2.1 Mục đích chung Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối hiện nay của Công ty, xác lập hệ thống các giải pháp khả thi để hoàn thiện công tác quản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-[[ \\ -
BÙI DUY DƯƠNG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN
PHỐI CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HOÀ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN PGS.TS BÙI XUÂN HỒI
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan
Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Bùi Xuân Hồi Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn
gốc rõ ràng Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2014
Tác giả
Bùi Duy Dương
Trang 3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 5
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 9
1.1 Khái niệm chung về lưới điện và vận hành lưới điện 10
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới điện 11
1.3 Kinh nghiệm quản lý vận hành lưới điện của một số công ty vận hành điện trong nước 30
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HÒA 35
2.1 Khái quát về Công ty điện lực Ứng Hòa 36
2.2 Khái quát về lưới điện phân phối tại huyện Ứng Hòa 39
2.3 Phân tích thực trạng công tác lập kế hoạch và vận hành lưới điện 42
2.4 Phân tích thực trạng công tác tổ chức vận hành lưới điện 46
2.5 Phân tích thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh công tác vận hành lưới điện 50
2.6 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện 54
2.7 Đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện tại Công ty điện lực Ứng Hòa 64
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HÒA 67
3.1 Định hướng phát triển của Công ty điện lực Ứng Hòa 68
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty điện lực Ứng Hòa 70
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASAI : Mức độ sẵn sàng cung cấp điện trong tháng (Average Service
Availability Index);
ASUI : Mức độ không sẵn sàng cung cấp điện (Average Service
Unavailability Index);
AENS : Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng (Average
Energy Not Supplied);
ACCI : Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng bị ảnh
hưởng mất điện (Average Customer Curtailment Index);
CAIFI : Số lần mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average
Interruption Frequency Index);
CAIDI : Thời gian mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average
Interruption Duration Index);
CMIS : Hệ thống thông tin quản lý khách hàng (Customer Management
Information System);
CBCNV : Cán bộ công nhân viên;
CSDL : Cơ sở dữ liệu;
ĐD : Đường dây;
ĐTXD : Đầu tư xây dựng;
ENS : Tổng điện năng không cung cấp (Energy Not Supplied);
EVN : Tập đoàn Điện lực Việt Nam;
GIS : Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System);
KĐTM : Khu đô thị mới;
Trang 5QLVH : Quản lý vận hành;
SCL : Sửa chữa lớn;
SAIFI : Số lần gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện (System
Average Interruption Frequency Index);
SAIDI : Thời gian gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện (System
Average Interruption Duration Index);
TBA : Trạm biến áp;
TSCĐ : Tài sản cố định;
TP.HN : Thành phố Hà Nội;
VHLĐ : Vận hành lưới điện;
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng vật tư thiết bị Công ty quản lý đến năm 2013……… … 39 Bảng 2.2 Một số hạng mục vật tư thiết bị chính của Công ty qua các năm… 42 Bảng 2.3 Kế hoạch đầu tư phát triển, cải tạo lưới điện, sửa chữa lớn TSCĐ… 43 Bảng 2.4 Kế hoạch giảm tổn thất điện năng năm 2013……… 45 Bảng 2.5 Bảng cơ cấu lao động Công ty điện lực Ứng Hòa……… 49 Bảng 2.6 Công tác kiểm tra định kỳ đường dây và TBA từ năm 2011- 2013 51 Bảng 2.7 Bảng thống kê sự cố điển hình năm 2013……… 52 Bảng 2.8 Tổng hợp các nguyên nhân gây sự cố lưới điện……… 53 Bảng 2.9 Bảng tổng hợp sự cố lưới điện và xử lý vi phạm HLATLĐ……… 54 Bảng 2.10 Chỉ số độ tin cậy điện lưới năm 2013……… 58 Bảng 2.11 Tỷ lệ tổn thất điện năng Công ty điện lực Ứng Hòa……… 59 Bảng 2.12 Bảng tổng hợp tổn thất lưới điện hạ thế điển hình năm 2013…… 60 Bảng 2.13 Tỷ lệ tổn thất điện năng chi tiết theo nguyên nhân……… 61 Bảng 2.14 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013……… 63 Bảng 2.15 Kết quả kinh doanh qua các năm 2011 - 2013…….……… 63
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty điện lực Ứng Hoà 38
Hình 3.1 Mô hình hóa lưới điện 75
Hình 3.2 Module lập lịch 76
Hình 3.3 Module Cập nhật lưới điện 77
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của Khoa học kỹ thuật cùng với quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng luôn đòi hỏi các Doanh nghiệp không chỉ đổi mới về trang thiết bị máy móc
mà cả về cách thức quản lý Một doanh nghiệp có hệ thống quản lý vận hành khoa học đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó đạt được 80% thành công trong hoạt động của mình
Hiện nay, ngành điện luôn được xem là một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn, có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nguồn năng lượng điện có ảnh hưởng bao trùm đến tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của xã hội Điện lực Việt Nam đã không ngừng phát triển nhằm thực hiện tốt bốn mục tiêu của CNH, HĐH nước ta là điện, đường, trường, trạm với mạng lưới vận hành rộng khắp từ miền núi tới hải đảo và vươn xa sang cả nước bạn Lào, Campuchia
Tuy nhiên, điện lực vẫn là một ngành độc quyền và được sự bảo hộ của Nhà nước Quá trình hội nhập và phát triển yêu cầu ngành điện phải thay đổi cách thức quản lý vận hành để phù hợp với yêu cầu cơ chế thị trường, cạnh tranh lành mạnh trong môi trường công bằng Trong thời gian từ năm 2001- 2010, Tập đoàn điện lực Việt Nam, đã xây dựng cho mình những mục tiêu cụ thể trong đó trước tiên là “tiếp tục cũng cố và hoàn thiện các bộ phận quản lý của Tổng công ty và các đơn vị thành viên để đảm bảo nhanh, đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng ngày càng tốt hơn”
Ngành điện nói chung và Công ty điện lực Ứng Hòa nói riêng cần phải có những thay đổi cơ chế hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới, xu thế mới để đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng và giúp công ty ngày càng phát triển vững mạnh
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty điện lực Ứng Hòa” làm đề tài luận văn khoa học của mình
Trang 92.1 Mục đích chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối hiện nay của Công ty, xác lập hệ thống các giải pháp khả thi để hoàn thiện công tác quản lý cho Công ty trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp tìm kiếm những tài liệu liên
quan đến vấn đề nghiên cứu bao gồm các loại tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học trong ngành, giáo trình, mạng internet và các luận án, luận văn
Phương pháp phân tích tổng hợp: Là phương pháp sử dụng các nguồn tài liệu
đã thu thập để tìm ra những quan điểm, luận điểm liên quan đến chủ để nghiên cứu,
phân tích và tổng hợp lại để hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin và số liệu: Thông tin và số liệu thứ cấp:
