cho rằng bất bình đẳng giới trong gia đình cần phải được giải thích dưới dạng sự phân công vai trò giới mà đến lượt mình, chỉ có thể hiểu được bằng việc chúng ta đã nuôi dạy con cái như thế nào, bằng sự phân công lao động theo giới tính, bằng các định nghĩa văn hóa về cái gì gọi là thích hợp đối với mỗi giới và bằng các sức ép xã hội mà chúng ta đặt lên một trong hai giới (Nguyễn Thị Diễn, 2007)

Từ những năm 1970, lao động vô hình của phụ nữ nông nghiệp đã được tập trung nghiên cứu nhưng chưa được chú trọng nghiên cứu về ngành đánh bắt cá và NTTS vì nó được mặc định là công việc của nam giới nên diễn ra tương đối muộn Theo FAO, World Fish và World Bank (2008) có khoảng 200 nghìn người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp tới đánh bắt và nuôi trồng thủy sản năm 2008 Thủy sản đã đóng góp đáng kể tới sinh kế hộ gia đình khắp nơi trên thế giới Việc làm từ đánh bắt

và nuôi trồng thủy sản ngày càng mở rộng, đặc biệt tại các nước đang phát triển vào thời điểm sau thu hoạch nó tạo ra khoảng 68 – 70 triệu việc làm thêm Vì phụ nữ

Trang 14

chiếm phần lớn lực lượng lao động sau thu hoạch nên họ nắm giữ vai trò chủ chốt trong đánh bắt và NTTS Có tới 47% lao động trong ngành đánh bắt và NTTS (bao gồm cả sau thu hoạch) là phụ nữ

Trong các nghiên cứu nước ngoài thường nghiên cứu về phụ nữ qua khía cạnh kinh tế với lý thuyết nguồn lực tập trung nên chỉ xảy ra bình đẳng khi thu nhập của vợ

và chồng là tương đồng nhau Tức là mức chênh lệch thu nhập thu nhập càng nhỏ thì

vợ chồng càng bình đẳng (Wittig, 1980) Ở nhiều nước châu Phi, tại những làng chài ven biển, người phụ nữ hay đảm nhận những công việc gần bờ, hầu hết là những công việc không được trả lương trước và sau khi đánh bắt cá Nhưng trong buôn bán phụ nữ lại chủ động hơn nên ít nhiều cũng cải thiện được vị thế của họ trong gia đình và ngoài

xã hội (1998) Những nghiên cứu về phụ nữ trên thế giới đang ngày được quan tâm hơn, đặc biệt là vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình và trong sản xuất Tại một vài cộng đồng, phụ nữ được định nghĩa như “vợ người đánh cá” khi nam giới thực hiện hầu hết các công việc lên quan đến đánh bắt cá Tuy không tham gia trực tiếp, nhưng tại Gana, thu nhập từ “vợ người đánh cá” rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho toàn bộ ngành thủy hải sản khi họ đầu tư vào thuyền máy và những dụng cụ khác, hay cho chồng và những ngư dân khác mượn tiền

Tại một vài nơi khác như Benin, Cambodia, Công, Mali, Papua New Guinea, quần đảo Solomon, Tanzania, Thailand và Uganda, phụ nữ tham gia vào tất cả các công việc sử dụng máy móc như ca-nô, thuyền máy, lưới điện, hay lặn tìm những hàng hóa giá trị cao như nam giới Cũng có những cộng đồng mà phụ nữ sở hữu thuyền

và ca-nô, chúng trở thành nguồn lợi đáng kể khi họ cho thuê Nhưng thông thường, phụ

nữ hay đảm nhận những công việc gần bờ, hầu hết là những công việc được trả lương như chữa lưới, gom mồi, chuẩn bị lương thực cho tàu đánh cá,… Thậm chí, nó còn không được công nhận như việc làm Tuy nhiên, phụ nữ lại nổi trội hơn hẳn nam giới trong việc chế biến và buôn bán hải sản trên khắp thế giới, mặc dù những hoạt động “phi chính thức” này có thể không được kể đến trong các số liệu quốc gia chính thống Họ được cho là có

kỹ năng thương thuyết bán hàng hơn hẳn nam giới vì khả năng kiềm chế và tránh xung đột của mình Ở nhiều nơi tại Châu Phi, phụ nữ thống trị chợ cá địa phương và các mặt hàng nông sản khác, điều này ít nhiều cũng nâng cao vị thế của họ

Trang 15

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực đề tài

Ở Việt Nam, phân công lao động theo giới là một chủ để thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong những năm gần đây, nhất là dưới góc độ xã hội học Một số nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích mô hình phân công lao động trong gia đình nhằm nêu lên thực trạng đặc biệt là trong công việc nội trợ như: Vũ Tuấn Huy, 2000; Lê Thị Quý, 2004; Lê Tiêu La – Nguyễn Đình Tấn, 2005; Nguyễn Hữu Minh, 2008; Lê Thi, 2009 Đây là khía cạnh rất quan trọng để tìm hiểu vấn đề bình đẳng giới trong gia đình, cho phép chỉ ra những khác biệt và bất hợp lý từ góc độ giới trong công việc, lợi ích, địa vị xã hội của nam giới và phụ nữ Bên cạnh đó, nghiên cứu

về phân công lao động trong gia đình cũng góp phần chỉ ra được mối quan hệ giữa những đóng góp của nam giới và phụ nữ với địa vị thấp kém của phụ nữ do không được công nhận là trụ cột kinh tế Tuy nhiên, theo một số tác giả, phân công lao động theo giới trong gia đình là một điều tất yếu khách quan, nhằm tăng tối đa thu nhập và phúc lợi xã hội của hộ nhưng sự phân công lao động nào sẽ dẫn tới sự phục tùng và phụ thuộc của phụ nữ đối với nam giới và sự phân công nào dẫn tới sự hợp tác giữa hai giới thì vẫn chưa được đề cập tới Tuy vậy, những nghiên cứu này đã gợi mở hướng nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong hộ gia đình chuyển từ sản xuất muối sang NTTS tại vùng ven biển Bắc Bộ

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích khía cạnh giới trong phân công lao động trong gia đình giữa các thành viên Do đó, phân công lao động luôn được xem là hướng gợi mở cho các nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề bình đẳng giới hay phân tích vị thế của người phụ nữ trong gia đình nhằm nêu lên thực trạng về sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất (Mai Huy Bích, 1999) Từ đó chỉ ra sự khác biệt thậm chí là mâu thuẫn từ góc độ giới trong công việc của vợ và chồng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra phụ nữ đóng góp nhiều công sức cho kinh tế gia đình nhưng không có vai trò chính trong quyền quyết định, đặc biệt

là những quyết định quan trọng trong gia đình hay trong sản xuất kinh doanh như thay đổi cây trồng, vật nuôi, hướng kinh doanh, cơ cấu đầu tư, mua vật tư công cụ sản xuất kinh doanh và sản phẩm (Nguyễn Linh Khiếu, 2003) Vì vậy, việc tiếp cận và kiểm soát quản lý các nguồn lực phát triển, nhất là trong quản lý tài sản, đất đai,… của người phụ nữ gặp không ít khó khăn Rõ ràng, trong mối quan hệ giới những đóng góp của người vợ, người phụ nữ về thời gian, công sức, tiền bạc với gia đình chưa được

Trang 16

nhìn nhận đầy đủ Hơn nữa, do phụ nữ vẫn là người chủ yếu đảm nhiệm công việc nội trợ trong gia đình nên so với nam giới, họ ít có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế xã hội nhằm có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp và có thu nhập cao Cụ thể, theo nghiên cứu về “Gia đình và sự biến đổi gia đình Việt Nam” trang 344 có trích dẫn

“Hàng ngày, có tới 88,6% người vợ đảm nhận chính việc mua thức ăn, 79,9% nấu cơm, 77,3% giặt giũ, 71,1% rửa bát, 70,9% dọn nhà, 52,1% chăm sóc người ốm, 54,6% chăm sóc con cái Tỷ lệ người chồng đảm nhiệm chính các công việc tương tứng là: 5,5%, 3,3%, 2,8%, 1,8%, 3,7%, 2,7% Trong sản xuất, người chồng trong các gia đình nông thôn đảm nhận chính các công việc như là đất, phun thuốc trừ sâu, trồng rừng, khai thác lâm sản, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, vận chuyển xây dựng Người vợ đảm nhận chính những công việc như gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, bán sản phẩm (Lê Ngọc Văn, 2012)

