1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Tim hieu them ve hoang sa lịch sử 12 nguyễn văn xá

50 838 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 18,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê-Quý-Đôồn viết vào năm 1776 Đi tới, số 4 và 5 năm 2001, trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí viết năm 1821 của Phan Huy Chú, trong Đại Nam Thực Lục Tiền Biê

Trang 1

DAI CUONG VE QUAN DAO HOANG SA

Thém Son Ha

Loi mé dau

Sau những lần điều nghiên, chuẩn bị và giai đoạn cuối cùng là thao dượt đã diễn ra trong khu vực hải cảng Pei-Hai (khu quân sự Kuang Chou - Quảng Châu), từ khoảng giữa tháng 12 và có thể điễn ra sớm hon trong khoảng tháng 9 năm 1973 Ngày 20 tháng I năm 1974, Trung Cộng đã xử dụng một lực lượng hùng hậu gâm 1 khu trục ham loai Jiangnan trang bi dai bac 100 ly, 2 tuần duyên hạm loại Shanghai trang bị đại bác 37 ly, từ 4 đến 6 tàu đánh cả ngụy trang, chuyên chở khoảng 600 quân lính (khoảng

100 lính cho mỗi tàu đánh cá) thực hiện cuộc hành quân đồ bộ dau tiên lên đảo Cam-Tuyển và tiếp theo lên đảo Hoàng-Sa Mặc đù đã chỗng trả mãnh liệt nhưng vì yếu thế, toán Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trên dao Cam-Tuyén va todn Dia phương quân cùng với nhóm Công bình, nhóm nhân viên đài Khí Tượng và viên chức Mỹ tên Gerald E.Kosh trên đảo Hoàng-Sa đã bị Trung Cộng bắt làm tù binh

Như vậy là kể từ ngày 20 tháng 1 năm 1974, quân đảo Hoàng-Sa đã hoàn toàn bị Trung Cộng chiếm đóng

Hình ảnh các đảo thuộc Quần đảo Hoàng Sa

WOODY ISLAND (Dao Pho Lam - Yunghsing Tao) (Xin dat mii tên chuột vào Tên cua dao (ban dưới), hình sẽ hiện lên trên.)

ope Reef 02.Bombay Reef 03.Discovery Reef 04.Lincoln Island

' Island 06.North Reef 07.PassuKeah Island 08.Pattle Island

t Island 10.Triton Island 11.Vuladdore Reef 12.Woody Island

I.- DIA LY

Quần đảo Hoàng-Sa còn có tén la Paracel, ten Trung-Hoa là Xisha hay Hsisha Nguyên thủy chữ Paracel là đến từ chif Pracel (ting BO-Dao-Nha - Portugal) có nghĩa là đá-ngầm Trong bản đồ do Thornton vẽ vào năm 1703 có tên là ï Pracell Ngoài ra, có thuyết cho Paracel là tên một thương thuyền Hòa-Lan bị đắm chìm tại vùng này hồi thế kỷ thứ 16,

Quần đảo Hoàng-Sa nằm về phía Đông bờ biển Trung phần Việt-Nam trong vùng biển Đông (South China Sea), cách quần đảo Trường Sa độ 500 hải lý, chiếm một diện tích khoảng 15.000 km2, vị trí nằm trong khoảng từ kinh độ 111 độ E (Đồng) đến 113 độ E (từ đảo Tri-Tôn đến đảo Linh-Côn)

và từ vĩ độ 15o45' N (Bắc) đến 17o 00' N (từ đảo Tri-Tôn đến bãi Đá-Bắc) Nếu lấy đảo Hoang-Sa (Pattle Island) lam tiéu chuẩn thì khoảng cách từ đảo

Trang 2

mom da chi quan sat dude khi thuy triéu xu6éng thấp chẳng hạn như bãi đá Bắc (North reef), hoặc có vài mõm đá lúc nào cũng nhô lên khỏi mặt nước,

có mốm cao đến khoảng vai feet như bãi đá Lồi (Discovery reef), bãi đá Bombay (Bombay reef), bãi đá Chim Yến (Vuladdore Reef)

Trong số này,khoảng 30 đảo, đá ngầm, bãi can và côn cát đã được đặt tên, đo đạc và ghi chú trên bản đồ

Trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê-Quý-Đôồn viết vào năm 1776 (Đi tới, số 4 và 5 năm 2001), trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí viết năm 1821 của Phan Huy Chú, trong Đại Nam Thực Lục Tiền Biên năm 1844 và trong Đại Nam Nhất Thống Chí viết từ năm 1865 đến 1882 (Lưu-Vän-Lợi) đều cho là quần đảo Hoàng-Sa gồm khoảng 130 hòn đảo, bãi cạn và đá ngầm; điều này rất phù hợp với dữ kiện của co quan CIA Mỹ trong The World Factbook (tháng 1, 2006): "Quần đảo Hoàng-Sa gồm có 130 đảo san hô nhỏ và đá ngầm được chia thành nhóm Amphitrite ở hướng Đông Bắc và nhóm Crescent

ở hương Tây ." Điểm này đã chứng tỏ sự nhận xét thật tỉnh tế của các nhà viết sử Việt-Nam ngày trước

Những hòn đảo trong quần đảo Hoàng-Sa nằm trên thầm lục địa tạo nên bởi lớp 'humite', đáy biển không sâu lắm, trung bình khoảng 200m (trong vùng Trường-Sa, độ sâu đáy biển thay đổi đột ngột đến cả ngàn mét, trong khu vực Palawan thuộc Phi-Luật-Tân chiều sâu đo hơn 5.000m)

Diện tích tổng cộng của các đảo không quá 10Km2 (3.86 sq/miles) lớn nhất là đảo Linh Côn Không có đảo nào cao quá 15m (50 ft) tính theo mực nước trung bình, trên dao tro troi cát và đá, chỉ có 3 đảo Hoàng-Sa, Phú-Lâm và Linh-Côn có nhiều cây cối nên dễ nhận diện; bao quanh đảo là đá và san hô nằm dưới đáy biển tạo nên sự khó khần cho tàu thuyền khi vô gần đảo, khi neo, cũng như hải hành ngang qua vùng biển này; nước biển quanh đảo trong suốt có thể nhìn sâu đến 40m

Tài liệu nghiên cứu về Hoàng Sa của Bộ Lục Quân Hoa Ky vào năm 1945 ghi nhận " Trong thời tiết tốt và bầu không khí quang đảng các chiến hạm

và thương thuyền với sự quan sát từ trên cao sẽ không gặp trở ngại khi hải hành giữa các bãi đá ngầm trong hai nhóm thuộc quần đảo Hoàng Sa Trong sương mù hay thời tiết xấu nên tránh xa khu vực này trừ khi tìm chổ để neo Có nhiều xác tàu chìm nơi đây”

Trong Phủ Biên Tạp Lục có ghi chép về Hoàng-Sa như sau: "Phủ Quảng-Ngãi, Huyện Bình-Sơn có xã An-Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiêu cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn cách nhau bằng biển từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc đi vài canh thì đến Trên núi

có chỗ có suối nước ngọt Trong đảo có bãi cát vàng ước hơn 30 dậm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy "

Cần cứ vào sự hợp quần cùng khoảng cách sai biệt giữa các đảo, các nhà địa lý đã phần chia quần đảo Hoàng-Sa thành 2 nhóm Tuyên-Đức và Nguyệt-Thiềm (sự sắp xếp các đảo, các bãi đá và cồn cát vào trong nhóm không đồng nhất giữa các nhà địa lý) Trong bài viết này tác giả đề nghị dùng kinh độ 112 làm tiêu chuẩn để phân biệt giữa 2 nhóm Tuyên Đức (nhóm Đông: ở phía Đông kinh độ 112) và nhóm Nguyệt Thiềm (nhóm Tây: ở phía Tây kinh độ 112)

Ban Đồ Quần đảo Hoàng Sa tổng quát

West sand eda edt Tay <> Late ing Nik ing Md a

Nam South sand Wot island dio Phi time90 DO Rocky stand D

“Lincoln island

30

40

bal Xo Cir Observation bank Xen

Patleklapdđếo /feàng Sa" Ế ˆ ` ^,, at - iid Thap Pyramid rock

wy Ow arid Dey Mirae Drummond island ae: vo

Đi dị - tảo Quang Hòa island |

Money island Hai Sd Aniclope rect Ñ a a Quin : kkhangire bank

bil dé Chime You Vuladdore reef 8 oe Lee

A PHIAibt

Ce

quan đão Hoàng Sa Paracel islands

1 - Nhóm Tuyên-Đức hay An-Vĩnh (Nhóm Đông)

(Amphitrite Group - Xuande Qundao, Hsuante Chuntao)

Tên Amphitrite xuất phát từ tên chiến hạm Amphitrite của Pháp vào năm 1701 chở một nhóm người truyền giáo lần đầu tiên hải hành ngang qua đảo Hoàng-Sa trên đường đến Trung-Hoa Nhóm này có hình dạng nửa vầng trang mở rộng về hướng Tây Vùng đá ngầm ở về hướng cực Bắc đang khô cạn dần

Căn cứ trên hải đồ từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam gồm có các đảo, bãi đá ngầm, cồn cát như sau:

- Côn Cát-Tây hay đảo Tây (112o12'00 E - 16o58'00 N) (West Sand - Xisha Zhou, Hsisha Chou) là côn cát lớn nhất trong quần đảo

Trang 3

Hồng-Sa

- Dao Cay hay dao Cu-Méc (112016'00 E - 16059'00 N) (Tree Island - Shaoshu Dao, Zhaoshu Dao, Chaoshu Tao) Dao cĩ tên la dao Cay vi ngay gần giữa đảo cĩ cây dừa, diện tích khoảng 0,12 km2 (400m x 300m)

- Dao Bac (112018'00 E - 16058'00 N) (North Island - Bei Dao, Pei Tao), diện tích khoảng 0,13 km2 (914m x 137m)

- Đảo Trung hay đảo Giữa (112019'00 E - 16057'00 N) (Midle Island - Zhong Dao, Chung Tao), dién tich khoang 0,05 km2 (366m x 137m)

- Đảo Nam (112019'00 E - 16057’00 N) (South Island - Nan Dao, Nan Tao), diện tích khoảng 0,18 km2 (640m x 183m)

- Cồn Cát-Nam hay dao Ganh-Nam (112020' E - 16056'00 N) (South Sand - Nansha Zhou, Nansha Chou), dién tich khoang 0,08 km2

(366m x 229m)

- Dao Da hay Hịn Da, dao HOn-Da (11202100 E - 16051’00 N) ( Rocky Island - Shih Tao, Shidao) la dao cao nhất trong vùng khoảng 15m (tài liệu CTA viết là 14m)), diện tích 0,13 km2 (457m x 274m) Đảo ở về hướng Đơng Bắc và nằm trên cùng bãi đá ngâm với đảo Phú Lâm, cách dao này khoảng 1⁄2 mile Cĩ cây cầu nhân tạo bằng đất nối liền với đảo Phú Lâm

- Đảo Phú-Lâầm (112020'00 E - 16050'00 N) (Woody Island - Yongxing Dao, Yunghsing Tao)

Đây là đảo chính yếu của Trung cộng trong quần đảo Hồng-Sa trước và sau trận hải chiến ngày 19/01/1974 Đảo Phú Lâm nằm về hướng Đơng Nam đảo Hải Nam, cách khoảng 162 miles (300km) Từ năm 1974, Trung cộng đã phát triển đảo này trên các phương diện du lịch, kinh tế và nhất là về quân sự

Đảo Phú-Lâm cĩ hình dáng như con sị, được cấu tạo bởi san hơ và cát nằm trên bãi đá ngầm thật rộng là đảo lớn thứ nhì trong quần đảo HS (phần lớn các tài liệu đều cho Phú Lầm là đảo lớn nhất trong quần đảo HS) Diện tích đảo 2,006 km2 (1829m x 1097m), Khơng tìm thấy tài liệu viết về chiều cao cuả đảo Phú Lâm, nhưng dựa trên World Aero Data thì chiều cao phi trường trên đảo Phú Lâm là 14m (45ft) Đảo cĩ nhiều bụi rậm và cây cối nhất

là cây dừa Trên đảo cịn di tích ngơi chùa Phật rất xa xưa và một cần trại bỏ hoang, cĩ ngọn hai dang ở hướng Bắc tầm xa 13 miles, cd dai quan sat khí tượng mang ám số quốc tế 48-859 đã được người Pháp dựng lên khoảng trong 1943-1950

