Chi cục Thuế quận huyện tại các tỉnh thành phố cơ quan thuế địa phương thực hiện quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa với chức năng, quyền hạn của Chi cục Thuế như sau: - Tổ ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -TRẦN MINH HẰNG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ Ở CHI CỤC THUẾ HUYỆN THANH
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Sự ra đời và phát triển của ngành Thuế luôn gắn liền với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của Nhà nước Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách Nhà nước Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là thuế
Ở nước ta ngay sau khi tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, một tuần lễ sau ngày công bố độc lập trước toàn thế giới ngày 02/09/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 27 thành lập Sở Thuế quan Trải qua 67 năm xây dựng và trưởng thành từ chỗ là Sở Thuế quan, Nha Thuế vụ, Vụ Thuế, Thuế công thương nghiệp đến nay chúng ta đã có một hệ thống thuế hùng mạnh từ trung ương tới địa phương
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, ngành thuế đã có những bước tiến bộ trong việc cải cách cơ chế quản lý thuế theo hướng tạo hành lang pháp luật trong chính sách thuế, quản lý thuế, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế Nhờ đó, số thu từ thuế tăng đều qua các năm và ổn định, luôn trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước
Trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường của cả nước, Đảng ta luôn coi trọng thành phần kinh tế tư nhân, luôn tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng phát triển và thực tế những năm qua với một cơ chế đơn giản, năng động lực lượng hộ kinh doanh cá thể của cả nước đã không ngừng lớn mạnh, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước
Tuy nhiên hệ thống thuế vẫn còn tồn tại những mặt còn hạn chế, thiếu sót
Trang 3như: Chính sách thuế chưa thực sự đồng bộ, việc thu thuế đôi khi còn trùng lắp, tính pháp lý chưa cao; chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường; chưa xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp qua thuế; chính sách thuế còn có những điểm quy định chưa chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi dụng gian lận thuế, trốn thuế; Bên cạnh đó, ý thức về trách nhiệm đối với thuế của NNT nói riêng và người dân nói chung chưa tốt; công tác quản lý thuế còn yếu kém ở một số lĩnh vực; Chưa đẩy mạnh ứng dụng tin học vào công tác quản lý thuế; một bộ phận cán bộ thuế yếu cả về trình độ và phẩm chất đạo đức, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới… từ đó làm giảm hiệu quả quản lý của một số sắc thuế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước
Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể còn nhiều điều bất cập, từ việc đăng ký thuế, xác định doanh thu, tính thuế đến việc thu thuế vẫn là một dây chuyền công việc khép kín gần như rườm rà, luẩn quẩn, không rõ ràng, gây ức chế cho NNT đồng thời lại tạo ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý thuế nói chung và ngành thuế nói riêng Trong khi hộ kinh doanh cá thể ngày càng chứng tỏ là một mô hình kinh tế năng động, không thể thiếu trong nền kinh
tế quốc dân và có những đóng góp quan trọng với Ngân sách Nhà nước Chính vì vậy việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ” theo tôi là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay Hy vọng đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn sẽ góp phần việc xây dựng các giải pháp khả thi để giải quyết những vấn đề tồn tại đặt
ra đối với việc quản lý hộ kinh doanh cá thể, trong sự tác động đến quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2020
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích chủ yếu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh
Trang 4Thuỷ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ trong thời gian tới
Để đạt được mục đích đó, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
- Phân tích thực trạng của công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chủ thể và khách thể của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, trọng tâm là nghiên cứu về việc tổ chức quản
lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hộ khoán tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy
- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở việc quản lý thuế GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán theo luật Quản lý thuế trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ do Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy trực tiếp quản
lý Theo quy định của Luật quản lý thuế thì ngoài các hộ kinh doanh đáp ứng được yêu cầu của việc nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (gọi tắt là các
hộ khấu trừ) thì các hộ còn lại tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên doanh số Tuy nhiên, do không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ nên các hộ này nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán nộp thuế do cơ quan thuế ấn định dựa trên doanh thu của hộ Do đó, trong phạm vi luận văn này không nghiên cứu quản lý thuế đối với hộ nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên doanh thu, hộ khấu trừ và các sắc thuế khác của hộ nộp thuế theo phương pháp khoán như thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt (bởi không phát sinh trên địa bàn)
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu, quan sát, nhìn nhận phân tích sự việc trong sự biến động gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, ngoài ra các phương pháp chuyên ngành cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn giải, tiếp cận hệ thống
5 Đóng góp của luận văn:
- Luận văn góp phần làm rõ lý luận về công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy và đề xuất các giải pháp có tính khả thi để tăng cường công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy trong thời gian tới
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách thuế cũng như cơ quan quản lý thuế
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể
Chương 2: Phân tích công tác Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ở Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
ở Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Trang 6CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI
VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1 Những vấn đề chung về thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế
Ra đời tồn tại cùng với nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và quan niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện Những nội dung cơ bản của thuế là:
- Thuế là biện pháp động viên của nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước
- Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào ngân sách nhà nước
- Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng
- Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước
Bản chất, đặc trưng của thuế:
Trên thực tế có rất nhiều các định nghĩa, quan điểm khác nhau, nhưng có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau:
- Một là: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan
hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong
xã hội
- Hai là: Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước
Trang 7- Ba là: Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác như:
1.1.2 Chức năng của thuế:
- Là công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào ngân sách nhà nước để đảm bảo cho các chi tiêu của nhà nước
- Là công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường góp phần bảo đảm sự phát triển ổn định, cân đối của nền kinh tế
- Là công cụ quan trọng góp phần tái phân phối thu nhập nhằm thực hiện công bằng xã hội
1.1.3 Phân loại thuế:
Phân loại thuế là sự sắp xếp các sắc thuế trong cùng một hệ thống chính sách thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định
Số lượng các sắc thuế trong hệ thống thuế của các quốc gia là không giống nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu xây dựng
