Phân tích tài chính được sử dụng như một công cụ để đánh giá tình hình tài chính trong quá khứ, ở hiện tại, đánh giá rủi ro và hiệu quả hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh của doanh n
Trang 1DỰNG SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI HẢI HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN SỸ NGỌC
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SẢN
XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI HẢI HÀ
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS Tạ Thị Đoàn
Hà Nội – Năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian hai năm học tập và nghiên cứu đến nay tôi đã hoàn thành khóa học thạc sỹ Quản trị kinh doanh của mình Lời đầu tiên, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới Cô giáo TS Tạ Thị Đoàn người đã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian
nghiên cứu đến lúc hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo viện Kinh tế và Quản lý; viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức khoa học trong suốt thời gian học tập tại trường và luôn tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty, lãnh đạo và cán bộ nhân viên Phòng Tài chính Kế toán Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong công tác thu thập số liệu cần thiết trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Lãnh đạo khoa và Khoa Kế toán – Kiển toán, Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian cũng như kinh phí để hoàn thành khóa học và luận văn này
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn và chúc các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Việt Trì, ngày 10 tháng 12 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Sỹ Ngọc
Trang 4Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC SƠ ĐỒ 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 8
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 8
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp 8
1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng của tài chính doanh nghiệp 9
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp 12
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp 15
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 18
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 18 1.2.2 Tổ chức công tác phân tích tài chính ở doanh nghiệp 20
1.2.3 Các loại hình phân tích tài chính 21
1.2.4 Các bước trong quá trình phân tích tài chính 22
1.2.5 Các phương pháp thường dùng để phân tích tài chính 24
1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 28
1.3.1 Phân tích chỉ tiêu an toàn 28
1.3.2 Phân tích hiệu quả tài chính 28
1.3.3 Phân tích đòn bẩy tài chính 29
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI HẢI HÀ 35
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà 35 2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và chức năng nhiệm vụ của Công ty 35 2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 36
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian qua 41
2.1.4 Một số đặc điểm có ảnh hưởng đến tài chính của Công ty 43
2.2 Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà 51
2.2.1 Phân tích an toàn tài chính 51
2.2.2 Phân tích hiệu quả tài chính 54
2.2.3 Phân tích các đòn bẩy tài chính 67
2.2.4 Đánh giá chung về tình hình tài chính của Công ty 73
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG HẢI HÀ 79
3.1 Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 79
Trang 53.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty 81
3.2.1 Tổ chức quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất kinh doanh 81
3.2.2 Đẩy nhanh công tác thi công để bàn giao công trình đúng và vượt tiến độ……… 84
3.2.3.Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ, hạn chế đến mức thấp nhất lượng vốn bị chiếm dụng ……….……….87
3.2.4 Tiếp cận với các nguồn vốn vay ngắn hạn mới, ưu tiên huy động vốn của cán bộ công nhân viên trong Công ty 90
3.2.5 Thực hiện công tác phân tích hoạt động tài chính công ty một cách chuyên nghiệp ……….93
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 100
Trang 6Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh của công ty năm 2012 và 2013 Bảng 2.2 Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
Bảng 2.5 Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính theo đẳng thức Dupont
Bảng 2.6 Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến ROS
Bảng 2.7 Bảng chi tiết doanh thu các hoạt động kinh doanh của Công ty
Bảng 2.8 Bảng chi tiết giá vốn các hoạt động kinh doanh của Công ty
Bảng 2.9 Các chỉ tiêu ảnh hưởng tình hình sử dụng tài sản của Công ty
Bảng 2.10 Các chỉ tiêu ảnh hưởng hệ số tài trợ
Bảng 2.11 Cơ cấu biến động nguồn vốn bình quân
Bảng 2.12 Đòn bẩy kinh doanh và Điểm hòa vốn
Bảng 2.13 Đòn bẩy tài chính DFL của Công ty
Bảng 3.3 Kết quả của phương án
Bảng 3.4 Các khoản phải thu của Công ty trong năm 2012 và 2013
Bảng 3.5 Dự báo nhu cầu vốn vay giao đoạn 2014 - 2018
Bảng 3.6 Kết quả của phương án
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Phương pháp phân tích đẳng thức Dupont
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng sản xuất và
thương mại Hải Hà
Sơ đồ 2.2 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính theo sơ đồ Dupont
DANH MỤC PHỤ LUC
Phụ lục 1 Báo cáo kết quả kinh doanh
Phụ lục 2 Bảng cân đối kế toán
Trang 8Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trước xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn Mặt khác trong điều kiện kinh tế đất nước và thế giới đang trong giai đoạn suy thoái, đồng tiền mất giá, lạm phát tăng cao, khả năng thanh khoản giảm, tình trạng thất nghiệp kéo dài,…Để có thể đứng vững, doanh nghiệp phải tổ chức sản xuất kinh doanh hiệu quả, phải có chính sách, chiến lược đúng đắn trong quản lý và đặc biệt là chiến lược đúng đắn, rõ ràng và cụ thể trong quản lý tài chính
Phân tích tài chính được sử dụng như một công cụ để đánh giá tình hình tài chính trong quá khứ, ở hiện tại, đánh giá rủi ro và hiệu quả hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về tình hình tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời dựa trên các luận chứng khoa học mang tính định lượng, giảm đi sự tin tưởng vào trực giác, linh cảm một cách định tính điều này góp phần thu hẹp phạm vi thiếu chắc chắn, thiếu tính tin cậy trong quá trình ra quyết định tại doanh nghiệp
Chính vì lý do này mà tôi chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà” để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của Công ty về quản trị tài chính
trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty trong giai đoạn hiện nay
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 9- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà trên giác độ nhà quản trị doanh nghiệp, trong khoảng thời gian từ niên độ kế toán 2012 đến hết niên độ kế toán 2013
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp phương pháp logic
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương cơ bản sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà
Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty
Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà
Trang 10Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để có các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn tiền tệ nhất định Với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau mà các doanh nghiệp có các cách thức tạo lập
