Từ trước đến nay, việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc của các thế hệ nhạc sĩ Việt Nam luôn là một thực tế sống động và phong phú, biểu hiện mối quan hệ khăn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH LAN HƯƠNG
VẤN ĐỀ KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội, năm 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH LAN HƯƠNG
VẤN ĐỀ KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 62 31 06 40
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS TS NGUYỄN XUÂN KÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và số liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực, trích dẫn đúng quy định Nếu có điều gì trái với lời cam đoan trên, tôi xin chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trịnh Lan Hương
Trang 4MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU .1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lý luận 16
Chương 2: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM 33
2.1 Vì chất lượng, hiệu quả nghệ thuật 33
2.2 Tự tôn dân tộc, phục vụ cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 40
2.3 Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong âm nhạc Việt Nam theo chủ trương, đường lối của Đảng 56
Chương 3: THỰC TẾ VIỆC KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM 66
3.1 Các phương thức khai thác 66
3.2 Mức độ khai thác các thể loại văn học dân gian 84
3.3 Xu hướng vận động, biến đổi của việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam 89
Chương 4: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM HIỆN NAY 110
4.1 Sự lãnh đạo của Đảng, chính sách của nhà nước 110
4.2 Chủ thể sáng tạo và biểu diễn ca khúc 114
4.3 Quá trình toàn cầu hóa và sự giao lưu, hội nhập quốc tế 116
4.4 Yếu tố kinh tế thị trường 120
4.5 Quá trình đô thị hóa, sự biến đổi hệ giá trị văn hóa truyền thống 122
4.6 Văn hóa đọc 129
4.7 Sự khiếm khuyết, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về sáng tác, biểu diễn, giáo dục đào tạo văn hóa nghệ thuật 131
4.8 Hoạt động của các cơ quan thông tin, truyền thông 133
KẾT LUẬN 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
Trang 5BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
- NSƯT:
- Nxb:
Nghệ sĩ ưu tú Nhà xuất bản
cả đều được ghi trong móc vuông
Ví dụ: ký hiệu [111, tr.289] thể hiện xuất xứ của đoạn trích dẫn là ở trang 289
của tài liệu có số thứ tự 111 trong danh mục Tài liệu tham khảo
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Mức độ khai thác các thể loại văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam 85 Bảng 3.2: Mức độ sử dụng các phương thức khai thác chất liệu văn học dân gian qua các thời kỳ ca khúc Việt Nam 89 Bảng 3.3: Mức độ khai thác chất liệu văn học dân gian theo các tính chất
chủ đề nội dung qua các thời kỳ ca khúc Việt Nam 100
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn học (trong đó có văn học dân gian) và âm nhạc (trong đó có ca khúc) là hai loại hình nghệ thuật chuyên biệt, mỗi loại hình có những đặc trưng riêng về chất liệu để xây dựng hình tượng, về phương thức phản ánh đời sống song chúng tồn tại
và phát triển trong sự tương tác, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau Từ trước đến nay, việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc của các thế hệ nhạc sĩ Việt Nam luôn là một thực tế sống động và phong phú, biểu hiện mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ văn học và ca từ trong âm nhạc mới
Mỗi ca khúc là một chỉnh thể, giai điệu và các yếu tố âm nhạc vốn được coi
là rất quan trọng nhưng không vì thế mà phần ca từ có thể xem nhẹ Có những bài hát, giai điệu dù rất đẹp nhưng cũng nhanh chóng bị lãng quên bởi người ta không muốn nghe những lời ca tẻ nhạt, trống rỗng, tầm thường của nó Bởi vậy, khi soạn
ca từ, các nhạc sĩ luôn phải dày công chọn lựa những từ ngữ trong vốn ngôn ngữ của cộng đồng để chuốt ra những lời ca hay Mỗi ca khúc đều chứa đựng những
“cái mã”, những tín hiệu nghệ thuật, thể hiện thế giới tâm hồn của người sáng tác;
sự đồng điệu cảm xúc, sự yêu thích của người thưởng thức đối với ca khúc chỉ có được khi họ có thể “giải mã”, hiểu được những tầng vỉa ý nghĩa của những tín hiệu nghệ thuật đó Văn học dân gian là sự kết tinh cái hay cái đẹp của ngôn ngữ dân tộc, kết tinh trí tuệ và tâm hồn con người Việt Nam qua các thời đại Trong quá trình sáng tác, các nhạc sĩ Việt Nam đã tìm về kho tàng văn học dân tộc, khai thác vốn quý văn học dân gian, làm cho cái hay, cái đẹp của văn học dân gian hóa thân vào
ca từ, mang lại cho ca khúc những giá trị và sức sống bền lâu Đó chính là việc đưa những mã, những tín hiệu nghệ thuật ngôn từ dân gian đã từng được biết đến, đã trở nên quen thuộc với nhiều người vào trong một tác phẩm mới Vậy, dấu hiệu nào để nhận biết được sự hiện diện của chất liệu văn học dân gian trong ca khúc? Có những cách thức nào để chuyển hóa văn học dân gian thành ca từ? Các tác giả ca khúc khai thác chất liệu văn học dân gian nhằm mục đích gì? Trong bối cảnh văn hóa xã hội nước
Trang 8ta hiện nay, nhà lãnh đạo – quản lý, người sáng tác, công chúng thưởng thức âm nhạc
có quan điểm nhìn nhận như thế nào về việc văn học dân gian trở thành chất liệu nghệ thuật của những tác phẩm âm nhạc? Những câu hỏi cứ dần tăng lên đã khiến chúng tôi có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam
Bản sắc văn hóa Việt Nam hình thành, tồn tại và phát triển từ nền tảng văn hóa dân gian mà trong đó có văn học dân gian Giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo của Đảng Việc khai thác, vận dụng vốn văn hóa dân gian phục vụ quá trình sáng tạo tác phẩm nghệ thuật đã được đông đảo giới lãnh đạo, quản lý, sáng tác, nghiên cứu, công chúng âm nhạc… quan tâm Tuy nhiên, khi bàn luận về ca khúc, giới nghiên cứu âm nhạc mới chỉ dành
sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề khai thác chất liệu âm nhạc dân gian (thang âm, điệu thức, tiết nhịp ), còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề khai thác chất liệu văn học dân gian, vấn đề ca từ trong ca khúc Việt Nam Vì vậy, đây là một đề tài mới, xứng đáng được nghiên cứu
Chọn vấn đề khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam để nghiên cứu, chúng tôi cũng hướng tới việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn đã trở nên cấp thiết của đời sống âm nhạc nước ta hiện nay Chất liệu văn học dân gian là một yếu tố góp phần làm nên tính dân tộc, bản sắc dân tộc trong ca khúc Việt Nam Nhìn chung, âm nhạc Việt Nam hiện nay đã có nhiều yếu tố cập nhật, hội nhập với đời sống âm nhạc đương đại của thế giới Tuy nhiên, đối với một số người sáng tác
- nhất là những người viết trẻ, việc cho ra đời những ca khúc mới có ca từ vừa phù hợp với thẩm mỹ thời đại lại vừa mang đậm bản sắc dân tộc thực sự là một thử thách không dễ vượt qua Trong những tác phẩm của họ, số lượng ca khúc có ca từ
sử dụng chất liệu văn học dân gian còn ít và khai thác chưa hiệu quả Vì vậy, nếu không nghiên cứu để thấy rõ tác dụng và ý nghĩa của chất liệu văn học dân gian, sự phong phú và đa dạng của các phương thức khai thác thì việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc sẽ có nguy cơ bị mai một và một trong
Trang 9những lối đi dẫn tới tính dân tộc, bản sắc dân tộc cho ca khúc có thể sẽ không được coi trọng, thậm chí bị lãng quên
Vấn đề khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam
càng trở nên cấp thiết hơn khi những năm gần đây (đặc biệt là từ tháng 7/2011), các phương tiện thông tin đại chúng nhiều lần đề cập tới một tình trạng đáng báo động Không ít ca khúc bị coi là “thảm họa” khi ca từ không phù hợp với thẩm mỹ dân tộc, lai – căng nước ngoài, lời ca thô mộc, tầm thường Nhiều nhạc sĩ, nhà quản lý, nhà báo và công chúng yêu nhạc đã bày tỏ sự lo ngại về chất lượng nghệ thuật của những
ca khúc trẻ mà ca từ của nó vẫn giữ nguyên cái vẻ thô nhám, bụi bặm, suồng sã của thứ ngôn ngữ thường gặp ở nơi lộn xộn, bát nháo Trong những ca khúc đó, cái ranh giới của ngôn từ nghệ thuật với ngôn ngữ của đời thường đã bị xóa nhòa, ca từ chỉ còn là những lời nói đơn điệu, có khi cợt nhảm, phi thẩm mỹ gây nên sự phản cảm, lệch lạc về thị hiếu thẩm mỹ, tác động tiêu cực tới việc xây dựng nhân cách đạo đức, lối sống của giới trẻ Để ca từ không còn là vấn đề “thảm họa”, “đáng báo động”, để
ca khúc của người trẻ viết cho giới trẻ không xa rời mục đích thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp, nâng cao sự hiểu biết và thanh lọc tâm hồn cho con người thì việc phê phán, cảnh báo là chưa đủ; cần phải định hướng cho những người sáng tác
ca khúc (đặc biệt là những người trẻ mới vào nghề) bằng việc gợi ý thêm một hướng
đi với những cách thức có hiệu quả để vận dụng vào quá trình sáng tác, góp phần nâng cao chất lượng nghệ thuật của ca từ nói riêng và của ca khúc nói chung Chúng
tôi hy vọng, đề tài luận án kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn nói trên