Theo Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn (2005), nghiên cứu về nghề cá với các nghiên cứu ở góc độ xã hội học trong phân công lao động trong cộng đồng ngư dân ít hơn so với các nghiên cứu về nông dân Khi nghiên cứu về ngư dân mới chỉ tập trung làm rõ vai trò của phụ nữ với tư cách là người nội trợ và tham gia công việc hỗ trợ tiêu thụ và chế biến hải sản Một số nghiên cứu khác thì tập trung vào vai trò của nam giới với tư cách là người tạo ra nguồn thu nhập chính trong đánh bắt thủy sản (Lê Ngọc Văn, 1999) Các nghiên cứu thực nghiệm về phân công lao động trong gia đình ở Việt Nam chủ yếu quan tâm đến thực trạng sự phân công và mối quan hệ dựa trên một số đặc điểm của hộ gia đình và cá nhân Những nghiên cứu này có những đóng góp nhất định khi mô tả bức tranh chung về phân công lao động Nghiên cứu này tập trung sâu hơn vào phân tích vai trò giới giữa vợ và chồng trong sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản

Hướng nghiên cứu về phân công lao động và quan hệ giới thông thường vẫn đi theo hướng: nam giới là chủ hộ là người đi biển đánh bắt và khai thác thủy hải sản, có quyền nắm giữ tài chính và có quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong gia đình, đặc biệt là việc liên quan đến sản xuất Còn người vợ ở trên bờ, tham gia sản xuất muối, chăn nuôi, chế biến, mua bán hải sản và ra các quyết định liên quan trong gia đình Tuy nhiên, sự tham gia của người đàn ông chỉ giới hạn trong khâu đánh bắt cá trên biển và ít tham gia các hoạt động sản xuất khác khi họ ở nhà Trong khi đó, người phụ nữ lại tham gia đảm nhiệm rất nhiều vai trò khác nhau (sản xuất muối, buôn bán,

Trang 17

chế biến hải sản,…) để đảm bảo kinh tế cho gia đình (Lê Tiêu la, 2005) Tuy nhiên, vai trò của người phụ nữ không hề được đánh giá cao, các quyết định quan trọng và thu nhập vẫn do người đàn ông nắm giữ Thậm chí, người phụ nữ không được công nhận thành quả lao động của mình mà còn bị cho là người ăn bám chồng (Lê Tiêu La, Lê Ngọc Hùng, 1998)

Xét những nghiên cứu về phân công lao động và quan hệ giới trong cộng đồng ngư dân vùng đầm phá, vai trò của người phụ nữ tham gia sản xuất đã có những sự thay đổi nhất định Người phụ nữ lúc này tham gia vào tất cả các khâu của chu trình đánh cá Từ chuẩn bị đến đánh bắt, chăn nuôi, chế biến và mua bán hải sản Người vợ lúc này là người trợ lý đắc lực nhất cho người chồng vì không ra ngoài khơi đánh bắt

số lượng nhân công sẽ giảm đi đáng kể Ngoài việc tham gia sản xuất, người vợ còn phải đảm nhiệm tất cả công việc nhà: chăm sóc con, đi chợ, nấu ăn, giặt giũ,… còn người chồng lại được quyền nghỉ ngơi và tham gia các công việc cộng đồng (Lê Tiêu

La, 1998) Rõ ràng, những nghiên cứu về quan hệ giới ở cộng đồng ngư dân cho thấy, người phụ nữ có vai trò rất lớn trong công việc sản xuất và tạo ra kinh tế hộ nhưng vị thế của họ vẫn thấp hơn so với chồng mình

Tuy nhiên, theo một hướng nghiên cứu khác do có sự thay đổi về hình thức sản xuất nên vai trò của người phụ nữ cũng có những thay đổi cải thiện hơn không chỉ trong gia đình mà trong cả đánh giá của xã hội (Lê Thi, 2004) Mối quan hệ giới ngày càng được cải thiện trong phân công lao động và công việc xã hội Sự thay đổi được thể hiện khi nữ giới ngày càng tham gia nhiều vào vai trò sản xuất, nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, việc nuôi trồng thủy sản cần phải sử dụng sức nhiều hơn so với làm muối nên người phụ nữ vẫn không thể tự sản xuất mà không có sự trợ giúp của người đàn ông (Lê Ngọc Văn, 1999) Trước kia, khi có chiến tranh người đàn ông ra trận, người phụ nữ ở nhà trực tiếp đi biển, nhưng khi chiến tranh kết thúc họ lại quay trở về công việc nội trợ ở nhà Do đó, sự phân công lao động và mối quan hệ giới luôn có những bất bình đẳng xảy ra, Trong nghề cá, địa vị của người phụ nữ vẫn thấp kém hơn người đàn ông, tuy nhiên với những nhóm phụ nữ khác nhau thì tiếng nói cũng khác nhau thể hiện vai trò của họ

Sự thay đổi vai trò của phụ nữ trong quá trình phân công lao động cho thấy, mô hình phân công lao động theo giới truyền thống không phải là bất biến mà có thể thay đổi được, đặc biệt là theo xu thế phát triển của xã hội hiện đại Gợi ý này là cơ sở cho

Trang 18

việc nghiên cứu sâu sắc hơn việc phân công lao động khi chuyển đổi hình thức sản xuất từ muối sang NTTS, từ đó làm rõ vai trò giới giữa vợ và chồng trong hộ gia đình

Đánh giá chung

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu về phân công lao động theo giới trong gia đình có thể nhận thấy, các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định mô hình phân công lao động trong gia đình với người vợ là người làm chính trong chức năng tái sản xuất và nam giới đảm nhận chính các công việc sản xuất, tạo ra thu nhập Sự phân công này đã dẫn đến sự khác biệt trong quyền ra quyết định đối với các công việc giữa nam giới và phụ nữ Đối với các gia đình chuyển đổi hình thức sản xuất từ làm muối sang NTTS, vai trò giới trong hộ gia đình còn thể hiện sự bất bình đẳng giới khi công sức của người phụ nữ vẫn chưa được ghi nhận

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, luận văn sẽ góp phần làm

rõ hơn thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng khi thay đổi hình thức sản xuất Qua đó, chỉ ra mối liên hệ giữa phân công lao động và quyền ra quyết định, khả năng tiếp cận các nguồn lực và chia sẻ lợi ích giữa hai giới để thấy rõ được vai trò giới thay đổi trong cấu trúc

hộ gia đình trong bối cảnh chuyển đổi nghề đặc thù tại địa bàn nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu này là tìm hiểu phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Hậu – Nam Định)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất, tìm hiểu thực trạng phân công lao động theo giới (giữa vợ và chồng) trong các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm muối và nuôi trồng thủy sản thuộc địa bàn nghiên cứu huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

- Thứ hai, tìm hiểu thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động nội trợ, chăm sóc gia đình và trong các hoạt động cộng đồng trong gia đình tại địa bàn nghiên cứu

- Thứ ba, tìm hiểu quyền quyết định giữa vợ và chồng trong sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản tại địa bàn nghiên cứu

Trang 19

- Thứ tư, phân tích một số yếu tố tác động tới vị thế của người phụ nữ sau khi chuyển đổi hình thức sản xuất từ muối sang NTTS

3.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm trả lời cho những câu hỏi sau đây:

- Hiện nay, phân công lao động (giữa vợ và chồng) trong các gia đình sản xuất muối và NTTS ở các địa bàn khảo sát diễn ra như thế nào? Quy mô hình thức sản xuất

có ảnh hưởng gì tới phân công lao động?

- Việc chuyển đổi hình thức lao động đã tạo ra ảnh hưởng như thế nào tới vai trò giới trong hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu?

- Có những yếu tố nào tác động đến sự thay đổi vị thế của người phụ nữ trong quá trình chuyển sang NTTS?