được tập hợp từ báo cáo hoạt động kinh doanh của Công ty điện lực Ứng Hòa giai đoạn 2011 – 2013; ngoài ra tổng hợp từ 1 số cơ quan địa phương
Phương pháp xử lý số liệu: phần mềm EXCEL
Phương pháp thống kê mô tả: được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản
của dữ liệu thu thập được qua các hình thức
Phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian: được dùng để làm công
tác dự báo và kiểm tra các giả thiết kinh tế Các sự kiện quan sát được sắp xếp theo trình tự thời gian để rút ra quy luật, so sánh, kết luận
Phương pháp suy luận và sáng tạo: dùng các cơ sở khoa học lý luận, kiến
thức, hiểu biết của bản thân để đưa ra những kết luận, giải pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 104.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề liên quan đến lưới điện, vận hành lưới điện, nguồn nhân lực
và việc sử dụng nguồn nhân lực tại Công ty
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Công ty điện lực Ứng Hòa
Thời gian: đánh giá thực trạng giai đoạn 2011 – 2013 để đưa ra giải pháp trong thời gian tới
5 Đóng góp của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng và quản lý chất lượng Trình bày các khái niệm về lưới điện, tổn thất điện năng, ý nghĩa về việc nâng cao chất lượng quản lý vận hành lưới điện và các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý vận hành lưới điện phân phối
Phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện Huyện Ứng Hòa - Thành phố Hà Nội
Đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện lưới điện, hệ thống thông tin quản lý, đảm bảo nguồn nhân lực, giảm tổn thất điện năng và nâng cao sự hài lòng của khách hàng tại Công ty điện lực Ứng Hòa
6 Nội dung nghiên cứu
Phần mở đầu
Chương I Cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới điện phân phối
Chương II Phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện tại
Công ty điện lực Ứng Hòa
Chương III Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành
lưới điện phân phối của Công ty điện lực Ứng Hòa
Trang 11CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN
PHÂN PHỐI
Trang 121.1 Khái niệm chung về lưới điện và vận hành lưới điện
1.1.1 Khái niệm lưới điện
Khái niệm hệ thống điện: là một phần của hệ thống năng lượng gồm có nhà
máy điện, trạm biến áp, các đường dây tải điện và các thiết bị khác (điều khiển, tụ
bù, thiết bị bảo vệ…) được nối liền với nhau thành hệ thống làm nhiệm vụ sản xuất, truyển tải, phân phối và cung cấp điện năng tận các hộ dùng điện [Giáo trình Hệ thống cung cấp điện, Trương Minh Tấn (2009), NXB Đại học Quy Nhơn]
Mạng điện: là một tập hợp gồm các trạm biến áp, trạm đóng cắt, các đường
dây trên không và các đường dây cáp Mạng điện được dùng để truyền tải và phân phối điện năng từ các nhà máy điện đến các hộ tiêu dùng
Khái niệm lưới điện:
Theo luật điện lực của Việt Nam quy định thì: “Lưới điện là hệ thống đường dây tải điện, máy biến áp và trang thiết bị phụ trợ để truyền dẫn điện Lưới điện, theo mục đích sử dụng và quản lý vận hành, được phân biệt thành lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối”
Theo PGS.TS Trần Bách: “Lưới điện là một bộ phận của hệ thống điện làm nhiệm vụ tải điện từ các nguồn điện đến các thiết bị dùng điện Lưới điện bao gồm các dây dẫn điện, các nhà máy biến áp và các thiết bị phục vụ khác như: thiết bị đóng cắt, thiết bị bảo vệ, thiết bị bù dọc, thiết bị bù ngang, thiết bị đo lường và thiết
bị điều khiển chế độ làm việc… Các thiết bị này được sắp xếp trên các đường dây tải điện và các trạm điện như trạm biến áp, trạm cắt” [PGS.TS Trần Bách, giáo trính lưới điện, NXB Giáo dục 2012]
Có hai hệ thống lưới điện:
Lưới điện truyền tải: là phần lưới điện bao gồm toàn bộ các đường dây và
trạm biến áp có cấp điện áp từ 220kV trở lên, các đường dây và trạm biến áp có cấp điện áp 110kV mang chức năng truyền tải để tiếp nhận công suất từ các nhà máy điện vào hệ thống điện quốc gia [Theo thông tư 32/2010 TT-BCT của Bộ Công thương]
Lưới điện phân phối: là phần lưới điện bao gồm các đường dây và trạm biến
Trang 13110kV để thực hiện chức năng phân phối điện đến khách hàng sử dụng điện
[Thông tư 32/2010 TT-BCT của Bộ Công thương]
1.1.2 Phân loại lưới điện
Có nhiều cách phân loại điện áp
- Theo cấp điện áp: [Thông tư 32/2010 TT-BCT của Bộ Công thương]
+ Hạ áp: là cấp điện áp dưới 1000V
+ Trung áp: là cấp điện áp từ 1000V đến 35kV
+ Cao áp: là cấp điện áp danh định trên 35kV đến 220kV
+ Siêu cao áp: là cấp điện áp danh định trên 220kV
- Theo nhiệm vụ: lưới cung cấp (500, 220, 110kV) và lưới phân phối (110,
35, 22, 10, 6 và 0,4kV) Riêng lưới 110kV là truyền tải khi nó mang chức năng truyền tải để tiếp nhận công suất từ các nhà máy điện vào hệ thống điện quốc gia Còn lưới 110kV là phân phối khi nó chức năng phân phối điện đến khách hàng sử dụng điện
1.1.3 Công tác vận hành lưới điện
Công tác vận hành lưới điện được thực hiện theo từng cấp điện áp [PGS.TS Trần Bách]
Đối với lưới phân phối hạ áp: vận hành kín lưới điện thì tổn thất công suất và tổn thất điện năng sẽ nhỏ nhất
Đối với lưới phân phối trung áp: vận hành kín ở mạch vòng 1 nguồn là có thể được, tuy nhiên muốn tận dụng lưới điện này về mặt độ tin cậy cung cấp điện thì phải có nhiều điểm phán đoán với cắt rơ le có hướng, điều này làm lưới điện đắt tiền, đắt hơn là lợi ích do tăng độ tin cậy cho nên hiện nay lưới điện này vẫn vận hành hở với các thiết bị phân đoạn là dao cách ly có trang bị điều khiển xa hoặc mở
tự động
Đối với lưới điện cao áp và siêu cao áp: vận hành hở lưới điện để đảm bảo được công tác vận hành thông suốt
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới điện
1.2.1 Khái niệm quản lý và quản lý vận hành lưới điện
* Khái niệm quản lý
Trang 14Trên thế giới hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ quản
lý Một số ý kiến cho rằng, quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy; một số khác lại đứng ở góc độ quản lý là hành chính, cai trị Quản lý được nhìn nhận dưới hai góc độ
Quản lý theo góc độ chính trị, xã hội: là sự kết hợp giữa tri thức và lao động Việc kết hợp này sẽ tạo động lực để xã hội phát triển và ngược lại sẽ kìm hãm nếu như có sự kết hợp không tốt Sự kết hợp đó được biểu hiện trước hết ở cơ chế quản
lý, chế độ, chính sách, biện pháp quản lý, tâm lý xã hội
Theo góc độ hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động thì quản lý
là điều khiển Theo khái niệm này thì có ba loại hình:
- Thứ nhất, con người điều khiển những vật hữu sinh không phải con người
để bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của người điều khiển như quản lý sinh học, môi trường…
- Thứ hai, con người điều khiển những vật vô tri, vô giác để bắt chúng phát triển và thực hiện theo ý chí của người điều khiển Loại hình này được gọi là quản
lý kỹ thuật
- Thứ ba, con người điều khiển con người, được gọi là quản lý xã hội
Như vậy, có thể hiểu: quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển của chủ thể
quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
* Khái niệm quản lý vận hành lưới điện
Quản lý vận hành: là tập hợp các hoạt động tạo ra giá trị được biểu hiện
dưới dạng hàng hóa và dịch vụ bằng cách chuyển hóa các đầu vào thành đầu ra