Những báo cáo cho là TC đã cĩ mặt trên đảo Phú Lâm trong nằm 1950 và 1951 chưa bao giờ được xác nhận, nhưng kể từ tháng 8-1955 sự hiện diện của họ đã được quan sát trong vơ số lần và cũng từ đĩ họ đã cho xây lên một số tồ nhà cố định và một số cơ sở giải trí cũng như bắt đầu đưa phụ nữ và trẻ con lên đảo

Tháng 12-1955 hộc tháng 1-1956 (dựa trên tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỷ) TC chánh thức chiếm cứ đảo Phú Lâm

Ngày 23-5-1956, phi cơ khơng thám Hoa Kỳ cho biết là cĩ khoảng 250 người trên đảo

- Tltis Bank (112o15'00 E - 16o45'00 N), bãi cạn này cách đảo Phú-Lâm khoảng 7 miles về hướng Tây Nam, bai dai khoang 3 miles, rộng khoảng 1,5miles

- Đảo Linh-Cơn (112044'00 E - 16040'00 N) (Lincoln Island - Dong Dao, Howu Tao) là đảo lớn nhứt trong quần đảo HS, nằm tận cùng về hướng Đồng, được bao phủ bởi bụi rậm, diện tích 2,11 km2 (2560m x 823m), chiều cao 4,5 m (15 feet), trên đảo cĩ giếng nước ngọt, nhà và tháp canh; vùng bãi cạn tiếp nối về hướng Nam cĩ chiều dài khoảng 8 miles, cĩ vài xác tàu chìm trong khu vực này

- Da Thap hay hon Kim-Tu-Thap (112038'00 E - 16034'00 N) (Pyramid Rock - Kaochien Shih) nam về Tây Nam đảo Linh-Cơn cách khoảng 7,5 miles, co hinh tháp nhọn cao 5m (17ft) và thật nhỏ từ xa nhìn như xác tàu chìm

- Bãi Gị-Nổi hay bãi Gị-Nơ (112o54'00 E - 16o49'00 N) (Dido Bank, Xidu Tan) Bãi cạn này nằm về hướng Đơng Bắc đảo Linh-Cơn cách khoảng 13 miles

- Bãi Thủy-Tề (vị trí trung bình 112o31'00 E - 16o30'00 N) (Neptuna Bank - Beibianlang Tan) nằm ở hướng Tây Nam Đá-Tháp, dài khoảng

10miles, ngang 1mile

- Bai Quang-Nghia (vi trí trung bình 112o41'00 E - 16o22'00 N) (J2ehangire Bank - Zhanhan Tan) dài khoảng 6miles, ngang khoảng 4miles nằm theo chiều dọc Trong hải đồ nắm 1984 ghi chú là bải đá ngầm (Jehangire reefs)

- Bãi Châu-Nhai (vị trí trung bình 112o27'00 E - 16020'00 N) (Bremen Bank - Bimmei Tan), bãi cạn này rộng nhất, dài khoảng 15miles,

ngang 4miles nằm theo chiều ngang

- Bãi đá Bồơng-Bay (112o32'00 E - 16o02'00 N) (Bombay Reef - Langhua Jiao, Pengpo Chiao) nằm ngang về hướng Đơng đảo Bạch-Qui cách khoảng 45miles, bãi cát hình bầu dục, dài khoảng 10miles, rộng khoảng 3miles

Trên hải đồ năm 1984 đã được cập nhật hĩa cho thấy cĩ một lỗi cho tàu thuyền vào bên trong ở về hướng Tây Nam, ngay trước lối vào cĩ ngọn hải đăng tầm xa 15 miles được xây trên một hịn đảo nhỏ tên là đảo Bombay rộng khoảng 190 mẫu bao phủ bởi bụi rậm và những cây trơ trọi, cĩ vài tịa nhà và một ngơi chùa xưa đã bị sụp đố Tàu thuyền được lưu ý cần phải thận trọng khi hải hành trong khu vực này

Cần cứ vào tài liệu do Hải quân Hoa Kỳ phổ biến vào tháng 1-1974 thì nhĩm Tuyên Đức cịn cĩ thêm :

- Cồn cát Bắc (112o2000 E - 16o58”00 N) (North Sand — Peisha Chou)

- Cơn cát Trung (112o2000 E —- 16o5700 N) (Middle Sand — Chungsha Chou)

(Crescent Group - Yongjo Qundao, Yunglo Chuntao)

Trang 4

dao Hoang-Sa Pattle island

dao Cam-Tuyén

(Hữu Vhẩt) Robert island

dao Duy-Méng

=r

(Quang -Ảnh) ntelone recf (Duncan island)

AS (eta es

Nhóm này xưa kia là miệng ngọn núi lửa, trên mặt đảo thường là đá tảng, một số bãi cát vàng và những bụi cây nhỏ (Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị) Hình dạng nhóm này giống như lưỡi liềm, ngoài ra khi nhìn trong bản đồ, nhóm này còn giống như lòng chảo với các đảo san hô, các bãi đá ngầm, bãi cát bao quanh bên ngoài

Trong nhóm lòng chảo này ba đảo Hoàng Sa, Duy Mộng và Quang Hòa có diện tích tương đương và hầu hết đều có giếng nước ngọt ngoại trừ đảo

Những hòn đảo, đá ngầm và bãi cạn trong khu lòng chảo theo thứ tự từ Tây sang Đông và theo chiêu kim đồng hồ gồm Có:

- Dao Vinh-Lac (111030'00 E - 16027'00 N) (Money Island - Jinyin Dao, Chinvin Tao) còn có tên là Quang-Ảnh để ghi nhớ Cai Đội Phạm Quang Ảnh đã được vua Gia-Long phái ra Hoàng-Sa đo đạc thủy trình vào năm 1815, hiện vẫn còn hậu duệ và nhà thờ họ ở cù lao Ré Ông và toán lính xuống thuyền ra khơi không bao giờ trở lại

Đảo do san hồ tạo nên, có cây và có nhiều chim nhất trong nhóm; đảo cao khoảng 6m, diện tích 0,23 km2 (732m x 320m), quanh đảo là những bãi cát ngầm cùng những bãi san hô kiên cố, địa thế không thuận tiện cho tàu bè, ngoài ra còn có một ngôi chùa dựng lên từ thế kỷ thứ 17

- Bãi đá Hải-Sâm (111o34!00 E - 16o28'00 N) (Antelope Reef - Linyang Chiao) nam về hướng Đông đảo Vĩnh-Lạc, hướng Nam đảo Cam- Tuyền; bãi đá đang cạn dần, có một côn cát cao khoảng 2m nằm ở hướng Đông Nam được bao phủ bởi những lùm bụi thấp

- Đảo Cam-Tuyền (111034! 00 E - 16031'00 N) (Robert Island - Camquan Dao, Lopaito Tao) còn có tên là Hữu-Nhật để ghi nhớ Suất Đội ( có

tài liệu viết là Cai Đội) Thủy quân Phạm- Hữu- Nhật đã được vua Minh-Mạng phải ra Hoàng- -Sa đo đạc, xem xét và vẽ bản đồ vào năm 1836 Chuyến đi của ông có mang theo mười tấm bài gỗ (mỗi tấm dài 4,5m, rộng 0,5m, dày 0 rim) để cắm cột mốc Nhiệm vụ của Ông là:” cặp vào đảo nào, họ cắm cột mốc, dựng bia chủ quyên ở đảo đó và đo đạc thủy trình, trông thêm cây cối, thu lượm hải vật ” Ông cũng là người ở Cù Lao Ré và đã bỏ mình ngoài biển khơi trong chuyến công tác sau cùng

Đảo có hình dáng giống như dĩa xôi hiện ra trên mặt biển, viền quanh đảo là một bãi cát vàng, ở giữa cao trội hắn lên, chiều cao khoảng 8m, diện tích 0,22 km2 (805m x 274m) (theo Gerald E.Kosh, đảo có kích thước 700m x 500m), có những lùm bụi hoang mọc vừa phải, vòng quanh đảo là bãi cát rộng từ 20m đến 50m, bãi đá ngầm từ hướng Tây Bắc có độ sâu khoảng 4m kéo dài đến hướng Đông có độ sâu khoảng 2m Trên đảo có một miếu nhỏ, một tấm bia ngang 3m, cao 0,4m có ghi hàng chữ Đệ I Tiểu Đoàn Đổ Bộ Thủy Quân Lục Chiến (TQLC); một tấm bia khác ghi TĐ3/TQLC ngày 05 tháng 12 năm 1963, 2 bể nước bằng xi-măng (TTHS) Theo tài liệu Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thì trên đảo có nhiều bụi rậm nhỏ và đá tảng, có một cầu sắt và một con đường đất xe đi được, giữa có một vũng lầy Theo tài liệu của Tòa Đại Sứ Việt-Nam tại Mỹ (Embassy) thì cây cầu sắt này dài khoàng 300m (327 yards) do người Nhật xây để việc chuyển vận phosphate được dễ dàng

Trước tháng 6-1956, ở cuối hướng Đồng Nam đảo có 5 túp lều

Theo tài liệu của Hải Quân Hoa Ky thi trong ngày 9 tháng 6 nằm 1956, phi cơ không thám Hoa Kỳ xác nhận sự có mặt của khoảng 75 dân TC trên đảo Cam Tuyền có vẽ như đang khai thác phân chim Ngày 10-6, họ được báo cáo từ phía Việt Nam là lính TC đã đổ bộ lên đảo Ngay sau đó khu trục hạm Hoa Kỳ đã được gởi đến tận nơi và đã đưa một toán lính đố bộ lên đảo mở cuộc tuần tiểu để điều tra nhưng kết quả cho thấy là toán người TC đã rời bỏ đảo

- Dao Hoang-Sa (111036'00 E - 16032'00 N) (Pattle Island - Shanhu Tao hay Shanhu Dao), tên đảo Hoàng-Sa được đặt từ đời nhà Nguyễn vì những bãi cát vàng quanh đảo

Đảo Hoàng-Sa nằm về hướng Đông Bắc đảo Cam-Tuyền và cách khoảng 3,5Km (khoảng 2 hải lý) Đảo này quan trong nhất trong nhóm Nguyệt-Thiềm

vì các cơ sở dan sự và quan sự của chính quyền Việt-Nam Cộng-Hòa đã được thiết lập tại đây

Đảo do san hô tạo nên, hình dáng giống như hạt đậu, cao khoảng 9m Diện tích 0,3 km2 (805m x 274m), trùng hợp với bài viết của Nguyễn Nhã (2) Theo sự quan sát của viên chức người Mỹ Gerald E.Kosh thì: " đảo có kích thước 800m x 400m ; trên đảo có 7 cơ sở cố định, một trong số này

là đài khí tượng, trên mặt đảo có rất nhiều lối đi mòn, có những lùm bụi hoang chỏ thưa chỏ rậm, bãi cát rộng từ 20 đến 30m, bao quanh đảo là bãi đá ngầm chiều sâu từ 2m đến 4m (1 đến 2fathom) và chiêu rộng cách bờ từ 300m đến 900m ", do đó các tàu thuyền lớn phải neo cách bờ hơi xa rồi

Trang 5

dùng thuyền nhỏ để chuyển người và vật dụng lên đảo

Năm 1938, người Pháp dựng lên bia chủ quyền và bắt đầu xây cất các cơ sở dân sự như đài khí tượng, trạm chuyển nhận tín hiệu, hải đẳng cùng với cơ sở quân sự cho khoảng một tiểu đoàn trú đóng

Theo Trân-Thế-Đức (TTĐ) thì vào cuối năm 1973, bia chủ quyền chỉ còn là một đống gạch và xi-măng vụn nát cùng với một khối vuông vuông cũng đang 'tàn phai nhan sắc; còn ngọn hải đăng nằm về hướng Bắc thì chỉ còn là đóng sắt vụn (theo tài liệu Tòa Đại sứ VN ở Mỹ thì người Pháp đã dự trù xây ngọn hải đẳng từ năm 1899 nhưng vì thủ tục hành chánh nên bị trì hoãn)

Ngoài các cơ sở trên, người Pháp còn đào một cái giếng để lấy nước uống nhưng theo tài liệu của Trần-Kim Diệp (TKD) (3) thì sau này nước giếng

có vị lờ lợ nên không dùng nấu nướng được, nước ngọt để dùng thì phải hứng từ nước mưa và được chứa trong một hồ bang xi-mang

Trong bản tin từ China News ngày 7 tháng 4 năm 2005 và từ People Liberation Army Daily ngày 6 tháng 4 năm 2005 đã loan tin là các khoa học gia quân đội Trung cộng đã tìm được nước ngọt trên đảo Hoàng-Sa có số lượng dụ trữ lên đến hàng triệu thước khối

