Đầu tư phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, nă
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
TRẦN QUANG SÂM
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH CỦA HUYỆN THANH BA , TỈNH PHÚ THỌ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
3-39
Trang 31.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NSNN 29-39
Trang 41.4.7 Nghiệm thu và thanh quyết toán 38-39
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TỪ
VỐN NS CỦA HUYỆN THANH BA
40-89
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN
THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
40-43
2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG THỜI
GIAN 2005 - 2009
43-47
2.3 PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA HUYỆN THANH BA
47-87
Trang 52.3.2.7 Nghiệm thu và thanh quyết toán 72-74
2.3.3.Phân tích công tác quản lý ĐTPT từ NSNN của huyện theo các yếu tố
ảnh hưởng
82-88
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
LÝ ĐTPT TỪ VỐN NSNN CỦA HUYỆN THANH BA
88-107
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
HUYỆN THANH BA GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
3.3.1 Định hướng chung các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các dự án
đầu tư của huyện
89-90
3.3.2 Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư
phát triển từ nguồn ngân sách huyện
90-104
3.3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác tư vấn trong lập báo cáo đầu tư, lập dự án
đầu tư, thẩm định đầu tư
93-94
Trang 63.3.2.8 Tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ làm công tác quản lý
đầu tư, quản lý tài chính đầu tư
98-99
3.3.2.9 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra sử dụng vốn đầu tư
trong XDCB
99
3.3.2.10 Thực hiện tốt công tác giám sát cộng đồng và công khai tài chính
trong đầu tư XDCB
99-100
Trang 7Trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, tôi
đã được các thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy, truyền tải kiến thức, kinh nghiệm quản lý rất thiết thực bổ ích cho hoạt động nghiên cứu và công tác thực tiễn của bản thân
Tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thành Phương người tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin được cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Thanh Ba đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu do khả năng và trình độ còn hạn chế nên bản luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mong nhận được
sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo, để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Người thực hiện
Trần Quang Sâm
Trang 8Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, được trích dẫn
và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố và các trang web…
Tôi xin cam đoan các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu từ thực tiễn
Người thực hiện
Trần Quang Sâm
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Đầu tư phát triển là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững cho một đất nước cũng như trong từng địa phương
Thời gian vừa qua cùng với cả nước, huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ đã có nhiều cố gắng và thu được một số kết quả trong lĩnh vực đầu tư phát triển Việc quản lý dự án theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, thực hiện quy chế đấu thầu
đã có tiến bộ Nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành và từng bước phát huy hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Song đến nay so với mặt bằng chung của cả nước, Thanh Ba là huyện có điểm xuất phát và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thấp Tổng ngân sách dành cho đầu tư phát triển rất nhỏ, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn hạn chế Bởi vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển luôn thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ đang trong tiến trình đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng GDP ngày một cao và bền vững, nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng tụt hậu về kinh tế Đặt ra nhu cầu đầu tư phát triển rất lớn, trong khi các nguồn lực nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước còn hạn hẹp
Vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước càng là vấn đề cấp thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế
đó, tôi đã chọn vấn đề: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công
tác quản lý đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách của huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ” làm đề tài tốt nghiệp Sinh viên mong mỏi có thể đóng góp một
phần nhỏ bé hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, đồng thời, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của huyện
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
2.1 Đánh giá thực trạng đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách huyện
