- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định, cán bộ quản lý rủi ro công tác tại NHTMCP Sài Gòn- Hà Nội, và các cán bộ công tác trong ngành tài chính, ngân hàng nói c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân đƣợc đúc kết từ quá trình nghiên cứu, từ việc tập hợp các nguồn tài liệu, các kiến thức đã đƣợc học, việc tự thu thập các thông tin liên quan và thực tế tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (SHB) Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc tác giả gửi lời cảm ơn và đồng thời các thông tin đƣợc trích dẫn trong luận văn đều chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Đoàn Ngọc Lan
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
của Quý Thầy cô, bạn bè và tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng TMCP Sài Gòn-
Hà Nội (SHB)
Xin trân trọng cảm ơn các vị lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng
TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) đã cung cấp thông tin tài liệu, và hợp tác trong quá
trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Viện đào tạo sau đại học và các Thầy cô
giáo trong viện Kinh tế và Quản lý trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giúp đỡ
tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã có
những góp ý về những thiếu sót của luận văn này, giúp luận văn càng hoàn thiện
hơn
Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn TS Trần Việt Hà, người trực tiếp hướng dẫn và
dành thời gian công sức giúp đỡ học viên hoàn thành khóa luận này
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian và kiến
thức nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những
góp ý từ Quý Thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !!!
Tác giả
Đoàn Ngọc Lan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1 2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 4 Phương pháp nghiên cứu 2 5 Đóng góp của luận văn 3 6 Kết cấu của luận văn 3 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 4 1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Hoạt động ngân hàng 4
1.1.3 Rủi ro đối với các Ngân hàng thương mại 5
1.2 Rủi ro tín dụng 6 1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 6
1.2.2 Biểu hiện rủi ro tín dụng 7
1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 8
1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng: 11
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng 13 1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 13
1.3.2 Nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng 14
1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng 15 1.3.2.2 Mô hình đo lường rủi ro tín dụng 18 1.3.2.3 Quản lý rủi ro 19 1.3.2.4 Kiểm soát và xử lý rủi ro 20 1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá quản trị rủi ro tín dụng 21
1.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng 22
Trang 51.3.4.1 Nhân tố chủ quan 22
1.4 Kinh nghiệm quản trị RRTD của một số ngân hàng 28
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của các Ngân hàng 28
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho NHTM Việt Nam 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP SÀI GÒN HÀ NỘI 32
2.1 Giới thiệu khái quát về NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội 32 2.1.1 Thông tin khái quát 32
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 32
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội trong thời gian qua 36
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 37 2.1.3.2 Hoạt động tín dụng 38 2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng và việc quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội 40 2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng 40
2.2.2 Nhận dạng rủi ro tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội 44
2.2.3 Đo lường rủi ro tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội 45
2.2.4 Quản lý và giám sát rủi ro tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội 49
2.2.5 Xử lý rủi ro tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội 55
2.3 Đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng tại SHB 57 2.3.1 Kết quả đạt được 57
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân 60
2.3.3.1 Hạn chế 61 2.3.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại 64 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: 71
Trang 6CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI (SHB) 72
3.1 Các phương hướng hoạt động của NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội 72
3.1.1 Định hướng chung 72 3.1.2 Định hướng hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng 75
3.2 Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn- Hà
3.2.3.2 Quản lý, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quá trình giải ngân và sau
3.2.3.3 Sử dụng các công cụ bảo hiểm và bảo đảm tiền vay 89
3.2.3.4 Thực hiện phân loại nợ theo cách thức mới 91
3.2.4 Bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra 92 3.2.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 94
KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 7DANH MỤC H NH BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Mạng lưới hoạt động của SHB giai đoạn 2012 - 2015 34
Hình 2.2: Số lượng nhân sự của SHB giai đoạn 2012 – 2015 34
Hình 2.3: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội ( theo QĐ 107/QĐ-HĐQT ngày 23/4/2015) 35
Hình 2.4: Vốn điều lệ và lợi nhuận trước thuế của SHB giai đoạn 2012 - 2015 37
Hình 2.5 Kết quả xếp hạng tín dụng khách hàng tại SHB đến 30/9/2015 58
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu hoạt động của SHB qua các năm 36
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của SHB qua các năm 38
Bảng 2.3: Tình hình hoạt động tín dụng của SHB qua các năm 39
Bảng 2.4: Dư nợ tín dụng phân loại theo thành phần kinh tế và thời gian vay 39
Bảng 2.5: Hệ số an toàn vốn và tỷ lệ nợ xấu 41
Bảng 2.6: Tình hình nợ quá hạn của SHB qua các năm 41
Bảng 2.7: Nợ xấu phân theo thành phần kinh tế và thời gian cho vay của SHB qua các năm 42
Bảng 2.8: Tình hình khách hàng có nợ quá hạn tại SHB 43
Bảng 2.9: Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng 43
Bảng 2.10: Phân loại khách hàng dựa theo XHTD nội bộ 46
Bảng 2.11 Tình hình thu hồi nợ đã được xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro 56
Bảng 3.1: Chính sách khách hàng doanh nghiệp 77
Bảng 3.2: Chính sách khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh 79
Bảng 3.2 Phân loại nợ theo xếp hạng tín dụng 92
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chính của các ngân hàng thương mại, thường đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng Tại Việt Nam thì hoạt động tín dụng chiếm trên 70% tổng doanh thu và mang lại trên 70% thu nhập Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh
tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh vực khác theo định hướng của Nhà nước
Hoạt động tín dụng là lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận nhất nhưng cũng có rủi ro lớn nhất trong hoạt động ngân hàng Hậu quả của rủi ro tín dụng thường có ảnh hưởng rất lớn, làm ngân hàng thua lỗ, mất vốn, tình hình tài chính xấu đi, làm tổn hại hình ảnh, uy tín của ngân hàng, nếu nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản Đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước với các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết
Thực tế hiện nay, công tác Quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM cổ phần nói chung và tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội nói riêng đã hình thành và từng bước được chú trọng phát triển, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, rủi ro tín dụng vẫn cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển cũng như lợi nhuận của ngân hàng Chính sách quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng và các công cụ lượng hóa rủi ro còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Chưa có công cụ mang tính dự báo rủi
ro độc lập, hầu hết chỉ căn cứ vào số liệu quá khứ được truy xuất qua hệ thống thông tin ngân hàng Do vậy, việc tăng cường quản trị rủi tín dụng đã trở thành một vấn đề mang tính cấp thiết và là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB)
Xuất phát từ những nguyên nhân và thực trạng trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài
Gòn - Hà Nội (SHB)” làm luận văn thạc sỹ của mình
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu của đề tài: làm rõ thực trạng rủi ro tín dụng, công tác quản trị rủi ro tín dụng và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro
tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn- Hà Nội
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
- Phân tích thực trạng: làm rõ những hạn chế, những mặt đạt được và những vấn đề phát sinh trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội
- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường chất lượng công tác quản trị rủi ro, giảm thiểu rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng, đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở:
- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội
- Ghi nhận các ý kiến, nhận định của các cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định, về nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp góp phần hạn chế rủi ro tín dụng
- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định, cán bộ quản
lý rủi ro công tác tại NHTMCP Sài Gòn- Hà Nội, và các cán bộ công tác trong ngành tài chính, ngân hàng nói chung
Trang 10- Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, các ý kiến nhận định của các cán bộ tín dụng, cán bộ tái thẩm định, cán bộ quản lý rủi ro tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và đưa ra giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng
5 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
- Làm rõ thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội
- Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của
ngân hàng thương mại
- Chương 2 Thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
- Chương 3 Một số giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Việt Nam, theo Luật các TCTD năm 2010: Ngân hàng là loại hình tổ chức
tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật TCTD Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận
1.1.2 Hoạt động ngân hàng
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện
thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy
Trang 12nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
1.1.3 Rủi ro đối với các Ngân hàng thương mại
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn:
Theo trường phái truyền thống: rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người
Theo trường phái hiện đại: rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
Đối với các ngân hàng thương mại, rủi ro là sự không chắc chắn về kết quả xảy ra trong tương lai, kết quả này có thể là tích cực hoặc tiêu cực, tuy nhiên thông thường chúng ta thường quan tâm đến mặt tiêu cực do rủi ro gây ra Đó là những biến cố không mong đợi có thể xảy ra gây mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập trong quá trình hoạt động Sự mất mát tổn thất này khó có thể đo lường một cách chính xác Do vậy các ngân hàng thương mại thường đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích để đầu tư nhằm đạt được hiệu quả tương ứng với mức rủi ro có thể chấp nhận Các khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, từ tổ
Trang 13chức đến cá nhân và hàng ngày luôn có nhiều khách hàng đến giao dịch Vì vậy, hoạt động của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro Rủi ro rất đa dạng và có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau Trong hoạt động của Ngân hàng thương mại có các loại rủi ro chủ yếu, đó là: Rủi ro tín dụng; Rủi ro hối đoái; Rủi ro thanh khoản; Rủi
ro hoạt động; Rủi ro thị trường; Rủi ro lãi suất
1.2 Rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn có thể xảy ra trong các hoạt động tín dụng khác như hoạt động bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho thuê tài chính Rủi ro tín dụng cũng được nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau:
Theo A Saunders và H Lange định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy
đủ về cả số lượng và thời hạn” {Trích nguồn từ Financial Institutions Management}
Theo Henie Van Greunin Sonja Brajovic Bratanovic: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng” {Trích nguồn từ Analyzing and managing banking risk }
Theo Timothy W Koch cho rằng: “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn” { Trích nguồn từ Bank management }
Theo Ủy ban Basel, “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay vốn hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết”
Trang 14Theo qui định tại Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo đúng cam kết”
Rất nhiều các ý kiến đã được đưa ra để định nghĩa rủi ro tín dụng, tuy nhiên
mọi tác giả đều thống nhất: Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết
1.2.2 Biểu hiện rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng của các khoản cho vay thông thường biểu hiện ở việc người vay đã không thanh toán đúng như kế hoạch (một hoặc nhiều lần) hay giá trị tài sản thế chấp của người vay đã sụt giảm đáng kể Mỗi khoản cho vay có vấn đề đều mang những nét đặc thù nhưng dù sao chúng đều có những nét chung góp phần cảnh báo cho ngân hàng về những vấn đề rắc rối đã bắt đầu nảy sinh như:
- Sự trì hoãn bất thường và không có lý do trong việc cung cấp các báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thoả thuận, hoặc chậm trễ trong việc liên lạc với cán bộ tín dụng
- Đối với tín dụng doanh nghiệp, là bất cứ sự thay đổi bất thường nào trong phương thức hạch toán kế toán, kế hoạch trả lương và phụ cấp, giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế và thu nhập
- Sự trì hoãn thanh toán cổ tức, hoặc bị thay đổi vị trí xếp hạng tín nhiệm
- Giá cổ phiếu của doanh nghiệp thay đổi bất lợi
- Thu nhập ròng của doanh nghiệp giảm trong một hoặc nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu như: lãi trên tài sản (ROA); lãi trên vốn cổ phần (ROE); hay thu nhập trước trả lãi và thuế (EBIT)
Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn (tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu), khả năng thanh toán (chỉ tiêu thanh khoản hiện hành) hay mức độ hoạt động (chỉ tiêu doanh thu/hàng tồn kho)
Trang 15Độ chênh lệch của doanh thu hay dòng tiền thực tế so với kế hoạch khi mà tín dụng đã được cấp
Thay đổi bất ngờ, không dự kiến và không lý do đối với số dư tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng
1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Nguyên nhân xuất phát từ khách hàng
Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng Khách hàng có thể đem lại rủi ro cho các NHTM khi:
Vốn tự có tham gia vào sản xuất kinh doanh quá thấp so với nhu cầu vốn kinh doanh, buộc khách hàng phải đi huy động vốn Nếu NHTM cho những khách hàng như vậy vay thì nguy cơ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng sẽ tăng cao do đó họ có xu hướng lao vào các hoạt động kinh doanh mạo hiểm, hy vọng tìm kiếm lợi nhuận cao, bởi hầu hết vốn kinh doanh không phải là của họ Điều này đồng nghĩa với việc hầu hết mọi gánh nặng rủi ro dồn vào vai các NHTM (là chủ sở hữu nguồn vốn cho vay)
Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, khiến hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp nhiều khó khăn, không thu được tiền bán sản phẩm như dự định - là nguồn trả nợ ngân hang - sẽ khiến các NHTM đối mặt với rủi ro cho vay
Năng lực quản trị điều hành của bộ máy lãnh đạo các doanh nghiệp bị hạn chế, thiếu thông tin thị trường và các đối tác, bạn hàng, làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh Khách hàng yếu kém trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, yếu kém trong quản lý tài chính Các NHTM đối mặt với nguy cơ rủi ro cao khi cho vay khách hàng này
Một nguyên nhân nữa có thể gây rủi ro cho ngân hàng là gặp phải đối tượng khách hàng chủ định lừa đảo ngân hàng, giả mạo hồ sơ vay vốn
Vì nhiều lý do khác nhau mà khách hàng tỏ ra thiếu thiện chí trả nợ ngân hàng Đây chính là rủi ro xuất phát từ đạo đức của người đi vay
Trang 16Các nguyên nhân này có thể xác định được thông qua thẩm định, tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng cả trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh của họ
Nguyên nhân từ bản thân các ngân hàng
Rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ chính bản thân các NHTM, do các nguyên nhân:
Không chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tín dụng;
Chính sách tín dụng và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, công tác quản trị rủi
ro chưa hữu hiệu, chưa chú trọng phân tích khách hàng, xếp loại RRTD để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ;
Kỹ thuật cấp tín dụng không phù hợp, chưa đa dạng, việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là cấp tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng chưa phong phú;
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn bất cập so với yêu cầu công việc, thể hiện ở chỗ cán bộ ngân hàng thiếu kỹ năng nắm bắt, phân tích thông tin thị trường, thiếu khả năng dự báo chiều hướng biến động của thị trường, nhất là thị trường kinh doanh của các khách hàng chiến lược
Sự yếu kém trong tư cách đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ tín dụng, cũng như sự thiếu quan tâm kiểm tra giám sát của các cấp lãnh đạo cũng là những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Giá trị tài sản bảo đảm bị giảm mạnh, không đủ trả nợ khiến ngân hàng do dự không dám xử lý quyết liệt Bộ phận xử lý nợ xấu chưa phát huy hiệu quả
Nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh
Môi trường kinh tế xã hội: là tổng hòa các mối quan hệ về nền kinh tế và xã hội tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế Xét một cách tổng thể, môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng đến khách hàng và cũng dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng Môi trường kinh tế tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của các NHTM Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định, các
Trang 17doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ cho NHTM Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, mất ổn định khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, sản xuất bị đình trệ, sức mua bị giảm sút, hàng hóa bị ứ đọng, tất yếu ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Ngân hàng của các doanh nghiệp
Các chính sách kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các NHTM Nếu Chính phủ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao thì nguy cơ lạm phát luôn tiềm ẩn; khi lạm phát tăng cao sẽ làm tăng chi phí đầu vào của các khách hàng, gây khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm Hậu quả là năng lực trả nợ của các khách hàng đối với Ngân hàng sẽ bị suy giảm Hoặc việc Chính phủ thay đổi các chính sách tài chính, tiền tệ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của các NHTM
Các nguyên nhân bất khả kháng (thiên tai, địch họa, thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật công nghệ của một ngành nào đó) cũng có thể làm phá sản cả một hãng kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có hiệu quả vào thế thua lỗ, mất khả năng trả nợ Điều này đặt các NHTM phải đối mặt với rủi ro mất vốn
Nguyên nhân thông tin không minh bạch, không chính xác NHTM thực hiện cho vay dự trên thông tin và hiểu biết khách hàng Song thực tế là Ngân hàng thường không biết hết những gì cần biết về phía khách hàng và thông tin không minh bạch, không chính xác, thông tin sai lệch, giả mạo trong giao dịch sẽ đưa đến
sự lựa chọn thiếu chính xác và “rủi ro đạo đức” Thông tin không minh bạch trên thị trường tài chính khiến các NHTM phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao Sự thiếu thông tin về khách hàng vay và thông tin về môi trường kinh doanh mà khách hàng
đó hoạt động là nguyên nhân chủ yếu nhất dẫn đến RRTD
Môi trường pháp lý: bao gồm hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng và những biện pháp để thực thi pháp luật Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ về hoạt động kinh doanh của mình nhưng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật đã được quy
Trang 18định Hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng không nằm ngoài vòng kiểm soát đó cũng như phải tuân theo những quy định có liên quan của Chính phủ Trong quá trình xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay (xử lý rủi ro tín dụng) nếu môi trường pháp lý không thuận lợi sẽ làm cho các NHTM tốn kém rất nhiều thời gian, nhân lực và tiền bạc dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng
1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng:
Để đánh giá rủi ro tín dụng người ta có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu khác nhau, cụ thể:
Tỷ lệ khách hàng có NQH = Tổng số khách hàng quá hạn x 100%
Tổng số khách hàng có dư nợ Chỉ tiêu này cho biết, cứ 100 khách hàng vay vốn, thì có bao nhiêu khách hàng
đã quá hạn Nếu tỷ lệ này cao, phản ánh chính sách tín dụng của ngân hàng là không hiệu quả Ngoài ra, nếu chỉ tiêu này thấp hơn chỉ tiêu “Nợ quá hạn”, cho biết nợ quá hạn tập trung vào những khách hàng lớn; ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao hơn chỉ tiêu “Nợ quá hạn”, thì nợ quá hạn tập trung vào những khách hàng nhỏ
Chỉ tiêu phản ánh nợ xấu
Trước hết, ở Việt Nam nợ được chia thành 5 nhóm:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Trang 19- Các khoản nợ trong hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến dưới 30 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới
90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn
Theo việc phân loại nhóm nợ như trên thì định nghĩa nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)” hay nói cách khác:
“Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ nghi ngờ”
Trang 20Tỷ lệ nợ xử lý rủi ro
Tỷ lệ nợ xử lý rủi ro = Nợ xử lý rủi ro x 100%
Tổng dư nợ Ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng đối với các khoản nợ của các tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản, cá nhân bị chết hoặc mất tích, các khoản nợ thuộc nhóm 5, nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
Xử lý rủi ro không phải là xóa nợ cho khách hàng nên sau khi xử lý rủi ro phải chuyển các khoản nợ từ hạch toán nội bảng ra hạch toán ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và có các biện pháp thu hồi nợ triệt để Sau 05 năm, ngân hàng mới được xuất toán ra khỏi ngoại bảng