Quản lý vận hành lưới điện: là hệ thống các hoạt động cung cấp điện một
cách an toàn , liên tục cho khách hàng sử dụng điện một lượng điện năng đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp và hộ gia đình
1.2.2 Các yêu cầu về công tác quản lý vận hành lưới điện
Công tác quản lý vận hành lưới điện đặt ra nhiều yêu cầu không chỉ đối với
Trang 15năng đạt hiệu quả cao mà còn có những yêu cầu rất cụ thể của ngành điện lực nhằm xác định chất lượng điện năng Một số yêu cầu chính:
a Tần số hệ thống điện: Theo luật điện lực của Việt Nam quy định, tần số
dao động trong phạm vi ± 0,2Hz so với tần số danh định 50Hz Trong trường hợp
hệ thống điện chưa ổn định cho phép làm việc với độ lệch tần số ± 0,5Hz
Điều chỉnh tần số hệ thống điện quốc gia được chia làm 3 cấp:
Điều chỉnh tần số cấp 1 ở các tổ máy phát điện được quy định trước sao cho
c Các chỉ số độ tin cậy: Các Công ty điện lực trên thế giới thường xây dựng
một số chỉ số định lượng cụ thể để đánh giá chẳng hạn như báo cáo bình quân khách hàng khu vực sinh hoạt bị mất điện 3 vụ/năm, 120 phút/năm Mỗi đơn vị tự xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá IEEE, EEI, EPRI, CEA để đánh giá Một số chỉ tiêu
và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức sau:
n
Ki SAIDIj =
∑K
Ti i-1
SAIDI = ∑4 SAIDIj
Trang 16Trong đó:
Ti: Thời gian mất điện lần thứ i kéo dài trên 5 phút trong quý j;
Ki: Số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện bị ảnh hưởng bởi lần mất điện thứ i trong quý j;
n: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong quý j;
K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý j
* SAIFI (System Average Interruption Frequency Index): Số lần gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện
SAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện của Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức sau:
Trong đó:
ni: số lần mất điện kéo dài trên 5 phút trong quý j;
K: Tổng số khách hàng trong quý j của Đơn vị phân phối điện
* MAIFI (Momentary Average Interruption Frequency Index): Chỉ số về số lần mất điện thoáng qua trung bình của lưới điện phân phối
MAIFI được tính bằng tổng số lần mất điện thoáng qua của Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý chia cho tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối
và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý đó, theo công thức
sau:
nSAIFIj =
m MAIFIj =
Trang 17Trong đó:
m: số lần mất điện thoáng qua trong quý j;
K: Tổng số Khách hàng sử dụng điện và các Đơn vị phân phối và bán lẻ điện mua điện của Đơn vị phân phối điện trong quý j
* CAIFI (Customer Average Interruption Frequency Index): Số lần mất điện trung bình của khách hàng)
K* : số công tơ điện khách hàng bị ảnh hưởng mất điện do sự cố
* CAIDI (Customer Average Interruption Duration Index): Thời gian mất điện trung bình của khách hàng
* ASAI (Average Service Availability Index): Mức độ sẵn sàng cung cấp điện trong tháng
t: số giờ cung cấp điện trong tháng
* ASUI (Average Service Unavailability Index): Mức độ không sẵn sàng cung cấp điện
* ENS (Energy Not Supplied): Tổng điện năng không cung cấp
Li : công suất không phân phối đến khách hàng trong lần mất điện thứ i
Ti : thời gian mất điện (phút) của khách hàng trong lần mất điện thứ i
* AENS (Average Energy Not Supplied): Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng
Ki CAIFI =
K*
SAIDI CAIDI =
SAIFI
ASUI = 1 ASAI
ENS AENS =
K
∑ K x t ASAI =
∑ K x t
∑ Ti Ki
(ASAI < 1)
ENS = ∑ Li Ti
Trang 18* ACCI (Average Customer Curtailment Index): Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng bị ảnh hưởng mất điện
1.2.3 Các nội dung của công tác quản lý vận hành lưới điện
a Công tác lập kế hoạch và vận hành lưới điện
Lập kế hoạch vận hành lưới điện là một trong những nội dung quan trong của công tác quản lý vận hành lưới điện Các đơn vị truyền tải, phân phối điện có thể tham khảo và thực hiện lập kế hoạch vận hành hệ thống điện theo từng năm và
kế hoạch vận hành hệ thống điện hàng tháng theo quyết định số 14/QĐ-ĐTĐL của
Bộ Công thương
Việc lập kế hoạch vận hàng lưới điện phải dựa trên số liệu đầu vào như: nhu cầu phụ tải điện năm tới, kế hoạch phát triển lưới điện năm tới, kế hoạch bảo dưỡng, sữa chữa lưới điện và nhà máy điện năm tới, kế hoạch xuất nhập khẩu điện năm tới, dự kiến thủy văn năm tới, các thông số kỹ thuật của nhà máy điện, các thông số ràng buộc về hợp đồng mua bán điện…
Sau khi có số liệu đầu vào, phải có đánh giá kế hoạch vận hành lưới điện để đánh giá những sai số giữa kế quả dự báo và phụ tải điện thực tế; đánh giá sản lượng điện phát thực tế của các nhà máy điện so với kế hoạch, đánh giá tình hình thủy văn, đánh giá tình hình ngừng giảm cung cấp điện…
Nội dung kế hoạch vận hành lưới điện năm
- Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện năm trước (năm Y-1) và 6 tháng đầu năm hiện tại (năm Y)
- Dự báo phụ tải năm tới của hệ thống điện quốc gia, hệ thống điện miền (Bắc, Trung, Nam) và từng Đơn vị phân phối điện
- Sản lượng điện dự kiến từng tháng và cả năm của từng nhà máy điện trong năm tới
- Mực nước thượng lưu các hồ chứa thủy điện vào ngày cuối cùng các tháng trong năm tới
ENS ACCI =
K*
Trang 19- Kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa lưới điện và nhà máy điện từng tháng trong năm tới
- Sơ đồ kết dây cơ bản hệ thống điện quốc gia năm tới
- Cảnh báo suy giảm an ninh hệ thống điện (nếu có)
- Các giải pháp để đảm bảo vận hành hệ thống điện ổn định, an toàn, tin cậy Trước ngày 01 tháng 12 hàng năm, Đơn vị phân phối điện hoàn thành kế hoạch vận hành năm tới và công bố trên trang thông tin điện tử của đơn vị đồng thời thông báo kế hoạch vận hành năm tới của lưới điện 110kV, các tổ máy phát điện đấu nối vào lưới điện phân phối và các điểm đấu nối với lưới điện truyền tải cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Đơn vị truyền tải điện và các Đơn vị phân phối điện khác có liên quan để phối hợp thực hiện
Nội dung kế hoạch vận hành lưới điện tháng
- Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện tháng hiện tại (tháng M)
- Dự báo phụ tải tháng tới của hệ thống điện quốc gia, hệ thống điện miền (Bắc, Trung, Nam) và từng Đơn vị phân phối điện
- Sản lượng điện dự kiến của từng nhà máy điện trong tháng tới
- Mực nước thượng lưu các hồ chứa thủy điện ngày cuối cùng trong tháng tới
- Kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa lưới điện và nhà máy điện trong tháng tới
- Cảnh báo suy giảm an ninh hệ thống điện (nếu có)
- Các giải pháp để đảm bảo vận hành hệ thống điện ổn định, an toàn, tin cậy Trước ngày 25 hàng tháng, Đơn vị phân phối điện hoàn thành kế hoạch vận hành tháng tới và công bố trên trang thông tin điện tử của đơn vị đồng thời thông báo kế hoạch vận hành tháng tới của lưới điện trung áp và 110kV, các tổ máy phát điện đấu nối vào lưới điện phân phối và các điểm đấu nối với lưới điện truyền tải cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Đơn vị truyền tải điện và các Đơn vị phân phối điện khác có liên quan để phối hợp thực hiện
Kế hoạch vận hành tuần
