1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và nâng cao năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh nghệ an

88 428 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 674,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đoàn Thanh niên cộng sản TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, chỗ dựa vững chắc của chính quyền; để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà đất nước đang đặt ra đối với thanh niên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

- Nguyễn Đình Hùng

XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS.TS Lê Thị Anh Vân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực của người lãnh đạo Đoàn cấp cơ sở trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu riêng

của cá nhân tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và rõ ràng

Nghệ An, ngày 20 tháng 3 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Đình Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa .2

Lời cam đoan 3

Danh mục các chữ viết tắt 4

Danh mục các bảng 5

Mở đầu 6

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 11

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH 13

1.1 CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ 13

1.1.1 Khái niệm cán bộ đoàn cơ sở 13

1.1.2 Vai trò của cán bộ đoàn cơ sở 14

1.1.3 Đặc điểm của cán bộ đoàn cơ sở 16

1.1.4 Phân loại cán bộ đoàn cơ sở 16

1.2 NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ 17

1.2.1 Khái niệm năng lực lãnh đạo 17

1.2.2 Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa 18

1.2.3 Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở .21

1.2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở 22

Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN 25

Trang 5

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN .25

2.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN .30

2.2.1 Số lượng 30

2.2.2 Chất lượng 31

2.2.3 Cơ cấu 34

2.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN .35

2.3.1 Điểm mạnh và nguyên nhân 36

2.3.2 Điểm yếu và nguyên nhân 39

Chương 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN CỦA TỈNH NGHỆ AN 44

3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 49

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 76

Trang 6

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt:

1 Đoàn Thanh niên Cộng sản: Đoàn TNCS

2 Đội Thiếu niên tiền phong: Đội TNTP

3 Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa: CNH – HĐH

4 Đoàn viên thanh niên: ĐVTN

5 Xã hội chủ nghĩa: XHCN

6 Ban Thường vụ: BTV

7 Ban Chấp hành: BCH

Trang 7

Danh mục các bảng:

Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An Bảng 2.2: Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ cán

bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ An

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy thanh niên luôn là lực lượng xung kích,

đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong bối cảnh hiện nay, sự nghiệp đổi mới có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào lực lượng thanh niên Đoàn Thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, chỗ dựa vững chắc của chính quyền; để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà đất nước đang đặt ra đối với thanh niên thì đòi hỏi cần phải có đội ngũ cán bộ đoàn đủ phẩm chất và năng lực

Khi nói về vai trò của thanh niên và đội ngũ cán bộ đoàn trong sự nghiệp đổi mới Đảng ta đã khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào sự bồi dưỡng, rèn luyện của thế hệ thanh niên" Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực, giữ vai trò hết sức quan trọng, vì chính đội ngũ cán bộ đoàn là những người lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối, biến đường lối, chính sách thành hiện thực

Trong hệ thống tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thì đoàn cơ sở giữ vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của các cấp bộ đoàn Trong điều kiện đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH thì cần phải nâng cao năng lực cán bộ đoàn cơ sở Đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực là điều kiện cần thiết để đoàn kết, tập hợp và phát huy những tiềm năng, thế mạnh của đoàn viên vào việc tham gia phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề này càng trở nên quan trọng và cấp bách khi năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đang nói chung, trong đó có cán bộ đoàn nói riêng đang có chiều hướng

Trang 9

giảm sút như Đảng ta đã chỉ rõ: Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng, khi nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta Những yếu kém này đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiềm tin, uy tín của Đảng và Nhà nước đối với các tầng lớp nhân dân

Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH-HĐH vị trí của thanh niên và tổ chức đoàn ngày càng giữ một vị trí hết sức quan trọng, do đó, củng cố, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đoàn

cơ sở Tính đến tháng 5/2012, tổng số xã, phường, thị trấn của tỉnh Nghệ An là 477 đơn vị, theo đó có 477 tổ chức đoàn cấp xã, với tổng số 5.404 đồng chí uỷ viên Ban Chấp hành được Đại hội Đoàn cấp xã bầu, trong đó có 1.741 đồng chí cán bộ đoàn Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An đã có những chuyển biến mạnh mẽ, không ngừng được củng cố, nâng cao về năng lực, góp phần tích cực thực hiện thành công việc đẩy mạnh CNH-HĐH ở cơ sở Đội ngũ cán bộ đoàn ngày càng được trẻ hóa, có kiến thức cơ bản cần thiết về kinh tế - xã hội; các cấp ủy cũng đã quan tâm hơn trong việc bồi dưỡng, tạo điều kiện cho tuổi trẻ cống hiến và trưởng thành

Thực tiễn cho thấy, cán bộ và công tác cán bộ đoàn cơ sở nhìn chung đang đứng trước những khó khăn, hạn chế đó là khả năng đáp ứng ngày càng đa dạng nhu cầu của thanh niên; công tác quy hoạch, đào tạo còn bất cập chưa đáp ứng được đặc thù cán bộ đoàn luân chuyển nhanh Cán bộ ít được đào tạo bài bản, phần lớn dựa vào kinh nghiệm; một bộ phận năng lực công tác, phương pháp, lề lối làm việc hạn chế, thiếu nhiệt tình say mê với phong trào, khó thuyên chuyển điều này đã góp phần không nhỏ làm giảm suy giảm năng lực của tổ chức đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn Từ thực trạng

đó, trrước yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH, với trách nhiệm của

Trang 10

người cán bộ đoàn, tôi chọn đề tài: “Xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo của

người cán bộ đoàn cấp cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp lớp cao

cấp lý luận chính trị của mình

2 Lịch sử nghiên cứu:

Về chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở nói riêng thì đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập từ những góc độ khác nhau; các nghiên cứu này được trình bày dưới nhiều hình thức như sách tham khảo, luận văn, luận án, các bài viết đăng báo, tạp chí… Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

- Luận án tiến sỹ "Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay"; của nghiên cứu sinh Lê Văn Cầu, thực hiện

tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999

- Luận văn thạc sỹ: "Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho đoàn viên các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An" của tác

giả Vương Quang Minh; bảo vệ tại Trường Đại học Vinh năm 2001

- Bài "Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An", của tác giả Vương Quang Minh, đăng trên Tạp chí Thanh niên, số 12-2005

- Sách chuyên khảo "Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị", của

tác giả Nguyễn Thọ Ánh, Nxb Thanh niên, Hà Nội năm 2006

- Sách tham khảo "Đổi mới phương thức hoạt động và lề lối làm việc của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong tiến trình cải cách hành chính ở Việt Nam" của

tác giả Đoàn Văn Thái; Nxb Thanh niên, Hà Nội năm 2008

Trang 11

- Sách tham khảo "Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng chính trị cách mạng đối với cán bộ, công chức đảng viên, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới", do Minh Tiến, Thanh Hà sưu tầm và tuyển chọn; Nxb

Lao động Xã hội, năm 2006

- Sách: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với việc tham gia phát triển tài năng trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của tác giả Nguyễn Văn

Thanh, Nxb Thanh niên, Hà Nội, năm 2004

- Sách: Giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia phát triển tài năng trẻ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, của nhóm tác

giả An Đình Doanh, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Công Tiệp, Nxb Thanh niên, Hà Nội, năm 2009

- Sách: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương

Đoàn, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2008

- Sách: Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo, của các tác giả Nguyễn Bá

Dương (chủ biên), Lê Văn Thái, Nguyễn Văn Nhận, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002

- Bài: Uy tín người lãnh đạo, quản lí và việc nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, của tác giả Lãnh Thị Bích Hoà, đăng trên số 1, tạp chí Tâm lí học, tr.37-40, Hà Nội, năm 2006

- Sách: Một số vấn đề về công tác thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của tác giả Văn Tùng, Nxb.Thanh niên, Hà Nội, năm 2001

Nghiên cứu về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở là vấn đề phức tạp còn tương đối mới mẻ Những công trình nghiên cứu về vấn đề này mà

Trang 12

tác giả tiếp cận được đã trình bày được những vấn đề mang tính chất lý luận chung; mà chưa đề cập sâu đến những vấn đề mang tính thực tiễn đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở, đặc biệt ở một địa bàn như tỉnh Nghệ An