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị là những hành động được xuất phát từ nhu cầu, mục tiêu chung và hướng vào việc điều hòa các nguồn lực con người và vật chất sao cho sự hao tổn để đạt các mục đích, mục tiêu nhất định là thấp nhất có thể
Có thể hiểu: Quản trị rủi ro tín dụng là một quá trình từ việc hoạch định chiến lược đến việc tổ chức thực hiện, điều khiển và kiểm soát việc thực hiện chiến
Trang 21lược, phòng ngừa, hạn chế và xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng mà NHTM đã
đề ra
Hoạt động tín dụng là lĩnh vực mang lại nhiều lợi nhuận nhất nhưng cũng có rủi ro lớn nhất trong hoạt động ngân hàng Hậu quả của rủi ro tín dụng thường có ảnh hưởng rất lớn, làm ngân hàng thua lỗ, mất vốn, tình hình tài chính xấu đi, làm tổn hại hình ảnh, uy tín của ngân hàng, nếu nghiêm trọng có thể dẫn nó đến phá sản Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là điều không tránh khỏi, nó tồn tại khách quan gắn liền với hoạt động cấp tín dụng
Để hạn chế những rủi ro phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâu giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra, cụ thể như:
Dự báo, phát hiện rủi ro tiềm ẩn: phát hiện những biến cố không có lợi, ngăn chặn các tình huống không có lợi đã và đang xảy ra và có thể lan ra phạm vi rộng Giải quyết hậu quả rủi ro để hạn chế các thiệt hại đối với tài sản và thu nhập của ngân hàng Đây là quá trình logic chặt chẽ cần có quản trị để đảm bảo tính thống nhất
Phòng chống rủi ro được thực hiện bởi các nhân viên, cán bộ lãnh đạo ngân hàng Trong ngân hàng, nhân viên có thể có suy nghĩ và hành động khác nhau, có thể trái ngược hoặc cản trở nhau Vì thế cần có quản trị để mọi người hành động một cách thống nhất
Quản trị đề ra những mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng, và có kế hoạch hành động cụ thể và hiệu quả phù hợp với mục tiêu đề ra
1.3.2 Nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là một hệ thống các phương pháp, các hình thức và các công cụ được sử dụng để kiểm soát quá trình cho vay (cấp tín dụng) và thu hồi nợ trong những điều kiện cụ thể của từng thời kỳ nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng
Để hạn chế những rủi ro phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâu giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra, cụ thể như:
Ngăn chặn nợ xấu phát sinh bằng cách: dự báo, phát hiện rủi ro tiềm ẩn: phát hiện những biến cố không có lợi, ngăn chặn các tình huống không có lợi đã và đang
Trang 22xảy ra và có thể lan ra phạm vi rộng
Xử lý nợ xấu: Khi có nợ xấu xảy ra thì việc giải quyết hậu quả nợ xấu là nhằm
để hạn chế các thiệt hại đối với tài sản và thu nhập của ngân hàng Đây là quá trình logic chặt chẽ do đó, cần có quản trị để đảm bảo tính thống nhất
Quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại được thể hiện tóm tắt qua lưu đồ như sau:
Nguồn: Chrinko R.S Guill (2000)“A framework for assessing credit risk in
depository institution”.[60]
1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng
Để quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả thì phải xác định rủi ro hiện tại và rủi ro tiềm ẩn trong tương lai và nhận biết những rủi ro cho phép Việc chấp nhận mức độ, loại rủi ro nào chính là điều kiện quan trọng để điều tiết những tác động tiêu cực trong quá trình quản trị rủi ro
Có nhiều phương pháp nhận dạng rủi ro và các phương pháp nhận dạng rủi ro cần phải được kết hợp với nhau: phân tích các báo cáo tài chính, hợp đồng kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ số thanh khoản, các chỉ số khả năng sinh lời, từ đó đánh giá được khả năng thanh toán, sinh lời, cấu trúc nguồn vốn của khách hàng, phân loại khách hàng nhằm ước đoán được các tổn thất có thể xảy ra
Ngân hàng thực hiện các bước nhận dạng rủi ro: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng rủi ro tín dụng, nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro tín dụng
Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi
xử lý rủi ro
Trang 23ro đa dạng và có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã
có vấn đề Kết quả phân tích cho ra những dấu hiệu, biểu hiện, nguyên nhân rủi ro tín dụng, từ đó nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro
Các chuyến thăm khách hàng thường xuyên là cách tốt nhất để phát hiện nhanh chóng những dấu hiệu này Những chuyến thăm này luôn phải bao gồm việc kiểm tra tình hình thực tế và sổ sách của khách hàng Sau đây là những dấu hiệu thường thấy nhất:
Khách hàng cố ý lảng tránh hoặc thoái thác trả lời cán bộ ngân hàng; doanh thu bán hàng giảm; không đáp ứng được những đơn đặt hàng; các khoản thu tiền về chậm; hàng tồn kho gần như không bán được; nhờ cậy vào chỉ một khách hàng hoặc một nhà cung cấp; áp dụng chính sách chiết khấu bất bình thường; lưu chuyển tiền mặt ròng giảm; lợi nhuận giảm; giá trị của tài sản giảm;
Một số dấu hiệu có thể là không được chú ý nhưng khi một số dấu hiệu xảy ra, rất có thể khoản vay là có vấn đề Một cách cụ thể, chúng ta có thể phân loại những dấu hiệu như sau:
Từ Bảng tổng kết tài sản: Ngân hàng không nhận được kịp thời các báo cáo tài chính; chu kỳ các khoản phải thu ngắn đi; tiền mặt của khách hàng giảm; giá trị tuyệt đối và tương đối của các khoản phải thu tăng đột biến; hệ số tài sản ngắn hạn tính trên tổng tài sản giảm; khả năng thanh khoản/vốn lưu động giảm; những thay đổi nhanh chóng của tài sản cố định; các khoản dự trữ tăng mạnh với lượng lớn; công ty tập trung đầu tư vào tài sản phi ngắn hạn, nhưng không phải là tài sản cố định; mức độ tập trung cao vào tài sản vô hình; sự thiếu cân đối gia tăng của các khoản nợ ngắn hạn; những gia tăng đáng kể của các khoản nợ dài hạn; những thay đổi đáng kể trong cơ cấu bảng tổng kết tài sản; thay đổi tài khoản ngân hàng; thời gian trung bình của các khoản phải thu tăng lên; những thay đổi trong chính sách mua bán chịu; xuất hiện thêm các điều kiện gia hạn; tập trung doanh số vào một mặt hàng nhất định
Từ Báo cáo lãi lỗ: Doanh số bán hàng giảm; hoặc doanh số tăng một cách đột
Trang 24biến, bất thường trong khi mọi nguồn lực, quy mô và các yếu tố khác không thay đổi nhiều; mức độ chênh lệch lớn giữa tổng doanh thu và doanh thu ròng; tỷ lệ chi phí trên tổng doanh thu tăng lên/mức lãi giảm đi; doanh thu bán hàng tăng lên nhưng lợi nhuận giảm đi; các khoản lỗ từ nợ quá hạn tăng lên; sự gia tăng không cân xứng của chi phí quản lý so với mức tăng của doanh thu bán hàng; tổng tài sản
Có gia tăng so với mức độ tăng của tỷ suất Doanh thu bán hàng/Lợi nhuận; xuất hiện các khoản lỗ từ hoạt động kinh doanh;
Từ hoạt động kinh doanh: Thay đổi về phạm vi kinh doanh; số liệu tài chính nghèo nàn và quản lý hoạt động kém hiệu quả; bố trí nhà máy và thiết bị không hợp lý; sử dụng không hiệu quả nguồn nhân lực; những dây chuyền sản xuất chính không được khai thác đúng mức, quyền phân phối sản phẩm hoặc nguồn cung cấp; mất một hay nhiều khách hàng có năng lực tài chính tốt hoặc mất nhà cung ứng chính; xuất hiện những vụ mua hàng tồn kho mang tính đầu cơ nằm ngoài nguyên tắc mua hàng thông thường của công ty; lơ là trong việc duy trì vận hành và bảo hành máy móc thiết bị; việc thay thế những thiết bị máy móc lỗi thời diễn ra chậm chạp; những dấu hiệu về hàng tồn kho kém chất lượng, lưu hàng tồn kho với số lượng lớn hoặc cơ cấu hàng tồn kho lưu kho không phù hợp;
Những dấu hiệu liên quan đến giao dịch ngân hàng: Số dư tài khoản tại ngân hàng giảm; công tác kế hoạch hoá tài chính cho các nhu cầu về tài sản cố định hoặc các nhu cầu về vốn lưu động thể hiện sự đơn giản và bất hợp lý; đặt niềm tin/nhờ cậy nhiều vào các khoản nợ ngắn hạn; những thay đổi đáng kể ở góc độ thời hạn cho các đề nghị vay vốn; xuất hiện ở các khoản vay có nhiều nguồn trả nợ nhưng lại khó có thể nhận thấy dễ dàng chúng; xuất hiện những chủ nợ khác, đặc biệt những chủ nợ nhận tài sản bảo đảm