số vốn tiền tệ khác nhau Từ số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, mua vật tư, nguyên vật liệu,… để tiến hành sản xuất kinh doanh Khi tiêu thụ sản phẩm làm ra doanh nghiệp thu về tiền bán hàng, với số doanh thu bán hàng đó, doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các chi phí tiêu hao, trả lương cho người lao động, nộp thuế,… số còn lại là lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp lại tiếp tục phân phối lợi nhuận này vào các quỹ với mục đích tái đầu tư Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình đó, phát sinh và tạo ra sự vận động của các dòng tiền bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt đông sản xuất kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có các mối quan hệ tiền tệ đa dạng và phức tạp Các mối quan hệ đó có thể chia thành các nhóm cơ bản sau đây:
- Quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp
Quan hệ này biểu hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa Ngân sách nhà nước với doanh nghiệp thông qua các hình thức:
+ Doanh nghiệp nộp thuế và các loại phí vào Ngân sách Nhà nước;
+ Nhà nước cấp vốn kinh doanh (đối với các doanh nghiệp Nhà nước) hoặc tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp với tư cách người góp vốn Nhà nước cung cấp cơ sở hạ tầng và tạo các điều kiện pháp lý cũng như đảm bảo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các tổ chức tài chính
Trang 11Mối quan hệ này thể hiện trong công tác huy động vốn cho nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
+ Với các tổ chức tài chính: là hoạt động vay, trả lãi và gốc khi đến hạn + Với thị trường tài chính: là hoạt động phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu), trả các khoản lãi, gốc khi đến hạn, hay việc doanh nghiệp đầu tư các khoản vốn nhàn rỗi của mình vào các doanh nghiệp, tổ chức khác để gia tăng lợi nhuận
- Quan hệ của doanh nghiệp với các thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào
Thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp bao gồm: thị trường công nghệ, thị trường nguyên liệu và thị trường lao động,… Mối quan hệ này được thể hiện qua các hoạt động mua bán, cung ứng và tuyển dụng
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp là các vấn đề tài chính có liên quan đến việc phân phối thu nhập và chính sách tài chính của doanh nghiệp như: cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách cổ tức, sử dụng quỹ nội
bộ của doanh nghiệp
Tóm lại, Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế biểu hiện bằng hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội Hay nói một cách khác tài
chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dựng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Như vậy, các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ đều thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp
1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng của tài chính doanh nghiệp
a, Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp giúp nhà quản trị nắm vững tình hình và kiểm soát vốn sản xuất kinh doanh hiện có về giá trị và hiện vật, nắm vững sự biến động vốn của từng khâu, từng thời kỳ của quá trình sản xuất kinh doanh để có biện pháp quản
lý và điều chính hiệu quả
Tài chính doanh nghiệp giúp tổ chức khai thác và huy động kịp thời các nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, không để vốn bị ứ
Trang 12Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
đọng và thiếu hiệu quả Để thực hiện được điều này, dựa trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp phải thường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn tự có và vốn vay hợp lý, hiệu quả để mỗi lượng vốn nhất định khi được sử dụng phải tạo ra một lượng lợi nhuận
b, Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có các vai trò chủ yếu sau đây:
- Lựa chọn quyết định đầu tư
Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư dài hạn với quy mô như quyết định đầu tư đổi mới công nghệ,
mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất và kinh doanh sản phẩm mới,…Để đi đến quyết định đầu tư, đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật và tài chính Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và thu nhập do đầu tư mang lại, hay nói cách khác là xem xét dòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài chính Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn Tài chính doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho từng hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ Tiếp đó, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng đầy đủ, kịp thời và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Để có được cơ cấu vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc nhiều mặt như kết cầu nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp, chi phí sử dụng từng nguồn vốn, phân tích điểm lợi và bất lợi của từng nguồn vốn
- Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn
ứ đọng và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập và cân bằng
Trang 13giữa thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn
- Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Phân phối lợi nhuận là việc giải quyết mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các bên có liên quan Việc phân phối và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp là cân đối lợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp và người lao động, qua đó góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống người lao động
- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua tình hình tiêu thụ, chi tiêu hằng ngày, các báo cáo tài chính, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phân tích tài chính của doanh nghiệp Qua phân tích, cần đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn, những điểm mạnh, điểu yếu trong quá trình quản lý và dự báo tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ
đó giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định thích hợp và kịp thời để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính của doanh nghiệp
- Thực hiện kế hoạch hóa tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính Có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp mới có thể đưa ra các quyết định thích hợp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
c, Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Về cơ bản tài chính doanh nghiệp có hai chức năng là phân phối và giám đốc
- Chức năng phân phối: Là chức năng đưa các nguồn tài chính, nguồn vốn,
lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp vào các quỹ để sử dụng cho các mục đích thích hợp theo kế hoạch tài chính của doanh nghiệp Nhờ có chức năng này mà doanh nghiệp có khả năng thu hút, khai thác các nguồn lực tài chính bên ngoài để hình thành nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp mình, ngoài ra nó còn quyết định phương hướng đầu tư, tái đầu tư và cách thức đầu tư của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc: Mục tiêu hoạt động cuối cùng của doanh nghiệp
là lợi nhuận, để đạt được mục tiêu này tài chính doanh nghiệp phải giám sát và