Là một giảng viên giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường quân đội thuộc khối văn hóa nghệ thuật, từng học và biểu diễn chuyên ngành Thanh nhạc, bản thân tôi nhận thấy rất rõ sức sống và vai trò của văn học (trong đó có văn học dân gian) đối với các loại hình nghệ thuật khác (trong đó có ca khúc âm nhạc) Thiết nghĩ, nếu giải quyết tốt những vấn đề đặt ra, đề tài chắc chắn sẽ có tác động tích cực đối với việc giảng dạy của bản thân cũng như việc học tập của sinh viên - nhất là chuyên ngành Sáng tác âm nhạc Vì vậy, đối với tôi, nghiên cứu đề tài này không đơn thuần
là một nhiệm vụ khoa học cần phải hoàn thành mà đó thực sự là một nhu cầu tự thân với nhiều hứng thú, say mê
Trang 102 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Thông qua việc phân tích, luận giải về tính chủ động của người sáng tác ca khúc khi khai thác chất liệu văn học dân gian (CLVHDG) kết hợp với việc nhận diện quá trình khai thác CLVHDG trong sự vận động của đời sống xã hội (lịch sử, chính trị, văn hóa ), luận án trình bày những kiến giải về mối quan hệ giữa thành tố văn học và âm nhạc trong bối cảnh nền văn hóa VN hiện nay nhằm làm sáng tỏ những luận điểm khoa học có tính định hướng đối với chủ thể sáng tạo nghệ thuật
về việc khai thác CLVHDG trong quá trình sáng tác
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề; đánh giá mức
độ thành công cũng như những khoảng trống mà người đi trước chưa đề cập đến
- Giới thuyết các khái niệm cơ bản (“ca khúc”, “ca từ”, “bản sắc dân tộc”), trình bày quan niệm về khai thác CLVHDG; vận dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết diễn ngôn, lý thuyết hành động xã hội trong quá trình nghiên cứu
- Nghiên cứu mục đích của người sáng tác ca khúc khi khai thác CLVHDG
- Trình bày quá trình khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay, nhận diện các phương thức khai thác, mức độ khai thác và xu hướng vận động của việc khai thác CLVHDG qua diễn trình lịch sử
- Phân tích các yếu tố tác động đến việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về chủ thể sáng tác: phạm vi nghiên cứu là các tác giả ca khúc VN Việc phỏng vấn được tiến hành đối với 14 nhạc sĩ tiêu biểu cho các thành phần lứa tuổi,
Trang 11do, nhạc sĩ quân đội ); phần lớn trong số 14 nhạc sĩ này là những người nổi tiếng,
có nhiều thành công với những ca khúc mang phong cách dân gian [Phụ lục 02, tr.168]
Về tư liệu ca khúc: phạm vi nghiên cứu là ca khúc VN từ thời kỳ Tân nhạc (1930) cho đến nay Căn cứ vào những dấu hiệu nhận biết CLVHDG [Phụ lục 03, tr.170], chúng tôi đề xuất một danh sách gồm 274 ca khúc có khai thác CLVHDG; từ kiến bình chọn của các chuyên gia (ca sĩ, nghệ sĩ - giảng viên thanh nhạc) chọn ra
150 ca khúc tiêu biểu để tiến hành khảo sát - thống kê [Phụ lục 01, tr.162], [Phụ lục
04, tr.174]
Do tính chất phức hợp của đề tài nên trong quá trình khảo sát - thống kê, các
tác phẩm VHDG in trong Tổng tập văn học dân gian người Việt (Viện Nghiên cứu
văn hóa dân gian, Nxb KHXH, 19 tập, 2002 - 2006) được dùng để so sánh, đối chiếu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận án luôn quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử: sự vật luôn vận động và thường xuyên có mối liên hệ với các sự vật khác; việc nhận xét, đánh giá bất kỳ sự việc, hiện tượng nào cũng phải chú ý đến những điều kiện lịch sử cụ thể Khi xử lý vấn đề về văn học nghệ thuật, chúng tôi cũng luôn thấm nhuần một yêu cầu có tính nguyên tắc của Đảng Cộng sản VN là kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với việc tiếp thu
tinh hoa văn hóa của nhân loại
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Đối với một vấn đề nằm ở vị trí “giáp ranh” giữa văn học và âm nhạc, NCS
sử dụng phương pháp liên ngành - kết hợp phương pháp nghiên cứu của nhiều
ngành liên quan: tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ góc độ văn học để tìm hiểu tình hình, mức độ khai thác các thể loại VHDG; từ góc độ âm nhạc học để phân tích các phương thức khai thác CLVHDG; từ góc độ văn hóa học để lý giải mục đích của việc khai thác CLVHDG, chiều hướng vận động, biến đổi của việc khai thác
Trang 12CLVHDG trong tiến trình phát triển nền ca khúc VN và tìm hiểu những yếu tố liên quan, tác động đến việc khai thác CLVHDG giai đoạn hiện nay
4.2.2 Các phương pháp cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu Qua việc tập hợp và nghiên cứu các văn
bản tài liệu liên quan gồm tác phẩm VHDG, tác phẩm âm nhạc, sách, báo, công trình nghiên cứu (với các thao tác: phân tích, tổng hợp, khảo sát - thống kê, so sánh ), NCS kế thừa và vận dụng kết quả những công trình trước đây, đồng thời phát hiện, khái quát hóa thành những luận điểm, nhận định riêng Trong đó, việc khảo sát - thống kê được chú trọng sử dụng để nghiên cứu mức độ và các phương thức khai thác CLVHDG, bởi các con số thu được từ thao tác có tính định lượng này có nhiều ý nghĩa
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng kết hợp việc dùng bảng hỏi
(phiếu điều tra) và phỏng vấn sâu
+ Bảng hỏi (phiếu điều tra): dùng bảng hỏi để thu nhận ý kiến bình chọn ca
khúc của các ca sĩ, nghệ sĩ - giảng viên thanh nhạc, từ đó xác định phạm vi ca khúc
nghiên cứu [Phụ lục 09, tr.207]
+ Phỏng vấn sâu: tiếp cận phỏng vấn 14 nhạc sĩ sáng tác thuộc phạm vi
nghiên cứu của đề tài luận án để lý giải một số khía cạnh liên quan của vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN bằng “cái nhìn của người trong cuộc”
Đây là phương pháp định tính quan trọng, khi sử dụng kết hợp với kết quả khảo sát
- thống kê và bảng hỏi sẽ có thể đi đến những kết luận, nhận định khả dĩ thuyết
phục trong nghiên cứu
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia Trong quá trình thực hiện luận án,
NCS đã gặp gỡ 5 nhà quản lý về VHNT và 4 nhà khoa học am hiểu về các lĩnh vực liên quan đến đề tài Có khi, sau một buổi làm việc, ý kiến của họ gợi mở thêm ý tưởng mới hoặc ý kiến phản biện, giúp bổ sung và hoàn thiện luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án nghiên cứu làm sáng tỏ những nội dung khoa học và giá trị khoa học của vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN Cụ thể như sau:
Trang 13Qua việc giới thuyết các khái niệm, trình bày quan niệm về “khai thác CLVHDG” và “bản sắc dân tộc”, tác giả luận án đóng góp ý kiến bàn luận, trao đổi dưới góc độ lý luận, góp tiếng nói vào đời sống học thuật hiện nay về vấn đề bản sắc dân tộc nói riêng và vấn đề văn hóa xã hội nói chung
Khi nghiên cứu mục đích khai thác CLVHDG, luận án góp phần lý giải điều
gì đã thôi thúc những chủ thể sáng tạo nghệ thuật sử dụng CLVHDG một cách có chủ
ý, tự giác Đây là lần đầu tiên vấn đề này được xem xét từ góc độ chủ thể sáng tạo
Với việc nhận diện các phương thức khai thác, nghiên cứu mức độ khai thác các thể loại VHDG, xu hướng vận động, biến đổi về phương thức khai thác và về nội dung chủ đề CLVHDG qua các thời kỳ lịch sử ca khúc , luận án đi đến những nhận xét, nhận định khái quát, làm căn cứ ban đầu cho những nghiên cứu tiếp theo
về từng tác giả, tác phẩm cụ thể nhìn từ vấn đề này
Ngoài ra, luận án còn đánh giá những tác động (thuận chiều và nghịch chiều) của các yếu tố trong đời sống xã hội đối với việc khai thác CLVHDG Các nội dung trên được giải quyết sẽ là những đóng góp khoa học trong nghiên cứu về mối quan
hệ giữa các thành tố trong chỉnh thể nền văn hóa VN hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định tính đúng đắn của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tính đúng đắn của đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng Cộng sản VN Luận án cũng cho thấy: việc các nhạc sĩ khai thác CLVHDG trong quá trình sáng tác ca khúc là phong phú, gợi mở nhiều vấn đề về lý luận và học thuật Đi theo hướng này, các nhạc sĩ chẳng những đóng góp thiết thực vào đời sống văn hóa - văn nghệ nước nhà mà còn là dịp để bộc lộ tài năng cá nhân, sự sáng tạo độc đáo Qua nghiên cứu, luận án cũng góp phần làm rõ mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, khẳng định giá trị của văn hóa truyền thống, góp thêm tiếng nói bảo vệ quan điểm, đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng Cộng sản VN
Về ý nghĩa thực tiễn, luận án là tài liệu tham khảo để các nhà quản lý VHNT hoạch định những chính sách, giải pháp phù hợp và hiệu quả đối với hoạt động sáng tác và biểu diễn ca khúc
Trang 14Kết quả nghiên cứu còn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập các chuyên ngành nghệ thuật ở các trường thuộc khối VHNT và áp dụng vào thực tiễn của người sáng tác ca khúc Điều này có ý nghĩa thiết thực đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, tác động tích cực đến sự phát triển đúng hướng, lành mạnh của nền ca khúc âm nhạc VN trong hiện tại và
tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
- Chương 2: Mục đích của việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN
- Chương 3: Thực tế việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN
- Chương 4: Những yếu tố tác động đến việc khai thác CLVHDG trong sáng tác
ca khúc VN hiện nay
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Giới nghiên cứu phê bình âm nhạc VN đã sớm quan tâm tìm hiểu về thể loại