3.4 Giả thuyết nghiên cứu

1 Trong sản xuất muối quy mô lớn có sự tham gia của cả hai giới, còn với quy

mô nhỏ phụ nữ làm là chủ yếu, ít có sự tham gia của nam giới

2 Trong các hộ NTTS, sản xuất theo quy mô lớn phụ nữ hầu như không tham gia vào sản xuất, còn với quy mô nhỏ, phụ nữ tham gia vào hầu hết tất cả các khâu Vị thế của người phụ nữ khi chuyển sang NTTS được đánh giá cao hơn một phần do tác động của kinh tế

3 Quyền quyết định và tham gia của phụ nữ sau khi chuyển sang NTTS được chú trọng hơn vì liên quan đến yếu tố kinh tế và các khoản đầu tư ban đầu Nhưng nam giới vẫn là người quyết định các công việc liên quan đến sản xuất và phụ nữ là người quyết định các công việc trong gia đình

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là sự phân công lao động giữa vợ và chồng khi hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS

Trang 20

tập trung chủ yếu tìm hiểu phân công lao động trong sản xuất, công việc gia đình và các công việc liên quan đến hoạt động cộng đồng; quyền quyết định (trong tham gia, quyết định nguồn lực tài tính), tiếp cận nguồn lực và chia sẻ lợi ích

Nghiên cứu được thực hiện tại xã Hải Chính và xã Hải Chiều thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Thời gian tiến hành nghiên cứu: Luận văn tiến hành nghiên cứu đối với các hộ gia đình đã chuyển đổi từ làm muối kém hiệu quả sang NTTS (từ năm 2010 đến 2015)

và hộ kết hợp vừa làm muối vừa NTTS

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Nghiên cứu này sử dụng các công trình nghiên cứu có liên quan đến cộng đồng ngư dân và vấn đề giới, các tư liệu, thông tin về hoạt động sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản Đồng thời tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu thống kê kinh tế - xã hội từ UBND huyện Hải Hậu và các nguồi tài liệu khác Qua đó, đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu giới, phân công lao động theo giới và vai trò giới trên thế giới và Việt Nam Điều này cho phép mô tả thực trạng phân công lao động theo giới trong gia đình nói chung và gia đình ngư dân ven biển Bắc Bộ nói riêng ở những bối cảnh khác nhau và hình thức sản xuất khác nhau Việc tổng quan tài liệu nghiên cứu sẽ giúp người đọc hình dung về tình hình nghiên cứu vấn đề này trên thế giới và ở Việt Nam, cũng như thực tế vai trò giới trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS tại vùng ven biển Bắc Bộ hiện nay

5.2 Thu thập thông tin sơ cấp

5.2.1 Phương pháp quan sát:

Tiến hành quan sát thực tế trong quá trình sản xuất muối và nuôi trồng thủy sản mức độ thường xuyên tham gia sản xuất của người phụ nữ và nam giới Điều kiện sản xuất giữa 2 hình thức này có sự khác biệt như thế nào? Dựa vào quy trình sản xuất hiện nay của mỗi loại hình sản xuất không có sự biến đổi nhiều (đặc biệt là sản xuất muối vẫn giữ quy trình sản xuất cũ) để so sánh sự khác biệt trong tham gia sản xuất của phụ nữ và nam giới trước kia và hiện tại nhằm đảm bảo tính chính xác của thông tin thu thập được tại thực địa

Trang 21

5.2.2 Khảo sát bằng bảng hỏi:

Bảng hỏi là công cụ nghiên cứu chính trong việc thu thập thông tin, chỉ báo, mức độ, các vấn đề nghiên cứu của đề tài Bảng câu hỏi được thiết kế với 11 câu hỏi được chia thành các phần như sau:

Phần I: Thu thập thông tin nhân khẩu – xã hội của hộ gia đình trả lời phỏng vấn

và phân loại đối tượng hộ gia đình

Phần II: Thu thập thông tin về thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất muối và NTTS Trong đó:

A: Phân công giữa vợ và chồng trong HGĐ sản xuất muối (trước đây, nếu đã chuyển đổi) và hiện nay nếu vẫn đang làm muối

B: Phân công giữa vợ và chồng trong HGĐ đang làm nghề nuôi trồng thủy sản

Mẫu được chọn theo phương pháp chọn ngẫu nhiên phân tầng với 200 phiếu gồm

100 phiếu cho hộ gia đình sản xuất muối và 100 phiếu cho hộ gia đình NTTS Những người được hỏi thuộc các hộ gia đình đảm bảo các tiêu chí sau:

Thứ nhất, có đầy đủ cả vợ và chồng (loại bỏ những hộ gia đình đơn thân) Thứ hai, cả vợ và chồng hiện đang chung sống tại địa bàn khảo sát

Thứ ba, áp dụng gia đình có 2 - 3 thế hệ bố mẹ - vợ chồng – con cái với phiếu phỏng vấn dành cho hộ làm muối (do đặc thù công việc); áp dụng gia đình hai thế hệ

vợ chồng – con cái với hộ gia đình NTTS (tránh tình trạng cha mẹ già tham gia vào công việc gia đình, khó so sánh)

Trang 22

Quy trình khảo sát:

Sau khi đặt vấn đề với lãnh đạo 2 xã về nội dung cuộc khảo sát, thống nhất các tiêu chí chọn mẫu, chúng tôi tiến hành khảo sát trong khoảng gần 2 tháng (từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 6/2016) Điều tra viên gồm tác giả và 10 điều tra viên khác Tác giả thiết kế bảng hỏi và tiến hành điều tra thử tại địa bàn khảo sát để bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp Các điều tra viên được tác giả tập huấn/ hướng dẫn bảng hỏi trước khi tiến hành phỏng vấn Thời gian hoàn thành một bảng hỏi khoảng 15 – 20 phút Người dẫn đường giúp các điều tra viên tiếp cận người trả lời là các cán bộ xã/thôn

Phương pháp xử lý thông tin:

Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để xử lý thông tin thu thập được từ cuộc khảo sát Các số liệu định lượng sử dụng trong luận văn được rýt ra từ cuộc khảo sát này

Đề tài nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi nhằm phân tích cách nhìn tổng quan nhất của mọi đối tượng đánh giá về thông tin mang tính định lượng nhằm đánh giá thực trạng phân công lao động giữa vợ và chông thay đổi như thế nào trong quá trình chuyển đổi hình thức sản xuất Qua đó đánh giá, tính chất công việc thay đổi tác động tới vị thế của người lao động thay đổi như thế nào Đây là phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng xuyên suốt toàn bộ đề tài

5.2.3 Phỏng vấn sâu

Đề tài tiến hành 12 phỏng vấn sâu Trong đó, 3 phỏng vấn cán bộ huyện, xã; 9 phỏng vấn sâu phụ nữ và nam giới trong các hộ gia đình theo mô hình sau nhằm đối chứng và so sánh được sự khác biệt về quá trình phân công lao động giữa vợ và chồng trong mỗi thời kỳ khác nhau:

Sản xuất muối Nuôi trồng thủy sản Quá khứ 3 phỏng vấn sâu

Hiện tại 3 phỏng vấn sâu 3 phỏng vấn sâu

Thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu giúp tác giả minh họa, xác nhận, làm sáng tỏ hoặc bổ sung thêm thông tin cho các dữ liệu định lượng đã thu thập được

Bên cạnh đó, tiến hành 2 thảo luận nhóm (1 nhóm phụ nữ và 1 nhóm nam giới thuộc hộ sản xuất muối chuyển đổi sang nuôi trổng thủy sản) kết hợp với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA): Ranking tại địa điểm nghiên cứu

Trang 23

nhằm thu thập thông tin đánh giá về vai trò nào sẽ làm thay đổi vị thế của người phụ

nữ Qua đó, làm rõ mô hình phân công lao động theo giới (mô hình 24 giờ trong ngày) của các hộ gia đình thuộc 2 hình thức sản xuất khác nhau và sự hài lòng/không hài lòng của họ đối với công việc đó

Các thông tin mang tính định tính thu thập được từ cuộc phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm được xử lý tập hợp thông qua các báo cáo thực địa Các thông tin mang tính định lượng thu thập được qua điều tra bằng bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm SPSS

THAY ĐỔI HÌNH THỨC SẢN XUẤT

PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG

SẢN XUẤT

MUỐI

NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, TIÊU THỤ

HOẠT ĐỘNG NỘI TRỢ, CHĂM SÓC GIA ĐÌNH

HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG

QUYỀN QUYẾT ĐỊNH TIẾP CẬN VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH

Trang 24

trò giới trong phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong các gia đình ở vùng ven biển

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu giúp chúng ta hình dung về tình hình phân công lao động theo giới trong các cộng đồng ngư dân ven biển với những đặc trưng riêng, khác với trường hợp các xã hội nông thôn đồng bằng, miền núi hay các xã hội thành thị công nghiệp Ngoài

ra, nghiên cứu còn có ý nghĩa quan trọng nhằm tăng cường vai trò của mỗi giới, góp phần phát triển nghề NTTS

Nghiên cứu còn có thể dùng làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu

về giới và bình đẳng giới nói chung, về phân công lao động theo giới trong gia đình nói riêng dẫn đến thay đổi vai trò giới Đồng thời, chúng tôi mong rằng, ở góc độ nào

đó, có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách ở địa phương trong việc điều chỉnh các chiến lược phát triển nghề muối và NTTS cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội chung