Những dấu hiệu liên quan đến quản trị công ty: Thay đổi trong thái độ/ thói quen cá nhân của những người lãnh đạo chủ chốt của công ty; thay đổi trong thái độ đối với ngân hàng/cán bộ ngân hàng, đặc biệt là khi họ tạo cảm giác thiếu tính hợp tác; không có khả năng thực hiện kế hoạch; báo cáo và quản lý tài chính kém cỏi; các chức năng điều hành và phân công xử lý công việc thể hiện sự chắp vá; mạo
Trang 25hiểm khi mua bán, khi thực hiện công việc kinh doanh mới, tại khu vực kinh doanh mới hoặc với dây chuyền sản xuất mới; mong muốn và khăng khăng tham gia những thương vụ kinh doanh có mức rủi ro quá cao; đặt giá bán hàng hoá và dịch
vụ một cách không thực tế; những nhân vật chủ chốt của công ty ốm hoặc chết; những thay đổi trong quản lý, quyền sở hữu hoặc những nhân vật chủ chốt; tính không liên tục của các dây chuyền tiêu chuẩn sinh lời; chậm trễ trong việc phản ứng lại với sự đi xuống của thị trường hoặc các điều kiện kinh tế;
1.3.2.2 Mô hình đo lường rủi ro tín dụng
Mô hình quản lý rủi ro tín dụng chính là một hệ thống bao gồm mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; xác định các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra
Có rất nhiều các loại mô hình được các ngân hàng áp dụng để đo lường Sau đây là mô hình thông dụng nhất:
Mô hình chất lượng 6C
Mô hình 6C giúp các ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng bằng việc tập trung vào 6 tiêu chí cơ bản sau:
1 Tư cách người vay (Character)
Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng nhằm xác định xem mục đích xin vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không, đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn đối với khách hàng mới thì cần thu nhập thông tin từ nhiều nguồn khác như : trung tâm phòng ngừa rủi ro, ngân hàng bạn, thông tin đại chúng
Trang 262 Năng lực người vay (Capacity)
Tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia, đòi hỏi người đi vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
3 Thu nhập của người đi vay (cash)
Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán thanh lí tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán
4 Bảo đảm tiền vay ( Collateral)
Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng
5 Các điều kiện (Conditions)
Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kì như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ
6 Kiểm soát (Control)
Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của pháp luật có liên quan tới quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không
1.3.2.3 Quản lý rủi ro
Sau khi nhận biết và hình thành các chỉ tiêu đo lường, rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên Nội dung cơ bản của quản lý rủi ro được thể hiện như sau: (i) Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro: Ngân hàng cần xác định tầm nhìn, mục tiêu, sứ mệnh của ngân hàng để từ đó đưa ra chiến lược quản lý rủi ro phù hợp (ii) Xây dựng chính sách quản lý rủi ro: Chính sách quản lý rủi ro tín dụng là
cơ sở để hình thành nên quy trình tín dụng với những hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết, các bước cụ thể trong quá trình cấp tín dụng Chính sách quản lý rủi ro tín dụng cũng quy định giới hạn cho vay đối với khách hàng, phân loại nợ và trích lập DPRR
(iii) Quản lý danh mục cho vay và phân tán rủi ro: Ngân hàng phải
Trang 27thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra Để hoạt động quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả, các ngân hàng cần xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng tập trung gồm các báo cáo định kì và đặc biệt
Báo cáo định kì có thể bao gồm các báo cáo liên quan đến các nội dung sau: Nhóm khách hàng có dư nợ tín dụng lớn nhất, các khoản dư nợ lớn nhất; Phân tích danh mục tín dụng… Ngoài ra, ngân hàng cũng phải thực hiện việc phân tán rủi ro bằng việc thực hiện cấp tín dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đối tượng khách hàng
và loại tiền…nhằm tránh những tổn thất cho ngân hàng thương mại
1.3.2.4 Kiểm soát và xử lý rủi ro
(i) Kiểm soát rủi ro: nhằm mục tiêu phòng chống và kiểm soát các rủi ro có
thể phát sinh trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong ngân hàng tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện các chiến lược, chính sách đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng Kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay
Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: kiểm soát quá trình thiết lập chính sách, thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định, kiểm tra tờ trình cho vay và các hồ sơ liên quan
Kiểm soát trong khi cho vay: kiểm soát một lần nữa hợp đồng tín dụng; kiểm tra quá trình giải ngân, điều tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích xin vay hay không, giám sát thường xuyên khoản vay…
Kiểm soát sau khi cho vay: kiểm soát việc đôn đốc thu hồi nợ, kiểm soát tín dụng nội bộ độc lập, đánh giá lại chính sách tín dụng
(ii) Xử lý rủi ro: Khi một khoản vay bị xếp xuống nhóm nợ xấu thì ngân hàng
sẽ chuyển sang bộ phận xử lý nợ xấu giải quyết Bộ phận này sẽ thực hiện rà soát khoản vay, lập phương án gặp gỡ khách hàng để tìm hướng khắc phục thông qua các hình thức như: gia hạn nợ, chứng khoán hoá các khoản nợ Nếu khách hàng chấp thuận thực thi phương án khắc phục thì khoản nợ đó sẽ được chuyển sang hình thức theo dõi nợ bình thường, còn không sẽ chuyển sang bộ phận xử lý nợ xấu
Trang 28Hiện nay, đang tồn tại hai loại hình xử lý nợ: Một là, hình thức xử lý khai thác: bao gồm cho vay thêm, bổ sung tài sản bảo đảm, chuyển nợ quá hạn, thực hiện khoanh
nợ xoá nợ, chỉ định đại diện tham gia quản lý doanh nghiệp Hai là, hình thức xử lý thanh lý: bao gồm xử lý nợ tồn đọng (bao gồm nợ tồn đọng có TSBĐ, và không TSBĐ), thanh lý doanh nghiệp, khởi kiện, bán nợ, sử dụng DPRR…)
1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá quản trị rủi ro tín dụng
Để đánh giá mức độ quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng có đạt hiệu quả hay không, chúng ta có thể đánh giá thông qua các chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro của ngân hàng
Hiện nay, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại không được vượt quá 3%
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng cũng như đánh giá khả năng quản trị rủi ro trong cho vay của ngân hàng đó Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng quản trị rủi ro của ngân hàng kém, rủi ro không thu hồi được nợ càng lớn Do vậy, các ngân hàng đều cố gắng hạn chế tỷ lệ này ở mức nhỏ nhất
Một cách khái quát, kết quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng được phản ánh ở các chỉ tiêu rủi ro tín dụng và các động thái thay đổi của nó Chẳng hạn như quản trị rủi ro tín dụng mà tốt thì dẫn đến tỷ lệ nợ xấu giữ được ở mức vừa phải có thể kiểm soát được, ngược lại tỷ lệ này mà cao thì đòi hỏi công tác quản trị rủi ro tín dụng phải cắt giảm được những tỷ lệ này để duy trì chất lượng ở mức mong muốn Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng tốt hay xấu phải thể hiện ở các chỉ tiêu về chất lượng cao hay thấp Vì vậy các chỉ tiêu phản ánh quản trị rủi ro tín dụng đã trình
bày ở mục 1.2.4 cũng được sử dụng như những chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị
rủi ro tín dụng
Đối với xác định và đánh giá rủi ro:
Một hệ thống kiểm soát rủi ro hiệu quả yêu cầu tất cả các loại rủi ro trọng yếu
