Để có những thông tin đúng đắn, chính xác nhằm đánh giá, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng về tình h
Trang 1TRẦN ĐỨC THẮNG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦNG
CỐ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DỊCH VỤ CƠ KHÍ HÀNG HẢI
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS NGUYỄN ÁI ĐOÀN
Hà Nội – Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan toàn bộ kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn
là do em nghiên cứu, do em tự trình bày, không sao chép từ các Luận văn khác Em
xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những nội dung, hình ảnh cũng như các kết quả
nghiên cứu trong Luận văn
Người thực hiện
Trần Đức Thắng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trải qua hai năm học tập và nghiên cứu đến nay em đã hoàn thành khoá học
của mình Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ái
Đoàn, người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành luận văn
của mình
Em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo khoa Kinh tế và
Quản lý, Viện đào tạo sau đại học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã dạy dỗ,
truyền đạt cho em những kiến thức khoa học trong suốt thời gian học tập tại trường
và luôn tạo điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thành tốt khóa học và luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, Phòng Tài chính Kế toán Công ty
TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc
thu thập số liệu để hoành thành luận văn này
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ em trong thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn và chúc các Thầy cô, các bạn bè đồng nghiệp luôn
hạnh phúc và thành đạt
Hà nội, Ngày 20 tháng 02 năm 2012
Người thực hiện
Trần Đức Thắng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 8
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài: 10
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 11
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 11
4 Phương pháp nghiên cứu: 11
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 12
6 Kết cấu của luận văn: 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ 14
TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 14
1.1 Cơ sở lý luận chung về tài chính và phân tích tài chính 14
1.1.1 Về tài chính doanh nghiệp 14
1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 14
1.1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng tài chính doanh nghiệp 15
a Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp 15
1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp 18
1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp 20 1.1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 23
1.1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 23
1.1.2.2 Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp 26
1.1.2.3 Tổ chức công tác phân tích tài chính 27
1.1.2.4 Các loại hình phân tích tài chính 28
1.2 Phương pháp phân tích tài chính 30
1.2.1 Các bước trong quá trình tiến hành phân tích tài chính 30
1.2.1.1 Thu thập thông tin 30
1.2.1.2 Xử lý thông tin 30
1.2.1.3 Dự đoán và ra quyết định 31
1.2.1.4 Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính 31
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính 35
Trang 51.2.2.2 Phương pháp tỷ lệ 36
1.2.2.3 Phương pháp thay thế liên hoàn 37
1.2.2.4 Phương pháp Dupont 37
1.3 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 40
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính 40 1.3.2 Phân tích chỉ tiêu an toàn 40
1.3.2.1 Phân tích cân đối TS và NV 41
1.3.2.2 Phân tích khả năng thanh toán 42
1.3.3 Phân tích hiệu quả tài chính 44
1.3.3.1 Phân tích tình hình sinh lợi 44
1.3.3.2 Phân tích tình hình sử dụng tài sản 46
1.3.4 Phân tích đòn bẩy tài chính 49
1.3.4.1 Đòn bẩy tác nghiệp DOL (đòn bẩy định phí) 49
1.3.4.2 Đòn bẩy tài chính DFL (đòn bẩy nợ) 51
1.3.4.3 Đòn bẩy tổng DTL 52
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 54
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DỊCH VỤ CƠ KHÍ HÀNG HẢI 55
2.1 Khái quát về Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải 55
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 55
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 56
2.1.3 Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty 62
2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn 63
2.1.4.1 Thuận lợi 63
2.1.4.2 Khó khăn 63
2.2 Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải 64
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính 64 2.2.1.1 Phân tích bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 64
2.2.1.2 Phân tích bảng cân đối kế toán 69
2.2.2 Phân tích chỉ tiêu an toàn 75
Trang 62.2.2.2 Phân tích chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán 77
2.2.3 Phân tích hiệu quả tài chính 79
2.2.3.1 Phân tích hệ số sinh lợi 79
2.2.3.2 Phân tích sức sinh lợi của doanh thu ROS 85
2.2.3.3 Phân tích tình hình sử dụng tài sản 88
2.2.3.4 Phân tích hệ số tài trợ 92
2.2.4 Phân tích các đòn bẩy tài chính 94
2.2.4.1 Mức độ tác động của Đòn bẩy kinh doanh DOL (Đòn bẩy định phí): 94
2.2.4.2 Mức độ tác động của Đòn bẩy tài chính DFL (Đòn bẩy nợ): 96 2.2.4.3 Đòn bẩy tổng DTL 99
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 101
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦNG CỐ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DỊCH VỤ CƠ KHÍ HÀNG HẢI 103
3.1 Mục tiêu phát triển của Công ty trong thời gian tới 103
3.2 Một số giải pháp củng cố tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng Hải 104
3.2.1 Giải pháp 1: Huy động vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên104 3.2.1.1 Cơ sở thực hiện giải pháp 104
3.2.1.2 Nội dung của giải pháp 106
3.2.1.3 Kết quả thực hiện giải pháp 107
3.2.2 Giải pháp 2: Đẩy mạnh hoạt động Marketing, củng cố thương hiệu sản phẩm 109
3.2.2.1 Cơ sở thực hiện giải pháp 109
3.2.2.2 Mục tiêu của giải pháp 110
3.2.2.3 Nội dung của giải pháp 110
3.2.2.4 Lợi ích thu được khi thực hiện giải pháp 111
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh 62
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2009 - 2010 64
Bảng 2.3: Tình hình doanh thu của Công ty 65
Bảng 2.4: Tình hình chi phí và lợi nhuận của Công ty 66
Bảng 2.5: Cân đối kê toán của Công ty năm 2009 – 2010 69
Bảng 2.6: Cơ cấu tài sản của Công ty 72
Bảng 2.7: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty 74
Bảng 2.8: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn 77
Bảng 2.9: Chỉ tiêu hiệu quả tài chính 79
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến ROS 85
Bảng 2.11: Giá vốn hàng bán 87
Bảng 2.12: Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng tài sản 89
Bảng 2.13: Phân tích cụ thể tình hình biến động của Tài sản 91
Bảng 2.14: Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến hệ số tài trợ 92
Bảng 2.15: Phân tích cụ thể tình hình biến động của Nguồn vốn 92
Bảng 2.16: Điểm hoà vốn và đòn bẩy kinh doanh DOL 94
Bảng 2.17: Đòn bẩy tài chính DFL 97
Bảng 2.18: Đòn bẩy tổng DTL 99
Bảng 3.1: Kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm 2011 104
Bảng 3.2: Dự báo tổng tài sản năm 2011 105
Bảng 3.3: Kết quả thực hiện sau biện pháp 1 108
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1: Phân tích đẳng thức DUPONT 38
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ
Cơ khí Hàng hải 57
Sơ đồ 2.2: Phân tích tổng hợp tình hình tài chính: sơ đồ DUPONT 84
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TNHH :Trách nhiệm hữu hạn
VQTTS :Vòng quay tổng tài sản
TSBQ :Tài sản bình quân
VQKPT :Vòng quay khoản phải thu
VQHTK :Vòng quay hang tồn kho
DNNN :Doanh nghiệp Nhà nước
NV :Nguồn vốn
CĐKT :Cân đối kế toán
GTGT :Giá trị gia tăng
LNST :Lợi nhuận sau rhuế
CP SXKD :Chi phí sản xuất kinh doanh
CP QLDN :Chi phí quản lý doanh nghiệp
TNDN :Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ :Tài sản cố định
TGHĐ :Tỷ giá hối đoái
NL, VL :Nguyên liệu, vật liệu
CC, DC :Công cụ, dụng cụ
ĐTTC : Đầu tư tài chính
Trang 10ĐT XDCB : Đầu tư xây dựng cơ bản
XDCB DD : Xây dựng cơ bản dở dang
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Người xưa có câu: “Thương trường cũng như chiến trường”, vậy khi
làm kinh tế chúng ta phải hết sức thận trọng cả về chiến lược cũng như các
phương thức kinh doanh mới cùng doanh nghiệp của mình tồn tại và phát
triển được Để làm được điều này trước nhất chúng ta không thể quên “Biết
mình biết ta trăm trận trăm thắng” Để biết được mình điểm mạnh, điểm yếu
ra sao, tiềm lực thế nào…thì chúng ta phải tiến hành phân tích, đánh giá
chúng dựa trên các luận chứng khoa học rõ ràng cả trong quá khứ lẫn hiện tại
thì chúng ta đã nắm chắc phần thắng trong tay là 50% Đây chính là lý do Tôi
đã chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp củng cố tình hình tài
chính của Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải”
Để có những thông tin đúng đắn, chính xác nhằm đánh giá, điều chỉnh
các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi
phải đánh giá đúng thực trạng về tình hình tài chính của doanh nghiệp, xác
định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố để từ đó tìm ra
những biện pháp hữu hiệu và những quyết định cần thiết nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng tài chính của Công ty, đó là nhiệm vụ của việc phân tích tình
hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm
tra, đối chiếu các số liệu giữa hiện tại và quá khứ, thông qua việc phân tích
báo cáo tài chính cũng như để đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức
phân phối sử dụng và quản lý các loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp,
vạch rõ những khả năng tiềm tàng trong việc quản lý sử dụng vốn, đề xuất các
biện pháp cần thiết và có hiệu lực để khai thác tới mức cao nhất những khả
năng tiềm tàng đó Việc phân tích đầy đủ, thường xuyên, kịp thời chính xác
tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho những người sử dụng thông
Trang 12tin đánh giá được tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương
lai
Tổ chức tốt công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp có
tầm quan trọng để thực hiện tốt công tác quản lý kinh tế, điều hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá được tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên
Dịch vụ Cơ khí Hàng hải (chỉ ra ưu nhược điểm, nguyên nhân)
- Xây dựng một số giải pháp củng cố tình hình tài chính của Công ty
TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp,
luận văn tập trung đi vào nghiên cứu và phân tích các báo cáo tài chính của
Công ty; phân tích hệ số an toàn, phân tích hiệu quả tài chính, phân tích các
đòn bẩy tài chính của Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng
hải trong 2 năm 2009 và 2010 (đã được kiểm toán)
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các cách thức vận dụng quản lý tài chính áp dụng
cho Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải trong lĩnh vực
bảo dưỡng, sửa chữa, đóng mới, hoán cải đưa ra các giải pháp để củng cố tình
hình tài chính của Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh,
phân tích và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực
tiễn ở địa phương để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
Trang 135 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Luận văn được thực hiện với mong muốn hệ thống hoá và phát triển
một số vấn đề lý luận về tài chính cũng như phân tích tài chính cho doanh
nghiệp, nghiên cứu các đặc điểm mang tính đặc thù trong ngành kinh doanh
dịch vụ Trên cơ sở đó, luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng, nêu ra
được những ưu, nhược điểm, nguyên nhân của nó, những giải pháp để củng
cố tình hình tài chính trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai của
Công ty nói riêng, ngành kinh doanh dịch vụ nói chung
Luận văn là một công trình nghiên cứu kết hợp lý luận với thực tiễn về
vấn đề tài chính và ứng dụng phân tích tình hình tài chính của Công ty để xây
dựng một số giải pháp thích hợp Tôi hy vọng luận văn sẽ trở thành một tài
liệu hữu ích cho các nhà hoạch định chiến lược của công ty sau này
6 Kết cấu của luận văn:
Nội dung của luận văn gồm 3 phần cơ bản sau đây:
Phần 1: Cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh
nghiệp
Phần 2: Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành
viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải
Phần3: Xây dựng một số giải pháp củng cố tình hình tài chính Công ty
TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ khí Hàng hải
Để hoàn thành luận văn này, Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến các
Thầy giáo, Cô giáo, các anh chị và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi những
kiến thức cần thiết cho công việc
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc Tôi xin chân thành cảm ơn sự
hướng dẫn tận tình của Thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn và các thầy cô
trong Khoa Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội đã giúp đỡ Tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Trang 14Với trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu thực tế có hạn nên không
tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được sự góp ý của các thầy
cô giáo để đồ án của tôi được hoàn thiện hơn
Học viên: Trần Đức Thắng
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận chung về tài chính và phân tích tài chính
1.1.1 Về tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Ở bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng
phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là yếu tố quan trọng và cũng là
tiền đề trong mọi hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình này đã phát
sinh ra các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư và các hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các luồng tiền này tạo nên sự vận động
các luồng tài chính của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế biểu hiện
bằng tiền dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử
dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội Hay nói cách khác
tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền
tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt
tới các mục tiêu của doanh nghiệp Gắn với quá trình tạo lập, phân phối và sử
dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới
hình thức giá trị tức là quan hệ tài chính doanh nghiệp Các quan hệ đó là:
- Thứ nhất: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước:
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế
đối với nhà nước, khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
- Thứ hai: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:
Quan hệ này được biểu hiện thông qua việc doanh nghiệp kiếm các
nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để
Trang 16ứng nhu cầu vốn dài hạn Đồng thời, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn
vay, trả lãi cổ phần cho các tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào
ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng
- Thứ ba: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có mối quan hệ với các doanh nghiệp
khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là thị
trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà
xưởng, tìm kiếm lao động…Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh
nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất,
tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường
- Thứ tư: Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp:
Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của
doanh nghiệp như: chính sách tổ chức, chính sách tái đầu tư, chính sách về cơ
cấu vốn, chi phí… Cụ thể là:
+ Quan hệ kinh tế giữa Doanh nghiệp với các Phòng ban, phân xưởng,
tổ, đội sản xuất trong việc tạm ứng thanh toán
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong
quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương,
tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ phần
+ Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hoà vốn giữa các đơn vị trực
thuộc trong nội bộ doanh nghiệp với Tổng Công ty
+ Những quan hệ trên một mặt phản ánh doanh nghiệp là một đơn vị
kinh tế độc lập, chiếm địa vị là một chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời
phản ánh rõ nét mối liên hệ tài chính doanh nghiệp với các tổ chức
1.1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng tài chính doanh nghiệp
a Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp
Trang 17Tài chính doanh nghiệp giúp nắm vững tình hình kiểm soát vốn sản
xuất kinh doanh hiện có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động
vốn của từng khâu, từng thời gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản
lý và điều chỉnh hiệu quả
Tài chính doanh nghiệp giúp tổ chức khai thác và huy động kịp thời các
nguồn vốn nhàn dỗi phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, không cho
vốn bị ứ đọng và sử dụng vốn có hiệu quả Để thực hiện được điều này, tài
chính doanh nghiệp phải thường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các
nguồn vốn vay và tự có của doanh nghiệp, làm sao so với lượng vốn nhất định
đó phải tạo ra một lượng lợi nhuận lớn dựa trên cơ sở sử dụng tối đa các
nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
b Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp
có các vai trò chủ yếu sau:
- Đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp:
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp
phải có vốn kinh doanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện là
xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ Tiếp theo phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy
động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các
doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy
động vốn thấp nhất
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả:
Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện
tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò
quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư
Trang 18tối ưu, lựa chọn và huy động nguồn vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh
doanh, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng
quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh:
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc
tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng
thời xác định giá bán hợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông
qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen
thưởng, quỹ lương, thực hiện các hợp đồng kinh tế…
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung
thực nhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các chỉ
tiêu tài chính mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng
quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc,
tồn tại để từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh
nhằm đạt tới mục tiêu đã định
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động
trước hết là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài
chính, sau nữa còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài
chính của doanh nghiệp và các nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động
tài chính doanh nghiệp
c Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Cũng giống như các khâu tài chính khác, tài chính doanh nghiệp cũng
có các chức năng khách quan đó là chức năng phân phối và chức năng giám
đốc
- Chức năng phân phối: Chức năng phân phối là chức năng mà nhờ
Trang 19vào đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải doanh nghiệp
được đưa vào quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khác
nhau Nhờ chức năng phân phối mà doanh nghiệp có khả năng động viên,
khai thác và thu hút các nguồn tài chính trong nền kinh tế để hình thành vốn
kinh doanh của doanh nghiệp Sau khi đã hình thành vốn kinh doanh, để sử
dụng vốn, chức năng phân phối của vốn đồng nghĩa với việc đầu tư vốn: Đầu
tư bên trong hay bên ngoài, lợi nhuận thu được là yếu tố quan trọng nhất,
quyết định phương hướng và cách thức đầu tư của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc: Mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình kinh
doanh là thu lợi nhuận, vì thế ngoài khả năng phân phối, tài chính doanh
nghiệp còn có khả năng giám sát, dự báo hiệu quả của quá trình phân phối
Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra
bằng đồng tiền được thực hiện với quá trình vận động của các nguồn tài chính
để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định
Chức năng giám đốc có khả năng phát hiện những khuyết tật trong
khâu phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện
phương hướng, mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên, chức năng khách quan của tài chính doanh nghiệp phát huy
đến mức nào lại phụ thuộc vào sự nhận thức một cách tự giác và hoạt động
chủ quan của người quản lý trong khi sử dụng chức năng của tài chính Đó
chính là vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp
Đánh giá tài chính doanh nghiệp gồm hai nhóm chỉ tiêu chủ yếu:
a Nhóm chỉ tiêu an toàn tài chính
Nhóm chỉ tiêu này thể hiện tình hình tài chính doanh nghiệp có an toàn
hay không, do những nhân tố nào tác động Mức độ an toàn thể hiện ở ba hệ
số: Hệ số tài trợ, hệ số quản lý nợ và hệ số thanh toán
Trang 20- Hệ số tài trợ và hệ số quản lý nợ: Hai hệ số này cho biết doanh
nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và tài sản cố
định có được tài trợ một cách vững chắc bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở
hữu hay không
- Hệ số thanh toán: Hệ số này nói lên khả năng đảm bảo trả được các
khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào Đây là những chỉ tiêu rất được nhiệu người
quan tâm như nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu…
Họ luôn đặt ra câu hỏi: Hiện doanh nghiệp có khả năng trả các món nợ ngắn
hạn hay không? Khi phân tích chỉ tiêu hệ số thanh toán của doanh nghiệp
người ta thường phân tích các hệ số sau:
+ Hệ số thanh toán hiện hành: Hệ số này được sử dụng để đo lường
khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (nợ và các khoản phải
trả) bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như: tiền mặt, các khoản phải
thu, hàng tồn kho
+ Hệ số thanh toán nhanh: Là hệ số thể hiện liệu công ty có đủ tài sản
ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng
tồn kho đi hay không
+ Hệ số thanh toán tức thời: Hệ số này nói lên khả năng doanh nghiệp
sử dụng tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của doanh
nghiệp
b Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính
Khi đầu tư vốn, các nhà đầu tư, người cho vay luôn luôn đặt ra câu hỏi:
Tài sản của mình được sử dụng có hiệu quả hay không? Mức độ hiệu quả là
bao nhiêu? Hay nói cách khác là họ rất quan tâm đến khả năng sinh lời trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Do vậy, để đánh giá tình hình tài
chính của công ty, người ta phải tính toán được hiệu quả sử dụng tài sản Đây
là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài sản, nguồn lực của doanh
Trang 21nghiệp Bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cụ thể: Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động
và nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động:
+ Vòng quay tổng tài sản (VQTTS): Một đồng tài sản góp phần tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu
+ Vòng quay tài sản ngắn hạn: Một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu
Chỉ tiêu hiệu quả tài sản ngắn hạn có thể được đánh giá bởi hai chỉ tiêu:
• Vòng quay khoản phải thu (VQKPT): Thể hiện kỳ thu nợ các
khoản bán chịu
• Vòng quay hàng tồn kho (VQHTK): Một đồng vốn đầu tư vào
hàng tồn kho góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu + Vòng quay tài sản dài hạn: Một đồng tài sản dài hạn góp phần tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu
1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp
a Những yếu tố bên trong
Những yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chủ quan của các
doanh nghiệp Có các yếu tố sau:
- Yếu tố con người:
Con người là yếu tố rất quan trọng, đó là những cán bộ quản lý và lực
lượng lao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý là những người cần nhận
thức đầy đủ về tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, những
người có toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh
nghiệp và là người chịu trách nhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính trong
doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên
đủ lớn, lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng
Trang 22cao, đảm bảo cả về mặt số lượng và chất lượng
- Yếu tố về công nghệ sản xuất:
Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản
xuất cũng là điều rất cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích
nghiên cứu và phát triển những chi tiết cho việc đầu tư và máy móc thiết bị,
và các tài sản hữu hình là hoàn toàn cần thiết Ví dụ như khi doanh nghiệp
đầu tư vào máy móc thiết bị, doanh nghiệp phải khấu hao từng phần trong
nhiều năm, không cho phép khấu trừ toàn bộ chi phí ngay từ đầu năm Vậy,
khi doanh nghiệp nhận thấy có sự giảm sút về các khoản khấu hao, cũng có
nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thì cần phải biết nguyên nhân vì sao, có
phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc do doanh nghiệp không có dự án
khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm về sản xuất, giảm sút về năng lực cạnh
tranh Do vậy, yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực
tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Yếu tố về chiến lược kinh doanh:
Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những
giới khách hàng khác nhau trong tổng doanh thu của nó Trên thực tế, một
doanh nghiệp phải luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Nếu một
khách hàng quen và luôn mua với số lượng nhiều nhưng chuyển sang mua của
nhà cung cấp khác thì tình trạng gì sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp phải chấp
nhận những điều kiện ưu đãi hơn cho khách hàng này Tình hình này sẽ dẫn
đến những khó khăn lâu dài về mặt tài chính Vì vậy, điều quan trọng với một
doanh nghiệp là không nên tập trung quá vào một nhóm đối tượng khách
hàng Mở rộng nhiều nhóm khách hàng tốt hơn là tập trung vào một khách
hàng lớn
- Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp:
Trang 23Hình thức pháp lý của doanh nghiệp khác nhau sẽ chi phối đến việc tổ
chức, huy động vốn, quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh
Chẳng hạn đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn điều lệ ban đầu có thể được
ngân sách nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc một phần, nhà nước quy định quản lý
vốn và phân phối kết quả kinh doanh Đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là
do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra, cũng có thể huy động them từ bên ngoài
dưới hình thức đi vay nhưng không được phép phát hành chứng khoán trên thị
trường để tăng vốn Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều lệ của
công ty là do các thành viên đóng góp Trong quá trình hoạt động vốn có thể
tăng lên bằng cách kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi
vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán Việc phân
phối kết quả sản xuất kinh doanh do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận
các thành viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…
b Những yếu tố bên ngoài
- Yếu tố lạm phát:
Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều
khó khăn, lạm phát tăng cao, ngân hàng Nhà nước cũng phải thắt chặt tiền tệ
để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các
doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp
ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án
thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép Như vậy, nếu lạm phát tăng
cao có thể làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến
doanh nghiệp
- Yếu tố lãi suất:
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động
làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dung của xã hội, về phương diện lý
thuyết cũng như thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ tác
Trang 24động đến sản lượng và giá cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các
chi phí và các khoản thu lợi đó qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi
phí và thu nhập Các khoản chi phí và thu nhập đó lại xảy ra ở các mốc thời
gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đề thời giá của tiền tệ hay giá trị theo
thời gian của đồng tiền, giá trị theo thời gian của tiền được biểu hiện qua tiền
lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả để sử dụng vốn vay trong
khoảng thời gian nhất định hoặc là tiền thuê vốn để sử dụng
- Yếu tố tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp
Chênh lệch hối đoái là khoản chênh lệch dương hoặc âm giữa giá trị nợ phải
thu và nợ phải trả bằng đồng ngoại tệ đổi sang đồng nội tệ Chênh lệch này có
thể làm lợi nhưng ngược lại cũng có thể là khoản lỗ cho doanh nghiệp
- Yếu tố tình hình phát triển kinh tế - xã hội:
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn
biến động, đó chính là thách thức đối với doanh nghiệp trong việc cạnh tranh
1.1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính
doanh nghiệp
a Khái niệm
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối
chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua việc
phân tích báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm
năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi rao trong tương lai
b Mục tiêu
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những
điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính của doanh nghiệp
bao gồm các tiêu chí:
Trang 25- An toàn tài chính (khả năng thanh khoản và khả năng quản lý nợ)
- Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản)
- Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (đẳng thức Dupont)
Sau khi nhận dạng, tìm hiểu các tiêu chí đó của doanh nghiệp để có thể
giải thích các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó, đánh giá đúng các thực
trạng và tiềm năng của doanh nghiệp để đưa ra các đề xuất, giải pháp cải thiện
vị thế tài chính của doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp lựa chọn
phương án kinh doanh tốt nhất
c Ý nghĩa
Tình hình tài chính doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm
cũng như nhà quản lý doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng , nhà đầu tư,
các cơ quan quản lý chức năng…Tuy nhiên, mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm
ở những khía cạnh khác nhau khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Vì vậy, phân tích tình hình tài chính cũng sẽ có ý nghĩa khác nhau đối với
từng cá nhân, tổ chức:
- Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp:
Mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Bên
cạnh đó, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu như:
tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi
trường Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu
này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và hai mục tiêu cơ bản là kinh
doanh có lãi và trả được nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục, rút cuộc sẽ bị
cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp
không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc ngừng hoạt động và
đóng cửa Như vậy, hơn ai hết, các nhà quản trị doanh nghiệp và các chủ
doanh nghiệp cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình
Trang 26hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh
lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng
- Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Mối quan
tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ
đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành
tiền nhanh Từ đó, so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh
toán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho
vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu, bởi vì số vốn
chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp công ty gặp rủi ro
Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không
bảo đảm chắc chắn rằng khoản vay đó sẽ được thanh toán khi đến hạn Người
cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp vì nó là cơ sở
của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn
- Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ: Họ phải
biết được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của doanh nghiệp
để quyết định xem có cho phép doanh nghiệp được mua chịu hàng, thanh toán
chậm hay không
- Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố
như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn…Vì
vậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết
quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Đồng thời,
các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu
quả của công tác quản lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính
hiệu quả cao cho các nhà đầu tư
- Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản lý, các
nhà đầu tư, các chủ ngân hàng còn có nhiều nhóm người khác cũng quan tâm
tới tình hình tài chính doanh nghiệp Đó là các cơ quan tài chính, thuế, chủ
Trang 27quan, các nhà phân tích tài chính, những người lao động…Những nhóm
người này có nhu cầu thông tin về cơ bản giống như các chủ ngân hàng, các
nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp…bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách
nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ
1.1.2.2 Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các
hoạt động trao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài
chính và vật chất Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia
vào các mối quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp Các quan hệ tài chính đó
có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước Quan hệ
này biểu hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân giữa Ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình
thức:
- Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định
- Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp (DNNN) hoặc
tham gia với tư cách người góp vốn (trong các doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp)
Thứ hai: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
và các tổ chức tài chính Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn
dài hạn và ngắn hạn cho nhu cầu kinh doanh:
- Trên thị trường tiền tệ đề cập đến việc doanh nghiệp quan hệ với các
ngân hàng, vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc đến hạn
- Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài
hạn bằng cách phát hành các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) cũng như
việc trả các khoản lãi, hoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào
ngân hàng hay mua chứng khoán của các doanh nghiệp khác
Thứ ba: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác
Trang 28huy động các yếu tố đầu vào (thị trường hàng hoá, dịch vụ lao động,…) và
các quan hệ để thực hiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra (với các đại lý,
các cơ quan xuất nhập khẩu, thương mại,…)
Thứ tư: Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Đó là
các khía cạnh tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách
tài chính của doanh nghiệp như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư,
chính sách lợi tức cổ phần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp Trong mối
quan hệ quản lý hiện nay, hoạt động tài chính của các DNNN có quan hệ chặt
chẽ với hoạt động tài chính của cơ quan chủ quản là Tổng Công ty Mối quan
hệ đó được thể hiện trong các quy định về tài chính như:
- Doanh nghiệp nhận và có trách nhiệm bảo toàn vốn của Nhà nước do
Tổng Công ty giao
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp một phần quỹ khấu hao cơ bản
và trích một phần lợi nhuận sau thuế vào quỹ tập trung của Tổng Công ty theo
quy chế tài chính của Tổng Công ty và với những điều kiện nhất định
- Doanh nghiệp do Tổng Công ty vay quỹ khấu hao cơ bản và chịu sự
điều hoà vốn trong Tổng Công ty theo những điều kiện ghi trong điều lệ của
Tổng Công ty
Như vậy, đối tượng của phân tích tài chính, về thực chất là các mối
quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành, phát triển và biến đổi
vốn dưới các hình thức có liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
1.1.2.3 Tổ chức công tác phân tích tài chính
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tuỳ theo
loại hình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp,
đáp ứng nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra
quyết định Công tác tổ chức phân tích tài chính phải làm sao thoả mãn cao
Trang 29nhất cho nhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau
- Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt
dưới quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám
đốc Theo hình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội
dung của hoạt động kinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin
thường xuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tin
qua phân tích được truyền từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá
trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ
phận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đến các phòng ban
- Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng
biệt theo các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thoả mãn
thông tin cho các bộ phận của quản lý được phân quyền, cụ thể:
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi
phí, bộ phận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tin và tiến hành phân
tích tình hình biến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát
hiện chênh lệch chi phí cả về hai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ra
nguyên nhân và đề xuất giải pháp
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về
doanh thu (thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh doanh riêng
biệt theo địa điểm hoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có
quyền với bộ phận cấp dưới là bộ phận chi phí Ứng với bộ phận này thường
là trưởng phòng kinh doanh, hoặc giám đốc kinh doanh tuỳ theo doanh
nghiệp Bộ phận này sẽ tiến hành thu thập thông tin, tiến hành phân tích báo
cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận làm cơ sở
để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáo nội bộ
1.1.2.4 Các loại hình phân tích tài chính
a Căn cứ theo thời điểm kinh doanh
Trang 30Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia làm 3 hình thức:
- Phân tích trước khi kinh doanh: còn gọi là phân tích tương lai,
nhằm dự báo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai
- Phân tích trong khi kinh doanh: còn gọi là phân tích hiện tại (hay
tác nghiệp) là quá trình diễn ra cùng quá trình kinh doanh Hình thức này rất
thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh
những sai lệch lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra
- Phân tích sau khi kinh doanh: là phân tích sau khi kết thúc quá trình
kinh doanh (hay phân tích quá khứ) Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết
quả giữa thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra Từ kết quả phân tích
cho ta nhận rõ tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn
cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo
b Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm phân tích
thường xuyên và phân tích định kỳ
- Phân tích thường xuyên: được đặt ra ngay trong quá trình kinh
doanh Kết quả phân tích giúp phát hiện ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra
được các điều chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh
doanh Tuy nhiên biện pháp này thường công phu và tốn kém
- Phân tích định kỳ: được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các
báo cáo đã được thành lập Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh
doanh, vì vậy kết quả phân tích nhằm đánh gái tình hình thực hiện kết quả
hoạt động kinh doanh của từng kỳ và là cơ sở cho xây dựng kế hoạch kinh
doanh kỳ sau
c Căn cứ theo nội dung phân tích
- Phân tích chỉ tiêu tổng hợp: là việc tổng kết tất cả các kết quả phân
tích để đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản
Trang 31xuất kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác
động của các yếu tố thuộc môi trường
Ví dụ: + Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượng
sản xuất kinh doanh
+ Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi
nhuận
- Phân tích chuyên đề: còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập
trung vào một số nhân tố của quá trình kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến
những chỉ tiêu tổng hợp
Ví dụ: + Các yếu tố về tình hình sử dụng lao động
+ Các yếu tố về sử dụng nguyên vật liệu
1.2 Phương pháp phân tích tài chính
1.2.1 Các bước trong quá trình tiến hành phân tích tài chính
1.2.1.1 Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng
lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế
hoạch Nó bao gồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bên
ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về
số lượng và giá trị… Trong đó các thông tin kế toán là quan trọng nhất, được
phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những
nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính
trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.1.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý
thông tin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc
độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử
Trang 32lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định
nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các
kết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
1.2.1.3 Dự đoán và ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện
cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định
hoạt động kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài
chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tời mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu
Đối với cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài
trợ đầu tư Đối với cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản
lý doanh nghiệp
1.2.1.4 Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính
Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong
các doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
a Bảng cân đối kế toán (CĐKT – Balance sheet)
Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp – cân đối tổng thể phản ánh tổng
hợp tình hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp cả về tài sản và nguồn vốn ở
một thời điểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của kỳ báo
cáo
Đây là một bản báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi
đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với
doanh nghiệp
Thông thường, bảng CĐKT được trình bày dưới dạng bảng cân đối số
dư các tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh
nguồn vốn của doanh nghiệp
Các khoản mục trên bảng CĐKT được sắp xếp theo khả năng chuyển
Trang 33hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống
Bên tài sản: Phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm
lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Đó là tài sản
cố định và tài sản lưu động Tài sản lưu động (tiền và chứng khoán ngắn hạn
dễ bán, các khoản phải thu, dự trữ); Tài sản tài chính; Tài sản cố định hữu
hình và vô hình
Bên nguồn vốn: Phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của
doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: Đó là vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và
các khoản nợ Nợ ngắn hạn (nợ phải trả cho nhà cung cấp, các khoản phải
nộp, phải trả khác, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác); Nợ dài hạn (nợ vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín
dụng khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu); Vốn chủ sở hữu (thường bao
gồm: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát hành cổ phiếu mới)
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản,
bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập
về tài chính của doanh nghiệp
Bên tài sản và nguồn vốn của bảng CĐKT đều có các cột chỉ tiêu: Số
đầu kỳ, số cuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nội dung bảng còn có một số
khoản mục ngoài bảng như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá giữ
hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…
Nhìn vào bảng CĐKT, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình
doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng
CĐKT là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá
được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối
vốn của doanh nghiệp
b Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement)
Báo cáo “Kết quả hoạt động kinh doanh” là một báo cáo kế toán tài
Trang 34chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh
doanh trong doanh nghiệp Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực
hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế
GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá trị gia tăng hàng
bán nội địa trong một kỳ kế toán
Khác với bảng CĐKT, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cùng là
báo cáo tài chính quan trọng cho nhiều đối tượng cho biết sự dịch chuyển của
tiền trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự
tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh cũng là báo cáo tài chính quan trọng nhất cho nhiều đối
tượng khác nhau nhằm phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp
Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, có thể kiểm tra
được tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà
nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng
phát triển của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:
- Phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau
mỗi thời kỳ hoạt động (Phần I “Lãi, lỗ”) Phản ánh có nhiều chỉ tiêu liên quan
đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên
quan đến thu nhập, chi phí của từng hoạt động tài chính và các hoạt động bất
thường cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Các chỉ tiêu thuộc thành phần này đều được theo dõi chi tiết theo số
quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm
- Phần phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà
nước gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản
phải nộp khác (Phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”)
Trang 35Các chỉ tiêu ở phần này cũng được chi tiết thành số còn phải nộp kỳ trước, số
phải nộp kỳ này, số đã nộp trong kỳ này và số còn phải nộp đến cuối kỳ này
cùng với số phải nộp, số đã nộp luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo
- Phần phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại,
được giảm và thuế giá gia tăng hàng bán nội địa (Phần III “Thuế GTGT được
khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng
bán nội địa”) Phần này chi tiết các chỉ tiêu liên quan đến thuế giá trị gia tăng
được khấu trừ, đã khấu trừ, được hoàn lại, đã hoàn lại, được giảm, đã giảm và
số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ, còn được hoàn lại, còn được giảm
cuối kỳ…
c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc
hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh
nghiệp
Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người
sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc
sử dụng khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan
đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt
động khác không phải hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, nó cung cấp
thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt
động kinh doanh để trang trải các khoản nợ; duy trì các hoạt động, trả cổ tức
và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính
bên ngoài
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến
việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản
Trang 36đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền, còn luồng tiền phát
sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy
mô kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống các công cụ, biện pháp
nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong
và bên ngoài, các nguồn dịch chuyển và biến đổi về tài chính, các chỉ tiêu
tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung nhằm đánh giá tình
hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh
nghiệp như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên hệ,
phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp Dupont, phương pháp chi
tiết,… Trong đề tài này, tôi xin giới thiệu 4 phương pháp: So sánh, tỷ lệ, thay
thế liên hoàn và phương pháp Dupont
1.2.2.1 Phương pháp so sánh
- Định nghĩa: Là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng phát
triển và mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích
- Tiêu chuẩn so sánh: Là chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh Tùy
theo yêu cầu của phân tích mà chọn làm căn cứ thích hợp như: Khi đánh giá
tốc độ tăng trưởng thì chỉ tiêu làm căn cứ so sánh là số liệu kỳ trước, khi cần
đánh giá các mức độ phấn đấu hoàn thành kế hoạch thì chỉ tiêu làm căn cứ là
số kế hoạch…
- Điều kiện so sánh:
+ Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”
+ Khi so sánh các chỉ tiêu với nhau phải có cùng điều kiện, đảm bảo
thống nhất về nội dung kinh tế, tiêu chuẩn biểu hiện là phương pháp tính toán,
thời gian tương ứng và đại lượng biểu hiện, thống nhất về đơn vị tính các chỉ
Trang 37tiêu (cả về hiện vật, giá trị và thời gian)
- Nội dung bao gồm:
+ So sánh giữa các số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh
doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp,
thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện
pháp khắc phục trong kỳ kinh doanh
+ So sánh thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức
phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch
+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với mức trung bình của ngành
+ So sánh theo chiều dọc: Xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể
+ So sánh theo chiều ngang ở nhiều kỳ phân tích để thấy được sự biến
động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các
niên độ kế toán liên tiếp Trên cơ sở đó đánh giá được tình hình tài chính của
doanh nghiệp tốt hay xấu, hiệu quả hay không hiệu quả
1.2.2.2 Phương pháp tỷ lệ
- Định nghĩa: Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân
tích Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác
- Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp
dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, bởi vì:
+ Thứ nhất: Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung
cấp đầy đủ hơn Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho
việc đánh giá một tỷ số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
+ Thứ hai: Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và
thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
+ Thứ ba: Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có
hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo
Trang 38chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
- Về nguyên tắc, với phương pháp tỷ số yêu cầu cần xác định được các
ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp,
trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
1.2.2.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnh
hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân tố này có quan
hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế Khi
sử dụng phương pháp này, cần thực hiện theo các trình tự sau:
- Trước hết, phải biết được các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của
chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính các chỉ tiêu
đó
- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định:
Nhân tố số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau, trường hợp có nhiều
nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ
yếu xếp sau và không đảo lộn trình tự này
- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói
trên Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn nhân tố
chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay
thế xong một nhân tố, phải tính ra một kết quả cụ thể của lần thay thế đó Lấy
kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được
chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế
Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng
hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích
(chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)
1.2.2.4 Phương pháp Dupont
Trang 39+
+
Tổng Tài sản / Vốn CSH (Hệ số tài trợ)
Sức sinh lợi vốn chủ sở hữu ROE
Tỷ suất thu hồi tài sản ROA
Lợi nhuận
sau thuế
Doanh thu thuần
Trang 40Phân tích Dupont:
* Đẳng thức Dupont thứ nhất:
DTT Tổng TSBQ
Theo đẳng thức này, có hai hướng để tăng ROA là: tăng ROS hoặc tăng
Vòng quay TTS
- Muốn tăng ROS cần phấn đấu tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi
phí và tăng giá bán
- Muốn tăng VQTTS cần phấn đấu tăng doanh thu bằng cách giảm giá
bán và tăng cường các hoạt động xúc tiến bán hàng
* Đẳng thức Dupont thứ hai:
Có hai hướng để tăng ROE là: tăng ROA hoặc tăng hệ số tài trợ
- Muốn tăng ROA cần làm theo đẳng thức Dupont thứ nhất
- Muốn tăng hệ số tài trợ cần phấn đấu giảm VCSH bình quân và tăng
nợ Đẳng thức này cho thấy tỷ số nợ càng cao thì lợi nhuận của VCSH càng
cao Tuy nhiên, khi tỷ số nợ càng cao thì rủi ro cũng sẽ tăng
* Đẳng thức Dupont tổng hợp:
ROE phụ thuộc vào ba nhân tố: ROS, VQTTS và hệ số tài trợ; các nhân
tố này có thể ảnh hưởng trái chiều nhau đối với ROE
Phân tích Dupont mục đích là xác định ảnh hưởng của ba nhân tố này