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH qua thực tiễn ở tỉnh Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về vai trò của cán bộ đoàn; các quan niệm

về năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở; tiêu chí đánh giá, những nhân tố tác động

và ảnh hưởng đến năng lực cán bộ đoàn cơ sở

- Phân tích thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ

An trong thời gian qua, qua đó rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH

Trang 13

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu Ngoài ra, luận văn cũng tiếp cận những lý thuyết, kinh nghiệm, kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu, số liệu điều tra, tổng kết thực tiễn của các

cá nhân, tổ chức để nghiên cứu vấn đề

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp tổng hợp; phương pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp chuyên gia; phương pháp xã hội học…

5 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết gồm 3 chương với 6 tiết

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ

TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH - HĐH 1.1 CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ

1.1.1 Khái niệm cán bộ đoàn cơ sở

Cán bộ là vấn đề rất quan trọng, trong tình hình hiện nay vấn đề đó càng trở nên cấp bách và có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp đổi mới và sự sống còn của một chế

độ Bởi vì, cán bộ là lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, đồng thời là người lãnh đạo quản lý điều hành toàn bộ guồng máy trong hệ thống chính trị Mỗi giai đoạn cách mạng đều có nhiệm vụ, yêu cầu khác nhau Do vậy, đội ngũ cán bộ phải luôn được củng cố, đào tạo, nâng lên ngang tầm và thích ứng với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng Nếu chất lượng cán bộ không chuyển kịp với tình hình và nhiệm vụ mới thì không những cán bộ không quyết định thắng lợi đường lối mà còn mắc sai lầm Trong chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”

Cán bộ đoàn là cán bộ hoạt động chính trị - xã hội được Đảng giao nhịêm vụ làm công tác vận động thanh thiếu nhi, trực tiếp thực hiện công tác vận động tuyên truyền giáo dục thanh thiếu nhi theo đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và Điều

lệ Đoàn Đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp gồm: Cán bộ đoàn chủ chốt, cán bộ đoàn chuyên trách, cán bộ đoàn bán chuyên trách, cán bộ đoàn không chuyên trách, cán bộ đoàn kiêm nhiệm Trong đó, đội ngũ cán bộ đoàn chủ chốt là những cán bộ đứng đầu, quan trọng nhất, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động của tổ chức đoàn thanh niên ở từng cấp, từ cơ sở đến Trung ương như bí thư đoàn xã,

Trang 15

bí thư huyện đoàn, bí thư tỉnh đoàn

Trong hệ thống phân cấp hành chính Việt Nam, cấp cơ sở là cấp thấp nhất, thường được gọi chung là cấp xã, bao gồm cả xã - phường - thị trấn Đây là nơi diễn ra mọi hoạt động và cuộc sống của người dân Cán bộ cấp cơ sở nói chung và cán bộ đoàn

cơ sở nói riêng là những người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, có điều kiện gần gũi, hiểu biết về người dân; năm bắt nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, phát hiện kịp thời những vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống Đồng thời, chính họ cũng

là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương của Đoàn vào cuộc sống

Cán bộ đoàn cấp cơ sở là những người tham gia Ban Thường vụ đoàn cấp xã, phường, thị trấn Họ là những người xung kích đi đầu trong các hoạt động của Đoàn ở địa phương; là cánh tay nối dài của Đảng, Nhà nước, Mặt trận ở cơ sở đến thanh niên, đoàn viên Cán bộ đoàn cấp cơ sở là những người được bầu lên bởi đại hội đoàn

Trong đời sống hằng ngày họ là những người gương mẫu, được sự tín nhiệm của đoàn viên, sự tin tưởng của Đảng, chính quyền, Mặt trận; là lực lượng đi đầu, làm gương cho các thế hệ thiếu niên, nhi đồng, trong xây dựng nếp sống văn hóa, giáo dục truyền thống đạo đức, giữ gìn thuần phong mỹ tục, phong chống tệ nạn xã hội, mê tín,

dị đoan…

Ngoài ra, cán bộ đoàn cấp cơ sở còn là đội ngũ cán bộ dự bị cho Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

1.1.2 Vai trò của cán bộ đoàn cơ sở

Từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò cán bộ, công tác cán bộ trong sự nghiệp cách mạng nói chung đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có vai trò rất quan trọng, thể hiện trên các mặt sau:

Trang 16

Một là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở phải đảm nhận nhiệm vụ của người cán bộ đoàn chuyên trách

Cán bộ đoàn cấp cơ sở là cấp thứ tư trong hệ thống tổ chức của Đoàn thanh niên; ở cấp này không được thành lập cơ quan chuyên trách để giúp việc cho Ban Thường vụ, Ban Chấp hành đoàn cơ sở Cán bộ đoàn cấp cơ sở là người cụ thể hoá các chủ trương chính sách của cấp trên, tham mưu cho cấp uỷ lãnh đạo công tác thanh niên, đồng thời là người trực tiếp đưa chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của các cấp

bộ Đoàn đến với chi đoàn - là tổ chức tế bào của Đoàn, để tổ chức tuyên truyền và vận động đoàn viên thanh niên thực hiện, đồng thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đoàn viên thanh niên phản ánh với tổ chức Đoàn, với cấp uỷ Đảng

Ngoài ra, cán bộ đoàn cấp cơ sở còn là cánh tay nối dài, lực lượng quan trong phối hợp với chính quyền cơ sở trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa bàn cơ sở; đi đầu trong các hoạt động xã hội Mặt khác, xét trên góc độ cán bộ thì họ còn là lực lượng kế cận cho các chức danh trong hệ thống chính trị cơ sở

Hai là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng trực tiếp tổ chức, giáo dục, rèn luyện đoàn viên, thanh thiếu nhi ở cơ sở

Vị trí, vai trò này của cán bộ đoàn cơ sở xuất phát bởi chính vai trò của tổ chức đoàn cơ sở Đoàn cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hệ thống đoàn thanh niên, bởi vì đây là một trong những nhân tố quan trọng hình thành nên nền tảng của tổ chức đoàn, là nơi trực tiếp tổ chức giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng và phát huy vai trò xung kích cách mạng của đoàn viên thanh niên, là cầu nối giữa tổ chức đoàn với thanh niên Mọi chủ trương của đoàn cơ bản đều được tổ chức triển khai ở cơ sở, chất lượng của tổ chức cũng như chủ trương của các cấp bộ đoàn phần lớn được kiểm nghiệm và phản ánh qua hiệu quả hoạt động của tổ chức đoàn cơ sở Ngoài ra, đoàn xã còn là hạt nhân lãnh đạo và là thành viên tập thể của Hội Liên hiệp thanh niên cơ sở, Đoàn định

Trang 17

hướng về chính trị, tư tưởng cho hoạt động của Hội Đối với Đội thiếu niên tiền phong

Hồ Chí Minh, Đoàn quyết định phương hướng, nhiệm vụ công tác Đội và phong trào thiếu nhi Đoàn là lực lượng chủ yếu, nòng cốt trong việc đẩy mạnh công tác xã hội hoá sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng

Ba là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng nòng cốt tổ chức các phong trào hành động cách mạng trong thanh niên, là lực lượng quan trọng trong quá trình đẩy nhanh CNH-HĐH hiện nay

Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là phải tổ chức phong trào thanh niên ở cơ sở nhằm tham gia tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn và bên ngoài; tham gia giải quyết vấn đề ruộng đất đối với nông dân, tiêu thụ sản phẩm, phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu, công tác khuyến nông, đầu tư khoa học kỹ thuật mới trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; vấn đề vay vốn phát triển ngành nghề, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, thực hiện dân chủ hoá, hợp tác hoá nông nghiệp, nông thôn,

Bốn là, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là lực lượng quyết định năng lực tổ chức đoàn cơ sở

Một đoàn cơ sở thực sự vững mạnh chỉ khi tập hợp, đoàn kết được đoàn viên, thanh niên vào tổ chức để tham gia tích cực các phong trào của đoàn phát động, hay nói cách khác, tổ chức đoàn đó phải thực sự có năng lực Muốn thực hiện được nội dung này đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đủ năng lực, phẩm chất, trí tuệ đưa đoàn viên, thanh niên vào các hoạt động, cũng chính thông qua các hoạt động đó đoàn viên thanh niên lại là người trở lại để xây dựng củng cố tổ chức đoàn cơ sở

Với vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở như vậy, để đáp

Trang 18

ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, thì vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là nhiệm vụ cấp bách của các cấp bộ đoàn ở tỉnh Nghệ An, nhằm đáp ứng nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài cho sự nghiệp cách mạng của Đảng

1.1.3 Đặc điểm của cán bộ đoàn cơ sở

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh

tế - xã hội; địa lý tự nhiên và đặc điểm truyền thống cách mạng, lịch sử, văn hoá của quê hương

Thứ hai, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đa dạng về đối tượng, gắn liền với địa bàn dân cư, nên thành phần cũng phong phú, có dân tộc ít người, có tôn giáo, đang đi học, buôn bán nhỏ, lao động sản xuất, nhưng đại đa số đều xuất thân từ nông thôn

Thứ ba, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở không ổn định, thường xuyên có sự thuyên chuyển vào các dịp đại hội đoàn và đây cũng là nguồn cán bộ cho Đảng, chính quyền

và các đoàn thể nên nhiều khi được điều động đột xuất đi nhận nhiệm vụ mới

1.1.4 Phân loại cán bộ đoàn cơ sở

Cán bộ đoàn cấp cơ sở được hình thành thông qua bầu cử theo quy định của Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Theo quy định của Điều lệ Đoàn, số lượng uỷ viên ban chấp hành đoàn cấp xã từ 5 - 15 đồng chí Để điều hành hoạt động giữa hai kỳ hội nghị ban chấp hành, ban chấp hành đoàn xã bầu ra các đồng chí uỷ viên ban thường vụ

trong số các uỷ viên ban chấp hành

1.2 NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CƠ SỞ

1.2.1 Khái niệm năng lực lãnh đạo:

Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng Việt thông dụng thì năng lực được chia làm hai vế: Năng là lối làm việc, lực là sức mạnh Năng lực được hiểu là sức mạnh có

thể làm nổi việc

Trang 19

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục ấn hành thì năng lực

được hiểu là “Khả năng làm việc tốt”

Theo đại từ điển Tiếng Việt của NXB Văn hóa thông tin: Hiểu theo hai nghĩa:

1 Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì Ví dụ: năng

lực tư duy của con người

2 Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc Ví dụ: Có năng lực

chuyên môn, năng lực tổ chức

Tóm lại: Năng lực là khả năng của con người để thực hiện tốt công việc hay làm

việc có hiệu quả cao

Theo nhà Tâm lý học người Nga Cơvaliốp: Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng những nhu cầu của hoạt động và bảo đảm cho hoạt động có kết quả cao

Như vậy, nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả hoạt động nào

đó Năng lực không phải là những thuộc tính cá nhân riêng lẽ mà là một tổ hợp các thuộc tính cá nhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động Các thuộc thuộc tính ấy có quan

hệ tác động lẫn nhau, thống nhất với nhau trong một chỉnh thể

Mỗi con người có thể tích hợp nhiều năng lực tiềm ẩn, những năng lực đó được bộc lộ ra hay không tùy thuộc vào những điều kiện chủ quan hay khách quan Đối với những người có tài năng đặc biệt và thiên tài, năng lực của họ được phát triển và bộc lộ mạnh mẽ khiến họ đạt đến đỉnh cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau

Năng lực vừa mang tính bẩm sinh có sẳn vừa là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người Theo Hồ Chí Minh Năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập

mà có Vì thế, năng lực không chỉ là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của con người,

Trang 20

mà là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu

dưỡng, học tập thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng dù ở cấp nào cũng phải có năng lực nhất định.Trong đó, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn là hai nhân tố quan trọng nhất Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, cái này hỗ trợ cái kia phát triển Không có năng lực tư duy

lý luận thì không có khả năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn linh hoạt các qui luật khách quan Ngược lại không có năng lực thực tiễn thì sa vào bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, quan liêu, mệnh lệnh xa rời thực tiễn, thoát ly cuộc sống đầy sôi động đang cuộn chảy

Cấp cơ sở là cấp trực tiếp, cấp cuối cùng triển khai, tổ chức, vận động nhân dân thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị phải có năng lực toàn diện, nhất định trên nhiều lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao Ngoài ra cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ sở còn phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán và khả năng làm việc với con người

Từ những phân tích như trên có thể hiểu, năng lực cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ

sở là tổng hợp khả năng lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động của hệ thống chính trị

cơ sở với chất lượng và hiệu quả cao

1.2.2 Yêu cầu đối với năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa:

Năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở gắn chặt với kết quả hoạt động của cả một tổ chức đoàn cấp cơ sở Năng lực của tổ chức cấp cơ sở nói chung và tỉnh Nghệ

An nói riêng gắn trực tiếp với năng lực cá nhân của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở Trên thực tế khó có thể thừa nhận tổ chức đoàn cơ sở có hiệu quả trong hoạt động của

Trang 21

mình khi đội ngũ cán bộ đoàn không có năng lực hoặc năng lực thấp và ngược lại, cũng không thể chấp nhận được một hiện trạng đội ngũ cán bộ đoàn có uy tín thực sự khi tổ chức Đoàn không có năng lực

Năng lực được người cán bộ đoàn cơ sở hình thành trong quá trình hoạt động, giao tiếp và chịu sự chi phối của các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan Trên cơ

sở xác định các mục tiêu hoạt động cũng như những nhu cầu đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, người cán bộ đoàn cơ sở tiến hành giải quyết được một cách có hiệu quả các vấn

đề thuộc về thẩm quyền của mình thì năng lực của họ được xác lập Để người cán bộ đoàn tạo lập năng lực trước hết cần phải có quyền lực, có những ưu thế do chức vụ được giao, được bổ nhiệm hay bầu cử hợp pháp mang lại Người cán bộ đoàn phải có

vị thế, chức danh, chức vụ, quyền hạn nhất định Đây là yêu cầu cần thiết để tạo nên năng lực, nó khẳng định uy quyền của người cán bộ đoàn cơ sở cũng như vai trò của họ trước tập thể Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, chức vụ bao giờ cũng gắn với quyền hạn, trách nhiệm; quyền lợi gắn với nghĩa vụ Những yếu tố này thể hiện mối quan hệ giữa các điều kiện khách quan và chủ quan tạo nên năng lực người cán bộ đoàn cơ sở

Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như: cơ chế quản lý xã hội, sự tác động công tác tổ chức các bộ, môi trường xã hội, nhóm và tập thể, các chuẩn mực xã hội, các hoạt động giao tiếp của người cán bộ đoàn cơ sở Nét đặc trưng của người cán

bộ đoàn cơ sở đó là sự hiểu biết và sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của thanh niên và xã hội Các yếu tố về trình độ nhận thức, tâm trạng, thái độ lòng tin của tập thể, của xã hội đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc xây dựng năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở Bên cạnh đó còn có các yếu tố khác như: thể chế chính trị xã hội, pháp luật, bộ máy nhà nước Trong đó bộ máy tổ chức đoàn có vai trò to lớn, tác động trực tiếp đến sự hình thành năng lực người cán bộ đoàn cơ sở

Ngoài các điều kiện khách quan nêu trên, một yếu tố không kém phần quan

Trang 22

trọng góp phần hình thành, củng cố và nâng cao năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở

đó là đặc điểm về tuổi tác, thâm niên công tác, trình độ học vấn, nhận thức và niềm tin của thanh niên

Bên cạnh đó, yếu tố nhân cách của người cán bộ đoàn cơ sở cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng Trong tổ chức đoàn, người cán bộ đoàn phải là thủ lĩnh, là tấm gương sáng cho đoàn viên thanh niên noi theo Yếu tố này yêu cầu rất cao ở bản thân cán bộ đoàn nói chung và cán bộ đoàn cấp cơ sở nói riêng Người cán bộ đoàn cơ sở phải có nhân cách đầy đủ, tích cực, mẫu mực và hoàn thiện Nhân cách của họ phải có những đặc trưng phù hợp với yêu cầu của hoạt động đoàn Cụ thể, họ phải có năng lực

tổ chức thực tế và năng lực triển khai các Nghị quyết vào cuôc sống, phải được đặt ra như là một yêu cầu bắt buộc, bởi kết quả hoạt động phụ thuộc vào năng lực tổ chức của cán bộ đoàn Năng lực này, biểu hiện rất phong phú trong hoạt động thực tiễn như khả năng quyết đoán và sáng tạo, phân tích nhanh chóng, chính xác tình hình xảy ra để quyết định kịp thời Người cán bộ đoàn nếu không có óc quyết đoán và sáng tạo thì sớm muộn cũng đưa tổ chức mình đi đến tan rã, Ngược lại khi có óc quyết đoán chính xác, nhạy bén sẽ làm công việc có hiệu quả và năng lực của mình tăng lên gấp bội

Khả năng chuyên môn là yếu tố cơ bản tạo nên năng lực của cán bộ đoàn Khả năng chuyên môn của người cán bộ đoàn thể hiện qua các hoạt động thực tiễn, nó phải vượt trội

so với khả năng của các thành viên trong tập thể và những người cộng sự Khả năng chuyên môn này được hiểu và tổng hợp cả chiều rộng lẫn chiều sâu Người cán bộ đoàn phải có tầm nhìn, có kiến thức chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn Trình độ chuyên môn của người cán bộ đoàn sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với cán bộ đoàn viên, thanh niên

Phong cách sống và làm việc của cán bộ đoàn cơ sở cũng là yếu tố quan trọng hình thành nên năng lực Phong cách sống và làm việc có liên quan trực tiếp đến năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở, đây là hệ thống các phương pháp được cán bộ đoàn

Trang 23

sử dụng để tác động những người dưới quyền, lựa chọn phương pháp làm việc khoa học và quản lý đúng là rất quan trọng đối với cán bộ đoàn nó ảnh hưởng ngay đến năng lực của họ

Người cán bộ đoàn có năng lực thì phải có được sự tín nhiệm và phục tùng, thậm chí đến mức tự nguyện của tập thể, của cấp dưới và các cộng sự; có được sự đánh giá cao của cấp trên, sự khâm phục của bạn bè, đồng nghiệp, đây là những yếu tố giúp

họ có được phạm vi ảnh hưởng rộng rãi

Như vậy, năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở là sự kết hợp giữa các điều kiện khách quan và chủ quan của người cán bộ đoàn, trong đó cần phải nhấn mạnh những yếu tố hợp thành quan trọng nhất là có đủ quyền và thực hiện quyền được giao phó, có nhân cách mẫu mực, hoàn thiện để được thừa nhận và tín nhiệm, có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu được giao Trong những yếu tố này, cán bộ đoàn phải đặc biệt chú ý tự bồi dưỡng và rèn luyện phẩm chất, năng lực sao cho tương xứng với chức

vụ và thực hiện được quyền hạn, trách nhiệm được giao phó

1.2.3 Tiêu chí đo lường năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:

Năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở được biểu hiện ở năng lực thực

sự của họ trong việc tiếp nhận thông tin mới, cung cấp và xử lý thông tin Những thông tin có liên quan đến hoạt động của tổ chức đoàn phải được cung cấp đầy đủ, xử lý đề ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời, có chất lượng Thái độ và hiệu quả tiếp nhận, xử lý thông tin là dấu hiệu đáng tin cậy để xác định người cán bộ đoàn có năng lực thực chất hay không

Sự nhận xét đúng mực, chân thành và thiện chí của đoàn viên trong khi tổ chức lấy phiếu điều tra tín nhiệm hoặc trong bình bầu thi đua khen thưởng cũng thể hiện năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở Phương pháp thăm dò, điều tra qua phiếu tín nhiệm cán bộ đoàn hiện nay đang được sử dụng rộng rãi, đây là việc cần thiết

Trang 24

để xác định đúng năng lực thực chất Tuy nhiên không được dùng phương pháp này để

hạ thấp năng lực của người khác nhằm nâng cao uy tín của mình Năng lực thực chất của người cán bộ đoàn cơ sở được thể hiện ở sự đánh giá cao của cấp trên, sự khâm phục và ủng hộ của bạn bè, đồng nghiệp, sự tín nhiệm của thanh niên

Ngoài những biểu hiện như đã đề cập trên, năng lực thực chất của cán bộ đoàn còn biểu hiện ở việc họ vẫn có năng lực khi chuyển công tác khác hoặc không còn giữ chức vụ trong hệ thống cơ quan đoàn Hình ảnh của họ vẫn sống trong lòng mọi người với sự cảm phục, tin yêu và trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ kế tục, cho các đoàn viên thanh niên noi theo

Trong hoạt động của người cán bộ đoàn cơ sở, bên cạnh những biểu hiện của năng lực thực chất, chúng ta cũng thấy có những biểu hiện của năng lực không thực chất, đó là năng lực giả tạo được xây dựng bằng nhiều thủ đoạn Biểu hiện của năng lực giả tạo đó là thích phô trương thành tích quá khứ, tự coi mình công thần; có biểu hiện chủ quan, phiến diện, ít chịu khó học tập, không chịu đổi mới, xem thường quần chúng, xem thường cán bộ trẻ

Bên cạnh đó, một loại biểu hiện năng lực không thực chất khá phổ biến hiện nay cần chú ý tránh là chủ nghĩa hình thức Những người này tạo năng lực không bằng thực chất, mà chỉ bằng sự phô trương hình thức bề ngoài, thường phóng đại thành tích, che dấu khuyết điểm Cũng có những người cán bộ đoàn thường hay để ý, soi mói, chấp vặt, nhỏ nhen, thù vặt, khuyếch đại những việc nhỏ để đe dọa cấp dưới mà không chú ý đến những vấn đề lớn, chiến lược quan trọng Cũng có những người tạo năng lực bằng cách mua chuộc cấp dưới, bao che cho nhau, bảo vệ lẫn nhau trong việc làm sai trái để vun vén cá nhân, lợi dung danh nghĩa tập thể, đối với cấp trên thì xun xoe, nịnh hót

Năng lực không thực chất dù biểu hiện dưới hình thức nào cũng đều có hại cho công việc và bản thân người cán bộ đoàn Do đó, người cán bộ đoàn cần tỉnh táo để có

Trang 25

yếu tố cần thiết ban đầu của quá trình gây dựng củng cố và nâng cao năng lực tránh năng lực giả hoặc thiếu năng lực

1.2.4 Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của cán bộ đoàn cơ sở:

- Thứ nhất, về tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở

Tiêu chuẩn là điều quy định làm căn cứ để đánh giá, phân loại và xác định năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở Tiêu chuẩn cán bộ đoàn cơ sở là những quy định đối với cán bộ về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hoá, chuyên môn, ngoại ngữ, năng lực trí tuệ; khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng; lề lối làm việc, tác phong công tác và sức khoẻ Các yếu tố đó quan hệ mật thiết với nhau tạo nên phẩm chất, năng lực người cán bộ đoàn cơ sở, mối yếu tố đều có vai trò riêng, song chúng gắn bó chặt chẽ, là tiền đề của nhau, hợp lực tạo ra năng lực công tác, hoàn thành các chức trách nhiệm vụ trên thực tế

Việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung và cán bộ đoàn cơ sở nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nâng cao năng lực đội ngũ cán

bộ đoàn cơ sở Bởi lẽ, tiêu chuẩn cán bộ là cơ sở và tiền đề để làm căn cứ xem xét, đánh giá, lựa chọn, bố trí, sắp xếp, giới thiệu ứng cử; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ và đồng thời giải quyết chế độ chính sách cán bộ đoàn Tiêu chuẩn cũng

là cơ sở để từng cán bộ đoàn phấn đấu, tự rèn luyện để hoàn thiện mình

- Thứ hai, cơ chế đánh giá cán bộ đoàn cơ sở

Đánh giá cán bộ là khâu đầu rất quan trọng và khó, rất nhạy cảm trong công tác cán bộ, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở Nếu đánh giá đúng sẽ xác định chính xác năng lực của cán bộ, đây là căn cứ cho việc

bố trí đúng cán bộ và cán bộ sẽ phát huy được ưu điểm và thế mạnh của mình còn ngược lại nếu đánh giá sai sẽ bố trí sai, gây mất đoàn kết, bản thân cán bộ ngộ nhận dẫn đến chủ quan, tự cao tự đại, gây mất năng lực của bản thân cán bộ và tổ chức