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Kết luận

Phần mở đầu

Phần nội dung: Chia làm 3 chương

Chương I: Cơ sở lý luận Chương này trình bày các lý thuyết sử dụng trong luận văn, các khái niệm làm việc và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Chương II: Thực trạng phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hộ gia đình chuyển đổi hình thức sản xuất từ muối sang NTTS tại địa bàn khảo sát Chương này đi sâu vào phân tích các kết quả nghiên cứu thu được liên quan đến thực tế phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình

Chương III: Thực trạng quyền ra quyết định trong các công việc gia đình, sự tiếp cận nguồn lực và chia sẻ lợi ích giữa vợ và chồng trong các gia đình NTTS thuộc địa bàn khảo sát Kết quả nghiên cứu thu được từ cuộc khảo sát sẽ làm rõ những giả thuyết đã đặt ra ở Phần mở đầu

Ngoài ra, trong phần phụ lục đính kèm luận văn, tác giả giới thiệu bảng hỏi dùng cho cuộc khảo sát định lượng và một số biên bản rút ra từ cuộc khảo sát giúp minh họa hoặc bổ sung thêm cho những phân tích ở Phần nội dung

Trang 25

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm làm việc

Việc xác định rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài không chỉ giúp chúng ta sử dụng nó như một công cụ nghiên cứu mà còn định hướng phạm vi nội dung và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Gia đình và hộ gia đình

Khái niệm gia đình

Gia đình với tư cách là tế bào xã hội đã tồn tại từ lâu trong sự phát triển của lịch

sử Cơ sở của nó là mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và thân tộc Trong xã hội học không có định nghĩa chung, phổ biến về gia đình do gia đình hết sức đa dạng theo không gian và thời gian Có nhiều định nghĩa về gia đình, trong đó có một số định nghĩa được nhiều nhà khoa học thống nhất Cụ thể:

“Gia đình là một nhóm xã hội nhỏ đặc thù có đặc trưng cơ bản là được thiết lập trên cơ sở của hôn nhân mà từ đó hình thành các quan hệ huyết thống ruột thịt giữa các thành viên”

“Gia đình là một dạng thiết chế xã hội đặc biệt liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là các mối quan hệ họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận nuôi con nuôi Những người này có thể sống cùng hoặc khác một mái nhà” (Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, 2007, tr31)

“Gia đình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung” (Lê Ngọc Văn, 2012, tr31)

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể thấy gia đình là một nhóm người được hình thành dựa trên cơ sở hôn nhân – huyết thống hoặc có cả quan

hệ hôn nhân – huyết thống – nghĩa dưỡng và có ngân sách chung Họ có thể chung sống hoặc không cùng chung sống dưới một mái nhà Trong nghiên cứu này, những người được khảo sát có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống theo mô hình có bố mẹ và con ở chung một mái nhà, có ngân sách chung và được pháp luật công nhận

Khái niệm Hộ

Trang 26

Hộ cũng là khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau Các nhà khoa học thường dựa vào những đặc điểm nhân chủng học, những đặc điểm cư trú và cơ sở kinh

tế của hộ khi đưa ra định nghĩa về hộ

“Hộ gồm những người có quan hệ hôn nhân hoặc ruột thịt hoặc nuôi dưỡng, có quỹ thu chi chung và chung sống lâu dài” (Theo tổng cục thống kê)

“Hộ là nhóm người có cùng huyết tộc hoặc không cùng huyết tộc, sống chung trong một mái nhà và chi tiêu một ngân quỹ chung mà các thành viên trong hộ cùng đóng góp vào” (Lê Tiêu La, Nguyễn Đình Tấn, 2005, tr 22)

Tuy khái niệm Gia đình và khái niệm Hộ có điểm khác biệt là tính huyết tộc (Gia đình) Trong nghiên cứu này, khái niệm Gia đình và Hội được hiểu thống nhất nhau

1.1.2 Khái niệm Hộ gia đình nuôi trồng thủy sản

Theo Lê Tiêu La, Nguyễn Đình Tấn: “Hộ gia đình NTTS là một đơn vị kinh tế

cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng”

Trong nghiên cứu này, Hộ gia đình NTTS tập trung phân tích là một nhóm người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, cùng chung sống và hợp tác kinh tế với nhau, cùng chung thu nhập – chi tiêu, chuyển đổi nghề từ làm muối sang NTTS

1.1.3 Giới

Giới là một thuật ngữ xã hội học dùng để nghiên cứu vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ

nữ với tư cách cá nhân mà nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Quan hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội Nói một cách ngắn gọn, giới là quan hệ xã hội giữa nam nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội (Lê Thị Quý, 2010, tr34)

Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và

nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi và sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới Những quy định/mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội (Hoàng Bá Thịnh, 2008, tr42)

Trang 27

1.1.4 Vai trò giới

Vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ Những vai trò giới này được học hỏi thông qua quá trình xã hội hóa Các vai trò giới cơ bản bao gồm ba vai trò sau:

Vai trò sản xuất: Bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc

hiện vật để tiêu dùng hoặc trao đổi

Vai trò tái sản xuất (sinh sản, nuôi dưỡng): Bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi

con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động (Không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn có cả chăm lo, duy trì lực lượng lao động hiện tại và lực lượng lao động trong tương lai)

Vai trò cộng đồng: Bao gồm các công việc thực hiện ngoài cộng đồng nhằm

phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người Ví dụ: tham gia các cuộc họp xóm, bầu

cử, Hội đồng nhân dân,…

Cả nam và nữ đều thực hiện ba vai trò này, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt Vì vậy hiện nay, vai trò giới không bình đẳng do quá trình dạy và học trong xã hội bất bình đẳng giới (BBĐ) mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, thể chế chính trị Nhìn chung các vai trò giới là những hành vi và những quan điểm, thái độ được trông đợi trong một xã hội tạo nên với mỗi giới tính Những vai trò này bao gồm các quyền và các trách nhiệm được chuẩn hóa đối với từng giới tính trong một xã hội cụ thể Vai trò giới được hiểu là những trông đợi về những hành vi và quan điểm mà nền văn hóa xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới (Hoàng Bá Thịnh, 2008, tr 178)

1.1.5 Phân công lao động theo giới

Phân công lao động theo giới là kết quả của sự phân định chức năng giữa hai giới trên cơ sở của sự thống nhất và sự khác biệt về mặt sinh học và những đặc trưng kinh tế -

xã hội giữa hai giới (Lê Tiêu La, Nguyễn Đình Tấn, 2005, tr 30)

Về bản chất, phân công lao động theo giới là sự thể hiện vai trò giới, là việc nhận định chức năng, nhiệm vụ, là việc gắn từng giới vào những nghề nghiệp thích hợp, đảm bảo mối liên kết chặt chẽ giữa các giới với nhau và sự phát triển hài hòa giữa chuyên môn hóa và hợp tác hóa, tạo ra sự kết hợp giữa hai giới

Phân tích phân công lao động theo giới không chỉ xem xét ai làm gì, làm bao nhiêu mà còn phải xem xét những chức năng, nhiệm vụ có được như thế nào mà nguồn

Trang 28

lực, những phần thưởng được phân chia ra sao Hơn nữa, còn phân tích những mối liên

hệ giữa những phân công và quan hệ này về quyền uy, ra quyết định và kiểm soát ở tất

cả các bước của quá trình sản xuất và phân phối Trong khi sự phân công lao động giữa phụ nữ và nam giới thay đổi trong các nền văn hóa và theo thời gian, lao động của phụ nữ nhìn chung được trả lương ít hơn và kém giá trị hơn lao động là nam giới, những việc làm của nam giới thường uy tín hơn, được trả lương tốt hơn và có nhiều khả năng được ghi nhận Ngược lại, lao động của phụ nữ có xu hướng làm việc nửa thời gian với mức lương thấp hoặc không được trả công (Hoàng Bá Thịnh, 2008, tr 247)

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài

Đề tài nghiên cứu phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản, tác giả sử dụng các lý thuyết xã hội học là: lý thuyết cấu trúc – chức năng, lý thuyết giới trong xã hội học về vị thế - vai trò và lý thuyết lựa chọn hợp lý trong nghiên cứu này

1.2.1 Tiếp cận theo lý thuyết về cấu trúc – chức năng

Lịch sử của lý thuyết cấu trúc – chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học như: Talcott Parsons, Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, … Cách tiếp cận lý thuyết cấu trúc – chức năng thịnh hành trong xã hội học những năm

50 của thế kỷ XX Hai tác giải chính đại biểu cho thuyết cấu trúc chức năng là Talcott Parsons và George Murdok

Về mặt thuật ngữ, chủ thuyết chức năng còn được gọi là thuyết chức năng – cấu trúc hay thuyết cấu trúc – chức năng Dù với tên gọi nào, các tác giả của chủ thuyết chức năng đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể

đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững (Lê Ngọc Hùng, 2008)

Quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng coi gia đình là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, đáp ứng nhu cầu của thành viên trong gia đình và góp phần ổn định xã hội Sự ổn định của gia đình góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội Khi nghiên cứu về gia đình, thuyết cấu trúc – chức năng nghiên cứu gia đình như một hiện tượng xã hội trên hai bình diện là: Quan hệ giữa gia đình và xã hội; Các mối quan hệ bên trong gia đình Hai bình diện nghiên cứu này tương ứng với hai hướng nghiên cứu:

Trang 29

Nghiên cứu gia đình như một thiết chế xã hội và nghiên cứu gia đình như một nhóm xã hội đặc thù

Khi nghiên cứu gia đình như một thiết chế xã hội, người ta nghiên cứu xem gia đình tồn tại nhằm mục đích gì, thực hiện chức năng gì đối với xã hội Thiết chế gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết do sự cần thiết điều tiết các quan hệ nam nữ của

xã hội Xã hội thừa nhận và phê chuẩn sự chung sống của đôi nam nữ dưới hình thức hôn nhân, quy định trách nhiệm của họ với nhau, trách nhiệm với con cái và với xã hội Ngoài

ra, nghiên cứu gia đình như một thiết chế xã hội còn chú ý đến mối quan hệ giữa gia đình

và xã hội, mối quan hệ và tác động lẫn nhau giữa các thiết chế xã hội khác như Nhà nước, kinh tế, tôn giáo, giáo dục… Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng của nó, quan hệ gia đình với các tập hợp xã hội khác như nhà trường, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp, các tổ chức chính trị, văn hóa…

Khi nghiên cứu gia đình như một nhóm xã hội đặc thù, người ta nghiên cứu mối quan hệ tác động qua lại giữa các cá nhân trong đời sống gia đình như quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, những mối quan hệ tiền hôn nhân, những ảnh hưởng đến việc lựa chọn bạn đời, địa vị - vai trò của các thành viên gia đình phân công lao động theo giới trong gia đình, mâu thuẫn, xung đột giữa các thành viên gia đình, nguyên nhân tan rã của mối liên hệ hôn nhân và đình…(Lê Ngọc Văn, 2012)

Talcott Parsons (1902 – 1979) là đại biểu lớn nhất của học thuyết cơ cấu chức năng và cũng là người trình bày rõ ràng nhất về quan điểm cơ cấu chức năng trong vấn

đề giới Do đó, lý thuyết này cần thiết và thích hợp để giải thích sự biến đổi trong việc phân công và hợp tác lao động theo giới trong phát triển hộ gia đình và cộng đồng ngư dân Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay Lý thuyết cơ cấu – chức năng phân tích các yếu tố và quan hệ giữa 2 giới ở cấp độ vi mô Sự thay đổi về mặt cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ kéo theo những thay đổi hành vi, hoạt động kinh tế của các cá nhân thành viên (Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La, 1999)

Do đó, cần vận dụng lý thuyết cơ cấu – chức năng để bổ sung cho những thiếu hụt mà lý thuyết vị thế - vai trò chưa nghiên cứu đến Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường đã kéo theo những thay đổi của các tiểu hệ thống trong đó có gia đình Chẳng hạn, có thể giả thuyết rằng những gia đình người dân ven biển nào sớm chuyển từ sản xuất muối sang NTTS thì sự phát triển kinh tế của gia đình đó sẽ càng năng động hơn

Trang 30

những gia đình khác Sự chuyển đổi hình thức sản xuất đã phần nào tác động tới kinh tế

hộ gia đình và sự phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng Qua đó, mỗi người

sẽ đảm nhận các chức năng khác nhau hình thành nên trong quá trình chuyển đổi hình thức sản xuất mới

Với nghiên cứu của đề tài, chúng tôi áp dụng cách tiếp cận cấu trúc – chức năng theo hướng nghiên cứu gia đình như một nhóm xã hội đặc thù để chỉ ra chức năng, vai trò từng thành viên trong gia đình (cụ thể ở đây là giữa vợ và chồng) mà những hoạt động của họ đều góp phần vào sự ổn định, tồn tạo và phát triển của gia đình Theo thuyết chức năng, những vai trò giới được thể hiện rõ nhất trong phân công lao động gia đình Do đó, thuyết được vận dụng vào nghiên cứu để giải thích sự khác biệt trong việc thực hiện các vai trò giữa vợ và chồng, cũng như mối quan hệ giới trong việc thực hiện các vai trò đó để xây dựng gia đình ổn định, hạnh phúc mặc dù điểm hạn chế của cách tiếp cận này cho rằng phân công lao động theo giới hay vai trò giới có tính truyền thống, tự nhiên và phổ biến

1.2.2 Tiếp cận lý thuyết giới trong xã hội học về vị trí – vai trò xã hội

Về thực chất, lý thuyết giới là một phức thể các quan điểm khác nhau giải thích

sự khác biệt tương quan giữa hai giới nam và nữ Nghiên cứu vấn đề liên quan trực tiếp tới nữ giới khi sự chuyển đổi hình thức sản xuất ảnh hưởng tới vị thế của họ đòi hỏi vận dụng những quan điểm này Thứ nhất, một số nhà nghiên cứu về giới nhấn mạnh sự khác biệt “tự nhiên”, “bẩm sinh” giữa phụ nữ và nam giới Thứ hai, nguyên nhân của việc phụ nữ và nam giới thực hiện các vai trò khác nhau do các chuẩn mực, giá trị và niềm tin của xã hội, của cộng đồng quy định Thứ ba, do có sự khác biệt về sinh học “tự nhiên” mà cả nam và nữ đều có những vai trò thuộc về “thiên chức” đặc thù cho mỗi giới như chức năng làm mẹ (mang thai, sinh con) của phụ nữ và chức năng làm bố của người đàn ông Đồng thời cả nam và nữ giới đều có những vai trò mà

xã hội gán cho họ trong quá trình sống và do họ tự dành được trong lao động

Quan điểm giới và sự phát triển hiện nay không chỉ nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của phụ nữ trong việc hoạch định, thực hiện và đánh giá các mục tiêu phát triển kinh tế văn hóa xã hội mà còn xem xét tương tác vai trò của mỗi giới, khả năng đóng góp, nghĩa vụ và quyền lợi hay sự tiến bộ của mỗi giới trong sự ổn định và phát triển

xã hội Nó đòi hỏi sự xác định mục tiêu và biện pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu của

Trang 31

mỗi giới, đặc biệt là tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy năng lực của mình, phát triển toàn diện, bình đẳng với nam giới cùng với sự phát triển xã hội bền vững (Lê Tiêu La, Nguyễn Đình tấn, 2005)

Trong lĩnh vực thủy sản, việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quá trình tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh có thể đóng góp phần quan trọng vào việc tăng quyền năng chính trị, kinh tế xã hội của phụ nữ trong bước quá độ từ cơ chế hành chính quan liêu sang nền kinh tế thị trường Bước quá độ này phụ thuộc vào trí thông minh và sáng tạo của mỗi người, đặc biệt là phụ nữ khi muốn thay đổi vị thế của mình Việc phụ nữ tham gia trong việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những thách thức lớn khi bên cạnh những nét chung của người phụ nữ Việt Nam, nhóm xã hội phụ nữ trong ngành thủy sản có không ít những nét đặc thù Sự khác nhau này được xác định bởi đặc điểm, tính chất của ngành thủy sản, sự không đồng nhất mức độ phát triển kinh tế xã hội so với các ngành khác cũng như sự khác biệt về văn hóa xã hội, về truyền thống và tập quán của cộng đồng ngư dân ven biển Đặc biệt là

sự khác nhau rất rõ nét trong nghề làm muối và nghề NTTS

Các lý thuyết, quan điểm xã hội học nêu trên đã bổ sung cho nhau và giúp cho chúng ta có một tiếp cận nghiên cứu mới về sự phân công lao động và hợp tác lao động theo giới trong việc hướng tới thay đổi vị thế của người phụ nữ trong gia đình và cách nhìn nhận của cộng đồng ngư dân ven biển trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Lý thuyết về vị trí – vai trò trong xã hội học nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội học và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ hay kỳ vọng định hướng cho những hành vi xã hội của cá nhân đó Nó được xác định trong sự đối chiếu

so sánh với các vị trí xã hội khác Mỗi cá nhân có nhiều vị thế xã hội khác nhau bởi họ

có thể tham gia vào nhiều nhóm xã hội khác nhau Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các xã hội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được mong đợi Mô hình hành vi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội Các nhà xã hội học theo thuyết vị trí – vai trò xã hội cho rằng: “hành vi con người thay đổi khác nhau tùy theo bối cảnh gắn liền với vị