hệ thống thuế quốc gia trong giai đoạn cụ thể Tuy vậy, để phân tích tác động của thuế đến các quá trình kinh tế - xã hội nhằm xây dựng điều chỉnh hệ thống
Trang 8thuế cho phù hợp người ta có thể lựa chọn các tiêu thức khác nhau để phân loại Trong phạm vi bài viết, xin đưa ra một vài cách phân loại như sau:
- Phân loại theo phương thức đánh thuế: Theo tiêu thức này thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế (NNT) Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng chịu thuế đồng thời cũng là người nộp thuế Ở nước ta, các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, …
Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của NNT mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hoá, dịch
vụ Thuế gián thu có đặc điểm là NNT và đối tượng chịu thuế không đồng nhất với nhau Ở nước ta, các sắc thuế gián thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu…
- Phân loại thuế theo cơ sở tính thuế: Đối tượng đánh thuế là gì, thuế đánh trên cái gì? Dựa vào đó, thuế được chia thành các loại:
Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không đánh vào phần thu nhập phát sinh từ tài sản đó Các loại thuế tài sản gồm: thuế nhà đất, thuế chuyển nhượng tài sản (nhà cửa, ô tô, xe máy )
Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập kiếm được, như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân
Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng khi mua hàng hoá, dịch vụ, như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu
1.2 Quản lý thuế
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về Quản lý thuế
a Quan niệm về Quản lý thuế
Để đảm bảo mục tiêu thu đúng, đủ thuế nhằm phát huy đầy đủ vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước phải đề ra các quy định, luật pháp nhằm tạo một hành lang thống nhất, buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải
Trang 9thực hiện theo
Để Luật pháp về thuế được đảm bảo thực hiện, Nhà nước phải tổ chức ra bộ máy để quản lý thu thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này Do bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp nên việc yêu cầu NNT tự giác khi không có hệ thống luật pháp để bắt buộc là điều không thể thực hiện, thậm chí
kể cả khi có hệ thống luật pháp về thuế, nhiều tổ chức cá nhân nộp thuế vẫn cố tình không thực hiện hoặc lợi dụng kẽ hở của chính sách để tư lợi Vì vậy, vai trò quản lý thuế của Nhà nước mang tính áp đặt và là một tất yếu khách quan trong quá trình quản lý
Từ những cơ sở lý luận trên ta có thể định nghĩa một cách khái quát về quản lý thuế như sau:
Quản lý thuế là việc Nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Được biểu hiện cụ thể thành một hệ thống: Từ việc Nhà nước ban hành chính sách, tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện, kiểm tra giám sát kết quả đến việc chỉnh sửa chính sách và ban hành chính sách mới cho phù hợp với thực tiễn đang quản lý
b Mục đích của quản lý thuế
Quản lý thuế nói chung là nhằm đạt được các mục đích sau:
- Tăng thu cho Ngân sách nhà nước
- Thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước về lĩnh vực thuế
- Tăng cường ý thức chấp hành Pháp luật thuế của NNT
c Đối tượng quản lý thuế
Thuế là phạm trù pháp luật; luật thuế quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thực hiện Trong đó, cơ quan thuế có tư cách là chủ thể quản lý nhà nước về thuế, NNT là đối tượng của quản lý Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH ngày 29/11/2006 của Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 10, quy định về NNT và chịu sự quản lý về thuế là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế
Trang 10theo quy định của pháp luật về thuế; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc Ngân sách nhà nước do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay NNT
Như vậy, đối tượng quản lý thuế ở đây gồm các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc những lĩnh vực cho phép trong và ngoài nước
d Vai trò của quản lý thuế
Quản lý thuế nhằm thực hiện một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính: Đó là điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm đảm bảo phát huy tối đa những chức năng, vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội Ngoài ra, quản
lý thuế còn thực hiện một mục tiêu quan trọng nữa là huy động số thu cho Ngân sách Nhà nước, thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý và điều hành đất nước
Giúp Nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của NNT Dù bất kỳ ở xã hội nào, lợi ích của người kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu đối với bản thân mỗi cá nhân nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất Vì vậy, với vai trò kiểm tra, giám sát, vai trò của Nhà nước về Quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện các Luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm đều phải duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế
Giúp Nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế Một mặt, đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót; mặt khác, cũng xuất phát từ lợi ích cá nhân, con người trong bộ máy quản lý thuế của Nhà nước cũng có những cá nhân hám lợi sẵn sàng bắt tay với NNT nhằm giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho Ngân sách, hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh Điều đó đòi hỏi Quản lý thuế với chức năng kiểm tra, giám sát sẽ hạn chế và xử lý các trường hợp này Vì vậy, việc quản lý bộ máy thu thuế chặt chẽ cũng là yêu cầu cực kỳ cấp thiết, nhất là trong giai đoạn hiện
Trang 11nay, nước ta đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các tác động xấu của mặt trái kinh
tế thị trường
Với vai trò hướng dẫn NNT, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục
sẽ nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các Luật thuế, đảm bảo việc thực hiện các Luật thuế được nghiêm chỉnh Mặt khác, việc xử lý các sai phạm đảm bảo nghiêm minh, đúng người, đúng việc nhằm răn đe những đối tượng vi phạm, đồng thời làm gương cho các đối tượng khác
e Nguyên tắc quản lý thuế
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Tất cả các
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
CHI CỤC THUẾ CÁC QUẬN, HUYỆN TRỰC THUỘC CỤC THUẾ
Trang 12Chi cục Thuế quận huyện tại các tỉnh thành phố (cơ quan thuế địa phương) thực hiện quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa với chức năng, quyền hạn của Chi cục Thuế như sau:
- Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật
về thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn;
- Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;
- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ NNT trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật
- Kiến nghị với Cục trưởng Cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy trình chuyên môn nghiệp vụ, các quy định quản lý nội bộ và những vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Chi cục Thuế;
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với NNT thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền phạt, lập
sổ bộ thuế, thông báo thuế, phát hành các quyết định truy thu thuế và thu khác
theo qui định của pháp luật thuế và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của ngành; đôn đốc NNT thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước;
- Quản lý thông tin về NNT; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về NNT trên địa bàn;
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối
Trang 13với NNT và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;
- Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm, hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu tiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật;
- Được quyền yêu cầu NNT, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, cá nhân
có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản
lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thực hiện nhiệm
vụ thu ngân sách Nhà nước;
- Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của NNT;
- Bồi thường thiệt hại cho NNT do lỗi của cơ quan thuế, theo quy định của pháp luật; giữ bí mật thông tin của NNT; xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế; lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục Thuế;
- Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của pháp luật;
- Xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định của Luật quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan;
Trang 14- Giám định để xác định số thuế phải nộp của NNT theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế
và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho NNT thực hiện chính sách, pháp luật về thuế;
- Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Chi cục Thuế;
- Quản lý bộ máy, biên chế, lao động; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức của Chi cục Thuế theo quy định của Nhà nước và của ngành thuế;
- Quản lý kinh phí, tài sản được giao, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế theo quy định của pháp luật và của ngành;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao
1.2.2 Nội dung quản lý thuế
Điều 3 Luật Quản lý thuế quy định 8 nội dung quản lý thuế, được phân thành 3 nhóm như sau:
Nhóm 1- Các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
Nhóm 2 - giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: Quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Nhóm 3 - Các chế tài bảo đảm các chính sách thuế được thực thi có hiệu lực, hiệu quả, bao gồm các nội dung: Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Để thực hiện quản lý thuế theo các nội dung trên thì hàng năm cơ quan thuế phải thực hiện các công việc cụ thể như sau:
Trang 15a) Lập kế hoạch quản lý thuế
Lập kế hoạch quản lý thuế được hiểu theo nghĩa rộng gồm kế hoạch của
cơ quan thuế trong mọi lĩnh vực quản lý “Việc lập kế hoạch có 4 mục đích quan
trọng: ứng phó với những bất định và thay đổi, tập trung sự chú ý vào các mục tiêu, tạo khả năng tác nghiệp kinh tế, giúp cho các nhà quản lý kiểm tra” Tại cơ
quan thuế hàng năm tiến hành lập các kế hoạch chủ yếu sau:
- Kế hoạch thu ngân sách (dự toán thu Ngân sách nhà nước)
- Kế hoạch công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT
- Kế hoạch công tác kê khai - kế toán thuế
- Kế hoạch thanh tra, kiểm tra
- Kế hoạch nguồn kinh phí hoạt động (dự toán chi tiêu nội bộ); kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; kế hoạch về trang thiết bị máy móc phục vụ cho công việc quản lý thuế,…
Trong đó, lập kế hoạch thu thuế (dự toán thu) được xác định là khâu quan trọng hàng đầu với mỗi cơ quan thuế
Lập kế hoạch thu thuế là quá trình xây dựng các mục tiêu thu trong năm
và xác định các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đã đề ra Kế hoạch thu thuế là quá trình tính toán, tổng hợp những khả năng có được từ các khoản thu về thuế, các khoản thu mang tính chất thuế và các khoản thu khác trong một khoảng thời gian xác định, từ đó hình thành nên những khoản thu tập trung phản ánh trong dự toán ngân sách, đồng thời tổ chức thực hiện, phân tích và đánh giá kết quả đạt được
Kế hoạch thu (dự toán thu) được lập cho tất cả các sắc thuế (bao gồm: thuế GTGT, thuế TNDN, thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế TNCN, tiền thuê đất, thuế nhà đất/sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền sử dụng đất, các khoản phí và
lệ phí trên địa bàn,…) và cho từng đối tượng, từng khu vực kinh tế (doanh nghiệp, hay hộ kinh doanh)
Xây dựng dự toán thu phải đạt mục tiêu: bao quát toàn bộ nguồn thu trên địa bàn, đáp ứng đủ nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ phát triển
Trang 16kinh tế - xã hội, góp phần hoàn thành nhiệm vụ thu theo Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của Hội đồng nhân dân các cấp Dự toán thu ngân sách nhà nước phải bảo đảm mức động viên vào ngân sách nhà nước đạt khoảng 24% GDP, trong đó thu thuế và phí đạt khoảng 23% GDP Dự toán thu phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng thu tích cực, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội, đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn; phù hợp với tốc độ tăng trưởng thu qua các năm
Việc xây dựng dự toán thu phải đảm bảo các yêu cầu:
Phải xây dựng theo đúng chính sách, chế độ đã ban hành; phải tính đúng, tính đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách theo các chính sách, chế độ hiện hành và những chế độ, chính sách mới hoặc sửa đổi, bổ sung sẽ có hiệu lực thi hành;
Phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư, sản xuất kinh doanh trên địa bàn; phải tính đầy đủ các nguồn thu phát sinh trên địa bàn; phải tính đúng, chi tiết đến từng ngành, từng đơn vị trọng điểm, từng khu vực kinh tế, từng khoản thu, sắc thuế Phải đảm bảo tính tích cực, bền vững cho ngân sách, có tốc độ tăng trưởng thu cao hơn tốc độ tăng trưởng thu các năm trước liền kề, đặc biệt khu vực công thương nghiệp - dịch vụ ngoài quốc doanh;
Dự toán được xây dựng trên cơ sở tổng hợp đầy đủ các khoản nợ thuế
dự kiến thu hồi trong năm, các khoản tiền thuế truy thu, tiền phạt qua công tác thanh tra, kiểm tra của ngành thuế, theo kết luận Thanh tra và Kiểm toán;
Phải phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành để dự kiến số thu cân đối sát, đúng với khả năng trên địa bàn đối với các khoản thu liên quan đến đất, các khoản thu phí, lệ phí, thu khác ngân sách và thu cố định tại xã
Cách xác định dự toán cho năm sau:
Trang 17b) Tổ chức thực hiện
Chức năng quản lý thuế là những công việc cơ bản vốn có, tất yếu phải thực hiện và trình tự thực hiện các công việc đó để quản lý và thu thuế vào Ngân sách Các công việc này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của NNT ở bất
kỳ chế độ quản lý thuế Mỗi chức năng, nhiệm vụ này được giao cho một bộ phận thực hiện
Song song với việc lập kế hoạch quản lý thuế, hoạt động quản lý thuế được thực hiện trên tất cả các phương diện: từ đăng ký thuế, đến kê khai, nộp thuế, ấn định thuế, đến hoàn thuế, miễn giảm thuế, xóa nợ tiền thuế tiền phạt; quản lý thông tin người nộp thuế; quản lý thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, hoạt động cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Về đăng ký thuế: Thực hiện quản lý về đối tượng đăng ký thuế; thời hạn đăng ký thuế; hồ sơ đăng ký thuế; nơi nộp hồ sơ đăng ký thuế; trách nhiệm của cơ quan thuế, công chức thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế; cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế; thay đổi thông tin đăng ký thuế; sử dụng mã số thuế và chấm dứt hiệu lực mã số thuế
Về Khai thuế, tính thuế, ấn định thuế: Thực hiện quản lý bằng việc đưa
ra các nguyên tắc trong việc khai thuế, tính thuế và ấn định thuế; quy định hồ sơ khai thuế; thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế; gia hạn nộp hồ sơ khai thuế; khai bổ sung hồ sơ khai thuế; trách nhiệm của cơ quan thuế, công chức thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế, ấn định thuế; Quy định cụ thể việc ấn định thuế đối với NNT nộp thuế theo phương pháp kê khai vi phạm pháp luật thuế; cách xác định mức thuế phải nộp đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán
Về nộp thuế: Quy định về thời hạn nộp thuế; đồng tiền nộp thuế; địa điểm và hình thức nộp thuế; thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt; xử lý số tiền thuế nộp thừa, Nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo; gia hạn nộp thuế
Trang 18 Về trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế: Quy định cụ thể cho các trường hợp như xuất cảnh, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động, tổ chức lại doanh nghiệp và việc kế thừa trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế trong trường hợp cá nhân đã chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự
Về thủ tục hoàn thuế: Quy định các trường hợp được hoàn thuế, hồ sơ hoàn thuế, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế và công chức thuế trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hoàn thuế
Về miễn, giảm, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt: quy định cụ thể các trường hợp được miễn, giảm, xóa nợ cùng các loại giấy tờ trong hồ sơ đề nghị miễn, giảm, xóa nợ; Việc nộp và tiếp nhận hồ sơ; thời hạn và thẩm quyền giải quyết; trách nhiệm trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ miễn giảm, xóa nợ
Quản lý thông tin về NNT: thông qua việc xây dựng, thu thập, xử lý và quản lý hệ thống thông tin NNT, trách nhiệm giữa của các bên trong việc cung cấp thông tin về NNT, và chế độ bảo mật thông tin của NNT, các trường hợp được công khai thông tin về NNT
Về thanh tra, kiểm tra thuế: đưa ra nguyên tắc thanh tra thuế, kiểm tra thuế; các trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế; việc xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra; quy định việc kiểm tra lại trụ sở cơ quan thuế, tại trụ sở NNT; quyền, nghĩa
vụ, nhiệm vụ của các bên trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
Về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế: đưa ra các trường hợp phải cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; quy định cụ thể các biện pháp cưỡng chế, trách nhiệm của các bên khi cưỡng chế
Về xử lý vi phạm pháp luật về thuế: quy định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật về thuế; nguyên tắc, thủ tục xử lý vi phạm; thời hiệu và thẩm quyền xử lý vi phạm; xử lý vi phạm đối với công chức thuế, cơ quan thuế và các
cơ quan có liên quan (ngân hàng, tổ chức tín dụng, các ban ngành có liên quan)
c) Một số chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế
Các chỉ tiêu về kết quả
Trang 19Kết quả công tác thu thuế là số thuế thu được tính trong một niên độ nhất định (thường được tổng kết theo năm) Để đánh giá kết quả công tác quản lý thu thuế thường dựa vào một số chỉ tiêu:
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu thuế:
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch = Số thu thực tế/Số thu theo kế hoạch được giao
- Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm:
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm = Số thực thu năm nay/Số thực thu năm trước
Chỉ tiêu về hiệu quả
Hiệu quả là một chỉ tiêu quan trọng được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực Muốn kiểm nghiệm hiệu quả cao hay thấp phải chú ý cả hai mặt số lượng
và chất lượng Về số lượng, so sánh giữa chi phí bỏ tra và kết quả mang lại Về chất lượng, so sánh giữa hành vi hành chính và mục tiêu có ích đối với xã hội đã đạt được Tuy nhiên hiệu quả quản lý của mỗi công chức thuế phải được xem xét trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Trong lĩnh vực thuế, hiệu quả công tác quản lý thuế không chỉ xét đơn thuần theo giá trị bằng tiền Hiệu quả công tác quản lý thuế là hiệu quả của việc thực hiện chính sách thuế Hiệu quả thực hiện chính sách thuế được xác định qua việc so sánh các kết quả đạt được với toàn bộ các nguồn lực đã sử dụng Hiệu quả thể hiện ở kết quả đạt được là tối đa, chi phí thì tối thiểu Đồng thời, hiệu quả công tác quản lý thuế cũng là hiệu quả của công tác phục vụ NNT trong quá trình chấp hành pháp luật thuế, hiệu quả của việc phát huy các tác dụng vốn có của mỗi loại thuế đối với sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội Do vậy, hiệu quả công tác quản lý thuế phải được xét ở các góc độ hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội và hiệu quả chính trị
- Hiệu quả kinh tế: khai thác và nộp đầy đủ kịp thời các khoản thu theo Luật định về thuế vào ngân sách nhà nước với chi phí thối thiểu
- Hiệu quả xã hội: công tác quản lý thuế phải tích cực góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội
Trang 20- Hiệu quả chính trị: là hiệu quả thực hiện các chủ trương chính sách kinh
tế xã hội của Đảng và Nhà nước
Một số tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế:
Có nhiều căn cứ để đánh giá hiệu quả quản lý thuế Dưới đây là một số tiêu chuẩn đánh giá phổ biến (định tính, định lượng):
- Tỷ lệ số thu so với nguồn thu = số thuế thực thu/tiềm năng thu thuế
- Chi phí thu thuế và tỷ lệ chi phí thu thuế so với số thuế thu được:
Chi phí thu thuế “là toàn bộ những chi phí cần cho thi hành nghiệp vụ thuế (như chi phí nhân sự, chi phí đi lại, chi phí vật dụng….) được hạch toán tất cả vào ngân sách chi hàng năm theo kế toán thông thường” Theo Adam Smith, chi phí phải bỏ ra để thu thuế bao gồm chi lương cho bộ máy thuế, xây dựng nơi làm việc, đào tạo, ấn loát ấn chỉ thuế, mua sắm trang thiết bị và dụng cụ làm việc
Tỷ lệ chi phí thu thuế =
Chi phí thu thuế trong một niên độ nhất định
Số thuế thu được trong một niên độ nhất định
Tỷ lệ chi phí thu thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thông thường là từ 3% trở xuống Tỷ lệ chi phí thu thuế có xu hướng giảm đi Bởi vì nền kinh tế tăng trưởng kéo theo các nguồn thu thuế tăng lên đáng kể, trong khi đó số nhân viên thi hành thuế tăng chậm
- Hiệu quả của lập dự toán thu:
Chất lượng của việc đánh giá là lập dự toán thu thể hiện ở độ sai số giữa
số liệu đánh giá, số liệu dự toán với số thực hiện Theo Tổng cục Thuế, nếu sai
số thực hiện so với dự toán trong phạm vi bằng hoặc dưới 5% thì chất lượng dự toán đạt cao, từ 5% đến 10% thì chất lượng trung bình và trên 10% thì việc lập
dự toán chưa sát
Bên cạnh đó, việc xây dựng kế hoạch thu cao hơn nhiều so với nguồn thu,
cơ quan thuế phải tìm mọi cách để hoàn thành sẽ dễ dẫn đến các tác động tiêu cực đến quá trình “phát triển, nuôi dưỡng” nguồn thu cho ngân sách nhà nước
- Đánh giá tập thể, cá nhân theo định kỳ (Quý, năm):
Trang 21Việc đánh giá kết quả thi đua và xét xếp loại tập thể, cá nhân trong ngành Thuế được thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế thống nhất ở cơ quan thuế các cấp Theo đó, hàng quý, và kết thúc năm, các tập thể đội thuế và cán bộ công chức thuế tiến hành đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình dựa trên
4 tiêu chí ban hành cụ thể cho tập thể và cá nhân để làm căn cứ xét thi đua khen thưởng và xét tiền lương tăng thêm của ngành
Các tiêu chí đánh giá:
Đối với tập thể:
Tiêu chí 1: Thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao (600 điểm)
Tiêu chí 2: Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước (150 điểm)
Tiêu chí 3: Xây dựng tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng trong sạch, tập thể đoàn kết (100 điểm)
Tiêu chí 4: Tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ về công tác thi đua khen thưởng, phong trào văn nghệ, thể thao, hoạt động nhân đạo, từ thiện (100 điểm)
Đối với cá nhân:
Tiêu chí 1: Thực hiện nhiệm vụ được giao (600 điểm)
Tiêu chí 2: Chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; thực hiện kỉ cương, kỉ luật của ngành; nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị (150 điểm)
Tiêu chí 3: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc, tinh thần học tập, nâng cao trình độ (100 điểm)
Tiêu chí 4: Tham gia các phong trào thi đua, phong trào văn nghệ, thể thao, từ thiện,… (100 điểm)
Tổng điểm tối đa cho 4 tiêu chí là 950 điểm Có thêm điểm thưởng và điểm trừ Điểm thưởng tối đa 50 điểm
Căn cứ số điểm đạt được để xếp loại thi đua cho tập thể và cá nhân như sau
Trang 22Bảng 1.1: Tổng hợp các chỉ tiêu xếp loại CBCC ngành thuế
Đơn vị Số điểm Xếp loại Khen thưởng Chi trả tiền lương tăng
tăng thêm của ngành
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế
Cũng như nhiều hiện tượng kinh tế - pháp luật khác, việc quản lý thuế chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố chủ yếu sau:
a Hệ thống chính sách thuế và sự hiểu biết về chính sách thuế của NNT
Hệ thống chính sách thuế là tập hợp hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế được ban hành trong một giai đoạn nhất định để thực hiện đầy đủ các chức năng của thuế
Hệ thống chính sách thuế luôn tồn tại và trở thành một yếu tố chủ yếu chi phối toàn hệ thống thuế Hệ thống chính sách thuế phán ánh nội dung các cam kết về thuế; tác động trực tiếp đến mô hình và quy mô của bộ máy tổ chức thu thuế; giúp phát triển, mở rộng và nâng cao trình độ hiểu biết về thuế của NNT;
Trang 23quy định mối quan hệ giữa bộ máy quản lý thu thuế với NNT trong việc thực hiện thu, nộp thuế vào NSNN theo chính sách đang áp dụng
Chính sách thuế có nội dung đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ chung của cả người nộp thuế và người quản lý và quan trọng là các mức thuế suất phải được tiến hành trên sự phân tích khoa học, toàn diện để tìm ra được những sự hợp nhất trong quản lý và hành thu, sẽ tăng được tính hiệu quả của công tác quản lý thu thuế
Chính sách thuế nếu được đưa đến NNT một cách thường xuyên và nhất quán sẽ tạo những hiệu ứng tốt từ phía NNT, nâng cao tính tự nguyện chấp hành pháp luật, giúp NNT có thói quen sống và làm việc theo pháp luật sẽ hạn chế được tối đa hành vi trốn thuế, gian lận thuế, chây ì tiền thuế, góp phần tăng thu cho Ngân sách Thông qua việc được tuyên truyền, phổ biến một cách kịp thời chính sách thuế, NNT có thể hoạch định phương hướng kinh doanh tốt hơn để mang lại nhiều thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, thay đổi tình trạng tài chính
từ đó làm thay đổi hành vi kinh doanh tạo điều kiện tốt cho công tác quản lý của
cơ quan thuế Đồng thời trong quá trình thực thi, NNT cũng phản hồi những thông tin bất cập của hệ thống chính sách, để giúp cơ quan thuế hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi chính sách góp phần tích cực trong tiến trình hiện đại hóa ngành thuế
Doanh nghiệp và cá nhân nộp thuế là đối tượng quản lý thuế của cơ quan Thuế Đặc điểm của người nộp thuế gồm: ngành nghề kinh doanh, qui mô, hình thức sở hữu, trình độ quản lý, trình độ công nghệ đều chi phối việc xác định các phương pháp, biện pháp, qui trình quản lý thuế Khi đặc điểm của Đối tượng nộp thuế thay đổi, qui mô ngày càng phát triển, mở rộng, trình độ quản lý, trình
độ công nghệ ngày càng hiện đại thì chính sách, phương pháp, biện pháp, qui trình quản lý thuế của cơ quan Thuế cũng phải thay đổi, từ đó chi phối việc xác định cơ cấu tổ chức quản lý thuế Chính vì vậy, khi thiết kế mới hay cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, cơ quan thuế phải căn cứ vào các đặc điểm của đối tượng nộp thuế để bố trí các bộ phận quản lý và nhân lực phù hợp
Trang 24b Bộ máy quản lý thuế
Bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến sự vận hành toàn bộ hệ thống thuế Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý thuế thì sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống thuế
và hiệu quả quản lý sẽ cao Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy, giảm sút hiệu quả quản lý thuế
Bộ máy quản lý thuế đảm bảo cho hệ thống chính sách thuế được thực thi đầy đủ, nghiêm túc, theo trình tự mà không chồng chéo chức năng nhiệm vụ Với một bộ máy phù hợp với tình hình quản lý trong giai đoạn mới sẽ đảm bảo mục tiêu thu Ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT, giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế và chi phí tuân thủ pháp luật của NNT, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý thuế
Từ 1/7/2007, ngành thuế chuyển sang mô hình quản lý theo chức năng Ngành thuế đã kiện toàn và thành lập mới các bộ phận quản lý thuế theo chức năng gồm bộ phận tuyên tuyền hỗ trợ, bộ phận xử lý kê khai và kế toán thuế, bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, bộ phận thanh tra kiểm tra xử lý các vi phạm về thuế để thực hiện quản lý thuế theo chức năng trong toàn bộ hệ thống thuế Việc thay đổi này đã làm thay đổi cách thức quản lý thuế, từ quản lý theo đối tượng sang quản lý theo chức năng, thay đổi tư duy của cán bộ thuế và NNT, mang tính chuyên nghiệp và hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế làm thu nội địa ngày một tăng, tỉ lệ động viên thu Ngân sách Nhà nước (NSNN) càng nhiều,
số nợ đọng càng giảm, số NNT được tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật thuế càng tăng, …
Tổng số thu nội địa giai đoạn 2008-2010 toàn ngành thuế đạt 1.094.498 tỷ đồng, bằng 119,9% dự toán (tương ứng vượt gần 182 nghìn tỷ đồng); tốc độ tăng thu bình quân đạt 17,4%/năm; tỷ lệ động viên thu NSNN (trừ thu từ đất) bình quân đạt 23% (nếu loại trừ số thu từ khai thác tài nguyên dầu thô và đất đai thì tỷ
lệ động viên vào NSNN đạt khoảng 20-21%, trong đó, thuế và phí đạt 18-19%
Trang 25GDP, phù hợp với thông lệ quốc tế từ 18-20% GDP) Cơ cấu nguồn thu đã thay đổi theo chiều hướng tích cực, tỷ trọng nguồn thu nội địa (trừ dầu thô) trong tổng thu NSNN đã tăng từ 52% năm 2006 lên 63,4% năm 2010; tỷ trọng nguồn thu từ các cơ sở kinh doanh trong tổng thu nội địa tăng từ 64,8% năm 2006 lên 69% năm 2010; giảm tỉ lệ nợ đọng toàn ngành từ 15% xuống dưới 10%,… đã minh chứng cho sự ảnh hưởng của bộ máy quản lý thuế tới hiệu quả quản lý thuế
c Nhân tố con người
Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong mọi lĩnh vực quản lý Trong công tác quản lý thuế, đội ngũ cán bộ, công chức thuế là nhân tố quan trọng, góp phần vào việc xây dựng hệ thống chính sách thuế phù hợp, khoa học, minh bạch và quyết định việc đề xuất, áp dụng các phương pháp, quy trình và các biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế hợp lý, khoa học, đảm bảo tính tiến tiến, hiện đại, đạt hiệu quả kinh tế cao
Cán bộ công chức thuế là người trực tiếp thực thi chính sách thuế Cán bộ thuế có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có sự am hiểu chính sách pháp luật, có
kỹ năng thành thạo, thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường làm việc, luôn tuân thủ pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp, làm việc có trách nhiệm, luôn tận tâm và thân thiện với NNT, đổi mới trong tư duy và hành động
sẽ mang lại giá trị tốt nhất cho mọi tổ chức và cá nhân, cũng là yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý thuế
Việc đánh giá kết quả thi đua của tập thể đội thuế và cán bộ công chức thuế hàng quý, hàng năm nhằm tạo động lực để cán bộ công chức phát huy tính chủ động, sáng tạo, tận tuỵ, trách nhiệm, nỗ lực học tập, thường xuyên tu dưỡng rèn luyện để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế Từ đó, sàng lọc những cán bộ công chức không hoàn thành được nhiệm vụ và không có khả năng đảm đương nhiệm vụ được giao để thực hiện điều động, luân phiên và có chế độ bồi dưỡng, đạo tạo phù hợp
d Cơ sở vật chất cho quản lý thuế
Trang 26Cơ sở vật chất cũng là nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế Cơ sở vật chất được nhắc đến ở đây là nhà cửa, các trang thiết bị, công cụ, dụng cụ phục vụ cho hoạt động quản lý thuế của cơ quan thuế
Cùng với sự phát triển của đất nước, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thuế phải ngày càng khang trang, hiện đại Một mặt, để bộ máy quản lý thuế có thể hoạt động một cách hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí, tiêu cực Mặt khác, để phục vụ NNT một cách nhanh gọn, chính xác, giảm thiểu những phiền
hà không đáng có
Một trong những cơ sở vật chất quan trọng đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế của cơ quan thuế Thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý danh bạ NNT, quản lý hoạt động kê khai, nộp thuế, chấm bộ thuế, theo dõi sự thay đổi của NNT đã làm giảm thiểu rất nhiều thời gian, công sức của cán bộ thuế trong quản lý thuế cũng như của NNT trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước Qua vận dụng những ưu thế của công nghệ thông tin sẽ giúp việc quản lý thuế được chính xác tình trạng hoạt động cũng như thu thập thông tin của NNT Thông qua ứng dụng CNTT thực hiện trao đổi, đối chiếu số liệu, nâng cao tính chính xác của công tác dự báo nguồn thu cũng như báo cáo, thống kê
Với dự án hiện đại hóa thu NSNN, Ngành thuế đã phối hợp với các Ngân hàng trong việc thu các khoản thuế, phí trực tiếp tại các điểm thu của Ngân hàng
Để triển khai dự án thu thuế qua NHTM một cách rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu nộp thuế, thì cơ quan thuế phải đầu tư về công nghệ, quy trình, đồng thời, tiến hành rà soát một cách chính xác, đầy đủ danh bạ đối tượng nộp thuế, đảm bảo hầu hết các hộ kinh doanh đều được cấp mã số thuế và lập bộ trên các ứng dụng của ngành để làm cơ sở trao đổi dữ liệu thông tin người nộp thuế,
sổ bộ thuế với kho bạc và ngân hàng Thông qua việc phối hợp này, NNT được tuyên truyền, quảng cáo, cơ quan thuế dần chuẩn hóa được dữ liệu của NNT phục vụ tốt hơn cho quá trình quản lý
1.3 Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Trang 271.3.1 Hộ kinh doanh cá thể và vai trò của hộ kinh doanh cá thể
* Khái niệm hộ kinh doanh nhìn ở góc độ đăng ký kinh doanh (được định
nghĩa tại điều 49 Nghị định 43/2010/ND-CP ngày 15/04/2012 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh)
Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Như vậy hộ kinh doanh được nhận diện bởi những dấu hiệu cơ bản sau:
- Chủ hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình
- Phải thực hiện kinh doanh tại một địa điểm
- Sử dụng không quá 10 lao động
- Không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng
- Chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh
- Hộ kinh doanh có thể phải đăng ký kinh doanh có thể không (trong trường hợp kinh doanh những ngành hàng không phải đăng ký kinh doanh)
- Hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp nên không được áp dụng các quy định của pháp luật phá sản doanh nghiệp
* Hộ kinh doanh dưới góc độ thuế
Tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và các văn bản hướng dẫn thực hiện thì hộ kinh doanh là hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân thực hiện sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế theo quy định tại các Luật thuế hiện hành hoặc/và có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân
Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán là các hộ kinh doanh không có đăng ký kinh doanh hoặc không phải đăng ký kinh doanh, không đăng
ký thuế; không thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ; hộ có mở sổ sách kế toán nhưng không thực hiện đúng chế độ kế toán, không thực hiện đúng quy định về chế độ hoá đơn, chứng từ khi mua bán hàng hoá, dịch vụ; hộ không thực
Trang 28hiện nộp tờ khai theo đúng quy định hoặc nộp tờ khai thuế nhưng số liệu kê khai không chính xác, không trung thực, cơ quan thuế không thể căn cứ vào sổ sách
kế toán, hóa đơn chứng từ để xác định số thuế phải nộp phù hợp với thực tế kinh doanh
* Vai trò của hộ kinh doanh cá thể
- Giải quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập góp phần cải thiện đời sống cho người lao động
- Tuy mức đóng góp của từng hộ kinh doanh cá thể không lớn nhưng với một lực lượng hùng hậu, các hộ kinh doanh cá thể góp phần quan trọng đối với thu ngân sách nhà nước
- Các hộ kinh doanh cá thể là một kênh phân phối hàng hoá quan trọng và nhanh nhất đến người tiêu dùng trong toàn xã hội
* Mục đích và yêu cầu của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh nhằm đạt được 1 số mục đích
cơ bản sau:
- Tăng thu cho NSNN: mặc dù số thuế thu được từ hộ kinh doanh (đa phần là hộ khoán) chỉ chiếm hơn 2% tổng số thu nội địa không kể dầu thô và đất nhưng đây là lĩnh vực phức tạp và khó quản lý Do đó, việc làm tốt công tác quản lý thuế đối với hộ cá thể sẽ có tác dụng động viên, tăng thu cho NSNN
- Thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với khu vực kinh tế này
- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các hộ kinh doanh, tạo thói quen "sống và làm theo pháp luật" trong hộ kinh doanh
Yêu cầu của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh được khái quát là:
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng thường xuyên các luật thuế và các văn bản dưới luật để hộ kinh doanh hiểu và tự giác chấp hành
- Tận thu, khai thác triệt để các nguồn thu kết hợp nuôi dưỡng nguồn thu:
Thu hết số thuế ghi thu, không để nợ đọng
Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hộ nghỉ, bỏ kinh doanh
Quản lý hết đối tượng tham gia sản xuất kinh doanh (gồm những hộ
Trang 29kinh doanh cố định - có cửa hàng cửa hiệu và hộ kinh doanh vãng lai)
Quản lý sát doanh thu của đối tượng nộp thuế
- Phải thực hiện đầy đủ, đúng quy trình nghiệp vụ của Ngành đề ra cho quản lý hộ kinh doanh
1.3.2 Nội dung quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.3.2.1 Công tác lập kế hoạch
Kế hoạch quản lý thuế đối với hộ kinh doanh nằm trong kế hoạch chung của cơ quan thuế Tuy số thu từ hộ kinh doanh chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng số thu của cơ quan thuế (chỉ dưới 10%) nhưng với vai trò của mình, việc quản lý hộ kinh doanh luôn được quan tâm của các cấp các ngành, của cơ quan thuế từ khâu xây dựng kế hoạch đến khâu tổ chức quản lý
Việc xây dựng kế hoạch thu thuế đối với hộ kinh doanh được thực hiện hàng năm trên cơ sở đánh giá số thực thu năm trước, tốc độ tăng thu và sổ bộ dự kiến cho năm sau Tháng 7 hàng năm, khi có hướng dẫn về xây dựng dự toán thu cho năm sau, Chi cục thuế triển khai đến đội thuế liên xã phường - quản lý hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán tiến hành xây dựng dự toán thu đối với hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán trên địa bàn quản lý Việc xây dựng phải căn cứ vào hướng dẫn chung của toàn ngành và phù hợp với tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, lấy ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, gửi về chi cục để chi cục tổng hợp, xây dựng dự toán cho toàn chi cục
1.3.2.2 Các công việc cụ thể
Việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh từ khâu đăng ký thuế; tính thuế,
kê khai nộp thuế; quản lý nợ thuế; thanh tra kiểm tra đều được thực hiện thống nhất theo các quy trình của Tổng cục thuế
a) Công tác Đăng ký thuế
Đăng ký thuế là công việc đầu tiên để quản lý người nộp thuế Việc đăng
ký thuế đối với hộ kinh doanh được thực hiện tại Chi cục thuế đối với các hộ có đăng ký kinh doanh và không có đăng ký kinh doanh
Trang 30Quản lý thuế về đăng ký thuế là quản lý hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thuế; thay đổi thông tin đăng ký thuế; chấm dứt hiệu lực mã số thuế; trách nhiệm quản lý và sử dụng mã số thuế
* Trách nhiệm của cơ quan thuế
Cơ quan thuế cung cấp mẫu tờ khai đăng ký thuế cho hộ kinh doanh, hướng dẫn các thủ tục, kê khai hồ sơ đăng thuế, cấp mã số thuế và Giấy chứng nhận đăng ký thuế (hoặc Thông báo mã số thuế) cho hộ kinh doanh
Cơ quan thuế sử dụng mã số thuế để là hộ kinh doanh và ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch với hộ kinh doanh như: thông báo nộp thuế, thông báo phạt, biên lai thu thuế,
Cơ quan thuế xây dựng, quản lý toàn bộ hệ thống mã số thuế của hộ kinh doanh và cập nhật thông tin đăng ký thuế thay đổi vào hệ thống quản lý mã số thuế trên mạng máy tính ngành Thuế
* Trách nhiệm của hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh phải kê khai đăng ký mã số thuế, kê khai bổ sung những thông tin thay đổi về đăng ký thuế Khi chấm dứt hoạt động hoặc tạm ngừng kinh doanh, hộ kinh doanh phải khai báo với cơ quan thuế và chỉ được sử dụng
mã số thuế trong các giao dịch để hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế
Hộ kinh doanh phải ghi mã số thuế vào các giấy tờ giao dịch như: hoá đơn, chứng từ mua, bán hàng hoá, dịch vụ, sổ sách kế toán, hợp đồng kinh tế và các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, sử dụng mã số thuế khi mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác
Hộ kinh doanh không được cho mượn, tẩy xoá, huỷ hoại hoặc làm giả Giấy chứng nhận đăng ký thuế, Thẻ mã số thuế cá nhân
b) Công tác xác định mức thuế phải thu nộp
Việc xác định mức thuế phải nộp đối với hộ kinh doanh chính là khâu tính thuế, kê khai, nộp thuế mà các bước công việc phải làm và quản lý đó là:
- Xây dựng căn cứ để xác định mức thuế khoán của hộ kinh doanh
- Đôn đốc, tiếp nhận tờ khai thuế khoán
Trang 31- Dự kiến doanh thu và số thuế phải nộp
- Công khai doanh thu và mức thuế phải nộp của hộ kinh doanh và tham vấn ý kiến của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường
- Duyệt sổ bộ thuế ổn định trong năm
- Thông báo thuế
Đối với những hộ mới ra kinh doanh trong năm, những hộ thay đổi phương pháp tính thuế GTGT (từ hộ kê khai sang hộ khoán), những hộ có phát sinh hoạt động kinh doanh vãng lai, những hộ có thay đổi ngành nghề, quy mô kinh doanh, những hộ di chuyển địa điểm, tạm ngừng kinh doanh, chi cục thuế thực hiện điều chỉnh, bổ sung số bộ thuế hàng tháng Cán bộ thuế hướng dẫn hộ kinh doanh lập tờ khai và dự kiến tiền thuế phải nộp; Chi cục thuế thực hiện duyệt sổ bộ thuế thay đổi, bổ sung hàng tháng rồi ra thông báo yêu cầu hộ kinh doanh nộp thuế theo mức mới
* Cách xác định số thuế Khoán phải nộp
Số thuế GTGT
GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế x
Thuế suất thuế GTGT hàng hoá, dịch vụ đó Trong đó:
GTGT của hàng
Tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu
Tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu được tính cho từng loại hàng hóa, dịch vụ trong từng khu vực do Cục thuế ban hành
* Quản lý việc xét miễn, giảm thuế đối với hộ khoán
Hộ khoán khi tạm ngừng, nghỉ kinh doanh hoặc gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, mắc bệnh hiểm nghèo được xét miễn giảm thuế theo đúng thực tế Việc xét miễn, giảm thuế phải đúng đối tượng, làm đầy đủ các bước theo quy trình quản lý hộ kinh doanh và quy trình miễn, giảm thuế trên nguyên tắc nghỉ đủ từ 15 ngày trở lên thì được xét giảm 50% mức thuế khoán của tháng và nghỉ từ … ngày thì được miễn thuế khoán của tháng đó
* Công tác thu nộp thuế khoán
Trang 32Việc thu thuế khoán được thực hiện thông qua ủy nhiệm thu (đối với địa bàn là thị trấn, phường) hoặc do cán bộ thuế trực tiếp thực hiện (đối với địa bàn
là các xã)
Căn cứ vào sổ bộ đã được duyệt, cán bộ đội thuế liên xã phường và cán bộ
ủy nhiệm thu đôn đốc hộ kinh doanh nộp tiền thuế đảm bảo đúng thời hạn ghi trên Thông báo thuế và nộp số thế đã thu vào Ngân sách trong vòng ba đến năm ngày kể từ ngày thu được thuế của hộ Cán bộ làm công tác Kế toán thuế thuộc đội Kê khai - kế toán thuế cập nhật kịp thời số nộp của cán bộ thuế và UNT nhằm hạn chế tối đa việc xâm tiêu, chiếm dụng tiền thuế
* Công tác chấm bộ hộ khoán
Chấm bộ là việc hạch toán số thuế đã nộp vào ứng dụng để từ đó xác định
số còn phải nộp cho kỳ sau của NNT
Việc chấm bộ hộ khoán trên địa bàn tỉnh Phú thọ đối với các chi cục đã triển khai mô hình phân tán (là những chi cục mà toàn bộ dữ liệu của chi cục được lưu và xử lý tai hệ thống máy trạm của chi cục) thực hiện tại đội thuế liên
xã thông qua một công cụ chấm bộ (QCT-đội) Còn các chi cục áp dụng mô hình tập trung (tức là dữ liệu của chi cục được lưu và xử lý tại hệ thống máy chủ của Cục thuế) thì thực hiện chấm bộ trên ứng dụng VATWIN
Yêu cầu của việc chấm bộ hộ khoán là chấm đúng NNT theo đúng mã số thuế đã được ghi trong thông báo, đúng kỳ nộp thuế nhằm phục vụ tốt công tác theo dõi và quản lý nợ
c) Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế đối với hộ kinh doanh
Việc quản lý nợ thuế đối với hộ kinh doanh thực hiện theo Quy trình Quản
lý nợ ban hành kèm quyết định 1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Các đội thuế liên xã phường phối hợp với đội Quản lý nợ thực hiện đôn đốc thuế nợ, cưỡng chế nợ thuế của các hộ kinh doanh có nợ thuế
* Mục đích
- Đảm bảo thi hành tốt các luật thuế
Trang 33- Nâng cao năng lực quản lý có hiệu quả của cơ quan thuế theo pháp luật thuế
- Qui định những bước công việc, thời gian thực hiện và mối quan hệ giữa các bộ phận tại cơ quan thuế theo pháp luật thuế
- Nâng cao tính tuân thủ của hộ kinh doanh trong việc thực hiện pháp luật thuế
* Nội dung công tác quản lý nợ đối với hộ kinh doanh
- Xây dựng chỉ tiêu thu nợ thuế
- Phân công quản lý nợ cho cán bộ chuyên quản địa bàn
- Phân loại tiền thuế nợ
- Lập nhật ký và sổ theo dõi tổng hợp số thuế nợ
- Đối chiếu số liệu giữa đội liên xã phường và đội QLN và đối chiếu với
hộ kinh doanh để xác định chính xác số thuế nợ nếu còn nghi vấn
- Thực hiện đôn đốc thu nộp
- Làm thủ tục xóa nợ thuế, gia hạn nộp thuế
* Một số chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý nợ thuế đối với hộ kinh doanh
d) Công tác kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của cơ quan thuế nhằm chống thất thu thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế; nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Qua kiểm tra sẽ đánh giá được thực trạng hoạt động của các bộ phận tham
Trang 34gia quản lý thuế, phòng ngừa và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm Công tác kiểm tra đối với hộ kinh doanh thực hiện dưới 2 hình thức:
- Công tác kiểm tra nội bộ: Đây là hoạt động của bộ phận kiểm tra nội
bộ, mục đích nhằm chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của các đội thuế và cán bộ thuế trong quá trình thực hiện quản lý thuế đối với hộ
cá thể
- Công tác kiểm tra NNT: căn cứ vào kế hoạch kiểm tra được lập từ đầu năm, đội kiểm tra phối hợp với đội thuế liên xã phường kiểm tra sự tuân thủ pháp luật của hộ kinh doanh trong việc đăng ký thuế, kê khai nộp thuế, ngừng
lý thuế đối với hộ kinh doanh, quy trình Miễn giảm thuế, quy trình Quản lý nợ thuế, quy trình Thanh tra kiểm tra và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Tổng cục Thuế, của Cục Thuế và của Chi cục Thuế
Để hộ kinh doanh tự giác chấp hành nghĩa vụ của mình, thì bản thân họ phải hiểu rõ về Chính sách thuế, phải tự tính ra được số thuế phải nộp và số này nằm trong khả năng đóng góp của họ Vì vậy, hệ thống chính sách thuế cho hộ kinh doanh càng đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, mang tính phổ thông, phù hợp với trình độ chung của cả NNT và cán bộ quản lý thuế sẽ càng thuận lợi cho khâu thực hiện
Bên cạnh đó, Tỉ lệ giá trị gia tăng trên doanh thu và tỉ lệ thu nhập chịu thuế trên doanh thu được thiết kế phù hợp với đặc điểm ngành kinh doanh và với
Trang 35địa bàn kinh doanh sẽ có tác động thúc đẩy hộ kinh doanh tích cực hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập và từ đó tăng mức thuế phải nộp
Chính sách tiền lương trong đó quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động thay đổi ảnh hưởng đến việc xác định doanh thu không phải nộp thuế GTGT của hộ kinh doanh, làm thay đổi số lượng hộ kinh doanh phải nộp thuế GTGT hàng tháng, số thuế phải nộp hàng tháng và từ đó ảnh hưởng tới công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
Đặc biệt, Những sự thay đổi trong quy định về ủy nhiệm thu (UNT) đối với hộ khoán cũng ảnh hưởng tới việc quản lý thuế đối với hộ khoán của cơ quan thuế Nếu như trước đây việc thu thuế đối với hộ khoán ở tất cả các địa phương được Ủy nhiệm về cho xã thu (thực hiện bởi nhân viên UNT), cán bộ thuế có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc nhân viên UNT thực hiện công tác thu nộp tiền thuế, theo dõi nợ đọng Thì từ năm 2012, chỉ tiến hành UNT đối với hộ kinh doanh có môn bài bậc 3, 4, 5, 6 cho các thị trấn, các phường còn các hộ kinh doanh có môn bài bậc 1, 2 tại các thị trấn, các phường và toàn bộ hộ kinh doanh
ở các xã đều do cán bộ thuế trực tiếp quản lý và thu thuế Sự thay đổi này có tác động lớn tới hoạt động quản lý thu của cơ quan thuế cả về chức năng nhiệm vụ
và nhân sự
Hộ kinh doanh với đặc điểm của mình thường kinh doanh với mức độ quy
mô nhỏ, phát triển kinh tế gia đình kiếm thêm thu nhập nên trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ và quản lý kinh doanh còn hạn chế So với những DN thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và thành phần kinh tế đầu tư nước ngoài, phần lớn những người chủ hộ kinh doanh cá thể đều chưa được đào tạo về nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn, việc quản lý kinh doanh chủ yếu theo kinh nghiệm Điều này dẫn tới phần lớn các chủ hộ kinh doanh có trình độ nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng rất thấp, biểu hiện rõ nhất là số đông cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo quy định
Trang 36phải nộp thuế theo phương pháp khoán Nên việc am hiểu về chính sách pháp luật còn hạn chế
b) Bộ máy quản lý thuế
Việc thay đổi mô hình quản lý từ quản lý theo đối tượng và theo sắc thuế sang mô hình quản lý theo chức năng đã ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh ở góc độ bộ phận quản lý trực tiếp và các chức năng được vận hành trong quá trình quản lý hộ
Với mô hình quản lý theo chức năng, việc quản lý thu thuế đối với hộ khoán được giao cho Đội thuế liên xã phường Bên cạnh đó; đội Tuyên truyền
hỗ trợ NNT làm công tác tuyên truyền chính sách thuế đến hộ kinh doanh, hướng dẫn giải đáp vướng mắc trong quá trình tổ chức thu nộp, đội Kê khai kế toán thuế làm công tác đăng ký thuế, tính thuế, lập bộ, xử lý các dữ liệu liên quan đến hộ trên ứng dụng quản lý thuế; đội Quản lý nợ quản lý dữ liệu về nợ của hộ kinh doanh trên ứng dụng; đội kiểm tra thực hiện chức năng kiểm tra hộ kinh doanh Với việc phân định rạch ròi các chức năng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh đã làm việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh không bị chồng chéo, không bỏ sót đối tượng và nhiệm vụ, khắc phục được những hạn chế của mô hình quản lý theo sắc thuế và theo đối tượng trước kia
c) Nhân tố con người
Trực tiếp tham gia quản lý thuế đối với hộ khoán là cán bộ công chức thuộc các đội thuế Liên xã phường
Thực chất, hoạt động quản lý thuế đối với hộ khoán không phức tạp như quản lý đối với Doanh nghiệp nên việc bố trí cán bộ chuyên quản cũng được sắp xếp với cơ cấu hợp lý, chỉ 1/3 trong số đó là Kiểm soát viên thuế (ngạch đại học), còn lại là các kiểm thu viên thuế (ngạch trung cấp) Những cán bộ này sử
kỹ năng đơn thuần là hướng dẫn hộ kê khai đăng ký thuế, kê khai doanh số thực
tế kinh doanh, xác định ngành nghề kinh doanh cho hộ, tiếp nhận đơn xin ngừng, nghỉ kinh doanh, đi thu thuế theo sổ bộ rồi nộp vào ngân sách… Tuy nhiên, họ lại là những người trực tiếp tiếp xúc với hộ kinh doanh với trình độ hiểu biết
Trang 37khác nhau và ý thức chấp hành pháp luật cũng khác nhau nên việc nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu chính sách pháp luật, phương pháp làm việc khoa học, thái độ phục vụ tận tình, công tâm, khách quan của họ có sức ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý của họ Các cán bộ công chức này lại trực tiếp được nhận phản hồi từ phía NNT về những bất cập trong chính sách thuế và cách thức quản lý thuế nên yêu cầu đối với họ là phải có một trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng phản ứng nhanh với sự thay đổi của NNT nhằm hỗ trợ cho công việc của họ
Các cán bộ thuế này nếu được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chính sách thuế, nghiệp vụ quản lý các khoản thu, sắc thuế, hiện đại hóa quản lý thu bằng ứng dụng tin học, được hướng dân cụ thể về thái độ và phong cách ứng xử với NNT là hộ kinh doanh, c thì hiệu quả quản lý sẽ là rất cao, xứng đáng là người bạn đáng tin cậy của NNT trong việc thực hiện các luật thuế
d) Cơ sở vật chất cho quản lý thuế
Cơ sở vật chất phục vụ cho quản lý thuế đối với hộ kinh doanh là trụ sở đội thuế, các trang thiết bị phục vụ công việc như máy tính, các phần mềm ứng dụng liên quan đến quản lý hộ cá thể, các công cụ dụng cụ cho quản lý
Hiện nay, việc quản lý hộ kinh doanh được thực hiện hoàn toàn trên ứng dụng công nghệ thông tin của ngành thuế, từ khâu đăng ký thuế (sử dụng ứng dụng quản lý thuế TNCN) đến khâu tính thuế, lập bộ, chấm bộ (sử dụng ứng dụng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh QCT hoặc VATWIN) đến khâu quản lý
nợ thuế (sử dụng ứng dụng QTNCC) Do vậy, việc sử dụng thành thạo ứng dụng, cập nhật kịp thời những thay đổi của chính sách và của NNT vào ứng dụng sẽ hỗ trợ rất lớn cho công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, tiết kiệm được các khoản chi phí như: chi phí cho văn phòng phẩm, chi phí đi lại,
Ngành thuế đã triển khai thu thuế đối với hộ kinh doanh qua hệ thống ngân hàng và đã nâng cấp đường truyền để có thể truyền dữ liệu về hộ kinh doanh sang cho Ngân hàng và Kho bạc Tuy bước đầu, việc triển khai này còn chưa đạt được kết quả như mong muốn, như là việc hộ khoán không trực tiếp đi
Trang 38nộp thuế tại Ngân hàng mà nộp cho cán bộ thuế (hoặc UNT) rồi cán bộ thuế (hoặc UNT) đi nộp tại Ngân hàng; việc trao đổi dữ liệu không thường xuyên, dữ liệu không chính xác, nhưng cũng là những bước đi quan trọng đánh dấu những cải cách trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
Kết luận chương I:
Việc phân tích sâu sắc lý luận về quản lý thuế đối với hộ cá thể, chỉ ra mô hình quản lý thu thuế đối với hộ cá thể với các phương thức, hình thức, nguyên nhân và những kết quả của nó giúp chúng ta có được tư duy và phương pháp khách quan, khoa học trong việc nghiên cứu công tác quản lý thuế nói chung và nhìn nhận, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ cá thể trên địa bàn huyện Thanh Thuỷ trong thời gian qua
Từ những cơ sở lý luận được phân tích tại chương 1, đối chiếu với thực tiễn công tác quản lý thuế tại chương 2 để có những giải pháp tăng cường công tác quản lý thu thuế đối với hộ cá thể một cách hiệu quả hơn
Trang 39CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ Ở CHI CỤC THUẾ HUYỆN THANH
và phía Nam giáp huyện Thanh Sơn, phía Đông giáp huyện Ba Vì - thành phố
Hà Nội Thanh Thủy là cửa ngõ nối liền các tỉnh phía Tây Bắc với Thủ đô Hà Nội và cũng là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn hóa của Phú Thọ với Hà Nội, Hòa Bình và các tỉnh phía Tây Bắc của Tổ quốc
Thanh Thủy là huyện thuần nồng với 15 đơn vị hành chính gồm 14 xã và
1 thị trấn, diện tích đất tự nhiên 12.510 ha, dân số gần 80 ngàn người Huyện Thanh Thủy có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú gồm than bùn, than nâu, sắt, cao lanh, fenspat, đất sét Đặc biệt, huyện Thanh Thủy có nguồn nước khoáng nóng quý hiếm ở Thị trấn Thanh Thủy và xã Bảo Yên với trữ lượng lớn trên diện tích khoảng 1km2 được đánh giá là 1 trong 7 mỏ nước khoáng nóng có chứa hàm lượng nguyên tố vi lượng cao và có khả năng chữa một số bệnh Người dân Thanh thủy có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời xen lẫn các truyền thuyết của dân tộc thể hiện qua các di tích lịch sử văn hóa còn lại đến ngày nay như Đền Lăng Xương - di tích cấp quốc gia, tượng đài chiến thắng Tu
vũ, Đình Đào Xá,…
Từ những đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội nêu trên huyện Thanh thủy có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, thương mại du lịch
Những năm qua, kinh tế huyện Thanh Thủy có bước phát triển mới về quy
mô, hiệu quả Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 10%/năm Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành thương mại, dịch vụ, trong
Trang 40đó: nông, lâm, thủy sản 51%; công nghiệp, xây dựng 19%; thương mại, dịch vụ 30% (năm 2008 thì nông, lâm, thuỷ sản chiếm 51%; Công nghiệp xây dựng chiếm 24% và thương mại dịch vụ chiếm 25%) Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2012 đạt hơn 210 tỷ đồng, tăng 34% so với năm 2008 Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 đạt hơn 30.000 tấn, tăng 7% so với năm 2008 Giá trị công nghiệp, xây dựng đạt hơn 175 tỷ đồng, tăng 60% so với năm 2008 Gá trị thương mại, dịch vụ đạt hơn 280 tỷ đồng tăng 200% so với năm 2008 Thu ngân sách từ kinh tế địa phương năm 2012 đạt hơn 33 tỷ đồng, tăng 65% so với năm 2008 Tổng chi ngân sách địa phương năm 2012 trên 320 tỷ đồng, tăng hơn 300% so với năm 2008 Vốn huy động cho đầu tư phát triển và sản xuất kinh doanh năm 2012 đạt gần 250 tỷ đồng, tăng hơn 200% so với năm 2008 Tổng vốn đầu tư phát triển năm 2012 đạt khoảng 400 tỷ đồng, tăng gần 200% so với năm 2008 Dư nợ cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2012 đạt 535 tỷ đồng, tăng hơn 300% so với năm 2008 Tổng dư nợ cho vay các chương trình của Ngân hàng Chính sách năm 2012 đạt 183 tỷ đồng, tăng 260% so với năm 2008 Thu từ Khu vực kinh tế Nhà nước năm 2012 đạt 710 triệu đồng, khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 12.120 triệu đồng trong đó thu từ hộ kinh doanh đạt 2.500 triệu đồng Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện một cách đáng kể
Chi cục Thuế huyện Thanh Thuỷ là đơn vị hành chính trực thuộc Cục Thuế tỉnh Phú Thọ, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (gọi chung là thuế) thuộc phạm
vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn huyện Thanh Thủy theo quy định của pháp luật
Năm 1999 cùng với sự tái thành lập huyện Thanh Thủy, Chi cục thuế Thanh Thủy được tái thành lập với 16 cán bộ công chức được tổ chức thành 04
tổ, đội thuế Đến nay, Chi cục Thuế huyện Thanh Thuỷ đã có 26 cán bộ công chức được tổ chức thành 07 đội chức năng gồm 05 đội thuế văn phòng và 02 đội thuế liên xã phường Chi cục Thuế huyện Thanh Thủy thực hiện nhiệm vụ,