có thể ảnh hưởng đến những mục tiêu chiến lược ngân hàng phải được xác định rõ ràng và thường xuyên xem xét, đánh giá Hệ thống này cũng cần phải rất linh động
Trang 29để có thể cho phép phát hiện và xác định rõ những rủi ro mới và những rủi ro trước kia chưa phát hiện được Điều này có ý nghĩa rất quan trọng và đặc biệt là trong điều kiện kinh doanh, cả bên trong và bên ngoài, có nhiều biến đổi như hiện nay Ngoài ra hệ thống này cũng cần có khả năng xác định được những rủi ro có thể kiểm soát được và những rủi ro không thể kiểm soát được và làm cách nào để giảm thiểu tác động của những rủi ro không thể kiểm soát được
Đối với đo lường rủi ro
Mô hình đo lường rủi ro phải được thiết kế chặt chẽ sao cho có thể bao gồm tất cả những nguồn rủi ro trọng yếu và đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin
Đối với Quản lý và kiểm soát rủi ro
Các giới hạn rủi ro phải thống nhất với các chính sách của ngân hàng và các giới hạn đã được phê duyệt Các báo cáo về rủi ro cần phải cung cấp những thông tin thích hợp, chính xác và kịp thời về tình trạng rủi ro của ngân hàng cho Ban lãnh đạo Các cá nhân thực hiện hoạt động kiểm soát rủi ro cần phải độc lập với người thực hiện việc chấp nhận rủi ro (thực hiện các hoạt động làm phát sinh rủi ro)
1.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng
1.3.4.1 Nhân tố chủ quan
Chiến lược quản trị rủi ro
Chiến lược quản trị rủi ro luôn đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại Chỉ khi có một chiến lược quản trị rủi ro rõ ràng và đầy đủ, ngân hàng mới có thể chủ động đối phó và giải quyết những rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng
Theo các chuyên gia thì vẫn còn một chặng đường dài nữa các ngân hàng thương mại Việt Nam mới đạt được một mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiện đại theo đúng nghĩa Khó khăn lớn nhất xuất phát từ yếu tố con người bởi sự thay đổi
mô hình tổ chức đã ảnh hưởng đến quyền hạn của các cán bộ có liên quan đến quá trình cấp tín dụng Thật khó khăn khi phải thay đổi, phải tiếp nhận cái mới, đặc biệt khi mà sự thay đổi đó ảnh hưởng đến quyền lực mà trước đây người ta có được Giờ
Trang 30đây, một quyết định tín dụng không phụ thuộc vào một cá nhân mà là sự đồng thuận của các lãnh đạo các bộ phận chức năng có vai trò độc lập trong quá trình tác nghiệp Đây là một lực cản không nhỏ trong quá trình triển khai mô hình này trên thực tế
Vấn đề tài chính cũng là một nhân tố quan trọng để các ngân hàng triển khai công tác quản trị rủi ro Để xây dựng được một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả đòi hỏi phải thuê các chuyên gia, các đơn vị tư vấn trong và ngoài nước, vận hành một thời gian dài mới đánh giá được hệ thống đó có phù hợp với quy mô hoạt động của ngân hàng đó hay cần điều chỉnh, sửa đổi… Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần yêu cầu về lợi nhuận từ các cổ đông cũng là một áp lực đối với các nhà lãnh đạo, quản lý khi cân nhắc giữa lợi nhuận và phòng tránh rủi ro Lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm, có khả năng mang về lợi nhuận cao thường có mức độ rủi ro cao
Trình độ, kinh nghiệm của cán bộ làm công tác quản trị
Con người là nhân tố quan trọng nhất quyết định chất lượng quản trị RRTD, bởi vì con người là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động tài chính theo phương pháp, kỹ thuật của mình Con người là trung tâm liên kết phối hợp các nhân
tố khác trong quản lý, chi phối các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị RRTD
Quản trị RRTD còn là việc phát hiện, đưa ra các dấu hiệu dẫn đến rủi ro tín dụng trên quan điểm cá nhân nhưng chất lượng quản trị lại ảnh hưởng đến tài sản của cả ngân hàng Trong công tác quản trị của ngân hàng, cán bộ quản trị là người trực tiếp thu nhận thông tin từ các nguồn và thực hiện toàn bộ quy trình quản lý Lấy thông tin gì? Chất lượng ra sao? hoàn toàn do người quản lý quyết định, áp dụng phương pháp quản trị gì, các chỉ tiêu nào, kỹ thuật phân tích ra sao cũng phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độ của người quản trị
Quản trị RRTD không phải công việc đơn giản, đòi hỏi cán bộ quản trị không những phải có kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ, am hiểu các lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng mà còn phải nắm vững các kiến thức về kinh tế, pháp luật, tâm lý học và phải nhanh nhạy trong thực tế Bên cạnh đó, tính kỷ luật cao và
Trang 31phẩm chất đạo đức tốt của người quản trị cũng đảm bảo cho chất lượng quản trị RRTD, sự an toàn trong hoạt động cho vay, mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng Kinh nghiệm của cán bộ quản lý cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản trị RRTD, như qua nhiều lần tiếp xúc với khách hàng họ có thể đánh giá được khách hàng nào là trung thực, khách hàng nào là thiếu trung thực nhờ biết quan sát, phân tích, đánh giá tâm lý và nhận diện được khách hàng, từ đó đưa ra kết luận quản trị hoàn chỉnh hơn
Xu thế phát triển kinh tế của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế, chắc chắn
sẽ tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng do vậy việc thu hút và sử dụng nhân tài (trong đó có những người làm công tác quản trị) được quan tâm hàng đầu Chính vì thế, điều này đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ quản trị RRTD nói riêng
Trên thực tế, việc quản trị RRTD ngày càng được các ngân hàng đặc biệt chú trọng và được đề cập nhiều bằng việc đưa ra các mô hình nghiên cứu và ứng dụng trong quản trị RRTD Khía cạnh rủi ro đạo đức tuy đã được nghiên cứu nhưng rất khó đo lường vì tính chất định tính và việc quản trị là rất khó khăn do liên quan đến yếu tố con người Do đó, có thể nói đây là yếu tố tiên quyết đến hiệu quả quản trị RRTD
Cơ cấu tổ chức bộ máy cấp tín dụng và bộ máy quản trị rủi ro tín dụng
Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức bộ máy cấp tín dụng và bộ máy quản trị RRTD tốt, phù hợp tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế là một phương thức quản lý rủi ro bài bản góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản trị RRTD Do đó, các Ngân hàng luôn cơ cấu, sắp xếp lại bộ máy tổ chức tín dụng, hoàn thiện cơ chế quản trị RRTD nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng
Hệ thống thông tin và xử lý thông tin trong quá trình quản trị
Trong quá trình quản trị RRTD, ngân hàng phải tiến hành thu thập các tài liệu, thông tin cần thiết cho việc phân tích, đánh giá khách hàng, dự án và tiến hành sắp xếp các thông tin một cách hợp lý, khoa học theo các nội dung của quy trình quản
lý Nhưng để có những kết quả tính toán chính xác về hiệu quả dự án, phương án thì
Trang 32cán bộ quản lý rủi ro tín dụng cần phải có lượng thông tin đầy đủ, chính xác về dự
án, phương án trên nhiều mặt, nhiều góc độ khác nhau
Thông tin có thể được ngân hàng thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Từ khách hàng của ngân hàng (Trong đó hồ sơ xin vay vốn của khách hàng là nguồn thông tin cơ bản nhất); Từ các trung tâm thông tin tín dụng; Từ các nguồn thông tin tài chính phi tài chính khác hoặc căn cứ vào các dự án, phương án vay vốn cùng loại
đã và đang thực hiện
Trong thời kỳ hội nhập như ngày nay với tốc độ phát triển khoa học công nghệ như vũ bão, ngày càng có nhiều nguồn thông tin hữu ích phục vụ cho công tác quản trị RRTD Tuy nhiên, với việc bùng nổ thông tin thì việc xử lý, sàng lọc và chọn lựa những thông tin chính xác, có giá trị có thể đưa vào hệ thống quản lý thông tin nhằm tạo điều kiện tốt nhất để phục vụ hoạt động quản trị RRTD là một việc đang còn khó khăn của các ngân hàng hiện nay