ca khúc từ nhiều góc độ khác nhau, trong đó có vấn đề khai thác, vận dụng vốn quý
cổ truyền của dân tộc Số lượng bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề trên khá
dồi dào: Mấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu dân ca và vận dụng dân ca vào sáng tác (1962) của Lê Lôi, Xung quanh vấn đề vận dụng dân ca miền Trung vào một số sáng
tác mới (1966) của Đào Việt Hưng; các bài viết của Nguyễn Viêm: Dùng chất liệu
âm nhạc cổ truyền dân tộc cho tác phẩm mới (1979), Ứng dụng chất liệu dân ca Bình Trị Thiên vào tác phẩm mới (1979), Âm nhạc dân gian với tác phẩm chuyên nghiệp (1982); luận văn Đại học chuyên ngành Lý luận âm nhạc của Biện Thị Lộc,
Nhạc viện HN: Tìm hiểu việc sử dụng chất liệu hát ví và giặm Nghệ - Tĩnh trong một
số ca khúc mới Việt Nam (1985); luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của
Trần Bảo Lân, Viện Nghiên cứu văn hóa: Những yếu tố dân gian trong ca khúc Việt
Nam thời đổi mới (2007); luận văn Đại học chuyên ngành Lý luận âm nhạc của Tạ
Xuân Sơn, Nhạc viện HN: Nhạc sĩ An Thuyên và một số ca khúc mang phong cách
dân gian (2007); luận văn Đại học chuyên ngành Lý luận âm nhạc của Đỗ Trọng
Thi, Nhạc viện HN: Phương pháp vận dụng chất liệu âm nhạc truyền thống trong
một số ca khúc Việt Nam đương đại mang âm hưởng dân gian (2008); Luận án Tiến
sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian, Học viện KHXH của Trần Bảo Lân: Bản sắc dân
tộc trong ca khúc mới Việt Nam (2013)
Ca khúc là một thể loại âm nhạc được tạo thành bởi hai thành phần cốt yếu: nhạc và lời cho nên nói đến việc khai thác, vận dụng chất liệu dân gian trong sáng tác ca khúc là phải xem xét việc khai thác, vận dụng chất liệu âm nhạc dân gian và CLVHDG (bộ phận tinh túy của ngôn ngữ dân gian) Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên mới chỉ tập trung vào vấn đề chất liệu âm nhạc dân gian (thang âm, điệu thức,
âm hình, tiết tấu ) mà chưa nhìn nhận sâu về vấn đề CLVHDG và ca từ Có thể
Trang 16nói, sự quan tâm thiên lệch - “nặng” về nhạc, “nhẹ” về lời (ca từ) là thực trạng bức tranh nghiên cứu về ca khúc VN bấy lâu nay Tình hình trên xuất phát từ quan điểm cho rằng vấn đề ca từ nằm ở đường giáp ranh giữa hai loại hình: nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật âm nhạc, nơi mà mà cả hai ngành khoa học là văn học và âm nhạc học đều tuyên bố rằng mình không có thẩm quyền [1, tr.15] Số lượng bài viết, công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề ca từ, vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN cũng cho thấy điều đó
1.1.1 Điểm luận tài liệu
1.1.1.1 Những nghiên cứu đề cập đến vấn đề khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam - nhìn từ góc độ thể loại văn học
Tuy không đặt thành một vấn đề độc lập để nghiên cứu nhưng trong một chừng mực nhất định, các tác giả đã đề cập tới việc khai thác các thể loại VHDG trong sáng tác ca khúc VN Các nhận định khá thống nhất: trong quá trình sáng tác
ca khúc VN, nhiều nhạc sĩ đã tìm về kho tàng VHDG của dân tộc, vận dụng ngôn từ nghệ thuật ở các thể loại VHDG Một số ý kiến tiêu biểu như sau:
Tác giả Tạ Xuân Sơn khi nghiên cứu đề tài Nhạc sĩ An Thuyên và một số ca
khúc mang phong cách dân gian đã viết: “Lời ca trong các ca khúc thường thấm
đượm ca dao, tục ngữ dân gian” [122, tr.52] Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nhận định khái quát, tác giả chưa khảo sát cụ thể về vấn đề này
Trong luận văn thạc sĩ của Trần Bảo Lân Những yếu tố dân gian trong ca
khúc Việt Nam thời đổi mới (1986 - 2007), những yếu tố dân gian được nghiên cứu
gồm: thang âm - điệu thức, âm điệu, tiết tấu, thủ pháp ca từ, lối cấu trúc đan xen giữa kiểu nhạc có tiết nhịp và không tiết nhịp, yếu tố dân gian trong phần đệm, phần biểu diễn Khi tiến hành khảo sát khá toàn diện các yếu tố đó, tác giả đã đề cập đến một số thể loại VHDG được dùng làm chất liệu để sáng tác ca khúc và đi đến nhận định: “Ca khúc thời đổi mới tiếp tục khai thác những hình tượng văn học dân gian từ nhiều nguồn khác nhau như: ca dao, tục ngữ, dân ca, các tích truyện dân gian ” [79, tr.56]
Trang 17Vấn đề này còn tiếp tục được Trần Bảo Lân đề cập tới trong luận án Văn hóa
dân gian Bản sắc dân tộc trong ca khúc mới Việt Nam Tác giả khẳng định: trong
giai đoạn ca khúc VN thời đổi mới, các yếu tố dân gian tiếp tục được khai thác từ nhiều góc độ, từ đời sống dân gian của người dân, từ ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyền thuyết và được sử dụng với mức độ gia tăng so với ca khúc VN trước thời
đổi mới [80]
Có thể thấy, trong những công trình, bài viết nêu trên, vấn đề các thể loại VHDG và sự tham gia của chúng vào quá trình sáng tác ca khúc mới chỉ được điểm
qua một cách khái lược Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, trong bài viết Bước đầu
tìm hiểu việc khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam,
chúng tôi đã dành một phần nội dung để trình bày về tình hình khai thác chất liệu VHDG nhìn từ góc độ thể loại Trên thực tế, các thể loại VHDG được khai thác, vận dụng với mức độ không như nhau Qua khảo sát ca khúc của Nguyễn Xuân Khoát, Phó Đức Phương, An Thuyên, Trần Tiến, Lê Minh Sơn, kết luận được rút ra là: trong các thể loại VHDG, thể loại ca dao (thuộc phương thức trữ tình) được khai thác, vận dụng nhiều nhất; kế đến là tục ngữ (thuộc phương thức luận lý); thể loại truyện dân gian (thuộc phương thức tự sự) ít khi được khai thác; các kịch bản chèo, tuồng, múa rối (thuộc phương thức kịch sân khấu dân gian) rất ít được khai thác, vận dụng [60, tr.49]
Năm 2012, trong cuốn sách Sức sống của văn học dân gian trong ca khúc
Việt Nam (Trịnh Lan Hương chủ biên), vấn đề này đã được tìm hiểu ở phạm vi bao
quát hơn Trên phương diện lý thuyết, ngôn từ ở tất cả các thể loại VHDG đều có thể trở thành chất liệu để sáng tác Tuy nhiên, thể loại nào có sự tương đồng, phù hợp, gần gũi với ca từ hơn thì sẽ được người sáng tác ca khúc vận dụng nhiều hơn Từ đó, tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế, đánh giá mức độ khai thác của một số nhạc sĩ VN đối với từng thể loại VHDG, xác định thể loại nào được khai thác, vận dụng nhiều nhất và bước đầu lý giải vì sao trên thực tế, các thể loại văn học VHDG lại được khai thác ở mức độ nhiều, ít như vậy [59, tr.38 - 60]
Trang 181.1.1.2 Những nghiên cứu đề cập đến phương thức khai thác chất liệu văn học dân gian trong sáng tác ca khúc Việt Nam
Trong một số công trình, bài viết giới thiệu chân dung nhạc sĩ, nghiên cứu các giai đoạn ca khúc, các phong cách âm nhạc, các dòng nhạc và tác giả, tác phẩm âm nhạc VN, các tác giả Nguyễn Thị Minh Châu, Văn Chung, Nguyễn Thụy Kha, Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Bùi Đình Thảo, Nguyễn Viêm ít nhiều đều đã nói đến việc chuyển hóa VHDG vào ca khúc bằng những cách thức, phương pháp nhất định
Tác giả Nguyễn Thụy Kha, khi phát biểu cảm nhận và sự yêu thích của mình
đối với ca khúc Hồ trên núi của nhạc sĩ Phó Đức Phương đã nhấn mạnh đến nét ca
dao “non xanh nước biếc” [63, tr.165] Tác giả Nguyễn Thị Nhung, khi bàn về tính
kế thừa truyền thống cũng đề cập tới việc học tập “cách phổ thơ” trong dân ca [112, tr.1017] Có chung quan niệm đó, nhạc sĩ Bùi Đình Thảo khẳng định: “Trong sáng tác bài hát, phổ thơ là một cách làm rất dân tộc và kế thừa một truyền thống tốt đẹp” [124, tr.1037] Chi tiết hơn, từ kinh nghiệm của bản thân, nhạc sĩ Văn Chung nói đến một số kỹ thuật, thủ pháp phổ thơ: nhắc lại, thêm câu thêm từ, hoặc đảo câu đảo từ để phát triển, biến hóa, mở rộng bài ca dao [20, tr.72]
Liên quan đến vấn đề này, đáng chú ý là ý kiến của Nguyễn Viêm, Nguyễn Thị Minh Châu về ca khúc của nhạc sĩ Văn Chung Nguyễn Viêm viết:
( ) trong bài Gái thôn Đoài trai thôn Thượng: Lời ca duyên dáng, tình
tứ mở đầu bài hát: “Mình về có nhớ ta chăng” cho người nghe liên tưởng đến điệu cò lả quen thuộc vốn khó quên được lời ca: “Mình về có nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” [146, tr.646]
Nguyễn Thị Minh Châu nhận xét:
Lời ca của Văn Chung rất tự nhiên và mang nhiều nét “mộc” của dân gian Ông có cái duyên riêng trong cách diễn tả theo lối dân dã ( ) Những câu
ca dao “nguyên chất” - như “Trâu ơi ta bảo trâu này”, “Mình về có nhớ ta chăng? - hay “pha chất” ca dao với những hình ảnh thôn dã cây đa giếng nước mái đình đã được phổ nhạc với khá nhiều “gợi ý” của các cụ ta xưa [17, tr.53]
Trang 19Có thể thấy, trong những bài viết, những công trình nghiên cứu nêu trên, mặc
dù chưa trực tiếp khái quát thành vấn đề phương thức khai thác CLVHDG trong sáng tác, song các tác giả đã đề cập đến những câu ca dao “nguyên chất”, những lời hát “pha chất” ca dao, đề cập đến việc “phổ thơ”, thêm câu thêm từ, đảo từ để mở rộng, biến hóa bài ca dao Đó thực ra là sự khẳng định: các nhạc sĩ VN đã khai thác CLVHDG với những phương thức khác nhau, khiến cho ca từ trong ca khúc có khi phảng phất nét ca dao, “pha chất” ca dao hoặc chứa đựng những câu ca dao
“nguyên chất”
Vấn đề này tiếp tục được quan tâm nghiên cứu và trình bày trong sách Sức
sống của văn học dân gian trong ca khúc Việt Nam Tác giả nêu lên hai nhóm
phương thức là Giữ nguyên dạng – Sử dụng nguyên khối và Không giữ nguyên dạng
– Vận dụng sáng tạo Trong từng nhóm phương thức nói trên lại có những phương
thức cụ thể Các nhạc sĩ có thể phổ thơ, trích dẫn, phỏng thơ – mượn ý, phỏng thơ -
cải ý hoặc mượn cốt truyện, tên nhân vật, mượn hình ảnh, biểu tượng của VHDG
Trong bài Âm nhạc dân gian với tác phẩm chuyên nghiệp, Nguyễn Viêm đã
có những dẫn giải để làm rõ tính dân tộc trong âm nhạc được tạo nên từ việc người nhạc sĩ đưa chất liệu âm nhạc cổ truyền vào tác phẩm mới và từ việc phát triển những hình tượng thơ ca dân gian Ông khẳng định: “nếu không quan tâm đến văn
Trang 20hóa dân gian thì không dễ gì mà có được số tác phẩm nổi tiếng độc đáo màu sắc dân tộc” [149, tr.1011]
Nhìn lại âm nhạc giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, mặc dù
chưa chú trọng xem xét về việc vận dụng, khai thác CLVHDG nhưng tác giả Tú Ngọc cũng đã đề cập tới “lối gieo vần trong ca từ” (là một trong những yếu tố thi pháp ca dao) nói lên “mối liên hệ kế thừa và phát triển” của âm nhạc ở giai đoạn sau
so với giai đoạn trước Âm nhạc giai đoạn kháng chiến chống Pháp là “một thực tiễn sinh động chứng minh đường lối văn nghệ rất đúng đắn của Đảng trong việc kế thừa và phát huy những tinh hoa của âm nhạc truyền thống dân tộc” [97, tr.975]
Thống nhất với quan niệm nêu trên, trong bài viết Về tính kế thừa truyền
thống của ca khúc mới Việt Nam 1945-1975, tác giả Nguyễn Thị Nhung cũng đã
đúc kết những phương pháp khai thác dân ca: những giai điệu đặc trưng, cách sử dụng thang âm, điệu thức, âm hình tiết tấu đặc trưng, cách phổ thơ Sự “tăng cường những đặc điểm truyền thống” đã biểu hiện bản sắc dân tộc, mang lại thành công cho nhiều ca khúc mới [112, tr.1013 - 1017]
Trong khóa luận chuyên ngành Lý luận âm nhạc Nhạc sĩ An Thuyên và một
số ca khúc mang phong cách dân gian, Tạ Xuân Sơn đã phân tích các phương diện
về lời ca và âm nhạc trong sáng tác của nhạc sĩ An Thuyên để đi đến kết luận: Tính dân tộc trong lời ca luôn được tác giả đề cao Lời ca trong những ca khúc của nhạc
sĩ An Thuyên luôn gần gũi với thơ ca dân tộc, thấm đượm ca dao, tục ngữ dân gian, giàu vần điệu và các thủ pháp dùng hư từ, điệp từ Đây là một hướng đi giàu tiềm năng và việc “vận dụng những câu ca dao, tục ngữ để diễn đạt nội dung lời ca là một phương pháp đem lại tính dân tộc” cho những sáng tác An Thuyên [122]
Gần đây, trong luận án Bản sắc dân tộc trong ca khúc Việt Nam (2013), khi
nghiên cứu mối liên hệ giữa việc sử dụng yếu tố dân gian với bản sắc dân tộc trong
ca khúc, qua khảo sát thống kê, Trần Bảo Lân rút ra kết luận: Văn hóa hay âm nhạc dân gian bao giờ cũng là nền tảng cho việc tạo nên bản sắc dân tộc trong ca khúc
Số lượng các yếu tố dân gian được sử dụng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ đậm nhạt của bản sắc dân tộc [80, tr.67 - 73]
Trang 21Cũng quan tâm đến mối quan hệ giữa việc khai thác CLVHDG với tính dân tộc, bản sắc dân tộc của ca khúc (nói riêng) và của âm nhạc (nói chung), trong bài
viết Âm nhạc thời kinh tế thị trường và thời hội nhập, Nguyễn Thị Minh Châu đã
phân tích sự phát triển của đời sống âm nhạc VN trong sự tác động của các yếu tố
“thời kinh tế thị trường”, “thời hội nhập” và nhận thấy tính dân tộc là kết quả từ ý thức phát huy ưu thế của chất liệu dân gian của chủ thể sáng tạo:
Tính dân tộc đậm nét dần nhờ các thủ pháp sử dụng chất liệu dân gian hoặc sáng tạo trên nguyên lý âm nhạc cổ truyền, đặc biệt là vận dụng mối quan hệ khăng khít vốn có lâu đời giữa nhạc với lời, giữa giai điệu với ngữ điệu tiếng Việt [170]
1.1.2 Nhận xét
Theo những tư liệu, tài liệu mà chúng tôi biết được, số lượng những công trình nghiên cứu, bài viết về VHDG là rất lớn nhưng trong số đó, những công trình, bài viết về CLVHDG trong những tác phẩm văn học, sân khấu, điện ảnh, báo chí,
âm nhạc chỉ chiếm một phần rất nhỏ Trong nguồn tài liệu, tư liệu vốn đã rất ít, rất nhỏ ấy, vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc (thuộc loại hình nghệ thuật âm nhạc) mới chỉ được đề cập tới như một yếu tố có liên quan trong khi
nghiên cứu các vấn đề thuộc chuyên ngành Ngữ văn, Âm nhạc học
Khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN là một vấn đề lớn và nhiều
lý thú, còn nhiều khía cạnh của vấn đề vẫn rất cần phải được nghiên cứu làm rõ thêm Qua điểm luận tài liệu, có thể nhận diện, khoanh vùng được một số phạm vi
mà cho đến nay chưa được đề cập tới: CLVHDG được khai thác, vận dụng vào việc sáng tác ca khúc VN để nhằm những mục đích gì; sự vận động, biến đổi của việc khai thác CLVHDG qua các chặng đường phát triển của nền ca khúc VN ra sao và nguyên nhân nào dẫn tới những biến đổi đó? Cần đặt hiện tượng văn hóa này trong bối cảnh điều kiện về chính trị, kinh tế, lịch sử , công tác quản lý nhà nước về văn học nghệ thuật, nhận thức và quan điểm của người sáng tác ca khúc, nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ của công chúng để thấy được sự tác động nhiều chiều giữa các thành tố trong chỉnh thể nền văn hóa nhằm lý giải cho những câu hỏi trên
Trang 221.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Lý thuyết vận dụng
Nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu chính của luận án - “Những chủ thể sáng tạo
ca khúc VN đã khai thác CLVHDG nhằm mục đích gì? Trong tiến trình phát triển nền ca khúc VN, việc khai thác CLVHDG đã vận động, biến đổi ra sao và nguyên nhân nào dẫn tới sự biến đổi đó?”, chúng tôi tìm kiếm cơ sở lý luận từ nhiều lý
thuyết Trong đó, lý thuyết làm nền tảng cho việc phân tích, giải quyết các vấn đề
thuộc phạm vi nhiệm vụ nghiên cứu được lựa chọn là lý thuyết hệ thống của L.V Bertalanffi Cùng với đó, lý thuyết diễn ngôn, lý thuyết hành động xã hội cũng được
vận dụng khi tìm hiểu, nhìn nhận một số khía cạnh cụ thể của vấn đề
1.2.1.1 Lý thuyết hệ thống
Từ lâu, giới nghiên cứu khoa học trên thế giới đã vận dụng lý thuyết hệ thống (L.V Bertalanffi - tác giả công trình Lý thuyết hệ thống tổng quát, 1950) như một
hướng tiếp cận hiệu quả đối với cả ngành khoa học tự nhiên và KHXH Ở VN, khi
tìm hiểu các vấn đề thuộc văn hóa dân gian, các nhà nghiên cứu cũng rất chú trọng
vận dụng lý thuyết này Có thể kể đến các bài viết của tác giả Phan Đăng Nhật, Ngô
Đức Thịnh trong cuốn Văn hóa dân gian - Những phương pháp nghiên cứu [155]
GS TSKH Phan Đăng Nhật đã đề cập đến lý thuyết hệ thống trong nghiên
cứu văn hóa dân gian:
Hệ thống là một sự tập hợp nào đó những yếu tố có mối liên hệ lẫn nhau, tạo ra sự thống nhất ổn định, tức là một chỉnh thể Mọi hệ thống đồng thời là một bộ phận của một hệ thống khác rộng hơn, còn những thành phần
và những phân hệ của hệ thống đến lượt mình lại có thể xem như những hệ thống [99, tr.142]
Văn hóa dân gian là một chỉnh thể, là một hệ thống nhiều tầng bậc: các thành
tố của văn hóa dân gian (ngữ văn, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn ), các loại hình nghệ thuật dân gian (truyện cổ, thần thoại, sử thi, tranh, tượng, múa rối, chèo ) Giữa các tầng bậc đó có mối quan hệ qua lại, ảnh hưởng chi phối lẫn nhau
Trang 23GS TS Ngô Đức Thịnh cũng khẳng định:
Hệ thống là một phức hợp (tập hợp) của các phần tử (yếu tố) theo một
tổ chức nhất định tạo nên một chỉnh thể, trong đó các phần tử có mối quan hệ lẫn nhau và với môi trường ngoài hệ thống Bởi vậy, theo nguyên tắc tiếp cận
hệ thống, không được coi đối tượng như là cái đơn nhất hay tách rời từng yếu
tố ra khỏi chỉnh thể để nghiên cứu, mà luôn phải xem xét chúng như một phức thể, các yếu tố tác động qua lại với nhau và với môi trường bên ngoài ( ) Trong mối quan hệ cụ thể nào đó thì đối tượng mà ta xem xét là hệ thống, nhưng có thể trong mối quan hệ khác nó lại trở thành yếu tố Cũng như vậy, môi trường của hệ thống cũng có thể trở thành hệ thống, thậm chí lại là yếu tố của hệ thống rộng hơn [127, tr.21 - 22]
Tác giả nhấn mạnh: để hiểu được một hiện tượng văn hóa, người nghiên cứu phải đặt hiện tượng văn hóa đó trong môi trường kinh tế, xã hội và văn hóa của dân tộc để xem xét
Như vậy, theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, văn hóa dân gian VN là một
bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc; bản thân nó vừa là một chỉnh thể nguyên hợp vừa là một yếu tố thuộc hệ thống chỉnh thể ở những cấp độ lớn hơn
Ở cấp độ thứ nhất, văn hóa dân gian là một hệ thống (chỉnh thể nguyên hợp),
“nó bao chứa những lĩnh vực hoạt động văn hóa rộng lớn của con người, với những hình thức và phương tiện biểu hiện phong phú, từ ngôn từ (lời nói), diễn xướng (động tác kết hợp với lời nói) đến tạo hình (hình khối và màu sắc)… Những thành
tố này không tồn tại độc lập mà hòa quyện, tác động lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể sinh động” [127, tr.24]
Ở cấp độ thứ hai, văn hóa dân gian là một yếu tố cấu thành nền văn hóa dân tộc, có mối quan hệ, tác động, ảnh hưởng qua lại với văn hóa bác học - chuyên nghiệp Đồng thời, các yếu tố văn hóa này còn nằm trong mối quan hệ, chi phối, tác động với các yếu tố thuộc cấp độ rộng lớn hơn như: môi trường tự nhiên, chính trị, kinh tế, lịch sử
Trang 24Vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN là một đề tài mang tính phức hợp Đó không phải là sự nghiên cứu về từng thành tố riêng biệt (văn học,
âm nhạc) mà là nghiên cứu mối quan hệ giữa hai thành tố đó trong bối cảnh lịch sử
xã hội cùng với nhiều thành tố khác Vận dụng lý thuyết hệ thống để nắm bắt được
sự vận động, biến đổi của việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN, tác giả luận án không thể chỉ xem xét trên một số ít ca khúc của một vài tác giả ở một giai đoạn, thời điểm nhất định mà cần thiết phải nghiên cứu trên một phạm vi ca khúc tiêu biểu, ứng với từng thời kỳ phát triển của nền âm nhạc VN
Nghiên cứu vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN, đặt hiện tượng văn hóa này trong môi trường điều kiện lịch sử, chính trị, văn hóa, kinh tế xã
hội của dân tộc, lý thuyết hệ thống được vận dụng để lý giải nguyên nhân dẫn tới
những biến đổi của việc khai thác CLVHDG qua các thời kỳ phát triển của ca khúc đồng thời cũng được vận dụng để phân tích sự tác động của các yếu tố đối với việc khai thác CLVHDG trong giai đoạn hiện nay
Ca khúc VN là một hệ thống, VHDG VN là một hệ thống Khi khai thác, sử dụng một yếu tố của hệ thống này đưa vào hệ thống khác phải có sự phù hợp bởi các từ ngữ trong hệ thống của một ngôn ngữ này không phải bao giờ cũng có vị trí tương đương trong hệ thống ngôn ngữ khác Một lưu học sinh VN (rồi sau trở thành nghiên cứu sinh, thực tập sinh cao cấp) ở Mat-xcơ-va đã phải đổi một tiếng trong họ tên cho phù hợp với tiếng Nga Đồng bào Thái và người Lào khi nghe, xem hát Chèo có những lúc bưng miệng cười bởi những luyến láy đặc trưng trong lời hát Chèo lại là tiếng tục trong ngôn ngữ của họ Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Phan Cảnh nhận xét: những từ ngoại nhập như “A-liêu-sa”, “Smô-lăng”, “Bô-ri-xôp” trong bản dịch thơ từ nguyên tác tiếng Nga rất “xa lạ” đối với ngôn ngữ thơ tiếng Việt nên bạn đọc khó
mà yêu, hiểu và nhớ được [15, tr.224 - 225] Trong lĩnh vực âm nhạc, đàn tranh, đàn nhị có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng đã được du nhập thành công vào hệ thống nhạc khí của dân tộc VN vì các nhạc khí ấy phù hợp với ngôn ngữ âm nhạc của dân tộc VN Đàn tỳ bà từ Tây Á du nhập vào Trung Quốc qua mấy ngàn năm đã trở
Trang 25thành tài sản của dân tộc Trung Quốc bởi nó nói được ngôn ngữ âm nhạc của Trung Quốc [130, tr.155]
Ca khúc VN và VHDG VN là những yếu tố trong cùng một hệ thống, đều là những sản phẩm nghệ thuật của con người VN Trong không ít trường hợp, nhạc tính và lời của ca dao rất phù hợp, thuận lợi để sáng tác giai điệu và ca từ của ca khúc mới Khi người nghệ sĩ đồng cảm, có sự đồng điệu và tương liên với những cảm xúc, cách nhìn, cách lý giải của nhân dân được thể hiện trong VHDG thì việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc là tự nhiên, không gò ép
Từ những nhận thức trên đây, lý thuyết hệ thống được coi là lý thuyết khung,
có ý nghĩa phương pháp luận giúp giải quyết nhiệm vụ trọng tâm của đề tài luận án
1.2.1.2 Lý thuyết diễn ngôn
Lý thuyết diễn ngôn gắn với tên tuổi của Michel Foucault (triết gia người Pháp, 1926 - 1984) và cho đến nay, nó đã được sử dụng rộng khắp trong các ngành
khoa KHXH và NV Theo đó, “diễn ngôn” (discourse) là một thuật ngữ - được dùng
sớm nhất trong ngôn ngữ học, dùng để chỉ “phương thức hoạt động của ngôn từ, vượt ra ngoài văn bản, và có thể xem xét sự vận hành của ngôn từ để khám phá các quan hệ quyền lực chi phối sự tạo thành và vận hành của chúng trong thực tiễn đời sống” [16, tr.45] Nó là một dạng đặc biệt của ngôn ngữ Ngôn ngữ (mà biểu hiện cụ thể của nó là lời nói) là phương tiện giao tiếp của con người, là hình thức phổ biến nhất của của hoạt động xã hội nhưng không phải tất cả mọi lời nói đều là diễn ngôn Chỉ những nhận định (ở dạng lời nói miệng, văn bản) được sử dụng với ý nghĩa nó là một công cụ để truyền đạt, qua đó thể hiện quyền lực của chủ thể (thể hiện ở việc đối tượng tiếp nhận nó và hành động theo ý đồ, mục đích của chủ thể) mới được coi là diễn ngôn Diễn ngôn khá đa dạng về kiểu loại: diễn ngôn giao tiếp thường nhật, diễn ngôn thể chế hóa, diễn ngôn truyền thông, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn giáo tiếp công vụ, diễn ngôn tiếp thị, diễn ngôn hàn lâm, diễn ngôn văn hóa - thế giới quan, diễn ngôn chính trị [208] Trong đó, diễn ngôn chính trị được hiểu là “tất cả các loại diễn ngôn có đối tượng là cách thức quản lý của nhà nước, của các tổ chức chính trị, của các nhân vật chính trị (…), một diễn ngôn được xếp vào kiểu loại diễn
Trang 26ngôn chính trị khi nó đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, khi nó thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước” [61, tr.20]
Trong những diễn ngôn chính trị, chủ thể diễn ngôn có thể xuất hiện với tư cách tập thể (thể hiện ở nghị quyết, báo cáo chính trị, chỉ thị… của tổ chức Đảng các cấp, ở các văn bản chính sách, thông tư, hướng dẫn… của các cơ quan thuộc bộ máy quản lý nhà nước) hoặc với tư cách cá nhân - nhà chính trị nắm giữ một vị trí
và quyền lực nhất định trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đất nước (thể hiện ở những phát ngôn chính thống trong bài phát biểu, bài viết ) Do tính chất “phi đối xứng” của mối quan hệ giữa chủ thể tham gia giao tiếp trong lĩnh vực chính trị, chủ thể của diễn ngôn chính trị ở vào thế chi phối và đối tượng tiếp nhận diễn ngôn ở vào thế bị chi phối (một cách tự nhiên hay áp đặt) Giữa diễn ngôn chính trị và hành động có
mối quan hệ rất chặt chẽ; ở đó, nói có nghĩa là làm, nói là để hành động - nói là để
tác động đến người khác, là làm cho người ta thấy vấn đề, hiểu vấn đề, suy nghĩ về
nó, tin tưởng và hành động theo ý đồ của chủ thể diễn ngôn Vì vậy, diễn ngôn
chính trị là công cụ để nhà chính trị hay tổ chức chính trị sử dụng nhằm mục đích nắm giữ và thực hành quyền lực [61, tr.21]
Ở VN những năm gần đây, lý thuyết diễn ngôn và phương pháp phân tích diễn ngôn đã được các nhà nghiên cứu áp dụng một cách hữu hiệu khi lý giải những vấn
đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: ngôn ngữ học, văn học, văn hóa học, xã hội học Với hướng tiếp cận từ lý thuyết diễn ngôn, trong một nghiên cứu của Hoàng
Cầm và Phạm Quỳnh Phương (Diễn ngôn, chính sách và sự biến đổi văn hóa - sinh
kế tộc người - 2012), các tác giả đã đi đến một kết luận có tính thuyết phục: Những
định kiến và diễn ngôn một chiều, mang màu sắc của thuyết “tiến hóa luận” về dân tộc thiểu số đã tác động đến các chính sách kinh tế - xã hội và văn hóa và “phần nào
là nguyên do dẫn đến sự biến đổi của không gian văn hóa và sinh kế của họ” [16, tr.66 - 67] Ở một nghiên cứu khác thuộc ngôn ngữ học, các tác giả Nguyễn Thị Hương, Trần Thị Hoàng Anh (2014) đã ứng dụng nó để phân tích một số diễn ngôn
quản lý giáo dục đại học ở Việt Nam xung quanh vấn đề Đổi mới quản lý hệ thống
giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 và cho thấy: những diễn ngôn chính trị “thoạt
Trang 27nhìn có vẻ khô khan, không có gì đáng nói nhưng nếu được soi chiếu bằng phương pháp phân tích diễn ngôn thì sẽ phát hiện ra rất nhiều điều thú vị [61, tr.26]
Từ góc độ phân tích diễn ngôn chính trị, khi nhìn nhận sự chi phối, “thực hành quyền lực” của chủ thể diễn ngôn chính trị đối với những chủ thể sáng tạo nghệ thuật (là đối tượng tiếp nhận diễn ngôn), luận án trình bày một cách lý giải về nguyên nhân biến đổi của việc khai thác CLVHDG trong diễn trình ca khúc VN
1.2.1.3 Lý thuyết hành động xã hội
Trong những nghiên cứu Xã hội học văn hóa và Nhân học văn hóa, hành động xã hội được hiểu là một hành động của một cá nhân mà có gắn ý nghĩa vào hành động ấy Bởi vì, con người (với tư cách là chủ thể) có tri thức, tình cảm, biết suy tư, dự tính Hành động của họ là có ý thức và luôn hướng tới những mục đích nhất định Max Weber (nhà xã hội học người Đức, 1864 - 1920) đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong của chủ thể như nguyên nhân của hành động: Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội [Dẫn theo 23, tr.63]
Khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc cũng là một hành động xã hội mà
ở đó - trong mối quan hệ giữa cá nhân người sáng tác với công chúng thưởng thức nghệ thuật (nói riêng), giữa giới sáng tác ca khúc với xã hội (nói chung) - với tư cách
là chủ thể của hành động, những người nhạc sĩ thực hiện hành động đó nhằm đáp ứng những mục đích khác nhau Diễn đạt theo một cách khác, việc khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN là một kiểu hành động có chủ ý - còn gọi là kiểu hành động mang tính công cụ, phục vụ cho những mục đích của người nhạc sĩ
Từ khung lý thuyết trên, nghiên cứu vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN không thể không nghiên cứu những mục đích của việc khai thác CLVHDG để thấy được những điều gì đã thôi thúc các nhạc sĩ khai thác CLVHDG một cách chủ động, có chủ ý “toan tính” trong quá trình sáng tác ca khúc
Trang 281.2.2 Khái niệm, thuật ngữ
1.2.2.1 Ca khúc
Khi nói đến âm nhạc, người ta thường nghĩ đó một loại hình nghệ thuật dùng
âm thanh để xây dựng hình tượng nghệ thuật, phản ánh thế giới khách quan và tất cả những gì trong thế giới nội tâm của con người (bao gồm những trạng thái cảm xúc, những tình cảm, suy nghĩ, ước mơ khát vọng của người nghệ sĩ) Điều đó đúng
nhưng chưa đủ, bởi trong âm nhạc, cùng với khí nhạc còn có thanh nhạc - những
tác phẩm được tạo thành từ sự kết hợp của cả chất liệu âm thanh (cao độ, trường độ, cường độ…) với chất liệu ngôn ngữ (còn gọi là ngôn từ, lời) Nó là “sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc và ngôn từ” [111, tr.11] và “đều được sáng tác trực tiếp
cho giọng hát biểu diễn” [58, tr.19]
Khái niệm ca khúc đã được đề cập tới trong nhiều công trình, tài liệu, bài viết
và được sử dụng với những nét nghĩa rộng, hẹp khác nhau
Theo nghĩa rộng, khái niệm ca khúc dùng để chỉ một thể loại tác phẩm thanh nhạc mà ở đó hội đủ hai yếu tố: nhạc và lời Bài hát dân ca (thuộc âm nhạc dân gian) hay bài hát của một nhạc sĩ (thuộc âm nhạc mới, âm nhạc hiện đại) đều được
gọi chung là ca khúc Tác giả Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Ca khúc là “bài hát, bài ca” [115, tr.132] Theo cuốn Thuật ngữ và ký hiệu âm nhạc thường dùng, ca khúc là
“bài hát ngắn, có bố cục mạch lạc” [139, tr.81] Các nhạc sĩ, nhà nghiên cứu cũng từng quan niệm: “Ca khúc là danh từ dùng để gọi những ca khúc dân ca và ca khúc của các nhạc sĩ chuyên nghiệp Những tác phẩm này được thể hiện bằng giọng người Giai điệu trong các tác phẩm này là những giai điệu hoàn chỉnh, độc lập” [111, tr.12]; ca khúc “là sự phát triển của giai điệu gắn liền với những lời ca cụ thể” [152, tr.901] , trong đó “lời và nhạc kết hợp với nhau một cách chặt chẽ, tinh tế đến mức khó có thể tách chúng khỏi nhau mà không làm ảnh hưởng tới ý nghĩa của từng
bộ phận” [152, tr.1116] Từ đó, có thể định nghĩa:
Ca khúc là khái niệm dùng để chỉ một thể loại tác phẩm âm nhạc do cá nhân nhạc sĩ hoặc tập thể nhân dân sáng tạo nên Trong đó, hình tượng nghệ thuật được tạo thành bởi cả hai yếu tố: âm nhạc và ca từ Mỗi ca khúc đều có
Trang 29giai điệu gắn bó chặt chẽ với ca từ để tạo nên sự thống nhất của một chỉnh thể tác phẩm âm nhạc nhằm thể hiện thế giới tình cảm, nội tâm của con người trước thực tại đời sống” [59, tr.10]
Theo nghĩa hẹp, ca khúc là một khái niệm dùng để chỉ một thể loại tác phẩm thanh nhạc bao gồm những bài hát thuộc âm nhạc bác học, âm nhạc hiện đại Ở VN,
đó là những bài hát được viết từ những năm 30 của thế kỷ XX đến nay theo cách tiếp thu các thủ pháp sáng tác và phương thức ghi nhạc của phương Tây Các tên
sách, tuyển tập như: Tập ca khúc Trần Hoàn - Lời Bác dặn trước lúc đi xa (Hội Văn nghệ Phát thanh Truyền hình - Nxb Âm nhạc, 1991), 30 năm ca khúc Việt Nam
1975 - 2005 (Hội Nhạc sĩ VN - Nxb Âm nhạc, 2005), 88 bài hát Việt 2007 (Lương
Minh, Quốc Long tuyển chọn, Nxb Âm nhạc, 2008) và các công trình, bài viết như:
Nhạc sĩ An Thuyên và một số ca khúc mang phong cách dân gian (Tạ Xuân Sơn,
2007), Nhức nhối ca khúc trẻ (Nguyễn Lưu, Tạp chí Âm nhạc VN số xuân Kỷ Sửu, 2009), Đôi điều tâm sự về sáng tác ca khúc hiện nay (Doãn Nho, Tạp chí Âm nhạc
VN số 19, 2011)… đều thể hiện khái niệm ca khúc theo nghĩa hẹp Theo đó, những bài hát dân ca không nằm trong phạm vi này
Trong phạm vi đề tài luận án, khái niệm ca khúc được sử dụng theo nghĩa hẹp, dùng để chỉ các bài hát do các nhạc sĩ sáng tác (có khi gọi là ca khúc tân nhạc, ca
khúc mới để phân biệt với những bài hát dân ca của âm nhạc dân gian)
1.2.2.2 Ca từ
Ngôn ngữ (lời) được dùng để đặt tên cho tác phẩm, soạn lời ca, tiêu đề (tên gọi cho mỗi chương của những bản nhạc không lời, hợp xướng, tổ khúc ), đề từ, từ chỉ dẫn, lời ghi chú trong các phẩm âm nhạc Theo tác giả Dương Viết Á:
Trong loại hình nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính, còn phải dùng đến ngôn ngữ, nói đúng hơn, đó là phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc ) Tất cả phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc, ta gọi chung trong một khái niệm: ca từ [1, tr.13] Riêng ở thể loại ca khúc, ngôn ngữ là
Trang 30“người đồng hành” không thể thiếu, cho dù “âm thanh đóng vai trò quan trọng, nhưng ca từ không phải và không hề trở thành thứ yếu” [1, tr.70]
Từ nhận thức đó, chúng tôi định nghĩa: ca từ là một khái niệm dùng để chỉ
phần ngôn ngữ (phần lời) trong tác phẩm âm nhạc Trong ca khúc, ca từ bao gồm nhan đề (tên gọi) và lời hát (lời ca)
1.2.2.3 Quan niệm về khai thác chất liệu văn học dân gian
Trong Từ điển tiếng Việt, “khai thác” là “việc phát hiện và sử dụng những cái
có ích còn ẩn giấu hoặc chưa được tận dụng” [115, tr.631]; chất liệu là “vật liệu, tư liệu để tạo ra sản phẩm” [115, tr.197] Nhìn nhận ca từ là một sản phẩm sáng tạo của người sáng tác âm nhạc (nằm trong chỉnh thể một ca khúc) thì câu hỏi đặt ra là sản phẩm, thành phẩm ấy được tạo nên từ chất liệu nào? Từ quan niệm ca từ là
“phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc”, “là phần ngôn ngữ nghệ thuật trong ca
khúc”, có thể khẳng định: ngôn ngữ (lời) là chất liệu để làm nên ca từ Ở dạng
“thô”, nguyên bản nhất (chất liệu ở cấp độ 1), chất liệu ấy là lời nói hằng ngày, ngôn ngữ thông thường của đời sống Ở dạng “tinh” hơn, đó là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ nghệ thuật (chất liệu ở cấp độ 2) - khi đó, lời nói hằng ngày, ngôn ngữ thông thường của đời sống đã được mài giũa, thoát khỏi sự thô nhám, được gọi là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ nghệ thuật và trở thành công cụ giao tiếp đặc biệt (giao tiếp nghệ thuật) của con người Nhưng bản thân ngôn ngữ văn học chưa phải là ca
từ, không hoàn toàn đồng nhất với ca từ Để đưa một bài thơ (cho dù đó là một
tuyệt tác văn học) vào ca khúc, người nhạc sĩ vẫn cần phải chỉnh chuốt, sắp xếp, uốn nắn sao cho lời thơ “tương sinh” với nhạc, để chuyển hóa ngôn ngữ văn học
thành ca từ
Trong vốn ngôn ngữ văn học của dân tộc ta có một bộ phận đặc biệt Đó là ngôn ngữ VHDG, thứ ngôn ngữ đã được tập thể nhân dân lao động sử dụng một
cách nhuần nhuyễn để ghi lại những tri thức, kinh nghiệm về cuộc sống, biểu đạt tư
tưởng và tình cảm VHDG là một kho tàng vĩ đại và vô giá Với việc phản ánh cuộc sống một cách chân thực, sinh động và giàu tính nhân văn, VHDG là bức tranh toàn cảnh về đời sống của nhân dân ta qua các thời kỳ lịch sử: những trạng thái đời sống vật chất, đời sống tinh thần, nhân sinh quan, kinh nghiệm quan hệ ứng xử, lao động
Trang 31sản xuất, đấu tranh VHDG rất chú trọng hướng con người những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc – từ những vấn đề lớn như lòng yêu nước, lẽ sống cho đến những phẩm chất cần thiết cho cuộc sống thường nhật như: tình cảm đùm bọc yêu thương đồng loại, tinh thần đoàn kết, coi trọng lao động, trọng nhân nghĩa, khiêm tốn, giản dị, lạc quan Đặc biệt, với các biện pháp, thủ pháp nghệ thuật (điệp từ điệp ngữ, ví von, ẩn dụ, nhân hóa, phóng đại, nhã ngữ, đối, chơi chữ ) được sử dụng một cách điêu luyện, VHDG xứng đáng là một chất liệu tốt, nó được coi là “bán thành phẩm” của ca từ Người sáng tác âm nhạc có thể tìm thấy ở kho tàng VHDG sự hiểu biết sâu sắc của trí tuệ, sự tinh tế và giàu cảm xúc nhân văn của tâm hồn và sự nhạy bén, tài hoa của năng lực sáng tạo thẩm mỹ và vận dụng vốn ngôn ngữ ấy vào tác phẩm âm nhạc Về điều này, các nhạc sĩ VN đã từng phát biểu:
“Ca khúc là tiếng nói trực tiếp nhất của tâm hồn con người, bởi vậy càng có sự gắn
bó vô cùng chặt chẽ với ngôn ngữ nói và ngôn ngữ văn học” [152, tr.1115] “Hầu như ai cũng có lúc tìm đến thơ để phổ nhạc” [124, tr.1036]
Cho đến bây giờ, các tác giả đang sáng tác ca khúc chắc không ai là không công nhận: chẳng thể xem nhẹ phần lời ( ) Sự súc tích, giàu hình tượng văn học, đạt mức độ khái quát cần thiết chính là yêu cầu đầu tiên đối với lời trong ca khúc ( ) chúng ta có thể học tập được các tác giả dân gian qua nhiều bài dân ca cổ truyền [152, tr.901-902]
Từ nhận thức trên, trong phạm vi công trình này, chúng tôi quan niệm: khai thác chất liệu VHDG là việc sử dụng, tận dụng cái hay cái đẹp của VHDG thông qua việc chuyển hóa, đưa ngôn từ nghệ thuật trong VHDG VN (bao gồm các phương diện nội dung, hình thức nghệ thuật của các thể loại: tục ngữ, câu đố, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, vè, ca dao ) vào làm ca từ trong ca khúc
1.2.2.4 Bản sắc dân tộc
+ Sự xuất hiện thuật ngữ “bản sắc dân tộc”
Vào năm 1951, từ “bản sắc” xuất hiện trên diễn dàn khoa học châu Âu bởi nhà tâm lý học Erik Erikson [130, tr.36] Đến thập kỷ 70 của thế kỷ trước, ở các nước phương Tây, “bản sắc” trở thành thuật ngữ được chấp nhận và sử dụng phổ biến hơn trong đời thường cũng như trong các trao đổi học thuật thuộc các ngành
Trang 32KHXH và NV, cùng với đó là sự xuất hiện của thuật ngữ “bản sắc dân tộc”, “bản sắc văn hóa” với tư cách là những những dạng thức cụ thể của “bản sắc” [138, tr.3 - 5]
Cho đến cuối những năm 80, nó được sử dụng một cách khá rộng rãi trên thế
giới cùng với việc Liên hợp quốc ra Tuyên bố về thập kỷ thế giới phát triển văn hóa
Tuyên bố này xuất phát từ việc Liên hợp quốc đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các nước đã từng có quan hệ với các nền văn hóa phương Tây (bởi quá trình bị thực dân hóa nhưng hiện giờ đã giành được độc lập) muốn chống lại sự ảnh hưởng phụ thuộc vào văn hóa phương Tây Theo đó, tất cả các nước được phép phát triển văn hóa của riêng mình, tức là phát triển bản sắc văn hóa của họ Phát triển văn hóa được đặt ra trong sự liên quan với phát triển kinh tế chính là sự thừa nhận chiều cạnh văn hóa của phát triển, khẳng định và làm phong phú các bản sắc văn hóa, tăng cường hợp tác quốc tế văn hóa [78, tr.59], [130, tr.28]
Bản sắc dân tộc thực sự là vấn đề nóng của thế giới khi các nước có những nhận thức sâu sắc về sự tác động của quá trình toàn cầu hóa Có sự lo ngại rằng, quá trình toàn cầu hóa sẽ dẫn tới sự xâm nhập, bành trướng của văn hóa phương Tây, văn hóa Mỹ vào các quốc gia khác trên thế giới và các dân tộc đứng trước nguy cơ phải mặc “bộ đồng phục văn hóa”, bị áp đặt văn hóa bởi những nước lớn
Tuyên ngôn toàn cầu của UNESCO về đa dạng văn hóa ra đời (năm 2001) đã làm
bùng lên trào lưu bảo vệ sự đa dạng của bản sắc các dân tộc trên thế giới Xuất phát từ quan điểm cho rằng sự hồi sinh của văn hóa dân tộc, ý thức tìm về cội nguồn là cách khẳng định vị thế dân tộc mình, chống lại sự đồng nhất văn hóa, bá quyền văn hóa, nhiều quốc gia đã có những chiến lược phát triển văn hóa mà tinh thần cốt yếu là dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc, ý thức hệ truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo… của dân tộc mình Một số nước đã coi việc giữ gìn bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc “là một hình thức an ninh chiến lược liên quan trực
tiếp đến sự tồn vong của dân tộc và họ đã đẩy văn hóa lên thành thứ quyền lực
mềm của chính trị quốc tế, làm nảy sinh ý thức về chủ quyền văn hóa; coi bảo vệ
văn hóa cũng tức là bảo vệ chủ quyền quốc gia” [125, tr.19]
Trang 33Ở VN, từ xa xưa - trước khi xuất hiện các khái niệm, thuật ngữ “bản sắc dân tộc”, “bản sắc văn hóa dân tộc”, cha ông ta đã có ý thức phân biệt mình với Trung Quốc, mặc dù người xưa học tập Trung Quốc rất nhiều Bên cạnh việc thừa nhận có những tương đồng nhất định với Trung Quốc nhưng người xưa vẫn thường chỉ ra những điểm khác biệt:
Thời phong kiến, một vị vua Trần đã từng nói: Tổ tông chúng ta đã có pháp
độ riêng, cớ sao bọn thư sinh mặt trắng cứ phải học theo Trung Quốc? Một vị vua Trần khác (Trần Dụ Tông) đã so sánh việc Kiến Thành bị giết, Trần Liễu được sống dưới hai triều vua đều có miếu hiệu Thái Tông rằng: “Miếu hiệu tuy đồng đức bất đồng” [156, tr.42] Vào cuối thế kỷ XIV, một nhà nho hay chữ nước ta đã viết một bài minh, trong đó phân biệt vạc nhà Chu với vạc đất Việt rồi kết luận: họ
dễ đổi thay còn ta thường vui vẻ [90, tr.35] Đỉnh cao của ý thức phân biệt giữa ta
và họ thể hiện trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Theo đó, so với nước
láng giềng Trung Quốc, nước ta cũng có truyền thống lịch sử, văn hiến đáng tự hào của mình Chính nhận thức được bản sắc riêng và ý chí độc lập tự cường, dân tộc ta đã lập nên những chiến công vang dội chống giặc ngoại xâm phương Bắc
Ở thời kỳ Pháp thuộc, trong những lời các sĩ phu yêu nước hiệu triệu nhân dân ta đứng lên chống giặc ngoại xâm, trong những lời kêu gọi của Đảng Cộng sản VN đều nhắc đến truyền thống lịch sử, văn hóa của VN Năm 1922, trong một bài diễn thuyết ở Pháp, Phạm Quỳnh (người mà cho đến nay chưa được một tác giả nào trong nước gọi là sĩ phu yêu nước) cũng đã nói rằng, nền văn hóa VN không phải là một tờ giấy trắng Đó là một cuốn sách cổ chứa đầy những dòng chữ được viết bằng một thứ mực không thể tẩy xóa được hoàn toàn và người ta không thể tự do muốn viết gì vào đấy thì viết [119, tr.405 - 406] Theo ông, ngôn ngữ và văn học nghệ thuật chính là sức sống của một dân tộc: “Truyện Kiều còn thì tiếng
ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”
Từ những năm 80 của thế kỷ trước đến nay, các tác giả VN bàn luận nhiều
về bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc Trước đó, các cụm từ, thuật ngữ “tính chất dân tộc”, “tính dân tộc”, “tính cách dân tộc”, “hồn dân tộc” được sử dụng
Trang 34trong văn kiện chính trị của Đảng, trong các công trình, bài viết mang tính học thuật và cả trong giao tiếp hằng ngày của xã hội Suy xét kỹ có thể nhận thấy, mặc
dù trong thời kỳ này, thuật ngữ “bản sắc dân tộc” chưa xuất hiện nhưng những cụm từ, thuật ngữ nói trên thường được sử dụng với nội hàm ý nghĩa gần gũi, tương đương:
Trong Đề cương văn hóa (1943), Đảng ta đã xác định rõ tính chất của nền
văn hóa mới: “Văn hóa mới Việt Nam là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung” [7, tr.32]
Năm 1960, cụm từ “tính chất dân tộc về hình thức” trong diễn ngôn trước đó được đổi thành “tính chất dân tộc” khi xác định đặc điểm của nền văn nghệ mới:
“Phát triển nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc.” [7, tr.153]
Năm 1977, Chỉ thị số 08 – CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Về công
tác văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn cả nước tiên lên chủ nghĩa xã hội nêu rõ:
Cần quán triệt những quan điểm cơ bản trong Nghị quyết của Đại hội Đảng: ( ) xây dựng nền văn hóa mới có nội dung XHCN và tính chất dân tộc, nền văn hóa có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc [7, tr.276]
Năm 1982, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) tiếp tục xác định nhiệm vụ:
Xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hoá mới ( ) Nền văn hoá mới là nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ
nghĩa quốc tế vô sản [7, tr.352]
Năm 1986, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khẳng định: “tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật, xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc” [32, tr.222]
Từ năm 1986 đến nay, cụm từ “bản sắc dân tộc” tiếp tục xuất hiện trong
Cương lĩnh chính trị (1991), trong văn kiện Đại hội VIII (1996), trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong Văn kiện Đại hội X (2006) và Văn kiện Đại
Trang 35hội XI (2011): Xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc VN vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của
+ Quan niệm về bản sắc dân tộc
Ở nước ngoài, “bản sắc dân tộc”, “bản sắc văn hóa” được quan niệm và thể hiện bằng những diễn giải khác nhau Nội dung của nó ngày càng trở nên phong phú, đa nghĩa Tuy nhiên, tựu trung lại có hai góc độ tiếp cận là “bản thể luận” và
“kiến tạo luận” Những người theo cách tiếp cận truyền thống - “bản thể luận” cho rằng bản sắc dân tộc là một thực thể khách quan, tự thân (bản sắc văn hóa được hiểu tương tự với “bản chất” về cái tôi/căn tính), tồn tại ở trạng thái tĩnh, ít biến đổi còn những người tiếp cận theo góc độ “kiến tạo luận” lại cho rằng bản sắc dân tộc là do cái chủ quan của nhà nghiên cứu, nhà chính trị kiến tạo ra; nó “chỉ là một mô tả trong ngôn ngữ (diễn ngôn) và vì vậy, bản sắc dân tộc nói chung (bản sắc văn hóa) nói riêng không có tính cố định, tĩnh tại - “đa dạng” và hay thay đổi Điều đáng
quan tâm, từ góc độ “kiến tạo luận” đã làm xuất hiện quan niệm: bản sắc văn hóa là
tạo dựng, là vấn đề của sự lựa chọn - mà các diễn ngôn chính là cách thức để tạo
dựng bản sắc văn hóa Theo Đoàn Thị Tuyến, trong tranh luận học thuật hiện nay ở nước ngoài, chưa có kiến giải nào thuyết phục được những người theo “kiến tạo luận” từ bỏ lập trường [138, tr.7 - 14]
Ở VN, đã từng có nhiều phát biểu thể hiện quan niệm về bản sắc dân tộc Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có những điểm thống nhất như sau: “Bản sắc dân tộc là sắc thái bao quát một cách uyển chuyển, linh hoạt những đặc điểm của một dân tộc tạo nên diện mạo và dạng hình riêng của dân tộc” [157, tr.15], nó được
Trang 36coi “là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác” Bản sắc bao gồm “các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi quốc gia, dân tộc” và “thể hiện tập trung trong truyền thống văn hóa dân tộc” [179] Cho nên, “tìm bản sắc dân tộc là tìm cái cốt lõi, cái tinh túy của tính dân tộc ở mỗi lĩnh vực cụ thể của văn hóa và nghệ thuật” [157, tr.25]
Chúng tôi nhất trí với quan niệm: bản sắc dân tộc là dấu hiệu cơ bản để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, tuy cả hai đều có tính chung nhân loại Nói cách khác, bản sắc là cách thể hiện riêng cái bản chất người của nhân loại ở từng dân tộc Trong đó, bản sắc văn hóa giống như một tấm thẻ căn cước, giúp nhận dạng và phân biệt giữa các cá nhân, nhóm và cộng đồng trên cơ sở các trải nghiệm văn hóa trong các bối cảnh [138, tr.20] Nội hàm của “bản sắc dân tộc” rộng hơn “bản sắc văn hóa dân tộc”; trong “bản sắc dân tộc”, “bản sắc văn hóa dân tộc” là bộ phận chủ yếu Bản sắc có khi là cái chỉ có ở dân tộc này mà không có ở dân tộc khác, song trong nhiều trường hợp, bản sắc là cái tuy nhiều dân tộc cùng có nhưng lại tập trung đậm nét ở một dân tộc Bản sắc không phải là một cái gì nhất thành bất biến Có trường hợp, bản sắc là thực thể/cái có tính khách quan, tự thân (như tính linh hoạt, mềm dẻo là một trong những phẩm chất của người Việt; nó thuộc về bản chất người Việt
và là thực tế khách quan) Có trường hợp, bản sắc là do kiến tạo - đó là khi người ta nhận diện đúng về các yếu tố làm cơ sở, nền tảng cho sự hình thành bản sắc và tác động đến các yếu tố đó nhằm thúc đẩy sự hình thành của bản sắc Bản sắc là “con dao hai lưỡi”, nếu các nước đang phát triển không chú ý đến bản sắc thì sẽ bị hòa tan, song nếu quá nhấn mạnh đến bản sắc thì sẽ kéo dài tình trạng tụt hậu Không chỉ nước nhỏ, nước đang phát triển mới chú ý bảo vệ văn hóa dân tộc, hạn chế ảnh hưởng văn hóa ngoại lai Ấn Độ ngăn chặn việc bán Coca Cola, Pháp sử dụng hàng vạn cán bộ và chi rất nhiều tiền để giữ bộ mặt văn hóa độc đáo, Trung Quốc tuyên
bố chống ô nhiễm tinh thần, Nhật Bản liên tục mở những hội nghị bàn về văn hóa dân tộc [74], [125]
Khi bàn luận, nghiên cứu về bản sắc dân tộc trong âm nhạc, có một vài ý kiến không thực sự đề cao vai trò quan trọng của chất liệu dân gian:
Trang 371/ Năm 1967, một nhạc sĩ phát biểu:
Bất kỳ sự sáng tạo cái mới nào, với mức độ khác nhau trên cơ sở vốn
cổ, nếu tinh thần bài hát không gây được cho người nghe tình yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc, tính chiến đấu và tính thần lạc quan chiến thắng kẻ thù thì bài hát đó không cách mạng, và do đó nó không mang tính dân tộc ( ) Cái nhận thức đầu tiên đối với một bài hát không phải là tỉ lệ phần trăm về chất liệu dân ca nhạc cổ mà chủ yếu là tính tư tưởng của tác phẩm thông qua tiếng hát [152, tr.507]
2/ Tác giả Hoàng Đạm, trong bài viết Suy nghĩ về tính dân tộc trong tác phẩm
âm nhạc (1972), mặc dù không phủ nhận nhưng tác giả cũng không đề cao vai trò của
chất liệu dân gian mà đề cao yếu tố thời đại đối với việc tạo nên bản sắc dân tộc:
Một tác phẩm âm nhạc có thể giàu ngôn ngữ dân gian những chưa chắc đã có tính dân tộc, nếu tác phẩm đó không mang hơi thở cuộc sống, hay
là không biểu hiện gì, hoặc biểu hiện những tình cảm đen tối, phản động, lạc lõng với thời đại [Dẫn theo 80, tr.29]
3/ Tác giả Thiên Lang, trong bài viết Dân ca và không gian văn hóa (2006) đã
phủ định vai trò, mối liên hệ của việc khai thác chất liệu dân gian với bản sắc dân tộc:
Khi khai thác một quãng đặc trưng của dân ca, “mượn” từ dân ca dù chỉ
là một nét giai điệu, một thủ thuật nhấn nhá, một cách gieo quãng hay cả một hệ thống thang âm ( ) cũng chỉ là sử dụng các thành tố của một không gian văn hóa như những chất liệu âm nhạc Những chất liệu ấy không hề mang ý nghĩa
“bản sắc” hay quyết định “tính dân tộc” của một tác phẩm [Dẫn theo 80, tr.30]
Tuy nhiên đó chỉ là số ít Đại đa số các ý kiến đều khẳng định vai trò của chất liệu dân gian (âm nhạc dân gian, VHDG) đối với việc hình thành, kiến tạo bản sắc, tính dân tộc trong ca khúc: những yếu tố dân gian là nền tảng cơ bản cho việc tạo nên bản sắc dân tộc trong lĩnh vực ca khúc nói riêng và trong âm nhạc nói chung Đây cũng là kết luận của Trần Bảo Lân sau khi hệ thống hóa các quan niệm
từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau và qua nghiên cứu đề tài luận án Bản sắc dân tộc
trong ca khúc mới Việt Nam [80, tr.67 - 72]
Trang 38Tiểu kết
Trong nguồn tài liệu phong phú viết về VHDG, số công trình, bài viết về CLVHDG và việc khai thác CLVHDG phục vụ quá trình sáng tác văn học nghệ thuật (văn học hiện đại, sân khấu, điện ảnh ) nói chung và sáng tác ca khúc nói riêng chỉ chiếm một phần rất nhỏ Về vấn đề khai thác CLVHDG trong sáng tác ca khúc VN, những nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung nhìn nhận, đánh giá từ góc độ Văn học, Âm nhạc học mà chưa tìm hiểu, lý giải từ góc độ Văn hóa học; còn một số chiều cạnh của vấn đề vẫn chưa được đề cập tới hoặc đề cập chưa thấu đáo Vì vậy, cần tìm hiểu mục đích của việc khai thác CLVHDG, tìm hiểu sự vận động, biến đổi và nguyên nhân biến đổi của việc khai thác CLVHDG qua các chặng đường phát triển của ca khúc VN và xem xét những tác động của các yếu tố xã hội đối với việc khai thác CLVHDG hiện nay
Khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, lý thuyết hệ thống, lý thuyết diễn ngôn, lý
thuyết hành động xã hội là những cơ sở lý luận giúp tác giả luận án nhận thức đối
tượng nghiên cứu, đi tới những kiến giải phù hợp
Liên quan đến đề tài luận án, các khái niệm, thuật ngữ: “ca khúc”, “ca từ”,
“khai thác chất liệu văn học dân gian”, “bản sắc dân tộc” thường được sử dụng; trong
đó thuật ngữ “bản sắc dân tộc” đã thu hút được sự chú ý của nhiều tác giả trong nước
và nước ngoài Tác giả luận án nhất trí với quan niệm: bản sắc dân tộc là dấu hiệu cơ bản để phân biệt để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác; trong đó, bản sắc văn hóa giống như một “tấm thẻ căn cước”, giúp nhận dạng và phân biệt giữa các cá nhân, các nhóm và cộng đồng trên cơ sở các trải nghiệm văn hóa trong các bối cảnh Từ trước khi xuất hiện thuật ngữ “bản sắc dân tộc”, cha ông ta đã có ý thức nhận diện những đặc điểm riêng, biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau (ngôn ngữ, các sản phẩm văn hóa, cách ứng xử ), giúp phân biệt nước ta với nước khác Đảng và Nhà nước ta hiện nay cũng đã quan tâm thích đáng đến vấn đề này Trên các diễn đàn trao đổi, học thuật, tuy còn một vài ý kiến khác biệt nhưng đại đa số các nhà nghiên cứu VHNT đều khẳng định vai trò, tầm quan trọng của CLVHDG đối với việc góp phần tạo nên bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn học nghệ thuật hiện đại
Trang 39Chương 2 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KHAI THÁC CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN
TRONG SÁNG TÁC CA KHÚC VIỆT NAM
2.1 VÌ CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT
Ca khúc là một bản nhạc có lời ca, là một tổng thể khăng khít giữa nhạc và lời Từ nguồn cội âm nhạc dân gian, dân ca là những khúc hát được tạo nên từ việc đem lời thơ dân gian “bẻ thành những làn điệu” cho nên công chúng âm nhạc VN lâu nay vẫn có thói quen, có nhu cầu thưởng thức nhạc có lời, nhạc hát Nắm bắt nhu cầu và thói quen đó, những nhạc sĩ thành danh của VN cũng là những người luôn hướng đến việc tạo nên sức sống cho ca khúc của mình từ vẻ đẹp của cả phần
âm nhạc và lời ca để có thể khảm vào trí nhớ của người nghe, lay động những cảm xúc tâm hồn của họ và trở thành tiếng hát trái tim của mọi người, mọi nhà
Nhưng viết lời ca cho những bài hát VN là một việc không hề đơn giản, không dễ có những thành công ngay Người sáng tác “phải trải qua biết bao trăn trở, cân nhắc biết bao suy nghĩ, đi qua biết bao thử thách thất bại” mới tạo nên sự kết hợp có tính thẩm mỹ giữa nhạc và lời, mới điều khiển cùng một lúc cả tư duy âm nhạc và tư duy văn học để sáng tạo nên những hình tượng đẹp, những ấn tượng sâu sắc cho người nghe Những điều được rút ra từ kinh nghiệm gần 40 năm sáng tác ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng chính là mối quan tâm của các thế hệ nhạc sĩ
VN về việc làm thế nào để có được lời ca đẹp cho một bản nhạc hay: “Sự dễ dãi trong cách dùng từ ngữ là kẻ thù phải xa lánh” [143, tr.605] Suy nghĩ đó đã hướng những người sáng tác đến việc khai thác CLVHDG - khai thác vốn ngôn ngữ nghệ thuật của những người bình dân, trải qua sự sàng lọc của thời gian, nó được coi là một kho tàng vĩ đại và vô giá, ở đó hội tụ đầy đủ các giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ Họ đã học được rất nhiều khi ngẫm nghĩ về những lời ca dao trong những
bài hát dân ca VN được nhiều người yêu thích Những câu: Cây trúc xinh tang tình
là cây trúc mọc hay Người ơi người ở đừng về hoặc Giận thì giận mà thương thì
Trang 40thương , với chất thơ của nó đã làm cho “tâm hồn người nghe dính chặt vào bài
hát” ngay từ những câu hát mở đầu [143, tr.605]
Mỗi CLVHDG là một cái “mã nghệ thuật” để mở ra các tầng vỉa nội dung
ngữ nghĩa Chỉ một điển tích quê hương Phù Đổng (Mẹ tôi - Đoàn Bổng) có thể
mang trọn hàm ý sâu xa về một quê hương giàu truyền thống yêu nước, tinh thần
đoàn kết đánh thắng giặc ngoại xâm; một biểu tượng con cò (Vũ khúc con cò – Phó
Đức Phương) có thể gợi lên sự lam lũ, nhọc nhằn nhưng đầy nghị lực của những người lao động chốn quê nghèo Có khi, chỉ một câu tục ngữ được tác giả đưa vào
ca từ (Hát ru người mẹ lính – An Thuyên) cũng chứa đựng thông điệp về đạo lý
“uống nước nhớ nguồn” - nét đẹp trong truyền thống văn hóa của dân tộc… Một số
trường hợp tiêu biểu:
Ca khúc Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp – thơ: Đằng Giao) Tác
phẩm được sáng tác năm 1957, khi dòng sông Bến Hải và cây cầu Hiền Lương đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước thành hai miền - hai chế độ, việc hiệp thương tổng tuyển cử toàn quốc không thực hiện được Biết bao gia đình, đôi lứa phải sống trong xa cách; Bắc - Nam vẫn mong mỏi ngày vui sum họp Trong lời hát, hiện lên hình tượng một người đang đứng từ bờ Bắc ngóng trông về phía quê nhà; từ nơi
rộng mở thênh thang buồm căng theo gió, đàn chim dang cánh lưng trời gửi lời nhớ thương bờ Nam đang chìm trong sương mờ và bão tố: