Tác giả phân tích thực trạng kết hợp với các nghiên cứu, lý luận, tư duy của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia quản lí quý hoạch đô thị cũng như kinh nghiệm bản thân, đồng nghiệp trong qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-*** -
QUÁCH CAO SƠN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-*** -
QUÁCH CAO SƠN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ HÒA BÌNH Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Đỗ Thành Phương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn:“ PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HÒA BÌNH” là sự nghiên cứu của riêng tôi với sự tham khảo từ một số giáo trình, tài liệu và
không sao chép từ bất kỳ luận văn hay tài liệu nào khác
QUÁCH CAO SƠN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân, bạn bè đồng nghiệp Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm việc
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn, Tiến sĩ Đỗ Thành Phương đã quan tâm và nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Viện Quản
lý Kinh tế của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Tôi xin trân trọng cảm ơn các giáo sư, tiến sĩ người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thành công trình này
QUÁCH CAO SƠN
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài: 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: 2
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: 2
5 Phạm vi, thời gian nghiên cứu: 3
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài: 3
CHƯƠNG I 4
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QHĐT VÀ QUẢN LÝ QHĐT TỪ PHÍA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản về quy hoạch đô thị và quản lý quy hoạch đô thị 4
1.1.1 Đô thị 4
1.1.2 Quản lý đô thị 4
1.1.3 Quy hoạch đô thị 5
1.1.4 Quy hoạch kinh tế - xã hội 5
1.1.5 Quy hoạch ngành 6
1.2 Công tác Quản lý QHĐT từ phía cơ quan nhà nước 8
1.2.1 Sự cần thiết quản lý quy hoạch đô thị từ phía cơ quan nhà nước 8
1.2.2 Nội dung chủ yếu về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị 8
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý QHĐT 15
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá đối với công tác quản lý quy hoạch đô thị 20
CHƯƠNG II 22
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH 22 2.1 Khái quát thực trạng đô thị, quản lý phát triển đô thị tại Việt Nam 22
Trang 62.1.1 Thực trạng đô thị Việt Nam 22
2.1.2 Thực trạng quản lý đô thị theo quy hoạch tại Việt Nam 24
2.1.3 Đánh giá công tác quản lý đô thị Việt Nam theo quy hoạch 27
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thành phố Hòa Bình dưới góc độ quy hoạch đô thị 29
2.2.1 Các điều kiện tự nhiên 29
2.2.2 Điều kiện tinh tế xã hội: 34
2.3 Phân tích công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị tại thành phố Hoà Bình 52
2.3.1Đánh giá khái quát công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị tại thành phố Hoà Bình 52
2.3.2 Phân tích công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị tại thành phố Hoà Bình theo nội dung hoạt động 54
2.3.3 Phân tích công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị tại thành phố Hoà Bình theo các yếu tố ảnh hưởng 69
2.4 Kết luận chương II 73
CHƯƠNG III 75
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH 75
3.1 Định hướng Chiến lược phát triển thành phố Hòa Bình 75
3.1.1 Tầm nhìn 75
3.1.2 Tính chất và chức năng của đô thị 75
3.1.3 Định hướng phát triển kinh tế xã hội thành phố Hòa Bình 76
3.2 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý quy hoạch đô thị thành phố Hòa Bình 78
3.2.1 Hoàn thiện thể chế 78
3.2.2 Cải cách công tác lập, thẩm định đồ án quy hoạch xây dựng 80
3.2.3 Chấn chỉnh công tác thực hiện quy hoạch đô thị 82
3.2.4 Tăng cường huy động vốn cho công tác quy hoạch 86
KẾT LUẬN 88
KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QHĐT : Quy hoạch đô thị QHXD : Quy hoạch xây dựng QLĐT : Quản lý đô thị UBND : Uỷ ban nhân dân HĐND : Hội đồng nhân dân QHC : Quy hoạch chung QHPK : Quy hoạch phân khu QHCT : Quy hoạch chi tiết
TW : Trung ương TDTT :Thể dục thể thao KCN : Khu công nghiệp TTCN : Tiểu thủ công nghiệp KTXH : Kinh tế xã hội
TP : Thành phố
Trang 8
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG:
Bảng 2-1 Dân số, mật độ dân số phân theo phường, xã .37
Bảng 2-2 Tổng hợp mật độ dân số phân theo Phường 39
Bảng 2-3 Thống kế tình hình sử dụng đất đai 42
Bảng 2-4 Phân bổ số lượng nhà 52
BIỂU ĐỒ: Biểu đồ 2-1.Tỷ lệ đô thị hoá thành phố Hoà Bình năm 2009 40
Biểu đồ 2-2 Dân số thành phố Hoà Bình từ 2001 đến 2009 41
HÌNH VẼ: Hình 1-1.Hệ thống chiến lược và quy hoạch phát triển 9
Hình 2 -1.Sơ đồ vị trí, mối liên hệ vùng tỉnh Hoà Bình 32
Hình 2-2 Địa giới hành chính thành phố Hoà Bình 32
Hình 2-3 Hiện trạng các dự án thành phố Hoà Bình 2009 60
Hình 2.4 So sánh đồ án QHC năm 2001 và QHC điều chỉnh 61
Trang 9phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 yêu cầu phải “đổi mới cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng và quản lý chặt chẽ quy hoạch phát triển đô thị” (tr 122
Văn kiện ĐH XI)
Việc đánh giá công tác quản lí quy hoạch đô thị là một trong những yếu
tố quan trọng nhằm quản lí được những vấn đề xã hội, đô thị trong quản lí nhà nước nhăm nâng cao những kĩ năng quản lí và hoạch định chính sách xã hội Với mục tiêu hướng tới xây dựng mô hình quản lí quy hoạch đô thị đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế, với những cán bộ nắm vững lí luận và thực tiễn hiện đại Tỉnh Hòa Bình và các cơ quan quản lí quy hoạch đô thị luôn đặt mối quan tâm hàng đầu để nâng cao công tác quản lí quy hoạch đô thị cho các cán bộ và đặc biệt cho sự phát triển chung của Tỉnh
Đó cũng là lý do Tác giả chọn đề tài “ PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT
SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HÒA BÌNH”
Trang 102 Mục đích của đề tài:
Đề tài nghiên cứu muốn hướng đến các mục đích:
- Nghiên cứu các lí luận quy hoạch và xem xét lại bối cảnh thực tiễn trong quá trình quản lí quy hoạch đô thị hiện này Góp phần làm rõ hơn các lý luận về Công tác quản lí quy hoạch đô thị của thành phố Hòa Bình nói riêng
và của Việt nam nói chung
- Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề tài nêu ra một số giải pháp nhằm hạn chế những vấn đề gặp phải trong công tác quản lí quy hoạch và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường chất lượng quản lý quy hoạch đô thị của thành phố Hoà Bình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu dựa trên thực trạng hoạt động quản lí quy hoạch đô thị của thành phố Hoà Bình
Tác giả phân tích thực trạng kết hợp với các nghiên cứu, lý luận, tư duy của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia quản lí quý hoạch đô thị cũng như kinh nghiệm bản thân, đồng nghiệp trong quá trình tham gia hoạt động trong lĩnh vực quản lí nhà nước để đưa ra các ý kiến, nhận định, giải pháp, nhằm đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực trong hoạt động quản lí đô thị nói chung và hoạt động công tác quản lí quy hoạch đô thị của thành phố Hoà Bình nói riêng Qua việc nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến các bất cập trong công tác quản lí quy hoạch đô thị, tác giả mong muốn những suy nghĩ, những gì mình học hỏi và các giải pháp đề xuất được sẽ giúp ích cho công việc thực tế,
từ đó góp phần nâng cao mức độ hiệu quả trong hoạt động công tác quản lí
quy hoạch đô thị thành phố Hoà Bình Hòa Bình
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Các Văn bản, tài liệu báo cáo, bản đồ quy hoạch xây dựng, các dự án, công trình xây dựng trên địa bàn thành phố
Trang 115 Phạm vi, thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế công tác lập vả tổ chức quản lí quy hoạch đô thị trong thời gian 5 năm qua (2009-2014) tại Thành phố Hòa Bình,
từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lí quy hoạch đô thị
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
* Phương pháp hồi cứu
Sưu tầm, tra cứu thu thập và chọn lọc thông tin có liên quan đến đề tài; các văn bản pháp luật quy định về công tác quản lý quy hoạch đô thị, các báo cáo chuyên ngành, các công trình nghiên cứu và các tài liệu có liên quan
* Phương pháp chuyên gia
Tham vấn ý kiến của các chuyên gia đầu ngành về quản lý quy hoạch
đô thị phân tích số liệu và đề xuất các giải pháp
* Phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê
Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về công tác quản lí quy hoạch đô thị tại Phòng Quản lý đô thị thành phố Hoà Bình, Sở Xây dựng Tỉnh Hòa Bình để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động công tác quản lí quy hoạch
đô thị, tìm hiểu các nguyên nhân và đưa ra giải pháp
Trang 12Chương I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QHĐT VÀ QUẢN LÝ QHĐT TỪ PHÍA
CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
1.1 Một số khái niệm cơ bản về quy hoạch đô thị và quản lý quy hoạch đô thị
1.1.1 Đô thị
- Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [1]
Mỗi đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, thậm chí là trung tâm của một quốc gia Chẳng hạn như thành phố Hà Nội là trung tâm tổng hợp ( kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng….) của cả nước; thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của khu vực miền Tây Nam Bộ
Quản lý đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng trên cơ sở của nhiều khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống chính sách, cơ chế, biện
Trang 13pháp và phương tiện được chính quyền nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện quản lý và kiểm sát quá trình tăng trưởng đô thị
Nội dung công tác quản lý đô thị gồm 6 nhóm như sau:
- Quản lý đất và nhà đô thị
- Quản lý quy hoạch xây dựng đô thị
- Quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Quản lý môi trường đô thị
- Quản lý hạ tầng xã hội đô thị
- Quản lý kinh tế, tài chính đô thị
Các nhóm chức năng này lại có những quan hệ mật thiết với nhau trong mọi hoạt động kinh tế xã hội ở đô thị
1.1.3 Quy hoạch đô thị
Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.[Luật Quy hoạch đô thị]
Ngày nay quy hoạch xây dựng đô thị không được tiến hành một cách riêng biệt, không đơn thuần là hoạt động chuyên môn mà là một bộ phận của quản lý đô thị Quy hoạch đô thị liên quan tới việc chuẩn bị cho tương lai gần cũng như tương lai lâu dài Để có được một thành phố theo khung cảnh của những ý tưởng quy hoạch đô thị thì bản than công tác quy hoạch phải tham gia là thành viên chính thức và tích cực của quản lý đô thị Quy hoạch có trách nhiệm với sự phát triển ngay từ những công việc thường ngày của quản
lý đô thị
1.1.4 Quy hoạch kinh tế - xã hội
Quy hoạch kinh tế xã hội xác định các mục tiêu, quy mô và cơ cấu các ngành kinh tế, các lĩnh vực xã hội, các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội, các
Trang 14chương trình và kế hoạch thực hiện Thực chất của quy hoạch kinh tế xã hội của một địa phương là chiến lược kinh tế - xã hội của địa phương đó Quy hoạch kinh tế - xã hội có quan hệ mật thiết với quy hoạch đô thị Quy hoạch
đô thị được lập trên cơ sở các mục tiêu, các chỉ tiêu được xác định ngay trong quy hoạch kinh tế xã hội Đồng thời quy hoạch đô thị lại là cơ sở để xây dựng các chương trình kế hoạch và dự án thực hiện các mục tiêu quy hoạch kinh tế
xã hội
Trong quá trính lập và tổ chức thực hiện, nếu hai loại quy hoạch này không gắn kết với nhau thì sẽ dẫn đến mất tính khả thi cho cả hai Theo phương pháp quy hoạch tổng thể, quy hoạch kinh tế xã hội được coi là một bộ phận của quy hoạch đô thị, là phần nghiên cứu các luận chứng khoa học của quy hoạch đô thị
Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn việc lập, thẩm định và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội lãnh thổ [12]
Bộ Xây dựng hướng dẫn việc lập, thẩm định và quản lý quy hoạch xây dựng, [13]
1.1.5 Quy hoạch ngành
Mỗi ngành kinh tế, kỹ thuật, xã hội trong đô thị có mục tiêu và định hướng phát triển riêng, vừa phải đáp ứng các nhu cầu của đô thị, vừa phải đáp ứng các yêu cầu của ngành trong phạm vi rộng lớn hơn Ví dụ quy hoạch ngành giáo dục đào tạo, vừa bảo đảm nhu cầu học tập của nhân dân đô thị, vừa thực hiện các chỉ tiêu phát triển giáo dục đào tạo chung của cả nước
Quy hoạch ( hay chiến lược) các ngành kinh tế - xã hội quốc gia là cơ
sở để lập quy hoạch ngành trong đô thị và lập quy hoạch đô thị Các dữ liệu từ quy hoạch ngành là các dữ liệu cơ bản để lập quy hoạch đô thị
Ví dụ quy hoạch hệ thống đào tạo đại học sẽ xác định quy mô, tính chất các trường đại học ở các đô thị, từ đó quy hoạch đô thị xác định địa điểm và
Trang 15nhu cầu sử dụng đất để xây dựng trường Trong trường hợp chưa có quy hoạch các ngành kinh tế, kỹ thuật ( như thời gian qua), quy hoạch đô thị phải
dự liệu nhu cầu của các ngành trên địa bàn như giao thông, thuỷ lợi, đường sắt… và quy hoạch dự trữ đất cho các công trình này Việc dành đất, giữ đất
để phát triển các ngành trong khi các ngành chưa có kế hoạch thực hiện đã dẫn đến tình trạng “quy hoạch treo” Theo dư luận xã hội, “quy hoạch treo” là các đồ án quy hoạch được duyệt nhưng không biết bao giờ mới thực hiện Trong khi đó việc xây dựng trong phạm vi ranh giới quy hoạch bị hạn chế hoặc cấm Hiện tượng quy hoạch treo làm ảnh hưởng xấu đến quyền lợi và đời sống của các hộ dân có lien quan và chỉ có thể khắc phục khi các ngành
có kế hoạch phát triển ngành và có kinh phí thực hiện
Hình 1-1 Hệ thống chiến lược và quy hoạch phát triển
Chiến lược phát triển ngành
Quy hoạch kinh tế xã hội đô thị
Quy hoạch xây dựng vùng
Quy hoạch chung đô thị Quy hoạch phân khu Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị Chiến lược phát triển đô thị quốc gia
Trang 161.2 Công tác Quản lý QHĐT từ phía cơ quan nhà nước
1.2.1 Sự cần thiết quản lý quy hoạch đô thị từ phía cơ quan nhà nước
Dân số đô thị luôn luôn tăng cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Dân số tăng tạo nên động lực phát triển đồng thời cũng gây nguy cơ mất cân bằng đô thị Tuy nhiên không thể ngăng được việc gia tăng dân số đô thị mà chỉ có thể chủ động phát triển kinh tế, phát trieend đô thị để đáp ứng nhu cầu gia tăng đó Biện pháp hang đầu để giữ đô thị phát triển trong sự ổn định và bền vững là định hướng sự tăng trưởng đó bằng quy hoạch đô thị Hiện nay từ “ quy hoạch” được dung phổ bieend trong nhiều ngành lĩnh vực, nhiều khi có sự nhầm lẫn trong cách hiểu giữa quy hoạch và kế hoạch Quy hoạch là sự bố trí sắp xếp công việc theo không gian, kế hoạch là
sự bố trí sắp xếp công việc theo thời gian
Nhiệm vụ của quy hoạch xây dựng đô thị là cụ thể hóa chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đô thị, của mạng lưới đô thị, của quốc gia theo chiến lược đã được hoạch định nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững Đồ
án quy hoạch đô thị được duyệt là cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng đô thị Quy hoạch đô thị là một công cụ để đảm bảo sự phát triển ổn định, cân đối, hài hòa giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế và tạo điều kiện phát triển toàn diện các lĩnh vực của đô thị
1.2.2 Nội dung chủ yếu về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị
Lập và ban hành các văn bản pháp quy về quản lý quy hoạch xây dựng
đô thị:
Lập và xét duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị
Quản lý xây dựng và cải tạo công trình theo quy hoạch
Bảo vệ môi trương và cảnh quan đô thị
Quản lý khai thác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Trang 171.2.2.1 Lập và ban hành các văn bản pháp quy về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị:
- Ban hành các chính sách về quản lý đô thị
- Ban hành bản đồ về quy hoạch xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật
- Ban hành các sơ đồ tổng hợp hệ thống công trình ngầm
- Ban hành quy hoạch chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng trên các đường phố chính ở đô thị vv
1.2.2.2 Lập và xét duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị
Việc xây dựng hoặc cải tạo đô thị căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm quy hoạch chung cho toàn bộ phạm vi đất đai, lập quy hoạch xây dựng phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đó quyết định
- Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị phải do các tổ chức chuyên môn được Nhà nước công nhận lập ra và phải tuân theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép sử dụng
- Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị được duyệt là cơ sở pháp lý để quản
lý đô thị, tiến hành công tác đầu tư xây dựng, lập các kế hoạch cải tạo, xây dựng hang năm, ngắn hạn và dài hạn thuộc các ngành và địa phương
- Các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị được thể chế hóa, cần phải phổ biến công khai cho dân chúng được biết, theo dõi và thực hiện
Trang 18- Trong quá trình thực hiện cần được xem xét điều chỉnh đồ án quy hoạch xây dựng đô thị cho phù hợp với thực tế phát triển đô thị và phải được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đồ án điều chỉnh đó
- Đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị cần xác định phương hướng phát triển không gian đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tạo lập môi trường sống thích hợp, có xét đến sự cân đối hài hòa giữa việc mở rộng đô thị với sản xuất nông lập nghiệp, đảm bảo an ninh quốc phòng và các hoạt động kinh tế khác, với việc bảo tồn các di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên
- Đồ án quy hoạch chung phải được định hướng phát triển đô thị trong vòng 15 đến 20 năm và quy hoạch xây dựng đợt đầu 5 đến 10 năm Đồ án quy hoạch chung phải có ý kiến của HĐND thành phố và các ngành có lien quan trước khi trình duyệt cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Đồ án quy hoạch chi tiết được lập trên cơ sở bản đồ địa chính, địa hình tỉ lệ 1/500 của đô thị nhằm cụ thể hóa và tuân theo các quy định của đồ
án quy hoạch chung Đồ án quy hoạch chi tiết được lập đồng bộ cho từng khu vực của đô thị có yêu cầu cải tạo và xây dựng trong giai đoạn trước mắt và là căn cứ để lập các dự án đầu tư, lựa chọn xét duyệt địa điểm và cấp chứng chỉ quy hoạch, quyết định giao đất và cấp giấy phép xây dựng
1.2.2.3 Quản lý xây dựng và cải tạo công trình theo quy hoạch
Các công trình trong đô thị bao gồm các công trình trên mặt đất, công trình ngầm hoặc trên không, kể cả các công trình điêu khắc, áp phích, biển quảng cáo đều phải được thiết kế xây dựng theo quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, dự án đầu tư và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quản lý công việc cải tạo và xây dựng công trình trong đô thị được thực hiện từ việc lựa chọn địa điểm xây dựng và lập chứng chỉ quy hoạch để hướng dẫn sử dụng đất đô thị đến việc cấp giấy phép xây dựng hoặc ra quyết định đình chỉ việc xây dựng, cải tạo các công trình trong đô thị Hướng dẫn
Trang 19việc cải tạo và xây dựng công trình Đăng ký cấp GCN quyền sở hữu công trình Điều tra, thống kê và lưu trữ hồ sơ các công trình trong đô thị
- Chủ đầu tư khi lập dự án khả thi hoặc thiết kế xây dựng công trình trong đô thị phải xin cơ quan quản lý quy hoạch giới thiệu địa điểm xây dựng Khi địa điểm xây dựng đã được xác định, Sở Xây dựng hoặc UBND thành phố cấp Chứng chỉ quy hoạch theo đề nghị của Chủ đầu tư
- Sau khi dự án đầu tư được phê duyệt, Chủ đầu tư làm các thủ tục nhận đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy phép xây dựng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Việc cấp giấy phép cải tạo và xây dựng phải căn cứ vào giấy tờ hợp pháp về quyền sử đụng đất và sở hữu công trình, đảm bảo các điều kiện tối thiểu về vệ sinh, các yêu cầu về kiến trúc đô thị, các tiêu chuẩn, các quy phạm
về quy hoạch đô thị và các quy định về xây dựng đô thị
- Có một số trường hợp được miễn cấp giấy phép xây dựng hoặc phá dỡ ( công trình an ninh, quốc phòng) [9]
- Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phải xem xét đầy đủ mọi thủ tục về hồ sơ xong mới tiến hành cấp giấy phép
- Thẩm quyền cấp giấy phép: Sở Xây dựng cấp giấy phép các công trình trong đô thị theo sự ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh, đối với các công trình riêng lẻ quy mô nhỏ do UBND thành phố cấp
- Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cần làm đúng trình tự của hồ sơ
và đúng quy định về thời gian xem xét giải quyết cấp giấy phép xây dựng
- Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung quy định trong giấy phép xây dựng Khi khởi công xây dựng chủ đầu tư phải thong báo cho UBND phường, xã sở tại biết để theo dõi quá trình thi công cho đúng với giấy phép xây dựng
Trang 20- Việc xây dựng duy tu sửa chữa công trình không được gây tổn hai đến các công trình khác đồng thời có biện pháp đảm bảo giao thong ở khu vực thi công và an toàn trên đường phố
- Việc xây dựng các công trình ngầm dưới các tuyến đường phố chính của đô thị phải được tiến hành đồng bộ, khởi công xây dựng cùng một lycs và phải kết thúc trước khi xây dựng các công trình trên mặt đất
- Sau khi cải tạo hoặc xây dựng công trình, chủ đầu tư phải lập hồ sơ hoàn công theo quy định của Nhà nước và gửi cho các cơ quan có thẩm quyền lưu trữ Sau đó chủ đầu tư đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.2.2.4 Bảo vệ môi trương và cảnh quan đô thị
Cảnh quan đô thị bao gồm cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan nhân tạo
- Người lãnh đạo cơ quan chuyên môn về xây dựng được tỉnh ( thành phố) ủy quyền Giám đốc Sở Xây dựng chịu trách nhiệm trong việc cải tạo và xây dựng các công trình trong đô thị về mỹ quan, yêu cầu sử dụng, độ bền vững và phải kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, giữ gin các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử
- Các tổ chức và cá nhân sử dụng công trình kiến trúc phải giữ gìn, duy
tu chỉnh thể kiến trúc công trình và trồng cây xanh cho phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị đã được duyệt
- UBND các đô thị phải đảm bảo cho các đường phố, quảng trường, nhà ga, vườn hoa, công viên, cầu cống, hầm ngầm được chiếu sang và có tên gọi cho các công trình đó Các công trình kiến trúc phải có sổ đăng ký theo quy định của nhà nước để quản lý
- Việc bố trí xây dựng các loại biển thong tin, quảng cáo, tranh tượng ngoài trời của các tổ chức và cá nhân có ảnh hưởng đến bộ mặt kiến trúc đô
Trang 21thị và mỹ quan đường phố phải có giấy phép lưu hành của Sở Văn hóa và giấy phép xây dựng của cơ quan có thẩm quyền
- Các loại cây xanh tiếp cận mặt phố chính đều phải trồng theo quy hoạch hoặc cắt bỏ để đảm bảo yêu cầu sử dụng và mỹ quan đô thị, cải tạo vi khí hậu, vệ sinh môi trường và không làm hư hỏng các công trình hạ tầng kỹ thuật dưới đất cũng như trên không Việc chặt hạ cây xanh ở đô thị phải được
cơ quan quản lý đô thị có thẩm quyền cho phép
- Nghiêm cấm việc đào bới, san lấp mặt bằng, khai thác khoáng sản làm biến dạng địa hình và cảnh quan ở những khu vực bảo vệ thiên nhiên danh lam thắng cảnh, các hồ chứa nước và mặt thoáng trong đô thị đã được quy hoạch ( trừ trường hợp đặc biệt đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép) Việc lập và xét duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị, các dự án đầu tư xây dựng các công trình trong đô thị phải xét tới tính hợp lý về địa điểm xây dựng và cần đánh giá tác động môi trường Các đồ án quy hoạch, các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường và được sự đồng ý của cơ quan quản lý môi trường nhà nước cấp có thẩm quyền khi xét duyệt
- Các tổ chức, cá nhân đang quản lý sử dụng các công trình có chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường đô thị phải có biện pháp xử lý để làm sạch trước khi thải ra công trình xử lý chung của đô thị, đồng thời phải đăng ký với
cơ quan quản lý môi trường về các chất thải và biện pháp xử lý chất thải để cơ quan kiểm soát môi trường của nhà nước cấp có thẩm quyền giải quyết cấp giấy phép được tiếp tục sử dụng hoặc đình chỉ hoạt động để di chuyển đi nơi khác
- UBND đô thị giao cho tổ chức chuyên trách thu gom và xử lý chất thải rắn trong công nghiệp và sinh hoạt, làm dịch vụ xử lý chất thải rắn tại các khu vực phù hợp với quy hoạch
Trang 22- Tại các nơi ở và khu vực công cộng như chợ, nhà ga, cửa hang, bến
xe, quảng trường, nhà hát… các tổ dân phố, ban quản lý các công trình đó phải tổ chức công tác vệ sinh môi trường, niêm yết nội dung giữ gìn vệ sinh,
bố trí khu vệ sinh công cộng, nới chứa rác, bãi gửi xe, đảm bảo an toàn giao thông
- Trong khi thi công công trình chủ đầu tư và đơn vị thi công cần thực hiện các quy tắc trật tự vệ sinh, an toàn, có biện pháp che chắn, chống rác bụi
và đảm bảo an toàn cho dân cư và công trình lân cận Khi thi công cần có biện pháp giảm tiếng ồn và khử chất độc hại nếu có Kết thúc quá trình thi công thì chủ công trình và đơn vị thi công cẩn thu dọn mặt bằng trả lại vệ sinh và mỹ quan đô thị
1.2.2.5 Quản lý khai thác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: Giao thông, cấp nước, thoát nước, vệ sinh môi trường, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, thông tin lien lạc và các công trình ngầm khác v.v
Nội dung quản lý Nhà nước về cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị gồm có:
- Lập và lưu trữ hồ sơ thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công và hồ sơ hoàn công cần được làm theo đúng các quy phạm, quy định hiện hành của Nhà nước đồng thời được lưu trữ tại các nơi theo quy định để có điều kiện khai thác, duy tu, bảo dưỡng hay sửa chữa cải tạo công trình
- Ký kết các hợp đồng sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật với các tổ chức,
cá nhân có nhu cầu như điện sinh hoạt, điện, đường, cấp nước, thoát nước, xử
lý rác thải
- Hướng dẫn việc thực hiện chế độ khai thác và sử dụng công trình theo đúng quy định của nhà nước, xử lý các vi phạm về chế độ sử dụng công trình theo đúng quy định của Nhà nước, xử lý các vi phạm về chế độ sử dụng và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Các tổ chức, cá nhân sử
Trang 23dụng và khai tác các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải chấp hành các quy định về chế độ sử dụng đối với từng loại công trình và sự phối hợp đồng bộ giữa các loại công trình Không lấn chiếm đất công cộng đã dành để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Việc sửa chữa cải tạo các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải có những quy định cụ thể và phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép cho phép
1.2.2.6 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Nội dung thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định quản lý quy hoạch xây dựng đô thị là phát hiện các vi phạm về quy hoạch xây dựng ở đô thị mà trong thực tế thường xảy ra như:
- Phát hiện và xử lý các trường hợp cấp giấy phép không đúng thẩm quyền
- Phát hiện các đơn vị thi công không cí tư cách pháp nhân hoặc không đúng tư cách pháp nhân
- Phát hiện các hành vi xây dựng, phá dỡ công trình không có giấy phép hoặc sai phép
- Phát hiện các vi phạm bảo vệ cảnh quan môi trường sống đô thị
- Phát hiện các vi phạm về sử dụng và khai thác công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị như điện, nước…
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý QHĐT
1.2.3.1 Thể chế thực hiện QHXD đô thị được duyệt
Việc thực hiện các đồ án QHXD đô thị được phê duyệt phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống các thể chế được thiết lập Căn cứ vào thể chế chung, sự cần thiết phải thiết lập thể chế thực hiện riêng cho mỗi đồ án QHXD, trong
đó có thể chế cung cấp thông tin, thể chế xây dựng và cải tạo, thể chế kiểm
Trang 24soát phát triển và thể chế khai thác sử dụng cơ sở vật chất đô thị, giữ vai trò đặc biệt quan trọng
Trong việc xây dựng thể chế, cần lưu ý thị trường là động lực quyết định sự phát triển của đô thị
1.2.3.2 Năng lực của chính quyền đô thị
Năng lực của chính quyền đô thị quyết định đến quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, vai trò của chính quyền là rất quan trọng: Là người chủ trì, người tạo điều kiện và người tổ chức thực hiện mọi hoạt động cải tạo và xây dựng đô thị
Năng lực của chính quyền đô thị được khẳng định khi làm tốt bốn chức năng sau:
- Chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và các chính sách
- Chức năng tạo môi trường pháp lý và cơ chế chính sách để phát huy các nguồn lực xã hội cho sự phát triển đô thị, đồng thời tạo được trật tự, kỷ cương trong quá trình kiểm soát phát triển đô thị
- Chức năng hỗ trợ phát triển, xây dựng và cung cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, và kỹ thuật quan trọng và hệ thống an ninh xã hội
- Chức năng đảm bảo sự phát triển bền vững của đô thị và tính tích cực của các cân đối vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường
1.2.3.3 Công tác lập, xét duyệt và thực hiện các đồ án QHXD đô thị,
Kết quả của việc triển khai thực hiện các quy hoạch phụ thuộc vào chất lượng của các quy hoạch đã được phê duyệt Nói khác đi, các quy hoạch được lập và phê duyệt phải thực sự có tính khoa học, có mục tiêu và giải pháp mang tính khả thi Muốn vậy, phải nâng cao năng lực và chất lượng của
Trang 25công tác lập và thẩm định quy hoạch trước khi phê duyệt, bảo đảm các mục tiêu quy hoạch trở thành hiện thực
Thẩm định quy hoạch, xét một cách tổng quát là việc kiểm tra, đánh giá
hồ sơ quy hoạch trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Bản quy hoạch có chất lượng phải đáp ứng được ba yêu cầu cơ bản sau: (1) Bảo đảm tính pháp lý; (2) Bảo đảm tính đầy đủ về nội dung; (3) Bảo đảm tính khả thi
và hiệu quả
Tính pháp lý của quy hoạch được phê duyệt thể hiện ở cơ sở luật pháp
của việc lập, trình duyệt và nội dung quy hoạch Bất kỳ một quy hoạch nào cũng phải do các cơ quan có trách nhiệm tổ chức xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật Tính pháp lý còn chứa đựng trong từng phần nội dung, từ quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển đến các giải pháp thực hiện quy hoạch, cũng như các cơ sở dữ liệu, tài liệu sử dụng cho việc phân tích, đánh giá, lập quy hoạch
Tính đầy đủ về nội dung có nghĩa là bản quy hoạch phải có mục tiêu,
nguồn lực thực hiện, giải pháp rõ ràng Nội dung quy hoạch được phê duyệt phải bảo đảm đúng, đủ, có căn cứ khoa học và thực tế, phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam
Tính khả thi của một bản quy hoạch được thể hiện ở hai khía cạnh: tính
hiện thực và tính hiệu quả Tính hiện thực là những nội dung đưa ra trong quy hoạch (mục tiêu, nguồn lực, giải pháp) phải sát với tình hình, bối cảnh thực tế,
có thể thực hiện được Tính hiệu quả là phải bảo đảm các đề xuất, giải pháp thực hiện được lựa chọn tối ưu nhất
Công tác lập và thẩm định quy hoạch là thực hiện nhiệm vụ xây dựng, kiểm tra, đánh giá báo cáo quy hoạch trình duyệt theo các yêu cầu nói trên Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý, các tổ chức tư vấn, cả người lập quy hoạch lẫn người thẩm định quy hoạch, phải có đủ năng lực cần thiết để thực
Trang 26hiện Công việc này phải thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ, trong đó nhiệm
vụ trọng yếu là:
- Điều tra, khảo sát thông tin kinh tế - xã hội liên quan, nhất là các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội (đất đai, tài nguyên khoáng sản, lao động, tài chính ), điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, môi trường), kết cấu hạ tầng (giao thông, liên lạc, viễn thông ) Đây là vấn đề cần rất nhiều thông tin chuẩn xác từ các nguồn khác nhau, phải tốn kém thời gian và công sức điều tra, khảo sát, thu thập, tổng hợp, phân tích trong quá trình lập và thẩm định quy hoạch
- Xác định quan điểm và mô hình phát triển tổng thể kinh tế - xã hội cho vùng lãnh thổ, ngành, lĩnh vực trong thời kỳ quy hoạch Đây là những vấn
đề mang tính chiến lược, có tầm nhìn xa, dài hạn, có ảnh hưởng quyết định đến định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và không gian kinh tế
- Dự báo các yếu tố và điều kiện phát triển trong phạm vi quy hoạch Tính lâu dài của quy hoạch đòi hỏi phải dự báo tất cả các yếu tố trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội của ngành hay vùng lãnh thổ Việc này không những đòi hỏi lượng thông tin, cơ sở dữ liệu đầy đủ và chuẩn xác, mà còn phải lựa chọn phương pháp, mô hình dự báo thích hợp
- Nghiên cứu, đề xuất các định hướng phát triển ngành và lĩnh vực kinh
tế Trong các báo cáo quy hoạch phải đưa ra định hướng phát triển cho các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội (nông - lâm - ngư nghiệp; công nghiệp; thương mại; du lịch; giáo dục - đào tạo; y tế; văn hóa; hệ thống chính trị ), các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, mạng lưới điện, cấp nước ) Nội dung này không những đòi hỏi phải phù hợp với quan điểm chung, mà còn phải đưa ra được các chỉ tiêu (định lượng) phát triển cụ thể của từng ngành, lĩnh vực Về mặt phương pháp luận, cần có sự gắn kết giữa các mô hình phát triển tổng thể với phương án phát triển, cũng
Trang 27như nhu cầu nguồn lực cho từng ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ theo các giai đoạn quy hoạch
- Nghiên cứu các giải pháp thực hiện quy hoạch Đây là nội dung cần được xem xét một cách toàn diện, hệ thống và đồng bộ, phải bảo đảm huy động và sử dụng tốt nhất tiềm lực ngành, lĩnh vực hay vùng lãnh thổ và của cả đất nước Vấn đề này cũng được xem xét từ nhiều mặt: thể chế (luật pháp, chính sách, chế độ); nguồn lực (vốn, tài nguyên, nhân sự…); khoa học - công nghệ, tổ chức quản lý, kinh tế đối ngoại
1.2.3.4 Nguồn vốn và nguồn lực
Vốn và lực là phương tiện để thực hiện các quy hoạch đô thị được duyệt Tuy nhiên vốn và lực chỉ có thể huy động được khi đầu tư mang lại hiệu quả mà hiệu quả của đầu tư lại do thị trường quyết định
Vai trò của Nhà nước là có định hướng tốt, có hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị ưu việt và có hệ thống các chính sách cởi mở có khả năng thu hút được các nguồn vốn và nguồn lực xây dựng đô thị
Vai trò của các nhà đầu tư là tìm kiếm nguồn vốn và nguồn lực khi quyết định tham gia thực hiện quy hoach xây dựng đô thị
1.2.3.5 Vai trò của cộng đồng và sự tham dự của dân cư
Sự nghiệp cải tạo và xây dựng đô thị là của dân, do dân và vì dân Một khi vai trò của cộng đồng và sự tham dự của dân cư được coi trọng thì công tác quản lý nhà nước sẽ được phát huy hiệu lực
Vai trò của cộng đồng và sự tham gia của dân cư được phát huy trong tất cả các giai đoạn; Lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị; cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng đô thị; tổ chức cải tạo và xây dựng đô thị; khai thác và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, môi trường đô thị
Một đồ án quy hoạch tốt phải thể hiện được sự mong muốn của người dân hay nói cách khác là đồ án quy hoạch đó đáp ứng được những yêu cầu mà
Trang 28người dân cho là cần thiết Cách tốt nhất để có được một đồ án quy hoạch như vậy là phải đảm bảo sự tham gia trực tiếp của người dân vào quá trình quy hoạch Tuy nhiên quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng đỏi hỏi phải hết sức thận trọng bởi lợi ích của những nhóm người khác nhau sẽ có những mục tiêu tham gia khác nhau.[7]
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá đối với công tác quản lý quy hoạch đô thị
Để đánh giá công tác quản lý quy hoạch đô thị cần xem xét trên các cơ
sở sau:
1.2.4.1 Định hướng, chiến lược phát triển
- Đã cụ thể hoá Định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia và các quy hoạch vùng liên quan chưa; Có phù hợp với mục tiêu của chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh không; Có bảo đảm tính thống nhất với quy hoạch phát triển các ngành trong phạm vi đô thị; bảo đảm công khai, minh bạch và kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân hay không
1.2.4.2 Tính dự báo
- Dự báo khoa học có đáp ứng được yêu cầu thực tế và phù hợp với xu thế phát triển của đô thị; tuân thủ quy chuẩn về quy hoạch đô thị và quy chuẩn khác có liên quan hay không
1.2.4.3 Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên
- Có Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả đất đô thị nhằm tạo ra nguồn lực phát triển đô thị, tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững không
1.2.4.4 Bảo vệ Môi trường
- Có quan tâm đến Bảo vệ môi trường, phòng ngừa hiểm hoạ ảnh hưởng đến cộng đồng, cải thiện cảnh quan, bảo tồn các di tích văn hoá, lịch sử
Trang 29và nét đặc trưng địa phương thông qua việc đánh giá môi trường chiến lược trong quá trình lập quy hoạch đô thị hay không
1.2.4.5 Khả năng đáp ứng nhu cầu Nhà ở, hạ tầng xẫ hội
- Đã Đáp ứng nhu cầu sử dụng nhà ở, công trình y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, thương mại, công viên, cây xanh, mặt nước và công trình hạ tầng xã hội khác cho đô thị hay chưa
1.4.7 Tính thống nhất giữa QCH và QHCT
- Chất lượng hồ sơ đồ án QHC và QHCT có bảo đảm tính đồng bộ về không gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị và không gian ngầm; phát triển hài hoà giữa các khu vực trong đô thị không
1.4.8 Quản lý trật tự xây dựng
- Quản lý trật tự xây dựng trong đô thị có tốt không
Trang 30Chương II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
2.1 Khái quát thực trạng đô thị, quản lý phát triển đô thị tại Việt Nam
2.1.1 Thực trạng đô thị Việt Nam
Bước vào Thế kỷ XXI, tỷ lệ đô thị hóa của nước ta là 24,2% (năm 2000), sau 12 năm tỷ lệ đó đã tăng lên đến hơn 32% (năm 2012) Dân số đô thị tương ứng là 18,7 triệu người tăng lên đến hơn 30 triệu người, bình quân mỗi năm tăng thêm 1 triệu người dân đô thị! Số đô thị cũng tăng nhanh, cuối năm 2011 có 731 đô thị nhưng đến cuối năm 2012 đã tăng thêm 34 đô thị mới, đưa tổng số đô thị lên 765 đô thị (2 loại đặc biệt, 13 loại 1, 10 loại 2, 53 loại 3, 62 loại 4, 625 loại 5), với nhịp độ tăng gần 3 đô thị mới mỗi tháng! Đô thị đóng góp khoảng 70% GDP quốc gia [14]
Không chỉ dân số đô thị tăng nhanh mà số lượng khách vãng lai trong nước và quốc tế đến các đô thị lớn và đô thị du lịch cũng tăng nhiều
Thực ra dân số đô thị hiện nay được thống kê thấp hơn thực tế vì chưa bao gồm số dân phi nông nghiệp hiện sinh sống dọc theo các trục đường bộ trên khắp cả nước, tạo ra hiện tượng đô thị hóa phi chính thức
Theo dự báo của Bộ Xây dựng thì đến năm 2015 sẽ có 870 đô thị với số dân 35 triệu (tỷ lệ đô thị hóa 38%), còn đến năm 2025 sẽ có 1000 đô thị với
số dân 52 triệu (tỷ lệ đô thị hóa 50%)
Tiến vào Thế kỷ XXI, hệ thống đô thị Việt Nam phát triển ngày càng mạnh mẽ, phân bố tương đối đồng đều trên cả nước, đồng thời hình thành hai Vùng đô thị Hà Nội và TP Hồ Chí Minh làm hạt nhân tăng trưởng cho hai Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam Đà Nẵng và Cần thơ nổi lên
Trang 31thành trung tâm Vùng Nhiều đô thị du lịch trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước như Hạ Long, Huế, Hội An, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu Đô thị đã góp phần quan trọng đưa nước ta thoát khỏi ngưỡng nghèo để trở thành nước
có thu nhập trung bình thấp Diện mạo đô thị đang dần dần khởi sắc Hệ thống
hạ tầng đô thi được cải thiện nhiều, nhất là đường sá, cầu vượt sông, cấp nước, cấp điện và chiếu sáng công cộng Nhiều khu đô thị mới được xây dựng Nhìn chung, các thành tựu của quá trình đô thị hóa Việt Nam gắn liền với những chuyển biến mạnh mẽ trên các mặt hành chính, không gian, kinh
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng mức độ chênh lệch giàu nghèo tăng;
- Tình hình trật tự trị an đang xấu đi
Các mặt yếu kém kể trên đã tác động xấu đến chất lượng cuộc sống của người dân và môi trường kinh doanh trong đô thị, ảnh hưởng không tốt đến năng lực cạnh tranh quốc gia
Trang 32Tình trạng của đô thị còn nhiều yếu kém như đã nói trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra
- Nguyên nhân khách quan là hậu quả chiến tranh và cơ chế bao cấp trước đây chậm được khắc phục; quá trình đô thị hóa nhanh, toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu toàn cầu đặt ra nhiều thách thức cho quản lý đô thị;
- Nguyên nhân chủ quan bao gồm: thiếu tầm nhìn chiến lược; thể chế hành chính và thị trường chậm được đổi mới; ít chú trọng nghiên cứu lý luận
và học tập kinh nghiệm quốc tế; coi nhẹ khâu tổng kết để rút ra các bài học thực tiễn; tình trạng kém minh bạch của bộ máy quản lý đô thị
2.1.2 Thực trạng quản lý đô thị theo quy hoạch tại Việt Nam
Trong thời kỳ chuyển tiếp sang Thế kỷ XXI, thực tiễn phát triển đô thị nước ta cũng như các nước khác chứng tỏ phương pháp quy hoạch đô thị truyền thống cùng với thể chế và năng lực quản lý yếu kém của chính quyền
đô thị thường dẫn đến sự cách biệt khá lớn giữa đồ án quy hoach với thực tiễn phát triển đô thị Tư duy quy hoạch dựa trên chủ nghĩa công năng đầu thế kỷ
XX khiến giao thông đô thị căng thẳng, vai trò của khu thương mại trung tâm
bị giảm sút, đường phố bị bài xích, bản sắc đô thị bị coi nhẹ Các biến động kinh tế-xã hội, khoa học-công nghệ và khí hậu-môi trường diễn ra khá nhanh
và khó lường trong bối cảnh toàn cầu hóa khiến các dự báo phát triển đô thị dài hạn tới 20-25 năm khó sát với thực tế, vì vậy nếu không được điều chỉnh thường xuyên thì quy hoạch khó có thể được thực hiện suôn sẻ
Trong một nghiên cứu công phu gần đây, các chuyên gia quy hoạch đô thị nước Pháp nhận xét rằng khoảng cách giữa quy hoạch và thực tiễn tại Việt Nam thể hiện ra trên các mặt sau:
- Quy mô dân số trong quy hoạch khác với thực tế;
- Nhà đầu tư không tuân thủ giấy phép xây dựng, nhiều nhà xây cao vượt giấy phép; tình trạng xây dựng không phép;
Trang 33- Quy hoạch ban đầu của các dự án lớn không được tuân thủ, hạ tầng không được xây dựng theo quy hoạch (đường xá);
- Tình trạng xây dựng tự phát (không có hạ tầng) ở ven nội và ven khu công nghiệp, không quan tâm đến đất lúa và ngập lụt;
- Nhiều công trình có giá trị di sản (như biệt thự) bị phá dỡ
Nguyên nhân tình trạng nói trên được cho là:
- Thiếu sự đồng thuận xã hội và “hợp đồng xã hội” về lợi ích công cộng
và sự tuân thủ quy định của chính quyền;
- Công chúng thiếu tin tưởng vào quyết định của chính quyền vì chúng
có tính áp đặt;
- Quyền sử dụng đất và quyền tài sản cũng như quá trình xin cấp phép xây dựng không được đảm bảo chắc chắn;
- Không đảm bảo chắc chắn về kỳ hạn hoàn thành công trình hạ tầng;
- Tình trạng thiếu minh bạch về giá BĐS đã cản trở việc xây dựng các chính sách dựa trên dữ liệu thực tế;
- Quá trình quy hoạch tương đối phức tạp, gắn chặt với mục tiêu, dù rằng đã có đổi mới và áp dụng cơ chế thị trường; các quyết định đưa ra lẻ tẻ vì thiếu chiến lược và các ưu tiên;
- Thiếu sự phối hợp và hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, giữa cấp thành phố và cấp quận, giữa khu vực công và khu vực tư nhân
Còn theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thì quy hoạch đô thị ở Việt Nam bất kể nhìn từ khía cạnh phương pháp luận, lý luận và thực tiễn đều đang được tập trung hóa cao, khiến cho sản phẩm quy hoạch nhanh chóng bị lỗi thời, cách tiếp cận chủ yếu từ trên xuống theo kiểu áp đặt, sự phối hợp liên ngành rất hạn chế và phương pháp luận quy hoạch lạc hậu trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 34Trong một nghiên cứu khác của D Albrect, H Hocquard và P Papin sau khi xem xét quá trình đô thị hóa và các dịch vụ công cộng địa phương ở Việt Nam, các tác tác giả đưa ra kết luận:
- Các nhu cầu to lớn đòi hỏi một khung quản lý đảm bảo hơn;
- Các phương tiện tài chính cần được tăng cường;
- Công tác trị lý cấp tỉnh và cấp đô thị cần được cải thiện;
- Cần có sự minh bạch lớn hơn
Theo phân tích của một nhóm chuyên gia Ngân hàng Thế Giới trong
báo cáo Đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam công bố gần như đồng thời với
nghiên cứu của các chuyên gia Pháp thì sự phát triển hệ thống đô thị Việt Nam gắn với 5 chuyển biến về: Hành chính; Không gian; Kinh tế; Dân số; Phúc lợi Các chuyên gia này đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu nhưng để đảm bảo tính bền vững trong tăng trưởng, cần chuyển đổi
từ phát triển dựa vào lao động chi phí thấp và khai thác tài nguyên thiên nhiên sang chú trọng nhiều hơn đến tăng năng suất và áp dụng tiến bộ công nghệ, đồng thời tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô Họ nhận xét “quy hoạch và quản lý
đô thị ở Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các nguyên tắc thiết kế tĩnh” và đề xuất “Việt Nam nên xem xét việc bổ sung công tác quy hoạch tổng thể bằng các cập nhật quy hoạch chiến lược thường xuyên hơn và các chiến lược quản
lý thích ứng, dựa trên các số liệu kinh tế-xã hội hiện tại và các xu hướng thị trường thực tế nhằm hỗ trợ và dẫn dắt quá trình phát triển theo định hướng thiết kế” Từ đó các chuyên gia xác định một số chủ đề mà các nhà làm chính sách cần chú ý hơn, bao gồm:
- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng có vai trò thiết yếu trong việc phát triển và duy trì khả năng cạnh tranh của các vùng kinh tế mạnh nhất nước Giảm chi phí vận tải ở các vùng này là ưu tiên lớn;
Trang 35- Quy hoạch đô thị phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động và lưu thông linh hoạt của các thị trường nhà đất; cập nhật quy hoạch chiến lược thường xuyên hơn;
- Phát triển mạng lưới giao thông công cộng là rất cần thiết và là thách thức lớn;
- Đất đai cần có khả năng thích ứng với những mục đích sử dụng khác nhau theo nhu cầu thị trường về mật độ và phát triển đất; cần tăng cường tính minh bạch, hiệu quả và bình đẳng trên thị trường sử dụng đất;
- Tăng khả năng tiếp cận một số ngành dịch vụ chủ chốt, cải thiện tính bền vững tài chính của các dịch vụ đó
2.1.3 Đánh giá công tác quản lý đô thị Việt Nam theo quy hoạch
Sau hơn hai mươi năm Đổi mới, đô thị Việt Nam đã có nhiều biến đổi mạnh mẽ, trở thành các trung tâm tăng trưởng cho nền kinh tế đất nước, nhưng cũng đang gặp phải nhiều thách thức to lớn
Kết quả đánh giá tóm lược thực trạng quản lý phát triển đô thị Việt Nam theo Phân tích như sau:
2.1.3.1Mặt mạnh:
- Tất cả đô thị từ loại 4 trở lên và phần lớn đô thị loại 5 đều đã có quy hoạch tổng thể;
- Khung pháp lý quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đã hình thành
về đại thể ( Luật Đất đai, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Bảo vệ môi trường, cùng với các văn bản dưới luật có liên quan của Chính phủ và cấp tỉnh);
- Vai trò của thị trường trong phát triển đô thị , nhất là thị trường bất động sản, ngày càng trở nên quan trọng;
Trang 362.1.3.2 Mặt yếu kém:
- Phát triển đô thị chưa được kiểm soát đúng mức theo quy hoạch và kế hoạch; đô thị thiên về phát triển theo bề rộng, xem nhẹ chất lượng; hệ thống
hạ tầng thiếu đồng bộ và thường bị quá tải;
- Quy hoạch đô thị tách rời quy hoạch nông thôn; xây dựng tại ngoại thành không được kiểm soát; hiện tượng đô thị hóa lan tỏa tự phát ven các tuyến đường bộ đã trở thành tai họa rất khó khắc phục;
- Năng lực quy hoạch và thực hiện quy hoạch đô thị trong kinh tế thị trường có nhiều lúng túng, chậm đổi mới, chấp pháp không nghiêm; bộ máy chính quyền đô thị nặng nề, kém tính chuyên nghiệp, còn thể chế quản lý thì không khác gì mấy với khu vực nông thôn;
- Quản lý đất đô thị có nhiều yếu kém Giá đất đô thị tăng nhanh làm cho chi phí đầu tư phát triển đô thị trở nên quá đắt đỏ; đất đai hiện có chưa được khai thác đầy đủ đã vội mở rộng địa giới nội thành, nội thị; nguồn tài chính đất đai bị sử dụng lãng phí và thiếu minh bạch
Cơ hội
- Chiến lược phát triển KTXH 2011-2020 đưa ra quan điểm phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt, và chỉ đạo tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 45%, hạn chế tác hại thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng Một trong 3 đột phá chiến lược
là xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn Chính phủ đã ban hành chiến lược phát triển bền vững và chiến lược tăng trưởng xanh;
- Quá trình chuyển đổi đô thị của Việt Nam trùng khớp với sự chuyển đổi lớn trong quan điểm toàn cầu về phát triển đô thị Định hướng phát triển
đô thị bền vững ở nước ta được nhiều tổ chức phát triển quốc tế quan tâm giúp đỡ;
Trang 37- Nền kinh tế quốc dân tăng trưởng chậm lại tạo sức ép phải đổi mới phương thức quản lý phát triển đô thị
Thách thức
- Tư duy phát triển đô thị, lý luận quy hoạch đô thị, thể chế và năng lực quản lý đô thị chưa theo kịp yêu cầu của thời đại và đổi mới kịp thời để thích ứng và phát huy được tác dụng của thị trường, hướng tới tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh đô thị trong bối cảnh toàn cầu hóa;
- Vai trò các đô thị trong ba vùng kinh tế trọng điểm cần được nâng cao hơn nữa Hai Vùng đô thị lớn Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cần được quy hoạch và xây dựng thể chế phối hợp quản lý thích hợp;
- Khắc phục tình trạng quan liêu, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền đô thị, kiên quyết chống lãng phí, thất thoát
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thành phố Hòa Bình dưới góc độ quy hoạch đô thị
2.2.1.1 Vị trí địa lý:
Thành phố Hòa Bình cách Thủ đô Hà Nội 73 km và được giới hạn như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Phía Nam giáp huỵên Cao Phong, tỉnh Hòa Bình
- Phía Tây giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
- Phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn và huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Trang 38Hình 2 -1 Sơ đồ vị trí, mối liên hệ vùng tỉnh Hoà Bình
Hình 2 -2 Địa giới hành chính thành phố Hoà Bình
Trang 392.2.1.2 Địa hình:
Thành phố Hoà Bình có địa hình thung lũng nằm hai bên bờ sông Đà, xung quanh là đồi và núi bao bọc Sông Đà chảy giữa chia thành phố Hoà Bình thành hai bờ: Bờ Phải và Bờ Trái đều có địa hình thung lũng sông lẫn địa hình núi, cụ thể:
* Địa hình khu Bờ Phải
- Vùng thung lũng sông: nằm sát sông Đà có địa hình bằng phẳng, thấp, cao độ nền từ 20-23m Khu vực phía Đông Bờ Phải có cao độ nền trung bình
từ 17-18m
- Vùng núi: nằm phía Tây Bờ Phải có địa hình là các dãy đồi kế tiếp nhau cao độ thấp nhất từ 30 - 60m, lớn nhất là 500m Địa hình có hướng dốc
từ Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc với độ dốc khoảng 0,4%-10%
+ Khu vực Trung Minh (sát nhập vào thành phố theo QĐ số 31/NQ-CP, ngày 14 tháng 07 năm 2009 của Chính phủ) có địa hình là 1 thung lũng thấp hẹp, bên phải là dãy núi có cao độ từ 50 - 150m, bên trái là đường QL6 cũ có cao độ >= 23m ở giữa là khu vực ruộng có cao độ từ 18 - 24m
* Địa hình khu Bờ Trái
- Vùng thung lũng sông: nằm sát sông Đà có địa hình bằng phẳng, thấp, cao độ nền từ 22-27m Khu vực ao, ruộng, hồ có cao độ từ 18-22m
- Vùng núi: nằm phía Tây Bờ Trái có địa hình là các dãy đồi kế tiếp nhau cao độ thấp nhất 30m, lớn nhất 320m Địa hình có hướng dốc từ Tây xuống Bắc với độ dốc khoảng 0,8%-10%
+ Khu vực Yên Mông có địa hình phần lớn là đồi núi, hướng dốc từ Tây sang Đông Khu vực phía Tây có cao độ nền từ 18-20m, đường TL434 chạy qua có cao độ ≥ 21,5m
Trang 40là mùa ít mưa
* Độ ẩm:
Đây là vùng ẩm ướt nhất so với toàn quốc Độ ẩm trung bình 82,6%, độ
ẩm cực đại là 85,8% vào tháng 8, độ ẩm cực tiểu là 80,4% vào tháng 12
* Các yếu tố khác :
- Số giờ nắng (giờ/năm): 1703,95 giờ
- Hướng gió chủ đạo là gió Đông Nam; gió mùa Đông Bắc bình quân từ 1,6-1,9m/s; ngoài ra thành phố Hoà Bình còn chịu ảnh hưởng của gió Lào Tốc độ gió trung bình năm (m/s): 1,6-1,8 m/s
- Bão từ tháng 7-9 Khi có bão thường có gió cấp 7 đến cấp 10 Trung bình 1 năm có thể có 3 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực Bão chủ yếu gây ra mưa to úng ngập diện rộng