Trang 32

trí xã hội của người hành động”, rằng “hành vi phần nào được tạo ra bởi những mong đợi của người hành động và những người khác” Như vậy, vai trò xã hội “là sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của các cá nhân có vị thế đó” (Lê Tiêu La, Nguyễn Đình tấn, 2005)

Lý thuyết vai trò nhấn mạnh rằng, sự không bình đẳng trong xã hội phản ánh sự không bình đẳng về vị thế - vai trò trong xã hội Do đó, ảnh hưởng tới các tầng lớp xã hội Tuy nhiên, một số người khác lại nhấn mạnh tới khả năng thay đổi địa vị và vai trò, coi đó là yếu tố quan trọng, cơ bản để đạt tới sự bình đẳng Robert Merton đưa ra thuật ngữ “tập hợp vai trò” để nói đến việc một người phụ nữ có thể đóng nhiều vai trò khác nhau Ông ủng hộ việc người phụ nữ có thể lựa chọn và quyết định vai trò của mình trong gia đình và trong xã hội Vì vậy, vị trí và vai trò xã hội cùng tồn tại những quan hệ và sự tương tác xã hội Liên hệ với mối quan hệ giới, có thể thấy vai trò của phụ

nữ trong xã hội rất to lớn nhưng họ đạt được vị trí không tương xứng Sự can thiệp của các yếu tố kinh tế và nhận thức đã ảnh hưởng to lớn đến quá trình tương tác xã hội giữa nam và nữ trong sự không chuẩn xác về vị trí của họ Trong nghiên cứu về vị thế - vai trò của người phụ nữ vùng ven biển cũng có thể thấy rằng sự đảm nhiệm một lúc nhiều vai trò khác nhau của người phụ nữ Và với mỗi một vai trò khác nhau sẽ có những địa

vị đạt được khác nhau của người phụ nữ vùng biển

Bởi vậy, khi vận dụng lý thuyết vị trí – vai trò vào tiếp cận giới, giải quyết mối quan hệ giữa địa vị của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội và gia đình, nhiều nhà

xã hội học đã nhấn mạnh tới việc tuân thủ những địa vị và vai trò này Tuy nhiên, một

số khác lại nhấn mạnh khả năng thay đổi địa vị và vai trò, coi đó là yếu tố quan trọng

và cơ bản để đạt tới sự bình đẳng giới (Lê Thị Quý, 2010)

1.2.3 Tiếp cận lý thuyết lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, tâm lý học và nhân học thế kỷ XVIII, XIX Tiền đề cơ bản của thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng, con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và

sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu (Lê Ngọc Hùng, 2008, tr 354) Chúng ta có thể cân đo các hành động và quan hệ của chúng ta có thể cân đo các hành động và quan hệ của chúng ta trên cơ sở lợi – hại,

Trang 33

được – mất Trong quan hệ cá nhân, các nguồn lực, điều được và điều mất không hẳn chỉ những đồ vật mà còn là tình yêu, địa vị, quyền lực, Khi con người gia nhập một mối quan hệ, họ có những nguồn lực nhất định mà người khác coi là có giá trị và đánh giá cao Con người ta có ý thức hoặc vô thức sử dụng các nguồn lực này nhằm đạt được cái họ muốn (Mai Huy Bích, 2009, tr 141)

Tiếp cận của thuyết lựa chọn hợp lý được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong phân tích mối quan hệ trong gia đình trên cơ sở phân tích mô hình quyền lực, mô hình

ra quyết định, phân tích sự lựa chọn trong hôn nhân, xung đột gia đình và ly hôn,… Bởi trên thực tế, nhiều người sử dụng phân tích lợi hại để cân đo, so sánh các hành động và quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Theo Sabatelly và Shehan, các nguồn lực và quyền lực luôn đóng vai trò trung tâm khi ra quyết định lựa chọn Các nguồn lực của mỗi người vợ, người chồng và sự phụ thuộc của mỗi giới vào quan hệ

mà họ phải được tính đến, nhất là khi muốn nghiên cứu quyền lực trong hôn nhân (Mai Huy Bích, 2009, tr142)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng cách tiếp cận lựa chọn hợp lý nghiên cứu sự lựa chọn và hành động của vợ chồng trong hoạt động sản xuất muối và NTTS, hoạt động nội trợ - chăm sóc các thành viên trong gia đình, quyền quyết định giữa vợ

và chồng, cách tiếp cận và sử dụng, kiểm soát các nguồn lực Từ đó làm cơ sở đánh giá mối quan hệ giữa vợ và chồng trong các gia đình tại địa bàn nghiên cứu

1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Hải Hậu là huyện đồng bằng ven biển phía Nam của tỉnh Nam Định, có 32 xã

và 3 thị trấn, dân số gần 30 vạn người, diện tích đất tự nhiên 230 km2 (bình quân 1.260 người/km2) Diện tích đất canh tác 25.440 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 2.720

ha, công nghiệp 320 ha, NTTS 2.350 ha

Thực hiện đề án “Chuyển đổi diện tích trồng lúa, làm muối kém hiệu quả sang NTTS” từ năm 2000 cho đến nay, huyện Hải Hậu đã chuyển đổi được 879 ha sang NTTS Diện tích chuyển đổi tập trung ở địa bàn xã Hải Châu (110ha), xã Hải Chính (52 ha), Hải Chiều (20 ha), xã Hải Lý (20 ha), xã Hải Đông (30 ha), xã Hải Lộc (25 ha),… Tính đến năm 2014, tổng diện tích NTTS của huyện có khoảng 2.400 ha, trong

đó diện tích NTTS nước mặn lợ là 500 ha và diện tích NTTS nước ngọt đạt 1.900 ha Tổng sản lượng NTTS năm 2014 của toàn huyện đạt khoảng 6.500 tấn (thủy sản nước

Trang 34

ngọt đạt 5.500 tấn và thủy sản nước mặn lợ đạt 1.000 tấn) (Báo cáo UBND huyện, 2015)

Trong quá trình chuyển đổi này, huyện Hải Hậu đã tăng cường tập huấn, dạy nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho các hộ nông dân vùng ven biển Đối với NTTS vùng mặn lợ, các hộ tích cực đưa những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như tôm

sú, tôm thẻ chân trắng, cua xanh, cá song, cá chim vẩy vàng,… kết hợp đầu tư kỹ thuật,

sử dụng các chế phẩm sinh học thay cho dùng hóa chất theo hướng bền vững Tôm thẻ chân trắng với những đặc điểm như thời gian nuôi ngắn, dễ nuôi, năng suất cao, dễ tiêu thụ,… nên diện tích nuôi được mở rộng qua từng năm Đến nay, tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng của huyện đạt 170 ha, tập trung ở các xã ven biển như Hải Chính, Hải Triều, Hải Lý,…

Nhờ quá trình chuyển đổi từ làm muối kém hiệu quả sang NTTS thành công đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ gia đình Từ đó đời sống kinh tế người dân huyện Hải Hậu tăng mạnh, đặc biệt nhiều hộ sản xuất ven biển đã thoát nghèo Vì vậy đây là

địa bàn nghiên cứu có tính đại diện để thực hiện đề tài: “Phân công lao động giữa vợ

và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản”

Trang 35

CHƯƠNG 2 PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA VỢ VÀ CHỒNG TRONG CÁC HỘ GIA

ĐÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ SẢN XUẤT MUỐI SANG NTTS

2.1 Thực trạng quy hoạch theo vùng của xã Hải Chính, Hải Chiều và quá trình chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS

Hải Chính, Hải Chiều là những xã có tiềm năng về NTTS do phù hợp với các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, khí hậu nên đã bước đầu thành công khi thực hiện quy hoạch chuyển đổi các hình thức sản xuất mới tạo thu nhập cao hơn cho người dân và phát triển kinh tế địa phương Trong đó, xã Hải Chính tập trung quy hoạch chuyển đổi diện tích sản xuất muối sang NTTS do đất làm muối chiếm hơn một nửa quỹ đất sản xuất của xã Quá trình chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS bắt đầu từ khi có những

hộ gia đình muốn phát triển kinh tế hộ (2001) Thời gian đầu quá trình này của một số

hộ diễn ra nhỏ lẻ, không tập trung Theo báo cáo quy hoạch sử dụng đất của xã, tổng diện tích đất làm muối của xã tính đến năm 2010 là 131,05 ha chiếm 54,33% diện tích đất nông nghiệp và tính đến năm 2010, toàn xã có 68,33 ha là diện tích NTTS, chiếm 28,33% diện tích đất nông nghiệp Trong đó chủ yếu là diện tích ao nuôi cá phân bố chủ yếu ở khu dân cư và các khu vực chuyển đổi từ đất trồng kém hiệu quả Đây cũng là thế mạnh cho kinh tế hộ gia đình, có hộ nuôi theo hướng công nghiệp Song với ưu thế mạnh của ngành thủy sản hiện nay cần định hướng lâu dài, đầu tư thích đáng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất NTTS Một mặt tạo công ăn việc làm cho lao động dư thừa và lao động phụ, mặt khác tăng thu nhập cho người dân và cải thiện đời sống Do đó, năm 2010 theo chủ trương của chính sách Nông thôn mới, trong