dự báo hiệu quả quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ
và sử dụng các quỹ đúng mục đích đã đề ra Chức năng này có khả năng phát hiện những khuyết tật trong quá trình phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình
Trang 14Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
này một cách phù hợp nhất nhằm thực hiện tác mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Đề đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà quản trị sử dụng hai nhóm mục tiêu sau đây:
1.1.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính
- Các chỉ tiêu phản ánh sức sinh lời
Khả năng sinh lời hay sức sinh lời được đánh giá trên nhiều góc độ khác nhau, có thể đánh giá khả năng sinh lời từ hoạt động, khả năng sinh lời từ kinh tế và khả năng sinh lời từ tài chính Để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp từ tài chính các nhà quản trị sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity)
Còn được gọi là sức sinh lời của vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu trong kỳ
LN sau thuế Vốn CSH bình quân Chỉ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng lớn
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản hay tỷ suất lợi nhuận ròng của tài sản (ROA – Return on Asset)
Còn được gọi là tỷ suất thu hồi tài sản Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng tài sản tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
Tổng TS bình quân Hay có thế nói chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lợi của mỗi đồng tài sản tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ sau khi đã trang trải lãi vay và thuế
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng (ROS – Return on Sales)
Chỉ tiêu này phán ánh tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán ra
DT thuần Hay có thể nói chỉ tiêu này phán ánh mức đóng góp lợi nhuận của mỗi đồng doanh thu
Trang 15Nếu hệ số này dương có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh có lãi và ngược lại Nếu chỉ số này tăng có nghĩa là khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn hoặc (và) các cấp quản trị đang kiểm soát tốt chi phí, và ngược lại, nếu chỉ số này giảm có nghĩa là doanh nghiệp đang phải chiết khấu để bán hàng hoặc (và) đang mất kiểm soát chi phí
- Các chỉ tiêu phản ánh năng suất của tài sản
Để phản ánh năng suất của tài sản, các nhà quản trị sử dụng chỉ tiêu doanh thu thuần hoặc giá vốn hàng bán theo công thức sau:
Tổng TS bình quân Hoặc có thể sử dụng công thức:
Năng suất tổng tài sản =
Giá vốn hàng bán Tổng TS bình quân Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản được sử dụng tạo ra bao nhiêu doanh thu thuần (hoặc giá vốn hàng bán) Chỉ tiêu này càng lớn thì tốc độ luân chuyển tài sản của doanh nghiệp càng nhanh, hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt và ngược lại
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn; vì vậy chỉ tiêu năng suất tài sản được chia thành:
+ Năng suất tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được sử dụng trực tiếp cho mục đích sản xuất kinh doanh, nó trực tiếp tạo ra các yếu tố đầu vào và đầu ra của doanh nghiệpnhư nguyên vật liệu, công cụ, thành phẩm, hàng hóa,… chính vì vậy các nhà quản trị tiến hành đo lường hiệu quả tài sản ngắn hạn bằng công thức:
Năng suất tài sản ngắn hạn = DT thuần (Giá vốn hàng bán)
TS ngắn hạn bình quân
Và để xác định vòng quay TS ngắn hạn, nhà quản trị sử dụng công thức:
Năng suất tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết để hoàn thành một vòng quay tài sản ngắn hạn cần bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng nhỏ và ngược lại
+ Năng suất tài sản dài hạn
Trang 16Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Chỉ tiêu này phán ánh với mỗi đồng tài sản dài hạn được sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu doanh thu thuần hoặc giá vốn hàng bán
Năng suất tài sản dài hạn =
DT thuần (Giá vốn hàng bán)
TS dài hạn bình quân
1.1.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn tài chính
Nhóm chỉ tiêu này thể hiện tình hình tài chính doanh nghiệp có an toàn hay không, do những nhân tố nào tác động Mức độ an toàn thể hiện thông qua các chỉ tiêu cơ bản sau đây:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Hệ số này thể hiện mối tương quan giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn, là thước đo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như: Tiền mặt, tiền gửi, nợ phải thu, hàng tồn kho
Nguồn vốn ngắn hạn Chỉ tiêu này cho thấy hiện tại doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số này lớn hơn 1 cho thấy doanh nghiệp sẵn sàng thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu chỉ số này nhỏ hơn 1 báo hiệu khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đang ở mức thấp, tiền ẩn những khó khăn về tài chính
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp mà không cần bán, thanh lý vật tư, hàng hóa
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = TS ngắn hạn – Hàng tồn kho
Nguồn vốn ngắn hạn
Hệ số này càng lớn càng thể hiện mức độ an toan trong thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời là thước đo khả năng thanh toán các khoản nợ bằng
số tiền doanh nghiệp hiện có
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =
Tiền
Nợ đến hạn phải trả
Trang 17Số tiền hiện có của doanh nghiệp bao gồm: Tiền mặt, tiền gửi và các tài sản
có thanh khoản cao như vàng, bạc, đá quý,…
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay là một khoản chi phí sử dụng vốn, nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp trừ đi chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay thể hiện mối quan hệ giữa nguồn để trả lãi vay và lãi vay phải trả
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = LN trước thuế và lãi vay
Lãi vay phải trả trong kỳ
Hệ số này được dùng để đo lường mức sinh lợi có được do sử dụng vốn vay,
nó thể hiện hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp
1.1.4.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
- Tình trạng của nền kinh tế
Trong một nền kinh tế đang tăng trưởng thì sẽ có nhiều cơ hội đầu tư phát triển hơn cho doanh nghiệp, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng yêu cầu đầu tư, khả năng tìm kiếm các nguồn tài trợ cũng trở nên dễ dàng hơn, các chỉ số tài chính của doanh nghiệp vì thế đều tốt hơn Ngược lại, với nền kinh tế suy thoái doanh nghiệp khó tìm thấy cơ hội đầu tư cũng nhưng những nguồn tài trợ vốn, dẫn đến các chỉ số tài chính có thể bị sụp giảm
- Lãi suất thị trường
Hầu hết các doanh nghiệp khi tham gia sản xuất kinh doanh đều có sử dụng vốn vay, chi phí sử dụng vốn vay phụ thuộc lớn vào lãi suất thị trường Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến quá trình đầu tư, chi phí vốn và cơ hội huy động các nguồn tài trợ của doanh nghiệp Mặt khác khi lãi suất thị trường cao, người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng dẫn tới sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp có thể giảm, khi đó các hệ số quay vòng tài sản ngắn hạn và vốn kinh doanh sẽ giảm, mức sinh lợi của doanh thu cũng giảm theo
- Lạm phát
Khi nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao, giá cả leo thang, việc tiêu thụ của doanh nghiệp có chiều hướng giảm ảnh hưởng tiêu cực đến các chỉ số tài chính của doanh nghiệp Mặt khác do việc huy động vốn của các tổ chức tín dụng gặp khó khăn
Trang 18Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
kết hợp chính sách thắt chặt tiền tệ của ngân hàng Nhà nước, nên ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng chỉ có thể cung cấp phần nào nhu cầu vốn cho doanh nghiệp đối với những hợp đồng đã ký với mức đọ rủi ro cho phép Trong tình trạng
đó, nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích cực có thế dẫn tới mất vốn kinh doanh, ảnh hưởng lâu dài đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước
Các chính sách của Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách suất khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định,… là những yếu tố tác động lớn đến tài chính của doanh nghiệp
- Mức độ cạnh tranh
Nếu doanh nghiệp đang hoạt động trong các linh vực có mức độ cạnh tranh cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn cho công tác đổi mới công nghệ, trang thiết bị và cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, công tác quảng cáo và xúc tiến bán hàng,… sẽ ảnh hưởng lớn đến vòng quay vốn và các chỉ số tài chính khác của doanh nghiệp
- Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính
Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi doanh nghiệp có thể huy động và gia tăng các nguồn lực thông qua việc huy động vốn của các cá nhân, tổ chức có nguồn vốn nhàn rỗi, hoặc có thể đầu tư các khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp mình nhằm gia tăng lợi nhuận Sự phát triển của thị thường vừa làm đa dạng hóa các công cụ và hình thức huy động vốn, vừa làm tăng cơ hội đầu tư khác cho doanh nghiệp
- Tỷ giá
Đối với các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu thì yếu tố tỷ giá luôn ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Chênh lệch tỷ giá giữa các khoản nợ phải thu và nợ phải trả đôi khi làm lợi cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng có thể gây bất lợi thậm chí là gây lỗ cho doanh nghiệp
1.1.4.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
- Năng lực quản trị
Trong nền kinh tế hiện đại, năng lực quản trị của doanh nghiệp là một nhân
tố quan trọng, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường Năng lực này bao gồm: khả năng lãnh đạo, khả năng ra quyết định và khó khăn về chuyên
Trang 19môn Nhà quản trị có tầm nhìn, có thể hoạch định chiến lược đúng đắn có thể mang lại thành công cho doanh nghiệp trong một thời gian dài
- Chiến lược kinh doanh
Mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp, mặt khác các khách hàng thường có nhu cầu khác nhau Việc phát triển và giữ chân khách hàng đỏi hỏi doanh nghiệp phải có những chiến lược riêng cho từng nhóm khách hàng, với chiến lược hợp lý cho từng phân khúc, từng nhóm khách hàng có thể tạo sự ổn định cho doanh nghiệp về sản xuất kinh doanh cũng như về tài chính
- Công nghệ sản xuất
Công nghệ sản suất bao gồm phương thức, máy móc, thiết bị tiên tiến, hiện đại cũng như trình độ bố trí, tổ chức sản xuất sẽ tạo ra những sản phẩm tốt, có tính đồng đều cao cũng như tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có tính cạnh tranh hơn, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Khi đó các chỉ số tài chính của doanh nghiệp sẽ tốt hơn và thương hiệu của sản phẩm, của doanh nghiệp sẽ được củng cố và mạnh hơn
- Hình thức pháp lý của doanh nghiệp
Hình thức pháp lý của doanh nghiệp chi phối đến việc tổ chức, huy động vốn, quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh Với một công ty TNHH thì vốn được hình thành giới hạn trong các thành viên và lợi nhuận do các thành viên góp vốn hưởng Tương tự như vậy đối với một công ty cổ phần, vốn được hình thành từ các cổ đông và có thể huy động vốn rộng rãi thông qua việc phát hành cổ phiếu trên
Trang 20Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
thị trường chứng khoán, đồng nghĩa với việc lợi nhuận các cổ đông được hưởng trên cơ sở cổ tức được chia hàng kỳ,…
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
a, Khái niệm
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng
để đánh giá, xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu tài chính trong quá khứ với hiện tại Thông qua việc phân tích đó giúp nhà quản trị có thể đánh giá tiềm năng cũng như rủi ro trong tương lai, qua đó giúp đưa ra những quyết định quản trị hợp lý, kịp thời nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
b, Mục tiêu
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những điểm mạnh, điểu yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính của doanh nghiệp, bao gồm:
- Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lời và quản lý tài sản);
- An toàn tài chính (khả năng thanh toán và khả năng quản lý nợ);
- Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (đẳng thức Dupont)
c, Ý nghĩa
Đối với mỗi đối tượng khác nhau quan tâm tới doanh nghiệp, thì thông tin phân tích tài chính sẽ có ý nghĩa khác nhau, bao gồm:
- Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp
Việc ra quyết định đúng đắn, kịp thời của nhà quản trị quyết định thành bại của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh cũng như trong các hoạt động đầu tư
Để làm được việc đó, nhà quản trị cần có các thông tin chính xác và kịp thời, những thông tin này có được từ hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Đối với những nhà quản trị thì phân tích tài chính có ý nghĩa cụ thể sau đâu:
+ Đánh giá hoạt động quản lý thông qua việc cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro của doanh nghiệp
+ Thông tin của phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở của những dự đoán tài chính trong tương lai
+ Là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý của doanh nghiệp
- Đối với ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng
Trang 21Đối với ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thì khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đâu Thông tin của phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ nắm bắt được khả năng tài chính của khách hàng, tiềm năng của khách hàng cũng như những rủi ro có thể gặp phải Từ đó có kế hoạch cho vay và giải ngân cho khách hàng
- Đối với các nhà cung cấp
Trong chuỗi cung ứng, doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khách hàng
mà còn phụ thuộc vào nhà cung cấp Thông tin phân tích tài chính của doanh nghiệp giúp nhà cung cấp biết khả năng thanh toán hiện tại và tương lai của doanh nghiệp,
để từ đó nhà cung cấp có thể cung ứng đầy đủ, kịp thời các yếu tố nguyên liệu và chấp nhận cho doanh nghiệp mua chịu, thanh toán chậm hay không
- Đối với khách hàng
Đối với các khách hàng lớn thì khả năng sản xuất, chất lượng và sản lượng của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu để quyết định có gắn bó lâu dài với doanh nghiệp hay không Để đánh giá được điều đó, khách hàng phải căn cứ vào khả năng sản xuất cũng như tiềm lực tài chính của doanh nghiệp qua những chỉ số phân tích tài chính
- Đối với các nhà đầu tư
Đối với nhà đầu tư, từ các yếu tố mức sinh lời, khả năng thanh toán vốn, thời gian hoàn vốn và sự rủi ro là mối quan tâm hàng đầu Thông tin phân tích tài chính
sẽ cho biết tình hình hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh và tiềm năng của doanh nghiệp, từ đó có các quyết định đầu tư thích hợp vào doanh nghiệp
- Đối với các cơ quan nhà nước
Các cơ quan nhà nước quan tâm tới doanh nghiệp bao gồm: Cơ quan thuế, cơ quan thanh tra tài chính, kiểm toán,… Các cơ quan này dựa vào số liệu phân tích tài chính để phân tích, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp với mục đích kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó giúp các cơ quan nhà nước hoạch định các chính sách vĩ mô phù hợp với tình hình chung của các doanh nghiệp
- Đối với người lao động
Là những người hưởng lương của doanh nghiệp, và thu nhập duy nhất của
họ chính là tiền lương Kết quả kinh doanh, khả năng tài chính cũng như tương
Trang 22Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
lai của doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm ổn định, yên tâm gắn bó với doanh nghiệp
- Đối với đối thủ cạnh tranh
Là những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, các chỉ tiêu mức sinh lời, doanh thu và các chỉ tiêu tài chính khác phục vụ cho việc đề ra các biện pháp cạnh tranh với doanh nghiệp
1.2.2 Tổ chức công tác phân tích tài chính ở doanh nghiệp
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính của các doanh nghiệp tùy thuộc vào quy mô, cơ cấu tổ chức, yêu cầu quản lý,… của doanh nghiệp, nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhu cầu thông tin tài chính cho quá trình ra quyết định từ khâu lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra cho đến khâu đánh giá quyết định Thông tin của phân tích tài chính phải đáp ứng yêu cầu thông tin của các loại hình quản trị, các cấp quản trị khác nhau
- Mô hình tập trung
Công tác phân tích tài chính có thể được xây dựng theo mô hình tập trung,
theo đó bộ phận phân tích tài chính được tổ chức thành một bộ phận riêng biệt, chịu
sự giám sát và quản lý trực tiếp của giám đốc hoặc ban giám đốc và làm tham mưu trực tiếp cho ban giám đốc
Theo hình thức này, quá trình phân tích tài chính sẽ thể hiện toàn bộ nội dung của hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định theo yêu cầu Kết quả phân tích sẽ được cung cấp thường xuyên cho lãnh đạo doanh nghiệp Trên cơ sở đó, kết quả phân tích được chuyền xuống các cấp theo chức năng quản lý, giám sát, kiểm tra, điều chỉnh đối với từng bộ phận của doanh nghiệp theo cơ cấu tổ chức
- Mô hình phân tán
Theo mô hình này, công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theo phân cấp quản lý, nhằm cung cấp thông tin tài chính cho bản thân cấp quản lý và các các cấp quản lý khác có liên quan
Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí,
bộ phận này sẽ tổ chức thu thập và phân tích tình hình biến động chi phí giữa thực hiện và định mức, hoặc giữa thực hiện và kế hoạch để xác định sự chênh
Trang 23lệch, nguyên nhân, hệ quả và từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục hoặc cải thiện vấn đề sử dụng chi phí
Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu, thường là bộ phận kinh doanh, bộ phận này sẽ thu thập và phân tích các thông tin về doanh số, thu nhập, mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận từ đó đánh giá hoàn vốn và phân tích báo cáo nội bộ
1.2.3 Các loại hình phân tích tài chính
Căn cứ vào yêu cầu phần tích, phân tích tài chính được chia thành các loại hình cụ thể như sau:
a Căn cứ theo thời điểm kinh doanh
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh, phân tích tài chính được chia thành ba hình thức như sau:
- Phân tích trước kinh doanh: Còn được gọi là phân tích tương lai nhằm dự
báo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai có thể là ngắn hạn, trung và dài hạn
- Phân tích trong kinh doanh: Còn được gọi là phân tích hiện tại hay phân
tích tác nghiệp, là quá trình phân tích diễn ra song song với quá trình kinh doanh thường mang tính chất ngắn hạn Hình thức này thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh những sai lệch giữa kết quả thực hiện và mục tiêu
- Phân tích sau kinh doanh: Còn được gọi là phân tích quá khứ, là quá
trình phân tích sau khi quá trình kinh doanh đã kết thức, nhằm đánh giá định kỳ kết quả giữa thực hiện với kế hoạch hay định mức đã đề ra Từ kết quả phân tích này cho nhà quản trị nhận định tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề
ra và làm căn cứ để xây dựng các kế hoạch tiếp theo
b Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích tài chính được chia thành hai loại như sau:
- Phân tích thường xuyên: Được thực hiện trong quá trình kinh doanh
Kết quả phân tích giúp phát hiện những sai lệch nhằm đưa ra những giải pháp khắc phục, điều chỉnh thường xuyên và kịp thời trong quá trình kinh doanh Nếu phương thức này được thực hiện sẽ mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp, nhưng nó lại đòi hỏi doanh nghiệp có sự đầu tư đúng mức và chấp nhận chi phí cao hơn
Trang 24Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
- Phân tích định kỳ: Được thực hiện sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các
báo cáo kinh doanh đã được lập, kết quả phân tích nhằm đánh giá tình hình thực hiện kết quả hoạt động kinh doanh của từng thời kỳ và là cơ sở để xây dựng các
kế hoạch tiếp theo Phương pháp này tiết kiệm công sức, thời gian và chi phí, tuy nhiên không thể điều chỉnh kịp thời các chính sách kinh doanh của doanh nghiệp khi có biến động
c Căn cứ theo nội dung phân tích
Theo cách phân loại này phân tích tài chính được chia thành hai loại:
- Phần tích tổng hợp: Là việc tổng hợp các kết quả phần tích đề đưa ra một
số chỉ tiêu tổng hợp, nhằm đánh giá tổng quát toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong mối quan hệ nhận quả giữa chúng, cũng như dưới tác động của các yếu
tố bên ngoài có ảnh hưởng
- Phân tích chuyên đề: Còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập trung
vào một số nhân tố của quá trình kinh doanh cụ thể có tác động, ảnh hưởng đến những chỉ tiêu tổng hợp
1.2.4 Các bước trong quá trình phân tích tài chính
1.2.4.1 Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Bao gồm từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, từ thông tin kế toán đến các thông tin khác… trong đó thông tin kế toán được xem là quan trọng nhất, được phản ánh trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, do đó phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.4.2 Xử lý thông tin
Sau khi thu thập đủ các thông tin cần thiết, người phân tích sẽ tính toán
và phân tích các thông tin ở các góc độ khác nhau phục vụ mục tiêu đã đặt ra
Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá và xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
Trang 251.2.4.3 Dự đoán và ra quyết định
Đây là mục đích của việc phân tích thông tin tài chính Sau khi đã phân tích các thông tin tài chính thu thập được, căn cứ vào kết quả của phân tích, người sử dụng thông tin sẽ đưa ra những dự đoán theo các phương pháp khoa học, từ đó nhà quản trị có thể ra các quyệt định chính xác, kịp thời phù hợp với tình hình của doanh nghiệp
1.2.4.4 Các thông tin cơ cở để phân tích hoạt động tài chính
Các thông tin cơ sở được sử dụng để phân tích hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp về cơ bản là các báo cáo tài chính sau đây:
a Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán (Balance sheet - CĐKT) là một báo cáo tài chính (BCTC) chủ yếu phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Bảng CĐKT được thiết kế dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý, bao gồm hai phần là Tài sản và Nguồn vốn
Căn cứ vào bảng CĐKT, người phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp, nó thể hiện khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
b Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Steatement – KQKD) là một
báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh các khoản doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, bao gồm hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác
Thông qua số liệu trên báo cáo có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, tình hình doanh thu, chi phí, thu nhập hoạt động khác và kết quả của doanh nghiệp sau một kỳ hạch toán
Trang 26Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
c Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng các khoản tiền đã tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.5 Các phương pháp thường dùng để phân tích tài chính
+ Tồn tại ít nhất hai đại lượng
+ Các đại lượng phải đảm bảo tính so sánh được, đó là sự thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian
và đơn vị đo lường
1.2.5.2 Phương pháp tỷ lệ
- Phương pháp tỷ lệ là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích Các tỷ số thường được thiết lập bởi hai hoặc nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đó các chỉ tiêu phải có mối quan hệ với nhau
- Phương pháp này có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, vì:
+ Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải thiện và cung cấp đầy đủ hơn, là cơ sở đề hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ
số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
+ Việc áp dụng công nghệ thông tin cho phép tích lũy dữ liệu và đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
+ Phương pháp này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả số liệu phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian hoặc theo từng giai đoạn
Trang 27- Phương pháp tỷ số yêu cầu xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
1.2.5.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
- Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân
tố này có quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích số, thương số và kết quả kinh tế
+ Tiến hành thay thế từng nhân tố một theo trình tự nhân tố nào được thay thế sẽ thay đổi, nhân tố chưa được thay thế được giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc và kỳ kế hoạch, thay thế song một nhân tố phải tính ra một kết quả cụ thể,
so sánh với kết quả kỳ trước thì mức chênh lệch chính kết quả ảnh hưởng của nhân tố được thay thế
+ Có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng sẽ phải thay thế bấy nhiêu lần, tổng hợp ảnh hưởng của nhân tố phải bằng đối tượng của phân tích
1.2.5.4 Phương pháp Dupont
- Mô hình Dupont là k ỹ thuật có thể được sử dụng để phân tích khả năng sinh lãi của một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán
Về bản chất phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp như Lợi nhuận sau thuế TNDN trên tài sản (ROA), Lợi nhuận sau thuế TNDN trên vốn chủ sở hữu (ROS) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả Từ đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với số tổng hợp
- Đẳng thức Dupont
Trang 28Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Như vậy có thể nói ROE phụ thuộc ba yếu tổ: ROS; Vòng quay tổng TS và
+So sánh với những hãng khác cùng ngành kinh doanh;
+ Phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian;
+ Cung cấp những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công ty;
+ Cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng
Trang 29CP
lãi
vay
CP bán hàng
Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE
Sơ đồ 1.1: Phương pháp phân tích đẳng thức Dupont
Lợi nhuận
sau thuế
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Tài sản ngắn hạn
Tài sản dài hạn
Tiền và các khoản tương đương
Khoản phải thu
Hàng tồn kho
Trang 30Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Trên đây là một số phương pháp phân tích tài chính phổ biến Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm nhất định Chính vì vậy, khi phân tích phải kết hợp giữa các phương pháp để có kết quả phân tích chính xác và đáng tin cậy nhất
1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích chỉ tiêu an toàn
Việc phân tích này nhằm mục đích xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp
có an toàn hay không và do những nhân tố nào tác động? Nguyên nhân của những tác động đó? Bao gồm các nội dung như sau:
1.3.1.1 Phân tích cân đối Tài sản và Nguồn vốn
Việc phân tích này cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không? Tài sản dài hạn của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn chủ sở hữu hay bằng nợ dài hạn hay không?
Theo nguyên tắc quản lý tài chính, mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
để tình hình tài chính của doanh nghiệp an toàn là:
- Tài sản ngắn hạn được tài trợ bằng nợ ngắn hạn hoặc nguồn vốn kinh doanh;
- Tài sản dài hạn được tài trợ bằng nợ dài hạn hoặc nguồn vốn chủ sở hữu
1.3.1.2 Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp dùng tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Thông qua phân tích khả năng thanh toán có thể đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp và xu hướng phát triển của doanh nghiệp
Để phân tích khả năng thanh toán, ta sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành;
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh;
- Hệ số công nợ;
- Hệ số thanh toán lãi vay
1.3.2 Phân tích hiệu quả tài chính
Phân tích hiệu quả tài chính là xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả hay không, do những nhân tố nào tác động và nguyên nhân gây ra những tác động đó Việc phân tích này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư, nhà quản trị, các tổ chức tín dụng, các cổ đông, nó gắn liền với lợi ích của họ ở hiện tại và trong tương lai
Để phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, ta sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
Trang 311.3.2.1 Phân tích khả năng sinh lợi
Để phân tích khả năng sinh lời, nhà phân tích sử dụng các chỉ tiêu tài chính sau đây:
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE),
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản hay tỷ suất lợi nhuận ròng của tài sản (ROA),
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần hay hệ số lãi ròng (ROS)
1.3.2.2 Phân tích năng suất (hay tình hình sử dụng) tài sản
Để phân tích năng suất hay tình hình sử dụng tài sản, nhà phân tích sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Năng suất tổng tài sản,
- Năng suất tài sản ngắn hạn,
- Năng suất tài sản dài hạn
1.3.3 Phân tích đòn bẩy tài chính
1.3.3.1 Đòn bẩy kinh doanh - DOL (Đòn bẩy định phí)
Đòn bẩy kinh doanh hay đòn bẩy định phí là khái niệm phải ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng chi phí cố định trong hoạt động kinh doanh của mình Doanh nghiệp có đòn bẩy kinh doanh cao khi tỷ trọng chi phí cố định trong tổng chi phí cao Khi đòn bẩy kinh doanh cao, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về doanh thu có thể gây ra sự thay đổi lớn về lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Đòn bẩy kinh doanh phản ánh mức độ rủi ro trong kinh doanh Về thực chất, đòn bẩy kinh doanh phản ánh tỷ lệ thay đổi về lợi nhuận trước thuế và lãi vay phát sinh do sự thay đổi về sản lượng tiêu thụ
Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) Lợi nhuận trước thuế và lãi vay với mức thay đổi tính bằng phần trăm (%) của Doanh thu
DOL = Mức thay đổi của Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (%)
Mức thay đổi Doanh thu (%) Hay:
Trang 32Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
- F: là chi phí cố định
- EBIT: là lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh DOL cao chứng tỏ doanh nghiệp có mức độ sinh lợi cao tuy nhiên rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ tăng tương ứng
Đòn bẩy kinh doanh là công cụ được các nhà quản lý sử dụng để gia tăng lợi nhuận Trong các doanh nghiệp trang bị tài sản cố định hiện đại, định phí rất cao, biến phí rất nhỏ thì sản lượng hoà vốn rất lớn Tuy nhiên, một khi đã vượt quá điểm hoà vốn, đòn bẩy kinh doanh sẽ rất lớn Do đó, chỉ cần một sự thay đổi rất nhỏ của sản lượng cũng đã làm lợi nhuận gia tăng rất lớn Từ đó, ta có công thức đo lường sự tác động của đòn bẩy kinh doanh với sự gia tăng lợi nhuận như sau:
Tỷ lệ gia tăng lợi nhuận trước thuế và lãi vay = DOL x
Tỷ lệ thay đổi về sản lượng tiêu thụ Khái niệm đòn bẩy kinh doanh cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp một công cụ để dự kiến lợi nhuận Nếu doanh thu của doanh nghiệp tăng lên và doanh thu đã vượt quá điểm hoà vốn chỉ cần tăng một tỷ lệ nhỏ về doanh thu là đã có thể tăng lên một
tỷ lệ lớn hơn về lợi nhuận
Cần lưu ý rằng: Đòn bẩy kinh doanh như "con dao hai lưỡi", chúng ta biết đòn bẩy kinh
doanh phụ thuộc vào định phí Nhưng khi chưa vượt quá điểm hoà vốn, ở cùng một mức độ sản lượng thì doanh nghiệp nào có định phí càng cao, lỗ càng lớn Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp phải phấn đấu để đạt được sản lượng hoà vốn Khi vượt quá điểm hoà vốn thì đòn bẩy kinh doanh luôn luôn dương và nó ảnh hưởng tích cực tới sự gia tăng lợi nhuận
Do đòn bẩy kinh doanh sẽ chỉ phát huy tác dụng khi doanh thu thuần vượt qua doanh thu hòa vốn, nên đề xác định lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi như thế nào với mức sản xuất thì phải phân tích điểm hòa vốn của doanh nghiệp Điểm hòa vốn là điểm
mà tại đó mức doanh thu tạo ra bằng chi phí hoạt động
Sản lượng và doanh thu hòa vốn được xác định theo công thức:
Trang 331.3.3.2 Đòn bẩy tài chính - DFL (Đòn bẩy nợ)
Đòn bẩy tài chính là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu trong việc điều hành chính sách tài chính của doanh nghiệp Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu Ngược lại, đòn bẩy tài chính sẽ thấp khi tỷ trọng nợ phải trả nhỏ hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu
Đòn bẩy tài chính vừa là một công cụ thúc đẩy lợi nhuận sau thuế trên một đồng vốn chủ sở hữu, vừa là một công cụ kìm hãm sự gia tăng đó Sự thành công hay thất bại này tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại khi lựa chọn cơ cấu tài chính Khả năng gia tăng lợi nhuận cao là điều mong ước của các chủ sở hữu, trong đó đòn bẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý ưa dùng
Vì lãi vay phải trả không đổi khi sản lượng thay đổi, do đó đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ cao, và ngược lại đòn bẩy tài chính sẽ rất nhỏ trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp Những doanh nghiệp không mắc nợ (tỷ số bằng không) sẽ không có đòn bẩy tài chính Như vậy, đòn bẩy tài chính đặt trọng tâm vào tỷ số
nợ Khi đòn bẩy tài chính cao, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng làm thay đổi lớn tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu sẽ rất nhạy cảm với lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Về thực chất, đòn bẩy tài chính phản ánh sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ trước sự thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Như vậy, độ lớn của đòn bẩy tài chính được xem như là tỷ lệ thay đổi của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi của lợi nhuận trước thuế
và lãi vay
Đòn bẩy tài chính được xác định bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (EPS) với mức thay đổi tính bằng phần trăm của lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
DFL = Mức thay đổi tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (%)
Mức thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay (%) Hay
EBIT - I Trong đó: - DFL: là độ lớn đòn bẩy tài chính
- EBIT: là lợi nhuận trước thuế và lãi vay
- I: là lãi suất
Trang 34Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
Cũng như đòn bẩy kinh doanh, sử dụng đòn bẩy tài chính cũng giống như sử dụng
"con dao hai lưỡi" Nếu tổng tài sản không có khả năng sinh ra một tỉ lệ lợi nhuận đủ lớn
để bù đắp các chi phí tiền lãi vay phải trả thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bị giảm sút Vì phần lợi nhuận do vốn chủ sở hữu làm ra phải dùng để bù đắp sự thiếu hụt của lãi vay phải trả Do vậy, thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu sẽ còn lại rất ít so với tiền đáng lẽ chúng được hưởng Đòn bẩy tài chính được các nhà quản lý sử dụng để gia tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu công thức xác định sự tác động của đòn bẩy tài chính đến tỷ suất suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu như sau:
Tỷ lệ thay đổi về tỷ suất lợi nhuận
sau thuế trên vốn chủ sở hữu = DFL x
Tỷ lệ thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay Khái niệm đòn bẩy tài chính cung cấp cho các nhà phân tích một công cụ quan trọng để dự kiến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu Cần lưu ý là khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn để trang trải lãi vay thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bị giảm sút Nhưng khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay đủ lớn thì chỉ cần sự gia tăng nhỏ về lợi nhuận trước thuế và lãi vay đã có sự gia tăng lớn về tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
1.3.3.3 Đòn bẩy tổng hợp - DTL
Đòn bẩy kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh sẽ rất lớn ở những doanh nghiệp có chi phí cố định cao hơn chi phí biến đổi Những đòn bẩy kinh doanh chỉ tác động tới lợi nhuận trước thuế
và lãi vay, bởi lẽ tỷ số nợ không ảnh hưởng tới độ lớn của đòn bẩy kinh doanh
Còn độ lớn của đòn bẩy tài chính chỉ phụ thuộc vào tỷ số mắc nợ, không phụ thuộc vào kết cấu chi phí cố định và chi phí biến đổi của doanh nghiệp Do đó, đòn bẩy tài chính tác động tới lợi nhuận sau thuế và lãi vay Vì vậy, khi ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh chấm dứt thì ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính sẽ thay thế để khuếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu khi doanh thu thay đổi Vì lẽ đó người ta có thể kết hợp đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính thành một đòn bẩy tổng hợp
DTL = DFL x DLT Hay
S – VC – F – I
Trang 35Đòn bẩy tổng hợp là sự kết hợp của đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh, do
đó nếu doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh cao thì một tác động nhỏ về doanh thu sẽ gây tác động lớn về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu tăng lên nhanh chóng, Vì vậy doanh nghiệp cần lựa chọn một mức độ phù hợp với doanh nghiệp mình để đem lại hiệu quả cao nhất
Trang 36Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày một cách tổng quan về những vấn đề cơ bản về tài chính doanh nghiệp bao gồm: khái niệm, vai trò, nhiệm vụ, chức năng, các nhân tố ảnh hưởng tới tình hình tài chính doanh nghiệp Đặc biệt, chương nay đề cập đến những vấn đề cơ bản trong phân tích tài chính doanh nghiệp như: Các phương pháp phân tích; trình tự phân tích tài chính và nội dung của phân tích tài chính doanh nghiệp làm cơ sở để tiến hành việc phân tích và để xuất giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà ở các chương tiếp theo
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI HẢI HÀ
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và chức năng nhiệm vụ của Công ty
- Tên công ty: Công ty Cổ phần xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà
- Địa chỉ: Số 84 đường Hai Bà Trưng, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Điện thoại: 02103.849.407
- Fax: 02103.849.492
- Số đăng ký kinh doanh: 2600196319 do sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ cấp ngày 15 tháng 3 năm 2011
- Vốn điều lệ: 37.475.572.000 đồng, tính tới năm 2013
- Chủ tịch hội đồng quản trị: Phạm Quang Nhuận
- Giám đốc: Nguyễn Thị Hải
Thành lập năm 1995 với tên gọi ban đầu là Công ty TNHH xây dựng và lắp máy điện nước Hải Hà Là một doanh nghiệp có bề dày trong lĩnh vực xây dựng, thi công các công trình điện, nước, xây lắp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, với số vốn điều lệ ban đầu là 1.720.000.000 đồng
Năm 2001 công ty tiến hành cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty Cổ phần xây lắp điện nước Hải Hà với vốn điều lệ 27.725.100.000 đồng
Với những điều kiện và yêu cầu mới trong sản xuất kinh doanh, công ty đã tiến hành đầu tư và mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại
và dịch vụ Vì vậy tháng 3 năm 2010 công ty đổi tên thành Công ty Cổ phần Xây dựng sản xuất và thương mại Hải Hà
Công ty hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực:
- Lắp đặt hệ thống cấp, thoát nước;
- Lắp đặt hệ thống điện công nghiệp và dân dụng;
- Thiết kế thi công đường dây tải điện, máy biến áp đến 35KV
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi; công trình công cộng sân vườn, vườn hoa, công viên…; Chuẩn bị mặt bằng công trình; trang trí nội, ngoại thất công trình; xây dựng, lắp đặt hệ thống nước lọc tinh khiết, hồ,
Trang 38Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
bể bơi; hệ thống thu lôi, chống sét; hệ thống đèn chiếu sáng đô thị, đèn tín hiệu giao thông đường bộ, đường thủy, đèn báo cháy, hệ thống cứu hỏa và thiết bị điện; thiết bị liên lạc, bưu chính viễn thông;
- Sản xuất, kinh doanh thép các loại (thép nóng, thép nguội); tấm lợp panen; nước khoáng, nước lọc tinh khiết, vật liệu xây dựng; đồ mộc dân dụng và xây dựng; gia công
cơ khí; gia công, sửa chữa, lắp ráp xe cơ giới, xe mô tô các loại;
- Dịch vụ khoan, thăm dò, khai thác nước ngầm, giếng ngầm; dịch vụ vệ sinh môi trường phòng trừ mối mọt, sâu mọt cho hàng hóa và các công trình xây dựng; dịch vụ bể bơi, vui chơi, giải trí, ăn uống, giải khát; dịch vụ tư vấn, môi giới thương mại; dịch vụ giáo dục mầm non;
- Kinh doanh các vật tư, thiết bị; hàng thanh lý, tái chế phục vụ sản xuất, sinh hoạt; gỗ, kim khí, vận tải hàng hóa đường bộ; hoa cây cảnh các loại;
- Kinh doanh bất động sản (kể cả nhà ở trung cư); dịch vụ nhà đất;
- Gia công, chế tạo các loại bồn đế thép, gia công cơ khí, chế tạo các thiết bị cơ khí tiêu chuẩn và phi tiêu chuẩn;
- Lắp đặt máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ và dân dụng;
- Kinh doanh ô tô (cũ, mới) và xe có động cơ khác
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Gắn với lịch sử hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức của Công ty được điều chỉnh và thay đổi nhiều lần để phù hợp vơi điều kiện thực tế của Công ty cũng như bối cảnh thị trường
Thời điểm hiện tại, cơ cấu tổ chức của công ty được mô tả phác họa trên Sơ đồ 2.1
Trang 39Sơ đồ 2.1:
Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Xây dựng sản xuất
và thương mại Hải Hà
Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận:
- Hội đồng quản trị: Là bộ phận hoạch định chính sách và chiến lược của công ty,
quyết định phương châm hoạt động của công ty
- Giám đốc: Là người có quyền hạn cao nhất, chỉ đạo trực tiếp văn phòng, nhà
máy, công trường, phân xưởng, cửa hàng và các bộ phận kinh doanh khác, chịu trách nhiệm cao nhất về kết quả hoạt động kinh doanh trước Hội đồng quản trị Công ty
- Phó giám đốc phụ trách Kỹ thuật: Chịu trách nhiệm cao nhất trước giám đốc về
lĩnh vực kỹ thuật trong công ty
- Phó giám đốc phụ trách Tài chính: Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính
trước giám đốc về mọi hoạt động tài chính tại công ty
Phòng TCHC
Phòng
KD
Phòng TCKT
Xưởng
CK
Xưởng KCT
Nhà máy
Tấm lợp
Trường Mầm non
Nhà máy Nước
Cửa hàng VTXD
Sàn GD BĐS
Trang 40Trường ĐH Bách khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh
+ Tham mưu và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể cho giám đốc;
+ Phân tích và quản lý hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh; + Quản lý các hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng;
+ Thực hiện hợp đồng mua bán vật tư, thuê phương tiện vận tải;
+ Phối hợp với phòng kinh doanh để nghiên cứu thị trường;
+ Phối hợp với phòng Kế toán tài chính để đề xuất các chính sách giá, khuyến mãi, hậu mãi, chiết khấu, biện pháp tăng khả năng cạnh tranh;
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc phân công
- Phòng Kỹ thuật:
+ Quản lý điều hành các hoạt động công nghệ, kỹ thuật sản xuất của công ty tại các phân xưởng, công trường, nhà máy;
+ Xây dựng các định mức tiêu hao vật tư, chi phí;
+ Lập hồ sơ dự thầu xây lắp và dự thầu cung cấp vật tư, thiết bị;
+ Lập hồ sơ thanh, quyết toán công trình;
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do giám đốc phân công
- Phòng An toàn – Chất lượng:
+ Quản lý và điều hành công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, công trình;
+ Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, hệ thống quản lý an toàn của Công ty; + Xây dựng kế hoạch mua sắm và mua sắm các trang thiết bị bảo hộ lao động; + Giám sát các hoạt động sản xuất đảm bảo thực hiện đúng các quy định về an toàn lao động trong toàn công ty;
+ Theo dõi công tác y tế, sức khỏe của người lao động
- Phòng Tài chính – Kế toán:
+ Theo dõi, quản lý và điều hành các hoạt động tài chính của công ty;
+ Bảo toàn và khai thác hiệu quả nguồn vốn của công ty;
+ Tổ chức thực hiện công tác tài chính, đảm bảo tuân thủ đúng các chế độ kế toán, luật kế toán, luật thuế và các chế độ tài chính của Nhà nước;
+ Thực hiện báo cáo tài chính định kỳ hàng tháng, quý và năm, đảm bảo chính xác, kịp thời cho giám đốc và hội đồng quản trị;
+ Tham mưu các chính sách tài chính cho giám đốc và hội đồng quản trị;
+ Quản lý các chứng từ mua sắn vật tư, thiết bị, chứng từ thanh quyết toán theo quy định của Nhà nước;
+ Kê khai và nộp thuế;