LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “Một số giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Hà Nội – Năm 2016
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
Hà Nội – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong Luận văn này
Tác giả luận văn
Đào Hồng Lĩnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Một số giải pháp cải thiện chất lượng dịch
vụ thanh toán trực tuyến tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu” tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô PGS.TS Trần Thị Bích Ngọc, đã hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện đào tạo sau đại học và Trường Cao đẳng nghề dầu khí Vũng Tàu đã tạo điều kiện trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình học tập của khóa học
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các cán bộ, nhân viên, đồng nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến bổ ích, tạo điều kiện về tài liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Do vậy tác giả mong nhận được sự góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ
THANH TOÁN TRỰC TUYẾN QUA THẺ 1
1.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Mô hình phân tích chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman 2
1.1.3 Các thành phần chất lượng dịch vụ 4
1.1.4 Phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ 6
1.2 Tổng quan về thương mại điện tử 7
1.2.1.Lịch sử hình thành thương mại điện tử 7
1.2.2 Khái niệm thương mại điện tử 11
1.2.3 Các cấp độ phát triển thương mại điện tử 12
1.3 Các loại hình thanh toán trực tuyến 13
1.3.1 Khái niệm về thanh toán trực tuyến 13
1.3.2 Các phương thức thanh toán trực tuyến tại Việt Nam 14
1.3.3 Các điều kiện tham gia thanh toán trực tuyến 21
1.3.4 Quy trình xử lý thanh toán trực tuyến 22
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến 24
1.4.1 Yếu tố bên trong 24
1.4.2 Yếu tố bên ngoài 25
TÓM TẮT CHƯƠNG I 28
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ THANH TOÁN TRỰC TUYẾN TẠI BIDV CHI NHÁNH BÀ RỊA VŨNG TÀU 29
2.1 Tổng quan về BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu 29
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu 29
2.1.2 Lịch sử phát triển của BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu 31
2.1.3 Các sản phẩm thẻ của BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu và vị trí của BIDV trên thị trường thẻ Việt Nam 32
2.2 Phân tích thực trạng thanh toán trực tuyến tại BIDV Bà Rịa Vũng Tàu 34
2.2.1 Đánh giá sự phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Chi nhánh trong năm 2015: 35
Trang 62.2.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ của BIDV Chi
nhánh Bà Rịa Vũng Tàu bằng phương pháp điều tra xã hội học 38
2.3 Kết luận về chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ của BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu 50
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 50
2.3.2 Hạn chế 55
2.3.3 Nguyên nhân gây ra hạn chế 57
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM CẢI THIỆN DỊCH VỤ THANH TOÁN TRỰC TUYẾN TẠI BIDV CHI NHÁNH BÀ RỊA VŨNG TÀU 61
3.1 Định hướng phát triển dịch vụ thẻ của BIDV chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu 61 3.2 Tiềm năng phát triển thẻ tại địa bàn Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 63
3.3 Giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến của BIDV chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu: 64
3.3.1 Tăng cường nguồn nhân lực hoạt động thẻ cả về lượng và chất 64
3.3.2 Nâng cao tốc độ cung cấp dịch vụ 66
3.3.3 Nâng cao thị phần thẻ của BIDV trên địa bàn 67
3.3.4 Nâng cao hơn nữa phong cách phục vụ của cán bộ, nhân viên BIDV bằng giải pháp cải tiến phương thức kiểm soát phong cách phục vụ của Chi nhánh 71 3.3.5 Nâng cao ý thức sử dụng thẻ an toàn cho khách hàng 72
3.4 Kiến nghị 75
3.4.1 Kiến nghị đối với BIDV 75
3.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 76
3.4.3 Kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước quản lý Thương mại điện tử 77
TÓM TẮT CHƯƠNG III 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 82
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ bằng tiếng Anh Viết đầy đủ bằng tiếng Việt
and Rural Development
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Mã bảo mật/Mã xác nhận in trên thẻ
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 Số lƣợng máy ATM và máy POS tại Việt Nam tính đến
Bảng 2.3 Doanh số thanh toán thẻ tại các ĐVCNT tính từ 01/1/2014 đến
Bảng 2.4 Tổng hợp đặc trƣng của khách hàng sử dụng dịch vụ thanh
Bảng 2.5 Mục đích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ thanh toán trực
Bảng 2.6 Tổng hợp điểm đánh giá của khách hàng về dịch vụ thanh toán
Bảng 2.7 Thời gian phát hành thẻ quốc tế tại một số ngân hàng trên địa
Bảng 2.8 Chi phí trong dịch vụ thanh toán trực tuyến của một số ngân
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của BIDV – Chi nhánh Bà Rịa
Sơ đồ 3.1 Quy trình xử lý một giao dịch thẻ chip chuẩn
Biểu đồ 2.1 Thang điểm trung bình các thuộc tính của Chất
Biểu đồ 2.2 Tương quan chi phí dịch vụ thanh toán trực
tuyến qua thẻ của một số ngân hàng trên địa bàn tỉnh BRVT
năm 2015
52
Biểu đồ 2.3 Thị phần thẻ quốc tế trong năm 2015 của BIDV
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển, hội nhập của nền kinh tế đất nước vào nền kinh tế
khu vực và thế giới, hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt
Nam từng bước đổi mới đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng, của nền
kinh tế và của tiến trình hội nhập Vì vậy, các ngân hàng Việt Nam phải bước vào
cuộc canh tranh mới về phát triển dịch vụ với mục tiêu đem đến nhiều tiện ích,
thuận tiện cho khách hàng, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Và với sự phát
triển như vũ bão của công nghệ thông tin cùng hệ thống thẻ thanh toán phát triển
mạnh mẽ trên toàn thế giới thì các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt
trong đó cụ thể là dịch vụ thanh toán trực tuyến đã và đang tiếp tục trở thành một
phương thức thanh toán hiện đại tất yếu của nền kinh tế Do đó, Hội đồng quản trị
và Ban Lãnh đạo BIDV đã xác định sản phẩm, dịch vụ thẻ, trong đó có dịch vụ
thanh toán trực tuyến là hoạt động kinh doanh trọng tâm trong hoạt động ngân
hàng thương mại bán lẻ của BIDV
Từ những chỉ đạo sát sao của Hội sở chính, BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu đã chú trọng đến dịch vụ thẻ ngay từ những ngày đầu phát triển hệ thống thẻ của BIDV Đến nay dù dịch vụ thẻ của Chi nhánh đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên cũng đối mặt với không ít khó khăn, đặc biệt là sự cạnh tranh vô cùng gay gắt với những ngân hàng trong và ngoài nước đã và đang phát triển rất mạnh về dịch vụ thẻ
Với mối quan hệ hai chiều giữa sản phẩm thẻ và dịch vụ thanh toán trực tuyến, để góp phần tìm ra giải pháp phát triển dịch vụ thẻ cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung và Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng, qua quá trình công tác và làm việc tại phòng Kinh doanh thẻ, tác giả quyết định lựa
chọn đề tài “Một số giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ thanh toán trực
tuyến tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 112 Mục tiêu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến tại BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ BIDV trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu, văn bản
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp tổng hợp đánh giá, tổng kết
5 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng chỉ dẫn, tóm tắt tên các bảng biểu, và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương, cụ thể:
Chương I: Lý luận chung về chất lượng dịch vụ và dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ
Chương II: Thực trạng chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu
Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu
Trang 12CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ
DỊCH VỤ THANH TOÁN TRỰC TUYẾN QUA THẺ
Theo Philip Kotler: Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì
đó Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất.[4]
1.1.1.2 Khái niệm về chất lượng
“Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu
cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp NF X50 - 109)
“Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp
nhất” (GS Kaoru Ishikawa- Nhật)
1.1.1.3 Khái niệm chất lượng dịch vụ
Theo TCVN và ISO-9000, thì chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua
Zeithaml (1987) giải thích: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng
về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể Nó là một dạng của thái
độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được
Chất lượng dịch vụ là sự tạo nên trìu tượng, khó nắm bắt bởi các đặc tính riêng
có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp
Parasurman, Zeithaml and Berry (1985, 1988) định nghĩa Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng
Trang 13khi sử dụng dịch vụ
Ta có công thức so sánh như sau:
S = P – E (Satisfaction = Perception – Expectation) Trong đó: + S là chất lượng dịch vụ
+ P là sự thoả mãn của khách hàng sau khi tiêu dùng dịch vụ
+ E là sự mong đợi của khách về chất lượng dịch vụ trước khi tiêu dùng
Sơ đồ minh họa mô hình xem trang sau
- Khoảng cách 1 (KC1): Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với kỳ vọng của khách hàng
- Khoảng cách 2 (KC2): Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ
- Khoảng cách 3 (KC3): Khoảng cách giữa tiêu chuẩn dịch vụ với dịch vụ thực tế cung cấp cho khách hàng
Thông tin
Kinh nghiệm từ trước
1 Chất lượng dịch vụ vượt quá trông đợi (P > E)
2 Chất lượng dịch vụ thỏa mãn (P = E)
3 Chất lượng dịch vụ dưới mức trông đợi (P < E)
Trang 14- Khoảng cách 4 (KC4): Khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế cung cấp và chất lượng dịch vụ đã thông tin tới khách hàng.
- Khoảng cách 5 (KC5): Khoảng cách giữa dịch vụ khách hàng nhận được
và kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ
- Parasuraman cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ 5
Khoảng cách thứ 5 này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là phụ thuộc vào các khoảng cách 1, 2, 3, 4
Sơ đồ 1.2 Các khoảng cách chất lượng dịch vụ [5]
Trang 151 Tin cậy (reliability) nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và
đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên
2 Đáp ứng (responsiveness) nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của
nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng
3 Năng lực phục vụ (competence) nói lên trình độ chuyên môn để
thực hiện dịch vụ Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách
hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt
thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng
4 Tiếp cận (access) liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng
cho khách hàng trong việc tiếp cận dịch vụ nhƣ rút ngắn thời gian chờ đợi của
khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở của thuận lợi cho khách hàng
5 Lịch sự (courtesy) nói lên tính cách phục vụ niềm nở tôn trọng và
thân thiện với khách hàng
6 Thông tin (communication) liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt
cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe những
vấn đề liên quan đến họ nhƣ giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc
mắc
7 Tín nhiệm (credibility) nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách
hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty Khả năng này thể hiện qua tên tuổi
của công ty, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng
8 An toàn (security) liên quan đến khả năng đảm bảo sự an toàn
cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính cũng nhƣ bảo
mật thông tin
9 Hiểu biết khách hàng (understading/knowing the customer) thể
Trang 16hiện qua khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu
những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được
khách hàng thường xuyên
10 Phương tiện hữu hình (tangibles) thể hiện qua ngoại hình, trang phục
của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ.[5]
Mô hình 10 thành phần chất lượng dịch vụ nêu trên có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là phức tạp trong việc đo lường Hơn nữa mô hình này mang tính lý thuyết, có thể sẽ có nhiều thành phần của mô hình chất lượng dịch vụ không đạt được giá trị phân biệt Chính vì vậy các nhà nghiên cứu đã nhiều lần kiểm định mô hình này và đi đến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm 5 thành phần cơ bản với 22 thuộc tính, đó là:
1 Tin cậy (reliability): Thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp
và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên
- Khi công ty XYZ hứa làm điều gì đó vào thời gian cụ thể thì họ sẽ thực hiện
- Công ty XYZ luôn quan tâm chân thành và làm yên lòng khách hàng khi
có vấn đề xảy ra với họ
- Công ty XYZ thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên
- Công ty XYZ luôn cung cấp dịch vụ đúng thời gian như họ đã hứa
- Công ty XYZ luôn quan tâm đến việc giữ gìn tiếng tăm của mình
2 Đáp ứng/Tinh thần trách nhiệm (resposiveness): Thể hiện qua sự
mong muốn, sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho
Trang 17- Nhân viên công ty XYZ không bao giờ quá bận rộn để không thể đáp ứng yêu cầu của khách hàng
3 Năng lực phục vụ/đảm bảo (assurance): Thể hiện qua trình độ
chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
- Khách hàng có thể tin tưởng mọi hành vi của nhân viên công ty XYZ
- Khách hàng cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với công ty XYZ
- Nhân viên công ty XYZ luôn niềm nở, lịch sự và nhã nhặn với khách
- Nhân viên luôn được công ty XYZ cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề
để thực hiện tốt công việc của họ
4 Đồng cảm (empathy): Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng cá
nhân khách hàng
- Công ty XYZ luôn dành sự chú ý đến từng cá nhân khách hàng
- Nhân viên công ty XYZ luôn quan tâm đến khách hàng
- Nhân viên công ty XYZ hiểu rõ nhu cầu của khách hàng
- Nhân viên công ty XYZ luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu
- Công ty XYZ làm việc vào những giờ thuận tiện cho khách hàng của họ
5 Phương tiện hữu hình (tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang
phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ
- Trang thiết bị của công ty XYZ rất hiện đại
- Cơ sở vật chất của công ty XYZ rất bắt mắt
- Nhân viên của công ty XYZ ăn mặc đẹp, tươm tất
- Cơ sở vật chất của công ty XYZ có hình thức, kiểu dáng hấp dẫn và liên quan đến dịch vụ cung cấp [6]
Đây là 22 thuộc tính do Parasuraman đưa ra Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện thực tế ở từng công ty mà có thể thêm hay bớt đi một số thuộc tính
1.1.4 Phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ
Để đo lường chất lượng dịch vụ có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp đo lường căn cứ vào sự thoả mãn của khách hàng
- Phương pháp đo lường căn cứ vào đánh giá của nhà cung cấp
Trang 18- Phương pháp đánh giá căn cứ vào đánh giá của các chuyên gia
- Các phương pháp khác:
+ So sánh chất lượng dịch vụ của hãng với dịch vụ của hãng tốt nhất
+ Tham dự các giải thưởng trong nước và quốc tế,
Nhưng phổ biến và đem lại hiệu quả cao hơn cả là phương pháp đo lường căn cứ vào sự thoả mãn của khách hàng Để đo lường sự thỏa mãn của khách hàng các doanh nghiệp thực hiện trên phương pháp điều tra xã hội học (lấy ý kiến khách hàng) theo quy trình thực hiện được thể hiện ở Sơ đồ 1.3 như sau:
Sơ đồ 1.3 Quy trình chung thực hiện điều tra xã hội học
Từ kết quả thu được ta tính giá trị trung bình của chất lượng dịch vụ và so sánh với thang điểm đã đưa ra để đánh giá chất lượng của dịch vụ
1.2 Tổng quan về thương mại điện tử
1.2.1.Lịch sử hình thành thương mại điện tử
Lịch sử Internet
Năm 1969, mạng ARPAnet (tiền thân của Internet) được phát minh bởi các sinh viên trường Đại học ở Mỹ Mạng có tên gọi là ARPAnet vì được ARPA (the Advanced Research Projects Agency - Bộ phận Dự án Nghiên cứu Cao
Xác định mẫu điều tra Thiết kế mẫu phiếu điều tra Lập thang điểm Phát phiếu điều tra Thu phiếu điều tra, cho điểm
Xử lý, phân tích số liệu
Kết luận
Trang 19cấp của Bộ Quốc Phòng Mỹ) tài trợ kinh phí Mạng này ban đầu được phát triển với
ý định phục vụ việc chia sẻ tài nguyên của nhiều máy tính, sau đó nó còn được dùng
để phục vụ việc liên lạc (email)
Mạng ARPAnet được vận hành trên nguyên tắc không cần sự điều khiển trung tâm (without centralized control), cho phép nhiều người gửi và nhận thông tin cùng một lúc thông qua cùng một đường dẫn (dây dẫn, như dây điện thoại) Mạng ARPAnet dùng giao thức truyền thông TCP (Transmission Control Protocol)
Sau đó, các tổ chức khác trên thế giới cũng bắt đầu triển khai các mạng nội
bộ, mạng mở rộng, mạng liên tổ chức (inter-organization network) và nhiều chương trình ứng dụng, giao thức, thiết bị mạng đã xuất hiện ARPA tận dụng phát minh IP (Internetworking Protocol – giao thức liên mạng) để tạo thành giao thức TCP/IP - hiện nay đang sử dụng cho Internet
Ban đầu, Internet chỉ được sử dụng trong các trường đại học, viện nghiên cứu, sau đó quân đội bắt đầu chú trọng sử dụng Internet, và cuối cùng, chính phủ
Mỹ cho phép sử dụng Internet vào mục đích thương mại Ngay sau đó, việc sử dụng Internet đã bùng nổ trên khắp các châu lục với tốc độ khác nhau.[7]
Lịch sử trang web (WWW)
World Wide Web là mạng lưới nguồn thông tin cho phép ta khai thác thông qua một số công cụ, chương trình hoạt động dưới các giao thức mạng World Wide Web là công cụ, phương tiện hay đúng hơn là một dịch vụ của Internet
World Wide web đã được tạo ra vào năm 1990, sau Internet khá lâu, bởi kỹ
sư Tim Berners-LeeLee của CERN (the European Laboratory for Particle Physics – Phòng nghiên cứu Vật lý Hạt nhân Châu Âu) Ngày 30/04/1993, CERN thông báo rằng World Wide Web sẽ được miễn phí để sử dụng cho bất cứ ai Ngày 16/07/2004 Tim Berners-Lee được Nữ Hoàng Anh phong tước Hiệp Sĩ vì đã
có công lớn trong việc phát minh ra WWW và phát triển Internet toàn cầu
Sau đó, các tổ chức, cá nhân khác tiếp tục phát minh ra nhiều ứng dụng, giao thức cho WWW với các ngôn ngữ lập trình khác nhau, chương trình, trình duyệt
Trang 20trên các hệ điều hành khác nhau v.v Tất cả làm nên WWW phong phú như ngày nay.[7]
Lịch sử thương mại điện tử
Từ khi Tim Berners-Lee phát minh ra WWW vào năm 1990, các tổ chức, cá nhân đã tích cực khai thác, phát triển thêm WWW, trong đó có các doanh nghiệp
Mỹ Các doanh nghiệp nhận thấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với đối tác một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế Từ đó, doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác thế mạnh của Internet, WWW để phục vụ việc kinh doanh, hình thành nên khái niệm thương mại điện tử Chính Internet và Web là công cụ quan trọng nhất của thương mại điện
tử, giúp cho thương mại điện tử phát triển và hoạt động hiệu quả Mạng Internet được sử dụng rộng rãi từ năm 1994 Công ty Netsscape tung ra các phần mềm ứng dụng để khai thác thông tin trên Internet vào tháng 5 năm 1995 Công ty Amazon.com ra đời vào tháng 5 năm 1997 Công ty IBM tung ra chiến dịch quảng cáo cho các mô hình kinh doanh điện tử năm 1997
Với Internet và thương mại điện tử, việc kinh doanh trên thế giới theo cách thức truyền thống bao đời nay đã ít nhiều bị thay đổi, cụ thể như:
- Người mua nay có thể mua dễ dàng, tiện lợi hơn, với giá thấp hơn, có thể
so sánh giá cả một cách nhanh chóng, và mua từ bất kỳ nhà cung cấp nào trên khắp thế giới
- Internet tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì mối quan hệ một-đến-một (one-to-one) với số lượng khách hàng rất lớn mà không phải tốn nhiều nhân lực và chi phí
- Người mua có thể tìm hiểu, nghiên cứu các thông số về sản phẩm, dịch
vụ kèm theo qua mạng trước khi quyết định mua
- Người mua có thể dễ dàng đưa ra những yêu cầu đặc biệt của riêng mình
để nhà cung cấp đáp ứng, ví dụ như mua CD chọn các bài hát ưa thích, mua nữ trang tự thiết kế kiểu, mua máy tính theo cấu hình riêng
Trang 21- Người mua có thể được hưởng lợi từ việc doanh nghiệp cắt chi phí dành cho quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, thay vào đó, giảm giá hay khuyến mãi trực tiếp cho người mua qua mạng Internet
- Người mua có thể tham gia đấu giá trên phạm vi toàn cầu
- Người mua có thể cùng nhau tham gia mua một món hàng nào đó với số lượng lớn để được hưởng ưu đãi giảm giá khi mua nhiều
- Doanh nghiệp có thể tương tác, tìm khách hàng nhanh chóng hơn, tiện lợi hơn, với chi phí rất thấp hơn trong thương mại truyền thống
Những trung gian trên Internet cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích kinh tế (giảm giá, chọn lựa giá tốt nhất ) cho người mua hơn là những trung gian trong thương mại truyền thống Cạnh tranh toàn cầu và sự tiện lợi trong việc so sánh giá cả khiến cho những người bán lẻ phải hưởng chênh lệch giá ít hơn
Thương mại điện tử tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn
- Nhà cung cấp hàng hóa trên mạng có thể dùng chương trình giới thiệu
tự động những mặt hàng khác hay mặt hàng liên quan cho khách hàng của mình, dựa trên những thông tin đã thu thập được về thói quen mua sắm, món hàng
đã mua của khách hàng
- Ngành ngân hàng, giáo dục, tư vấn, thiết kế, marketing và những dịch vụ tương tự đã, đang và sẽ thay đổi rất nhiều về chất lượng dịch vụ, cách thức phục vụ khách hàng dựa vào Internet và thương mại điện tử
Internet giúp giảm chi phí cho các hoạt động thương mại như thông tin liên lạc, marketing, tài liệu, nhân sự, mặt bằng
- Liên lạc giữa đối tác ở các quốc gia khác nhau sẽ nhanh chóng, kinh tế hơn nhiều
- Mô hình cộng tác (affiliate) tương tự việc hưởng hoa hồng khi giới thiệu khách hàng đang bùng nổ Ví dụ Amazon.com có chương trình hoa hồng cho các website nào dẫn được khách hàng đến website Amazon.com và mua hàng, mức hoa hồng từ 5% đến 15% giá trị đơn hàng.[10]
Trang 221.2.2 Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử (E-commerce, Electronic commerce) là hình thái hoạt động thương mại bằng phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch, nên còn được gọi là
"thương mại không giấy tờ".[9]
Lợi ích của thương mại điện tử:
- Giúp cho các Doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường
và đối tác
- Giúp giảm chi phí sản xuất
- Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
- Giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chí phí giao dịch
- Tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại
- Tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hoá.[9]
Các công đoạn của một giao dịch thương mại điện tử: Gồm có 6 công đoạn
sau:
- Khách hàng, từ một máy tính tại một nơi nào đó, điền những thông tin thanh toán và điạ chỉ liên hệ vào đơn đặt hàng (Order Form) của Website bán hàng (còn gọi là Website thương mại điện tử) Doanh nghiệp nhận được yêu cầu mua hàng hoá hay dịch vụ của khách hàng và phản hồi xác nhận tóm tắt lại những thông tin cần thiết nh mặt hàng đã chọn, địa chỉ giao nhận và số phiếu đặt hàng
- Khách hàng kiểm tra lại các thông tin và kích (click) vào nút (button)
"đặt hàng", từ bàn phím hay chuột (mouse) của máy tính, để gởi thông tin trả về cho doanh nghiệp
- Doanh nghiệp nhận và lưu trữ thông tin đặt hàng đồng thời chuyển tiếp thông tin thanh toán (số thẻ tín dụng, ngày đáo hạn, tên chủ thẻ, số CVV ) đã được
mã hoá đến máy chủ (Server, thiết bị xử lý dữ liệu) của Trung tâm cung cấp dịch vụ
Trang 23xử lý thẻ trên mạng Internet Với quá trình mã hóa các thông tin thanh toán của khách hàng được bảo mật an toàn nhằm chống gian lận trong các giao dịch (chẳng hạn doanh nghiệp sẽ không biết được thông tin về thẻ tín dụng của khách hàng)
- Khi Trung tâm Xử lý thẻ tín dụng nhận được thông tin thanh toán, sẽ giải
mã thông tin và xử lý giao dịch đằng sau bức tường lửa (FireWall) và tách rời mạng Internet (off the Internet), nhằm mục đích bảo mật tuyệt đối cho các giao dịch thương mại, định dạng lại giao dịch và chuyển tiếp thông tin thanh toán đến ngân hàng của doanh nghiệp (Acquirer) theo một đường dây thuê bao riêng (một đường truyền số liệu riêng biệt)
- Ngân hàng của doanh nghiệp gởi thông điệp điện tử yêu cầu thanh toán (authorization request) đến ngân hàng hoặc công ty cung cấp thẻ tín dụng của khách hàng (Issuer) Và tổ chức tài chính này sẽ phản hồi là đồng ý hoặc từ chối thanh toán đến trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên mạng Internet
- Trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên Internet sẽ tiếp tục chuyển tiếp những thông tin phản hồi trên đến doanh nghiệp, và tùy theo đó doanh nghiệp thông báo cho khách hàng được rõ là đơn đặt hàng sẽ được thực hiện hay không
- Toàn bộ thời gian thực hiện một giao dịch qua mạng từ bước 1 -> bước 6 được xử lý trong khoảng 15 - 20 giây.[9]
1.2.3 Các cấp độ phát triển thương mại điện tử
Thương mại điện tử được chia ra thành nhiều cấp độ phát triển Có 2 cách
phân chia
Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triển thương mại điện tử:
Cấp độ 1 - hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng Ở mức độ này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm mà không có các chức năng phức tạp khác
Cấp độ 2 – có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc phức tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người xem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện
Trang 24Cấp độ 3 - chuẩn bị thương mại điện tử: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch vụ qua mạng Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng Các giao dịch còn chậm và không
an toàn
Cấp độ 4 – áp dụng thương mại điện tử: website của DN liên kết trực tiếp với
dữ liệu trong mạng nội bộ của DN, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả
Cấp độ 5 - thương mại điện tử không dây: doanh nghiệp áp dụng thương mại điện tử trên các thiết bị không dây như điện thoại di động, Palm (máy tính bỏ túi), máy tính bảng, máy tính xách tay v.v sử dụng giao thức truyền không dây WAP (Wireless Application Protocol)
Cấp độ 6 - cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người ta
có thể truy cập vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim, v.v…) và thực hiện các loại giao dịch
Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển thương mại điện tử
Cấp độ 1 – thương mại thông tin (i-commerce, i=information: thông tin): doanh nghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ Các hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống
Cấp độ 2 – thương mại giao dịch (t-commerce, t=transaction: giao dịch): doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có thể bao gồm cả thanh toán trực tuyến
Cấp độ 3 – thương mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting: tích hợp, kết nối): website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế
sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả.[8]
1.3 Các loại hình thanh toán trực tuyến
1.3.1 Khái niệm về thanh toán trực tuyến
Trang 25Thanh toán trực tuyến là giải pháp cho phép người mua có thể thanh toán
trực tiếp tiền cho người bán thông qua mạng Thanh toán trực tuyến gần như là
bước cuối cùng để hoàn thiện "Thương mại điện tử"
Chúng ta có thể hiểu đơn giản, thanh toán trực tuyến là dịch vụ trung gian
giúp bạn chuyển tiền thật từ tài khoản ngân hàng thành một loại tiền ảo trên mạng
Các cá nhân, tổ chức dùng tiền ảo này để giao dịch trên mạng với nhau rồi sau đó
lại chuyển ngược tiền ảo này thành thật trong tài khoản ngân hàng
Do đó nếu chúng ta muốn thực hiện giao dịch trực tuyến qua Internet thì
trước tiên chúng ta phải có một tài khoản ảo trên một trang web thanh toán trung
gian (payment gateway), sau đó tài khoản ảo sẽ được kết nối với tài khoản ngân
hàng (sau khi chúng ta đã đăng kí dịch vụ thanh toán trực tuyến tại ngân hàng) và
chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng thông qua tài khoản ảo để giao dịch
Bạn có nhiều các tài khoản tại các dịch vụ trung gian khác nhau thì bạn sẽ
càng giao dịch và sử dụng đuợc nhiều loại tiền ảo khác nhau thuận tiện trong
thanh toán trực tuyến.[2]
1.3.2 Các phương thức thanh toán trực tuyến tại Việt Nam
Hình thức thanh toán trực tuyến hiện nay được chia làm 3 loại chính:
(1) Thanh toán bằng thẻ
Là phương thức thanh toán đặc trưng nhất của các giao dịch thương mại trực
tuyến trên Internet Thanh toán bằng thẻ tín dụng chiếm tới 90% tổng các giao
dịch thương mại điện tử Phương thức thanh toán này giúp cho người mua hàng
trực tuyến trên mạng có thể nhanh chóng hoàn thiện được những giao dịch thương
mại với mọi đối tác trên toàn cầu Do đó không sai khi nói rằng nhắc đến thanh
toán trực tuyến là người ta nghĩ ngay đến thanh toán bằng thẻ
Hình thức thanh toán bằng thẻ được chia làm hai loại chính:
Thanh toán bằng thẻ tín dụng (Credit Cards):
Các tổ chức thẻ quốc tế trên thế giới: Visa, MasterCard, Amex, Diners, JCB,
CUP…
Quy trình thanh toán:
Trang 26- Người mua hàng sau khi quyết định mua hàng sẽ nhập các thông tin về thẻ tín dụng lên trang web của người bán;
- Các thông tin thẻ tín dụng được gửi thẳng tới Ngân hàng của nhà cung cấp (Ngân hàng mở Merchant Account) hoặc Ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán mà không lưu lại máy chủ của người bán;
- Ngân hàng mở Merchant Account gửi các thông tin thẻ tín dụng tới ngân hàng cấp thẻ tín dụng;
- Ngân hàng cấp thẻ tín dụng sau khi kiểm tra các thông tin sẽ phản hồi lại cho ngân hàng mở Merchant Account Phản hồi có thể là chấp nhận thanh toán (ghi
có cho tài khoản của người bán) hoặc từ chối
- Dựa trên phản hồi của ngân hàng cấp thẻ tín dụng, người bán sẽ thực hiện đơn hàng hoặc từ chối
Toàn bộ quá trình chỉ diễn ra trong vòng vài giây, người mua sẽ bị trừ tiền và đồng thời người bán cũng sẽ nhận được khoản thanh toán trong vài giây
Ưu điểm:
- Cách sử dụng đơn giản, được sử dụng phổ biến trên phạm vi rộng;
- Tiết kiệm chi phí giao dịch, thời gian; Thu hút được nhiều khách hàng,
mở rộng được thị trường, mở rộng qui mô kinh doanh nhờ việc thanh toán nhanh, gọn, thuận tiện;
- Không phải đến ngân hàng, không phải xử lý séc khống, không phải mất nhiều thời gian xử lý các đơn đặt hàng và nhiều công việc giấy tờ phiền toái khác
mà khách hàng chỉ cần ngồi ở một nơi và thực hiện việc thanh toán qua mạng internet
Nhược điểm:
- Dễ phát sinh rủi ro mất tiền hoặc bị trừ tiền nhiều khi thanh toán trực tiếp
từ thẻ và thanh toán tự động như lỗi hệ thống, hacker
- Phí cho việc thanh toán trực tuyến: Việc sử dụng phần mềm ứng dụng Cổng thanh toán (Payment Gateway) thường có phí cài đặt ban đầu từ vài chục đến vài trăm đô la và phí duy trì hàng tháng khoảng vài chục đô la
Trang 27- Trong mỗi giao dịch thanh toán qua mạng, các Ngân hàng cung cấp dịch
vụ (Acquirer) sẽ thu phí khoảng từ 1.5% đến 4% giá trị giao dịch và khoảng từ 0.3$ cho tới 0.5$ phí xác nhận thông tin thẻ/lần giao dịch
- Ngoài ra, nếu có sai sót trong quá trình thanh toán hoặc bị thẻ tín dụng giả, người bán phải chịu tất cả tổn thất
- Phải chịu thêm chi phí chargeback khoảng vài chục đô la
Thanh toán bằng thẻ ghi nợ (Debit Card):
Đây là phương thức thanh toán trực tuyến rất phổ biến ở Việt Nam những
năm từ 2008 đến 2010, do khi khái niệm thẻ tín dụng còn rất xa lạ với người dân
Việt Nam, việc sở hữu thẻ tín dụng rất khó khăn do các yêu cầu và quy định chặt
chẽ của ngân hàng,
Ví dụ: Visa Debit, Master Debit card v.v và một số loại thẻ nội địa có chức
năng thanh toán trực tuyến
Quy trình thực hiện:
- Đăng kí làm thành viên của trang website bạn muốn mua hàng hóa, chọn loại hàng hóa bạn muốn mua và chọn hình thức thanh toán là thanh toán bằng thẻ ghi nợ
- Nhập thông tin lên mặt trước của chủ thẻ theo yêu cầu:
Họ và tên chủ thẻ: phải điền đầy đủ tên (đánh Tiếng Việt không dấu)
- Nhấn nút “xác nhận” thực hiện thanh toán
- Khách hàng nhận kết quả giao dịch hàng hóa
Ưu điểm:
Trang 28- Người bán có thể biết người mua có tiền để mua hàng thực sự hay không; người mua sẽ tiến hành thanh toán ngay lập tức cho từng giao dịch
- Giúp người mua tránh được những “cú sốc” thẻ tín dụng khi ngân hàng gửi các bảng kê thanh toán đến
- Qui trình mở thẻ nhanh chóng, khách hàng chỉ cần có tài khoản ở ngân hàng đều có thể lập được một thẻ ghi nợ
- Qui trình thanh toán bằng thẻ cũng đơn giản, tiết kiệm chi phí, thời gian, không hạn chế thời gian giao dịch
- An toàn, bảo mật
Nhược điểm:
- Mức chi tiêu của chủ thẻ chỉ phụ thuộc vào số dư trong tài khoản, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình cho vay và cũng không có việc phân loại khách hàng để được hưởng hạn mức tín dụng
(2) Thanh toán dựa trên tài khoản
Internet Banking:
Là dịch vụ Ngân hàng điện tử dùng để truy vấn thông tin tài khoản và thực hiện các giao dịch chuyển khoản, thanh toán qua mạng Internet Internet Banking cho phép khách hàng thực hiện giao dịch trực tuyến mà không cần đến Ngân hàng Chỉ cần một chiếc máy vi tính hoặc điện thoại di động có kết nối Internet và mã truy cập do Ngân hàng cung cấp, khách hàng đã có thể thực hiện các giao dịch với Ngân hàng mọi lúc mọi nơi một cách an toàn
Internet Banking cung cấp đến khách hàng các tiện ích sau:
- Quản lý thông tin tài khoản (tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền vay): truy vấn số dư, sao kê giao dịch
- Chuyển khoản trong nội bộ ngân hàng hoặc liên ngân hàng
- Chuyển tiền nhận bằng CMND/Hộ chiếu: trong và ngoài hệ thống ngân hàng
- Thanh toán hóa đơn trực tuyến (tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền internet)
Trang 29Ưu điểm của hình thức thanh toán qua Internet Banking:
- An toàn và bảo mật;
- Nhanh chóng và tiện lợi vì Quản lý tài chính chỉ bằng cú nhấp chuột, dễ dàng truy cập vào tài khoản mọi lúc mọi nơi, thực hiện tất cả cá dịch vụ với chi phí thấp
- Cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau như nạp tiền điện thoại, chuyển
khoản, thanh toán trực tuyến…
Hệ thống thanh toán bằng tài khoản thông qua thiết bị di động và điện thoại
Mobile Banking
Mobile Banking là phương thức thanh toán thực tế và hiện đại với việc khai thác các dịch vụ của ngân hàng trên điện thoại di động thông qua phần mềm ứng dụng chuyên biệt Việc người tiêu dùng sử dụng điện thoại di động để thực hiện các giao dịch ngân hàng (Mobile Banking) đang trở nên phổ biến tại nhiều nước Đặc biệt ở Việt Nam đang bước đầu trở thành một hình thức thanh toán tiềm năng trong tương lai
Theo ước tính của các nhà phân tích thì đến hết năm 2015, dịch vụ mobile banking sẽ đạt tới mức 2,5 tỉ người sử dụng, đạt 670 tỉ USD trên toàn thế giới (Nguồn: Juniper Research)
Ưu điểm của hình thức thanh toán qua Mobile Banking:
- Đây là một kênh giao dịch thật sự thuận tiện vì tất cả các giao dịch được thực hiện trên điện thoại ở mọi lúc mọi nơi chỉ cần điện thoại có kết nối GPRS/Wifi
- Giảm đi chi phí lắp đặt hệ thống và phí giao dịch
- Nhanh chóng, tiết kiệm thời gian
- Đây là một loại hình thanh toán với mức an toàn cao vì để một giao dịch qua mobile banking thành công cần bảo đảm ba yếu tố, đó là thẻ SIM điện thoại – chính là thiết bị để nhận dạng khách hàng, mật khẩu (password) do ngân hàng cung cấp
mà khách phải ghi nhớ, và thẻ xác thực chứa các thông tin ngẫu nhiên ngân hàng sẽ cung cấp khi phát sinh giao dịch chuyển khoản và khách cần điền đúng thông tin được yêu cầu
Trang 30Nhược điểm của hình thức này:
- Thực hiện giao dịch với hạn mức giao dịch thấp
- Phải cài đặt phần mềm do ngân hàng cung cấp để thực hiện giao dịch
SMS banking
Ưu điểm: Thực hiện giao dịch nhanh chóng, tiện lợi vì có thể thực hiện giao dịch ở mọi lức mọi nơi chỉ với chiếc điện thoại có cài GPRS/Wifi
Nhược điểm:
- Khó sử dụng vì phải nhớ các cú pháp của ngân hàng để thực hiện giao dịch,
số lượng kí tự truyền đi trên một tin nhắn hạn chế
- Độ bảo mật thấp do nội dung tin nhắn thường được lưu trữ trong hộp thư gửi đi của máy điện thoại, dữ liệu gửi từ máy điện thoại đến ngân hàng không được
mã hóa và ký điện tử nên độ an toàn không cao
(3) Các dịch vụ thanh toán trung gian khác:
Hình thức thanh toán qua các dịch vụ trung gian bắt đầu du nhập vào Việt
Nam từ năm 2006 với những cái tên như mTopup, vnTopup, mPay, M-Service…
Nhưng đến năm 2008, với sự trỗi dậy của các cổng thanh toán điện tử như Payoo,
VinaPay, Mobivi, PayNet, VnPay, POLi, Bpay, Paymate… thì các dịch vụ thanh
toán trung gian mới thực sự phát triển mạnh và có sự cạnh tranh giữa các công ty
cung cấp dịch vụ này với nhau Một trong những dịch vụ trung gian chúng ta dễ
thấy nhất hiện nay là ví điện tử
Ví điện tử là một loại tài khoản dùng để thanh toán trong các giao dịch
nhưng tiền trong ví chỉ là tiền ảo, khác với tài khoản trong ngân hàng là tiền thật
Ví điện tử giống như một người giữ tiền trung gian đứng ra thay mặt ngân hàng
thực hiện thanh toán cho người sử dụng trong các hoạt động thương mại điện tử
Người dùng chỉ cần đăng ký tài khoản ví điện tử qua website dịch vụ của nhà cung
cấp, rồi tiến hành nạp tiền vào ví từ tài khoản ngân hàng, tài khoản thẻ ATM, thẻ
trả trước
Quy trình thanh toán:
Ví dụ: Quy trình đăng kí ví điện tử trên Payoo:
Trang 31- Chọn cho mình một tên ví và mật khẩu để đăng kí với payoo
- Điền đầy đủ thông tin như tên, địa chỉ mail, số điện thoại và nhấp nút đăng kí
- Kiểm tra mail hoặc điện thoại di động để xác định đăng kí thành công
Ví dụ về giao dịch mua hàng trên payoo:
Bước 1: Chọn mua hàng hóa tại các website chấp nhận thanh toán bằng ví điện
tử Payoo
Bước 2: Chọn hình thức thanh toán hóa đơn bằng ví điện tử sau đó đăng
nhập www.payoo.com.vn để thanh toán
Bước 3: Kiểm tra chi tiết hóa đơn, điền chi tiết thông tin vào mẫu thanh toán
trên payoo, nhấp nút thanh toán và tiến hành thanh toán Khi giao dịch thành công,
- Thanh toán nhanh chóng, an toàn và tiện lợi, tiết kiệm về thời gian
- Chống lừa đảo trực tuyến tốt
- Giảm được lượng tiền mặt lưu thông, giảm lạm phát
Trang 32- Phí giao dịch còn cao
Hạn chế chung của các phương thức thanh toán trực tuyến bằng tài khoản là có rất ít nhà cung cấp dịch vụ sử dụng phương thức này, đặc biệt chỉ hạn hẹp trong phạm vi một quốc gia
(3) Thanh toán bằng các loại tiền điện tử: Các loại tiền tệ trực tuyến như
MoneyBooker, Alertpay, E-gold, Libertyreserve, C- gold, Web Money và đặc biệt
là đồng tiền ảo Bitcoin
Các loại tiền tệ này đang ngày càng được sử dụng nhiều Đặc trưng của loại
tiền tệ này là không xác định chủ sở hữu, số tiền ảo chỉ có chức năng chuyển qua
lại giữa các tài khoản, muốn quy đổi ra tiền mặt hoặc muốn có tiền ảo phải thực
hiện mua bán với các dịch vụ thông qua tiền mặt Các trang web lớn trên thế giới
không sử dụng tiền tệ trực tuyến làm phương tiện thanh toán trực tuyến, có thẻ do
tính không xác định chủ sở hữu Đây thực sự là một loại hình mua bán tốt cần xem
xét áp dụng và khi sử dụng loại hình này thì cần phải cập nhật tỉ giá tiền tệ trực
tuyến trên thị trường để điều chỉnh giá bán hàng cho phù hợp để thu lợi nhuận
Tuy nhiên, thời điểm này, các loại tiền này thật sự vẫn chưa phổ biến trong thanh
toán [2] và tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước không chấp nhận đồng tiền ảo như
là tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam Do vậy, việc sử
dụng các loại tiền ảo như một loại tiền tệ, phương tiện thanh toán không được
pháp luật bảo vệ và thừa nhận
Như vậy, tuy hiện có 3 hình thức thanh toán trực tuyến như trên nhưng với sự phổ biến và quốc tế hóa của hình thức thanh toán trực tuyến qua thẻ vì vậy trong phạm vi luận văn chỉ tập trung phân tích cũng như nêu lên thực trạng và các giải pháp cho hình thức thanh toán này và thuật ngữ thanh toán trực tuyến sẽ được ngầm hiểu là thanh toán trực tuyến qua thẻ
1.3.3 Các điều kiện tham gia thanh toán trực tuyến
Đối với người sử dụng dịch vụ:
- Mở tài khoản và đăng kí các loại thẻ thanh toán của các ngân hàng;
- Sử dụng thẻ này để thanh toán cho các bên bán hàng, thuê bao dịch vụ
Trang 33Đối với doanh nghiệp bán hàng:
- Có phương tiện thực hiện thanh toán điện tử
Đối với người bán là các doanh nghiệp kinh doanh trên website:
- Các website này sẽ có các module liên kết với các ngân hàng sở hữu các thẻ của người bán Khi các khách hàng đưa ra một yêu cầu trong một phiên thanh toán, thông tin sẽ được chuyển đến các ngân hàng này (khi người bán có tài khoản Merchant Account, có quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu của ngân hàng và có quyền nhận tiền từ tài khoản khác) hay chuyển thảng đến nhà cung cấp dịch vụ sử lý dịch
vụ thông qua Online Payment (công ty có sở hữu một tài khoản Merchent Account)
để thực hiện việc kiểm tra xác thực tài khoản có hợp lệ và gửi lại cho bên bán Nếu người bán chấp nhận thì việc thanh toán sẽ được thực hiện.[2]
1.3.4 Quy trình xử lý thanh toán trực tuyến
Doanh nghiệp cần làm việc với các công ty dịch vụ thanh toán trên Internet, và đăng ký tài khoản thương mại điện tử tại một ngân hàng có triển khai dịch vụ này Tài khoản thương mại điện tử (Internet merchant account) là tài khoản ngân hàng đặc biệt, cho phép bạn thanh toán bằng thẻ quốc tế (bao gồm cả thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ quốc tế) Thanh toán bằng thẻ quốc tế chỉ có thể tiến hành thông qua dạng tài khoản này Một số thẻ ghi nợ trong nước (thẻ do ngân hàng trong nước phát hành không liên kết với bất cứ tổ chức thẻ quốc tế nào) hiện nay cũng có chức năng thanh toán trực tuyến nhưng phạm vi thanh toán rất hạn chế nên trong luận văn sẽ không tiếp tục nhắc đến chức năng thanh toán trực tuyến của loại thẻ này
Một số công ty chuyên về dịch vụ thanh toán trên Internet lớn và uy tín với tên tuổi được biết đến là tổ chức thẻ Visa Card, Master Card, American Express
Hiện nay, một số ngân hàng trong nước như Á Châu, Vietcombank, BIDV, Eximbank, Sacombank đều chấp nhận hầu hểt các loại thẻ thanh toán này
Quy trình thanh toán trực tuyến tóm tắt như sau (xem Sơ đồ 1.5 trang sau):
Bước 1: Người mua đặt lệnh mua trên website của người bán sau khi đã chọn hàng hóa Sau đó người mua khai báo thông tin thẻ quốc tế của mình
Bước 2: Thông tin thẻ quốc tế của người mua được chuyển thẳng đến ngân
Trang 34hàng của người bán (trong trường hợp người bán có Merchant Account) hoặc chuyển thẳng đến nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán qua mạng (gọi là Third Party – Bên thứ ba, vd: cụ thể như là tổ chức thẻ Visa Card, Master Card, American Express) mà người bán đã chọn Thông tin thẻ quốc tế không được lưu trên server của người bán, do đó, hạn chế khả năng bị hacker đánh cắp thông tin
Bước 3: Ngân hàng của người bán hoặc Bên thứ ba này sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thẻ với ngân hàng nơi phát hành thẻ, thông qua giao thức SET Việc kiểm tra này được thực hiện tự động rất nhanh, trong vòng vài giây
Bước 4: Ngân hàng phát hành thẻ sẽ phản hồi (được mã hóa theo quy định) cho ngân hàng của người bán hoặc bên thứ ba về tính hợp lệ của thẻ
Bước 5: Sau đó thông tin này được giải mã và gửi về cho người bán
Bước 6: Người bán dựa trên thông tin phản hồi này quyết định bán hay không bán Nếu bán thì sẽ gửi email xác nhận cũng như hóa đơn và các văn bản cần thiết khác cho người mua, đồng thời xử lý đơn hàng Nếu không bán giao dịch coi như kết thúc, người bán cũng gửi thông điệp cho người mua, nêu lý do không bán.[2]
Trang 35Sơ đồ 1.4 Mô hình Quy trình xử lý thanh toán trực tuyến
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến
1.4.1 Yếu tố bên trong
Cơ sở nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của hệ
thống thanh toán trực tuyến Theo nhận định của một số doanh nghiệp thì cơ sở
nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay như sau:
- Thiếu khả năng về mạng, tích hợp hệ thống
- Khai thác các ứng dụng trên nền Windows
- Các môn học chuyên sâu về TMÐT chưa có
- Giáo viên giảng dạy các môn TMÐT còn ít
- Khả năng làm việc theo nhóm yếu
- Thiếu kiến thức về chuyên ngành, thực tiễn
Nhằm nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp và xu hướng phát triển của TMĐT, trong thời gian qua các cơ sở đào tạo đã từng bước triển khai hoạt động đào tạo chính quy về TMĐT
Theo khảo sát của Bộ Công Thương với 125 trường đại học và cao đẳng trên
cả nước trong năm 2010, có 77 trường đã tiến hành đào tạo TMĐT, bao gồm 49 trường đại học và 28 trường cao đẳng Trong số các trường đại học đã đào tạo TMĐT, có 01 trường đã thành lập khoa TMĐT, 10 trường thành lập bộ môn TMĐT Trong số các trường cao đẳng, có 01 trường thành lập khoa TMĐT, 4 trường thành lập bộ môn TMĐT Từ năm 2008-2010 có thêm 15 trường tổ chức giảng dạy TMĐT
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, phần lớn giảng viên về TMĐT của các trường chủ yếu là giảng viên ngành khác được bồi dưỡng thêm về TMĐT hoặc tự nghiên cứu để giảng dạy TMĐT, chỉ có 19% trường có giảng viên được đào tạo chuyên ngành TMĐT, 94% trường có giảng viên ngành khác được bồi dưỡng thêm
về TMĐT hoặc tự nghiên cứu để giảng dạy TMĐT Giáo trình giảng dạy TMĐT
Trang 36của các trường chủ yếu do giáo viên tự biên soạn (78%) hoặc trường biên soạn (34%), một số trường sử dụng giáo trình của các cơ sở đào tạo khác ở trong nước (32%) hoặc nước ngoài (19%) Tuy nhiên, các trường cũng cho biết, trong thời gian tới số lượng giảng viên được đào tạo chuyên ngành về TMĐT sẽ tăng lên Đây sẽ là những điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán trực tuyến trong thời gian tới.[13]
Hệ thống trang thiết bị cung cấp dịch vụ
Với những lý do hạn chế thời gian và chi phí giao dịch, bên cạnh đó là sự
phù hợp với xu hướng nền kinh tế hiện nay, công nghệ chính là yếu tố hỗ trợ
mạnh mẽ nhất cho sự phát triển hệ thống thanh toán trực tuyến
Doanh nghiệp muốn phát triển phải trang bị cho mình hệ thống máy móc
phù hợp với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp mình Chúng ta thấy rằng khi
sử dụng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, các khâu sản xuất đều được chuyển
từ thủ công sang đa phần là máy móc thực hiện, không cần sự xuất hiện quá
nhiều của con người nhưng năng suất hoạt động lại tăng rất nhanh Chính vì thế
các doanh nghiệp muốn phát triển phải trang bị cho mình máy móc trang thiết bị
cần thiết để phục vụ cho việc hoạt động kinh doanh
Năng lực tài chính và giá cả dịch vụ
Năng lực tài chính có vai trò quyết định trong việc đầu tư công nghệ,
mua sắm trang thiết bị hiện đại, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như tuyển
dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ
thanh toán trực tuyến Bên cạnh đó, trong thị trường cạnh tranh ngày càng gay
gắt như hiện nay, giá cả là một yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp Ngoài ra, mục đích của dịch vụ thanh toán trực tuyến không
chỉ đơn thuần là lợi nhuận, mà một mục đích thậm chí chiếm phần quan trọng
lớn hơn chính là giành được sự tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm của
doanh nghiệp Nhiều ngân hàng thậm chí còn miễn phí phí chuyển tiền đối với
những dịch vụ mới ra đời, nhằm thu hút khách hàng quay lại lần sau
1.4.2 Yếu tố bên ngoài
Môi trường xã hội
Trang 37Lướt qua hầu hết các website và sàn thương mại điện tử tại Việt Nam hiện
nay thì hầu hết khách hàng truy cập vào vẫn chỉ dừng lại ở xem hàng và tham
khảo giá mà chưa có động tác mạnh tay hơn là chọn đưa vào giỏ đặt hàng và
thanh toán Điều đó có nghĩa rằng, khách hàng vẫn còn chưa thực sự an tâm khi
thực hiện giao dịch thanh toán trực tuyến hoặc đã tin tưởng nhưng không biết
làm thế nào để có thể mua hàng trực tuyến
Một số website có tên tuổi hơn như Chợ điện tử, 123 mua!, Vật giá,… đã
bắt đầu triển khai các công cụ thanh toán trực tuyến Tuy nhiên, các công cụ này
chủ yếu lại dành cho các khách hàng có tài khoản tại một số ngân hàng Cụ thể
như Cổng thanh toán trực tuyến Đông Á chỉ dành cho khách hàng có tài khoản
tại Ngân hàng Đông Á hay Cổng Thanh toán điện tử F@st VietPay của
Techcombank lại dành cho khách hàng có thẻ visa, master card Trên thực tế, số
lượng những khách hàng sở hữu các loại thẻ trên ở Việt Nam vẫn chưa nhiều,
nếu không nói là quá ít, vì thế những khách hàng không có thẻ, chiếm đa số,
đành ngậm ngùi bỏ qua món hàng mình ưa thích
Một số website có quy mô nhỏ hơn thì áp dụng hình thức giao hàng đến
tay người tiêu dùng và thanh toán offline Hình thức này có vẻ được áp dụng
nhiều hơn cả và cũng được người tiêu dùng chấp nhận vì thói quen “tiền trao
cháo múc” Tuy nhiên, hình thức này lại buộc người tiêu dùng phải bỏ ra một
lượng tiền cao hơn so với mức giá phải trả, được gọi là phí vận chuyển Phương
thức này trong các trường hợp đột xuất có thể chấp nhận được, nhưng về lâu dài
khi nhu cầu tiêu dùng trực tuyến trong nước tăng cao thì khó có khả năng duy trì
Yếu tố văn hóa
Thói quen sử dụng tiền mặt của người dân Tỷ lệ đơn vị hưởng lương từ
ngân sách Nhà nước thực hiện trả lương qua tài khoản là 45,5% nhưng thực tế là
có không ít tài khoản mà thời gian số dư tồn tại trên tài khoản chỉ tính bằng giờ
không chỉ bởi họ cần rút tiền để tiêu mà vẫn còn tâm lý “để tiền trong tài khoản
ngân hàng thì không yên tâm” Còn không ít người dân cho rằng cứ phải tiền
trong tay mới là tiền của mình, còn để trong tài khoản thì không biết thế nào
Trang 38Trong mua sắm cũng vậy, phần đông người mua và người bán vẫn quen
thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại khi
mua hàng qua mạng có thể sẽ mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất
lượng không đạt như mong muốn hoặc thậm chí là không nhận được hàng hoá
mặc dù tiền đã được chuyển khoản, trong khi pháp luật về bảo vệ người tiêu
dùng của Việt nam vẫn chưa thực sự hiệu quả Thói quen này cộng với tâm lý
ngại công khai hoá thu nhập, doanh thu đang cản trở, hạn chế phát triển thanh
toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam.[12]
Vấn đề an toàn khi sử dụng thanh toán trực tuyến
Một số khách hàng khi sử dụng hệ thống thanh toán trực tuyến lo sợ về
mức độ bảo mật thông tin cá nhân Có thể đó là do hệ thống WEB hoặc hệ thống
thanh toán bị hỏng,… Mặt khác có thể do: tin tặc xâm nhập; đánh cắp định danh;
khai thác lổ hổng kĩ thuật; tấn công từ chối dịch vụ; virus và các mã độc hại;
khai thác lỗi vận hành; tấn công ứng dụng;…
Như vậy thông tin cá nhân của họ sẽ bị người khác lợi dụng, có thể sử
dụng hết tiền trong tài khoản của họ hoặc một điều nguy hiểm hơn là sử dụng
vào những mục đích phạm pháp Chính vì một số lý do trên mà một số người rất
e ngại khi sử dụng hệ thống này so với sử dụng tiền mặt
Do đó, chính phủ và một số doanh nghiệp đang dần dần khắc phục những
nhược điểm này để khách hàng có thể an tâm hơn khi thực hiện các giao dịch
Chúng ta nhìn qua một ví dụ điển hình chính là trang PAYPAL họ đã dùng một
hệ thống thẻ “Ảo” để bảo mật và an toàn cho khách hàng của mình chẳng hạn
Mặc dù thế, chúng ta vẫn phải chú trọng, thường xuyên hoàn thiện để phục vụ tốt
cho khách hàng và phát triển hệ thống thanh toán trực tuyến của Việt Nam
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG I
Tóm lại, từ việc phát minh ra internet làm cơ sở phát triển thương mại điện
tử từ những năm cuối thập niên 90, dịch vụ thanh toán trực tuyến đã phát triển và
trở thành một phương thức thanh toán không thể thiếu trong nền kinh tế hiện nay
Và trong thanh toán trực tuyến thì phương thức thanh toán qua thẻ là phương thức
phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu, nhờ vào ưu điểm thanh toán không có giới hạn
về lãnh thổ như phương thức thanh toán trên tài khoản hay quá nhiều rủi ro như
thanh toán bằng tiền điện tử Chính vì lý do đó, đề tài được tập trung nghiên cứu,
phân tích về dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ
Để đánh giá chất lượng dịch vụ thanh toán trực tuyến tại BIDV Chi nhánh Bà
Rịa Vũng Tàu, trước hết luận văn tìm hiểu cơ sở lý luận từ các mô hình đánh giá,
phương thức đánh giá về chất lượng dịch vụ nói chung Trong đó mô hình chất
lượng dịch vụ của Prasuraman & cộng sự (1985) cho ta bức tranh tổng thể về chất
lượng dịch vụ Mô hình đã xác định rằng với bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch
vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô hình thành 05 thành phần cơ bản gồm: Tin
cậy (reliability); Đáp ứng/Tinh thần trách nhiệm (resposiveness); Năng lực
phục vụ/đảm bảo (assurance); Đồng cảm (empathy); Phương tiện hữu hình
(tangibles) Và phương thức đánh giá chất lượng dịch vụ phù hợp với nền kinh tế
Việt Nam là phương pháp đánh giá dựa vào sự thoả mãn chung của khách hàng
qua thăm dò, lấy ý kiến khách hàng bằng phỏng vấn trực tiếp khách hàng hoặc
phát phiếu điều tra
Qua cơ sở lý luận đã tìm hiểu và trình bày, tác giả xin kết thúc chương I để
chuyển sang chương II đi tìm hiểu thực trạng dịch vụ thanh toán trực tuyến bằng
thẻ của BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu Từ đó áp dụng mô hình, phương thức
đánh giá phù hợp nhất với thực tế để đánh giá được chất lượng dịch vụ này với
nhưng ưu điểm, hạn chế hiện nay
Trang 40CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ THANH TOÁN
TRỰC TUYẾN TẠI BIDV CHI NHÁNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Trong dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ, BIDV tham gia vào dịch vụ với
vai trò là ngân hàng của chủ thẻ.Vì vậy trong phần thực trạng này luận văn sẽ tập
trung chính vào thực trạng phát triển thẻ thanh toán của BIDV nói chung cũng như
Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng và thực trạng chất lượng dịch vụ thanh toán
trực tuyến qua khảo sát và đánh giá từ khách hàng của BIDV Chi nhánh Bà Rịa
Vũng Tàu
2.1 Tổng quan về BIDV Chi nhánh Bà Rịa Vũng Tàu
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu
Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh có
nhiều tiềm năng và lợi thế quan trọng về vị trí, đất đai, hạ tầng kỹ thuật để phát
triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là phát triển các ngành kinh tế biển như: công
nghiệp dầu khí, sản xuất điện, đạm, cảng biển, du lịch, khai thác và chế biến hải
sản
Hiện nay, Bà Rịa – Vũng Tàu là trung tâm khai thác dầu khí chủ yếu của
Việt Nam, với 93,29% tổng trữ lượng dầu mỏ và 16,20% tổng trữ lượng khí thiên
nhiên của cả nước Là nơi sản xuất gần 40% điện của quốc gia, là địa phương
được Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển quốc gia và quốc tế;
là vùng trọng điểm của Chương trình Du lịch quốc gia, với nhiều loại hình du lịch
nghỉ dưỡng, chữa bệnh, giải trí cuối tuần, trú đông, du lịch sinh thái rừng – biển –
đảo và du lịch văn hóa – lịch sử – cách mạng Bên cạnh đó, Bà Rịa – Vũng Tàu
còn là một trong những ngư trường lớn của cả nước Tuy chỉ chiếm 0,6% diện
tích, hơn 1% dân số cả nước, song Bà Rịa – Vũng Tàu đã tạo ra 11% GDP và gần
27% tổng thu ngân sách cả nước Do vậy sự phát triển kinh tế của Bà Rịa – Vũng
Tàu có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cả nước
Trong 5 năm gần đây kinh tế Bà Rịa – Vũng Tàu đạt tốc độ tăng trưởng cao
(GDP tăng bình quân gần 13%/năm); hầu hết các chỉ tiêu, mục tiêu kinh tế trên địa