Trang 112.2 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ nhằm đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn tới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đầu
tư, quản lý đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển Phương hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ và các giải pháp quản lý đầu tư xây dựng liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào lĩnh vực đầu tư phát triển bằng vốn ngân
sách Nhà nước tại huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua (2005 – 2013) và giai đoạn tới đến năm 2015
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích
và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương
để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đầu tư và quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Chương 2: Phân tích thực trạng sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách của huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
1.1 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư và các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư 1.1.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong tương lai
Không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc của vốn … mọi hoạt động
có các đặc trưng nêu trên đều được coi là hoạt động đầu tư
Đầu tư trên góc độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế
Đầu tư phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra
cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh mới, thông qua việc mua sắm lắp đặt thiết bị, máy móc xây dựng nhà cửa vật kiến trúc và tiến hành các công việc
có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các cơ sở vật chất kỹ thuật do hoạt động đầu tư phát triển tạo ra
Đầu tư phát triển là một nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội,
là chìa khoá để tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nhằm tạo ra thế và lực đưa nền kinh tế cả nước cũng như mỗi địa phương phát triển và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
Do vậy, đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược vừa là một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững Bất kỳ quốc gia nào muốn có tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện đều phải quan tâm đến đầu tư phát triển
Để đầu tư phát triển ngày một đáp ứng yêu cầu về quy mô và hiệu quả, vấn
đề hết sức quan trọng là phải giải quyết được nhu cầu về vốn đầu tư và các định chế
về sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
Trang 131.1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
- Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường là và trước hết là quyết
định việc sử dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dưới các hình thức khác nhau như tiền, đất đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị trí tuệ …
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi Dưới các hình thức khác nhau nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư thường được xem xét từ phương diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn, có khả năng thực hiện không, có khả năng thu hồi được không, mức sinh lợi là bao nhiêu …) Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế, xã hội) nhưng không khả thi về phương diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên thực tế
- Là hoạt động có tính chất lâu dài
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài Do tính lâu dài nên mọi sự trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố Chính điều này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án
- Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai
Đầu tư trên một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực để dành),
vì vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai Rõ ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện nay họ tạm thời phải hy sinh (không tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác)
- Là hoạt động mang nặng rủi ro
Các đặc trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời gian dài không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản
Trang 14năng của nhà đầu tư Tuy nhiên nhận thức rõ điều này nên nhà đầu tư cũng có những cánh thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế khả năng rủi ro để sự sai khác so với dự tính là ít nhất
1.1.2 Chi phí và kết quả đầu tư
1.1.2.1 Chi phí đầu tư
Một cách chung nhất, mọi nguồn lực (tiền vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản, lao động, trí tuệ…) được sử dụng cho hoạt động đầu tư (bao gồm việc tạo ra TSCĐ, phương tiện và các điều kiện để đảm bảo hoạt động bình thường)
Theo tính chất của các loại chi phí có thể chia ra 2 loại chính:
+ Chi phí đầu tư cố định: Đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, các cơ sở phụ trợ, tiện ích khác và các chi phí trước vận hành
