Để có những thông tin đúng đắn, chính xác về doanh nghiệp nhằm đánh giá, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải đánh giá đúng thực
Trang 1- - - # " - - -
NGUYỄN VÂN ANH
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV THAN KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – NĂM 2013
Trang 2- - - # " - - -
Nguyễn Vân Anh
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV THAN KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ÁI ĐOÀN
HÀ NỘI – NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng Tác giả hoàn
toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác và nguyên bản của luận văn
Tác giả Nguyễn Vân Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trìn thực hiện đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp cải
thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa” Tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các cán bộ, nhân viên Công ty Than Khánh Hòa, tập thể Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Kinh tế
và Quản lý, giảng viên, các cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn, người Thầy đã chỉ bảo, hưỡng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Viện Đào tạo sau Đại học, Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè đồng nghiệp của tôi đang công tác tại Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tác giả luận văn Nguyễn Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC Danh mục Trang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH
1.1 Một số khái niệm cơ bản về tài chính và phân tích tài chính doanh
1.1.1 Khái niệm tài chính và tài chính doanh nghiệp 4
1.1.2 Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp 4
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp 6
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.2.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.2.1.2 Mục tiêu, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích tài chính 10
1.2.2 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp và các loại hình
1.2.2.1 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 12
1.2.2.2 Các loại hình phân tích tài chính doanh nghiệp 14
1.2.3 Tài liệu cơ sở và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 15
1.2.3.1 Tài liệu cơ sở dùng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 15
1.2.3.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 18
1.2.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 22
1.2.4.1 Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình hình tài
1.2.4.2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 23
Trang 61.2.4.5 Phân tích tổng hợp 33
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
2.1.2.2 Công nghệ khai thác than của Công tyTNHH MTV Than Khánh
2.1.4 Những thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển của Công ty 49
2.2 Phân tích tình hình tài chính của công ty TNHH MTV Than Khánh
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính 50
2.2.1.1 Phân tích các cân bằng tài chính chủ yếu dựa trên bảng cân đối kế
2.2.1.2 Phân tích cơ cấu tài sản và biến động tài sản 53
Trang 72.2.1.3 Phân tích tình hình nguồn vốn 58
2.2.2.2 Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định của Công ty TNHH
2.2.2.3 Phân tích tình hình sử dụng tài sản lưu động của Công ty TNHH
CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MTV THAN KHÁNH
3.2 Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính Công ty TNHH
3.2.1 Giải pháp 1: Đẩy mạnh công tác thu hồi các khoản phải thu khách
3.2.2 Giải pháp 2: Cắt giảm chi phí giá vốn, chi phí tài chính và chi phí
Trang 83.2.2.1 Cơ sở thực hiện giải pháp 118
1 Nhận xét chung về tình hình tài chính doanh nghiệp 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ Danh mục Trang
Hình 1.1:Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình hình tài chính 22
Hình 2.1: Sơ đồ công nghệ khai thác Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa 43
Hình 2.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa 46
Hình 2.3: Tổng hợp so sánh cơ cấu tài sản nguồn vốn 2010 - 2011 52
Hình 2.4: Sơ đồ phân tích tổng hợp tình hình tài chính – Sơ đồ Dupont 102
Trang 10DANH MỤC BẢNG Danh mục Trang
Bảng 2.1: Bảng thống kê giá trị đầu tư của Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa 42
Bảng 2.3: Cân đối giữa TSLĐ với nợ ngắn hạn và TSCĐ với nợ dài hạn 51
Bảng 2.4: Biến động tài sản 54 Bảng 2.5: Biến động nguồn vốn 59 Bảng 2.6: Phân tích vốn tín dụng và vốn kinh doanh 62
Bảng 2.7: Phân tích báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh 65
Bảng 2.8: Phân tích tình hình chi phí và lợi nhuận của Công ty 74
Bảng 2.9: Bảng so sánh giá điện năm 2010 - 2011 75
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp 76
Bảng 2.13: Hệ số doanh lợi trước thuế 79
Bảng 2.14: Phân tích tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu 80
Bảng 2.15: Cơ cấu tài sản cố định của Công ty năm 2011 80
Bảng: 2.16: Phân tích vòng quay tài sản cố định 81
Bảng: 2.17: Phân tích vòng quay tài sản cố định 82
Bảng 2.18: Thời gian hoạt động của tài sản cố định tại Công ty TNHH MTV Than
Khánh Hòa
83
Bảng 2.19: Phân tích tình hình sử dụng TSCĐ 84
Bảng 2.21: Phân tích kỳ thu nợ bán chịu 86
Bảng 2.22: Phân tích vòng quay tài sản lưu động 87
Bảng 2.23: Phân tích vòng quay tổng tài sản 88
Trang 11Bảng 2.24: Phân tích tình hình sử dụng TSLĐ 89
Bảng 2.25: Phân tích chỉ số thanh toán hiện hành 91
Bảng 2.27: Phân tích chỉ số thanh toán tức thời 93
Bảng 3.3: Tổng hợp lãi suất chiết khấu xác định 116
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu sau khi thực hiện giải pháp 116
Bảng 3.6: Báo cáo chi tiết doanh thu và chi phí các bộ phận 118
Bảng 3.7: Tỷ trọng các thành phần trong chi phí QLDN 121
Bảng 3.8: Phân tích tình hình thực hiện chi phí điện thoại, điện nước, dịch vụ mua
ngoài
122
Bảng 3.9: Kết quả sau khi thực hiện giải pháp 2 124
Bảng 3.10: Kết quả kinh doanh sau khi thực hiện 2 giải pháp 1,2 128
Bảng 3.11: Bảng cân đối kế toán dự tính sau khi thực hiện các giải pháp 1,2 129
Trang 12
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 13Nguồn vốn Tài sản bình quân Tổng tài sản Tài sản lưu động Đầu tư dài hạn Tài sản cố định Đầu tư dài hạn Vốn chủ sở hữu Vòng quay tổng tài sản Vòng quay khoản phải thu Vòng quay hàng tồn kho
Trang 14LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta đang tiến hành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm đảm bảo mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh Để biến điều đó thành hiện thực, một trong những nhiệm vụ phải làm là phát triển nền kinh tế đất nước, bằng cách phải có nền công nghiệp hiện đại khoa học kỹ thuật tiên tiến
Các ngành công nghiệp nói chung và ngành sản xuất nói riêng đang đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự mở mang nền kinh tế nước nhà Trong ngành sản xuất thì có ngành sản xuất than hiện nay, các ngành sản xuất dầu mỏ, khí đốt, điện năng đang phát triển nhưng chưa mạnh, do vậy ngành sản xuất than đang giữ vai trò trọng yếu, quyết định một số ngành công nghiệp như hóa chất, luyện kim, nhiệt điện vv Than còn là mặt hàng xuất khẩu bán lấy ngoại tệ để mua máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế máy, vật liệu kỹ thuật cho các ngành công nghiệp
Để có những thông tin đúng đắn, chính xác về doanh nghiệp nhằm đánh giá, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố để từ đó tìm ra những biện pháp hữu hiệu và những quyết định cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đó là nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra,
đối chiếu các số liệu giữa hiện tại và quá khứ, thông qua việc phân tích báo cáo tài chính cũng như để đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức phân phối sử dụng
và quản lý các loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ những khả năng tiềm tàng trong việc quản lý sử dụng vốn, đề xuất các biện pháp cần thiết và có hiệu lực để khai thác tới mức cao nhất những khả năng tiềm tàng đó Việc phân tích đầy
đủ, thường xuyên, kịp thời chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho những người sử dụng thông tin đánh giá được tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai
Trang 15Tổ chức tốt công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp có tầm quan trọng để thực hiện tốt công tác quản lý kinh tế, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
Từ những kiến thức đã học được trong nhà trường, và nhận thức vai trò đặc biệt quan trọng của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, cùng với quá trình thu thập và xử lý dữ liệu tạiphòng tài chính kế toán Công ty TNHH MTV Than
Khánh Hòa Đó là lý do tôi đã chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp
cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được tình hình tài chính của Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa (chỉ ra ưu nhược điểm, nguyên nhân)
- Xây dựng một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp, luận văn tập trung đi vào nghiên cứu và phân tích các báo cáo tài chính của công ty; phân tích hệ số an toàn, phân tích hiệu quả tài chính, phân tích các đòn bẩy tài chính của Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa trong 2 năm 2010 và 2011 (đã được kiểm toán)
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các cách thức vận dụng quản lý tài chính áp dụng cho Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa trong lĩnh vực kinh doanh khai thác, đưa ra các giải pháp để cải thiện tình hình tài chính của Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích
và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở cơ quan để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
Trang 16Luận văn được thực hiện với mong muốn hệ thống hoá và phát triển một số vấn đề lý luận về tài chính cũng như phân tích tài chính cho doanh nghiệp, nghiên cứu các đặc điểm mang tính đặc thù trong ngành khai thác than Trên cơ sở đó, luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng, nêu ra được những ưu, nhược điểm, nguyên nhân của nó, những giải pháp để cải thiện tình hình tài chính trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai của Công ty
5 Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm 3 phần cơ bản sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa Chương 3: Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của Công ty
TNHH MTV Than Khánh Hòa
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH
VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm tài chính và tài chính doanh nghiệp
Tài chính là quá trình phân phối các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải
có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ đó bao gồm luồng tiền tệ đi vào và luồng tiền tệ đi ra của doanh nghiệp, tao thành sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Gắn với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là quan hệ tài chính doanh nghiệp
1.1.2 Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp
+ Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Tài chính có hai chức năng chủ yếu có tác động qua lại lẫn nhau đó là chức năng phân phối và chức năng giám đốc
- Chức năng phân phối là việc phân phối các nguồn tài chính để hình thành
vốn kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả hay không, sản xuất có được bôi trơn hay không là nhờ vào chức năng này Ngoài ra chức năng phân phối còn là việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đã huy động để tạo các quỹ
Trang 18tiền tệ của doanh nghiệp, mua các tài sản của doanh nghiệp hay sử dụng để đầu tư nhằm đem lại lợi ích Đồng thời nó cũng đóng vai trò phân phối thu nhập tới các chủ thể của doanh nghiệp Tóm lại chức năng phân phối là chức năng chủ yếu của tài chính doanh nghiệp, chức năng này là cơ sở cho công tác tổ chức hoạch định tài chính của nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc: Mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình kinh doanh là
thu lợi nhuận, vì thế ngoài khả năng phân phối, tài chính doanh nghiệp còn có khả năng giám sát, dự báo hiệu quả của quá trình phân phối Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện với quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định
- Chức năng giám đốc có khả năng phát hiện những khuyết tật trong khâu phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện phương hướng, mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên, chức năng khách quan của tài chính doanh nghiệp phát huy đến mức nào lại phụ thuộc vào sự nhận thức một cách tự giác và hoạt động chủ quan của người quản lý trong khi sử dụng chức năng của tài chính Đó chính là vai trò của tài chính doanh nghiệp
+ Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có các vai trò chủ yếu sau:
- Đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có vốn kinh doanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện là xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Tiếp theo phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả
Trang 19Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu, lựa chọn và huy động nguồn vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen thưởng, quỹ lương, thực hiện các hợp đồng kinh tế…
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các chỉ tiêu tài chính
mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa
ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới mục tiêu đã định
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết
là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, sau nữa còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính của doanh nghiệp và các nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1 Yếu tố bên trong
Những yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chủ quan của các doanh nghiệp Có các yếu tố sau:
+ Yếu tố con người
Trang 20Con người là yếu tố rất quan trọng, đó là những cán bộ quản lý và lực lượng lao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý là những người cần nhận thức đầy đủ
về tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, những người có toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp và là người chịu trách nhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên đủ lớn, lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng cao, đảm bảo cả về mặt số lượng và chất lượng
+ Yếu tố về công nghệ sản xuất
Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản xuất cũng là điều rất cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích nghiên cứu và phát triển những chi tiết cho việc đầu tư và máy móc thiết bị, và các tài sản hữu hình là hoàn toàn cần thiết Ví dụ như khi doanh nghiệp đầu tư vào máy móc thiết bị, doanh nghiệp phải khấu hao từng phần trong nhiều năm, không cho phép khấu trừ toàn bộ chi phí ngay từ đầu năm Vậy, khi doanh nghiệp nhận thấy có sự giảm sút về các khoản khấu hao, cũng có nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thì cần phải biết nguyên nhân vì sao, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc do doanh nghiệp không có dự án khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm về sản xuất, giảm sút về năng lực cạnh tranh Do vậy, yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp
+ Yếu tố về chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giới khách hàng khác nhau trong tổng doanh thu của nó Trên thực tế, một doanh nghiệp phải luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Nếu một khách hàng quen và luôn mua với số lượng nhiều nhưng chuyển sang mua của nhà cung cấp khác thì tình trạng gì sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp phải chấp nhận những điều kiện ưu đãi hơn cho khách hàng này Tình hình này sẽ dẫn đến những khó khăn lâu dài về
Trang 21mặt tài chính Vì vậy, điều quan trọng với một doanh nghiệp là không nên tập trung quá vào một nhóm đối tượng khách hàng Mở rộng nhiều nhóm khách hàng tốt hơn
1.1.3.2 Những yếu tố bên ngoài
+ Yếu tố lạm phát
Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao, ngân hàng Nhà nước cũng phải thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép Như vậy, nếu lạm phát tăng cao có thể làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp
+ Yếu tố lãi suất
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm
Trang 22thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ tác động đến sản lượng và giá
cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các khoản thu lợi đó qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập Các khoản chi phí và thu nhập
đó lại xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đề thời giá của tiền
tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền, giá trị theo thời gian của tiền được biểu hiện qua tiền lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả để sử dụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định hoặc là tiền thuê vốn để sử dụng
+ Yếu tố tỷ giá
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp Chênh lệch hối đoái là khoản chênh lệch dương hoặc âm giữa giá trị nợ phải thu và nợ phải trả bằng đồng ngoại tệ đổi sang đồng nội tệ Chênh lệch này có thể làm lợi nhưng ngược lại cũng có thể là khoản lỗ cho doanh nghiệp
+ Yếu tố tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động, đó chính là thách thức đối với doanh nghiệp trong việc cạnh tranh
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép thu thập và sử lý các thông tin kế toán và các thông tin quản lý nhằm đánh giá tình hình của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh ngiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các dự đoán
về kết quả hoạt động chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính − một
Trang 23trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo các chiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định
nội bộ), với mục đích nghiên cứu thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp)
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và
so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi rao trong tương lai
1.2.1.2 Mục tiêu, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích tài chính
+ Mục tiêu:
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính của doanh nghiệp bao gồm các tiêu chí:
- An toàn tài chính (khả năng thanh khoản và khả năng quản lý nợ)
- Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản)
- Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (đẳng thức Dupont )
Sau khi nhận dạng, tìm hiểu các tiêu chí đó của doanh nghiệp để có thể giải thích các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó, đánh giá đúng các thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp để đưa ra các đề xuất, giải pháp cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất
+ Ý nghĩa
Tình hình tài chính doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm cũng như nhà quản lý doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng, nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chức năng…Tuy nhiên, mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm ở những khía cạnh khác nhau khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Vì vậy, phân tích tình hình tài chính cũng sẽ có ý nghĩa khác nhau đối với từng cá nhân, tổ chức:
- Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: Mối quan
tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Bên cạnh đó, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu như: tạo công ăn việc làm,
Trang 24nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và hai mục tiêu cơ bản là kinh doanh có lãi và trả được nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục, rút cuộc sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc ngừng hoạt động và đóng cửa Như vậy, hơn ai hết, các nhà quản trị doanh nghiệp
và các chủ doanh nghiệp cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng
- Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Mối quan tâm của
họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh: từ đó, so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu, bởi vì số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho
họ trong trường hợp công ty gặp rủi ro Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không bảo đảm chắc chắn rằng khoản vay đó sẽ được thanh toán khi đến hạn Người cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp vì nó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn
- Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ: Họ phải biết
được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của doanh nghiệp để quyết định xem có cho phép doanh nghiệp được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay không
- Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự
rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn…Vì vậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh
và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Đồng thời, các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cao cho các nhà đầu tư
Trang 25- Các nhóm khác: Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà
quản lý, các nhà đầu tư, các chủ ngân hàng còn có nhiều nhóm người khác cũng quan tâm tới tình hình tài chính doanh nghiệp Đó là các cơ quan tài chính, thuế, chủ quản, các nhà phân tích tài chính, những người lao động…Những nhóm người này có nhu cầu thông tin về cơ bản giống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp…bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ
+ Nhiệm vụ:
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tài chính là việc cung cấp những thông tin chính xác về mọi mặt tài chính của doanh nghiệp, bao gồm:
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vồn cho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối, tình hình nguồn vốn
- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và kết quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hóa của các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có hiệu quả
để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng của doanh ngiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.2.2 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp và các loại hình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tuỳ theo loại hình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định Công tác tổ chức phân tích tài chính phải làm sao thoả mãn cao nhất cho nhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau
Trang 26+ Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc Theo hình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội dung của hoạt động kinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin thường xuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tin qua phân tích được truyền từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ phận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đến các phòng ban
+ Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theo các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thoả mãn thông tin cho các bộ phận của quản lý được phân quyền, cụ thể:
- Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí, bộ phận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tin và tiến hành phân tích tình hình biến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát hiện chênh lệch chi phí cả về hai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp
- Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu (thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh doanh riêng biệt theo địa điểm hoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có quyền với bộ phận cấp dưới
là bộ phận chi phí Ứng với bộ phận này thường là trưởng phòng kinh doanh, hoặc giám đốc kinh doanh tuỳ theo doanh nghiệp Bộ phận này sẽ tiến hành thu thập thông tin, tiến hành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáo nội
bộ
1.2.2.2 Các loại hình phân tích tài chính doanh nghiệp
+ Căn cứ theo thời điểm kinh doanh
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia làm 3 hình thức:
- Phân tích trước khi kinh doanh: còn gọi là phân tích tương lai, nhằm dự báo,
dự toán cho các mục tiêu trong tương lai
Trang 27- Phân tích trong khi kinh doanh: còn gọi là phân tích hiện tại (hay tác nghiệp)
là quá trình diễn ra cùng quá trình kinh doanh Hình thức này rất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệch lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra
- Phân tích sau khi kinh doanh: là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh (hay phân tích quá khứ) Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõ tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo
+ Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ
- Phân tích thường xuyên: được đặt ra ngay trong quá trình kinh doanh Kết quả phân tích giúp phát hiện ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra được các điều chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh doanh Tuy nhiên biện pháp này thường công phu và tốn kém
- Phân tích định kỳ: được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các báo cáo đã được thành lập Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy kết quả phân tích nhằm đánh gái tình hình thực hiện kết quả hoạt động kinh doanh của từng kỳ
và là cơ sở cho xây dựng kế hoạch kinh doanh kỳ sau
+ Căn cứ theo nội dung phân tích
- Phân tích chỉ tiêu tổng hợp: là việc tổng kết tất cả các kết quả phân tích để
đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các yếu
tố thuộc môi trường
Ví dụ: Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượng sản
xuất kinh doanh
Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận
Trang 28- Phân tích chuyên đề: còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập trung vào
một số nhân tố của quá trình kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến những chỉ tiêu tổng
hợp
Ví dụ: Các yếu tố về tình hình sử dụng lao động
Các yếu tố về sử dụng nguyên vật liệu
1.2.3 Tài liệu cơ sở và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Tài liệu cơ sở dùng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Các tài liệu cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán ( CĐKT – Balance sheet )
Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp – cân đối tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp cả về tài sản và nguồn vốn ở một thời điểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của kỳ báo cáo
Đây là một bản báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp
Thông thường, bảng CĐKT được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp
Các khoản mục trên bảng CĐKT được sắp xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống
- Bên tài sản: Phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Đó là tài sản cố định và tài sản lưu động Tài sản lưu động (tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán, các khoản phải thu, dự trữ); Tài sản tài chính; Tài sản cố định hữu hình và vô hình
- Bên nguồn vốn: Phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: Đó là vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và các khoản
nợ Nợ ngắn hạn (nợ phải trả cho nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả khác,
nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác); Nợ dài hạn (nợ
vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách phát
Trang 29hành trái phiếu); Vốn chủ sở hữu (thường bao gồm: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận
không chia, phát hành cổ phiếu mới)
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản, bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp
Bên tài sản và nguồn vốn của bảng CĐKT đều có các cột chỉ tiêu: Số đầu kỳ,
số cuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nội dung bảng còn có một số khoản mục ngoài bảng như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…
Nhìn vào bảng CĐKT, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng CĐKT là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement)
Báo cáo “Kết quả hoạt động kinh doanh” là một báo cáo kế toán tài chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa trong một kỳ kế toán
Khác với bảng CĐKT, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cùng là báo cáo tài chính quan trọng cho nhiều đối tượng cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng
là báo cáo tài chính quan trọng nhất cho nhiều đối tượng khác nhau nhằm phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, có thể kiểm tra được tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về các
Trang 30khoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:
- Phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi thời kỳ hoạt động (Phần I “Lãi, lỗ”) Phản ánh có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập, chi phí của từng hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thuộc thành phần này đều được theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm
- Phần phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản phải nộp khác (Phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”) Các chỉ tiêu ở phần này cũng được chi tiết thành số còn phải nộp kỳ trước, số phải nộp kỳ này, số
đã nộp trong kỳ này và số còn phải nộp đến cuối kỳ này cùng với số phải nộp, số đã nộp luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo
- Phần phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá gia tăng hàng bán nội địa (Phần III “Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa”) Phần này chi tiết các chỉ tiêu liên quan đến thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, đã khấu trừ, được hoàn lại, đã hoàn lại, được giảm, đã giảm và số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ, còn được hoàn lại, còn được giảm cuối kỳ…
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow)
Lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác
Trang 31không phải hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, nó cung cấp thông tin cơ bản
để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ; duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền, còn luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp
1.2.3.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống các công cụ, biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các nguồn dịch chuyển và biến đổi về tài chính, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên hệ, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp Dupont , phương pháp chi tiết,… Trong đề tài này, tôi xin giới thiệu 4 phương pháp: So sánh, tỷ lệ, thay thế liên hoàn và phương pháp Dupont
độ phấn đấu hoàn thành kế hoạch thì chỉ tiêu làm căn cứ là số kế hoạch…
+ Điều kiện so sánh:
- Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”
Trang 32- Khi so sánh các chỉ tiêu với nhau phải có cùng điều kiện, đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, tiêu chuẩn biểu hiện là phương pháp tính toán, thời gian tương ứng và đại lượng biểu hiện, thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (cả về hiện vật, giá trị và thời gian)
+ Nội dung bao gồm:
- So sánh giữa các số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ kinh doanh
- So sánh thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch
- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với mức trung bình của ngành
- So sánh theo chiều dọc: Xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể
- So sánh theo chiều ngang ở nhiều kỳ phân tích để thấy được sự biến động
cả
về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp Trên cơ sở đó đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, hiệu quả hay không hiệu quả
1.2.3.2.2 Phương pháp tỷ số
+ Định nghĩa: Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích
Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác
+ Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, bởi vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn
Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ
số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
- Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
Trang 33- Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những
số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
+ Về nguyên tắc, với phương pháp tỷ số yêu cầu cần xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên
cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
1.2.3.2.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân tố này có quan hệ tích
số, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế Khi sử dụng phương pháp này, cần thực hiện theo các trình tự sau:
+ Trước hết, phải biết được các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính các chỉ tiêu đó
+ Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân
tố số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau, trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trình tự này
+ Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân
tố, phải tính ra một kết quả cụ thể của lần thay thế đó Lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế
Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)
1.2.3.2.4 Phương pháp Dupont
Đây là phương pháp giúp cho nhận biết được hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản(ROA), thu nhập sau thuế trên vốn
Trang 34chủ sở hữu (ROE), thành tích số của các chuỗi tỉ số có mối quan hệ nhân quả với nhau
Các câu hỏi khi phân tích chỉ số tài chính
+ Chỉ số này tăng hay giảm?
+ Sự biến động này tốt hơn hay xấu đi?
- So với kì trước
- So với đối thủ cạnh tranh trực tiếp
- So với mức trung bình ngành
- So với chỉ số kế hoạch
- So với chỉ số mong muốn
+ Nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra sự biến động này
+ Các phương án khả dĩ để cải thiện chỉ số này
+ Hành động này gây ảnh hưởng như thế nào tới các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính khác
+ Phương án tối ưu trong bối cảnh các nguồn lực hiện tại
Trang 35Á
I Q
U
Á
T
Sự biến động của tài sản và nguồn vốn
Kết quả của hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính
Số dư thuần tiền mặt trong
kì và số
dư cuối kì
Biến động của doanh thu, chi phí và lợi nhuận
HIỆU QUẢ TÀI
CHÍNH -Khả năng sinh lời
- Khả năng quản lý tài sản
PHÂN TÍCH TỔNG HỢP -Phân tích
Du Pont
-Phân tích các đòn bẩy
RỦI RO TÀI CHÍNH -Khả năng thanh toán -Khả năng quản lý nợ
CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH hiện nay
Bảng CĐKT sau giải pháp
So sánh, nhận xét và đề xuất giải pháp cải thiện tình hình tài chính
CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH mục tiêu
Bảng KQKD sau giải pháp
VỊ THẾ TÀI CHÍNH SAU KHI CÓ GIẢI PHÁP (0)
1.2.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1 Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình hình tài
chính
Hình 1.1: Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình hình tài chính
Trang 36+ Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nó bao gồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị… Trong đó các thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
+ Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
+ Dự đoán và ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định hoạt động kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tời mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu Đối với cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư Đối với cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp
1.2.4.2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Mục đích: Phân tích chủ yếu dựa trên bảng cân đối kế toán nhằm Đánh giá khái
quát là để xem xét nhận định về tình hình tài chính doanh nghiệp Điều này nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được tình hình tài chính doanh nghiệp có khả
Trang 37quan hay không thông qua hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá khái quát tình hình tài chính
Trình tự:
+ Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Phân tích cơ cấu tài sản là việc
xác định tỉ trọng các loại tài sản của doanh nghiệp từ đó cho người phân tích biết được một cách tổng quát về các loại tài sản của doanh nghiệp cũng như tỷ trọng của mỗi loại trong tổng tài sản
+ Phân tích sự biến động cơ cấu tài sản: là việc so sánh loại tài sản ở cuối
kì so với đầu kì Bằng việc so sánh này ta có thể xác định mức độ thay đổi cụ thể của chỉ tiêu cơ cấu tài sản, để từ đó có thể kết hợp với số liệu liên quan như số liệu
kế hoạch, số liệu của đối thủ cạnh tranh trực tiếp, số liệu trung bình ngành, số liệu mong muốn, và đặc trưng của ngành để rút ra được kết luận về mức độ hợp lý của
cơ cấu tài sản tại thời điểm đang xét Đồng thời tìm ra các nguyên nhân cụ thể gây
ra sự biến động này
+ Phân tích cơ cấu nguồn vốn: cho biết được doanh nghiệp sử dụng những
nguồn tài trợ nào, tỉ trọng mỗi nguồn tài trợ đó là bao nhiêu?
+ Phân tích sự biến động cơ cấu nguồn vốn: là so sánh sự tăng giảm dịch
chuyển thay đổi của các loại nguồn vốn kì này so với kì trước từ đó đánh giá về mức độ hợp lý và tìm nguyên nhân của sự thay đổi
+ Phân tích cân đối tài chính
Hình 1.2: Phân tích cân đối tài chính
TSLĐ
Tiền Phải thu HTK
TSCĐ
NNH
Phải trả Vay ngắn hạn
Nợ định kì NDH
NGUỒN VỐN CHỦ SỞ
HỮU
Trang 38- Cân đối giữa TSLĐ và nguồn vốn ngắn hạn: TSLĐ nên được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn
- Cân đối giữa TSCĐ và nguồn vốn dài hạn: TSCĐ nên được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn
- Sự phân bổ nguồn vốn chủ sở hữu cho các hoạt động thiết yếu của doanh nghiệp
1.2.4.3 Phân tích rủi ro tài chính
Phân tích rủi ro tài chính nhằm mục đích xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp có an toàn hay không an toàn và do những nhân tố nào tác động, nguyên nhân nào gây ra những tác động ấy
1.2.4.3.1 Phân tích khả năng thanh khoản
Khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp dùng tiền và các khoản tương đương tiền (tài sản có thể chuyển đổi thành tiền) để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Thông qua nghiên cứu khả năng thanh toán, người ta có thể đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp và thông qua đó người ta biết được xu hướng phát triển của doanh nghiệp
Mặt khác, để phân tích khả năng thanh toán, người ta còn sử dụng các hệ số thanh toán hiện hành, hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán tức thời để xem xét mức độ thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
+ Hệ số thanh toán hiện hành
Trang 39Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp được chấp nhận hay không tuỳ thuộc vào sự so sánh với giá trị trung bình ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh Bên cạnh đó nó cũng được so sánh với các giá trị của tỷ số này trong những năm trước đó của doanh nghiệp
Khi giá trị của tỷ số khả năng thanh toán hiện hành giảm, chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp đã giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính trong thời gian tới
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành có giá trị cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao
Nếu hệ số này càng lớn hơn (lớn hơn 1) chứng tỏ doanh nghiệp có đầy đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và có khi nó báo hiệu dấu hiệu tài chính của doanh nghiệp là lành mạnh
Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá cao có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào TSLĐ hay đơn giản là việc quản trị TSLĐ của doanh nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi gây lãng phí trong việc sử dụng vốn vì nó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số này càng lớn (lớn hơn 1) chứng tỏ doanh nghiệp có đầy đủ khả năng
để thanh toán các khoản nợ đến hạn và đã quá hạn tại một thời điểm nhất định
Nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán hiện hành rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho Cần phải so sánh hệ
số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước, so sánh với hệ số của doanh
Trang 40+ Hệ số thanh toán tức thời
Công thức:
Tiền
Hệ số thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết doanh nghiệp sử dụng tiền mặt để thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn Hệ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ lớn Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại không tốt vì điều đó có nghĩa là doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt và không đưa tiền vào trong lưu thông
1.2.4.3.2 Phân tích khả tình hình quản lý nợ
+ Chỉ số nợ:
Chỉ số nợ = Tổng nợ / TTS
Chỉ số nợ được đo bằng cách lấy tổng nợ chia cho tổng tài sản
Chỉ số nợ cho biết mức độ doanh nghiệp sử dụng vốn vay trong kinh doanh của mình như thế nào, đồng thời chỉ số này cũng cho biết mức độ rủi ro mà doanh doanh nghiệp đang phải đối mặt cũng như mức độ đòn bảy tài trợ doanh nghiệp sử dụng
Chỉ số nợ cao chứng tỏ doanh nghiệp mạnh dạn sử dụng nhiều vốn vay trong
cơ cấu vốn Đây là một cơ sở để có được lợi nhuận cao Chỉ số nợ cao là một mình chứng về uy tín của doanh nghiệp đối với các chủ nợ
Tuy nhiên chỉsố nợ cao làm cho hkả năng thanh khoản giảm Đồng thời nếu ROA<Kd(1-T) thì lợi nhuận cũng sẽ giảm Những hạn chế này làm tăng độ rủi ro của doanh nghiệp cao, và làm giảm niềm tin của chủ nợ
+ Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay = EBIT / Lãi vay
Chỉ số này cho biết một đồng lãi vay đến hạn được che chở bởi bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế EBIT
Lãi vay là một trong các nghĩa vụ ngắn hạn rất quan trọng của doanh nghiệp Mất khả năng thanh toán lãi vay có thể làm giảm uy tín đối với chủ nợ, tăng rủi ro và nguy cơ phá sản của doanh nghiệp