Với sự khám phá này, nhu cầu nước ngọt trên đảo đã được giải quyết và các chiến hạm hoặc tàu thuyền hoạt động trong vùng cũng có thể ghé ngang đấy để được tiếp tế nước ngọt (China News - Chinamil.com) Cũng theo TKD thì hai dãy nhà do pháp xây đã sụp hết một dãy, dãy còn lại dùng làm nơi làm việc và cho ở cho 4 nhân viên đài Khí tượng Đà-Nẵng và toán lính trấn đảo

Trước mặt trại lính là sân bóng chuyền và cột cờ, ngay tại cột cờ có bia xi-măng do TĐ1/TQLC dựng lên (TKD) Ngay góc đảo về hướng Tây Nam thi miếu Bà được xây sau khi Nhật thất trận nhưng trước năm 1948

Năm 1832, Vua Minh-Mạng phái chiến thuyền và người ra đảo để cất lên ngôi chùa trên một mỏm đá có tên là Ban-Na, gần ngôi chùa , nhà Vua còn cho dựng lên một bia đá để ghi nhớ ngày dựng chùa (theo Embassy) Trên đảo còn dấu tích của một ruộng muối nhỏ ở phía Tây đảo (TTĐ); ngoài ra đường rầy dài khoảng 180m dùng để kéo những toa chứa phân phosphate đến bìa đảo vẫn còn, riêng cây cầu để tàu nhỏ cập vào thì không còn xử dụng được nữa

Cây cối trên đảo xanh tươi, có cây dừa, cây dương xen lấn với cỏ dại (TTĐ và Embassy)

Đài khí tượng có số 48-860 (48 là số ám hiệu vùng Đông Nam Á, 860 là ám số đảo Hoàng-Sa); một điểm đáng lưu ý là trong bản tường trình của

Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới trực thuộc Liên-Hiêp-Quốc (WMO - World Meteorological Organisation) vào năm 2000 vần còn ghi chú Đài Khí Tượng 48-

860 - Hoàng-Sa - Pattle thuộc nước Việt-Nam nhưng đã ngưng chuyển tin tức

Cũng cần ghi nhận thêm là ngày 3-10-1973 một chiến hạm của HQ/VNCH đã rời Đà Nẵng chở theo một toán chuyên viên của Tiểu Đoàn 8 Công Binh Kiến Tạo ra HS với nhiệm vụ thám sát địa điểm thích hợp để xây cầu tàu trên đảo Hoàng Sa và tái dựng lại bia chủ quyền trên đảo Cam Tuyền Chiến hạm trờ lại Đà Nẵng ngày 5-10 sau khi hoàn tất công tác -

Tiếp theo đó, ngày 14-1-1974 một phái đoàn Công binh thuộc Vùng T Chiến Thuật do Thiếu tá Phạm-Vằn-Hồng hướng dẫn đã được chỉ định tháp tùng Tuần dương hạm Lý-Thường-Kiệt HQ 16 ra đảo Hoàng-Sa để nghiên cứu việc thiết lập một phi trường trên đảo (nằm1967, một toán chuyên viên Công Binh đã thất bại trong việc nghiên cứu thiết lập một phi trường tại đây)

Đảo cao khoảng 4m, diện tích khoảng 0,3 Km2 (823m x 366m), không có loại cây lớn, chỉ toàn cây nhỏ, có nhiều chim biển và con vít sống trên đảo

- Dao Quang-Hoa (111042'00 E - 16027'00 N) (Duncan Island - Taochien Chuntao) là dao quan trong thứ nhì trong nhóm Nguyét-Thiém sau đảo Hoàng-Sa, gồm một đảo lớn tên Quang-Hòa-Đông và một đảo nhỏ tên Quang-Hòa-Tây chỉ bằng 1/10 đảo Quang-Hòa-Đồng, nối kiền hai đảo là một dãy cát dài

Phần đảo nhô cao khỏi mặt nước độ 4m, diện tích khoảng 0,3 Km2 (823m x 366m), có nhiều đá tảng va bãi cát

Ngoài khu vực lòng chảo còn có các đảo, bãi đá, bãi cạn sau đây:

- Bãi đá Bắc (111o30'00 E - 17o06'00 N (North Reef - Bei Jiao, Pei Chiao) nằm chơ vơ ở hướng cực Bắc của quần đảo Hoàng-Sa, bãi này rất nguy hiểm cho tàu thuyền, có 3 chiến hạm của Pháp và vài chiếc tàu khác đã chìm ở đây, bãi đá này dài khoảng 7miles, có một đảo cát nhỏ rất thấp, trên đảo có ngọn hải đăng tầm xa 15miles

Trang 6

- Bãi Đá-Lồi (vị trí trung bình 111o41'00 E - 16o14'00 N) (Discovery Reef - Kuanghua Chiao) nằm về hướng Nam lòng chảo cách đảo Quang- Hòa 11miles; bãi đá ngầm này lớn nhất trong quần đảo Hoàng-Sa, có chiều dài khoảng 15miles và chiêu ngang khoảng 8miles, có vài mốm đá cao khỏi mặt nước độ vài feet, có 2 lối vào vũng nước bên trong, một lỗi ở giữa hướng Bắc và một lối ở giữa hướng Nam

- Dao Bach-Qui hay Đá Bach-Qui (111047'00 E - 16003'00 N) (Passu Keah Island - Panchi Yu, Panshih Hsu) cach bai Da-Loi 10miles về hướng Nam, diện tích 0,2 km2 (1200m x 200m) bãi đá bao quanh đảo dài khoảng 5miles, ngang 2miles

- Bãi đá Chim-Yến (vị trí trung bình 112o01'00 E - 16o20'00 N) (Vuladdore Reef - Yuzhuoi, Yucho Chiao) nằm ở hướng Đông Nam lòng chảo (cách khoảng 14miles) và hướng Đông Bắc bãi Đá-Lồi (cách khoảng 10miles), chiêu dài khoảng 8miles, ngang khoảng 2miles, có một ít mõm đá cao hơn mặt nước

- Đảo Tri-Tôn (111o12!00 E - 15o47'00 N) (Triton Island - Zhongjian Dao, Chungchien Tao) là đảo nằm gần bờ biển Việt-Nam nhất, cách Cù Lao Ré khoảng 130 miles và là đảo lớn nhứt trong nhóm Nguyệt Thiêm, diện tích 1,7 km2 (1700m x 1200m) cao khoảng 3m nên rất khó nhận dạng, có báo cáo từ các nhà hàng hải cho biết là tàu thuyền không phát giác được đối tượng của đảo trên màn ảnh radar khi đến gân khoảng 1mile

Thang 10-1973 chién ham Hoa Ky mang tén Pendleton đã lên cạn và bỏ xác trong khu vực nay

- Bãi Ốc-Tai-Voi (112o15'00 E - 15o44'00 N) (Herald Bank nằm cùng vĩ độ với đảo Tri-Tôn

Từ ngày Trung cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng-Sa, đài khí tượng của Việt-Nam Cộng Hòa ngưng hoạt động, tuy nhiên qua những dữ kiện đã được chuyển đi từ trước thì nhiệt độ trung bình trên đảo Hoàng-Sa là 26oC và số lượng mưa trung bình trong năm là 124,3cm

Trên đảo Phú-Lâm, đài khí tượng của Trung cộng vẫn còn hoạt động và qua những dữ kiện tiếp nhận liên tục trong vòng 18 nằm đã cho thấy là nhiệt độ trung bình trên đảo Phú-Lâm là 27oC, nhiệt độ cao nhất là 33oC, thấp nhất là 13oC

- Mỗi nằm trung bình có 167 ngày mưa (mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 hoặc

tháng 7 và chấm dứt vào tháng 2)

- Mỗi năm trung bỉnh có 23 ngày có bão

- Mỗi nam trung bình có 6 ngày gió thổi cuốn theo bụi và cát

- Mỗi năm trung bình có 6 ngày tầm nhìn bị hạn chế

- Tốc độ gió thổi trung bình là 19Km/giờ

- Có độ ẩm xảy ra thường xuyên trong buổi sáng và buổi chiều

III.- SINH, THUC VAT

1 - Sinh Vat

- Trên đảo: Vì khí hậu quá khắc nghiệt nên không có sinh vật sống trên đảo ngoại trừ loài chim mòng biển và loại vịt biển Về mùa đông, loài chim này kéo về đây để nghỉ ngơi, sinh sản và trú ấn Những loại rùa, vít, đồi mồi cũng lên đảo để sinh sản từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch và loại chim yến cũng thường làm tổ trên một số đảo, do đó dân chúng từ các vùng đất liền vẫn thường hay tới các đảo lấy trứng chim biển, tổ yến, bắt đồi mồi, rùa và vít

- Dưới biển: Vùng biển Hoàng-Sa có đủ loại hải sản như sò, ốc, cua, mực, tôm, đủ loại cá như cá mú, cá bò, cá hồng, cá thu Có hai loại cá

kỳ dị như 'cá Khăn Bàn' lớn bằng khan trải bàn và có tôm hùm thật to, còn ốc thì có loại ốc Tai Tượng phơi khô nướng ăn khá ngon miệng Ngoài ra còn có loại rong biển có thể chế biến thành thực phẩm, các loại rùa,đồi mồi, vít có một số được xếp vào loại hiếm muộn

2 - Thực Vật

Trên các đảo nhỏ trong vùng hầu như không có đất hoặc có rất ít và với mùa khô kéo dài, gió mạnh thổi quanh năm nên cây cỏ không sống nổi Trên các đảo lớn như đảo Hoàng-Sa có sự hiện diện của loại thực vật sống ở miền nhiệt đới Cây cỏ trên Hoàng-Sa cũng tương tự như trên đảo Hải- Nam của Trung cộng gồm có các loại cây sống quanh näm, các loại bụi rậm và cỏ mọc ven biển; có khoảng 340 loại cây cỏ khác nhau được xếp vào 89

họ và 244 giống Trong số này có 22 loại nấm, 1 loại rêu, 5 loại cây dương xỉ và 312 loại cây nổ hoa

Có rất ít tài liệu viết về các loại cây cỏ trong vùng biển Đông nên rất khó xác định được loại giống nào được loài người mang đến trồng trên đảo Từ khi người Việt-Nam và người Trung-Hoa bắt đầu trú ngụ, họ đã mang theo từ đất liền khoảng 47 loại, trong số này có dừa, bắp, đậu phông, khoai lang

và đủ loại rau cải Theo tài liệu của Bộ Ngoại Giao Việt-Nam Cộng Hòa thì trên đảo Hoàng-Sa và Phú-Lâầm có trồng cây dừa; theo tài liệu của Trung cộng vào nảm 2000 thì trên đảo Phú-Lâm đã trồng được 90.000 cây dừa, một số cây tùng và cây loquat (thanh trà Nhật-Bản)

Theo Trần-Thế-Đức thì trên đảo Hoàng-Sa còn có những cây cao bằng đầu người, lá lớn bằng bàn tay màu xanh lá chuối non, thân cây cứng và có vài cây dương liểu, cây dừa, nhiều cây thông

Theo Trần-Kim-Diệp thì trên đảo Hoàng-Sa có một số lùm bụi thấp và rau sam

Theo Nguyễn Nhã trên đảo Quang Hòa Đồng có rừng cây nhàu và cây phosphorite nhiều cây cao đến 5m

IV.- SƠ LƯỢC VỀ TÂM QUAN TRỌNG CỦA QUAN ĐẢO HOÀNG SA

Với những hòn đảo san hô trơ trọi không người sinh sống, đất đai thì không thích hợp cho việc trồng trọt, nước nôi thiếu thốn, điều kiện thời tiết thật là khắc nghiệt Cho đến Thế chiến thứ 11 những hòn đảo trong vùng biển Đông chỉ có giá trị cần cứ vào số lượng phân chim

Nhận định này đã trở nên lỗi thời kể từ khi Nhật Bản nhận thức được tầm quan trọng về mặt chiến lược và quân sự nên đã chiếm đóng một số đảo trong vùng biển Đông, tuy nhiên vì thua trận trong Đệ II Thế Chiến nên họ đã rút quân ra khỏi những đảo này

Trong cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, với sự khám phá các túi chứa dầu hỏa trong khu vực thêm lục địa tiếp cận với các quốc gia bao quanh biển Đông, với tiềm nắng về hải sản và phốt phát đã có từ trước, cộng thêm vào sự giao thông tấp nập của các thương thuyền và tàu chở dầu do sự phát triển kinh tế vược bực của Trung Cộng, Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan đã làm nâng cao giá trị và tầm mức quan trọng của Hoàng Sa về các khía cạnh chánh trị, chiến lược, kinh tế và bảo vệ môi trường

1.- Về chánh trị: những sự tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo trong vùng biển Đông vẫn còn tiếp tục cho đến ngày hôm nay Để xác nhận chủ quyền và để phô trương lực lượng, các quốc gia tuyên bố xác nhận chủ quyền đã phải tiếp tục duy trì sự hiện diện thường xuyên của lực lượng Hải, Lục và Không quân trong vùng Điều này có thể dẫn đến các cuộc xung đột vũ trang và từ đấy có thể đưa đến sự xáo trộn và khủng hoảng nội bộ trong các nước bao quanh vùng biển Đông do sự phong tỏa các đường hải vận

Khủng hoảng về kinh tế và quân sự có thể mang lại sự thay đổi cấp lãnh đạo và từ đó có thể làm đảo ngược thế liên minh trong vùng

2.-Vê chiến lược: tầm quan trọng vê chiến lược bao gồm hai lãnh vực quân sự và giao thông hàng hải

Trang 7

a.-Về quần sư : sự duy trì và xây dựng các cơ sở quân sự trên các hải đảo trong vùng là điều kiện thiết yếu để cũng cố chủ quyền và phát triển các nguồn lợi quanh vùng Từ thập niên 1930 người Pháp đã cho xây dựng một số cơ sở quân sự, duy trì liên tục lực lượng trú phòng và biệt phải chiến hạm thường xuyên tuần tiểu trong vùng

Thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, người Nhật cũng đã có cái nhìn tương tự khi họ mang quân chiếm đóng Hoàng Sa Sau khi thất trận họ đã rút lui trong nam 1946

Thang 12-1946 quan đội Trung Hoa Quốc Gia của Tống Thống Tưởng Giới Thạch đã phái chiến hạm chở quân đổ bộ lên chiếm đóng một số đảo trong nhóm Tuyên Đức

Năm 1956 (một số tài liệu viết là 1954), quân đội VNCH đã thay thế quân trú phòng Pháp khi họ rút khỏi đảo Hoàng Sa và hiện diện liên tục cho đến ngày 20-1-1974 Các chiến hạm thuộc HQ/VNCH đã có những chuyến công tác định kỳ để thay thế toán lính và nhân viên đài khí tượng trên đảo này

Trong khi đó vào đầu năm 1956, TC đã đổ bộ quân lên đảo Phú Lâm và bắt đầu thiết lập trạm quan sát, truyền tin, xây cất cầu tàu và cơ sở quân

- Lục Quân: trên hầu hết các đảo trong nhóm Nguyệt Thiêm, TC đã xây lên các doanh trại đáp ứng cho nhu cầu cả một Trung Đoàn Bộ binh, đào các đường hầm để dự trữ nhiên liệu, thiết lập các công sở phòng thủ và các đài truyền tin Trên đảo Tri Tôn là đảo gần bờ biển Việt Nam nhất cũng được trang bị đại bác và dụng cụ truyền tin Ngoài ra tỉnh báo Hoa Kỳ tháng 6-2001 cho hay là trên đảo Phú Lâm TC đã thiết trí phi đạn chống chiến hạm loại HY-2 có khả năng đánh chìm chiến hạm trọng tải lên đến 3.000 tấn

- Không Quân: để bành trướng lực lượng Không quân vào biển Đông, TC đã biến đảo Phú Lâm thành căn cứ không quân tiền phương với phi trường có phi đạo tráng nhựa dài 2,400m (5) (bài của Katsushi Okazaki viết là 2.600m, tài liệu CTA viết là từ 1,524 m đến 2,437m), ngang 52m để cho loại oanh tạc cơ hạng trung (medium bomber) H-6 và phi cơ chiến đấu F8 xử dụng và xây các bồn dự trữ nhiên liệu dùng cho phi cơ Với phi trường này, Không quân TC có khả năng hoạt động bao trùm cả Việt Nam, Đài Loan và Phi Luật Tân Theo nhà phân tích quân sự Hoa Ky Richard Fisher thi đảo Phú Lâm có thể được xem như là một hàng không mẫu hạm bí mật của TC trong biển Đông

- Tình báo: đảo Đá (Rocky island) với vị trí cao nhất trong quần đảo HS đã được chọn để dựng lên đài dò tìm tín hiệu STGINT (Signals

Intelligent) trao đổi giữa phi cơ và chiến hạm Đài này đã bắt đầu hoạt động từ năm 1995, tầm hoạt động bao gồm cả Phi Luật Tân, quần đảo Trường

Sa và eo bién Malacca Ngoài ra để mở rộng hệ thống tỉnh báo, TC còn xử dụng 6 chiến hạm có trang bị SIGINT Mặt khác một số tàu dầu, tàu tiếp tế cho tàu ngầu, tàu phá bằng cũng được trang bị dụng cụ ELINT (Electronic Intelligent) để theo dõi sự di chuyển của các chiến hạm hoạt động trong vùng biển Đông Sau cùng trong bản tin của đài BBC ngày 2 tháng 3-1998 thì TC đang xây đài tiếp vận tín hiệu từ vệ tinh trong quần dao HS Tóm lại với các căn cứ Hải/Không Quân và lực lượng Bộ binh trú đóng trên hầu hết các đảo, với hệ thống thu thập tin tức tình báo trải rộng ra khắp biển Đông, với sự tối tân hóa Hạm Đội gồm các chiến hạm đủ loại trong đó có tàu ngầm nguyên tử và với nổ lực đóng chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên dự trù hoạt động vào năm 2010, TC đã có khả năng phòng thủ, bành trướng, can thiệp nhanh chóng khi có biến cố xảy ra và điểm quan trọng nhất là TC có đủ khả năng mở ra các cuộc hành quân để chiếm trọn tất cả các hải đảo trong biển Đông

Để chế ngự TC, ngoài thế liên minh quân sự đã có sẵn với các nước Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân và Úc Đại Lợi, Hoa Kỳ đã và đang cố gang cải thiện hợp tác quân sự với Ấn Độ, Nam Dương và Việt Nam Trong khoảng thời gian gần đây, Hoa Kỳ đã gia tắng ngân khoản để cải tiến cần

cứ quân sự trên đảo Guam như là một sự thay thế cho căn cứ Subic bay mà Hoa Kỳ đã rút khỏi vào năm 1992

b.-Giao thông hàng hải : biển Đông bao phủ một khu vực rộng đến 3,5 triệu km2, nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và là gạch nối quan trọng giữa các lục địa Á Châu, Âu Châu, Phi Châu và Úc Châu

Chiếm đoạt Hoàng Sa và Trường Sa sẽ kiểm soát hải trình vùng phía Bắc biển Đông và hải trình nối liền Thái Bình Dương và Đông Nam Á với Ấn Độ

Dương

Sự phát triển kinh tế vượt bực của các nước trong vùng biển Đông đã làm gia tăng số lượng hàng hóa, nguyên liệu và nhiên liệu xuất, nhập cảng do

đó việc xử dụng thương thuyền để làm phương tiện chuyên chở cũng tăng theo

Điều này đã biến hải trình ngang qua biển Đông trở thành một trong những hải trình bận rộn nhất trên thế giới (đứng hàng thứ 2) Mỗi nằm có hơn 1⁄2 hạm đội thương thuyền trên thế giới đi ngang qua eo Malacca vào biển Đông (khoảng 50,000 thương thuyền)

Ngoài ra do nhu cầu gia tăng tiêu thụ nhiên liệu khoảng 80% số lượng dầu thô nhập cảng vào TC, Nhật, Đài Loan và Nam Hàn cũng đi ngang qua khu vực này

Những dẫn chứng kể trên cho thấy sự phát triển kinh tế của TC, các quốc gia trong vùng biển Đông và vùng Đông Bắc Á Châu lệ thuộc rất nhiều vào sự an toàn và tự do thông thương của thủy trình huyết mạch này

Đây cũng là lý do chánh yếu để TC thôn tính và dành lấy chủ quyền các hải đảo và đây cũng là lý do mà Hoa Kỳ sẽ không làm ngơ khi TC có hành động ngắn trở hoặc phong tỏa thủy trình này vì sẽ liên hệ trực tiếp đến quyền lợi của Hoa Kỹ

Trang 8

HAI TRÌNH CHÍNH YÊU TRONG VÙNG ĐÔNG NAM Á

Hải trình ngang qua biên Đông Dwa trén “CRS Report for Congress” an ban April 4, 2006 trang 21

3.- Vé Kinh Té:

a.-Dầu hỏa và khí đốt: tầm quan trọng về triển vọng dầu hỏa và khí đốt trong khu vực quần đảo HS nói riêng và biển Đông nói chung thực sự chỉ được chú ý đến kể từ khi các quốc gia bao quanh và lân cận vùng biển quần đảo Trường Sa như Brunei, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Phi Luật Tân và Việt Nam khám phá các mỏ dầu trong thêm lục địa của họ vào đầu thập niên 70

Những cuộc thầm dò tiếp theo với kết quả thật khả quan về triển vọng đầu hỏa và khí đốt trong biển Đông nhất là trong khu vực quần đảo Trường

Sa tiếp cận với thêm lục địa của các quốc gia nêu trên càng làm gia tắng sự chú ý về tiềm năng dầu hỏa trong vùng này

Cho đến nay tiêm năng dầu hỏa và khí đốt thực sự chỉ là trên lý thuyết căn cứ vào các cuộc thăm dò Kết quả đã cho thấy sự khác biệt về con số ước lượng tùy thuộc vào cơ quan và quốc gia tổ chức cuộc thắm dò -

Dựa trên kinh nghiệm, những mỏ hydrocarbon được khám phá có thể chứa dầu và khí đốt lần lộn, hoặc chỉ chứa dầu hay chỉ chứa khí đốt mà thôi Theo sự ước lượng của Sở Khảo Sát Địa Chất Hoa Kỳ thì khoảng 60% đến 70% các túi dụ trữ trong các nước vùng biển Đông như Brunei, Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Phi Luật Tân và Việt Nam chứa khí đốt

Mức độ phát triển kinh tế và gia tăng dân số được xem là cao nhất trên thế giới của các quốc gia Á Châu đã làm gia tăng vượt bực nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu và khí đốt

TC đang từ nước xuất cảng dầu (chế biến từ than đá) trước thập niên 80 nhưng từ năm 2003, TC đã qua mặt Nhật Bản để trở thành nước nhập cảng dầu hỏa thứ nhì trên thế giới và cũng là nước đứng hàng thứ nhì về kinh tế trên thế giới sau Hoa Kỳ (theo tài liệu CTIA, nhưng theo World Bank thì

TC đứng hàng thứ tư)

Việc đi tìm những nguồn cung cấp nhiên liệu là điều kiện thiết yếu của TC Tháng 9-1993, Phó Đồ Đốc Zhang Xusan thuộc Hải quần TC tuyên bố :

"đã đến lúc Trung Hoa cần thay đối chiến lược biển và cố gắng nhiều hơn dé tim nguồn lợi dầu hỏa và khí đốt trong biển Đông." Đây là một trong những yếu tố chánh yếu đã đưa TC đến quyết định dùng vũ lực cưỡng chiếm HS

Vì thế sau khi chiếm đoạt HS, vào tháng 6-1974, TC đã bắt đầu khoan thắm dò trong khu vực này, nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy công bố kết quả

b.-Hải sản: vùng biển Đông rất phong phú về hải sản và nguồn lợi này đã nuôi sống người dân trong vùng từ thế hệ này qua thế hệ khác Ngư dân nước ta vần thường xuyên ra tận vùng này để hành nghề từ bao năm trước và vì Hải Quân VNCH không đủ khả nang để kiểm soát vùng biển quá rộng lớn nên ngư dân TC cứ tiếp tục vi phạm lãnh hải VNCH để khai thác hải sản Đầu năm 1959 Hải quân VNCH đã bắt giữ 80 ngư phủ TC trong khu vực lòng chảo nhóm Nguyệt Thiêm

Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế kèm theo sự gia tầng dân số của TC (dự trù tăng gia khoảng 250 triệu người từ 1980 đến 2020, theo CIA dân số

TC trong năm 2007 là 1,322 tỉ)) đã làm giảm di diện tích canh tác và đã đưa đến việc sản xuất nông nghiệp bị sút giảm Điều này đã làm cho các nhà lãnh đạo TC phải chú tâm đến những nguồn dinh dưỡng khác trong đó có hải sản Năm 1984, viên chức cao cấp trong chánh quyền TC đã khẳng định

Trang 9

là việc cung cấp thực phẩm hàng ngày cho số lượng dân quá lớn lao sẽ phải cần đến sự cung cấp chất protein lấy từ hải sản Báo chí TC năm 1989 đã đưa ra lập luận là 80% tài nguyên trên quả địa cầu nằm trong lòng đáy biển và hải sản sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng chính yếu có chứa chất protein Tổng số lượng hải sản trong biển Đông được ước lượng có thể khai thác đến 30 triệu tấn mỗi năm, nhưng hiện nay chỉ có khoảng 13% là được khai thác

Ngoài ra việc khai thác hải sản còn mang lại lợi tức cho gần 80 triệu người sinh sống dọc theo vùng duyên hải tiếp cận biển Đông và nguồn lợi thiên nhiên này đã có tự ngàn đời trước và sẽ còn mãi trong tương lai

c.-Phốt phát: vốn là các đảo hoang từ ngàn năm trước nên chim chóc (chính yếu là chim Hải âu) đã tụ tập về đây trú ngụ và sinh đẻ, nhiều nhất là trên đảo Vĩnh Lạc và bãi Xa Cừ (côn Quan Sát-Observation bank) Một đoạn trong bài "quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền VNCH” có viết:” Trứng chim đầy dẫy trên đảo, phải tìm chỗ đặt chân trước khi bước đi Trứng chim nhỏ hơn trứng gà một chút, có thể lượm được từ 3.000 đến 5.000 trứng mỗi lần, ăn ngon như trứng gà Chim bị đuổi bay lên như một đám mây nâu che rợp một góc trời, lấy đá chọi cũng rớt.”