Đơn vị phân phối điện lập kế hoạch vận hành hệ thống điện phân phối cho hai tuần tới căn cứ vào kế hoạch vận hành tháng đã công bố, bao gồm các nội dung như: Dự báo nhu cầu phụ tải điện hai tuần tới; Kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng trong
Trang 20hai tuần tới; Dự kiến thời gian và phạm vi ngừng cung cấp điện trong hai tuần tới;
Dự kiến sản lượng điện năng và công suất phát trong hai tuần tới của từng nhà máy điện có công suất đặt từ 30 MW trở xuống đấu nối vào lưới điện phân phối
Trước 15 giờ 00 phút ngày thứ Năm hàng tuần, Đơn vị phân phối điện hoàn thành kế hoạch vận hành của hai (02) tuần tới và công bố trên trang thông tin điện
tử của đơn vị đồng thời thông báo kế hoạch vận hành hai (02) tuần tới của lưới điện trung áp và 110kV, các tổ máy phát điện đấu nối vào lưới điện phân phối và các điểm đấu nối với lưới điện truyền tải cho Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, Đơn vị truyền tải điện và các Khách hàng lớn sử dụng lưới điện phân phối có liên quan biết để phối hợp thực hiện
Trước ngày 15 giờ 00 phút ngày thứ Sáu hàng tuần, căn cứ vào kế hoạch vận hành tuần, Đơn vị phân phối điện và Đơn vị phân phối và bán lẻ điện hoàn thành kế hoạch vận hành lưới điện hạ thế và thông báo tới khách hàng bị ảnh hưởng trong phạm vi quản lý của mình
b Công tác tổ chức quản lý vận hành lưới điện
Công tác tổ chức vận hành lưới điện là một hoạt động nhằm tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao để phục vụ tốt sự vận hành lưới điện
Xây dựng mô hình tổ chức quản lý phải đảm bảo được tính khoa học, gọn nhẹ nhưng hiệu quả làm việc cao
Đội ngũ cán bộ quản lý phải có trình độ lý luận chính trị vững vàng, kỹ năng lãnh đạo quản lý Có trình độ tay nghề, trung thực và cẩn thận
Tại Việt Nam Chính phủ cũng đã ban hành các nghị định đối với người làm công việc vận hành, thí nghiệm, xây lắp và sữa chữa đường dây điện hoặc thiết bị điện phải được huấn luyện về an toàn điện định kỳ 1 năm 1 lần và có kiểm tra sát hạch, xếp bậc và cấp thẻ an toàn điện
Để công tác tổ chức quản lý vận hành lưới điện được thực hiện tốt, phải đảm bảo từ khâu chuẩn bị cán bộ công nhân viên Mỗi cán bộ công nhân viên trước khi vận hành, hiệu chỉnh, thí nghiệm và sữa chữa thiết bị điện đều được khám sức khỏe phù hợp với ngành nghề đã được duyệt
Trang 21Nhân viên vận hành bắt buộ phải tỏ chức những hình thức về học tập tại vị trí vận hành và phải được kiểm tra định kỳ về kiến thức thường xuyên
Yêu cầu, tiêu chuẩn về nhân lực: [Theo Quy trình kỹ thuật an toàn điện của Tập đoàn điện lực Việt Nam]
- Những người trực tiếp làm công việc quản lý vận hành, thí nghiệm, sửa chữa, xây dựng điện phải có sức khoẻ tốt và có giấy chứng nhận về thể lực của cơ quan y tế Hàng năm tổ chức khám sức khỏe Khi phát hiện thấy công nhân có bệnh thuộc loại thần kinh, tim, mạch, thấp khớp, lao phổi, thì tổ chức phải điều động công tác thích hợp
- Nhân viên mới phải qua thời gian kèm cặp của nhân viên có kinh nghiệm
để có trình độ kỹ thuật cần thiết, sau đó phải được sát hạch vấn đáp trực tiếp, đạt yêu cầu mới được giao nhiệm vụ
- Công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sư trực tiếp sản xuất phải được kiểm tra kiến thức về quy trình kỹ thuật an toàn mỗi năm 1 lần Giám đốc uỷ nhiệm cho đơn vị trưởng tổ chức việc huấn luyện và sát hạch trong đơn vị mình Kết quả các lần sát hạch phải có hồ sơ đầy đủ để quyết định công nhận được phép làm việc với thiết bị
và có xếp bậc an toàn
- Các trưởng, phó đội sản xuất, chi nhánh điện, kỹ thuật viên, hai năm được sát hạch kiến thức quy trình kỹ thuật an toàn một lần do hội đồng kiểm tra kiến thức của xí nghiệp tổ chức và có xếp bậc an toàn
- Trong khi làm việc với đồng đội hoặc khi không làm nhiệm vụ, nếu thấy người bị tai nạn điện giật thì bất cứ người nào cũng phải tìm biện pháp để cấp cứu nạn nhân ra khỏi mạch điện và tiếp tục cứu chữa
Mô hình tổ chức: [Theo quy trình điều độ hệ thống điện quốc gia]
Điều độ hệ thống điện Quốc gia được phân thành 3 cấp:
- Cấp điều độ hệ thống điện Quốc gia là cấp chỉ huy điều độ cao nhất của toàn bộ hệ thống điện Quốc gia (gọi tắt là A0) Người trực tiếp chỉ huy điều độ hệ thống điện Quốc gia là Kỹ sư điều hành HTĐ Quốc gia trực ban
- Cấp điều độ HTĐ miền là cấp chỉ huy điều độ HTĐ miền, chịu sự chỉ huy trực tiếp của cấp điều độ HTĐ Quốc gia Cấp điều độ HTĐ miền do cácTrung tâm
Trang 22Điều độ HTĐ miền (ĐĐM Bắc, ĐĐM Nam, ĐĐM Trung gọi tắt là A1, A2, A3) đảm nhiệm Người trực tiếp chỉ huy điều độ HTĐ miền là KSĐH HTĐ miền trực ban
- Cấp điều độ lưới điện phân phối: là cấp chỉ huy điều độ lưới điện phân phối, chịu sự chỉ huy trực tiếp về điều độ của cấp điều độ HTĐ miền tương ứng Cấp điều độ lưới điện phân phối do các Trung tâm hoặc Phòng điều độ của các Công ty Điện lực độc lập, các Điện lực tỉnh, thành phố thuộc CTĐL 1, 2, 3 đảm nhiệm
Người trực tiếp chỉ huy điều độ lưới điện phân phối là ĐĐV lưới điện phân phối trực ban Nhân viên vận hành cấp dưới trực tiếp của ĐĐV lưới điện phân phối (đối với các thiết bị thuộc quyền điều khiển) bao gồm: Trưởng kíp trạm biến áp phân phối, trạm trung gian, trạm bù, trạm diesel và thủy điện nhỏ trong lưới điện phân phối Trực ban các đơn vị cơ sở trực thuộc Trưởng kíp trạm biến áp 220kV, 110kV, 66kV (đối với các trạm biến áp có cấp điện cho khu vực địa phương ở cấp điện áp ≤ 35 kV) Trưởng ca các NMĐ (đối với các NMĐ có cấp điện cho khu vực địa phương ở cấp điện áp ≤ 35KV)
c Tiêu chuẩn vật tư thiết bị khi đưa vào lưới điện
Vật tư thiết bị khi đưa vào lưới điện phải tuân theo các tiêu chuẩn:
- Được chế tạo theo các tiêu chuẩn Việt Nam, IEC hoặc các tiêu chuẩn tương đương Phải có biên bản thí nghiệm điển hình (Type test report) do một đơn vị thí nghiệm độc lập, đủ thẩm quyền cấp và biên bản thí nghiệm xuất xưởng (Routine test report) hoặc giấy chứng nhận xuất xưởng của nhà sản xuất
- Nhà sản xuất vật tư, thiết bị phải được cấp Chứng chỉ ISO (còn hiệu lực) phù hợp với lĩnh vực sản xuất hàng hoá cung cấp và thiết bị phải có tài liệu chứng minh kinh nghiệm 05 (năm) năm trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá cung cấp
- Vật tư, thiết bị phải có Catalog, tài liệu hướng dẫn lắp đặt vận hành và bảo dưỡng phù hợp với bảng đặc tính kỹ thuật Các vật tư, thiết bị lắp đặt trên lưới phải được nhiệt đới hoá, phù hợp với điều kiện môi trường làm việc tại Việt Nam
- Xác nhận của người sử dụng chứng tỏ đã được vận hành tốt trong thời gian
Trang 23- Có chiều dài đường rò bề mặt phải đảm bảo ≥ 25mm/kV Đối với các trường hợp đặc biệt phải có ghi chú riêng Các chi tiết bằng thép (xà, giá đỡ, tiếp địa, các bulông, đai ốc ) phải được mạ kẽm nhúng nóng, bề dày lớp mạ không được nhỏ hơn 80µm
Tiêu chuẩn bảo vệ thiết bị:
+ IP-41 đối với thiết bị đặt trong nhà
+ IP-55 đối với thiết bị đặt ngoài trời
Nguồn tự dùng: 220/380VAC và 220VDC
Tất cả các vật tư, thiết bị có sử dụng dầu cách điện, phải đảm bảo là loại không có chất PCB theo quy định
d Công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh kế hoạch vận hành lưới điện
Kiểm tra trong quá trình vận hành hệ thống điện bao gồm các thí nghiệm được tiến hành trên hệ thống điện, từ nguồn cung chính đến các thiết bị và phụ kiện đầu cuối, thuộc điện cao áp hay thấp áp tùy theo yêu cầu trong vận hành
Công tác kiểm tra, đánh giá điều chỉnh kế hoạch vận hành lưới điện được thực hiện ở hai khía cạnh:
* Công tác kiểm tra, đánh giá kế hoạch vận hành lưới điện được thực hiện liên tục và song song trong suốt quá trình vận hành lưới điện: thông thường, việc
kiểm tra được chia ra các nhóm khác nhau:
- Kiểm tra định kỳ: kiểm tra vào ban ngày hoặc ban đêm vào một ngày cụ thể trong tháng hoặc theo một chu kỳ ( 1 ngày, 2 ngày, 1 tuần, 1 tháng…)
- Kiểm tra bất thường: là việc kiểm tra một cách đường đột không cần kế hoạch trước như trong điều kiện thời tiết nắng nóng hoặc bão lụt
- Kiểm tra sự cố: ngay sau khi sự cố xảy ra
- Kiểm tra thí nghiệm: sử dụng các thiết bị thí nghiệm để kiểm tra khi nghi ngờ lưới điện có dấu hiệu không đạt tiêu chuẩn vận hành
* Công tác kiểm tra công tác vận hành, cần thiết phải đánh giá, kiểm tra
theo kế hoạch vận hành đã lập từ trước: thông thường, kế hoạch vận hành được
thực hiện theo năm, tháng, tuần, ngày; các kế hoạch vận hành này đều được đánh giá dựa trên những số liệu đầu vào Nội dung công tác đánh giá như sau: [Theo Quy
Trang 24trình lập kế hoạch vận hành lưới điện quốc gia, ban hành kèm theo Quyết định số 14/QĐ-ĐTĐL của Bộ Công thương]
- Đánh giá sai số giữa kết quả dự báo và phụ tải điện thực tế, bao gồm sản lượng điện, công suất cực đại và cực tiểu; sản lượng điện phát thực tế của các nhà máy điện so với kế hoạch đã được phê duyệt
- Đánh giá tình hình thủy văn các hồ thủy điện bao gồm đánh giá lưu lượng nước về dự báo và thực tế, lưu lượng nước xả dự kiến và thực tế, mực nước thượng lưu hồ chứa dự kiến và thực tế tại các thời điểm đầu tháng, cuối tháng;
- Đánh giá tình hình cung cấp nhiên liệu sơ cấp cho các nhà máy nhiệt điện;
- Đánh giá tình hình ngừng, giảm cung cấp điện (nếu có), bao gồm số lần và nguyên nhân ngừng, giảm cung cấp điện; sản lượng điện, công suất ước tính bị ngừng, giảm cung cấp điện;
- Ghi nhận những bất thường trong thực tế vận hành sai khác với kế hoạch đã được phê duyệt;
- Đánh giá nguyên nhân của các vấn đề nêu trên
Việc đánh giá cũng chia ra theo kế hoạch vận hành năm, tháng, tuần, ngày: Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện năm: trước ngày 01 tháng 02 hàng năm, đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế vận hành hệ thống điện năm so với kế hoạch vận hành hệ thống điện năm đã được phê duyệt
Đánh giá kế hoạch vận hành hệ thống điện tháng: Trước ngày 20 hàng tháng đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế vận hành
hệ thống điện tháng so với kế hoạch vận hành hệ thống điện tháng đã được phê duyệt
Đánh giá kế hoạch vận hành tuần: Trước 16h30 thứ Hai hàng tuần (tuần W), Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế vận hành
hệ thống điện tuần trước (tuần W-1) so với kế hoạch vận hành hệ thống điện tuần trước (tuần W-1) đã được phê duyệt
Trang 25Đánh giá kế hoạch vận hành ngày: Trước 10h00 hàng ngày (ngày D), Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện đánh giá kết quả thực tế huy động ngày trước (ngày D-1) so với lịch huy động ngày trước (ngày D-1) đã được phê duyệt
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý vận hành lưới điện
a Các chỉ tiêu kỹ thuật
* Tính an toàn
An toàn thường được đặt lên hàng đầu khi thiết kế, lắp đặt và vận hành công trình điện An toàn cho cán bộ vận hành, cho thiết bị công trình, cho người dân và các công trình xung quanh Người thiết kế và vận hành công trình điện phải tuyệt đối tuân theo quy định an toàn điện
Chỉ tiêu kỹ thuật về an toàn của công tác quản lý và vận hành lưới điện ở Việt Nam cũng đã được Thủ tướng Chính phủ quy định trong các nghị định cụ thể,
ví dụ như tại:
- Nghị định 47/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật điện lực về an toàn công trình lưới điện cao áp Trong đó chỉ rõ điều kiện xây dựng công trình lưới điện cao áp; khoảng cách an toàn phóng điện theo cấp điện áp, hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không…
- Nghị định 169/2003/NĐ-CP quy định về an toàn điện trong sản xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng điện nhằm đảm bảo an toàn đối với con người, các thiết bị
và công trình điện Trong đó có chương 3 quy định cụ thể an toàn điện trong truyền tải, phân phối: “Đơn vị quản lý vận hành lưới điện phải định kỳ tổ chức kiểm tra, bảo dưỡng kỹ thuật và đại tu lưới điện, đảm bảo cho hệ thống vận hành an toàn theo quy định; thường xuyên kiểm tra phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm quy định của Nghị định này và của pháp luật về bảo vệ an toàn lưới điện cao áp”
Trang 26Dao động điện áp UU = (Umax – Umin)/Uđm.100% [Giáo trình Hệ thống cung cấp điện, Trương Minh Tấn (2009), NXB Đại học Quy Nhơn]
* Tổn thất điện năng
Tổn thất trên lưới điện là lượng điện năng tiêu hao cho quá trình truyền tải và phân phối điện khi tải điện từ ranh giới giao nhận với các nhà máy phát điện qua
lưới điện truyền tải và phân phối đến các hộ tiêu thụ điện.[Hồ Văn Hiến, “Mạng
truyền tải và phân phối điện”, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2007] Trong quản lý, tổn thất điện năng được chia ra tổn thất điện năng kỹ thuật và tổn thất điện năng phi kỹ thuật
Tổn thất điện năng kỹ thuật: Điện năng được sản xuất ra từ các nhà máy
điện, muốn tải đến các hộ tiêu thụ điện phải qua hệ thống lưới điện cao áp, trung áp, xuống hạ áp, (hệ thống bao gồm các máy biến áp, đường dây và các thiết bị điện khác) Trong quá trình truyền tải đó, dòng điện tiêu hao một lượng nhất định khi qua máy biến áp, qua điện trở dây dẫn và mối nối tiếp xúc làm phát nóng dây, qua các thiết bị điện, thiết bị đo lường, công tơ điện gây tổn thất điện năng Chưa kể đường dây dẫn điện mang điện áp cao từ 110 kV trở lên còn có tổn thất vầng quang; dòng điện qua cáp ngầm và tụ điện còn tổn thất do điện môi Vì thế mà tổn thất điện năng còn được định nghĩa là điện năng dùng để truyền tải và phân phối điện
Đó chính là tổn thất điện năng kỹ thuật và xảy ra tất yếu trong quá trình truyền tải điện từ nhà máy phát qua hệ thống lưới điện cao hạ áp đến các hộ sử dụng điện Mức độ tổn thất điện năng kỹ thuật lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào cấu trúc lưới điện, chất lượng thiết bị, chất lượng đường dây tải điện và phương thức vận hành hệ thống điện
Tổn thất điện năng phi kỹ thuật (tổn thất điện năng thương mại): không định
lượng được song cũng có tác động không nhỏ đến hệ thống, làm gia tăng tỷ lệ tổn thất điện năng chung Nguyên nhân gây ra tổn thất điện năng thương mại là do tình trạng vi phạm trong sử dụng điện như: Lấy cắp điện dưới nhiều hình thức (câu móc điện trực tiếp, tác động làm sai lệch mạch đo đếm điện năng, gây hư hỏng, chết cháy công tơ ); do chủ quan của người quản lý khi công tơ hỏng không thay thế
Trang 27kịp thời, bỏ sót hoặc ghi sai chỉ số; do không thực hiện đúng chu kỳ kiểm định và thay thế công tơ định kỳ theo quy định của Nhà nước
Chỉ tiêu đánh giá tổn thất điện năng:
+ Dựa trên chương trình phần mềm PSS/ADEPT
+ Phân tích tính chính xác, độ tin cậy và khả năng ứng dụng chương trình để tính toán các biện pháp giảm tổn thất điện năng
+ Xây dựng thư viện dữ liệu, sơ đồ lưới điện để phục vụ tính toán trong chương trình PSS/ADEPT
+ Đánh giá kết quả tính toán, so sánh với thực tế vận hành để kiểm chứng độ tin cậy của kết quả
b Chỉ tiêu kinh tế
Được thông qua hai chỉ tiêu: vốn đầu tư và chi phí vận hành Vốn đầu tư một công trính điện bao gồm tiền mua vật tư, thiết bị, tiền vận chuyển, thí nghiệm, mua đất đai, đền bù hoa màu… Còn phí tổn vận hành bao gồm các khoản tiền phải chi phí trong quá trình vận hành công trình điện lực: lượng cán bộ quản lý, kỹ thuật, vận hành, chi phí bảo dưỡng và sữa chữa, chi phí cho thí nghiệm thử nghiệm, do tổn thất điện năng trên công trình điện
Thông thường hai loại chi phí này mâu thuẫn nhau, phương án cấp điện tối
ưu là phương án dung hòa hai chi phí trên đó là có chi phí tính toán hàng năm nhỏ nhất
∆A: tổn thất điện năng 1 năm
c: giá tiền tổn thất điện năng (đ/kWh)
Trang 28Như vậy, việc quản lý vận hành lưới điện tốt đó là mất một khoản vốn đầu tư
và chi phí thấp nhất, với mức tổn thất điện năng nhỏ nhất nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn, và chất lượng điện tốt nhất trong phạm vi thông số cho phép trong suốt quá trình vận hành lưới điện đến khách hàng tiêu thụ điện
Ngược lại, nếu như việc vận hành thiếu thông suốt và chi phí cũng như hao tổn điện năng quá cao thì đồng nghĩa rằng quản lý vận hành lưới điện đang có vấn
đề không tốt
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối
a Yếu tố bên trong
Công tác quản lý vận hành lưới điện bị tác động không nhỏ từ yếu tố bên trong như: nhân lực, vật lực, chế độ đãi ngộ…
Yếu tố nhân lực có sự tác động mạnh mẽ nhất bởi để hệ thống lưới điện phân
phối có thể vận hành được thì con người phải đứng ra điều khiển và kiểm soát Nhân lực ở đây bao gồm cả trí lực lẫn thể lực Nếu một công ty vận hành lưới điện phân phối được hoạt động và điều khiển bới một nhà lãnh đạo giỏi, có tấm nhìn chiến lược, biết quản lý, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên của công ty tốt, tạo ra được môi trường làm việc lành mạnh, văn minh hiện đại Cùng với một đội ngũ người lao động chuyên nghiệp, tay nghề kỹ thuật cao, sức khỏe tốt, thì việc quản lý vận hành sẽ trôi chảy Ngược lại, một công ty được dẫn dắt bởi những con người có tác phong làm việc quan liêu bao cấp, được sự bảo hộ của Nhà nước thì dẫn đến sự trì trệ và kém hiệu quả trong công việc
Yếu tố động lực làm việc của người lao động cũng là một yếu tố tác động
trực tiếp lên chính những người quản lý vận hành lưới điện Chế độ lương thưởng, đãi ngộ tốt; được trang bị đầy đủ trang thiết bị làm việc, bảo hộ; được tạo cơ hội học tập, nâng cao trình độ tay nghề và cơ hội thăng tiến… sẽ làm cho người lao động thêm hăng say làm việc, phát huy hết khả năng và tính sáng tạo cũng như tạo mối quan hệ bền chặt giữa Công ty với người lao động Điều này sẽ tạo ra được một tập thể vững mạnh, đoàn kết và tạo ra sức mạnh thúc đẩy công tác quản lý vận hành tốt
Trang 29Yếu tố vật lực cũng rất quan trọng không kém bên cạnh yếu tố nhân lực Hiện
nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ vào công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối sẽ làm giảm thiểu chi phí cũng như hạn chế tổn thất điện năng; tăng hiệu quả quản lý Một số công ty Điện đã sử dụng các phần mềm quản lý nhân lực, sử dụng hệ thống SCADA/DMS…
b Yếu tố bên ngoài
Bên cạnh các yếu tố nhân lực, vật lực; công tác quản lý vận hành lưới điện còn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế xã hội, thời tiết, khí hậu, an ninh trật tự…
Về yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội: hiện nay, ngành điện đang trên đường
thực hiện kinh doanh điện theo cơ chế thị trường, dần xỏa bỏ độc quyền để hướng tới sự cạnh tranh Bộ Công thương cũng đã ban hành một số thông tư như 03/2013/TT-BCT về vận hành thị trường điện cạnh tranh để hộ tiêu thụ điện được
sử dụng với giá thành thấp nhất và chất lượng điện cao nhất Điều này bắt buộc các Công ty điện cũng phải thay đổi trong công tác vận hành quản lý để có thể cạnh tranh với các công ty khác khi tham gia hoạt động kinh doanh phân phối điện Bên cạnh đó, các chính sách phát triển kinh tế, phong tục tập quán, quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, tình hình ổn định chính trị cũng tác động đến công tác quản
lý vận hành điện Nếu một công ty hoạt động trong điều kiện chính trị ổn định, các chính sách phát triển kinh tế tốt, nền kinh tế vững mạnh, có sự hợp tác mạnh mẽ với các nước bên ngoài, tình hình an ninh trật tự ổn định (không có nạn trộm cắp câu điện) thì công ty sẽ có điều kiện thuận lợi để hoạt động và phát triển
Về yếu tố địa hình: công tác quản lý vận hành lưới điện có sự khác biệt trong
khu vực thành thị với nông thôn; giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp Đối với khu vực thành thị thì thường sử dụng cấp lưới điện trung áp có cấu trúc mạch vòng kín vận hành hở Để đảm bảo an toàn và mỹ quan cho đô thị thường sử dụng cáp ngầm cho mạng trung và hạ áp, thường sử dụng trạm biến áp kiểu xây và để đẽ quản lý vận hành thì trạm biến áp phân phối này thường được đặt ở góc hay giữa đoạn đường Còn lưới điện nông thôn, các tuyến dây đều là đường dây trên không,
Trang 30các trạm biến áp thường dùng kiểu trạm cột và cho dễ quản lý và vận hành thì trạm biến áp phân phối được đặt giữa thôn…
Về yếu tố tự nhiên: các hiện tượng mưa lụt, hạn hán, gió bão đều ảnh hưởng
không tốt đến vận hành lưới điện và có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho Công ty vận hành lưới điện Do đó, việc kiểm tra quản lý vận hành lưới điện phải được thực hiện một cách thường xuyên để hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy
ra
Về yếu tố an ninh trật tự: việc vận hành lưới điện không chỉ tập trung ở một
địa điểm cụ thể như những công ty sản xuất kinh doanh các mặt hàng khác mà nó trải dài khắp đất nước với một mạng lưới rộng lớn, do đó việc quản lý gặp nhiều khó khăn hơn Hiện nay, hoạt động câu móc trộm điện, ăn cắp đường dây, làm sai lệch vòng quay công tơ… đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng điện năng cũng như gây tổn thất lớn cho các công ty vận hành lưới điện Vì vậy, nếu công ty hoạt động trong môi trường có tình hình an ninh trật tự tốt thì công tác vận hành lưới điện cũng hiệu quả hơn
Ngoài ra, có có rất nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối: bán kính cấp điện, chất lượng lưới điện, công tác đầu
tư phát triển hệ thống lưới điện…
1.2.6 Phương pháp sử dụng trong luận văn
a Phương pháp so sánh
Là phương pháp dựa trên những số liệu đã được thu thập, phân tích để tìm
hiểu sự tương đồng và khác biệt; đối chiếu đánh giá giữa các đối tượng nghiên cứu
Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu:
Chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn
vị đo lường
Gốc so sánh:
Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay thời gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị
Trang 31về không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán
Cụ thể:
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước (năm trước) Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;
- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu
Các dạng so sánh:
Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh vớisố bình quân
So sánh bằng số tuyệt đối phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi
so sánh bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc
So sánh bằng số tương đối : Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương
đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế
b Phương pháp phân tích chi tiết
Là phương pháp dựa trên những số liệu đã thu thập để tìm ra những quan điểm, luận điểm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Có các loại phương pháp phân tích chi tiết:
- Phân tích chi tiết theo thời gian: theo phương pháp này chỉ tiêu phân tích trong một thời kỳ dài nhất định sẽ được chia nhỏ theo từng giai đoạn, từng thành phần thời gian nhỏ hơn
Trang 32- Phân tích chi tiết theo không gian, bộ phận, chủng loại: chỉ tiêu phân tích sẽ được chia nhỏ theo không gian, lĩnh vực, chủng loại… và được phân tích theo các thành phần đã được chia nhỏ
- Phân tích chi tiết theo các nhân tố cấu thành
c Phương pháp thống kê
Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định
Thông thường, phương pháp thống kê được chia ra hai lĩnh vực:
- Thống kê mô tả: bao gồm các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu
- Thống kê suy luận: bao gồm các phương pháp ước lượng đặc trưng của tổng thể nghiên cứu, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên cứu, dự đoán hoặc để ra quyết định trên cơ sở các số liệu thu thập được
1.3 Kinh nghiệm quản lý vận hành lưới điện của một số công ty vận hành điện trong nước
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý vận hành trong công tác truyền tải điện Thanh Hóa
Luôn luôn chủ động: Truyền tải điện Thanh Hoá có nhiệm vụ quản lý vận
hành lưới điện quốc gia 500 kV và 220 kV qua 18 huyện, thị trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Các tuyến đường dây hầu hết thuộc vùng đồi núi cao, rừng sâu, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển nên đơn vị gặp nhiều khó khăn trong việc vận hành, bảo vệ lưới điện
Để đảm bảo an toàn cho hệ thống truyền tải điện, các cán bộ công nhân viên của Truyền tải luôn bám tuyến, bám trạm, thực hiện đầy đủ quy trình, quy phạm kỹ thuật Đơn vị đã tổ chức 6 đội quản lý vận hành đường dây và trạm biến áp, bố trí
25 chốt gác dọc theo tuyến 500 kV để thường xuyên phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hiện tượng vi phạm gây ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống
Trang 33Lưới điện ngày càng phát triển, các thiết bị kỹ thuật ngày một hiện đại nên mỗi cá nhân trong Truyền tải luôn phấn đấu học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn và tay nghề để đáp ứng yêu cầu mới Đơn vị cũng chú trọng công tác đào tạo, phát động các phong trào thi đua lao động sản xuất, từ đó tạo nên một khí thế hăng say lao động và học tập trong toàn Truyền tải, góp phần nâng cao chất lượng công
tác quản lý vận hành lưới điện
Phát huy sức mạnh toàn xã hội: việc đảm bảo an toàn lưới điện lâu dài,
bền vững không chỉ là trách nhiệm hay sự nỗ lực của ngành Điện mà cần hơn rất nhiều sự phối hợp đồng bộ và hỗ trợ có hiệu quả của toàn xã hội Chính vì vậy, trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, đơn vị luôn coi công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ hệ thống truyền tải điện là nhiệm
vụ trọng tâm, xuyên suốt từng thời kỳ với phương châm phủ kín thông tin, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, hướng đến mục tiêu xã hội hoá công tác bảo vệ lưới điện quốc gia Trong những năm 1994 - 1998, ĐZ 500 kV mạch 1 mới được đưa vào vận hành nên hệ thống lưới điện còn rất mới lạ với người dân dọc tuyến
Do vậy, nhiệm vụ tuyên truyền thời kỳ này là cung cấp cho nhân dân những hiểu biết cơ bản về các quy phạm pháp luật liên quan đến hệ thống qua việc rải tờ rơi, ký cam kết, sao băng tuyên truyền, tổ chức hội thi, đưa các nội dung dưới hình thức sân khấu hoá về các làng, bản, Bằng những cách làm trên, người dân dọc tuyến đã có những hiểu biết cơ bản để tham gia bảo vệ hệ thống ĐZ 500 kV quốc gia
Tuy nhiên, đến giai đoạn 1999 - 2004, trước thực trạng xảy ra nhiều sự cố đường dây do cháy rừng, đốt nương rẫy xuất phát từ tập quán canh tác lâu đời của người dân dọc tuyến, Truyền tải điện Thanh Hoá được sự ủng hộ, tham gia nhiệt tình của cấp uỷ và chính quyền địa phương, đã tiến hành chuyển đổi hàng chục hécta mía sang trồng sắn, dứa Nhân dân đã cùng lực lượng quản lý vận hành chặt
hạ và vận chuyển khỏi hành lang lưới điện hàng nghìn m2 cây rừng hỗn tập, đảm bảo hành lang thông thoáng và loại trừ triệt để nguy cơ cháy nổ tuyến Nếu như
Trang 34trước đây, một năm có 4 - 5 lần sự cố ĐZ 500 kV thì sau khi thực hiện chuyển đổi cây trồng, sự cố do cháy nổ đã hoàn toàn được loại bỏ
Từ năm 2005 đến nay, ĐZ 500 kV mạch 2 được đưa vào vận hành, lưới 220
kV tiếp tục được phát triển mạnh, đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với công tác quản lý vận hành Phát huy kinh nghiệm từ công tác tuyên truyền trên lưới ĐZ 500
kV mạch 1, cùng với việc tăng cường chất lượng quản lý vận hành và bảo vệ lưới điện, Truyền tải điện Thanh Hoá đã phối hợp với Ban dân vận Tỉnh, Tỉnh đoàn Thanh Hoá tổ chức cuộc thi viết “Tìm hiểu về an toàn lưới truyền tải điện quốc gia” Ban tổ chức đã nhận được gần 120.000 bài viết của đông đảo các tầng lớp nhân dân tại 22 huyện (trong đó có 4 huyện phụ cận không có đường dây đi qua)
Từ đó cho thấy người dân luôn quan tâm nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao với công tác bảo vệ an toàn lưới điện quốc gia
Bên cạnh các biện pháp tuyên truyền, vận động tạo ra các phong trào quần chúng rộng khắp theo phương châm xã hội hoá công tác bảo vệ, Truyền tải điện Thanh Hoá luôn kết hợp chặt chẽ với chính quyền, lực lượng công an các cấp, lực lượng bảo vệ bán chuyên trách để xây dựng đội ngũ nòng cốt, đi đầu trong công tác đảm bảo an toàn cho các tuyến đường dây Cùng với CBCNV của đơn vị, trên tuyến đường dây 500 kV của Tỉnh có 250 bảo vệ viên là lực lượng tại chỗ thông thạo địa bàn, được chính quyền, công an các địa phương và Truyền tải điện Thanh Hoá tuyển chọn, huấn luyện nghiệp vụ cơ bản phục vụ công tác bảo vệ lưới điện Đây cũng chính là những tuyên truyền viên tích cực, là cánh tay đắc lực giúp Truyền tải điện và các cấp chính quyền địa phương thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ giữ vững ổn định tình hình an ninh trên tuyến đường dây
Với những nỗ lực không ngừng của đơn vị cũng như được sự ủng hộ nhiệt tình của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương, thời gian qua, lưới điện trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá luôn được vận hành thông suốt Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống như: Xuất hiện cục bộ ở một số điểm các hiện tượng vi phạm và tái vi phạm hành lang
do nhận thức, ý thức chấp hành của một bộ phận nhân dân chưa tốt; tình trạng mất
Trang 35tuyệt đối an toàn, việc phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan liên quan và nhân dân địa phương với Truyền tải phải chặt chẽ, phát huy hiệu quả cao hơn nữa, từ đó đưa hoạt động xã hội hoá công tác bảo vệ lưới điện quốc gia lên một bước tiến mới, phát huy sức mạnh của toàn dân, giữ cho dòng điện luôn toả sáng mọi miền Tổ quốc
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý vận hành trong phân phối điện từ Công ty Điện lực Sơn La
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Công ty Điện lực Sơn La từng bước cải tiến phương thức sản xuất kinh doanh, phục vụ; kiện toàn tổ chức gắn với đào tạo
và đào tạo lại, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực đội ngũ cán bộ, công nhân, gắn trách nhiệm của công nhân với công việc
Công ty Điện lực Sơn La đã đưa vào sử dụng, vận hành các thiết bị mới, hiện đại, thường xuyên kiểm tra mạng lưới điện, phát hiện và xử lý kịp thời nguy cơ gây
sự cố Đồng thời, đẩy mạnh phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong quản lý, vận hành an toàn lưới điện và giảm tổn thất điện năng; tập trung xây dựng mạng lưới điện đến các vùng kinh tế trọng điểm, vùng sâu, vùng xa và các khu tái định cư thủy điện Sơn La của tỉnh
Hiện nay, Công ty Điện lực Sơn La quản lý gần 3.000km đường dây trung thế, 2.700 km đường dây hạ thế và 1.263 trạm biến áp
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, Công ty thực hiện sắp xếp lao động theo mô hình chuyên sâu Chỉ đạo điện lực các huyện, thành phố lập kế hoạch, tổ chức tập huấn và diễn tập các phương án
xử lý sự cố cho cán bộ, công nhân; quản lý số lượng khách hàng; tăng cường kiểm tra, khảo sát, xác định công suất và thời gian hoạt động của từng loại thiết bị để áp giá đúng với mục đích, thực tế sử dụng điện của khách hàng Bố trí công nhân trực 24/24 giờ để xử lý và sửa chữa điện cho khách hàng khi có sự cố; hạn chế thấp nhất thời gian cắt điện và tránh cắt điện vào giờ cao điểm; lập các phương án kỹ thuật chi tiết để giảm sự cố và thời gian xử lý; phương án phòng chống lũ bão, phòng chống cháy nổ Công tác kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất sau sự cố hệ thống đường dây trung thế, hạ thế và các trạm biến áp thực hiện nghiêm túc, sự cố kỹ
Trang 36thuật được phát hiện, khắc phục kịp thời, bảo đảm các thiết bị hoạt động liên tục, an toàn Đồng thời, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn hệ thống điện trên địa bàn
Cùng với việc nâng cao chất lượng công tác quản lý, vận hành an toàn lưới điện, Công ty Điện lực Sơn La đã huy động mọi nguồn lực để đáp ứng nhiệm vụ cấp điện phục vụ công tác di dân tái định cư thủy điện Sơn La Công ty được UBND tỉnh giao làm chủ đầu tư 40 dự án cấp điện cho 40 khu, 102 điểm TĐC trên địa bàn 8 huyện, thành phố Đến nay, đã cơ bản cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất của bà con tái định cư trong tỉnh Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết 30A của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh bền vững, tỉnh ta đã xây dựng
Đề án hỗ trợ đầu tư lưới điện cho các xã vùng nông thôn của tỉnh giai đoạn
2009-2011, Công ty đã cam kết phối hợp với các ngành, địa phương khảo sát lập dự án,
sử dụng hiệu quả nguồn vốn, bảo đảm tiến độ xây dựng mạng lưới điện đến vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn của tỉnh
Không ngừng nâng cao chất lượng quản lý, vận hành lưới điện, cải tiến phương thức sản xuất kinh doanh, phục vụ, Công ty Điện lực Sơn La phấn đấu hoàn thành tiến độ dự án “Cung cấp điện lưới quốc gia cho đồng bào các dân tộc tỉnh Sơn La”
Trang 37CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN
HÀNH LƯỚI ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HÒA
Trang 382.1 Khái quát về Công ty điện lực Ứng Hòa
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Tên doanh nghiệp: Công ty điện lực Ứng Hòa
Địa chỉ: Số 105 Trần Đăng Ninh – TT Vân Đình – H.Ứng Hòa – TP Hà Nội Công ty điện lực Ứng Hòa là một doanh nghiệp nhà nước, là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ với Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội Công ty có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và được mở tài khoản tại ngân hàng và hoạt động theo sự phân cấp, uỷ quyền của Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội và Tập đoàn Điện lực Việt Nam Công ty điện lực Ứng Hòa đã có 32 năm phát triển với những mốc son đáng nhớ:
Công ty điện lực Ứng Hòa tiền thân là Chi nhánh điện Vân Đình được thành lập năm 1982 trực thuộc Sở phân phối điện Hà Sơn Bình, quản lý trên toàn bộ địa bàn huyện Ứng Hòa và huyện Mỹ Đức Năm 1997 sau khi chia tách Tỉnh Hà Sơn Bình thành tỉnh Hòa Bình và Hà Tây, chi nhánh trực thuộc Điện lực Hà Tây Năm
1999 chi nhánh được chia tách và đổi tên thành Chi nhánh điện Ứng Hòa, khu vực quản lý điện trên địa bàn huyện Ứng Hòa Tháng 8 năm 2008 sau khi có quyết định sát nhập tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội và giải thể Điện lực Hà Tây, chi nhánh được kiện toàn và trực thuộc Công ty điện lực TP.Hà Nội Tháng 04 năm 2010 Công ty điện lực TP.Hà Nội được nâng cấp thành Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội đồng thời Chi nhánh được nâng cấp và đổi tên thành Công ty điện lực Ứng Hòa
từ ngày 01/7/2010
2.1.2 Mô hình tổ chức của Công ty
Công ty điện lực Ứng Hòa là một đơn vị trực thuộc của Tổng Công ty điện lực Hà Nội, hoạt động dựa trên mô hình hỗn hợp trực tuyến - chức năng với các phòng, tổ chuyên môn nghiệp vụ và đội quản lý
* Mô hình tổ chức gồm:
Ban Giám đốc: 4 người, trong đó:
Giám đốc chịu trách nhiệm chung trong công tác hoạt động sản xuất kinh
Trang 39Phòng Kế hoạch và Vật tư, Đội kiểm tra giám sát sử dụng điện, các đội quản lý điện
1 – 9
Có 03 Phó giám đốc:
- Phó Giám đốc Kỹ thuật: chịu trách nhiệm công tác kỹ thuật vận hành và trực tiếp chỉ đạo Phòng Kỹ thuật, Phòng Điều độ vận hành, Đội kiểm tra giám sát sử dụng điện, các đội quản lý điện 1 – 9
- Phó Giám đốc Kinh doanh: chịu trách nhiệm công tác kinh doanh bán điện
và trực tiếp chỉ đạo: Phòng kinh doanh, Đội kiểm tra giám sát sử dụng điện, các đội quản lý điện 1 – 9
- Phó Giám đốc sản xuất: chịu trách nhiệm công tác sản xuất khác, công tác Công nghệ thông tin, trực tiếp chỉ đạo Đội đại tu xây lắp, các đội quản lý điện 1 – 9
Có 7 phòng ban, 1 tổ chuyên môn nghiệp vụ: Phòng Tổng hợp, Phòng Tài chính
kế toán, Phòng Kỹ thuật và an toàn; Phòng kế hoạch và vật tư, Phòng Kinh doanh điện năng, Phòng Điều độ vận hành, Phòng quản lý đầu tư
Có 11 đội quản lý: 9 Đội quản lý điện từ 1 – 9, Đội kiểm tra giám sát sử dụng điện, Đội đại tu xây lắp
* Sơ đồ tổ chức như sau: (Hình 2.1)
Trang 40GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KỸ THUẬT
PHÓ GIÁM ĐỐC KINH DOANH
PHÓ GIÁM ĐỐC SẢN XUẤT
PHÒNG
TỔNG HỢP
PHÒNG
KẾ HOẠCH
VÀ VẬT
TƯ
PHÒNG
KỸ THUẬT
VÀ AN TOÀN
PHÒNG KINH DOANH
PHÒNG ĐIỀU ĐỘ VẬN HÀNH
PHÒNG QUẢN
LÝ ĐẦU
TƯ
PHÒNG TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN
LÝ ĐIỆN
2
ĐỘI QUẢN
LÝ ĐIỆN
3
ĐỘI QUẢN
LÝ ĐIỆN
4
ĐỘI QUẢN
LÝ ĐIỆN
5
ĐỘI QUẢN
LÝ ĐIỆN
6
ĐỘI QUẢN
LÝ ĐIỆN
7
ĐỘI QUẢN
LÝ ĐIỆN
8
ĐỘI QUẢN
LÝ ĐIỆN
9
ĐỘI KIỂM TRA GIÁM SÁT SỬ DỤNG ĐIỆN
ĐỘI ĐẠI
TU XÂY LẮP