Phần chi phí trước vận hành tuy không trực tiếp tạo ra tài sản, phương tiện phục vụ cho hoạt động đầu tư nhưng là các chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư Các chi phí này thường gồm các khoản sau:
- Chi phí cho công tác chuẩn bị ban đầu, phát hiện dự án: Điều tra, khảo sát
để lập, trình duyệt dự án …
- Chi phí cho tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện dự án …
- Chi phí quản lý dự án
- Chi phí chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật (đào tạo, huấn luyện …)
- Các chi phí tài chính: Các khoản chi phí phát sinh từ việc sử dụng vốn như lãi vay trong thời gian xây dựng, phí thu xếp tài chính, phí cam kết, phí bảo lãnh
+ Vốn lưu động ban đầu: Là các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầu, các điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh
tế kỹ thuật dự tính Vốn lưu động ban đầu gồm các khoản sau:
- Dự trữ sản xuất (vật tư, vật liệu, nhiên liệu … cho một chu kỳ sản xuất kể
cả dự trữ bảo hiểm cần thiết)
- Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho
Trang 15- Các khoản thuộc quỹ tiền mặt
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng dự án mà có thể hoặc không có;
có nhiều hoặc ít nhu cầu về vốn lưu động ban đầu
1.1.2.2 Kết quả đầu tư
Kết quả đầu tư là những biểu hiện của mục tiêu đầu tư dưới dạng các lợi ích
cụ thể Kết quả đầu tư có thể biểu hiện ở các dạng sau:
- Kết quả tài chính: là các lợi ích về tài chính thu nhận được từ dự án biểu hiện bằng giá trị theo giá thị trường
- Kết quả kinh tế: là các lợi ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị tính theo giá kinh tế
- Kết quả xã hội: Kết quả biểu hiện dưới dạng các lợi ích xã hội (trình độ dân trí, khả năng phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường sống …) Kết quả xã hội biểu hiện khá phong phú và thường không thể đo lường một cách rõ ràng
1.1.3 DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHÂN LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.3.1 Khái niệm
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo
dự án đã được soạn thảo với chất lượng tốt
Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)
Nói một cách ngắn gọn, dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.3.2 Phân loại dự án đầu tư
Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư tuỳ theo mục đích và phạm vi xem xét
Ở đây chỉ nêu cách phân loại liên quan tới yêu cầu công tác lập, thẩm định và quản
lý dự án đầu tư trong hệ thống văn bản pháp quy, các tài liệu quản lý hiện hành:
Trang 16- Theo nguồn vốn: Theo nguồn vốn có thể chia dự án thành dự án đầu tư
bằng vốn ngân sách Nhà nước; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh; vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác; dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn hốn hợp …
- Theo luật chi phối: Dự án được chia ra thành dự án đầu tư theo Luật Đầu
tư; theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI) …
- Theo hình thức đầu tư: Tự đầu tư, Liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh
doanh, BOT, BTO, BT …
- Theo các hình thức thực hiện đầu tư: Xây dựng, Mua sắm, Thuê …
- Theo lĩnh vực đầu tư: Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển cơ sở
hạ tầng, văn hoá xã hội …
- Phân loại theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
+ Đối với đầu tư trong nước chia làm 4 loại: Dự án quan trong cấp quốc gia
do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng
+ Đối với dự án đầu tư nước ngoài, gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp cho các địa phương
1.1.4 CHU KỲ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.4.1 Khái niệm chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư
Nội dung các bước công việc của mỗi giai đoạn của các dự án không giống nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư (sản xuất kinh doanh hay kết cấu hạ tầng, sản xuất công nghiệp hay nông nghiệp …), vào tính chất tái sản xuất (đầu tư chiều rộng hay chiều sâu), đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, …
Trang 17Hình 1.1 Chu kỳ của dự án đầu tư
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp
Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết
Lậ
Nghiên cứu cơ hội Nghiên cứu khả thi
Nghiên cứu cơ hội (Nhận dạng dự án)
Nghiên cứu khả thi
Vận hành, khai thác
Đánh giá sau dự án
Kết thúc dự án
KHAI THÁC , VẬN HÀNH
Xây dựng
Trang 18định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là ở giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cứu
Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 – 15% vốn đầu tư của dự án Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt 85 - 99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần thiết khác …) điều này cũng tạo
cơ sở cho quá trình hoạt động của dự án thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư
và có lãi (đối với các dự án sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến (đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội)