Thông tin không chính xác thì việc quản trị không có ý nghĩa Sự thiếu thông tin sẽ khiến cho việc quản trị có chất lượng không tốt hoặc không thể tiến hành quản lý được, những thông tin không cân xứng sẽ dẫn tới lựa chọn đối nghịch, gây rủi ro cho ngân hàng Tính kịp thời của thông tin cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quản trị vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ của ngân hàng với khách hàng mà còn có thể làm mất đi cơ hội tài trợ cho dự án tốt trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay Bên cạnh đó thì phương pháp thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin của ngân hàng cũng rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến chất lượng thông tin
và khả năng đảm bảo thông tin cho công tác quản trị tài chính dự án đầu tư
Như vậy, vai trò của thông tin là rất quan trọng Để có thể thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin một cách chính xác cần có cơ sở dữ liệu và các trang thiết bị hỗ trợ cho quá trình quản lý như các phần mềm chuyên dụng là các nhân tố quan trọng triển khai các biện pháp quản trị RRTD có hiệu quả
Trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ
Cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, các ngân hàng không ngừng đưa nhanh các ứng dụng của công nghệ vào trong hoạt động của ngân hàng
Trang 33và hiện đại hóa hệ thống thông tin của mình Các ngân hàng chú trọng đến công nghệ thì khả năng quản trị rủi ro được tăng cường thông qua quá trình giám sát trên
hệ thống phần mềm Hơn nữa các ngân hàng cần cập nhật các công nghệ ứng dụng mới trong quá trình quản trị để nhanh chóng thích ứng với sự xuất hiện của các loại rủi ro mới Các trang thiết bị hiện đại ngày nay đã hỗ trợ nhiều trong công tác quản trị RRTD Sự phát triển của các máy tính hiện đại và việc ứng dụng các phần mềm chuyên dụng giúp các ngân hàng lưu trữ được cơ sở dữ liệu lịch sử lớn, nhất quán của khách hàng từ đó tính toán các chỉ tiêu nhanh chóng, chính xác hơn, từ đó, rút ngắn được thời gian quản trị RRTD Ngân hàng có thể giải quyết được một khối lượng lớn thông tin xung quanh các dự án, phương án, có khả năng truy cập nhanh chóng vào các cơ sở dữ liệu, khai thác các thông tin cần thiết cho quản lý, áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại, sử dụng những mô hình ma trận, hàm
số phức tạp nhưng vẫn có thể tính toán, phân tích và dự đoán một cách nhanh chóng, chính xác Do đó, chất lượng quản lý rủi ro tín dụng ngày một nâng cao Trên đây các nhân tố chính, ngoài ra còn có các nhân tố khác như chiến lược
và định hướng hoạt động tín dụng, năng lực, đạo đức của cán bộ làm công tác tín dụng cũng ảnh hưởng đến quản trị RRTD ngân hàng
1.3.4.2 Nhân tố khách quan
Chu kỳ phát triển kinh tế
Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín dụng cũng sẽ tăng trưởng theo và ít rủi ro hơn Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái thì sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thu hẹp hoặc đình trệ, dẫn tới thua
lỗ và bị phá sản Nếu ngân hàng vẫn mạo hiểm tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì khả năng rủi ro không thu được nợ sẽ tăng lên
Môi trường kinh tế xã hội
Hoạt động của ngân hàng gắn liền với những biến đổi của môi trường kinh tế cũng như chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Bởi vậy, một ngân hàng dù có
hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả đến đâu mà đặt trong một môi trường kinh tế bất
ổn thì cũng khó có thể phát huy được hiệu quả
Trang 34Những biến đổi của môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng có thể kể đến như sự biến động của tỷ giá, lãi suất, thị trường xuất nhập khẩu…
Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế
Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới có thể làm cho nợ xấu ngày càng gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt, khiến những khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy
cơ thua lỗ và quy luật đào thải khắc nghiệt của thị trường Thêm vào đó, sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài cũng khiến cho các ngân hàng trong nước nếu không quản trị RRTD hiệu quả bị lép vế và mất dần các khách hàng
có tiềm lực tài chính lớn
Môi trường pháp lý
Hệ thống luật pháp có liên quan đến hoạt động tín dụng và các văn bản dưới luật Hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, đồng bộ là cơ sở sẽ tạo thuận lợi cho mọi hoạt động trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, hệ thống pháp luật chỉ thực sự phát huy được tác dụng khi được tuân thủ một cách nghiêm túc có sự giám sát của các cơ quan chức năng Có thể khẳng định rằng, môi trường pháp lý hoàn chỉnh là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác quản trị rủi ro NHTM, trong đó có công tác quản trị RRTD
Chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật của quốc gia ban hành chưa đầy
đủ, kịp thời, thiếu tính đồng bộ, có nhiều kẽ hở, sự quản lý lỏng lẻo hoặc sách nhiễu của các cấp chính quyền gây khó khăn trong việc quản trị RRTD của các NHTM Hậu quả là nợ quá hạn, nợ xấu và nguy cơ RRTD sẽ cao Ngược lại nếu chủ trương, chính sách và pháp luật được ban hành đẩy đủ, kịp thời, đồng bộ sẽ góp phần tích cực vào hiệu quả quản trị RRTD
Khách hàng vay vốn
Có thể thấy rõ RRTD xuất phát từ phía khách hàng vay vốn chia làm hai loại đối tượng (1) không thực hiện nghĩa vụ cam kết; (2) không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết Cũng không ít khách hàng để đạt được mục tiêu vay vốn của
Trang 35mình đã tạo hồ sơ giả, hợp đồng mua bán vòng vo nhằm vay vốn ngân hàng Điều
đó đòi hỏi NHTM nói chung, cán bộ tín dụng, thẩm định nói riêng phải làm tốt, chính xác việc phân loại đối tượng phòng ngừa rủi ro tương ứng, hữu hiệu
Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây rủi ro trên đây giúp chúng ta nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó có được đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong công tác quản trị RRTD của NHTM một cách hữu ích, thiết thực hơn
Ngoài ra các nhân tố như môi trường kinh tế không ổn định: sự biến động quá nhanh của thị trường thế giới; rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế; sự gắn kết giữa các hiệp hội và cơ quan chính quyền với NHTM cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị RRTD
1.4 Kinh nghiệm quản trị RRTD của một số ngân hàng
1.4.1 Kinh nghiệm quản trị rủi ro của các Ngân hàng
Ngân hàng Citibank của Mỹ
Thứ nhất, Citibank thực hiện đánh giá độ tin cậy của người đi vay theo
mô hình “Tín dụng 5C” như sau:
- Character of management: Năng lực quản trị của người vay
- Financial capacity of the venture: Năng lực tài chính của người vay
- Collateral security: Thế chấp đảm bảo khoản vay
- Condition of the industry: Lĩnh vực mà người vay hoạt động
- Condition of terms: Các điều khoản và điều kiện tín dụng
Để đưa ra quyết định chấp thuận hay từ chối cho vay thì các cán bộ phải đánh giá thận trọng, khách quan dựa vào các tiêu chí đề ra Việc xét duyệt cho vay bao gồm quá trình kiểm tra hồ sơ, kiểm tra việc thanh toán đúng hạn các khoản vay trước đó, kiểm tra và đánh giá TSTC cùng với mức độ rủi ro của khoản vay
Thứ hai, Citibank có sự phân biệt giữa quyền cấp tín dụng và quyền phê
duyệt
Quyền cấp tín dụng được ủy nhiệm cho CBTD dựa trên năng lực và tư
Trang 36cách, kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ học vấn và đào tạo của nhân viên mà không dựa vào chức vụ của cá nhân đó trong ngân hàng
Quyền phê duyệt, cấp tín dụng không do một người quyết định mà phải được sự nhất trí của ba CBTD – những người chịu trách nhiệm về cho vay và phải thông qua các chương trình tín dụng hay giao dịch tín dụng riêng lẻ
