Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nhận thức về lý luận và thực tiễn về kết quả mà các chính sách của Đảng và Nhà nước mang lại cho tỉnh Hòa Bình nói chung và vùng đặc biệt khó khăn nói riê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
DƯƠNG THỊ MAI
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO CÁC VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ÁI ĐOÀN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả trình bày trong luận văn là kết quả tự nghiên cứu của bản thân, không sao chép từ bất kỳ tài liệu nào có trước của những người khác
Tác giả luận văn
DƯƠNG THỊ MAI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của một thời gian dài nghiên cứu và làm việc để áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn, sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý -Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, sự hỗ trợ chân tình của Ban giám hiệu, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đang công tác tại trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Hòa Bình cùng các cơ quan hữu quan
Với tình cảm chân thành, người viết xin gửi lời cảm ơn đến:
- PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn là người Thầy hướng dẫn khoa học đã rất tận tình hướng dẫn và cho những lời khuyên sâu sắc không những giúp tôi hoàn thành luận văn mà còn truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu về nghề nghiệp
- Các thầy cô giáo của trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt hai năm học để tôi có được những kiến thức ứng dụng trong công tác và là cơ sở thực hiện luận văn này
- Quý thầy cô đã dành thời gian quý báu để đọc và phản biện luận văn này, xin cảm
ơn những ý kiến nhận xét sâu sắc của quý thầy cô
- Ban Lãnh đạo cùng các anh chị, các bạn đồng nghiệp tại Ban Dân tộc tỉnh Hòa Bình đã đóng góp ý kiến quý báu cho việc hoàn thành luận văn này
- Các đơn vị doanh nghiệp đã cung cấp số liệu điều tra phục vụ cho quá trình nghiên cứu và viết luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2012
Học viên
Dương Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1
1.1 Một số khái niệm cơ bản về nghèo đói và nghèo đói ở các vùng đặc biệt khó khăn 1
1.1.1 Khái niệm nghèo đói 1
1.1.2 Các tiêu chí xác định nghèo đói 2
1.1.3 Các tiêu trí xác định vùng đặc biệt khó khăn 3
1.1.4 Các nguyên nhân nghèo đói 6
1.2 Chính sách hỗ trợ giảm nghèo vùng đặc biệt khó khăn 9
1.2.1 Sự cần thiết phải hỗ trợ giảm nghèo 9
1.2.2 Hỗ trợ vùng đặc biệt khó khăn 10
1.3 Công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn 12
1.3.1 Các mục tiêu công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn 12
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn 13
1.3.3 Nội dung công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn 14
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn 18
1.3.4.1 Chính sách của nhà nước 18
1.3.4.2 Hoạt động XĐGN của địa phương 21
1.3.4.3 Trình độ phát triển kinh tế 22
1.3.4.4 Hội nhập kinh tế quốc tế 22
Trang 51.3.4.5 Năng lực tự vươn lên thoát nghèo của bản thân người nghèo 23
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÔNG TÁC HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO CÁC VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 25
2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Hòa Bình 25
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên của tỉnh Hoà Bình 25
2.1.1.1 Vị trí địa lý: 25
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình: 25
2.1.1.3 Điều kiện khí hậu: 26
2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên: 26
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hoà Bình: 27
2.1.2.1 Kinh tế 27
2.1.2.2 Xã hội: 28
2.2 Thực trạng và nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Hòa Bình 29
2.2.1 Thực trạng đói nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Hòa Bình 29
2.2.2 Những nguyên nhân cơ bản về tình trạng đói nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Hòa Bình 31
2.2.2.1 Sự phân chia về địa hình và cách biệt về xã hội 32
2.2.2.2 Những rủi ro và tai hoạ phát sinh đột xuất 35
2.2.2.3 Nguồn lực và năng lực 38
2.2.2.4 Vốn, điều kiện khí hậu, đất đai phục vụ sản xuất 42
2.3 Thực trạng công tác hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn ở Hòa Bình 43
2.3.1 Đánh giá khái quát về công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn ở Hòa Bình 43
2.3.2 Phân tích công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn ở tỉnh Hòa Bình 46
2.3.2.1 Chương trình 134 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào thiểu số nghèo, đời sống khó khăn 46
Trang 62.3.2.2 Chương trình 135 phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi 522.3.2.3 Chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu
số đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg 712.3.2.4 Thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo
ở vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg 742.3.2.5 Thực hiện chính sách cấp báo không thu tiền theo Quyết định số 975/QĐ-TTg: 772.3.2.6 Thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước: 812.3.2.7 Thực hiện chính sách hỗ trợ di dân, thực hiện định canh định cư theo Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg và Quyết định số 1342/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: 832.4 Kết luận chung 872.4.1 Những thành tựu đạt được 872.4.2 Những tồn tại và hạn chế của công tác giảm nghèo khu vực ĐBKK của tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua 882.4.2.1 Những tồn tại và hạn chế 882.4.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 89
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO CÁC VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 90
3.1 Căn cứ để xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 903.1.1 Định hướng mục tiêu theo phân bố lãnh thổ của các thành phần dân tộc 903.1.2 Định hướng theo nhóm sản xuất hàng hoá và dịch vụ 913.1.3 Định hướng mục tiêu theo lĩnh vực 923.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 96
Trang 73.2.1 Đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo: 97
3.2.2 Phát triển cơ sở hạ tầng cho khu vực đặc biệt khó khăn: 97
3.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người nghèo: 97
3.2.4 Mở rộng khả năng tiếp cận và nâng cao hiệu quả của vốn vay, tín dụng cho hộ nghèo: 98
3.2.5 Nâng cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền cơ sở, thúc đẩy cải cách hành chính 99
3.2.6 Tăng cường dân chủ cơ sở, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về giảm nghè, nâng cao tiếng nói của người nghèo 100
3.2.7 Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế: 101
3.2.8 Chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục: 102
3.2.9 Chống tệ nạn xã hội - xây dựng nếp sống văn hoá: 102
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
XĐGN Xóa đói giảm nghèo ĐBKK Đặc biệt khó khăn UBND Ủy ban nhân dân CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa GDP Tổng sản phẩm quốc nội
MTTQ Mặt trận Tổ quốc CSHT Cơ sở hạ tầng
KT – XH Kinh tế - Xã hội DTTS Dân tộc thiểu số KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình ĐCĐC Định canh đinh cư
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số liệu tỷ lệ hộ nghèo khu vực ĐBKK tỉnh Hòa Bình 30
Bảng 2.2 Hệ thống tổ chức bộ máy y tế cơ sở vùng ĐBKK tỉnh Hòa Bình 34
Bảng 2.3 Kết quả giảm nghèo khu vực ĐBKK giai đoạn 2006 – 2010 45
Bảng 2.4 Tình hình thực hiện Chương trình 134 từ năm 2006 đến nay 50
Bảng 2.5 Tổng hợp xây dựng cơ sở hạ tầng Chương trình 135 giai đoạn II 56
Bảng 2.6 Kết quả thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất Chương trình 135 giai đoạn II 58
Bảng 2.7 Kết quả thực hiện dự án đào tạo cán bộ xã bản Chương trình 135 giai đoạn II 60
Bảng 2.8 Kết quả thực hiện lồng ghép các Chương trình địa bàn tỉnh Hòa Bình 63
Bảng 2.9 Kết quả các chỉ tiêu thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II 69
Bảng 2.10 Kết quả thực hiện chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với các hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó 73
khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 73
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có bước tiến phát triển vượt bậc, đời sống của đa số dân cư được cải thiện Tuy vậy, mức sống của người dân vẫn còn thấp, phân hoá giàu nghèo có xu hướng tăng lên Một bộ phận dân cư sống nghèo đói vẫn chịu nhiều thua thiệt trong hoà nhập cộng đồng và không đủ sức tiếp nhận những thành quả do công cuộc đổi mới đem lại Hiện nay, tỉ lệ hộ nghèo của nước ta 12% (khoảng trên 2 triệu hộ) Đặc biệt, có hơn 1000 xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn với số hộ nghèo chiếm từ 40% trở lên Từ khi thực sự trở thành phong trào và có một số văn bản quy phạm pháp luật ở một số khía cạnh khác nhau, công tác xoá đói, giảm nghèo ở nước ta đã được Liên hợp quốc đánh giá là có nhiều sáng tạo và tiến bộ; các tổ chức quốc tế như UNDP, UNFPA, UNICEP, FAO đã có cam kết tiếp tục hợp tác và hỗ trợ Việt Nam phát triển Nhưng nếu nhìn lại một cách nghiêm túc vẫn còn có những bất cập và thiếu sót cần sớm khắc phục và bổ sung để thúc đẩy nhanh hơn, hiệu quả hơn công cuộc XĐGN ở nước ta Chương trình quốc gia XĐGN đã được triển khai ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhưng hiệu quả chưa cao Một khía cạnh rất đáng quan tâm ở đây là còn rất nhiều hộ gia đình ở những vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn thực sự đang lúng túng, quẩn quanh trong tình trạng đói nghèo, gặp khó khăn về khách quan và chủ quan khó có thể vượt qua nếu không có sự giúp đỡ từ phía Nhà nước và xã hội Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số thực sự là một vấn đề bức xúc, cần được xem xét và soi sáng, dưới nhiều khía cạnh, nhiều góc độ nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau, để giải quyết một cách khoa học, có hiệu quả
Hoà Bình là tỉnh miền núi có 332 thôn, bản thuộc diện đặc biệt khó khăn đã được chính phủ đầu tư hỗ trợ các chính sách, dự án nhằm phát triển đời sống kinh tế
- xã hội Do nguồn vốn đầu tư từ các chương trình mục tiêu của chính phủ có hạn, suất đầu tư và mức vốn đầu tư của vùng địa bàn này rất lớn, vì vậy không thể đáp ứng được hết những nhu cầu thiết yếu về điều kiện cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội của vùng đặc biệt khó khăn, do đó khu vực này vốn đã rất khó khăn nay càng ngày càng
Trang 11tụt hậu về kinh tế, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo rất cao (năm 2011 là 32%) so với tỷ lệ trung bình của của cả nước, khoảng cách phát triển giữa các địa bàn ngày càng có xu hướng dãn dần ra
Trong số các thôn, bản trên, hiện nay còn một số thôn, bản có cơ sở hạ tầng rất thấp kém, hệ thống cơ sở hạ tầng vừa thiếu, vừa xuống cấp nghiêm trọng, chưa
có điện, chưa có đường ô tô tới thôn, thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn đó là những thôn, bản khó khăn nhất của tỉnh
Các vấn đề về đời sống kinh tế, mức hưởng thụ các dịch vụ công, lợi ích mang đến cho họ từ hệ thống phúc lợi công cộng như giáo dục, y tế, thông tin đại chúng, văn hóa, an ninh, thị trường v.v rất thiếu thốn hoặc bất cập Trình độ dân trí
và mức sống thấp kém, vấn đề an sinh xã hội chưa đầy đủ, đời sống bấp bênh, tiềm
ẩn nhiều nguy cơ bị kẻ xấu lợi dụng gây bất ổn về an ninh, chính trị Các thôn, bản này rất cần được sự quan tâm hỗ trợ với cơ chế đầu tư riêng để có nguồn lực tập trung hơn, giúp cho địa bàn này có điều kiện để phát triển kinh tế, xã hội theo kịp được với các thôn, bản khác trong tỉnh
Xuất phát từ thực trạng của địa phương, tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích và
đề xuất một số giải pháp hỗ trợ công tác giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” làm luận văn thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức về lý luận và thực tiễn về kết quả mà các chính sách của Đảng và Nhà nước mang lại cho tỉnh Hòa Bình nói chung và vùng đặc biệt khó khăn nói riêng, mục đích của luận văn là đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn toàn tỉnh
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích thực trạng đói nghèo, đánh giá kết quả hoạt động hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh
Trang 12- Phân tích những lợi thế và thách thức của vùng đặc biệt khó khăn trong việc thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo
- Đề xuất định hướng và những giải pháp hoàn thiện công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vùng đặc biệt khó khăn trong tỉnh có đặc điểm tương đối phức tạp về điều kiện sống, khí hậu và địa hình có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến nghèo đói cho từng vùng, từng hộ Các chương trình, dự án hỗ trợ chủ yếu tập trung ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, vì thế luận văn chỉ tập trung nghiên cứu ở vùng này
Về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu về những kết quả các chính sách
hỗ trợ đem cho người dân vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2006 – 2011 và từ đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao và hoàn thiện hơn công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn, để các chính sách có thể đem lại hiệu quả cao nhất cho đối tượng thụ hưởng trong giai đoạn tiếp theo
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để xem xét vấn đề một cách khách quan, sát thực tiễn, luận văn vận dụng phép biện chứng của triết học Mác xít, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể của kinh tế học và xã hội như: so sánh, điều tra, phân tích, tổng kết thực tiễn thông qua các mô hình
5 Những đóng góp mới của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã tiếp thu thừa kế kết quả nhiều công trình khoa học liên quan đến các chương trình, dự án hỗ trợ trực tiếp vùng đặc biệt khó khăn, các chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước Với phạm vi
và địa điểm nghiên cứu được lựa chọn, luận văn có những điểm mới sau đây:
- Trình bày tương đối có hệ thống những nhận thức về đói, nghèo, những nhân
tố ảnh hưởng đến kết quả của các chính sách hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn nghiên cứu
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ giảm nghèo từ phía nhà nước đối với các vùng đặc biệt khó khăn
- Chương 2: Phân tích công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác hỗ trợ giảm nghèo
các vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO TỪ PHÍA
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
1.1 Một số khái niệm cơ bản về nghèo đói và nghèo đói ở các vùng đặc biệt khó khăn
1.1.1 Khái niệm nghèo đói
Các quốc gia trên hành tinh chúng ta khác nhau về nhiều mặt : trình độ phát triển kinh tế, điều kiện địa lý tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc văn hoá, tín ngưỡng và tập tục, hệ tư tưởng và chế độ chính trị Nhưng dù có sự khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vấn đề bức xúc cần được quan tâm, một trong những vấn đề rộng lớn có tính toàn cầu là nạn đói nghèo, trình độ lạc hậu
Nhiều diễn đàn khu vực và thế giới đã khẳng định, đói nghèo là vấn đề nổi cộm của xã hội, đồng thời cũng cảnh báo rằng vấn đề đói nghèo không chỉ ở phạm
vi quốc gia, quốc tế sẽ đưa đến mất ổn định chính trị trong và ngoài nước, sẽ tạo ra những hậu quả khôn lường; di dân quốc tế ồ ạt, phá huỷ môi trường, tiêu cực xã hội lan rộng, ảnh hưởng chung đến cả nhân loại
Vì vậy, nghèo đói không còn là vấn đề riêng của một quốc gia, mà là vấn đề quốc tế Để hình thành các giải pháp xoá đói giảm nghèo, cần thiết phải có quan niệm đúng về đói nghèo Tuy vậy, cho đến nay quan niệm về đói nghèo và tiêu chí xác định có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau
Đến nay nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về đói nghèo Có những tác giả chỉ nêu những đặc trưng nào đó của nghèo đói như là “thiếu ăn”, “thiếu dinh dưỡng”, “nhà ở tạm bợ” hoặc thậm chí là
sự “thất học” Theo tôi, khái niệm về nghèo đói được cho là đầy đủ và chính xác
nhất là: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương Khái niệm trên có những ưu điểm : làm rõ được bộ phận dân cư nghèo đói
là “không được hưởng” hoặc “không thoả mãn” những nhu cầu cơ bản ; làm rõ tính
Trang 15chất động của nghèo đói là “tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán từng địa phương”
Nghèo có 2 dạng: nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối Nghèo tuyệt đối là
tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để
duy trì cuộc sống Nghèo tương đối là sự nghèo khổ thể hiện ở sự bất bình đẳng
trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư, các vùng địa lý Như vậy, nghèo đói là quan niệm mang tính chất tương đối cả về không gian và thời gian Về nghèo tuyệt đối, biểu hiện chủ yếu thông qua tình trạng một bộ phận dân cư không được thoả mãn các nhu cầu tối thiểu - trước hết là ăn gắn liền với dinh dưỡng Ngay nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc gia Phạm trù “nhu cầu tối thiểu” cũng được mở rộng dần Còn về nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định Vì những lẽ đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo
Đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lịch sử, mức độ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con người Ở một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo nhưng một thời điểm khác, vùng khác, một quốc gia khác thì chỉ số đó mất ý nghĩa Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tất cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các thời kỳ
1.1.2 Các tiêu chí xác định nghèo đói
Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các công trình nghiên cứu quốc tế thường chia làm hai cấp độ : phận định giữa các quốc gia và giữa các nhóm dân cư,
từ đó xác định các quốc gia giàu, nghèo trên thế giới và phân chia dân cư của mỗi quốc gia hoặc từng địa phương thành nhóm giàu, nghèo
Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 quy định cụ thể như sau:
Trang 16Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Dựa vào số liệu điều tra mới nhất về mức sống dân cư tại nước ta, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 Văn bản quy định định mức làm căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác như sau:
Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
1.1.3 Các tiêu trí xác định vùng đặc biệt khó khăn
Dựa vào chuẩn nghèo chung của cả nước, xác định được thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã thuộc khu vực đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi giai đoạn
2011 – 2015 Trong đó, quy định thôn đặc biệt khó khăn phải có đủ 3 tiêu chí, cụ thể:
Tiêu chí thứ nhất là có đủ 2 điều kiện sau:
Tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo từ 55% trở lên; trong đó tỷ lệ hộ nghèo phải
từ 25% trở lên;
Có ít nhất 2 trong 3 yếu tố là: Trên 80% lao động chưa qua đào tạo nghề; trên 50% số hộ không có nhà tiêu hợp vệ sinh; trên 30% số hộ thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Tiêu chí thứ hai là có ít nhất 2 trong 3 điều kiện:
Trang 17Trên 20% số hộ thiếu đất sản xuất;
Trên 50% diện tích đất canh tác có nhu cầu tưới tiêu, nhưng chưa được tưới tiêu;
Có 1 trong 2 yếu tố: Chưa có cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thôn, bản hoặc dưới 10% số hộ làm nghề phi nông nghiệp
Tiêu chí thứ ba, có đủ 2 điều kiện sau:
Chưa có đường giao thông từ thôn đến trung tâm xã được cứng hóa theo tiêu chí nông thôn mới;
Có ít nhất 1 trong 3 yếu tố sau: Chưa đủ phòng học cho các lớp mẫu giáo theo quy định hoặc trên 30% số hộ chưa có điện sinh hoạt hoặc chưa có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt chuẩn
Xã thuộc vùng dân tộc và miền núi được xác định theo 3 khu vực: Xã khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất; xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định; xã khu vực I là các xã còn lại, cụ thể:
Xã khu vực III là xã có ít nhất 4 trong 5 tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất, số thôn đặc biệt khó khăn còn từ 35% trở lên (tiêu chí bắt buộc)
Tiêu chí thứ hai, tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 45% trở lên; trong đó tỷ lệ hộ nghèo phải từ 20% trở lên
Tiêu chí thứ ba, có ít nhất 3 trong 5 điều kiện sau:
Đường trục xã, liên xã chưa được nhựa hóa, bê tông hóa; Còn có ít nhất một thôn chưa có điện lưới quốc gia; Chưa đủ phòng học cho lớp tiểu học hoặc các lớp học ở thôn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Trạm y tế xã chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế; Nhà văn hóa xã chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Tiêu chí thứ tư, có ít nhất 2 trong 3 điều kiện sau:
Trang 18Còn từ 30% số hộ chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề trên 60%; Trên 50% cán bộ, công chức xã chưa đạt chuẩn theo quy định
Tiêu chí thứ năm, có ít nhất 2 trong 3 điều kiện:
Còn từ 20% số hộ trở lên thiếu đất sản xuất theo quy định; Chưa có cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư xã đạt chuẩn; Dưới 10% số hộ làm nghề phi nông nghiệp
Xã khu vực II là xã có ít nhất 4 trong 5 tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất, có dưới 35% số thôn đặc biệt khó khăn (tiêu chí bắt buộc) Tiêu chí thứ hai, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 20% đến dưới 45%; trong đó
tỷ lệ hộ nghèo từ 10% đến dưới 20%
Tiêu chí thứ ba, có ít nhất 2 trong 4 điều kiện sau: Đường trục xã, liên xã đến thôn chưa được nhựa hóa, bê tông hóa; Còn có thôn chưa có điện lưới; Chưa đủ phòng học cho lớp tiểu học hoặc các lớp học ở thôn theo quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo; Trạm y tế xã chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế
Tiêu chí thứ tư, có ít nhất 2 trong 3 điều kiện sau: Có dưới 30% số hộ chưa
có nước sinh hoạt hợp vệ sinh; Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề từ 30% đến dưới 60%; Có từ 30% đến dưới 50% cán bộ chuyên trách, công chức xã chưa đạt chuẩn theo quy định
Tiêu chí thứ năm, có ít nhất 1 trong 2 điều kiện: Còn từ 10% đến dưới 20%
số hộ thiếu đất sản xuất theo quy định; Chưa có cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư xã đạt chuẩn
Xã khu vực I là các xã còn lại thuộc vùng dân tộc và miền núi không phải xã khu vực III và xã khu vực II
Nhìn vào các tiêu chí để xác định khu vực đặc biệt khó khăn ta thấy, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở khu vực này là quá cao Đây là khu vực dân cư có mức sống thấp, cần được Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt quan tâm hỗ trợ
Trang 191.1.4 Các nguyên nhân nghèo đói
Nghèo đói là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội Đã hàng trăm năm nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng lý giải hiện tượng nghèo đói, nhất là nguyên nhân và cách khắc phục Có thể nói, tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo rất đa dạng Có những nhà nghiên cứu tiếp cận theo khía cạnh thuần tuý kinh tế, cũng có những nhà nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo chủ yếu từ khía cạnh nhân chủng học hoặc dân số học Đồng thời cũng xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận cả nguyên nhân về tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội
Cùng tham gia tìm kiếm các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã phân tích khá toàn diện các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Tuy vậy, cách tiếp cận phân tích các nguyên nhân dẫn đến giàu nghèo và phân hoá thu nhập rất đa dạng Nhiều nhà xã hội học hiện đại khái quát 4 nhóm nhân tố liên quan đến giàu nghèo là tài sản, trí tuệ, uy tín và quyền lực
Thông thường, ở nước ta, nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thường được tiếp cận thành hai nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Khi phân tích nguyên nhân khách quan thường nhấn mạnh lý do chung, môi trường, những tác nhân “bên ngoài” người nghèo đói như hậu quả chiến tranh, thiếu tư liệu sản xuất, thiên tai, mặt trái của kinh tế thị trường, thiếu sót trong chính sách của Nhà nước, gặp rủi ro Về nguyên nhân chủ quan là do thiếu vốn, thiếu khả năng kinh doanh, sinh đẻ nhiều, chi tiêu không có kế hoạch Một số cá nhân và tổ chức, khi nghiên cứu nguyên nhân nghèo đói đã xem xét nguyên nhân ở 2 cấp độ: cấp vùng
và cấp hộ gia đình Ở cấp vùng, các nguyên nhân thường được nhắc đến là : khí hậu khắc nghiệt, sự cách biệt về địa lý, hậu quả chiến tranh Còn cấp độ hộ gia đình gồm những nguyên nhân như thiếu vốn, bị rủi ro riêng, thiếu đất đai Cũng có thể tiếp cận trực diện, gọi “đích danh” từng nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Dù tiếp cận nguyên nhân như thế nào chúng ta đều thấy sự phân biệt các nguyên nhân có tính chất tương đối và giữa các nguyên nhân có quan hệ chặt chẽ với nhau, khẳng
Trang 20định nguyên nhân của đói nghèo rất đa dạng và giải quyết chúng phải có quá trình lâu dài
Từ việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của các học giả trên thế giới có thể thấy việc phân hoá giàu nghèo, nghèo đói do các nhóm nguyên nhân chủ yếu sau đây:
- Chiến tranh thế giới, cục bộ, sắc tộc
- Khủng hoảng kinh tế, mất ổn định về chính trị Trong những thập kỷ gần đây trào lưu mở cửa, hội nhập diễn ra ồ ạt trên thế giới bên cạnh mặt tích cực cũng gây nên những hậu quả xấu cho nhiều quốc gia do xem nhẹ nội lực, quá nhấn mạnh nguồn lực từ bên ngoài (như Inđônesia, ở Áchemtina )
- Bản chất của Nhà nước chi phối các chính sách liên quan đến phục vụ lợi ích cho các nhóm dân cư trong xã hội
- Các cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo
- Các nguồn lực và điều kiện tự nhiên như: khí hậu thời tiết, đất đai, tài nguyên, khoáng sản
- Các khả năng lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội, hoạt động kinh doanh như: quản lý vĩ mô, quản lý các nguồn lực, quản trị kinh doanh
- Hoàn cảnh riêng và sự cố gắng của bản thân của từng người nghèo, vùng nghèo và của cả quốc gia (như vốn, đất đai và tài nguyên khác, ý thức, kỹ năng )
- Sự quan tâm của cộng đồng quốc tế hoặc cộng đồng trong phạm vi từng quốc gia
Khi phân tích các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có những nguyên nhân hầu hết được các học giả khẳng định, nhưng cũng có những nguyên nhân còn được tranh luận Sự khác biệt trong nhận dạng các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của các học giả không chỉ xuất phát từ trình độ hoặc phương pháp tiếp cận mà còn phụ thuộc vào nhãn quan chính trị - giai cấp của từng học giả
Ở nước ta, xuất phát từ điều kiện chung của quốc gia, từng vùng, hộ gia đình, các điều tra viên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân đã cố
Trang 21gắng luận giải các nguyên nhân ảnh hưởng đến nghèo đói Được chia thành các nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: Khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ, hạn hán, sâu bệnh, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, một khu vực
- Nguyên nhân do chất lượng nguồn nhân lực: Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất, điều kiện y tế, giáo dục yếu kém, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội làm cho chất lượng nguồn nhân lực thấp ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại Khi đó, đói nghèo giống như một vòng luẩn quẩn, khi rơi vào tình trạng đói nghèo thì người nghèo sẽ khó có thể thoát ra được Nghèo đói làm cho người dân phải lo từng bữa
ăn, không có khoản nào để tiết kiệm, không có vốn đầu tư, không có tiền để chăm lo đến sức khỏe của bản thân và con cái họ, tình trạng thất học diễn ra triền miên làm
cho chất lượng nguồn nhân lực yếu kém và khi đó họ lại quay lại với nghèo đói
- Nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho vùng nghèo, chính sách khuyến khích sản xuất, tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, phát triển ngành nghề, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đất đai, định canh, định cư, kinh
tế mới Nguồn lực đầu tư còn hạn chế và quản lý phân tán, kém hiệu quả
Từ việc tiếp cận hàng loạt các quan niệm khác nhau về nguyên nhân nghèo đói nêu trên, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
- Nghèo đói, nhất là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói là vấn đề được thế giới rất quan tâm Nhận diện chính xác nguyên nhân dẫn đến nghèo đói là điều kiện cơ bản để hoạch định chính sách, phương pháp phù hợp cho công tác xoá đói giảm nghèo
- Dù theo cách tiếp cận nào thì nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đều được thừa nhận là rất đa dạng, mức độ tác động với các quốc gia rất khác nhau Từ đó,
Trang 22các giải pháp thực hiện xoá đói giảm nghèo vừa mang tính phổ biến bao gồm cả những giải pháp về chính trị, kinh tế và xã hội, vừa mang tính đặc thù
- Nghèo đói là vấn đề liên quan đến quốc gia, quốc tế, cộng đồng và từng nhóm nghèo Do đó, chương trình xoá đói giảm nghèo phải là sự cố gắng của nhiều cấp, nhiều nghành và nỗ lực chủ quan của người nghèo
- Nước nghèo, người nghèo thường chịu thua thiệt và thiếu lợi thế trong hoà nhập quốc tế và hoà nhập cộng đồng Sự giúp đỡ hỗ trợ của nhà nước và bên ngoài
là rất quan trọng nhưng quyết định là sự cố gắng tự vươn lên của từng quốc gia nghèo và từng gia đình nghèo
1.2 Chính sách hỗ trợ giảm nghèo vùng đặc biệt khó khăn
1.2.1 Sự cần thiết phải hỗ trợ giảm nghèo
Đói nghèo là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường và tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển, đặc biệt đối với nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu tình trạng đói nghèo càng không tránh khỏi, thậm chí trầm trọng và gay gắt Như vậy, hỗ trợ người nghèo trước hết là mục tiêu của xã hội Xóa đói giảm nghèo sẽ hạn chế được các yếu tố tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lượt phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cân bằng, dân chủ văn minh
Như vậy, hỗ trợ người nghèo là một tất yếu khách quan Xuất phát từ lý do
của sự đói nghèo và sự cần thiết một cú huých từ nhà nước và các tổ chức bên ngoài
để phá vỡ vòng luẩn quẩn của nghèo đói, có thể khẳng định một điều: mặc dù kinh
tế đất nước có thể tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng về xóa đói giảm nghèo thì các hộ gia đình nghèo không thoát ra khỏi đói nghèo được Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp người nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo Tất nhiên Chính
Trang 23phủ không phải tạo ra cơ chế bao cấp mà tạo ra cơ hội cho hộ nghèo vươn lên từng bước đẩy lùi đói nghèo
1.2.2 Hỗ trợ vùng đặc biệt khó khăn
* Hỗ trợ từ nhà nước
Năm 1998 lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằm trong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia Từ đó đến nay, công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định như: luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành vượt mức mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo là 22%, đến năm 2010 tỷ lệ này giảm xuống 9,45% Đến năm 2011, khi Chính phủ áp dụng chuẩn nghèo mới thì tỷ
lệ hộ nghèo là 12%, đây cũng là nỗ lực không nhỏ của nhà nước ta
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy, không thể chỉ theo đuổi mục tiêu giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kết quả giảm nghèo đã đạt được, tăng khả năng bền vững, hiệu quả của công tác giảm nghèo, đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường Vì vậy, quan điểm giảm nghèo bền vững đã được đề cập và thể hiện trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập từ đó nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo”
Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Trong điều kiện xây dựng nền kinh
tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, phải luôn coi trọng yêu cầu nâng cao các phúc lợi xã hội cơ bản của nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách Nhà nước tăng đầu tư từ ngân sách tiếp tục phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật để nâng cao phúc lợi chung cho toàn xã hội và bảo đảm cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản, trước hết là về y tế, giáo dục cho khu
Trang 24vực đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách và dịch vụ công cộng liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội”
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Thực hiện
có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị”
Qua đó, vai trò của nhà nước trong cộng cuộc xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội một lần nữa được khẳng định, chỉ có nhà nước mới có đủ điều kiện, công cụ để chỉ đạo các địa phương thực hiện các chính sách hỗ trợ một cách đồng bộ, toàn diện thúc đẩy sự phát triển về chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội giúp khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực, các hộ gia đình được rút ngắn lại
* Hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ
Bên cạnh sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thì các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước cũng đã quan tâm, giúp đỡ từng bước nâng cao mức sống của người dân, đặc biệt là khu vực miền núi, dân tộc thiểu số Theo thống kê, trong 10 năm gần đây, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam gần 1,7 tỷ USD, tập trung vào các lĩnh vực phát triển kinh tế, y tế, xoá đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả bom mìn, phòng chống thiên tai… Năm 2011, tỉnh Hòa Bình đã nhận nguồn vốn hỗ trợ từ các
tổ chức nước ngoài như Liên Minh Châu Âu, Chính phủ Phần Lan, Chính phủ Len… với tổng số tiền trên 1,5 triệu USD Nguồn vốn viện trợ này bổ sung thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II kéo dài, hỗ trợ xây dựng trực tiếp 08 công trình đường giao thông tại các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh, góp phần tạo điều kiện cho địa phương phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân
Trang 25Ai-1.3 Công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn
1.3.1 Các mục tiêu công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn
Để cụ thể hóa hơn định hướng của Đảng, Chính phủ đã đưa ra mục tiêu cần đạt được trong giảm nghèo từ 2011 đến 2020: Giảm nghèo bền vững là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nhằm tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất, thúc đấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Cụ thể cần đạt được: Thu nhập của hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ
lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn; Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là vấn đề y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; Cơ sở hạ tầng kinh tế -
xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu
tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt
Muốn thực hiện được tốt những mục tiêu đó thì Chính phủ phải chỉ đạo các
cơ quan nhà nước thực hiện tốt những việc làm theo chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, đơn vị được phân công:
- Điều tra, nắm bắt được tình trạng hộ nghèo và thực hiện nhiều chính sách đồng bộ: tạo việc làm, giao chuyển kĩ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng với những qui
mô nhỏ ở những vùng nghèo, cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết để họ có thể tiếp cận với thi trường và hòa nhập với cộng đồng
- Tiếp tục triển khai và mở rộng Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo của Thủ tướng chính phủ Hằng năm, Chính phủ dành ra một tỷ lệ trong tổng chi ngân sách để bổ sung quỹ cho vay xóa đói giảm nghèo
Trang 26- Kết hợp chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo với các chương trình kinh tế - xã hội khác như: Chương trình khuyến nông, chương trình phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình nước sạch nông thôn, dân số kế hoạch hóa gia đình, xóa mù chữ
- Thực hiện một số chính sách khuyến khích và giúp đỡ hộ nghèo như: miễn giảm thuế, viện phí, học phí đối với hộ nghèo không còn có khả năng tạo ra thu nhập Nhà nước trợ cấp hàng tháng và vận động các tổ chức đoàn thể quần chúng, các nhà hảo tâm giúp đỡ dưới nhiều hình thức khác nhau
- Mở rộng sự hợp tác quốc tế với các tổ chức Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ để giúp đỡ lẫn nhau về nguồn lực và trao đổi kinh nghiệm
-Thực tế cho thấy có rất nhiều hình thức hỗ trợ để thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo nhưng hình thức tín dụng có hoàn trả là có hiệu quả hơn cả Để thấy được tính ưu việt của nó chúng ta hãy đi tìm hiểu vai trò của kênh tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn
Để đánh giá được công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn được thực hiện tốt hay không? Có mang lại hiệu quả thiết thực cho đối tượng thụ hưởng hay không thì cần dựa vào các tiêu chí cụ thể sau:
- Đánh giá thông qua kết quả XĐGN, bao gồm các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ lệ hộ nghèo của vùng được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ giảm nghèo thay đổi như thế nào? Tăng hay giảm? Tỷ lệ hộ tái nghèo?
+ Thu nhập bình quân và mức sống của người dân có được cải thiện?
+ Hiệu quả mà các chương trình chính sách về y tế, giáo dục, nước sạch mang lại cho người dân
- Đánh giá thông qua các chỉ tiêu hoạt động của công tác XĐGN:
+ Hiệu quả của việc cho vay vốn, huy động vốn từ những nguồn nhàn dỗi trong dân, thu hút được đầu tư của các tổ chức nước ngoài, các tổ chức phi chính
Trang 27phủ cũng phán ánh kết quả của công tác hỗ trợ giảm nghèo đối với vùng đặc biệt
khó khăn
+ Công tác tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo của chính quyền các cấp
có được chú trọng quan tâm? Trình độ, năng lực quản lý của cán bộ trực tiếp triển khai thực hiện đã đáp ứng được yêu cầu của công tác giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay chưa?
1.3.3 Nội dung công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn
Công tác hỗ trợ vùng đặc biệt khó khăn tập chung chủ yếu vào việc hỗ trợ giảm nghèo, bao hàm những mục tiêu chung của công tác giảm nghèo trong quá trình CNH - HĐH, đồng thời nó cũng có tính đặc thù xuất phát từ thực trạng của địa phương, bao gồm những nội dụng cụ thể sau:
Một là, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Do đặc thù của khu vực đặc biệt khó khăn chủ yếu là các xã vùng sâu, vùng
xa có điều kiện địa hình, khí hậu khắc nghiệt nên các khu vực này thường biệt lập với các khu vực bên ngoài, giao thương bị hạn chế, điều kiện sống của người dân không được đảm bảo Vì vậy, muốn giải quyết được tận gốc của khó khăn đói nghèo của khu vực này thì cần kết hợp chặt chẽ Chương trình XĐGN với chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo
vệ cải thiện môi trường Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, hệ thống giao thông, hệ thống điện, trường học, cơ sở khám chữa bệnh sớm khắc phục tình trạng thiếu điện, thiếu nước sạch, thiếu thuốc chữa bệnh, thiết bị y tế nghèo nàn lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của nhân dân Phấn đấu 100% các xã đặc biệt khó khăn có đường giao thông đến trung tâm UBND xã, 100% người dân được sử dụng nước sạch, 100% thôn bản được sự dụng mạng lưới điện chiếu sáng… muốn làm được những công việc đó thì việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng phải được đặc biệt quan tâm thực hiện
Từ đó, từng bước nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn, giảm dần cách biệt giữa các vùng, các dân
Trang 28tộc, các tầng lớp dân cư; bảo đảm cho người nghèo tiếp cận được các dịch vụ xã hội, làm giảm bớt hậu quả trước mắt và nguồn gốc của nghèo đói
Hai là, phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, nâng cao chất lượng lao động
Tập trung ở khu vực đặc biệt khó khăn chủ yếu là người dân tộc thiểu số, cuộc sống của họ gắn liền với phong tục tập quán cổ hủ lạc hậu Tỷ lệ mù chữ và tái
mù chữ ở khu vực này tương đối cao, khi ốm đau, bệnh tật họ không có thói quen đến các trung tâm y tế khám chữa bệnh mà chủ yếu là chữa bệnh theo các bài thuốc dân gian, truyền miệng Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chất lượng nguồn lao động tại chỗ thấp, không đáp ứng được yêu cầu thực tế Bên cạnh việc chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho các vùng đặc biệt khó khăn thì việc hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng hết sức quan trọng Những công trình thiết yếu như điện, đường giao thông, trường học, trung tâm đào tạo nghề, trạm y tế được hoàn thiện sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ đáp ứng được nhu cầu thực tế tại địa phương
Muốn thực hiện tốt công cuộc XĐGN thì Nhà nước và chính quyền các cấp bên cạnh việc thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, cần phải quan tâm, tuyên truyền đến từng cá nhân, hộ gia đình y tế, giáo dục có vai trò quan trọng như thế nào đến đời sống của họ Nhà nước phải có những chính sách cụ thể
để thu hút được các nguồn vốn của các nhà đầu tư và nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kiến thức vào khu vực đặc biệt khó khăn này
Vì vậy, bên cạnh việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đặc trưng của từng dân tộc thì cũng phải kiên quyết bài trừ những phong tục cổ hủ, lạc hậu ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của vùng Từ đó, từng bước đưa tiến bộ, văn minh đến với người dân, giúp họ nâng cao trình độ dân trí, nâng cao chất lượng lao động tạo nền tảng vững chắc để công cuộc XĐGN thu được kết quả, giúp người dân khu vực khó khăn dần tiến kịp với các khu vực khác
Ba là, hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật cho các xã nghèo, hộ nghèo
Người nghèo nói chung và người dân vùng đặc biệt khó khăn cần được trợ giúp những yếu tố như: Hỗ trợ về vốn, cụ thể là Ngân hàng chính sách, quỹ tín dụng
Trang 29nghiên cứu để nới lỏng các điều kiện cho người nghèo vay vốn, tăng cường công tác hướng dẫn cho người nghèo cách sử dụng và quản lý vốn hiệu quả Có thể áp dụng kiểu cho vay hiện vật như cho vay cây giống, con giống Đa dạng hóa các kênh thu hút vốn tín dụng: ngoài nguồn vốn từ khu vực nhà nước thông qua Ngân hàng Nông nghiệp, ngân hàng người nghèo, cần mở rộng hình thức ngân hàng cổ phần tư nhân nông thôn, tăng cường hoạt động tài chính vi mô theo các dự án của các tổ chức quốc tế Đẩy mạnh mô hình liên kết “4 nhà” là thực hiện hiệu quả công tác khuyến nông giúp người nghèo phát triển sản xuất Bộ phận khuyến nông tại các xã sẽ đóng vai trò tích cực trong việc hướng dẫn nông dân thực hiện đúng mục tiêu và áp dụng
kỹ thuật đúng phương pháp, phải cùng với nông dân xác định hướng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý nhất Tín dụng nhà nước và các chương trình tài chính vi mô sẽ căn cứ những định hướng này mà cho vay
Để nguồn nhân lực phát huy được những kiến thức, kỹ năng được đào tạo thì công việc tiếp theo của Nhà nước và các cấp chính quyền là hỗ trợ vốn vay cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, giúp họ có đủ khả năng tiếp thu và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào lao động, sản xuất giúp cho đời sống của người dân nhanh chóng ổn định và thích nghi với cuộc sống trong thời kỳ đổi mới, có tác dụng
hỗ trợ giảm nghèo rất lớn
Bốn là, tạo việc làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống cho lao động ở các xã đặc biệt khó khăn
Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 4,5%, ở nông thôn là 2,3%, như vậy
tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị cao gấp đôi ở nông thôn Nếu chỉ nhìn vào số liệu này thì chúng ta không thể phán ánh thực chất vấn đề Khu vực nông thôn, miền núi do hạn chế về phát triển công nghiệp và dịch vụ nên người lao động chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp nên cần thiết phải thu hút lao động hướng vào sử dụng và khai thác hiệu quả đất lâm nghiệp để nâng cao đời sống người dân Hướng dẫn nông dân các mô hình sản xuất phù hợp với tập quán canh tác ở vùng cao như phát triển chăn nuôi gia súc, trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp có giá trị kinh
tế cao, khoanh nuôi và bảo vệ rừng, khai thác lâm sản dưới tán rừng Nhà nước cần
Trang 30khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư, tạo việc làm ở vùng nghèo, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng nghèo nhằm tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân
Trong cả nước, mặt bằng giáo dục khu vực miền núi thấp nhất so với mặt bằng chung của cả nước Nhà nước đã có nhiều biện pháp để nâng cao mặt bằng dân trí cho miền núi như: Trợ cấp không thu tiền sách vở cho con em đồng bào, xây dựng xây dựng các trường dân tộc nội trú ở địa bàn cấp huyện Thực hiện chính sách cử tuyển cho con em đồng bào đi học ở các cấp đào tạo để tạo cán bộ nguồn cho cơ sở địa phương Phổ biến khoa học – kỹ thuật, cấp không thu tiền các giống cây trồng, vật nuôi cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu Tổ chức các đội thông tin lưu động đưa ánh sáng văn hóa đến từng bản làng
Năm là, xã hội hóa công tác giảm nghèo trong quá trình CNH – HĐH, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo
Làm tốt công tác này, cần tập trung vào tuyên truyền vào tuyên truyền giáo dục cho người dân nhận thức được công tác XĐGN là mang lại lợi ích thiết yếu cho chính bản thân họ Vì vậy, nguồn lực thiết yếu nhất là chính từ mỗi hộ gia đình, mỗi nhóm dân cư, mỗi thôn bản với phương châm các gia đình hỗ trợ nhau làm kinh tế bằng cách trao đổi kinh nghiệm làm ăn, đổi công cho nhau, cho vay cây con giống, khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm, không chịu học hỏi kinh nghiệm làm ăn mà chỉ chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước Nâng cao năng lực, nhận thức của đội ngũ cán bộ các cấp chính quyền và đoàn thể, đặc biệt là cán bộ xã, thôn, bản Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ cơ sở chính là nâng cao khả năng tiếp thu và truyền đạt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân Xã hội hóa việc huy động và sử dụng vốn cho XĐGN và trợ cấp xã hội đối với người nghèo Đặc biệt là việc thu hút vốn từ các bộ phận dân cư, các khu vực tư nhân, các hội từ thiện
và các tổ chức xã hội khác trong và ngoài nước Thể chế hóa việc tham gia của các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh vào việc tham gia thực hiện chính sách XĐGN Xây dựng và phát triển các chương trình
Trang 31“Quỹ tình thương”, “Những tấm lòng từ thiện”, đẩy mạnh công cuộc vận động
“Ngày vì người nghèo”, “xóa nhà tạm, nhà dột nát cho người nghèo”… Nhằm thu hút sự quan tâm hỗ trợ từ các cá nhân, công đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước
Sáu là, đảm bảo công khai minh bạch và làm rõ trách nhiệm các cấp, các ngành trong quá trình thực hiện giảm nghèo
Đảm bảo tính công khai minh bạch không những có tác dụng giảm chi phí về tài chính để nhanh chóng phát huy hiệu quả của chương trình, dự án đầu tư giảm nghèo, mà còn cung cấp thông tin chính xác cho các hộ dân trực tiếp thụ hưởng chính sách để họ nhanh chóng tính toán và xác định phương hướng chuyển đổi nghề nghiệp và kinh doanh có hiệu quả, đó là biện pháp đặc biệt quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
Ở cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan chủ quản, quản lý và giám sát toàn bộ các chương trình, chính sách trong công tác hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn toàn tỉnh Do đặc thù của tỉnh Hòa Bình là một tỉnh dân tộc miền núi, dân cư sinh sống ở những vùng đặc biệt khó khăn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số nên ở cấp tỉnh Ban Dân tộc tỉnh được giao nhiệm vụ là đơn vị đầu mối, phối hợp với các
sở, ban ngành chức năng khác trong tỉnh có trách nhiệm triển khai, giám sát thực hiện các chính sách đến với từng địa phương Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện và phòng Dân tộc các huyện có trách nhiệm báo cáo kết quả, những tồn tại hạn chế trong quá trình thực hiện các chính sách trên địa bàn đơn vị mình quản lý
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ giảm nghèo các vùng đặc biệt khó khăn
1.3.4.1 Chính sách của nhà nước
Chính sách của Nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng có tác động trực tiếp tới công tác giảm nghèo Thực tế cho thấy tại các quốc gia có sự quan tâm lớn của Chính phủ tới người nghèo bằng các chính sách hỗ trợ có hiệu quả thì tỷ lệ nghèo sẽ giảm nhanh Các chính sách của Nhà nước có tác động trực tiếp tới công tác xóa đói giảm nghèo bao gồm:
Trang 32Thứ nhất, nhóm chính sách về tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người nghèo Nhóm chính sách này bao gồm:
Chính sách cho vay tín dụng với cơ chế ưu đãi có tác dụng hỗ trợ nguồn lực cho phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo
Chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho nông dân nghèo một số vùng ít đất và không có đất sản xuất Chính sách này góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên
Chính sách khuyến nông, khuyến lâm – ngư nhằm tạo điều kiện cho nông dân có cơ hội tiếp cận với thông tin và kỹ thuật sản xuất tiến tiến, phát triển thị trường, có tiềm năng cải thiện được phúc lợi cho các hộ dân khu vực nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn Dịch vụ khuyến nông bao gồm các hoạt động như: Đào tạo, tập huấn về kỹ thuật sản xuất cho người dân; Hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất thông qua việc cung cấp đầu vào (như giống, phân bón, thuốc trừ sâu), nguyên liệu (thức
ăn gia súc, thuốc thú y…) và công nghệ sản xuất; Chiến dịch thông tin tuyên truyền nhằm phổ biến kiến thức về khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm làm ăn cho người nghèo
Chính sách trợ giá, trợ cước đối với đồng bào các dân tộc miền núi nhằm tạo điều kiện cho đồng bào tiếp cận được với thị trường hàng hóa thiết yếu, nguyên vật liệu cơ bản cho sản xuất, tiêu thụ được sản phẩm và những nhu cầu về văn hóa tinh thần
Thứ hai, nhóm chính sách hỗ trợ giảm nghèo thông qua cung cấp các dịch
vụ xã hội cơ bản
Thực tiễn cho thấy, địa phương nào có chính sách đầu tư gắn liền với giảm nghèo phù hợp, không những đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH mà còn tạo điều kiện cho quá trình CNH – HĐH tiếp theo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Nhóm chính sách này bao gồm:
Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế Y tế là một trong chính sách lớn trong công cuộc XĐGN, nhằm giúp người nghèo tiếp cận dễ dàng hơn với việc khám chữa bệnh, đảm bảo sức khỏe để sản xuất kinh doanh
Trang 33Chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục và dạy nghề, nhằm giúp cho người nghèo có điều kiện nâng cao trình độ văn hóa, nhận thức, có khả năng tiếp cận với nghề mới, góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống Chính sách XĐGN
về giáo dục không chỉ bao gồm những nội dung về miễn giảm học phí, các khoản đóng góp … mà còn cả chế độ trợ cấp nuôi dưỡng, ăn, ở cho một số đối tượng đặc thù
Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở, đặc biệt đối với các trường hợp bị rủi ro, thiên tai, bão lụt thông qua chính sách cứu trợ đột xuất, giúp một phần kinh phí để đảm bảo cuộc sống cho những đối tượng này Chủ trương hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo về nhà ở đã và đang thực sự đi vào cuộc sống và được các địa phương đặc biệt quan tâm, chú trọng nhằm đảm bảo an ninh, an toàn cuộc sống cho người dân
Ngoài ra, còn phải kể đến một số chính sách, chương trình và một số hoạt động khác có nội dung hướng đến hỗ trợ người nghèo như: Chính sách hỗ trợ nước sạch và vệ sinh môi trường, trợ giá, trợ cước giống cây lương thực, vận chuyển giống thủy sản để có nguồn thực phẩm ổn định cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe dinh dưỡng cho đồng bào
Những chính sách trên là những hình thức trợ giúp quan trọng để thúc đẩy sản xuất vùng đặc biệt khó khăn, là biện pháp để XĐGN, góp phần giảm bớt khoảng cách giữa các địa phương, vùng miền Chúng chỉ thực sự có hiệu quả khi được thực hiện theo đúng đối tượng với sự cung ứng nguồn lực đầy đủ Nguồn kinh phí để thực hiện chính sách giảm nghèo hiện nay được cân đối chủ yếu từ nguồn Ngân sách nhà nước Đồng thời có sự huy động các nguồn lực khác từ các tổ chức quốc
tế, tổ chức của chính phủ, phi chính phủ và sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong nước
Nguồn kinh phí Ngân sách nhà nước thường phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đối với các quốc gia đang phát triển như nước ta hiện nay thì tốc độ tăng trưởng kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với nguồn lực giảm nghèo Đảm bảo tính bền vững của chính sách giảm nghèo thì việc chi tiêu
Trang 34cho y tế, giáo dục, dạy nghề, các chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cần phải cân đối giữa các cấp chính quyền, giữa các vùng miền và giữa các ngành kinh tế
Chú trọng đầu tư cho nông nghiệp nông thôn có ý nghĩa quan trọng Ngoài việc đầu tư cho thủy lợi, các trục công nghiệp chính, cần đầu tư vào các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tạo động lực tốt cho công tác giảm nghèo Sự tập trung đầu tư vào phát triển giao thông, đường xá đến vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn sẽ có tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế hàng hóa ở các địa phương, vùng miền
1.3.4.2 Hoạt động XĐGN của địa phương
Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và các ban, ngành, đoàn thể tỉnh Hòa Bình luôn coi trọng công tác xóa đói giảm nghèo nhằm ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn Cùng với đó là những nỗ lực của người dân trong việc giúp nhau thoát nghèo nên công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn đã đạt được những kết quả khả quan
Sau khi có Nghị quyết số 04-NQ/TU năm 2006 của Tỉnh ủy Hòa Bình về công tác xóa đói, giảm nghèo, lao động việc làm, đào tạo, dạy nghề và xuất khẩu lao động, UBND tỉnh Hòa Bình đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo triển khai thực hiện thông qua các kế hoạch, chương trình hoạt động hàng năm và giai đoạn trong lĩnh vực này Điều đáng mừng là sau khi có Nghị quyết, các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn tiếp nhận và cụ thể hóa bằng nghị quyết chuyên đề
về công tác xóa đói, giảm nghèo, lao động việc làm, đào tạo, dạy nghề và xuất khẩu lao động, đồng thời, kiện toàn lại các ban chỉ đạo Đặc biệt, UBND tỉnh đã có văn bản phân công và chỉ đạo cơ quan, đơn vị của tỉnh giúp đỡ 79 xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn Bên cạnh đó, các chủ trương, chính sách và chương trình, dự án cũng được các cấp, ngành, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp triển khai, thực hiện đồng bộ
và sáng tạo Vì vậy, đồng bào các dân tộc trong tỉnh như được tiếp thêm sức mạnh
và tích cực tham gia bằng các hoạt động thiết thực Chương trình mục tiêu quốc gia
về giảm nghèo đã được tỉnh triển khai với nhiều giải pháp phù hợp như đầu tư kết
Trang 35cấu hạ tầng, vay vốn phát triển sản xuất, dạy nghề cho người nghèo, hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tạo sự chuyển biến về nhận thức giảm nghèo ở các cấp, ngành và người dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống các
hộ nghèo
1.3.4.3 Trình độ phát triển kinh tế
Sự phát triển của kinh tế có vai trò quyết định tới sự phát triển của những lĩnh vực hoạt động xã hội khác, trong đó có công tác xóa đói giảm nghèo Thông thường trình độ phát triển kinh tế được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trình độ phát triển kết cấu hạ tầng, mức thu nhập của dân cư Trình độ phát triển kinh tế có tác động trực tiếp đến công tác giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và thu nhập của người dân, không những tạo điều kiện vật chất cho sự hỗ trợ ngày càng lớn của Nhà nước cho người nghèo, mà còn giúp cho người nghèo có thêm thuận lợi để tự vươn lên
Thành tựu XĐGN còn thể hiện qua sự gia tăng thu nhập của các hộ gia đình
và tăng chỉ tiêu cho sinh hoạt của các hộ theo khu vực, vùng miền Trên bình diện toàn xã hội, tỷ trọng chi cho ăn uống có xu hướng giảm nhưng đối với các hộ nghèo thì phần lớn chi tiêu vẫn tập trung cho ăn uống, đặc biệt là nhóm hộ nghèo ở nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn, chiếm trên 70% tổng chi tiêu gia đình
Nhằm tiếp tục phát huy những thành quả giảm nghèo đạt được, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011 – 2015 đồng thời tiếp tục thực hiện nhiều chính sách như: tín dụng đối với học sinh, sinh viên nghèo, cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn
1.3.4.4 Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động hai mặt đến giảm nghèo, vừa tạo điều kiện thu hút các nguồn lực hỗ trợ cho giảm nghèo song cũng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng đói nghèo trong quá trình CNH-HĐH
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực tạo ra những yếu tố thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh về vốn, công nghệ, thị trường, nhờ đó thúc đẩy
Trang 36tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, tăng thu ngân sách, từ đó tạo những điều kiện vật chất ngày càng lớn cho công cuộc giảm nghèo Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem lại những trợ giúp về tài chính và kinh nghiệm tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo từ các chính phủ và tổ chức phi chính phủ Những nguồn lực này cùng với các chương trình mang tính trợ giúp kỹ thuật, điều kiện kết cấu hạ tầng, nâng cao dân trí nếu được sử dụng tốt sẽ
có vai trò hỗ trợ tích cực đối với giảm nghèo Những quốc gia không tham gia hội nhập kinh tế quốc tế sẽ không tận dụng được các nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế và giảm nghèo Chẳng hạn như vùng Châu Phi, sa mạc Sahara chính là những hình mẫu về nghèo đói do hạn chế giao lưu mở cửa, hội nhập nền kinh tế và
xã hội với thế giới bên ngoài Từ đó, khả năng tăng trưởng kinh tế bị hạn chế, không tranh thủ được sự hỗ trợ từ bên ngoài, hạn chế trao đổi mua bán thương mại khoa học công nghệ, khả năng thoát nghèo của hộ trở nên khó khăn hơn
Mặt khác, hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một thách thức đồng nghĩa với việc chấp nhận cạnh tranh với các đối thủ lớn, nếu các chủ thể trong nước không thể nâng cao sức cạnh tranh của mình thì không những khó thâm nhập thị trường quốc
tế, mà còn thua ngay trên sân nhà, từ đó mức rủi ro trong kinh doanh có thể cao hơn, đe dọa những chủ thể kinh doanh yếu kém có thể bị triệt tiêu Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho nền kinh tế quốc gia ngày càng phụ thuộc vào thị trường thế giới Những biến động của thị trường thế giới có ảnh hưởng mạnh mẽ vào sâu sắc tới tình hình kinh doanh của các quốc gia trong quá trình hội nhập Thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ năm 2008 đã gây ra suy giảm kinh tế cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, ảnh hưởng đến xuất khẩu, làm thu hẹp quy mô sản xuất trong nước, dẫn đến nhiều căng thẳng trong giải quyết việc làm, thu nhập của người lao động khiến công tác giảm nghèo gặp nhiều khó khăn hơn
1.3.4.5 Năng lực tự vươn lên thoát nghèo của bản thân người nghèo
Nhận thức của người nghèo về vấn đề nghèo thường rất hạn chế, họ không thể tự lí giải được nguyên nhân nghèo khó của mình Người nghèo có trình độ học vấn thấp, nhiều người không có nghề, ít cơ hội tìm việc làm tốt, ổn định, nên thu
Trang 37nhập thấp thường chỉ đạt mức đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu, vì vậy không
có điều kiện để nâng cao trình độ cũng như không có tiền để đi học nghề hay trang
bị hoặc nâng cao kiến thức của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh đói nghèo Đồng thời họ cũng ít có điều kiện chăm lo đến tương lai của con em họ dẫn đến vòng nghèo đói luẩn quẩn các thế hệ
Người nghèo thường tập tung ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi đang chịu ảnh hưởng rất lớn từ các tập quán, thói quen canh tác, sản xuất lạc hậu, cùng với tư tưởng bảo thủ, cổ hủ, không chịu tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn mới đã và đang làm nhân tố cản trở sự chuyển đổi nghề nghiệp và kinh doanh hiệu quả, cản trở quá trình giảm nghèo Không ít người nghèo vẫn chưa thực sự có ý thức vươn lên thoát nghèo, nhiều hộ gia đình nghèo có thái độ trông chờ, ỷ lại vào
sự hỗ trợ giúp đỡ của Nhà nước, chưa có ý thức chủ động Không ít hộ nông dân được đền bù đất giải phóng mặt bằng trong quá trình đô thị hóa, đã không cố gắng chuyển đổi nghề nghiệp mà tiêu sài lãng phí cuối cũng lại rơi vào tình trạng nghèo đói sau một thời gian Một số hộ khác thì do thiếu kiến thức, kinh nghiệm dẫn tới làm ăn thua lỗ, phá sản Cần khơi dậy ý thức tự vươn lên của mỗi hộ dân bởi khi người dân không có tinh thần thoát nghèo, khát vọng làm giàu, quyết tâm học hỏi thì sự đầu tư hỗ trợ từ bên ngoài cũng khó có thể phát huy tác dụng Từ thực trạng trên, đòi hỏi trong các chính sách giảm nghèo, ngoài cơ chế hỗ trợ thì cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục để người nghèo tự vươn lên giảm nghèo
Trang 38CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÔNG TÁC HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO CÁC VÙNG ĐẶC BIỆT
KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên của tỉnh Hoà Bình
2.1.1.1 Vị trí địa lý:
Hoà Bình là tỉnh miền núi thuộc Tây Bắc của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ,
có diện tích tự nhiên là 4596,4 km2, chiếm 1,41 % diện tích của cả nước Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ; phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hoá; phía Đông giáp thành phố Hà Nội
Toàn tỉnh có 10 huyện, 1 thành phố và 210 xã phường, thị trấn (trong đó có
193 xã, 6 phường, 11 thị trấn), có 63 xã vùng cao thuộc huyện Mai Châu, Đà Bắc
và một số xã thuộc huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Cao Phong Hiện nay các xã thụ hưởng chương trình 135 là 73 xã và 94 thôn, bản thuộc diện đặc biệt khó khăn Hoà Bình nằm ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc xuống vùng đồng bằng Sông Hồng trù phú, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 76 km theo đường quốc lộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ khu vực và cả nước Tỉnh có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thuỷ tương đối phát triển so với các tỉnh trong vùng, trong đó có các tuyến đường quốc gia quan trọng đi qua như đường Hồ Chí Minh, trong tương lai là đường cao tốc đi Hoà Lạc - Hà Nội Mạng lưới giao thông phân
bố khá đều, kết nối Hoà Bình với các tỉnh trong khu vực và các huyện trong tỉnh khá thuận lợi
Hoà Bình có nguồn điện lực lớn, có thuỷ điện Hoà Bình lớn nhất cả nước và
hồ Hoà Bình ngoài tác dụng cung cấp năng lượng cho nhà máy, còn có tác dụng quan trọng trong việc điều tiết nước cho hệ thống sông Hồng
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình:
Điểm nổi bật của địa hình Hoà Bình là núi cao, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn
và theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chia thành hai vùng rõ rệt:
Trang 39Vùng núi cao (Phía Tây Bắc): độ cao trung bình từ 600 - 700m, nơi cao nhất là đỉnh Phu Canh (Đà Bắc) cao 1.373 m Độ dốc trung bình từ 30 - 35o, có nơi dốc trên
40o Địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn Diện tích toàn vùng là 212.740 ha, chiếm 46% diện tích toàn tỉnh
Vùng núi thấp (phía Đông Nam): diện tích toàn vùng là 253.512 ha chiếm 54% diện tích toàn tỉnh Địa hình các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình
từ 20 - 25o, độ cao trung bình từ 100 - 200m, ít hiểm trở so với vùng cao
Tóm lại địa hình có sự phân chia thành hai vùng rõ rệt, tài nguyên thế mạnh của mỗi vùng khác nhau vì vậy phải chú ý đến mối quan hệ liên vùng, để hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển kinh tế, xã hội
2.1.1.3 Điều kiện khí hậu:
Khí hậu Hoà Bình là khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình 83%, cao nhất tới 90% vào tháng 8 và tháng 9, thấp nhất là 75% vào tháng 11 và tháng 12 Do khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt trong năm
- Mùa mưa: kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 24oC, cao nhất 38 - 39oC vào tháng 6 và tháng 7, lượng mưa trung bình từ 1.700 - 1.800 mm ( trên 90% tổng lượng mưa cả năm)
- Mùa khô: kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh, ít mưa, nhiệt độ trung bình 15 - 16oC, thấp nhất 5oC vào tháng 12 và tháng 1,
ở vùng núi cao có nơi nhiệt độ xuống tới 2oC, lượng mưa từ 100 - 200 mm (chiếm 10% lượng mưa cả năm)
2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên đất: diện tích đất tự nhiên của Hoà Bình là 4596,4 km2, đất Hòa Bình gồm 3 nhóm chính: nhóm feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất kết cấu hạt thô trên các loại đá chủ yếu là sa thạch Pocfirit Spilit, nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn trên các loại đá phiến thạch sét, diệp thạch, nhóm Feralit phát triển trên đá vôi và biến chất của đá vôi
Đất đai Hoà Bình có độ màu mỡ cao thích hợp với nhiều loại cây trồng Với hàng trăm ngàn ha đất gồm các lô đất liền khoảnh có thể sử dụng vào các mục đích
Trang 40khác nhau nhất là trồng rừng, trồng cây công nghiệp Phần đất trống, đồi núi trọc khó phát triển nông nghiệp và trồng rừng có diện tích khá lớn thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng các khu công nghiệp
- Tài nguyên nước: tỉnh Hoà Bình có mạng lưới sông, suối phân bổ khắp trên tất cả các huyện, thành phố Nguồn cung cấp nước lớn nhất của Hòa Bình là sông
Đà chảy qua các huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn với tổng chiều dài 151km Hồ sông Đà với diện tích mặt nước khoảng 10.000 ha, dung tích 9,5 tỷ m3ngoài nhiệm vụ cung cấp điện cho Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình còn có nhiệm vụ chính là điều tiết và cung cấp nước cho vùng Đồng bằng sông Hồng
- Tài nguyên rừng: diện tích rừng Hoà Bình đạt độ che phủ là 44% diện tích
tự nhiên, tương đương 206.104 ha Trong đó rừng tự nhiên 127.882 ha, rừng trồng 78.222 ha với nhiều loại gỗ, tre, bương, luồng; cây dược liệu quý như: Dứa dại, Xạ đen, củ Bình Vôi… Ngoài các khu rừng phòng hộ, phần lớn diện tích rừng trồng thuộc các dự án trồng rừng kinh tế hiện nay đã đến kỳ khai thác và tiếp tục được trồng mới mở rộng diện tích, hứa hẹn khả năng xây dựng các nhà máy chế biến quy
mô lớn
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hoà Bình:
2.1.2.1 Kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế:
Trong giai đoạn 2006 - 2010, tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP) của tỉnh đạt mức khá cao, bình quân 5 năm là 9,8%/năm, cao hơn nhiều so với thực hiện giai đoạn 2000 - 2005 là 7,9%/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, các ngành kinh tế đều tăng trưởng khá và ổn định
Trong các năm 2006 - 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 10,5%/năm Giá trị của GDP tăng dần qua các năm Năm 2006, giá trị của GDP toàn tỉnh là 2.133,8 tỷ đồng, con số này đã tăng mạnh qua các năm và đến năm
2010, tổng GDP là 2.926 tỷ đồng gấp 1,3 lần so với năm 2006 Đây là những thành công đáng kể của tỉnh Hoà Bình trong việc phát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu đề ra