Phot phat do phan chim tác dụng trên chất vôi của san hô trải qua bao năm tháng dưới những cơn mưa, bảo miền nhiệt đới tạo nên Những lớp phốt phát chiếm khoảng từ 23% đến 25% trên một số đảo, khoảng 42% trên các đảo khác và chiều dày thường trên 1m

Năm 1915, người Nhật đã khám phá sự hiện diện của phốt phat trong quan dao HS Tiếp theo vào năm 1921 hảng Nhật đã toan tính khai thác phân chim trên các đảo nhưng họ không định cư thường trực ở đây, từ 1925 đến 1933 người Nhật đã xin phép chánh quyền Pháp ở Đông Dương để được khai thác phốt phát ( theo Chemillier Gendreau thi trong khoang 1924-1926 các công ty Nhật đã dùng mìn để khai thác phân phốt phát và việc làm này

đã làm hư hại rất nhiều cây cỏ trên đảo Cam Tuyền)

Trong Đệ Nhị Thế Chiến, người Nhật đã chiếm cứ HS và tiếp tục khai thắc phốt phát cho đến khi họ hoàn toàn rút khỏi HS vào tháng 2 năm 1946 Phần người Pháp, thì họ đã khám phá phốt phát vào năm 1925 khi chiếc tàu De Lanessan thuộc Hải Học Viện Đông Dương ra HS thực hiện cuộc khảo sát đầu tiên

Theo E Saorain trong cuốn “Archives Geologique du Vietnam” thì số lượng phốt phát có thể khai thác được trên quần đảo HS lên tới 10 triệu tấn Cần cứ theo tài liệu của Tổng Nha Khoáng Chất và Công Kỹ Nghệ, số lượng phosphate trên các đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm thuộc quyền kiểm soát của VNCH như sau:

- Đảo Hoàng Sa : từ 562.000 đến 960.000 tấn, trên đảo có hệ thống đường ray va cay cầu nhỏ để mang phốt phát xuống tàu

- Đảo Cam Tuyền : từ 675.000 đến 1.400.000 tấn Để cho việc chuyển vận phốt phát được dễ dàng, nguời Nhật đã dựng lên những khối phốt phát để cản sóng và cây cầu sắt dài khoảng 300m Những cơ sở này đã bị bỏ phế vì việc khai thác không mang lại lợi nhuận

-Đảo Vĩnh Lạc : từ 787.000 tấn đến 1.200.000 tấn

- Đảo Duy Mộng : từ 675.000 tấn trở lên

Tài liệu của TC/CTCT viết :” Hồi năm 1959, công ty phần bón Việt Nam cũng tới khai thác được khoảng 20 ngàn tấn phosphate nhưng tới năm

1960 công việc bị bỏ dở.”, nhưng theo Trần Thế Đức thì có 2 công ty Việt Nam khai thác phần vào năm 1960 nhưng đến năm 1962 ngưng hoạt động d.-Du lịch: với những vẽ đẹp thiên nhiên của các đảo san hô miền nhiệt đới, các bãi đá ngầm sóng vỗ bên ngoài bên trong là cả hồ nước lặng im, các đảo cát dài bao quanh bởi san hô, rong biển, đủ loài hải sản, nước biển trong suốt nhìn rõ tận đáy, rất nhiều loại chim hiếm qúy đã là những yếu tố

để quyến rũ khách du lịch

Trong tờ China Daily ngày 10-8-2002 có đăng tin về kế hoạch khai thác du lịch HS của chánh quyên địa phương tỉnh Hải Nam

4.- Bảo vê môi trường: Biển Đông năm giữa ranh giới của các quốc gia đang có mức độ tầng trưởng kỹ nghệ hóa rất cao và cũng là đường hàng hai bận rộn thứ nhì trên thế giới Những yếu tố này đã làm phương hại đến môi trường nuôi dưỡng sinh thực vật trên các hải đảo và dưới mặt biển Quan tâm đến việc tranh chấp chủ quyền, gia tăng tối đa việc phát triển kinh tế, bảo đảm việc cung cấp nhiên liệu được đầy đủ là những yếu tố đã được đặt ưu tiên trên công tác bảo vệ môi trường của các quốc gia liên hệ đến biển Đông

Do sự lơ là trong việc bảo vệ môi trường, các đảo san hô đã và đang trải qua giai đoạn biến dạng bởi sự thay đổi cơ cấu của các loài sinh, thực vật, bởi sự khai thác quá mức các tài nguyên thiên nhiên như phân phốt phát, các loại rùa và sinh vật dưới biển và sau cùng bởi sự ô nhiểm môi trường Những loại sinh , thực vật bị ảnh hưởng:

- Chim: lính đồn trú trên các đảo dùng súng để săn chim và lấy trứng từ các tổ chim, tổ yến đã khiến chúng sợ hãi phải di chuyển từ các đảo lớn sang các đảo nhỏ

- Rùa: số lượng rùa (trong số này có vài loại hiếm muộn như green turtle và hawksbill turtle) và trứng sinh ra trên đảo cũng giảm đi do việc lính trên đảo dùng vũ khí giết rùa cho mục đích thương mại và việc mang gia súc lên đảo cũng đã ảnh hưởng đến lỗi sống thiên nhiên của loài rùa

- các loài thủy sản: việc xử dụng quá nhiều tàu thuyền với cách thức đánh cá bừa bãi như dùng loại lưới với dây xích cuốn tròn kéo sát dưới đáy biển (loại dụng cụ này đã bị cấm tuy nhiên một số ngư phủ vẫn còn dùng), cũng như việc xử dụng chất độc Cyanide và dùng chất nổ để giết cá đã làm tổn hại đến môi trường sinh trưởng và đã làm tuyệt giống một số loại cá hiếm qúy

- San hô: cũng bị ảnh hưởng lây qua việc dùng chất nổ, chất độc và quá nhiều tàu thuyền khai thác thủy sản Các loại thương thuyền, tàu đầu và các tàu đánh cá khi hoạt động cũng như khi hải hành ngang qua biển Đông đã phế thải các chất dơ bẩn có hại cho san hô

Ngoài ra sự gia tăng nhiệt độ trên quả địa cầu ( Global warming) đã làm gia tăng nhiệt độ nước biển tạo nên độc tố làm hại tế bào tăng trưởng san

- Thực vật: do nhu cầu lên đảo tìm hái lễ những loài dược thảo và việc đốn bừa bãi những loài cây qúy đã gây nên khó khăn trong việc bảo tôn, tìm hiểu nguồn gốc và công dụng của chúng

Chú Thích:

(1) Hai ly (hl) = Nautical mile = 1852 thước

(2) Dựa theo tài liệu của TC/CTCT thì diện tích đảo HS là 3,5km2 Nhưng căn cứ vào tài liệu của Hải Quân Hoa Kỳ, Nguyễn Nhã và Gerald Kosh thì con số này không được chính xác

(3) HQ Đại-úy Trần Kim Diệp, trưởng phòng Tình Báo (P2) Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải cùng với phái đoàn Công binh được lịnh ra đáo Hoàng-Sa để nghiên cứu việc xây phi đạo trên đảo này Phái đoàn theo HQ16 rời Đà-Nẵng ngày 14 và đến Hoàng-Sa ngày 15/01/1974 Đại úy Diệp đã có mặt trên HQ5 trong lúc xảy ra trận hải chiến

*** Toạ độ các đảo, bãi đá ngầm, cồn cát và một số chỉ tiết đã được tu chỉnh trong phần I (ĐIA LÝ) dugc dia vao tai ligu “Islands of the South China Sea” của Phòng Tình Bảo và Nghiên Cứu/Bộ Ngoại Giao Hoa ky va tai li¢u “Islets of the South China Sea” cua Hai Quan Hoa Ky.

Trang 10

**** Bài đã đăng trong đặc san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai- Cửu Long số 4 tháng 7-2006 chỉ có phần

I-Địa Lý, II- Khí hậu và III- Sinh, Thực vật Tác giả bô túc thêm một số chỉ tiết đã được tìm thấy gần

đây và viết tiếp phần IV ““Sơ lược về tầm quan trọng của quần đảo Hoàng Sa”

Phần Sử Liệu liên quan đến HS đã được một số học giả nỗi tiếng viết nhiều bài nghiên cứu và phân tích rất giá trị, vì thế tác giả xin thong qua phan nay

Tham khảo

- Bill Gerzt “Beijing readies China Sea excercises” The Washington Times-May 17,2001

- Bill Gertz and Rowan Scarborough “Woody island missiles” — www taiwandc.org

- Bureau of Intelligence and Research “Islands of the South China Sea” July 20, 1971

- Chinamil.com: "Military scientific workers find freshwater reserves." April 07, 2005

- Chinanews.en: "Freshwater reserves discovered amidst coral reef." April 06,2005

- Chinese journal of geophysics “ The crustal structure beneath the Shidao station on Xisha islands of South China Sea” Vol 49 No 6 2006

- CIA: "The World Factbook - Paracel Island.” updated on January 10, 2006

- CIA “The World Factbook — China “ updated on December 17, 2007

- Congressional Research Service “China’s Energy Sector” February 9, 2005

- Department of the Army: "Chinese Amphibious Assaults in the Paracel Archipelago." December 27,

1974

- Department of Defense “Military Power of the People’s Republic Of China” 2007

- Department of the Navy “Islets of the South China Sea” January 1974

- Department of State — Bureau of Intelligence and Research “Islands of the South China Sea” July 1971

- Điện văn số 104813 của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ Sài Gòn gởi Bộ Ngoại giao Hoa Ky

- Douglas Pike Collection: Sino - Soviet conflict and the paracels group of island." April 01, 1979

- Embassy of Vietnam - Washington, D.C.:" The Vietnam Islands of Paracel & Spratley." April 02,

1959

- Energy Information Administration “South China Sea Tables and Maps” September 2003

- English I.Peopledaily: Xisha developing from desolation to mordern civilization." August 02, 2000

- (2) Foreign relations of the United States, 1955-1957

- Hải Sử Tuyển Tập “Hải chiến Hoàng Sa” Tông Hội HQHH 4n hanh 2004 - USA

- James C.Bussert: " Facilities in the South China Sea reflect technologies otherwisw hiden." Signal Magazine October, 2003

- Lauretta Burke “Reef at risk in the Philippines and the South China Sea” World Resources Institude

- Lé-Van-Thu: " Su that vé tran hai chién Hoang-Sa." Calitoday March 08 2004

- Lt Colonel Katsushi Okazaki: China's Seaward Adventurism and the Japan - US alliance." Global Security-1997

- Lướt Sóng “Quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền VNCH” Đặc san Lướt Sóng- Phòng

TLC/BTL/HQ/VNCH phat hanh nam 1974

- Lưu-Văn-Lợi: The Sino-Vietnamese diffrence on the Hoàng-Sa and Trường-Sa archipelagoes." Thế Gidi Publishers - Ha-N6i 1996

- Map 2785 - U.S.Navy Hydrographic Office - revised May 31, 1965

- Michael Studeman “Calculating China’s Advances in the South China Sea” Naval War College Review - Spring 1998

- Monique Chemillier-Gendreau :” La Souverainete sur les Archipels Paracels et Spratleys” Paris 1996 (ban dịch qua Anh ngữ)

- NASA Johnson Space Center - Image courtesy of the Image Science & Analysis.

Trang 11

- News.bbc.com.uk — Monday March 2, 1998

- Nguyễn-Cúc và Vũ-Thanh-Tú: Muôn dậm cơ đồ Hoàng-Sa và Trường-Sa, Đi-Tới số 44 & 45 tháng 4

& 5, 2001

- John Thornton: "The English Pilot, the Third Book." London 1703

- Pierre Bernard “Biên giới trên biển của Việt Nam” www.bøvn.net

- Quốc Việt:”Người dựng bia chủ quyền ở Hoàng Sa” Vietnamnet, 2 tháng 1-2008

- Tông Cục Chiến Tranh Chanh Tri/Cuc Tâm Lý Chiến: "Thế giới lên án Trung cộng xâm lăng Hoàng-

Sa cua Viét-Nam Cong Hoa." TC/CTCT/Cuc TLC an hanh 1974

- Trần-Kim-Diệp: "Bên lề trận hải chiến Hoàng-Sa." Bản tin Tình-Đại-Dương (khóa 17 Sĩ quan Hải quân Nha- Trang) tháng 7, 2004

- Trần-Thế-Đức: "Hoàng-Sa qua những nhân chứng." Tập san Sử Địa số 29 - Sài-Gòn 1975

- Vn.nthu.edu.tw: "The Paracel Island

- Weatherbase: "Historical weather for dao Hoang-Sa and for Woody Island."

- Wikipedia: "South China Sea Island."

- Wolfgang Schippke, DC3MF: "The Paracel Island group, another heavy disputed area in South China Sea." updated February 03,1998

- (5) World Aero Data: "Woody Island." February 16, 2006

- World Meteological Organization: "Regional Association II - Twelfth Session — Seoul” September 19 -

27 2000

- Yiwei Wang “The South China Sea Issue” 26 March 2002 — www isanet.org

Thém Son Ha

(Bài này trích từ tập san Nghiên Cứu Văn Hóa Đông Nai - Cửu Long, số 4, thang 7-2006)

Phát hiện tài liệu quí liên quan đến Chủ quyên quân đảo Hoàng Sa

Sắc chỉ của Vua Minh Mạng năm 1835

Trang 12

Sắc chỉ cùng con dấu của triều đình sai phải đội thuỷ quân ra Hoàng Sa (Ảnh: Anh San)

Theo tin từ báo Lao Động số 71 ngày 01/04/2009 cho biết ngày 31.3, gia đình họ Đặng - ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn - đã báo cáo với ngành văn hoá tỉnh Quảng Ngãi về một tài liệu quan trọng liên quan đến đội Hoàng Sa

Đó là sắc chỉ của Vua Minh Mạng phái một đội thuyền gồm 3 chiếc, với 24 lính thuỷ ra đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng tư năm Minh Mạng thứ 15 (Ất Mùi - 1835) Theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ - nhà nghiên cứu văn hoá, Phó Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi - thì sắc chỉ đã ghi rõ: Giao cho ông Võ Văn Hùng, ở Lý Sơn chọn những thanh niên khỏe mạnh và giỏi nghề bơi lặn để gia nhập đội thuyền, giao ông Đặng Văn Siểm - người có kinh nghiệm đi biển làm người dẫn đường, giao Võ Văn Công đi cùng đội thuyên phụ trách hậu cần

TS Nguyễn Đằng Vũ cho đây là sắc chỉ duy nhất của Triều đình Nguyễn mà các dòng tộc họ Đặng, ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ liên quan đến đội thuỷ quân từng vâng mệnh triều đình nhà Nguyễn ra Hoàng Sa để bảo vệ hòn đảo này từ gần 200 năm trước

Ông Đặng Lên (gia tộc họ Đặng) - người đang giữ sắc chỉ đã báo cáo với Sở văn hóa-thể thao và du lịch Quảng Ngãi khẳng định: gia đình ông đang giữ những tài liệu quan trọng liên quan đến quần đảo Hoàng Sa vẫn còn nguyên vẹn Đó là sắc chỉ vua Minh Mạng phái một đội thuyên gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (tức là năm Ất Mùi -1835) để làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Hoàng Sa của Việt Nam Ông còn cho biết sáu đời trước, cụ ky ông là một vị đà công xuất sắc, từng lấy thuyền ra ngoài đảo xa thuộc Hoàng Sa để bảo vệ biên cương của tổ quốc

"Tên tuổi những người đi cùng đều có ghi lại rõ."

Gia đình ông quyết định báo cho nhà nước vì cho sắc chỉ mà họ đang giữ trong tay là "vật quý của ông cha, mà con cháu lâu nay không biết dùng”, giờ được phổ biến rộng rãi có thể giúp các thế hệ sau biết nhiều hơn về chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa

Ông Lên nói: "Tôi cũng có nghe nay Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm Người đi đảo đánh cá cũng không ra được nữa"

"Đất nước của mình bị chiếm cứ vậy tôi rất buồn."

"Tôi là người quê mùa, nhưng cũng biết thời đó mình đã có người ra giữ Hoàng Sa, thì theo địa dư, Hoàng Sa là của người Việt Nam."

Trang 13

Một trong 4 trang của sắc chỉ Triểu Nguyên đang lưu giữ tại nhà ông Đặng Lên

Tin mới nhận

Âm Mưu chiếm Đoạt sắc chỉ vua Minh Mạng về Hoàng Sa

(NLĐO)- Ngày 8-4, anh Đặng Tấn Thành, cán bộ Văn phòng UBND huyện Lý Sơn, cho biết sau khi các phương tiện thông tin đại chúng đẳng thông tin dòng họ Đặng (ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải) đang lưu giữ sắc chỉ liên quan đến Hoàng Sa thì vừa qua có một người tự xưng là người của chính quyền địa phương đến hỏi mượn sắc chỉ trên `

Người đàn ông này ở tuổi trung niên, có dáng người thấp, da ngắm đen Ông ta đến nhà ông Đặng Lên và tự xưng là thừa lệnh ông Võ Xuân Huyện, Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn, đến gia đình mượn lại sắc chỉ

Thấy ông Lên không có nhà và vợ ông Lên là bà Nguyễn Thị Ba tỏ ý nghi ngờ, người này đã tự ý lục tìm ở trên bàn thờ nhưng không phát hiện được Bà Nguyễn Thị Ba liền báo với chính quyền -

Sắc chỉ mà họ Đặng đang lưu giữ là của triều đình nhà Nguyễn điều phái một đội thuyền gồm 3 chiếc và 24 lính thuỷ ra đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (tức nằm Ất Mùi - 1835), do ông Đặng Văn Siểm làm đà công dẫn đường

Được biết, trước đây cũng có một số kẻ giả danh cơ quan chức năng đến các nhà tộc họ ở Lý Sơn để tìm các sắc chỉ liên quan đến Hòang Sa và Trường Sa Một số họ tộc mất cảnh giác và không nhận thức được giá trị của các sắc chỉ này nên đã vô tình cung cấp, dẫn đến tình trạng chỉ còn lưu giữ được bản photocopy

Hiện nay, huyện Lý Sơn phối hợp với Sở Văn hóa — Du lịch —- Thể thao tỉnh Quảng Ngãi và các ngành liên quan triển khai kế hoạch phối hợp bảo vệ tài liệu quý giá này; đồng thời tuyên truyền vận động người dân đề cao cảnh giác trước những đối tượng xấu muốn chiếm đoạt hiện vật liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Trang 14

Chủ quyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc

Từ Đặng Minh Thu[1]

Nhắc đến Biển Đông, không ai không nghĩ đến hai cái tên rat đẹp Hoàng Sa và Trường Sa Tiếc thay hai cái tên đó lại gắn

liền với những gì đi ngược với thiện, mỹ, hoà, vì hai quần đảo xa xôi này đã và đang là đối tượng của một cuộc tranh chấp Sôi nỗi giữa các quốc gia và lãnh thổ trong vùng Cuộc tranh chấp đã kéo dài gần một thế kỷ nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết được, và ngày càng trầm trọng hơn, đang là mối đe doạ cho hoà bình ở vùng Đông Nam Á

Khi thì bùng nỗ, khi thì lắng dịu, cuộc tranh chấp này mang mọi hình thức đấu tranh, từ đấu tranh chính trị, ngoại giao đến đấu tranh vũ lực Các quốc gia tranh chấp cũng thay đổi tuỳ theo thời cuộc Lúc đầu chỉ có Pháp và Trung Hoa, tiếp sau đó, Nhật Bản và Philippin cũng nhảy vào đòi quyền lợi Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bại trận rút lui khỏi cuộc tranh chấp,

Pháp rời Đông Dương, Trung Hoa thay đổi chính quyên, thì các quốc gia và vung lãnh thổ tranh chấp gồm Việt Nam Cộng hoà, Trung Quốc, Đài Loan và Philippin Sau khi Việt Nam thống nhát thì cuộc tranh chấp tiếp diễn giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và ba quôc gia và vùng lãnh thổ kia Ngày nay, từ khi “Luật Biển mới” ra đời, tầm quan trọng của 2 quan đảo tăng thêm, thì số quốc gia tranh chấp cũng tăng theo Malaixia và Brunây cũng đòi quyền lợi trên quần đảo Trường

Sa Với Công ước Luật Biển mới, quốc gia nào nắm những quần đảo này không những được hưởng lãnh hải quanh đảo mà

cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa quanh quần đảo Tuy nhiên, vân đề phân chia lãnh hải, vùng đặc quyên kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia chưa thực hiện được khi chưa biết hai quần đảo này thuộc về ai Vì vậy, vấn đề xác định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng quan trọng

Bài viết này sẽ phân tích một số lý lẽ chính mà Việt Nam và Trung Quốc đưa ra đề khẳng định chủ quyền của mình, vì đây là

hai quôc gia chính trong cuộc tranh châp

| DIEN BIEN CUQC TRANH CHAP

Diễn biến cuộc tranh chấp sẽ được trình bày vắn tắt theo thứ tự thời gian, qua ba giai đoạn: trước thời Pháp thuộc, trong thời

Pháp thuộc, và sau thời Pháp thuộc

1 Trước thời Pháp thuộc

- Những người đánh cá Trung Hoa và Việt Nam sống trên các đảo tuỳ theo mùa nhưng từ bao giờ thì không thể xác định được

- Đầu thé ky XVII: Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần

đảo, môi năm 8 tháng đề khai thác các nguôn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo, và những hoá vật do lây được từ những tau dam

- Năm 1783: Có 10 người linh của Đội Bắc Hải đến quần đảo Trường Sa: 8 người xuống đảo, còn 2 người thì ở lại canh |

thuyên Thình lình cơn bão tới và thuyên bị trôi dạt đên cảng Thanh Lan của Trung Quốc Chính quyên Trung Hoa cho điêu tra, và khi biêt các sự kiện, đã cho đưa 2 người lính Việt Nam vê.[2]

- Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình

- Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều

nhiệm vụ hơn: khai thác, tuân tiêu, thu thuê dân trên đảo, và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quân đảo Hai đội này tiêp tục hoạt động cho đên khi Pháp nhảy vào Đông Dương

2 Thời Pháp thuộc

- Năm 1884: Hiệp ước Huế áp đặt chế độ thuộc địa

- 9-6-1885: Hiệp ước Pháp —- Thanh Thiên Tân là một hiệp ước hữu nghị, chắm dứt xung đột giữa Pháp và Trung Hoa

- 26-6-1887: Hiệp ước Pháp — Thanh ấn định biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa

- 1895 — 1896: Vụ La Bellona va Imeji Maru

Có hai chiếc tàu La Bellona và Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa, một chiếc bị đắm năm 1895, và chiếc kia bị đắm năm 1896 Những người đánh cá ở Hải Nam bèn thu lượm đồng từ hai chiếc tàu bị đắm Các công ty bảo hiểm của hai chiếc tàu này

phản đồi chính quyên Trung Hoa Chính quyên Trung Hoa trả lời là Trung Hoa không chịu trách nhiệm, vì Hoàng Sa không

Trang 15

phải là lãnh thổ của Trung Hoa, và cũng không phải của An Nam.[3]

- Năm 1899: Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng không thành vì tài chính bị thiếu

- Năm 1909: Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh thám thính quần đảo Hoàng Sa

- Năm 1920: Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa Pháp từ chối

- Bắt đầu năm 1920: Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiểu trên đảo

- 30-3-1921: Tổng đốc Lưỡng Quảng sáp nhập Hoàng Sa với Hải Nam Pháp không phản đối

- Bắt đầu từ năm 1925: Tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức

- 8-3-1921: Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp

- Năm 1927: Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa

- Năm 1930: Ba tàu Pháp: La Malicieuse, LAlerte và L'Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo

này

- Năm 1931: Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công ty Anglo-Chinese Development Pháp phản đôi

- Năm 1932: Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa Pháp sáp nhập quần đảo

Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên

- Năm 1933: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án

Quốc tê nhưng Trung Hoa từ chỗi

- Năm 1938: Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quân đảo Hoàng Sa

- Năm 1946: Nhật bại trận phải rút lui Pháp trở lại Pattle (An Vĩnh) nhưng vì chiến cuộc ở Việt Nam nên phải rút

- Năm 1947: Quân của Tưởng Giới Thạch đỗ bộ lên đảo Woody (đảo Phú Lâm) của quan đảo Hoàng Sa Pháp phản đối và gửi quân Pháp - Việt trở lại đảo Hai bên đàm phán tại Paris Pháp đề nghị đưa ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối

- Năm 1950: Quân của Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Woody

- Năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco, Nhật tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo, Đại diện chính phủ Bảo Đại là Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối

3 Sau thời Pháp thuộc

- Năm 1956: Quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương Đội canh của Pháp trên đảo Pattle được thay thế bởi đội canh của Việt Nam

Trung Quốc cho quân chiếm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, tức nhóm Amphitrite (Nhóm Đông) Trong khi phía Tây, nhóm Crescent (Lưỡi Liêm), vân do quân Việt Nam đóng trên đảo Pattle năm giữ

- 1-6-1956: Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo

- 22-8-1956: Một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá

- Năm 1961: Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quan dao Hoang Sa với tỉnh Quảng Nam

- Năm 1973: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy

- Năm 1974: Trung Quốc oanh tạc quần đảo Hoàng Sa và chiếm các đảo do quân Việt Nam Cộng hoà đóng.

Trang 16

- Năm 1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội của Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường Sa

- Năm 1977: Việt Nam tuyên bố lãnh hải, kể cả lãnh hải của các đảo

- Trong thời gian này, nhiều quốc gia khác cũng đã chiếm một số đảo của quần đảo Trường Sa

- Năm 1988: Lần đầu tiên Trung Quốc gửi quân tới quần đảo Trường Sa Quân của Trung Quốc đụng độ với Hải quân Việt

Nam Trên 70 người lính Việt Nam bị mật tích Trung Quôc đã chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Đỏ ra cứu quân Việt Nam

- Năm 1989: Trung Quốc chiếm thêm một đảo

- Năm 1990: Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa

- Năm 1992: Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa

- Năm 1994: Dung độ giữa Việt Nam và một chiếc tàu Trung Quốc nghiên cứu cho Công ty Crestone

Hiện nay Trung Quốc kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa Còn quần đảo Trường Sa thì do sáu quốc gia và lãnh thổ chiếm

giữ là: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippin, Malaixia và Brunây

II PHÂN TÍCH LẬP LUẬN CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUÓC

Lý lẽ mà cả Việt Nam và Trung Quốc đưa ra là chủ quyền lịch sử, cả hai quốc gia đều khẳng định mình có chủ quyền từ lâu đời được củng cố và chứng minh bằng lịch sử Ngoài ra, Trung Hoa ngày xưa, cũng như Đài Loan ngày nay, và nhiều tác giả thường viện dẫn Hiệp uớc Pháp — Thanh 1887 để khẳng định hai quần đảo thuộc vê Trung Quốc Vì Trung Quốc và Đài Loan

đã đồng ý nói chung một tiếng nói trong vụ tranh chấp này, do đó, đây cũng có thể là một lý lẽ của Trung Quốc Thời kỳ gần

đây, từ khi tranh chấp với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung Quốc đã viện dẫn thêm một lý lẽ, là những lời tuyên bố trước đây của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phần này sẽ phân tích ba lý lẽ nói trên

1 Chủ quyền lịch sử

Cả Việt Nam và Trung Quốc đều nại rằng mình đã khám phá, chiếm hữu và hành xử chủ quyền lâu đời Chúng ta thử phân

tích lý lẽ chủ quyên lịch sử của mỗi bên có đạt đủ tiêu chuẩn của luật quốc tế hay không Trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu luật quốc tế chỉ phối sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ như thế nào

4.1 Sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ theo luật quốc té

Một sự chiếm hữu lãnh thổ, muốn hợp pháp, phải hội đủ ba điều kiện:

Một là, điều kiện liên quan đến đối tượng của sự chiếm hữu: lãnh thổ được chiếm hữu phải là đất vô chủ (res nullius), hoặc là

đã bị chủ từ bỏ (res derelicta)

Hai là, tác giả của sự chiếm hữu phải là một quốc gia Chiếm hữu phải được thực hiện bởi chính quyền của quốc gia muốn chiếm hữu hoặc bởi đại diện của chính quyền chiếm hữu nhân danh quốc gia mình Tư nhân không có quyền chiếm hữu

Ba là, phương pháp chiếm hữu:

Phương pháp chiếm hữu đã trải qua nhiều thay đổi theo thời gian Trước năm 1884, quyền chiếm hữu do Đức Giáo Hoàng ban cho Từ thế kỷ VIII đến XV, Đức Giáo Hoàng chia đất giữa hai quốc gia là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Đến thế kỷ XVỊ, khi nhiều quốc gia khác cũng bắt đầu tham gia vào công cuộc đi tìm đất mới, thì phương cách chia đất bởi Đức Giáo Hoàng bị

chỉ trích, và người ta đặt ra một phương thức mới cho sự chiêm hữu lãnh thô, đó là quyên khám phá Quôc gia nào khám phá

ra mảnh đất đó trước thì được chủ quyền trên đất đó Khám phá đây có nghĩa là chỉ nhìn thấy đất thôi, không cần đặt chân lên đất đó, cũng đủ để tạo chủ quyền Sau này, điều kiện đó được xem như không đủ, nên người ta đưa thêm một điều kiện

nữa, là sự chiếm hữu tượng trưng Quốc gia chiếm hữu phải lưu lại trên lãnh thổ một vật gì tượng trưng cho ý chí muốn chiếm hữu của mình: cờ, bia đá, đóng cọc, hoặc bất cứ một vật gì tượng trưng cho chủ quyên của quôc gia chiếm hữu Đến thế kỷ XVIII, người ta thấy chiếm hữu tượng trưng cũng không đủ dé chứng tỏ chủ quyền của một quốc gia Vì vậy, đến năm

1885, Định ước Berlin nhằm giải quyết vấn đề chia đất ở châu Phi, ấn định một tiêu chuẩn mới sát thực hơn cho sự chiếm hữu lãnh thổ Đó là sự chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ được chiếm hữu Ngoài ra, Định ước Berlin cũng ấn định rằng quốc gia chiếm hữu phải thông báo sự chiêm hữu của mình cho các quốc gia khác biết Nguyên tắc chiếm

Trang 17

hữu thực sự và hành xử chủ quyền sau này đã trở thành tập quán quốc tế và được làm cơ sở cho sự chiếm hữu lãnh thổ vô

chủ trong luật quốc tê hiện đại Tuy nhiên, yêu tô thông báo không phải là một tập quán quốc tê, nó chỉ áp dụng riêng cho trường hợp chiêm hữu đặt trong phạm vi của Định ước Berlin mà thôi

Ngày nay theo luật quốc tế, sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinh thần Yếu tố vật chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ đó Điều này có nghĩa là quốc gia chiếm hữu phải có sự hiện diện thường trực trên lãnh thổ được chiếm hữu, và phải có những hoạt động hoặc những hành vi có tính quốc gia đối với lãnh thổ đó Sự hành xử chủ quyền phải có tính liên tục Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định thực sự chiếm hữu mảnh đất đó Phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh thần trên thì sự chiếm hữu mới có hiệu lực Và sự từ bỏ lãnh

thd cũng phải hội đủ cả hai yếu tố: vật chất, tức là không hành xử chủ quyền trong một thời gian dài, và tỉnh thần, tức là có ý muốn từ bỏ mảnh đất đó Phải hội đủ cả hai yếu tố: từ bỏ vật chất và từ bỏ tinh thân thì lãnh thổ đó mới được xem như bị từ

bỏ, và trở lại quy chế vô chủ.|4]

Ngoài phương pháp chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền (occupation và effectivité), một quốc gia cũng có thé thu dac chủ quyên qua những phương pháp khác như chuyền nhượng (cession), thời hiệu (prescription), củng cô chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử (consolidation par titre historique) Phương pháp “củng có chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử” được áp dụng nêu quốc gia đã sử dụng lâu đời một lãnh thổ khác mà không có phản đối của một quốc gia nào khác.[5]

Những tiêu chuẩn trên đã được áp dụng thường xuyên bởi án lệ quốc tế, trong những bản án về tranh chấp đảo Palmas, đảo

Groenland, đảo Minquier và Ecrehous

1.2 Chủ quyền lịch sử của Việt Nam

Phải nói rằng, vì hoàn cảnh chiến tranh, nên tài liệu lịch sử của Việt Nam đã bị tàn phá hoặc thất lạc rất nhiều Việt Nam đã

đưa ra những tài liệu lịch sử và địa lý đủ đê chứng minh rằng mình đã khám phá ra hai quân đảo này từ lâu, đã chiêm hữu tượng trưng cũng như thực sự và hành xử chủ quyên trên hai quân đảo qua nhiêu đời vua và trải qua ít nhật là ba thê kỷ

1.2.1 Khám phá ít nhất là từ thế kỷ XV, và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVII

Dân đánh cá Việt Nam đã sống trên những đảo này và khai thác đảo từ lâu đời Tài liệu sớm nhất mà Việt Nam còn có được

là quyên “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII Danh từ "Tuyển tập” cho ta thầy tài liệu này được thu nhập từ nhiều tài liệu trước nữa Trong quyên nay, Đỗ Bá đã tả những quần đảo này rất chính xác, và xác nhận

rằng Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác quần đảo từ thế kỷ XVII Đoạn trích do sử gia kiêm nhà Hán học Võ

Long Tê dịch như sau:

“Tại làng Kim Hộ, ở hai bên bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có mỏ vàng do nhà nước cai quản Ngoài khơi, một quần đảo với những cồn cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng”, dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới đáy biển, đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh Vào mùa gió nồm Tây Nam, những thương thuyền từ nhiều quôc gia đi gần bờ biển thường

bị đắm dạt vào những đảo này; đến mùa gió Đông Bắc, những thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm như thế Tắt cả những người

bị đắm trôi dạt vào đảo, đều bị chết đói Nhiều hàng hoá tích luỹ trên đảo

Mỗi năm, vào tháng cuối của mùa đông, Chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập những hoá

vật, đem vê được một sỐ lớn vàng, bạc, tiên tệ, súng đạn Từ của Đại Chiêm, ra tới đảo mât một ngày rưỡi, nêu đi từ Sa Kỳ thi chi mât nửa ngày "[6]

Theo sử gia Võ Long Tê, mặc dù quyển sách của Đỗ Bá được viết vào thé kỷ XVII (vào năm 1686), đoạn thứ nhất của hai đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyền Hồng Đức Bản Đồ - Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460 —

4497).[7] Như vậy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những đảo này ít ra cũng từ thế kỷ XV Danh từ Bãi Cát Vàng chứng

tỏ rằng những đảo này đã được những người Việt Nam ít học nhưng hiểu biết nhiều về biển khám phá và khai thác, từ lâu

trước khi chính quyên Chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo Dân Việt Nam đã sinh sống ở đó từ nhiều thế kỷ, và chính quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã biết tổ chức khai thác đảo có hệ thống Những yếu tố này, nhất là sự khai thác của nhà nước từ thé ky XVII qua rất nhiều năm, đã tạo nên từ thời đó một chủ quyền lịch sử cho Việt Nam trên những đảo này

1.2.2 Hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn là quan dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam Ông đã viết Phủ biên tạp lục vào năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rât nhiêu tài liệu của chính quyên các Chúa Nguyên dé lai.[8] Đoạn sau đây nói vê hai quan dao Hoang Sa và Trường Sa:

“ Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Binh Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có

Trang 18

phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn canh thì đến; phía ngoài nữa, lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều

hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải”.[9]

Một đoạn rất dài khác cũng trong Phủ biên tạp lục nhưng cần phải trích dẫn vì nó cung cấp nhiều chỉ tiết quan trọng liên quan

đến cách Chúa Nguyễn tổ chức khai thác hai quần đảo một cách hệ thống:

Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bang bién, tte hon nay sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến Trên núi có chỗ có suối nước ngọt Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy Trên đảo có vô

số yến sào; các thứ chim có hàng ngàn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh Trên bãi vật lạ rất nhiều Óc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đếo làm tắm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương Các thứ ốc đều có thé muối và nấu

ăn được Đồi mồi thì rất lớn Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mỗi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi sát quan, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lay người xã An Vĩnh Sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giây sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra bién 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy Ở đấy tha hồ bắt chim bắt ca ma an Lấy được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vong str, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều Đến kỳ tháng tám thì

về, vào cửa Eo, đên thành Phú Xuân dé nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ Ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không Tôi đã xem sé của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hột bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Át Dậu được

126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Ty năm năm ấy mỗi năm chỉ được máy tắm đồi mùi, hải ba Cũng có năm được

thiếc khôi, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, , Không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cap giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tầu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội

Hoàng Sa kiêm quản Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lầy được”.[10]

Đoạn này cho thay viéc khai thac hai quan đảo của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải kéo dài từ thế ky XVII sang đến cuối thế ky

XVIII Hoạt động của hai đội này được tổ chức có hệ thống, đều đều mỗi năm ra đảo công tác 8 tháng Các thuỷ thủ do nhà nước tuyển dụng, hưởng bỗng lộc của nhà nước, giấy phép và lệnh ra công tác do nhà nước cấp

Các bộ sử như Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhát thống chí, Hoàng Việt địa dư chí,

đều có đoạn ghi các Chúa Nguyễn tổ chức khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và cả các đảo khác nữa: Đội Thanh Châu phụ trách các đảo ngoài khơi Quy Nhơn lấy tổ chim yến, Đội Hải Môn hoạt động ở các đảo Phú Quý, Đội Hoàng

Sa chuyên ra quần đảo Hoàng Sa, sau đó lại tổ chức Đội Bắc Hải thuộc đội Hoàng Sa nhưng phụ trách các đảo xa ở phía Nam trong đó có quần đảo Trường Sa, đảo Côn Lôn và các đảo nằm trong vùng vịnh Thái Lan thuộc chủ quyền của Việt Nam.[11]

Đặc biệt là bộ Lịch triều hiến chương loại chí: Dư địa chí của Phan Huy Chú (1782 - 1840) Phan Huy Chú và các tác phẩm của ông được Gaspardone nghiên cứu Bộ sử này viết vào đầu thế kỷ XIX và gồm 49 quyên nằm ở Ecole Fransaise

d’Extréme Orient.[12]

1.2.3 Chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong thé kỷ XIX

Chủ quyền được tiếp tục hành xử qua thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn (là thời đại kế vị chính quyền các Chúa Nguyễn)

Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, Vua Gia Long, đã củng cố thêm quyền lịch sử của Việt Nam bằng cách chính thức chiếm

hữu hai quân đảo Năm 1816, Vua đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân của triêu đình ra thăm dò, đo thuỷ lộ, và căm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để biểu tượng cho chủ quyền của Việt Nam Đoạn sau đây của bộ Việt Nam thực lục chính biên chứng minh điêu này:

“Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời Vua Gia Long (1816)

Ra lệnh cho lực lượng hải quân và đội Hoàng Sa dé bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình.”

Sự chiếm hữu hai quần đảo theo lệnh của Vua Gia Long cũng được chứng nhận bởi các tài liệu của phương Tây

Bài của M.A Dubois de Jancigny viết như sau:

Trang 19

Từ hơn 34 năm, Quần đảo Paracel, mang tên là Cát Vàng hay Hoàng Sa, là một giải đảo quanh co của nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng Sợ cho các nhà hàng hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ Chúng tôi không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rang vua Gia Long đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm lấy và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Nam Kỳ”.[13]

Một bài khác của Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi nhận điều trên:

“Nam Kỳ, mà nhà vua hiện nay là hoàng dé bao gom bản thân xứ Nam Kỳ, xứ Bắc Kỳ, một phần | của Vương quốc

Campuchia, một số đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Paracel gồm những bá đá ngầm, đá nổi không có người ở Chỉ đến năm 1816 hoàng dé hiện nay mới chiếm lĩnh những dao ay.”[14]

Năm 1833, vua Minh Mệnh cho đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và xây chùa Vua cũng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo

Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyén thứ 104, viêt như sau:

“Tháng tám mùa thu năm Quý Ty, Minh Mệnh thứ 14 (1833) Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miều, lập bia và trồng nhiều cây cối Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn Đó cũng là việc lợi muôn đời”.[15]

Năm sau, Vua Minh Mệnh ra lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích thước đề vẽ bản đồ Quyển Đại Nam thực lục chính biên (1834), quyên thứ 122 ghi nhận điều này:

“Năm Giáp Ngọ, thứ 15, đời Minh Mệnh:

Vua truyền lệnh cho Đội trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên 20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng Sa để vẽ bản đồ ”.[16] Đến năm 1835 thì lệnh xây miếu, dựng bia đá được hoàn tất và được ghi nhận trong quyên Đại Nam thực lục chính biên, quyền thứ 154:

“Thang sáu mùa hạ năm Át Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835) Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi Hoàng

Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miều cổ,

có tắm bài khắc 4 chữ: “Vạn Lý Ba Bình” (1) Còn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều

đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nỗi lên, chu vi 340 trượng,

cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch Năm ngoái vua toan dựng miều lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai

tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miéu (cach toa miếu cỗ 7 trượng) Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong Mười ngày làm xong, rồi về”.[17]

Đoạn sau đây của cùng bộ sách, cho thấy vua nhà Nguyễn không những quan tâm đến việc khai thác đảo mà còn nhận thức được vị trí chiến lược của hai quan đảo, xem chúng như là lãnh thổ biên phòng của Việt Nam và tổ chức cả một chương trình dài hạn để củng cố biên cương đó —- theo Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 165:

“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1

Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa

rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyên của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng Xét xem Xứ ấy chiều dài, chiêu ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngâm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chéch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm Nhất nhát nói

rõ, đem về dâng trình”

“Vua y lời tâu, phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó

dựng làm dâu ghi (mỗi bài gô dài 5 thước, rộng 5 tậc, dày 1 tậc, mặt bài khác những chữ “Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Than, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh di Hoang Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.[18]

Trang 20

Sau đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được vẽ trên bản đồ của triều đình Vua Minh Mệnh Những đoạn trên đây cho thấy chủ quyên lịch sử của Việt Nam đã tiếp tục được hành xử bởi các vua nhà Nguyễn Đội Hoàng Sa và Bắc Hải được trao thêm nhiều nhiệm vụ: tuần tiễu, đi lấy kích thước đảo để vẽ bản đồ, thăm dò địa hải, vẽ thuỷ trình, Những Đội này cũng có

nhiệm vụ thu thuế những người tạm sống trên đảo[19]

Hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động cho đến khi Pháp xâm lược Việt Nam Ít nhất từ thế kỷ XVII (và có thể từ thế kỷ XV

hoặc trước nữa), từ thời Chúa Nguyễn, trải qua các triều đại vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ, hai đội này đã có nhiều hoạt động khai thác, quản trị và biên phòng đối với hai quần đảo Đây là những hoạt động của nhà nước, do nhà nước tổ chức Những hoạt động này kéo dài suốt 300 năm không có một lời phản đối của Trung Hoa thời đó Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách nhiệm quoc | tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên đảo để các thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn Rõ ràng đây là những sự hành xử chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình

Như vậy, chủ quyền của Việt Nam được thụ đắc qua hai phương pháp phối hợp nhau: (1) quyền lịch sử bắt nguồn từ sự sử

dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô chủ dưới thời các Chúa Nguyễn, thế kỷ XVII và XVIII (consolidation par titre

historique), và (2) chủ quyền bắt nguồn từ sự chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền một cách liên tục dưới thời các

vua nhà Nguyễn, thế kỷ XIX (prise de possession, occupation et effectivité) Thực ra việc thụ đắc bằng phương pháp (1) cũng

đã đủ để tạo chủ quyền cho Việt Nam, và như vậy, Việt Nam đã có chủ quyền lịch sử từ thế kỷ XVII Quyền này lại được củng

cố thêm khi các vua nhà Nguyễn chính thức chiếm hữu đảo Đội Hoàng Sa và Bắc Hải không hiện diện thường xuyên trên đảo vì điều kiện sinh sống ở các đảo không cho phép Tuy nhiên, lệ án quốc tế đã mềm dẻo đối với những nơi này luật không bắt buộc phải có một sự hiện diện thường xuyên của quôc gia chiếm hữu Trong: vụ án Clipperton, Pháp chỉ cho tàu chiến thanh tra đảo, mà không đặt một cơ quan công quyền nào hiện diện thường xuyên tại đảo Trọng tài Quốc tế đã cho rằng như vậy cũng đủ để hành xử chủ quyền, vì điều kiện ở đảo không cho phép sông thường xuyên: trên đó.[20] Trong trường hợp Việt Nam, mặc dù không ở lại đảo thường xuyên, hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải cũng sống ở đó 8 tháng mỗi năm đến khi gió nồm bắt đầu thổi, tức là mùa bão biển tới, họ mới trở về đất liền 4 tháng, và đến tháng giêng lại trở ra các đảo đóng ỏ đó 8

tháng và hàng năm đều như vậy Với hoàn cảnh thời đó, thuyền của các quốc gia khác, kể cả thuyển của Trung Hoa đều sợ không dám đến đảo, trong khi Việt Nam cho quân đến đóng ở các đảo 8 tháng mỗi năm Như vậy, đã vượt tiêu chuẩn ấn định bởi vụ án Clipperton, và quá đủ để xem như Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo từ thời các Chúa Nguyễn (thế kỷ XVII)

1.2.4 Trung Quốc nói rằng những đảo trong bản đồ của Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đỏ), không phải là Xisha (đảo

Côn cát Tây) và Nansha (đảo Côn cát Nam) của Trung Quôc vì bản đô cho thây những đảo gân bờ biên quá.[21]

Phải nói rằng kỹ thuật đo lường, kỹ thuật vẽ bản đồ, ý niệm về khoảng cách và thời gian ngày xưa không phải như ngày nay

Chính những tác giả Trung Quốc đã khẳng định điều đó.[22] Vấn đề xác định những đảo tranh chấp không phải là mới mẻ, vì

nó đã được đặt ra trong nhiều bản án.[23] Vấn đề này cũng được đặt ra đối với lập luận của Trung Quốc ở mục 1.3 của bài này Dù sao, trong trường hợp Việt Nam, chỉ cần nhìn bản đồ cũng thấy rằng không có sự nhằm lẫn giữa Hoàng Sa, Trường

Sa và các đảo ở ven biển, khi bản đồ được vẽ, vì những đảo ven bở biển như đảo Ré cũng đều được vẽ trên bản đồ, những

đảo này đã được vẽ sát dọc theo bờ biển Mà trên thực tế, giữa những đảo ven bờ biển và Hoàng Sa, Trường Sa, không có

đảo hoặc quần đảo nào khác Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng những quần đảo mà bản đồ Việt Nam ghi là Hoàng Sa và

Vạn Lý Trường Sa chính là Hoàng Sa và Trường Sa Phương pháp suy diễn này đã được áp dụng trong bản án Palmas

Người vẽ bản đồ chỉ không có ý niệm xác thực về khoảng cách không gian và tỷ lệ phải áp dụng khi chuyển nó lên mặt giấy

đề vẽ bản đồ, nên vẽ khoảng cách ngắn hơn thực tế

Ngay cả khoảng cách giữa hai quan dao Hoang Sa va Vạn Lý Trường Sa cũng bị rút ngắn lại, khiến cho thoạt nhìn, người ta

có thê tưởng rằng đây chỉ là một quân đảo Tuy nhiên, nhiêu điêu rút từ những ghi chép trong sách sử Việt Nam, và từ những bản đồ thời đó, đã chứng minh đó không phải chỉ là một quân đảo Hoàng Sa:

(1) Trén ban dé Đại Nam nhất thống toàn đồ có ghi tên hai đảo rõ rệt vẽ bằng chữ nho: Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa

(2) Các sách sử địa của Việt Nam có nói đến 130 đảo Con số này không phù hợp với SỐ đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, hoặc quan đảo Trường Sa tính riêng Nhưng nếu cộng số đảo của hai quần đảo lại thì con số vừa đúng là 130.24]

Trang 22

Ban dé 2

‘Ban dé phong dai cia hai quan dao,

từ Đại Nam Nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1)

(Trong Bản đổ này, chuỗi đảo Vạn Lý Trường 8a bị cắt

Trang 23

Bản đồ 3 The Times Atlas of the World

MT | s2 0U wP%aœ

r Cities let CAS § 0 msa¿y;

Trang 24

© ,ÉY1 re“ to! OF tert

Ngày đăng: 10/10/2016, 08:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w