Ngân hàng Vietcombank: Với sự tư vấn của Ngân hàng ING (Hà Lan),
Vietcombank đã triển khai mô hình quản lý tín dụng mới trong toàn hệ thống từ tháng 7/2006 Những thay đổi cơ bản trong mô hình quản lý rủi ro tín dụng đang được ngân hàng này áp dụng là:
- Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng từ Hội sở chính đến các chi nhánh với sự phân cấp rõ ràng về mức phán quyết, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, đồng thời xây dựng các chính sách quản lý rủi ro tín dụng, chính sách phân bổ tín dụng, chính sách khách hàng, xây dựng danh mục đầu tư …
- Chuyển đổi mô hình quản lý theo chiều ngang sang mô hình theo chiều dọc Theo mô hình này, các nghiệp vụ kinh doanh chính, trong đó có hoạt động cấp tín dụng, được quản lý tập trung tại Hội sở chính, các chi nhánh chủ yếu làm chức năng bán hàng
- Phân tách bộ phận tín dụng thành các bộ phận chuyên môn khác nhau như quan hệ khách hàng (tập trung chủ yếu vào hoạt động tiếp thị, tiếp xúc khách hàng, khởi tạo tín dụng), bộ phận quản lý rủi ro tín dụng (thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và ra các ý kiến về cấp tín dụng cũng như giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộ phận quan hệ khách hàng), bộ phận tác nghiệp (thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệ thống máy tính và quản lý khoản vay…) Ngân hàng đã
và đang tiến hành quá trình cơ cấu lại bộ máy kinh doanh tín dụng theo hướng này
để phân định rõ chức năng đề xuất và thẩm định tín dụng nhằm đảm bảo tính khách quan trong hoạt động cấp tín dụng
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho NHTM Việt Nam
Công việc quản trị RRTD ngày càng trở nên cần thiết đối với các NHTM trong quá t nh hội nhập với thế giới và phát triển bền vững Quản trị RRTD
Trang 37không đơn thuần chỉ là xử lý nợ xấu mà còn bao gồm nhiều vấn đề như phòng ngừa, kiểm soát rủi ro Từ kinh nghiệm quản trị rủi ro của các ngân hàng trên, bài học kinh nghiệm rút ra cho các NHTM Việt Nam trong đó có SHB là:
Thứ nhất, NHTM phải nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của quản lý
tín dụng, cụ thể là xây dựng các thực hành tín dụng mới từ khâu hậu kiểm, tư vấn cho đến ra quyết định, đồng thời quản lý khoản vay dựa trên hệ thống phân tích và rà soát tín dụng NHTM cũng nên xây dựng một hệ thống đánh giá tín dụng dựa trên các tiêu chí tương lai thay vì dựa quá nhiều vào kết quả hoạt động trong quá khứ như trước đây, đồng thời đưa vào triển khai đồng bộ hệ thống cảnh báo sớm các khoản vay có vấn đề
Thứ hai, NHTM cần chú ý hơn đến việc phân quyền phán quyết tín dụng
nhằm tiết kiệm thời gian cũng như tăng tính trách nhiệm đối với CBTD về quyền quyết định của mình, phát huy tính sáng tạo, chủ động trong cho vay của họ
Thứ ba, NHTM thường xuyên tiến hành rà soát, báo cáo và kiểm soát rủi
ro Ngân hàng cần chú trọng đến việc nâng cao quản trị hệ thống và tránh các rủi ro tiềm ẩn bằng cách rà soát đều đặn các rủi ro chính như tín dụng, lãi suất, thanh khoản, thị trường sao cho các rủi ro này không vượt quá mức chấp nhận được Bên cạnh đó, NHTM tiếp tục hoàn thiện Hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ và hàng tháng phân tích các biến động về khối lượng rủi ro cho từng ngành cũng như doanh nghiệp nhằm đảm bảo không vượt quá các hạn mức đã xây dựng, từ đó duy trì nhất quán khẩu vị rủi ro của ngân hàng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua những nội dung đã trình bày trong chương này, chúng ta đã có cái nhìn tổng quan về rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng cũng như tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả Rủi ro tín dụng có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Các biện pháp phòng chống rủi ro cũng có thể nằm trong tầm tay của các ngân hàng nếu những nguyên nhân gây
ra rủi ro xuất phát từ nội tại bản thân ngân hàng như năng lực trình độ của cán bộ tín
Trang 38dụng, các biện pháp giám sát rủi ro trong suốt quá trình cho vay, các nguồn lực của ngân hàng Hoặc cũng có thể vượt ngoài khả năng kiểm soát của ngân hàng nếu những nguyên nhân xuất phát từ nội tại của nền kinh tế như các chính sách về thuế,
về nhập khẩu, về chính sách phát triển của nhà nước
Đối với tất cả các ngân hàng, công tác quản trị rủi ro đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng là yếu tố tối quan trọng, quyết định nhất
Dựa vào lý thuyết Chương 1, học viên áp dụng đưa ra các nhận xét, đánh giá
và phân tích chi tiết thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (SHB) tại Chương 2
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP SÀI GÒN HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu khái quát về NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội
2.1.1 Thông tin khái quát
* Tên giao dịch: Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB)
* Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 1800278630 do Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp, đăng ký thay đổi lần thứ 23 ngày 11/06/2014
đi vào hoạt động ngày 12/12/1993 với Vốn điều lệ là 400 triệu đồng, tổng tài sản là 1.117 triệu đồng
Ngày 20/01/2006, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kí quyết định
số 93/QĐ- NHNH về việc chấp thuận cho SHB chuyển đổi mô hình từ Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn sang Ngân hàng thương mại cổ phần, từ đó tạo được thuận lợi cho Ngân hàng có điều kiện nâng cao năng lực về tài chính, mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, đủ sức cạnh tranh và phát triển, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của SHB và đây là Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị đầu tiên có trụ sở tại Thành phố Cần Thơ trung tâm tài chính- tiền tệ của khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long
Năm 2008, SHB chuyển trụ sở chính từ Cần Thơ ra thủ đô Hà Nội và tăng vốn điều lệ từ 500 lên 2.000 tỷ đồng khẳng định bước ngoặt lớn trong quy mô, vị
Trang 40thế, tiềm lực của SHB
Năm 2009, SHB là ngân hàng thứ 3 trong khối NHTMCP Việt Nam chính thức niêm yết 200 triệu cổ phiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội với mã chứng khoán SHB
Năm 2011, SHB đã chuyển đổi thành công 1.500 tỷ VNĐ trái phiếu chuyển đổi phát hành năm 2010 để nâng vốn điều lệ của SHB lên 4.815,8 tỷ đồng SHB từ chỗ là ngân hàng TMCP nông thôn với số vốn điều lệ rất khiêm tốn đã trở thành ngân hàng TMCP đô thị, niêm yết trên thị trường chứng khoán và ngày nay đã là một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu của Việt Nam
Ngày 28/8/2012, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank) được chính thức sáp nhập vào Ngân hàng SHB Năm 2012 SHB khai trương chi nhánh Campuchia
và Lào, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chiến lược mở rộng mạng lưới tại thị trường Đông Dương
Sau khi sáp nhập thành công Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank), SHB vươn lên đứng trong hàng ngũ 10 ngân hàng TMCP lớn nhất của Việt Nam với tổng
số vốn điều lệ 8.865 tỷ đồng và trở thành hình mẫu điểu hình trong việc thực hiện chủ trương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Năm 2015 SHB đã sáp nhập thành công với Công ty tài chính Cổ phần Vinaconex - Viettel nâng vốn điều lệ lên 9.485 tỷ đồng
Đến 31/12/2015, SHB đã có 01 Trụ sở chính, 01 Trung tâm kinh doanh, 55 Chi nhánh, 336 điểm giao dịch tại hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước; 04 chi nhánh tại Campuchia, 01 chi nhánh tại Lào SHB đã khẳng định vị thế ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam