Chính vì vậy, việc huy động vốn ở các doanh nghiệp là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, vốn được xem là một điều kiện cần và đủ để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư ph
Trang 1- -
Phạm Thị Hải
NHU CẦU VỐN VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY
THÉP VIỆT NAM-CTCP ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM CẢNH HUY
Hà Nội – Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, nội dung luận văn là kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ với thực tiễn Các số liệu trong luận văn là trung thực không sao chép từ bất cứ luận văn hoặc đề tài nghiên cứu nào trước đó
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày
Tác giả
PHẠM THỊ HẢI
Trang 3Xin trân trọn cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong quá trình học tập;
Xin cảm ơn ban lãnh đạo, các phòng ban chuyên môn Tổng Công ty Thép Việt Nam; Hiệp Hội Thép Việt Nam; Các Phòng, Ban công ty trực thuộc trong toàn hệ thống VNSTEEL đã cung cấp những thông tin hữu ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài;
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 9 năm 2012
Tác giả
PHẠM THỊ HẢI
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan về vốn của doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm về vốn 4
1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp 7
1.1.3 Phân loại vốn 9
1.2 Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 13
1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp 13
1.2.2 Các phương thức huy động vốn của Doanh nghiệp 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 23
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan 23
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM-CTCP 32
2.1 Tổng quan về Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 32
Trang 52.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của VNSTEEL 34
2.1.3 Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của VNSTEEL 42
2.2 Thực trạng nhu cầu vốn và huy động vốn của VNSTEEL 50
2.2.1 Đặc điểm nguồn vốn của VNSTEEL 50
2.2.2 Thực trạng tình hình sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của VNSTEEL 51
2.2.3 Thực trạng huy động vốn của VNSTEEL 60
2.3 Đánh giá tình hình huy động vốn cho đầu tư phát triển của VNSTEEL trong những năm qua 66
2.3.1 Đánh giá hoạt động huy động vốn 66
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: NHU CẦU VỐN VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015 70
3.1 Định hướng phát triển của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025 70
3.1.1 Mục tiêu phát triển 70
3.1.2 Quy hoạch các dự án đầu tư trọng điểm 73
3.1.3 Đối tác chiến lược cho VNSTEEL 76
3.2 Nhu cầu vốn và huy động vốn đầu tư cho VNSTEEL đến năm 2015 77
3.2.1 Nhu cầu vốn đầu tư cho VNSTEEL đến năm 2015 .77
3.2.2 Chiến lược huy động vốn đầu tư cho VNSTEEL đến năm 2015 79
3.3 Một số giải pháp huy động vốn cho sự phát triển của VNSTEEL đến năm 2015 81
3.3.1 Khai thác tối đa Vốn Chủ sở hữu 81
3.3.2 Tăng cường huy động vốn nợ 83
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VNSTEEL - Tổng Công ty Thép Việt Nam
SXKD - Sản xuất kinh doanh
AFTA - Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area)
WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
DN - Doanh nghiệp
ROE - Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sở hữu
ROA - Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản
VĐL - Vốn điều lệ
ODA - Official development assistance
FED - Cục dự trữ liên bang Mỹ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh toàn hệ thống 48
Bảng 2.2: Kết quả sản xuất kinh doanh-Công ty Mẹ 48
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận toàn hệ thống 49
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận công ty mẹ 49
Bảng 2.5: Các công ty VNSTEEL tham gia góp vốn tính đến thời điểm 31/12/2010 50
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản năm 2008-2010 toàn hệ thống 56
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản Công ty mẹ giai đoạn 2008-2010 57
Bảng 2.8: Các chỉ tiêu so sánh các doanh nghiệp trong ngành thép 58
Bảng 2.9: Kết quả phân tích tài chính của dự án Lào Cai 59
Bảng 2.10: Cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu công ty mẹ 60
Bảng 2.11: Bố trí cơ cấu nguồn vốn công ty mẹ 61
Bảng 2.12: Bố trí nguồn vốn chủ sở hữu năm 2010 62
Bảng 2.13: Tỷ lệ vốn chiếm dụng trong tổng vốn công ty mẹ 63
Bảng 2.14 : Tỷ lệ vốn bị chiếm dụng trong tổng vốn công ty mẹ 64
Bảng 3.1: Nhu cầu vốn từ các Dự án trọng điểm đến năm 2015 79
Bảng 3.2: Nhu cầu tăng vốn đầu tư huy động từng năm đến 2015 80
Bảng 3.3: Kế hoạch lập các phương án phát hành cổ phiếu 82
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy quản lý điều hành Vnsteel 34
Hình 2.2: Sơ đồ quy trình cán thép 44
Hình 2.3: Các thành tích tiêu biểu của VNSTEEL 46
Hình 3.1: Chiến lược tổng thể của VNSTEEL 71
Biểu đồ 2.1: Sản lượng sản xuất từ 2008-2010 47
Biểu đồ 2.2: Sản lượng tiêu thụ từ 2008-2010 47
Biểu đồ 2.3: Phương án cổ phần hoá đã được phê duyệt bởi QĐ số 552/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 18/4/2011 51
Biểu đồ 3.1: Nhu cầu sử dụng thép từ 2004-2007 và đến năm 2025 77
Biểu đồ 3.2: Sản lượng tiêu thụ thép năm 2010-2012 78
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của thế giới Đặc biệt khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế
giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập và đầy thách thức; các doanh nghiệp (DN) buộc phải định hướng phát triển, cạnh tranh trong điều kiện, hoàn cảnh mới Muốn làm được điều đó, mỗi Doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp và Vốn là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự thành công của doanh nghiệp Chính vì vậy, việc huy động vốn
ở các doanh nghiệp là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, vốn được xem là một điều kiện cần và đủ để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển các dự án trọng điểm của doanh nghiệp Đầu tư đúng hướng và hiệu quả chỉ ra cho doanh nghiệp thấy sự phát triển bền vững và ổn định trong tương lai
Cũng giống như các doanh nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh thị trường và môi trường kinh doanh biến động nhanh chóng, Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP cần phải xây dựng một chiến lược phát triển riêng cho mình sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình cổ phần Ý nghĩa quyết định sự thay đổi cho Tổng Công ty Thép đó chính là mục tiêu phát triển tổng thể của Ngành Thép Việt Nam, là đáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của nền kinh tế, tăng cường xuất khẩu
Để đáp ứng mục tiêu phát triển sản phẩm như vậy, Tổng công ty Thép Việt CTCP đã đầu tư nhiều dự án trên cơ sở phân bổ nguồn nguyên liệu quặng sắt, vị trí địa lý và điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như phân bố nhu cầu tiêu thụ thép để thực hiện đầu tư các dự án trọng điểm
Nam-Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp Ngành Thép nói chung và Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP nói riêng đang gặp phải một vấn đề khó khăn chung đó là thiếu vốn: mua máy móc thiết bị; đổi mới công nghệ; thiếu vốn để hoàn thiện các
dự án dở dang và cho các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh…Thực tế cũng cho thấy có rất nhiều dự án do thiếu vốn nên bị chậm tiến độ, ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất kinh doanh của đơn vị
Trang 10Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của vốn đối với tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP nói riêng trong giai đoạn thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước từ nay đến
năm 2015, đề tài luận văn cao học “Nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn đầu tư cho sự phát triển của Tổng công ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2011- 2015” được hình thành với mong muốn Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP trở
thành một công ty Thép liên hợp dẫn đầu Việt Nam về cung cấp sản phẩm chất lượng cao với khả năng cạnh tranh bền vững và ổn định
2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về vốn và công tác huy động vốn của doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình sử dụng và huy động vốn của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP
- Đề xuất các giải pháp tác huy động vốn đầu tư cho sự phát triển của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2011-2015
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu: lý thuyết ứng dụng hệ thống; phương pháp phân tích tổng hợp; thống kê; so sánh và đối chiếu dựa trên số liệu thu thập; phương pháp hệ thống hoá…
- Số liệu: Sơ cấp (Phiếu phỏng vấn, ý kiến chuyên gia…) thứ cấp (lấy từ các nguồn khác như tạp chí, báo cáo ngành, báo biểu thống kê, tổng hợp từ internet…)
- Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia đầu ngành và thu thập ý kiến qua phiếu điều tra phỏng vấn và thu thập ý kiến 2 nhóm chuyên gia: + Nhóm chuyên gia trong nội bộ Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP
+ Nhóm chuyên gia ngoài doanh nghiệp, gồm:
• Các chuyên gia Hiệp hội Thép Việt Nam – VSA; Các chuyên gia và cán bộ chủ chốt của các nhà phân phối lớn, hệ thống đại lý)
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP
- Phạm vi: Nghiên cứu thực trạng nhu cầu vốn và công tác huy động vốn tại Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP từ năm 2009 đến năm 2011 và đưa ra các giải pháp Các giải pháp huy động vốn ở đây không phải là được áp dụng hết toàn bộ ngay tại thời điểm nghiên cứu, mà tùy thuộc vào nhiều yếu tố để áp dụng Với những người hoạch định và làm công tác huy động vốn ở VNSTEEL, những nội dung nghiên cứu này sẽ được sử dụng như một hoạch định lâu dài để đem ra xem xét các phương án mỗi khi cần huy động vốn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và huy động vốn của doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng nhu cầu vốn và huy động vốn đầu tư của Tổng Công
ty Thép Việt Nam
- Chương 3: Nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn đầu tư cho sự phát
triển của Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP giai đoạn 2011-2015
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về vốn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư vào sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, khi nói về vốn
có rất nhiều định nghĩa khác nhau về vốn
Theo Samuelson, vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Trong cuốn
"Kinh tế học" của D.Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa: vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp Như vậy, D.Begg đã bổ sung vào định nghĩa vốn của Samuelson
Theo K.Marx, vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá tŕnh sản xuất Định nghĩa này có một tầm khái quát lớn v́ bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai tṛ của vốn Bản chất của vốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dưới nhiều h́nh thức khác nhau Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư v́ nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên do hạn chế về tŕnh độ phát triển lúc bấy giờ mà Marx đă bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá tŕnh sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, việc huy động vốn, quyết định đầu tư là theo định hướng và theo kế hoạch của nhà nước Các doanh nghiệp không
Trang 13được quyền tự chủ huy động vốn và ra các quyết định đầu tư Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu do ngân sách Nhà nước cấp hoặc vay ngân hàng với lãi suất rất thấp
Với chế độ cấp phát vốn và giao nộp sản phẩm, các doanh nghiệp luôn ỷ lại cho trung ương về các nguồn tài trợ, luôn đòi hỏi rót vốn, tăng đầu tư như một điều kiện bảo đảm thực hiện kế hoạch, pháp lệnh Các doanh nghiệp tìm cách xin thêm vốn càng nhiều càng tốt, còn hiệu quả sử dụng không được chú ý đến Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp rất lớn trong khi nguồn vốn của Nhà nư-
ớc có giới hạn Chính vì vậy, có nhiều người có vốn nhàn rỗi, dư thừa lại không
có thị trường để lưu thông
Cơ chế bao cấp đã làm cho vốn không được lưu thông và sử dụng có hiệu quả vì không có nơi giao dịch mua bán trên thị trường đồng thời làm mất đi vai trò
và tác dụng khách quan, đặc biệt là một đặc trưng của vốn "tính hàng hoá"
Chuyển sang nền kinh tế thị trường với chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tự bỏ vốn đầu
tư Vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết của mọi quá tình đầu tư sản xuất, kinh doanh
Thông qua thị trường, vốn lưu thông rộng rãi và thể hiện đầy đủ bản chất, vai trò của nó Các Mác đã khái quát hoá vốn qua phạm trù “Tư bản”: Tư bản là giá trị
mang lại "giá thị thặng dư" Định nghĩa cô đọng này đã phản ánh được nội dung,
các đặc trưng và vai trò, tác dụng của vốn Tuy nhiên do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế
Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm khái quát về vốn của doanh nghiệp như sau:
"Vốn của doanh nghiệp là các quĩ tiền, vốn mà các doanh nghiệp dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình Vốn thực chất là một số tiền mà các doanh nghiệp ứng ra trước một chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó phải được thu hồi đầy đủ(bảo toàn về giá trị) sau mỗi chu kỳ sản xuất, kinh doanh."
Trước hết vốn được biểu hiện dưới hình thái giá trị của những tài sản, tức là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản nhất định bao gồm: tài sản
Trang 14hữu hình như tư liệu sản xuất, nhà máy, đất đai, nguyên vật liệu Và tài sản vô hình như chất xám, nguồn nhân lực, thông tin
Điều này phân biệt rõ vốn khác với tiền Có người ngộ nhận giữa đồng tiền
giấy - tiền phát hành ra với “vốn” như thường gọi và cho rằng tiền do nhà nước phát
hành ra cũng là vốn Suy nghĩ như vậy là không đúng Vì một lượng tiền được in không phát hành trên cơ sở giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư thì đó chỉ là vốn giả tạo chứ không phải là vốn đầu tư thực chất Chỉ những đồng tiền phát hành trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị thực của hàng hoá mới được gọi là vốn
Có nhiều quan niệm về vốn, khi vốn được biểu hiện bằng tiền, người ta gọi
đó là vốn tài chính Vốn của doanh nghiệp có thể là uy tín của người đứng đầu doanh nghiệp, trình độ tay nghề của đội ngũ công nhân viên, các công trình, bằng phát minh khoa học_kỹ thuật của doanh nghiệp, các nhãn hàng có tính chất về thương mại Cần phải lưu ý rằng, vốn của doanh nghiệp không có nghĩa là trùng với tiền của doanh nghiệp Tiền chỉ có thể trở thành vốn khi:
Thứ nhất, là tiền được hình thành nên trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tích luỹ lại
Thứ hai, là quỹ tiền được các doanh nghiệp dùng để tiếp tục đầu tư vào lĩnh
vực sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu thu lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu
Sự vận động của vốn (T) thể hiện qua 3 phương thức:
T- H SX H’ - T’ Đây là phương thức vận động vốn của các doanh nghiệp sản xuất
T -H -T’, là phương thức vận động vốn của các doanh nghiệp thương mại
Trang 15T - T’, là phương thức vận động vốn của các tổ chức tài chính trung gian
Thông qua các phương thức trên, sự vận động của vốn thường phải thay đổi hình thái và nhờ đó đã tạo ra khả năng sinh lời Khả năng sinh lời của vốn vừa là mục đích kinh doanh vừa là phương tiện để vốn vận động tiếp ở chu kỳ sau
- Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định
Trong đầu tư sản xuất kinh doanh, thường đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định mới có thể tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh một cách bình thường và mang lại hiệu quả đồng thời tăng sức cạnh tranh Do đó vốn bị phân tán, không được huy động, đóng góp, khai thác sẽ không phát huy được tác dụng mạnh mẽ
Vì thế nhà đầu tư ngoài việc khai thác tiềm năng vốn của đơn vị, còn tìm cách huy
động vốn thông qua hình thức: "hùn" vốn, liên doanh, phát hành cổ phiếu
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền - phản ánh giá trị của những tài sản hữu hình như đất đai, nhà máy, thiết bị Mà nó còn được biểu hiện bằng giá trị
của những tài sản vô hình như nhãn hiệu, vị trí kinh doanh, bản quyền phát minh sáng chế
Tài sản vô hình rất đa dạng, phong phú và giá trị của nó rất lớn Nếu khai thác và sử dụng có hiệu quả, tài sản vô hình này sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn Đặc biệt trong việc đầu tư liên doanh, đánh giá doanh nghiệp để bán hoặc thanh lý Cần phải giá trị hoá chính xác các tài sản trong đó có tài sản vô hình
Từ những phân tích trên đây về phạm trù vốn trong nền kinh tế ta có thể rút ra
được định nghĩa chung: "vốn là giá trị của các tài sản xã hội được đưa vào đầu tư
nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai”
1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Hoạt động của công ty đòi hỏi phải có vốn, đầu tiên là nó giúp cho hoạt động kinh doanh được thực hiện (xảy ra hoạt động), sau đó là duy trì hoạt động và xây dựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và chắc chắn Khi vốn phát triển, nó sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được sản xuất về cả chiều rộng và chiều sâu, qua đó lại tác động ngược lại làm tăng lượng vốn sẵn có của doanh nghiệp Trong kinh doanh vốn là
Trang 16công cụ cần thiết hàng đầu để doanh nghiệp thực hiện ý định kinh doanh của mình Rất nhiều người đã không thể tham gia kinh doanh vì không đủ vốn Nói cách khác
nó là "chiếc rìu" của ông tiều phu Do đó doanh nghiệp phải tổ chức huy động, sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất, muốn vậy phải xem xét, cân nhắc phương thức huy động vốn, cơ cấu vốn hợp lý với chi phí sử dụng vốn vay thấp nhất và làm gia tăng lợi ích của vốn chủ sở hữu Nền kinh tế thị trường với chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế
tự bỏ vốn đầu tư Vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư sản xuất, kinh doanh
Vốn kinh doanh là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt phục vụ cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu dùng như một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh Sau khi ứng ra, vốn được sử dụng vào kinh doanh và sau một chu kỳ hoạt động phải được thu về để đáp ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động sau Vốn kinh doanh không thể bị tiêu mất đi, mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với nguy cơ phá sản
Đầu tư vốn của doanh nghiệp
Là quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận Trong quá trình đầu tư vốn của doanh nghiệp, có thể chia hai loại:
- Đầu tư vào trong nội bộ của các doanh nghiệp: đầu tư vào các yếu tố trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ví dụ như đầu tư để mua sắm tài sản cố định, nguyên- nhiên vật liệu, trả lương cho công nhân viên
- Đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp Chủ yếu các doanh nghiệp dùng vốn của mình để góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác hay đầu tư trên thị trường chứng khoán
Dù đầu tư bên trong hay ngoài doanh nghiệp thì đều nhằm mục tiêu hướng tới lợi nhuận, tối đa hoá giá trị vốn của chủ sở hữu Các doanh nghiệp căn cứ vào một
số yếu tố cơ bản sau để đầu tư vốn:
Trang 17+ Căn cứ vào khả năng sinh lời của dự án đầu tư và thời gian thu hồi vốn đầu
1.1.3.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành:
- Vốn chủ sở hữu (vốn tự có của doanh nghiệp):
Là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đó Nó có thể là do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quĩ của doanh nghiệp, vốn tài trợ của Nhà nước (nếu có) Nó được sử dụng 1 cách lâu dài mà không phải cam kết thanh toán, gồm có vốn kinh doanh và các quỹ của doanh nghiệp
Cần phân biệt vốn điều lệ và vốn pháp định:
+ Vốn pháp định: Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh
nghiệp do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề
+ Vốn tự bổ sung: Vốn tự bổ sung là vốn chủ yếu do doanh nghiệp lấy một phần từ lợi nhuận, từ quỹ đầu tư và phát triển, quỹ dự phòng tài chính
Tóm lại, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là vốn thuộc quyền sở hữu hợp
pháp của doanh nghiệp
- Vốn vay (vốn huy động của doanh nghiệp):
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như: ngân hàng thương
Trang 18mại, tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế khác, tiền vay từ phát hành trái phiếu, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho cán bộ công nhân viên
Một doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả, với mức sinh lời cao và đảm bảo khả năng cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thì ngoài nguồn chủ sở hữu, nó phải vay vốn trên thị trường để hình thành vốn của mình Trong nền kinh tế thị trư-ờng, vốn vay của doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với vốn chủ sở hữu Đây là nguồn vốn cung cấp chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của đơn
vị Nguồn này có thể được hình thành bằng một số biện pháp sau:
+ Vốn vay: Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức in tín dụng, các
cá nhân, đơn vị kinh tế để tạo lập hoặc tăng thêm nguồn vốn
* Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng: rất quan trọng đối với các doanh nghiệp
* Vốn vay trên thị trường chứng khoán: doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để thu hút rộng răi số tiền nhàn rỗi trong xă hội, đây là một công cụ tài chính quan trọng và dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh
+ Vốn liên doanh liên kết : Các doanh nghiệp có thể liên doanh, hợp tác với
nhau để huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Vốn tín dụng thương mại : Tín dụng thương mại là các khoản mục chịu từ
người cung cấp hoặc ứng trước của khánh hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tuy các khoản tín dụng thương mại thường có thời gian ngắn hạn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lư một cách có khoa học có thể đáp ứng phần nào nhu cầu vốn lưu động
+ Vốn tín dụng thuê mua: Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng giữa
người thuê và người cho thuê Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền cho người cho thuê theo thời hạn mà hai bên thỏa thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản và nhận được tiền cho thuê tài sản
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu: là thuê vận hành và thuê tài chính
Trang 19* Thuê vận hành (thuê hoạt động): là hình thức thuê ngắn hạn tài sản
* Thuê tài chính : là phương thức tài trợ tín dụng trung hạn và dài hạn theo hợp đồng Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh, quy mô, quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lược đầu tư
1.1.3.2 Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển
Phân loại theo tính chất chu chuyển của vốn thì vốn của doanh nghiệp được
chia ra làm 2 loại:
- Vốn cố định: Vốn cố định là giá trị biểu hiện bằng tiền của tổng tài sản cố
định (TSCĐ) trong doanh nghiệp Tài sản cố định thuộc loại tài sản có giá trị lớn và
có thời gian sử dụng lâu dài Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, lắp đặt tài sản cố định hữu hình hay vô hình gọi là vốn cố định của doanh nghiệp Nói cách khác, vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước Quy mô của vốn cố định nhiều hay
ít sẽ tác động đến quy mô của tài sản cố định, ngược lại những đặc điểm vận động của tài sản cố định trong quá tŕnh sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định
Đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trính sản xuất kinh doanh: + Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm Vốn cố định là hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định cùng tham gia vào các chu kỳ tương ứng
+ Vốn cố định được chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất Khi tham gia vào quá trình sản xuất, tài sản cố định bị hao mòn, giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng Vốn cố định được tách thành hai bộ phận:
* Bộ phận thứ nhất tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích lũy thành qũy khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ, quỹ khấu hao này sẽ được sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định nhằm duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Trang 20* Bộ phận thứ hai đú chớnh là phần cũn lại của vốn cố định được gọi là giỏ trị cũn lại của tài sản cố định
Đặc trưng của tài sản cố định là khụng thay đổi hỡnh thỏi vật chất sau mỗi chu
kỳ sản xuất kinh doanh Tuy nhiờn, giỏ trị của nú giảm dần do cú hao mũn Cú hai loại hao mũn tài sản cố định là hao mũn vụ hỡnh và hao mũn hữu hỡnh Để chống hao mũn cần phải trớch quỹ khấu hao nhằm bự đắp cho hao mũn tài sản cố định Tất nhiờn nú khụng trựng khớt với số tiền tài sản thực tế bị hao mũn (cú thể lớn hoặc nhỏ hơn) Tài sản cố định bao gồm TSCĐ hữu hỡnh và TSCĐ vụ hỡnh Trong đú, TSCĐ hữu hỡnh: Là những tài sản cú hỡnh thỏi, vật chất (như nhà cửa, vật kiến trỳc, mỏy múc, thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý ) và TSCĐ vụ hỡnh là những tài sản khụng cú hỡnh thỏi vật chất, thể hiện những lượng giỏ trị lớn mà doanh nghiệp đó đầu tư, liờn quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh (như Quyền sử dụng đất, Chi phớ thành lập doanh nghiệp, Chi phớ về bằng phỏt minh sỏng chế, chi phớ nghiờn cứu phỏt triển, nhón hiệu thương mại )
Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luõn chuyển vào giỏ trị sản phẩm dần tăng lờn, song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định dần giảm xuống Kết thỳc quỏ trỡnh vận động đú cũng là lỳc tài sản cố định hết thời gian sử dụng giỏ trị của nú được dịch chuyển hết vào giỏ trị sản phẩm đă sản xuất, và khi đú vốn cố định mới hoàn thành một vũng luõn chuyển
Trong cỏc doanh nghiệp, vốn cố định là bộ phận quan trọng chiếm tỷ trọng tương đối lớn Việc quản lý vốn cố định phải gắn liền với việc quản lý tài sản cố định vỡ điều này cú ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất của doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh cỏc doanh nghiệp cần cú cỏc đối tượng lao động Khỏc với tư liệu lao động, cỏc đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu
kỳ sản xuất, khụng giữ nguyờn hỡnh thỏi ban đầu, giỏ trị của nú được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giỏ trị sản phẩm
- Vốn lưu động: Vốn lưu động là giá trị bằng tiền của các tài sản lưu động Có
hai loại tài sản lưu động:
Trang 21+ Các tài sản lưu động sản xuất: có đặc điểm gắn trực tiếp với quá trình sản xuất chẳng hạn như nguyên liệu, vật liệu, các sản phẩm dở dang, các bán thành phẩm
+ Tài sản lưu động lưu thông: ví dụ sản phẩm chưa tiêu thụ, tiền mặt, các chứng khoán dễ chuyển nhượng(tín phiếu, trái phiếu ), cỏc khoản chờ kết chuyển, chi phớ
Khỏc với tài sản cố định, tài sản lưu động của doanh nghiệp có đặc điểm là hình thái vật chất luụn luụn thay đổi để tạo ra sản phẩm hàng húa, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng khụng ngừng vận động qua cỏc giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thụng Quỏ trỡnh này được diễn ra liờn tục, thường xuyờn lặp lại theo chu kỳ được gọi là quỏ trỡnh tuần hoàn của vốn lưu động
và giá trị của tài sản lưu động chuyển toàn bộ vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh
Việc nghiờn cứu cỏc phương phỏp phõn loại vốn trờn đõy cú tỏc dụng giỳp cho cỏc doanh nghiệp một mặt tăng cường quản lý và sử dụng cú hiệu quả vốn hiện cú, mặt khỏc cú thể đa dạng hoỏ cỏc kờnh huy động vốn
1.2 Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện khụng thể thiếu được để một doanh nghiệp hoạt động và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Khi muốn khởi tạo Doanh nghiệp, điều kiện cần đầu tiờn phải cú vốn Trong quỏ trỡnh hoạt động,sự biến động của vốn cũng
là cơ sở và dấu hiệu cho sự tồn tại và phỏt triển của Doanh nghiệp Để tiếp tục phỏt triển và đứng vóng, Doanh nghiệp khụng những phải duy trỡ số vốn bỏ ra ban đầu
mà cũn phải tỡm kiếm những khoản vốn bổ sung từ nhiều nguồn khỏc nhau
Chớnh vỡ lẽ đú, huy động vốn trong doanh nghiệp luụn được coi là một trong những ưu tiờn hàng đầu Thực hiện tốt huy động vốn là cũng đồng nghĩa với thành cụng trong xõy dựng một cơ cấu vốn hợp lý với chi phớ thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cạnh tranh với cỏc chủ thể kinh tế khỏc trờn thương trường
Trang 221.2.2 Các phương thức huy động vốn của Doanh nghiệp
Việc huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều yếu tố Về cơ bản như đã xem xét ở trên thì vốn của doanh nghiệp khi xem xét theo tính chất sở hữu thì có thể chia làm 2 và tương ứng như vậy là có 2 nhóm hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp theo tiêu chí này
1.2.2.1 Vốn chủ sở hữu và các hình thức huy động vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu ban đầu, như đã nói ở trên được hình thành từ việc đóng góp của các nhà đầu tư Tuy nhiên, khi chạm tới ngưỡng tăng trưởng chín muồi thì vốn chủ sở hữu ban đầu không đủ đáp ứng cho các hoạt động tài chính, để tiếp tục phát triển, doanh nghiệp thường tiến hành các hoạt động đầu tư chiến lược mở rộng đáng
kể năng lực sản xuất hoặc bước sang lĩnh vực hoạt động mới và đi cùng với nó là việc huy động thêm vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bao gồm các nguồn sau:
- Vốn điều lệ của các doanh nghiệp: được hình thành từ nguồn nào thì nó tuỳ
thuộc vào hình thức sở hữu của các doanh nghiệp
+ Nếu doanh nghiệp nhà nước: thì nguồn hình thành là ngân sách nhà nước + Nếu doanh nghiệp thuộc sở hữu cổ phần: thì nguồn hình thành do cổ đông, người mua cổ phiếu, cổ phần
+ Nếu doanh nghiệp của tư nhân: do tư nhân bỏ ra
- Vốn từ việc phát hành cổ phiếu:
Cổ phiếu là một giấy chứng nhận việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần và quyền được nhận một phần lợi nhuận từ công ty cổ phần ấy, quyền được chia tài sản
từ công ty cổ phần ấy
Có hai loại cổ phiếu:
+ Cổ phiếu có ghi tên: ghi rõ họ tên của chủ sở hữu Nó không được tự do
chuyển nhượng, mua bán Nó chỉ có thể được chuyển nhượng trong điều kiện được
sự đồng ý của hội đồng quản trị của công ty cổ phần đó Nó dành cho các nhà sáng lập viên của công ty cổ phần Đây là hình thức pháp luật ràng buộc các người sáng lập viên với công ty cổ phần đó
Trang 23+ Cổ phiếu không ghi tên(vô danh): trên cổ phiếu không ghi rõ họ tên của ai
Nó được tự do chuyển nhượng mua bán Người nào cầm cổ phiếu là người đó có quyền chia tài sản Người ta chia hai loại:
Các cổ phiếu ưu đãi(đặc quyền): trong cổ phiếu ghi rõ về thu nhập mà cổ phiếu đó được hưởng(có tính chất cố định) Ví dụ: 6%/năm Tuy nhiên cổ đông cũng không được hưởng một số quyền kiểm soát doanh nghiệp(như bầu cử hội đồng quản trị, ban kiểm soát )
Các cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu mà thu nhập của nó(lợi tức cổ phiếu) lên hay xuống tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là loại cổ phiếu có rủi ro cao nhất
- Các quỹ được tạo nên trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
+ Quỹ dữ trữ: thông thường được trích trên lãi ròng hàng năm của các doanh
nghiệp, theo tỷ lệ phần trăm nhất định với mục tiêu để bổ sung và làm tăng thêm vốn điều lệ của các doanh nghiệp Quỹ được trích lập thường xuyên, nhưng được đưa vào vốn điều lệ, việc đưa vào bao nhiêu do các cơ quan chức năng của các doanh nghiệp đó quyết định
+ Quỹ dữ trữ đặc biệt: được trích lập theo tỷ lệ nào đó trên cơ sở lãi ròng hàng
năm của các doanh nghiệp Mục đích để trang trải rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Trong các ngân hàng thương mại, trích lập các quỹ dự trữ đặc biệt dựa trên cơ
sở thu nhập- chi phí nhưng chưa trừ thuế Nó không được trích lập trên lãi ròng Vì:
Thứ nhất, bởi vì kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng có tỷ lệ rủi ro cao nhất
Quỹ dự trự đặc biệt trích lập theo lãi ròng không đủ để trang trải cho những rủi ro của ngân hàng thương mại
Thứ hai, là nếu các ngân hàng thương mại trích lập quỹ đặc biệt trên cơ sở sau
khi đã trừ đi thuế thì nhiều ngân hàng thương mại sẽ không được hưởng cơ chế này,
vì nhiều ngân hàng thương mại hoạt động không có lãi
Trang 24+ Các quỹ khác: coi như vốn tự có của các doanh nghiệp Ví dụ: quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao, quỹ đầu tư phát triển
Ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không chịu sự kiểm soát của các chủ nợ, không phụ thuộc vào khả năng vay của doanh nghiệp Nguồn này cũng được nhà nước khuyến khích (như giảm thuế cho phần lợi nhuận tái đầu tư) Tuy nhiên việc sử dụng nguồn này cũng có một số bất lợi như: vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp thường nhỏ, không đủ để chi cho các dự án đầu tư lớn
1.2.2.2 Vốn vay và các hình thức huy động
- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các ngân hàng:
Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn
Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương trường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo
có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có ưu điểm nhưng tồn tại song song là những hạn chế nhất định:
- Điều kiện tín dụng: Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứng những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu Ngân hàng sẽ phân tích hồ sơ xin vay vốn trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay hoặc từ chối
- Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay vốn phải có các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều
Trang 25trường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý về giấy tờ Do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng
- Sự kiểm soát của ngân hàng: Một khi đã vay vốn của ngân hàng thì doanh nghiệp phải chấp nhận chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay Nói chung, sự kiểm soát này không gay khó khăn lớn nhưng trong một số trường hợp, nó dặt doanh nghiệp vào thế bị động
- Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất vốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời
kỳ Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp Có những thời kỳ ở nước ta, lãi suất vay vốn khá cao và thiếu tính cạnh tranh do đó không tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh
- Phát hành trái phiếu công ty:
Trái phiếu công ty là công cụ nợ dài hạn được một doanh nghiệp phát hành để huy động vốn của tổ chức cá nhân trong nền kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài chính
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì nó có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu Trước khi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại trái phiếu Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện nay thường lưu hành những loại trái phiếu doanh nghiệp như sau:
- Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụng nhiều nhất, tức là phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được quy định rõ Để huy động vốn theo phương thức này, phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu, nó phụ thuộc vào:
Trang 26+ Lãi suất của trái phiếu: Lãi suất của trái phiếu phải được đặt trong tương quan so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt là phải tính đến sự cạnh tranh với trái phiếu của các công ty khác và trái phiếu Chính phủ Tuy nhiên, một ràng buộc khác là chi phí lãi vay mà công ty phải trả cho các trái chủ Nếu đưa thêm các yếu tố khuyên khích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất + Kỳ hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng, không những đối với công ty phát hành mà cả đối với nhà đầu tư Khi phát hành, doanh nghiệp phải căn
cứ vào tình hình thị trường vốn và tâm lý dân cư mới có thể xác định kỳ hạn hợp lý + Uy tín của doanh nghiệp: Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thu hút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư phải đánh giá uy tín của doanh nghiệp thì mới quyết định mua hay không mua Các doanh nghiệp có uy tín và vững mạnh thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn
+ Trong việc phát hành trái phiếu cũng cần chú ý đến mệnh giá, vì nó có thể liên quan đến sức mua của công chúng Đặc biệt, ở Việt Nam, khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp cần xác định một mức mệnh giá vừa phải để nhiều người có thể mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường
- Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Loại trái phiếu này có lãi suất biến động theo
sự biến động của thị trường vốn Trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này Do các biến động của lạm phát kéo theo sự giao động của lãi suất thực, các nhà đầu tư mong muốn được hưởng một lãi suất thỏa đáng khi so sánh với tình hình thị trường Vì vậy, một số người ưa thích trái phiếu thả nổi Tuy nhiên, nhược điểm của loại trái phiếu này là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn cho việc lập kế hoạch tài chính Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thông báo các lần điều chỉnh lãi suất
- Trái phiếu có thể thu hồi: Một số doanh nghiệp lựa chọn cách phát hành những trái phiếu có thể thu hồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời
Trang 27gian nào đó Trái phiếu như vậy phải được quy định ngay khi phát hành để người mua trái phiếu được biết Doanh nghiệp phải quy định rõ về thời hạn và giá cả khi doanh nghiệp mua lại trái phiếu Thông thường, người ta quy định thời hạn tối thiểu
mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi Ưu điểm của loại trái phiếu này là có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn hoạt động Khi không cần thiết, doanh nghiệp
có thể thay nguồn tài chính do phát hành trái phiếu loại này bằng một nguồn tài chính khác thông qua việc mua lại các trái phiếu đó
- Chứng khoán có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành một lượng nhất định các cổ phiếu phổ thông (đối với công ty cổ phần) Trái phiếu này cho phép người sở hữu có thể chuyển nợ phải thu thành vốn góp
cổ phần, khi đó người có trái phiếu có quyền nhận cổ tức và mọi quyền lợi như
cổ đông khác Việc huy động vốn bằng hình thức này có ưu điểm là tạo ra sự gắn
bó giữa người mua trái phiếu với doanh nghiệp Ngoài ra, do hấp dẫn hơn, hình thức này có thể huy động được nguồn vốn có chi phí thấp hươn các hình thức khác đồng thời đa dạng hóa các công cụ huy động vốn
- Một số loại trái phiếu khác: Doanh nghiệp có thể lựa chọn một số loại trái phiếu khác như: Trái phiếu có đảm bảo (là trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản của công ty) hoặc trái phiếu không co bảo đảm (là loại trái phiếu không được bảo đảm bằng một tài sản cụ thể nào), trái phiếu trả một lần và trái phiếu trả nhiều đợt
Có thể nói, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu công ty có ưu điểm
là tiết kiệm được chi phí đầu tư, kiềm chế được lạm phát (do không làm tăng lượng tiền cung ứng cho lưu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn lượng tiền sẵn có trong lưu thông), chủ động khai thác trực tiếp nguồn vốn có sẵn và tiềm năng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế Nếu tận dụng được những ưu điểm này thi đây chính là phương thức tối ưu và khả thi cho giải pháp về vốn dài hạn của doanh nghiệp trong nước, đồng thời có lợi cho toàn cảnh của nền kinh tế quốc dân
Giữa cổ phiếu và trái phiếu công ty có một số điểm giống và khác nhau căn bản như sau:
Trang 28- Khi các công ty phát hành cổ phiếu thì công ty đó tập trung được nguồn vốn chủ sở hữu Khi các công ty phát hành trái phiếu ra thị trường thì công ty đó tăng thêm nguồn vốn đi vay của mình Đồng thời khi phát hành cổ phiếu công ty
cổ phần không có trách nhiệm hoàn trả tiền cho người mua cổ phần, còn khi phát hành trái phiếu thì phải hoàn trả lại tiền(bao gồm cả gốc và lãi)
- Người mua cổ phiếu của công ty họ có quyền làm chủ sở hữu của công ty, cho nên họ có quyền tham gia quản lý và điều hành công ty cổ phần Người mua trái phiếu là chủ nợ của công ty và không có quyền tham gia quản lý và điều hành công ty
- Những người mua cổ phiếu của công ty thì phần thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả, chất lượng hoạt động của công ty Người mua trái phiếu công ty, thu nhập của họ phụ thuộc vào lãi suất ngân hàng
- Nguồn vốn tín dụng thương mại:
Đây là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn luôn đi kèm với một luồng hàng hoá cụ thể, gắn với quan hệ thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của
cơ chế thanh toán, chính sách tín dụng khách hàng doanh nghiệp được hưởng Khối lượng vốn doanh nghiệp huy động từ hình thức này lớn nhỏ tuỳ thuộc vào tính chất các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khoản tín dụng này thường
có thời gian ngắn từ một đến ba tháng nhưng nó đáp ứng phần nào lượng vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
- Nguồn vốn tín dụng thuê mua:
Tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản khác Người cho thuê (chủ sỡ hữu tài sản) chuyển giao tài sản cho người thuê (người sử dụng tài sản) được sử dụng trong một thời gian nhất định và người thuê phải trả cho chủ sở hữu tài sản một khoản tiền thuê tương xứng với quyền sử dụng Hình thức thuê mua giúp doanh nghiệp tránh được những sai lầm khi tự đi vay và tự tìm mua sắm thiết bị vì các công ty thuê mua không chỉ đơn thuần thay thế tín dụng ngân hàng mà còn cung cấp
Trang 29các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp mua sắm và thuê thiết bị như: chuyển giao công nghệ, đào tạo công nhân kỹ thuật và bảo hành, bảo trì, tư vấn hợp lý hóa sản xuất và hiện đại hóa hệ thông trang thiết bị kỹ thuật Thuê tài chính là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua cho thuê các loại tài sản, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển
là nhu cầu mà các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mong muốn để đổi mới máy móc, thiết
bị, hiện đại hóa công nghệ sản xuất kinh doanh Đặc trưng của phương thức này là đơn
vị cho thuê là chủ sở hữu tài sản sẽ chuyển giao tài sản cho người thuê, tức là người sử dụng tài sản được quyền sử dụng và hưởng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tài sản
đó trong một thời gian nhất định Người thuê có nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng Điều này cũng nói lên việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi hỏi sự đảm bảo tài sản có trước, tạo cho doanh nghiệp tiếp cận hình thức tín dụng mới, vừa giải tỏa được áp lực về tài sản đảm bảo nếu phải vay từ ngân hàng Ngoài ra, các công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản của doanh nghiệp và cho thuê lại tài sản đó nếu doanh nghiệp thiếu vốn lưu động do đã tập trung vốn để đầu tư mua sắm tài sản cố định Như vậy doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng, vừa có vốn để kinh doanh
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê hoạt động và
thuê tài chính
- Thuê hoạt động (Operating Lease)
Thuê hoạt động hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất thời
vụ Hình thức thuê hoạt động được coi là một loại hợp đồng để chấp hành, tài sản
đi thuê không được phản ánh trong sổ sách kế toán của người thuê, số tiền thuê trả theo hợp đồng được ghi như một chi phí bình thường khác
Thuê hoạt động có hai đặc trưng chính:
- Thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một thời gian ngắn
- Người thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thỏa thuận, người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo hiểm, thuế tài sản cùng với mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản
Trang 30- Thuê tài chính (Finance Lease)
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn theo hợp đồng Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà người mua cần và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua lại tài sản từ người cho thuê Trong nhiều trường hợp, một công ty bán ngay tài sản của mình cho người thuê rồi thuê lại Trong hợp đồng thuê tài chính thì thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính người cho thuê thường ủy quyền cho người thuê làm đại lý bán tài sản Nếu người thuê quản lý sử dụng tài sản tốt thì giá trị thực tế của tài sản có thể lớn hơn nhiều so với giá tiền còn lại dự kiến trong hợp đồng, họ có thể mua lại và cũng có thể bán được giá cao hơn họ sẽ được hưởng phần chênh lệch
Trong hợp đồng thuê tài chính, các loại chi phí bảo dưỡng, vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản cũng như những chi phí rủi ro khác đối với tài sản do bên thuê phải chịu cũng như tương tự của công ty mua sắm.Cũng vì lý do đó các khoản tiền thuê mà người cho thuê nhận được coi là giá trị thừa của tài sản nên hình thức thuê này cũng được gọi là thuê mua thuần
- Nguồn vốn liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau Tức là
nguồn vốn mà các doanh nghiệp góp vốn theo phương thức cùng hợp tác kinh doanh, cùng chia sẻ rủi ro nếu có và cùng phân chia lợi nhuận
- Nguồn vốn ODA (Official development assistance)
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF (Official development finance) – Tài trợ phát triển chính thức) nào khác
Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn vay tương đối lớn, bao giờ ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố
hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Trang 31Yếu tố không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xác định dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong các năm và tỷ suất chiết khấu
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường ) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế Điều này còn hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thỏa thuận, để vừa có thể nhận vốn, vừa đảm bảo được các mục tiêu có tính nguyên tắc
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan
1.3.1.1 Chi phí sử dụng vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Chi phí vốn: Bất kỳ một sự gia tăng nào trên tài sản của doanh nghiệp cũng phải được gia tăng ít nhất một khoản mục bên nguồn vốn Cũng như các yếu tố đầu vào khác, muốn có số vốn để sử dụng thì doanh nghiệp phải chi trả chi phí
Có thể hiểu chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng số lợi nhuận kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào được dự án hoặc doanh nghiệp
để giữ không làm giảm số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu Các nhà đầu tư chỉ chấp nhận cấp vốn cho doanh nghiệp khi họ được trả một khoản lãi xứng đáng Thông thường, người cho vay luôn mong muốn một lãi suất cao, ngược lại, doanh nghiệp đi vay muốn trả lãi thấp, vì vậy, lãi suất vay vốn và lãi suất cân bằng tại đó người cho vay và người đi vay đều chấp nhận được
Cơ cấu vốn: Một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường kiếm khi chỉ sử dụng một nguồn vốn để tài trợ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình ngay cả khi đó là nguồn có chi phí thấp hơn các nguồn khác Nguồn vốn của một doanh nghiệp được chia thành: Nguồn vốn tự có (vốn chủ sỡ hữu) và vốn vay
Trang 32Thông thường, nguồn vốn tự có không đủ lớn để tài trợ cho toàn bộ các dự án phát triển chiều sâu và mở rộng của doanh nghiệp Mặt khác, tăng nguồn vốn chủ sở hữu luôn tạo ra sức ép về tỷ suất lợi nhuận cho người quản lý, vì vậy, doanh nghiệp phải huy động vốn vay Tuy nhiên, người cho vay lại luôn mong muốn doanh nghiệp duy trì tỷ trọng nguồn vốn tự có đủ lớn để đảm bảo khả năng trả nợ, điều này luôn là một khó khăn đối với doanh nghiệp Các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp luôn giải quyết mâu thuẫn trên để tìm ra một cơ cấu nguồn vốn tối ưu, đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa nguồn vốn chủ sở hữu và nợ vay sao cho lợi ích thu được
là lớn nhất Đó là cơ cấu hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro và lãi suất, nhờ đó tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp
Để thiết lập một cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp, các nhà quản trị tài chính cần xem xét bốn nhân tố chủ yếu sau:
- Rủi ro kinh doanh: Là một trong những nhân tố có tác động đến việc lựa chọn nguồn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp Rủi ro đề cập đến ở đây là rủi
ro cố hữu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp khi không sử dụng nợ vay Như vậy, đối với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có rủi ro kinh doanh lớn thì vay nợ nhiều khi không phải là giải pháp tối ưu Nói cách khác, rủi ro kinh doanh càng lớn, tỷ lệ tối ưu càng thấp
- Chính sách thuế: Thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng đến chi phí của nợ vay thông qua điều tiết phần tiết kiệm nhờ thuế Thuế suất cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nợ do phần tiết kiệm nhờ thuế tăng lên, vì khi đó, phần lãi vay phải trả
sẽ được tính vào chi phí hợp lý trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Các nhà quản lý tài chính biết rằng, tài trợ vốn vững chắc là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Họ cũng biết rằng khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong nền kinh tế hoặc khi một doanh nghiệp đang trải qua khó khăn trong hoạt động, những nhà đầu tư muốn tăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh Như vậy, nhu cầu vốn tương lai và những hậu quả thiếu vốn có ảnh hưởng quan trọng đối với mục tiêu cơ cấu vốn
Trang 33- Tính quyết đoán của nhà quản lý: Chính là sự lựa chọn giữa hai quan điểm: Sẵn sàng sử dụng nhiều nợ hơn bất chấp mức đọ rủi ro cao nhằm thu lợi nhuận cao
và sử dụng vốn chủ sở hữu chấp nhận mức lợi nhuận thấp nhưng an toàn
Việc cân nhắc tới tất cả những yếu tố trên đều là nhằm mục tiêu thiết lập nên một cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp Trong từng giai đoạn phát triển khác nhau, những điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có thể biến đổi, nhưng tại bất kỳ thời điểm nào đó cho trước, ban quản lý doanh nghiệp đều có một cơ cấu vốn nhất định và những quyết định tài trợ phải thích hợp với mục tiêu này
Về cơ bản, các doanh nghiệp luôn cố gắng hướng tới cơ cấu vốn chỉ có chi phí trung bình của vốn là thấp nhất Việc xác định chi phí vốn trung bình (WACC) của doanh nghiệp dựa trên chi phí của các yếu tố cấu thành tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí nợ vay sau thuế (Kd.(1-t), trong đó t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp), chi phí cổ phiếu ưu tiên (Kp) và chi phí lợi nhuận giữ lại (Ks) theo công thức:
Rõ ràng là, cho phí vốn và cơ cấu vốn có ảnh hưởng trực tiếp một cách mạnh
mẽ tới việc huy động vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ huy động nguồn vốn nào, với quy mô là bao nhiêu không chỉ phụ thuộc vào chi phí phải trả cho nguồn
vốn đó mà còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đã đặt ra
1.3.1.2 Năng lực hoạt động của doanh nghiệp
Nhìn chung, một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh luôn dễ dàng được các tổ chức tín dụng, ngân hàng cho vay vì khả năng hoàn
Trang 34trả nợ cao Vì vậy, năng lực kinh doanh tốt là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến
khả năng huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.1.3 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn cao đỗng nghĩa với việc doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao Trong nền kinh tế thị trường, đây là một yếu tố quyết định khả năng mở rộng sản suất kinh doanh của doanh nghiệp theo chiều rộng lẫn chiều sâu Nói cách khác, khi phân chia vốn vào các mục đích sử dụng một cách hợp lý và được bảo toàn, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được vốn và tránh được lãng phí, nâng cao uy tín đồng thời tăng khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan
1.3.2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô
Là một chủ thể của nền kinh tế, mọi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động huy động vốn luôn chịu ảnh hưởng bởi chính sách kinh tế vĩ mô của từng quốc gia
Ở Việt Nam, chính sách của Đảng và Nhà nước là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo mục tiêu kinh tế vĩ mô
đã được hoạch định
Đây là yếu tố mà các doanh nghiệp bắt buộc phải nắm rõ và chấp hành Việc huy động vốn của doanh nghiệp (Nguồn huy động, quy mô huy động, phương thức huy động) được quy định cụ thể phải thực hiện theo cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước được thể chế hóa bằng các quy định, nghị định của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác
Điều quan trọng ở đây là các doanh nghiệp cần quan tâm dự đoán và thường xuyên cập nhật các chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước trong mỗi
Trang 35thời kỳ vì các chính sách này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến khả năng huy động vốn, đặc biệt khi thị trường tài chính phát triển Chẳng hạn, chính sách tiền tệ thắt chặt luôn gây khó khăn cho doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng do lãi suất cho vay cao, thủ tục vay vốn chặt chẽ hơn Tương tự như vậy, chính sách khuyến khích hay hạn chế phát triển đối với một ngành nghề cũng sẽ cũng tạo điều kiện hoặc hạn chế khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề đó Có thể kể tới những nhân tố vĩ mô có ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp:
- Lãi suất ngân hàng là yếu tố đầu tiên mà mọi doanh nghiệp phải cân nhắc khi lựa chọn nguồn vốn cho kế hoạch tài trợ của mình Đây là yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải tính toán hiệu quả đầu tư, cân đối và lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp giữa vay ngân hàng hay phát hành trái phiếu
- Thu nhập dân cư cũng là mọt nhân tố tác động đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Thu nhập dân cư ở mức cao đồng nghĩa với khả năng tích lũy cao, tiết kiệm lớn dẫn đến đầu tư lớn và lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế tăng lên Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách dễ dàng hơn thông qua các công cụ của thị trường vốn như cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ
có thể chuyển đổi, đặc biệt là ở những nước có thị trường tài chính phát triển
- Lạm phát là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Lạm phát cao làm đồng tiền mất giá, Ngân hàng Trung ương có xu hướng thắt chặt tiền tệ còn người dân thì có tâm lý rút vốn để đầu cơ tích trữ những tài sản ít bị ảnh hưởng như vàng, bất động sản, làm giảm lượng vốn xã hội dành cho đầu tư sản xuất kinh doanh Mặt khác, lạ phát cao cũng dẫn tới lãi suất huy động cao hơn , lãi suất cho vay cao hơn để duy trì một lãi suất thực dương và gây khó khăn cho doanh nghiệp khi vay vốn
- Lãi suất trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế: Trong một nền kinh tế mở lãi suất có ảnh hưởng tới dòng chảy của vốn vì vốn luôn có xu hướng di chuyển về những thị trường có lãi suất cao
Trang 36- Thuế là chính sách cơ bản của Nhà nước nhằm phân phối lại thu nhập của nền kinh tế, huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển Chính sách thuế có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Ví dụ, nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp doanh nghiệp đầu tư bằng nguồn vốn vay, thuế suất thuế thu nhập cá nhân cao sẽ khuyến khích cổ đông
sử dụng cổ tức được chia để tái đầu tư hơn là sử dụng cho chi tiêu Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chính sách ưu đãi về thuế đã và đang thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặcđầu tư 100%vốn nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng cơ hội này sể huy động vốn đầu tư thông qua hình thức liên doanh, liên kết, hợp đồng hợp
tác kinh doanh
1.3.2.2 Sự phát triển của thị trường tài chính
Hiện nay, nguồn vốn dài hạn của ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp còn rất hạn chế vì nguồn huy động của ngân hàng phần lớn là tiết kiệm ngắn hạn và tiền gửi trên tài khoản thanh toán, không thể sử dụng toàn bộ để cho vay dài hạn Giải pháp cho các doanh nghiệp là tìm kiếm vốn đầu tư dài hạn thông qua thị trường tài chính với hai hình thức cơ bản là phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Thị trường tài chính, với chức năng là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế, có ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp:
- Thị trường chứng khoán: Các doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp tại thị trường sơ cấp thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành Quy mô và thời gian huy động phụ thuộc vào hiệu quả của dự án, uy tín của doanh nghiệp phát hành và tổ chức bảo lãnh phát hành cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay mới ở dạng sơ khai, hàng hóa chưa nhiều,
sự hiểu biết của các nhà đầu tư còn hạn chế, cơ chế pháp lý tạo khung pháp lý cho hoạt động chứng khoán chưa đầy đủ Điều này đã khiến cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi muốn huy động vốn trển thị trường này
- Thị trường tiền tệ: Thị trường vốn là nơi diễn ra việc mua bán các công cụ vay nợ ngắn hạn như tín phiếu, thương phiếu, hối phiếu, Mặc dù thị trường tiền tệ
Trang 37có mức giao động giá nhỏ, ít rủi ro nhưng nguồn vốn huy động thường nhỏ và ngắn hạn Thị trường tài chính Việt Nam nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng chưa phát triển một cách hoàn thiện, các tổ chức trung gian tài chính chưa đủ tiềm lực để đáp ứng nhu cầu vốn trung hạn và vốn dài hạn mà hoạt động tài trợ ngắn hạn cũng chưa phát huy hết hiệu quả Đối với Việt Nam hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chính trong nền kinh tế khi mà thị trường chứng khoán mặc dù đã hình thành nhưng chưa phát huy được vai trò tạo ra các hình thức đầu tư, chưa mở rộng các kênh chu chuyển vốn trung và dài hạn để tạo cơ hội huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất Vì vậy, khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, nhất là đối với những doanh nghiệp cần huy động vốn cho những dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản, có quy mô lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài
1.3.2.3 Sự tác động của kinh tế thế giới
- Sự tác động của toàn cầu hóa và việc Việt nam gia nhập WTO:
Việc toàn cầu hóa mở ra cho các doanh nghiệp Việt nam một cơ hội lớn để huy động vốn trên thị trường quốc tế Niêm yết tại thị trường chứng khoán quốc tế đem lại những lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn quốc tế, tăng tính thanh khoản của giao dịch, mở rộng cơ sở cổ đông, đồng thời, quảng bá hình ảnh ra khỏi biên giới quốc gia, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty và tính minh bạch Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, việc huy động vốn theo hình thức này gặp một số trở ngại nhất định từ phía cơ quan quản lý và cả doanh nghiệp Về phía cơ quan quản lý, nguồn lực quản lý, cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu kết nối giám sát chung và cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện là những khó khăn chủ yếu Đối với doanh nghiệp, khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chuẩn niêm yết về tài chính, công bố thông tin cũng như chi phí và nguồn lực để duy trì niêm yết tại hai thị trường là những rào cản lớn để tiếp cận kênh vốn này Tìm hiểu và hướng đến thị trường vốn quốc tế là một cách làm đang được nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm Hơn nữa, kể từ khi trở thành thành viên đầy đủ của WTO vào tháng 1/2007 là một trong những yếu tố khuyến khích Việt Nam nhận được luồng vốn chảy vào lớn
Trang 38từ các nhà đầu tư nước ngoài và như vậy đem lại nhiều cơ hội hơn trong việc huy động vốn cho các doanh nghiệp trong nước Những công ty niêm yết mới trên thị trường đã thúc đẩy quá trình cổ phần hoá đi nhanh hơn Một số công ty nhà nước lớn đã được cổ phần hóa xong làm cho thị trường mở rộng không chỉ về lượng mà
cả về chất
- Ảnh hưởng của biến động các thị trường tài chính trên thế giới:
Trong thời đại ngày nay, thị trường tài chính trong nước có mối liên quan cực
kỳ mật thiết với thị trường tài chính tài chính quốc tế Thị trường trong nước và nước ngoài đã thông thương với nhau ở mức độ nhất định, và vì vậy ví dụ như khi Cục dự trữ liên bang của Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất USD thì cũng sẽ cũng ảnh hưởng đến lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay và việc huy động vốn nói chung ở Việt Nam Tương tự như vậy, với các thay đổi về giá của các nguyên liêụ chiến lược như dầu mỏ, vàng cũng ngược lại tác động đến lãi suất cũng như khả năng huy động vốn tại Việt nam
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
***
Vốn và huy động vốn trong doanh nghiệp quan trọng như huyết mạch trong
cơ thể con người vậy, đó là điều kiện để tồn tại Trong nền kinh tế thị trường, hiện nay việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là đòn bẩy cho sự phát triển bền vững của Doanh nghiệp Việc xây dựng chiến lược tài chính mạnh mẽ, phát huy nội lực là việc rất cần thiết được mọi thành viên trong công ty nỗ lực thực hiện, tập trung mọi nguồn lực dưới sự quản trị của Ban lãnh đạo công ty, được đánh giá và hiệu chỉnh kịp thời nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho tổ chức
Chương 1 đã trình bày một cách cơ bản nhất cơ sở lý luận về vốn và huy động vốn, vận dụng thực tế vào việc đầu tư nhằm đưa ra kết quả cuối cùng là các mục tiêu và giải pháp thực hiện cho sự phát triển của một tổ chức Kết quả này có được từ sự kết hợp phân tích các ưu, nhược từ nội bộ và các ý chủ quan của người quản lý và những người tham gia xây dựng chiến lược tài chính
Cơ sở lý luận về vốn và huy động vốn cho ta thấy tầm quan trọng của việc hoạch định chiến lược kinh doanh và đầu tư phát triển của một công ty trong một khoảng thời gian nhất định Chiến lược tài chính mạnh và đạt được như mong muốn cần có sự nhìn nhận và hướng đi đúng trong việc hoạch định hướng đi của đơn vị và đặc biệt đó chính là tầm nhìn của người xây dựng chiến lược Ở đây, ngoài việc cập nhật các thông tin vốn có, cần có thêm một công tác nữa đó là công tác dự báo, nhạy cảm với thay đổi của thị trường và các yếu tố khách quan khác đưa lại nên quá trình quản trị chiến lược tài chính của doanh nghiệp phải được xem là quá trình liên tục và thường xuyên, mục tiêu chiến lược tài chính và các giải pháp thực hiện phải được đổi mới kịp thời cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
CỦA TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM-CTCP
2.1 Tổng quan về Tổng Công ty Thép Việt Nam-CTCP
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tổng công ty Kim khí được thành lập vào những năm đầu của thập kỷ 70 thế
kỷ trước với nhiệm vụ tiếp nhận và cung ứng vật tư kim khí trong toàn quốc Do chuyển đổi mô hình quản lý, vào những năm 80 của thế kỷ XX, Nhà nước đã giải thể Tổng công ty để thành lập các Xí nghiệp liên hiệp thuộc Bộ Vật tư Năm 1985, thực hiện chủ trương của Chính phủ về tổ chức kinh doanh cung ứng vật tư theo Nghị định số 204-HĐBT ngày 11/7/1985, Bộ Vật tư có Quyết định số 422/VT-QĐ ngày 13/9/1985 thành lập Tổng công ty Kim khí trực thuộc Bộ Vật tư Cuối năm
1990, Công ty Vật tư Thứ liệu Trung ương thuộc Bộ Vật tư được sáp nhập vào Tổng công ty Kim khí theo Quyết định số 1278 TN/TCCB của Bộ Thương nghiệp Tổng công ty Kim khí là tổ chức quản lý kinh doanh ngành hàng kim khí của cả nước, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, có trụ sở đặt tại số 55B, phố Hàng Cót, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Ngày 30/5/1990, Bộ Công nghiệp nặng có Quyết định số 128/CNNg-TC thành lập Tổng công ty Thép trên cơ sở tổ chức, sắp xếp các đơn vị khai thác, tuyển luyện các loại khoáng sản kim loại đen và các đơn vị nghiên cứu, đào tạo, dịch vụ
về lĩnh vực luyện kim đen thuộc Bộ Công nghiệp nặng, trụ sở đặt tạm thời tại số 6- phố Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Ngày 10/11/1993, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 549/TTg chuyển Tổng công ty Kim khí từ Bộ Thương mại về Bộ Công nghiệp nặng quản lý từ ngày
01 tháng 01 năm 1994, đến ngày 04 tháng 7 năm 1994 hợp nhất với Tổng công ty Thép thành Tổng công ty Thép Việt Nam
Trên cơ sở đó, Tổng công ty Thép Việt Nam được thành lập ngày 29/4/1995 theo mô hình Tổng công ty Nhà nước (Tổng công ty 91) theo Quyết định số