Trang 26

- Thứ ba, quy hoạch, tuyển chọn đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở

Quy hoạch, tuyển chọn là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở Thông qua quy hoạch, tuyển chọn, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải thường xuyên không ngừng nâng cao năng lực Trên cơ sở đánh giá đúng cán bộ sẽ xây dựng được quy hoạch cán bộ đúng, chọn được những người có năng lực

để bổ nhiệm, đề bạt

Quy hoạch cán bộ là nội dung trọng yếu trong nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ đoàn cơ sở, đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có kế hoạch, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Trong đặc thù công tác đoàn cơ sở thường xuyên

có sự biến động, thì quy hoạch cán bộ đoàn càng trở nên có ý nghĩa, đặc biệt là quy hoạch cán bộ đoàn chủ chốt, đây cũng là khâu quan trọng để loại bỏ những cán bộ thiếu năng lực

- Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cơ sở là việc làm thường xuyên để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn, bởi lẽ cán bộ đoàn phần lớn là trẻ tuổi, nhiều đồng chí trưởng thành trong thực tiễn hoạt động phong trào, mới chỉ có năng khiếu, nhiệt tình mà chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức có hệ thống đáp ứng tiêu chuẩn Do vậy, cần phải tập trung vào việc nâng cao trình độ về lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác thanh vận và công tác chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, các tiến bộ khoa học kỹ thuật Đây là yếu tố quan trọng để hình thành nên năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn

cơ sở

- Thứ năm, quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ đoàn cơ sở

Quản lý cán bộ: là hoạt động chủ động, thường xuyên có mục đích của cơ quan

quản lý cán bộ, cấp có thẩm quyền quyết định tác động có định hướng vào đội ngũ cán

bộ và từng cán bộ nhằm bồi dưỡng, rèn luyện, phát huy khả năng, năng lực của đội ngũ

Trang 27

và từng cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Do vậy, việc quản lý tốt cán

bộ đoàn cơ sở là để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đoàn, chấn chỉnh kịp thời khi cán

bộ có các biểu hiện sai lệch đồng thời đảm bảo đánh giá đúng cán bộ làm căn cứ bố trí

sử dụng cán bộ

Nội dung quản lý cán bộ đoàn cơ sở gồm tuyển chọn, bố trí, phân công nhiệm

vụ, tổ chức thực hiện việc quản lý; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nhận xét, đánh giá cán bộ; khen thưởng, kỷ luật cán bộ; thực hiện chế độ, chính sách cán bộ; giải quyết khiếu nại tố cáo về cán bộ Quản lý cán bộ đoàn cấp cơ sở thông qua các biện pháp như quản lý hồ sơ (để nắm được lý lịch, quá trình công tác, năng lực công tác, phẩm chất, đạo đức, ); quản lý nhân sự (thông qua công tác, sinh hoạt tập thể, thông qua việc chấp hành Điều lệ Đoàn, quy chế hoạt động, thông qua ý kiến nhận xét của tập thể ban thường vụ đoàn cơ sở, đoàn viên thanh niên, )

Trang 28

Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CNH – HĐH ĐẤT NƯỚC

HIỆN NAY QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH NGHỆ AN 2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN

Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì: Nghệ An núi

cao, sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn

cả ở Nam Châu Người thì thuần hòa mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý, của lạ , được khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền , thực là nơi hiểm yếu như thành đồng, ao nóng của nước và là then khóa của các triều đại Địa danh Nghệ An xuất hiện từ thời nhà Lý, năm Thiên Thành thứ ba (1030) khi Lý Thái Tông đổi Hoan Châu thành Châu Nghệ An Năm 1101, Lý Nhân Tông nâng Châu Nghệ An thành Phủ Nghệ An Năm 1225, Nhà Trần đổi Phủ Nghệ An thành Trấn Nghệ An Năm 1469, Vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước Đơn vị cấp phủ, huyện gọi là Thừa tuyên Châu Diễn và Châu Hoan được hợp lại thành Thừa tuyên Nghệ An (bao gồm cả đất Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay)

Đến thời Nhà Nguyễn, đơn vị là Trấn bị bãi bỏ; cả nước được chia là 29 tỉnh,

trực thuộc Triều đình Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), Nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa, thành lập một tỉnh mới là Hà Tĩnh Từ năm 1831 đến nay, về căn bản, địa giới tỉnh Nghệ An không thay đổi Song về cấp dưới tỉnh, sau Cách mạng Tháng

Tám năm 1945, các đơn vị hành chính là cấp phủ được đổi thành , còn cấp tổng (cấp

trung gian giữa huyện và xã) bị bãi bỏ

Sau khi nước nhà được thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1991, tỉnh Nghệ An

và tỉnh Hà Tĩnh được hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh Từ tháng 9-1991, Nghệ An lại được tách ra thành một tỉnh như trước Hiện nay, Nghệ An có Thành phố Vinh (thành

Trang 29

phố loại I), Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện: Kỳ Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu

Nghệ An là một miền đất rộng ở phía Bắc Trung Bộ, nằm trong tọa độ từ 18

033’08” đến 19059’52” vĩ độ Bắc, và từ 103052’30” đến 105048’20” kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp các tỉnh Hủa phăn, Xiêng Khoảng, Pô ly khăm xay thuộc nước Cộng hóa dân chủ Nhân dân Lào, với đường biên giới dài 419,5 km

Diện tích tự nhiên của Nghệ An có 16.409,68 km2, đứng đầu cả nước Nằm trong vùng kiến tạo đặc biệt có từ tuổi địa chất già đến rất trẻ, địa hình Nghệ An rất đa dạng; núi, đồi, trung du chiếm phần lớn đất đai toàn tỉnh Trong lòng đất chứa nhiều khoáng sản như vàng, thiếc, chì, kẽm, măng gan , và nhiều khoáng sản phi kim loại như đá hoa, các loại đất sét làm gạch ngói ; đặc biệt, đá vôi có trữ lượng rất lớn (khoảng 250 triệu m3), phân

bổ nhiều nơi trong tỉnh

Với nhiều vùng tiểu khí hậu, nhiều loại đất đai khác nhau, Nghệ An có điều kiện phát triển nền kinh tế đa dạng Đất đai trồng trọt phong phú, vùng đất đỏ ba dan Phủ Quỳ rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê Vùng đồi núi thấp có nhiều khả năng phát triển các loại cây: chè, mía, quế, cây ăn quả Vùng đất phù

sa ven sông, ven biển, tuy độ màu mỡ không cao nhưng là vùng thâm canh cây lương thực và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng Tuy nhiên do địa hình dốc, lượng mưa lớn nên hàng năm, khoảng một phần tư diện tích canh tác bị bào mòn, rửa trôi khá mạnh, gây khó khăn cho việc phát triển nông nghiệp, giao thông vận tải,

Rừng Nghệ An có hầu hết các loại thực vật, động vật của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Hệ thực vật rừng phong phú về chủng loại; trong đó, rừng lá rộng nhiệt đới là

Trang 30

phổ biến nhất Trữ lượng gỗ rất lớn với nhiều loại gỗ quý như Powmu, lát hoa, sa mộc, sến, lim, táu, gụ, săng lẻ, chò chỉ, dổi, vàng tâm, cùng các loại khác như Song mây, tre nứa, luồng mét,

Biển Nghệ An dài 82km với 6 cửa lạach: Lạch Cờn, Lạch Quèn, Lạch Vạn, Cửa

Lò, Cửa Hội Biển đáy rộng, tương đối bằng phẳng Độ mặn trung bình từ 3,4 đến 3,5% Nhờ độ mặn như vậy mà nghề làm muối có sản lượng cao trong mùa nắng Biển

có các loại hải sản quý như cá chim, cá thu, cá nhám, tôm, mực, cua, ốc, Ven các cửa lạch có nhiều bãi lầy, đầm phá, có thể khai thác làm các đầm nuôi tôm cua Nghệ An

có khu nghỉ mát Cửa Lò hấp dẫn với những bãi tắm bằng phẳng và đẹp, ngày càng thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước

Con sông lớn nhất Nghệ An là sông Lam, bắt nguồn từ Thượng Lào, chảy về theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, dài 523 km (trong địa bàn tỉnh Nghệ An có 375km)

Hệ thống sông Lam có tới 151 nhánh lớn nhỏ Các phụ lưu chính có sông Nậm Mộ, sông Con, Sông Giăng, sông La, Sông Lam bồi đắp phù sa màu mỡ cho bãi ven sông, nhưng về mùa mưa thường hung dữ, gây lũ lụt lớn, Ngoài sông tự nhiên còn có hệ thống kênh đào nối các sông với nhau, lớn nhất là Kênh Nhà Lê Núi Nghệ An sừng sững ở miền tây, thấp dần về phía Đông tạo thành thế nghiêng Đông – tây, cao nhất là đỉnh Puxailaileng với độ cao 2.711m, cao nhất dãy Trường Sơn Dãy Puxailaileng dốc đứng trên một giải dài 200km, tạo thành biên giới tự nhiên giữa hai nước Việt – Lào và thấp dần về phía Nam

Khí hậu Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Từ tháng 10 đến tháng

4 năm sau có gió mùa Đông Bắc gây mưa phùn rét buốt Từ cuối tháng 4 đến tháng 10

có gió Tây – Nam rất nóng, làm cho nhiệt độ có thể lên tới 400C Từ tháng 7 đến tháng

10 thường có bão, mưa lơn, gây lụt úng Có thể nói, khí hậu Nghệ An khắc nghiệt hơn nhiều vùng khác trong nước ta, với gió Tây – Nam, hạn hán gay gắt, giông bão, lũ lụt trầm trọng và thường xẩy ra vào giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây trồng, nhất là

Trang 31

lúa mùa, gây ảnh hưởng tới năng suất cây trồng, vật nuôi và cả đến sinh hoạt của con người

Theo kết luận của giới sử học qua di chỉ Thẩm Ồm (Quỳ Châu), trên đất Nghệ

An đã có người vượn cư trú cách ngày nay khoảng 20 vạn năm Ngoài di chỉ Thẩm Ồm thuộc sơ kỳ đá cũ, giới khảo cổ đã phát hiện ra các di chỉ thời cuối đồ đá cũ thuộc Văn hóa Sơn Vi; các di chỉ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Quỳnh Văn, Văn hóa Bàu Tró, Văn hóa Tiền Đông Sơn, Văn hóa Đông Sơn Nghệ An là một trong những trung tâm Văn hóa Đông Sơn

Cư dân Nghệ An ngày càng đông đúc, đến nay đã có trên 3,1 triệu người Đông nhất là dân tộc Kinh, phần lớn cư trú ở đồng bằng Dân tộc Thái có số dân cao nhất trong các dân tộc thiểu số ở Nghệ An với nhóm Tày Thanh, Tày Mường, Tày Khang,

cư trú tại các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn Dân tộc Mông phần lớn cư trú trên các triền núi cao thuộc huyện Kỳ Sơn Dân tộc Khơ mú sinh sống ở Kỳ Sơn, Tương Dương Dân tộc Ơ Đu sống dọc sông Nậm Nơn (Cửa Rào, Tương Dương) Dân tộc Thổ chủ yếu cư trú ở huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp Các sắc tộc thiểu số ở Nghệ An đã gắn bó lịa cùng nhau và đoàn kết với người Kinh thành một cộng đồng ổn định, chung lưng đất cật xây dựng quê hương và thực hiện nghĩa vụ đối với Tổ quốc

Nghệ An có số lượng giáo dân Công giáo khá đông (khoảng 9% tổng số dân trong tỉnh) Còn tín đồ Phật giáo thì không nhiều, sống phân tán ở các chùa chiền Đồng bào giáo – lương có truyền thống đoàn kết đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước

Nghệ An có kho tàng văn học dân gian rất phong phú, đa dạng Thơ, ca dao, tục ngữ, câu đối, câu đố rất hàm súc, giàu hình tượng Các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh trầm lắng, mênh mang, đậm đà chất trữ tình Dân tộc Kinh có làn điệu hát dặm, hát ví

Trang 32

(phường vải, đò đưa, ) Ngoài ra còn có hát bội (tuồng), ca trù Dân tộc Thái có thể loại trường ca rất hấp dẫn (Lái Lông Mương, Lái Nộc Yêng, Trường ca Khủn Tinh ) Dân tộc Thổ có đàn Thổ với cấu tạo âm hưởng trầm bổng, du dương tựa đàn bầu Nghệ

An có nhiều công trình kiến trúc cổ với kỹ thuật chạm khắc rất tinh vi như Đền Cờn, Đền Bạch Mã, Đền Chiêu Trưng, Đình Hoành Sơn, Đình Trung Cần,,

Truyền thống hiếu học của Nghệ An đã hun đúc nên nhiều nhà khoa bảng nổi danh như Trạng nguyên Bạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Thám hoa Nguyễn Văn Giao, Thám hoa Phan Thúc Trực, , nhà cách tân uyên bác Nguyễn Trường Tộ,

“Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương; Các thầy đồ Nghệ - tầng lớp trí thức bình dân đông đảo đã từng đặt chân đến nhiều vùng đất trong cả nước để dạy chữ “thánh hiền”

và dạy đạo làm người Ngoài ra, còn có nhiều thầy thuốc giỏi, hành nghề với phương châm “Nam dược trị Nam nhân” và lấy y đức trị bệnh cứu người làm lẽ sống

Nhân dân Nghệ An có truyền thống yêu nước và cách mạng oanh liệt, vẻ vang

Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà trưng năm 40 cho đến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Lý Nam Đế) năm 543, trong 5 thế kỷ đó, dân vùng đất này luôn sẵn sàng hưởng ứng Đến thế

kỷ thứ VIII, dân Hoan Diễn (bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) đã vùng dậy khởi nghĩa chống ách cai trị tàn bạo của nhà Đường Cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo, ông đã cùng nghĩa quân từ Thành Vạn An và căn cứ Sa Nam (Nam Đàn) tấn công ra Bắc, đánh chiếm phủ thành Tống Bình (Hà Nội), giải phóng cả nước rồi tự xưng là Mai Hắc Đế (năm 722) Đây là vị Đế thứ hai sau Lý Nam Đế Thành Vạn An trở thành Quốc đô trong thời điểm ấy

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII, đất Nghệ An

có danh tướng Hoàng Tá Thốn, người có công chặn giặc vùng ven biển và có tài lặn lâu dưới nước để đục thủng thuyền giặc Năm 1285, tướng giặc Toa Đô phải bỏ vùng này để rút quân ra Thanh Hóa, vì vấp phải cuộc chặn đánh quyết liệt của dân xứ Nghệ Nghệ An

đã từng là “đất đứng chân” của Nhà Lê Sơ để chống giặc Minh, giải phóng đất nước (vào

Trang 33

thế kỷ XV) Đặc biệt khi người anh hùng áo vải Quang Trung dừng chân tại Nghệ An (quê tổ của Người) để tuyển quân vào cuối năm 1788, hàng vạn trai tráng xứ Nghệ đã sẵn sàng gia nhập nghĩa quân chỉ trong vòng mấy ngày, góp phần đáng kể vào cuộc đại thắng giặc Thanh tại Ngọc Hồi, Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu (1789)

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Nghệ An đã thể hiện quyết tâm

“đánh cả Triều lẫn Tây”, tức là đánh cả bọn cướp nước lẫn bọn bán nước đầu hàng

giặc Tại Thanh Chương, Nam Đàn, từ năm 1874 đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn và Đặng Như Mai Sau khi phái chủ chiến Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi lánh về vùng rừng núi Nghệ Tĩnh, ra Chiếu Cần Vương, tại vùng Bắc Nghệ An liền dấy lên cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng từ Hương Khê phát triển ra, nhân dân Nghệ An

đã sôi nổi hưởng ứng trên 10 năm (1885 – 1896) Đến đầu thế kỷ XX, Nghệ An là nơi khởi phát phong trào Đông Du với người đứng đầu là nhà chí sỹ yêu nước lừng danh Phan Bội Châu – nhân vật tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước Việt Nam trong thập

kỷ đầu thế kỷ XX Đến tháng 6/1911, Nguyễn Tất Thành, người con ưu tú của quê hương Nghệ An đã lên tàu thủy sang phương Tây tìm đường cứu nước Trước và sau

đó, hàng trăm thanh niên xứ Nghệ lần lượt xuất dương qua Trại Cày do Đặng Thúc Hứa thành lập tại Xiêm Trong số ấy có những thanh niên ưu tú được cử sang Trung Quốc và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện vào những năm 1924 - 1927 Đó là những hạt nhân nòng cốt cho Đảng Cộng sản Việt Nam sau này

Trong tiến trình lịch sử, con người xứ Nghệ mang đầy đủ tính chất chung của dân tộc Việt Nam; song, bản sắc riêng của địa phương cũng được hình thành ngày càng đậm nét Đó là do điều kiện thiên nhiên nơi đây khắc nghiệt hơn nhiều nơi khác với bão lớn, lụt to, gió tây – Nam nóng bỏng, hạn hán dai dẳng, con người phải thường xuyên vật lộn với thiên tai Mặt khác, vùng đất này từng là “phên dậu”, “đất đứng chân” của các triều đại, nơi thường xảy ra chiến sự; con người phải luôn luôn lo chống chọi với giặc giã Những nhân tố đó đã hun đúc nên con người xứ Nghệ với những đặc

Trang 34

tính như:

Rất cương trực, khảng khái, giàu đức hi sinh: thẳng thắn, thật thà, bộc trực, trung

thực, không nịnh bợ; ghét thói xu nịnh, lèo lái, dối trá; trọng đạo lý, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn; có khí phách, trọng danh dự, không chịu khuất phục; sẵn lòng giúp đỡ người một cách hào hiệp, vô tư, không tính thiệt hơn

Rất mực cần kiệm, giản dị: Tiết kiệm, căn cơ, khắc khổ trong sinh hoạt; ghét lối

sống xa hoa

Rất hiếu học: Học để làm người, để lập thân và để kiếm sống; sự học đã trở

thành một nếp sống xã hội; nghèo đến mấy cũng học, học đến mức “khổ học”

Giàu nghị lực, ý chí mạnh, quyết tâm cao: Dũng cảm chấp nhận những thách

thức quyết liệt, gan góc, kiên trì, nhẫn nại, bền bỉ phấn đấu để vượt lên khuôn khổ bình thường

Những đặc điểm về địa lý, văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội nói trên có ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành năng lực người cán bộ đoàn cơ sở trước yêu cầu đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước hiện nay

2.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

2.2.1 Số lượng

Đoàn viên, thanh niên Nghệ An trong độ tuổi (Từ 16 - 30 tuổi) hiện có gần 1 triệu người, chiếm khoảng 27% dân số và 47% lực lượng lao động của tỉnh Cơ cấu thành phần thanh niên đa dạng và có nét đặc thù: thanh niên trên địa bàn dân cư chiếm trên 70%; thanh niên học sinh, sinh viên chiếm gần 25%; thanh niên CNVC và lực lượng vũ trang chiếm 5%; trong đó thanh niên dân tộc ít người chiếm 15 %; thanh niên tôn giáo chiếm 9,5%; nữ thanh niên chiếm 50,3 % Tỷ lệ tập hợp thanh niên trong tổ

Trang 35

chức đạt khoảng 67,5%

Hiện nay, tổng số xã, phường, thị trấn của tỉnh Nghệ An là 480 đơn vị Theo đó

có 480 tổ chức đoàn cấp xã, với tổng số 5.404 đồng chí ủy viên Ban Chấp hành được đại hội đoàn xã bầu Đơn vị cơ cấu nhiều ủy viên ban chấp hành nhất là 15 đồng chí, đơn vị ít nhất là 5 đồng chí; theo Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn nếu ban chấp hành

có dưới 9 ủy viên thì có bí thư và một phó bí thư; có từ 9 ủy viên trở lên thì bầu ban thường vụ gồm bí thư, phó bí thư và các ủy viên ban thường vụ (tổng số ủy viên thường vụ không quá 1/3 số ủy viên ban chấp hành), trường hợp thật cần thiết thì có thể bầu 2 phó bí thư nếu được sự đồng ý của cấp ủy đảng và đoàn cấp trên trực tiếp Căn cứ vào số lượng ủy viên ban chấp hành của đoàn cấp xã, nên số lượng chủ yếu ủy viên ban thường vụ đoàn xã ở tỉnh Nghệ An là 3 đồng chí, chỉ có một số ít xã, phường

là có 4 hoặc 5 đồng chí Tổng số ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đoàn cấp xã tỉnh Nghệ An hiện nay là 1741 đồng chí, như vậy cơ bản cán bộ đoàn cấp xã ở tỉnh Nghệ An có đủ số lượng theo quy định để thực hiện nhiệm vụ

2.2.2 Chất lượng

Trong những năm qua, đặc biệt kể từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa VIII) về công tác cán bộ Đoàn trong thời kỳ mới, cùng với sự phát triển toàn diện của công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, công tác cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An có nhiều chuyển biến tích cực Đội ngũ cán

bộ đoàn thường xuyên được kiện toàn, đủ về số lượng và nâng cao một bước về chất lượng Nhìn chung cán bộ đoàn cơ sở có năng lực, thể hiện qua việc đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với thanh niên; có kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, năng động sáng tạo trong công tác; có khả năng đề xuất, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chương trình công tác của Đoàn, nhiệt tình, tâm huyết với phong trào; số cán bộ đoàn được bổ sung cho đội ngũ cán bộ của Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội ngày một

Trang 36

nhiều Những nổi trội đó được thể hiện trên các mặt sau:

* Năng lực về chính trị

Có thể khẳng định cán bộ đoàn cấp cơ sở ở tỉnh Nghệ An có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết và Điều lệ Đoàn; có tinh thần đoàn kết, phối hợp trong công tác, năng động hơn trong cơ chế thị trường, không ngại khó, ngại khổ Trong những năm qua, chưa có hiện tượng cán bộ đoàn cơ sở nói và làm trái cương lĩnh chính trị của Đảng, không dao động trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch Đặc biệt các cán bộ đoàn ở vùng sâu, vùng xa, vùng giáo, vùng biển là đối tượng của các phần tử xấu lôi kéo, nhưng với phẩm chất chính trị của mình, đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở đã luôn tích cực phấn đấu, tăng cường tuyên truyền vận động đoàn viên, thanh thiếu nhi đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị, tệ nạn xã hôi, Một lòng tin Đảng, tin vào sự nghiệp đổi mới quê hương đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; vì tương lai tươi sáng của tuổi trẻ

* Năng lực về phẩm chất đạo đức, lối sống

Để đánh giá phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ đoàn cơ sở, qua phân tích tổng hợp hồ sơ lưu trữ, báo cáo và số liệu thống kê hàng năm, đồng thời tiến hành lấy ý kiến của 44 đồng chí lãnh đạo, 46 cán bộ đoàn và 75 đoàn viên thanh niên trong một số

xã, phường, thị trấn của các đơn vị: Thành phố Vinh, Nghi Lộc, Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp, Con Cuông Kết quả thu được (phụ lục 2)

Thông qua số liệu phân tích và đánh giá 11 tiêu chí, mỗi tiêu chí được đánh giá

ở 4 mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu Đa số những người được hỏi ý kiến đều nhận xét các tiêu chí đánh giá phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ đoàn ở mức độ cao Kết quả thu được này cho thấy đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An có lối sống

Trang 37

lành mạnh, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản và tình yêu thương đồng chí, gần gũi đoàn viên, thanh niên, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hi sinh lợi ích cá nhân cho phong trào, không chạy theo chức vụ và địa vị; tiên phong gương mẫu trong xây dựng nếp sống văn hóa, đặc biệt là cưới hỏi, sinh nhật trong thanh niên,

* Năng lực về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị

Nhìn chung, cán bộ đoàn cơ sở đã đảm bảo được các yêu cầu về tiêu chuẩn, có

trình độ học vấn, chính trị và chuyên môn khá cao

Trình độ học vấn, chuyên môn, chính trị:

Cán bộ đoàn cơ sở phần lớn tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn về các lĩnh vực như nông nghiệp, hành chính, thú y, sư phạm, kinh tế, luật

* Năng lực và phong cách công tác:

Đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở tỉnh Nghệ An đa số có năng lực công tác tốt, hầu hết đều kinh qua thực tiễn, trưởng thành từ phong trào quần chúng, đã từng làm công tác đội, công tác đoàn trong trường học, xét về thời gian hoạt động công tác đoàn là khá nhiều, nên có điều kiện tích lũy kinh nghiệm, kiến thức cần thiết; có năng lực trong công tác tham mưu với cấp ủy, chỉ đạo, hướng dẫn các chi đoàn và đoàn viên, thanh niên triển khai thực hiện chủ trương, kế hoạch; có kỹ năng thiết kế và tổ chức hoạt động; có khả năng phối hợp tốt với các ngành, đoàn thể xã hội hóa công tác thanh niên; khả năng lôi cuốn, vận động thanh niên là tốt; phong cách làm việc có kế hoạch, nhanh nhẹn, sáng tạo phù hợp với tâm lý, nhu cầu ngày càng đa dạng của thanh niên; việc ứng

xử các tình huống phát sinh trong đời sống hàng ngày cũng như những hoạt động lớn tập trung của thanh niên nhìn chung là tốt Ngoài kỹ năng về công tác đoàn thông thường, cán bộ đoàn cơ sở còn thường xuyên tự nâng cao năng lực, tham dự các lớp tập huấn về khuyến nông, khuyến ngư, công nghệ sau thu hoạch, chuyển giao kỹ thuật mới trong nuôi trồng thủy sản, vay vốn xóa đói giảm nghèo, giới thiệu việc làm, phòng

Trang 38

chống tệ nạn xã hội, nên về năng lực thực hành của cán bộ đoàn ngày một cao, đáp ứng được yêu cầu trong cơ chế thị trường và các phong trào của đoàn phát động Họ đã đáp ứng được nhiệm vụ vừa là người tuyên truyền viên, vừa là người trực tiếp tổ chức tập hợp, giáo dục thanh niên vào các phong trào của đoàn phát động, để triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, điển hình là phong trào thi đua làm giàu, xây dựng quê hương, phong trào phấn đấu trở thành người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào thanh niên tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng Đây chính là điểm mới trong năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở được hình thành khá rõ nét trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ, từng bước đáp ứng được yêu cầu trong tình hình hiện nay

Năng lực đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở tỉnh Nghệ An trong những năm qua có chuyển biến tích cực đảm bảo yêu cầu công tác mà thực tiễn đang đặt ra Mặt tiến bộ rõ nhất trình độ văn hóa, chuyên môn, chính trị của cán bộ đoàn được nâng lên một bước

so với chỉ tiêu của Tỉnh đoàn đặt ra đều đạt và vượt Số đông có đạo đức, tác phong công tác tốt, có kỹ năng nghiệp vụ và tâm huyết với phong trào, không ngừng đưa công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi chuyển biến từ cơ sở, góp phần tích cực vào phong trào chung của cả tỉnh

2.2.3 Cơ cấu

Về cơ cấu đội ngũ cán bộ đoàn cơ sở ở Nghệ An nhìn chung là khá hợp lý giữa nam, nữ, dân tộc thiểu số, tôn giáo, tỷ lệ đảng viên, độ tuổi (tính đến đối tượng bí thư đoàn cơ sở – số liệu tính đến hết năm 2012: nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn Nghệ An)

+ Về số lượng: 480

Trong đó: Nữ: 69 đồng chí = 14,4%

- Dân tộc thiểu số:

Trang 40

Nguồn: Ban Tổ chức – Kiểm tra Tỉnh đoàn Nghệ An năm 2012

2.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN CẤP CƠ

SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

2.3.1 Điểm mạnh và nguyên nhân

Sau khi có Quyết định số 631-QĐ/TU ngày 20/11/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về phân cấp quản lý cán bộ, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn đã xây dựng

và thực hiện quy trình tuyển chọn, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, phân công cán

bộ theo phân cấp quản lý cán bộ và hướng dẫn các cấp bộ đoàn thực hiện qua đó nhằm xây dựng và nâng cao năng lựcc của người cán bộ đoàn cơ sở Trên cơ sở phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cán bộ đoàn cấp cơ sở bước đầu đã tham

Ngày đăng: 10/10/2016, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thọ Ánh (2006), Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị, Nhà xuất bản Thanh niên; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị
Tác giả: Nguyễn Thọ Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên; Hà Nội
Năm: 2006
2. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An (1998), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
4. Ban Tổ chức Tỉnh đoàn Nghệ An (2009), Thống kê đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở giai đoạn 2005-2009, tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở giai đoạn 2005-2009
Tác giả: Ban Tổ chức Tỉnh đoàn Nghệ An
Năm: 2009
5. Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An (2007), Báo cáo tổng kết đại hội đoàn cơ sở xã phường thị trấn, tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đại hội đoàn cơ sở xã phường thị trấn
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An
Năm: 2007
6. Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An (2007), Dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành Tỉnh đoàn Nghệ An khoá XIV trình Đại hội đại biểu đoàn toàn tỉnh lần thứ XV, liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Báo cáo của Ban chấp hành Tỉnh đoàn Nghệ An khoá XIV trình Đại hội đại biểu đoàn toàn tỉnh lần thứ XV
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Nghệ An
Năm: 2007
7. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003 của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, http//www.chinhphu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 121/2003 của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
8. Lê Văn Cầu (1999), "Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay"; luận án tiến sỹ, thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đội ngũ cán bộ đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay
Tác giả: Lê Văn Cầu
Năm: 1999
10. Nguyễn Bá Dương (chủ biên), Lê Văn Thái, Nguyễn Văn Nhận (2002), Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo
Tác giả: Nguyễn Bá Dương (chủ biên), Lê Văn Thái, Nguyễn Văn Nhận
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
11. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới. Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1994
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội X của Đảng, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia; Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội X của Đảng
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia; Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Quyết định số 289-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 08/02/2010 về “Ban hành quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành quy chế cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
15. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2007), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ IX, Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ IX
Tác giả: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản thanh niên
Năm: 2007
16. Dương Tự Đam (2000), Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn. Nxb. Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2000
17. Lãnh Thị Bích Hoà (2006), Uy tín người lãnh đạo, quản lí và việc nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, Tập chí Tâm lí học, tr.37-40, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Uy tín người lãnh đạo, quản lí và việc nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay", Tập chí "Tâm lí học
Tác giả: Lãnh Thị Bích Hoà
Năm: 2006
18. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng (2007), Giáo trình xây dựng Đảng (Chương trình cao cấp lý luận chính trị), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xây dựng Đảng (Chương trình cao cấp lý luận chính trị)
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Xây dựng Đảng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
19. Lịch sử Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Nghệ An, Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Nghệ An
Nhà XB: Nhà xuất bản thanh niên
21. Vương Quang Minh (2007), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp xã ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay, luận văn cao cấp lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp xã ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Vương Quang Minh
Năm: 2007
22. Vương Quang Minh (2005), "Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An", Tạp chí Thanh niên, số 12-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về công tác thanh niên ở Nghệ An
Tác giả: Vương Quang Minh
Năm: 2005
23. Hoàng Phê -chủ biên (2000), Viện ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê -chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ - Xây dựng và nâng cao năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh nghệ an
Bảng 2.1 Thống kê độ tuổi của đội ngũ cán bộ đoàn cấp cơ sở tỉnh Nghệ (Trang 39)
Bảng 2.2: Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ - Xây dựng và nâng cao năng lực của người cán bộ đoàn cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay qua thực tiễn tại tỉnh nghệ an
Bảng 2.2 Thống kê về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w