đó có nội dung quy hoạch vùng sản xuất để phát triển kinh tế địa phương Xã Hải Chính

đã tiên phong quy hoạch thành 4 vùng sản xuất chính: vùng trồng màu, vùng NTTS, vùng sản xuất muối, vùng tiểu thương công nghiệp (TTCN), nhằm phát triển kinh tế vùng một cách toàn diện Trong đó, xã Hải Chính đặc biệt chú trọng tới 2 vùng: sản xuất muối và vùng NTTS vì nó gắn với chiến lược phát triển lâu dài của địa phương

Trang 36

Bảng 2.1 Bảng nhân công lao động theo vùng sản xuất của xã Hải Chính năm

Nguồn: Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 – xã Hải

Chính – Hải Hậu – Nam Định

Bản đồ quy hoạch các vùng sản xuất của xã Hải Chính

Sau 5 năm thực hiện chuyển đổi, đến nay, xã Hải Chính vẫn duy trì nghề truyền thống là sản xuất muối với diện tích lớn nhất (47 ha) và số lƣợng lao động tham gia

Trang 37

đông nhất (814 người) Do nghề NTTS mới được chuyển dần từ nghề muối sang nên

số lượng hộ (111) và lao động (189 người) vẫn ở mức trung bình và đang có xu hướng tăng dần Nhìn vào biểu đồ dưới đây có thể thấy được dựa trên quy hoạch đồng bộ của chính quyền địa phương, người dân nhận thức được thực hiện chuyển đổi hình thức sản xuất sẽ giúp thay đổi cuộc sống đỡ vất vả hơn và có khả năng phát triển trên chính mảnh đất quê hương

Biểu đồ 2.1: Lý do chuyển đổi từ sản xuất muối sang NTTS

Đơn vị tính: %

(Nguồn: Số liệu điều tra 2016)

Nhận thức được những khả năng phát triển mà NTTS mang lại, các hộ gia đình

đã và đang thực hiện chuyển đổi với nhiều nguyên nhân, động cơ Nguyên nhân chung nhất dẫn đến lý do các hộ gia đình thực hiện chuyển đổi xuất phát từ ý thức muốn kinh

tế khá lên chiếm 85% NTTS là nghề có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế mang lại giá trị lợi nhuận cao giúp thay đổi cuộc sống của các hộ gia đình Hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc giúp các hộ gia đình chuyển đổi đã tạo nên quyết tâm thay đổi làm kinh tế mới Lý do chuyển đổi theo quy hoạch của chính quyền và nhận thấy những thuận lợi từ môi trường, khí hậu tự nhiên chiếm tỷ lệ rất cao (80%) Tỷ lệ lựa chọn lý do chuyển đổi muốn việc làm đỡ vất vả hơn chỉ chiếm 42% vì theo đánh giá của các hộ gia đình chuyển đổi, mỗi nghề sẽ có khó khăn vất vả riêng

Các cuộc phỏng vấn sâu đã cho biết nguyên nhân chính khiến các hộ chuyển đổi là dựa trên tình hình kinh tế của hộ Nguồn vốn đầu tư ban đầu của các hộ gia đình còn gặp nhiều hạn chế, đặc biệt là đối với vùng NTTS cần có vốn lớn để đầu tư cơ sở

Trang 38

vật chất ban đầu Đặc biệt là các rủi ro có thể xảy ra cần phải huy động vốn nhanh, đối với kinh tế hộ gia đình thì sẽ rất khó khăn và mạo hiểm Theo quy hoạch ban đầu là do các hộ tự nguyện đăng ký vào vùng chuyển đổi và sau đó sẽ làm kinh tế hộ ở các vùng

đó Các hộ tự nguyện đổi đất sản xuất các vùng cho nhau để thuận lợi cho việc sản

xuất sau này Lý do các hộ đều tự nguyện như thế là “vợ chồng cô muốn chuyển đất muối sang đất NTTS thì phải trả lại ruộng muối và xin quy hoạch ở chỗ khác thì mới

có thể yên tâm đầu tư sản xuất được” Quy hoạch này mang lại lợi ích cho các hộ gia

đình nên vợ chồng đều bàn bạc với nhau để thống nhất với xã tránh tranh chấp xung đột xảy ra trong quá trình sản xuất Trong gia đình cần phải có cả vợ cả chồng đồng lòng thì mới có thể phát triển kinh tế hộ đi lên theo hướng tốt hơn Việc hộ gia đình chuyển sang NTTS ngày càng nhiều do các quy trình kỹ thuật trong nuôi và chăm sóc thủy sản có thể học hỏi lẫn nhau qua phân công công việc giữa vợ và chồng Do đó, nhiều hộ gia đình đã chuyển từ sản xuất muối sang NTTS nhằm thay đổi kinh tế theo chiều hướng tốt hơn để phục vụ cho nhu cầu đời sống và đầu tư học hành cho con cái

Số liệu điều tra khảo sát với hơn 80% các hộ nhận định rằng chuyển đổi giúp cho thu nhập của họ tăng gấp nhiều lần so với làm muối

Biểu đồ 2.2: Đánh giá về kinh tế của hộ sau khi chuyển từ sản xuất muối sang

NTTS

Đơn vị tính: %

(Nguồn: Số liệu điều tra 2016)

Trang 39

2.2 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất muối và NTTS

Trọng tâm của nghiên cứu là phân công lao động theo giới được cụ thể hóa ở phân công giữa vợ và chồng trong công việc sản xuất muối và NTTS của các hộ gia đình Câu hỏi đặt ra là: các công việc chính trong sản xuất và trong gia đình được vợ

và chồng sắp xếp, phân công, phối hợp ra sao khi có sự thay đổi ngành nghề như vậy? Trước hết, nghiên cứu tập trung tìm hiểu sự khác biệt về quy trình sản xuất của từng nghề qua quan sát thực tế và phỏng vấn cán bộ xã Kết quả cho thấy phân công lao động giữa vợ và chồng có sự khác biệt khá rõ ràng giữa hai nghề về quy trình sản xuất,

số lượng lao động tham gia sản xuất, tần suất lao động, thời gian nghỉ ngơi,… Phỏng vấn sâu cán bộ khuyến nông của xã cho biết tình hình cụ thể như sau:

Hộp 2.1: Sự khác biệt chung giữa sản xuất muối và NTTS

Nói về phân công lao động giữa vợ và chồng trong hai nghề này thì có thể thấy được sự khác biệt về quy trình làm muối thì đơn giản hơn nhưng cần nhiều nhân lực hơn, phải huy động cả nhà tham gia sản xuất (cả người già, trẻ nhỏ) đều tham gia hết, vì ngày nào cũng lặp đi lặp lại như thế Còn khi chuyển sang NTTS mỗi nhà chỉ cần một người là được, không cần nhiều người vì cũng chỉ có khi nào đào, sửa đầm hay cuối vụ thu hoạch thì có thêm vợ với thuê thêm người hỗ trợ Thời gian rỗi những lao động khác còn lại trong gia đình mà còn làm việc được thì chuyển sang làm việc khác

Phỏng vấn sâu cán bộ khuyến nông xã Hải Chính

Như vậy, trong quá trình chuyển đổi nghề, phân công lao động theo giới (giữ vợ

và chồng) đã có những thay đổi Chức năng chính và nhu cầu của công việc đòi hỏi sự phù hợp về giới tính và ngược lại

Theo Báo cáo tình hình lao động và việc làm do cán bộ xã tổng hợp qua các năm, tại xã Hải Chính, nữ giới là lao động chính trong sản xuất muối chiếm 70%, còn trong NTTS thì lao động chính là nam giới chiếm 90% Sử dụng mô hình Havar thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm (nhóm phụ nữ và nhóm nam giới) cho thấy sự tham gia của vợ và chồng trong quá trình chuyển đổi có những phát hiện khá lý thú Mỗi nghề sản xuất lại có một cách phân công lao động theo giới khác nhau Trong sản

Trang 40

xuất muối, thời gian lao động của người phụ nữ kéo dài khiến họ bị hạn chế, thậm chí không có thời gian nghỉ ngơi vào ban ngày Sau khi lao động, sản xuất về, nam giới thường được nghỉ ngơi: xem tivi, ngồi uống rượu,… còn phụ nữ lại tiếp tục làm việc nhà Điều này có nghĩa là phụ nữ chỉ thay đổi hình thức lao động mà không phải hình thức giải trí để tái sản xuất sức lao động Nhưng khi chuyển sang NTTS, sự phân công lao động có sự thay đổi Việc tham gia lao động của nữ giới có xu hướng giảm đi, còn thời gian lao động của đàn ông có xu hướng tăng lên Người phụ nữ lúc này chỉ phụ giúp người đàn ông trong một số công việc như: cho tôm ăn, thu hoạch tôm để bán Thời gian nghỉ ngơi của phụ nữ lúc này đã tăng lên vì ngoài việc phụ chồng trong một số công việc

ở ngoài đầm tôm lúc chồng đi vắng thì người phụ nữ vẫn đảm nhiệm các công việc nhà giống như trước kia Tuy nhiên, do có nhiều thời gian rảnh rỗi nên người phụ nữ bắt đầu tham gia vào các công việc cộng đồng nhiều hơn Đồng nghĩa với nó là sự chuyển đổi hình thức lao động đã được tập trung nhiều hơn vào vai trò tái sản xuất

Hộp 2.2: Phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất muối

Hai vợ chồng bác cùng tham gia sản xuất muối và làm các công việc nhà Nhưng mà phụ nữ thì phải nấu ăn, giặt giũ là chuyện thường nên không để cho bác trai làm Bác trai là trụ cột gia đình nên cũng phải ưu tiên được nghỉ ngơi nhiều hơn, bác làm nhiều hơn chút cũng được, biết là làm muối vất vả lúc nắng nóng, về nhà tối muộn lại phải làm hết các việc nhà nhưng biết làm sao được Lúc đó chỉ có mỗi nghề muối kiếm ra tiền thì phải làm để có thu nhập

Phỏng vấn sâu, Nữ, 45 tuổi

Hộp 2.3: Phân công lao động giữa vợ và chồng trong NTTS

Bác giờ nhàn nhiều rồi, chỉ cần bác trai một mình làm ở đầm tôm là đủ, thi thoảng bác ra phụ giúp bác trai cho tôm ăn lúc bác trai đi có việc thôi Khi nào mà đi thì bác ấy dặn bác cho ăn thế nào thì bác làm nguyên như vậy Bác ít tham gia nên cũng không biết gì Giờ ở nhà làm việc nhà với kiếm thêm việc đan lưới này kiếm thêm thôi Không sản xuất muối nữa bác nhàn lắm

Ngày đăng: 10/10/2016, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Huy Bích (2009), Giáo trình xã hội học gia đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
2. Mai Huy Bích, Lê Thị Kim Lan (1999), Địa vị phụ nữ ngư dân ở một số làng đánh cá miền Trung, Tạp chí Xã hội học (số 3+4), tr 45-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị phụ nữ ngư dân ở một số làng đánh cá miền Trung
Tác giả: Mai Huy Bích, Lê Thị Kim Lan
Năm: 1999
3. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
4. Bùi Quang Dũng (2007), Xã hội học nông thôn, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2007
6. Vũ Quang Hà (2002), Các lý thuyết xã hội học hiện đại, tập 1 - tập 2, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Vũ Quang Hà
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
9. Phạm Thị Huệ (2007), Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam, Tạp chí xã hội học số 3, tr 47-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Huệ
Năm: 2007
10. Lê Ngọc Hùng (2008), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2008
11. Lê Ngọc Hùng (2013), Lý thuyết xã hội học hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
12. Vũ Tuấn Huy (2006), Những vấn đề của gia đình Việt Nam trong quá trình biến đổi xã hội theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Tạp chí Xã hội học (số 2), tr13-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của gia đình Việt Nam trong quá trình biến đổi xã hội theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Tác giả: Vũ Tuấn Huy
Năm: 2006
13. Vũ Tuấn Huy, Deborah S.Carr (2000), Phân công lao động nội trợ trong gia đình, Tạp chí xã hội học số 4, tr 43-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân công lao động nội trợ trong gia đình
Tác giả: Vũ Tuấn Huy, Deborah S.Carr
Năm: 2000
14. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, NXB Lý luận chính trị Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị Hà Nội
Năm: 2007
15. Nguyễn Linh Khiếu (2003), Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề gia đình, Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Năm: 2003
17. Lê Tiêu La, Nguyễn Đình Tấn (2005), Phân công và hợp tác lao động theo giới, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân công và hợp tác lao động theo giới
Tác giả: Lê Tiêu La, Nguyễn Đình Tấn
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2005
18. Vũ Mạnh Lợi (2010), Chủ hộ gia đình Việt Nam là ai? trong sách “Quản lý nhà nước về gia đình- Lý luận và thực tiễn”, NXB Dân Trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ hộ gia đình Việt Nam là ai?" trong sách “Quản lý nhà nước về gia đình- Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Mạnh Lợi
Nhà XB: NXB Dân Trí
Năm: 2010
20. Nguyễn Hữu Minh (2008), Khía cạnh giới trong phân công lao động, Tạp chí xã hội học (số 4), tr 44-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khía cạnh giới trong phân công lao động
Tác giả: Nguyễn Hữu Minh
Năm: 2008
21. Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2009), Nghiên cứu Gia đình và giới thời kỳ đổi mới, NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Gia đình và giới thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2009
22. Nguyễn Thị Thùy Nhung (2014), Vị thế người vợ trong việc ra các quyết định trong gia đình nông thôn hiện nay, Luận văn thạc sĩ xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế người vợ trong việc ra các quyết định trong gia đình nông thôn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Nhung
Năm: 2014
23. Lê Thị Quý (2010), Giáo trình Xã hội học giới, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học giới
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
24. Lê Thị Quý (2011), Xã hội học Gia đình, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Gia đình
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
25. Lê Thi (2004), Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững, Hà Nội, Nhà xuất bản khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Bảng nhân công lao động theo vùng sản xuất của xã Hải Chính năm - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.1 Bảng nhân công lao động theo vùng sản xuất của xã Hải Chính năm (Trang 36)
Bảng 2.2 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong lao động sản xuất muối - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.2 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong lao động sản xuất muối (Trang 44)
Bảng 2.3 Mô hình phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất muối - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.3 Mô hình phân công lao động giữa vợ và chồng trong sản xuất muối (Trang 47)
Bảng 2.4 Phân công lao động giữa vợ và chồng các công việc gia đình trong sản - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.4 Phân công lao động giữa vợ và chồng các công việc gia đình trong sản (Trang 48)
Bảng 2.5. Phân công lao động giữa vợ và chồng trong các công việc cộng đồng của - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.5. Phân công lao động giữa vợ và chồng trong các công việc cộng đồng của (Trang 49)
Bảng 2.6 Mô hình phân công lao động giữa vợ và chồng trong NTTS - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.6 Mô hình phân công lao động giữa vợ và chồng trong NTTS (Trang 51)
Bảng 2.7 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất NTTS - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.7 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất NTTS (Trang 52)
Bảng 2.8 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong tham gia công việc cộng - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.8 Phân công lao động giữa vợ và chồng trong tham gia công việc cộng (Trang 55)
Hình ảnh về đầm tôm  Tìm hiểu về thu nhập của nghề NTTS ở địa phương, đặc biệt là nghề nuôi tôm - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
nh ảnh về đầm tôm Tìm hiểu về thu nhập của nghề NTTS ở địa phương, đặc biệt là nghề nuôi tôm (Trang 56)
Bảng 2.9 Nguyên nhân người chồng muốn vợ tham gia nhiều hơn vào - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.9 Nguyên nhân người chồng muốn vợ tham gia nhiều hơn vào (Trang 57)
Bảng 3.11 Quyền ra quyết định chính giữa vợ và chồng trong - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 3.11 Quyền ra quyết định chính giữa vợ và chồng trong (Trang 61)
Bảng 3.12 Quyền quyết định chi tiêu các công việc trong gia đình - Phân công lao động giữa vợ và chồng trong hộ gia đình chuyển đổi từ sản xuất muối sang nuôi trồng thủy sản
Bảng 3.12 Quyền quyết định chi tiêu các công việc trong gia đình (Trang 66)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w