Trong giai đoạn 2, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả Ở giai đoạn này, 85
- 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra và nằm đọng trong suốt những năm thực hiện đầu tư Đây là những năm vốn không sinh lời Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn Lại thêm những tổn thất do thời tiết gây ra đối với vật tư, thiết bị chưa hoặc đang được thi công, đối với các công trình đang được xây dựng dở dang
Đến lượt mình, thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình thực hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư
Giai đoạn 3, vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động của các kết quả đầu tư Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư Thời gian phát huy tác dụng của các kết
Trang 19quả đầu tư chính là vòng đời (kinh tế) của dự án, nó gắn với đời sống sản phẩm (do
dự án tạo ra)
1.1.4.2 Nghiên cứu cơ hội đầu tư (Nhận dạng dự án, xác định dự án)
Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng, nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư
Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư
Đây là những ý tưởng ban đầu được hình thành trên cơ sở cảm tính trực quan của nhà đầu tư hoặc trên cơ sở quy hoạch định hướng của vùng, của khu vực hay của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thường giai đoạn này kết thúc bằng một kế hoạch mang tính chất chỉ đạo về hướng đầu tư và hình thành tổ chức nghiên cứu
Cần phân biệt 2 loại cơ hội đầu tư tuỳ thuộc vào phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư và phân cấp quản lý đầu tư Đó là:
+ Cơ hội đầu tư chung cho đất nước, cho địa phương, cho ngành kinh tế - kỹ thuật hoặc cho một loại tài nguyên thiên nhiên của đất nước Chẳng hạn như cơ hội đầu
tư phát triển du lịch của nước ta; cơ hội đầu tư để khai thác dầu mỏ và khí đốt của nước
ta, cơ hội đầu tư trồng và chế biến các sản phẩm từ cà phê của các tỉnh khu vực Tây Nguyên nước ta …
Đối với loại cơ hội đầu tư này, thường có nhiều dự án Chẳng hạn các dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng cho các khu du lịch, xây dựng khách sạn để thu hút khách du lịch …
+ Cơ hội đầu tư cụ thể cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Trong trường hợp này, mỗi cơ hội đầu tư thường sẽ có một dự án đầu tư
Khi nghiên cứu để phát hiện các cơ hội đầu tư phải xuất phát từ những căn cứ sau đây:
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của ngành, của cơ sở Đây là những định hướng lâu dài cho sự phát triển của đất nước và của các cơ sở Mọi công cuộc đầu tư không xuất phát từ những căn cứ này sẽ không có tương lai và tất nhiên sẽ không được chấp nhận
Trang 20- Nhu cầu trong nước và trên thế giới về những mặt hàng hoặc những hoạt động dịch vụ cụ thể Đây là nhân tố quyết định sự hình thành và hoạt động của các
dự án đầu tư Không có nhu cầu thì sự hoạt động của các dự án không để làm gì mà chỉ dẫn đến sự lãng phí tiền của và công sức xã hội, ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành và hoạt động của các dự án có nhu cầu Nhu cầu ở đây trong điều kiện nền kinh tế mở, bao gồm cả nhu cầu trong nước và nhu cầu thế giới, trong đó nhu cầu trong phạm vi thế giới lớn hơn rất nhiều so với nhu cầu trong nước Trong hoạt động đầu tư luôn chú ý tận dụng mọi cơ hội để tham gia vào phân công lao động quốc tế, để có thị trường ở nước ngoài
- Tình hình cung cấp những mặt hàng hoặc hoạt động dịch vụ trên đây ở trong nước và trên thế giới còn chỗ trống cho để dự án chiếm lĩnh trong một thời gian dài Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất nhiên Tuy nhiên, ở những lĩnh vực hoạt động cung chưa đáp ứng cầu thì sự cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm và tiến hành các hoạt động dịch vụ không là vấn đề phải quan tâm nhiều Do đó, tìm chỗ trống trên thị trường để tiến hành các hoạt động đầu
tư sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với các cơ sở khác Điều này cho phép giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng năng suất lao động, nhanh chóng thu hồi đủ vốn đã bỏ ra
Một điều cần lưu ý là do vốn chi cho một công cuộc đầu tư phát triển thường rất lớn, các thành quả của công cuộc đầu tư cần và phải hoạt động trong một thời gian dài mới thu hồi đủ vốn đã bỏ ra Vì vậy, “chỗ trống” trong thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án đầu tư cũng phải tồn tại trong một thời gian dài đủ để dự án hoạt động hết đời và chủ đầu tư tiêu thụ hết sản phẩm của dự án
- Tiềm năng sẵn có cần và có thể khai thác về vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động
để thực hiện dự án của đất nước, của địa phương, của ngành, hoặc của các cơ sở Những lợi thế so sánh nếu thực hiện đầu tư so với nước khác, địa phương khác hoặc cơ sở khác
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có lợi thế so sánh sẽ đảm bảo khả năng thắng đối thủ cạnh tranh rất nhiều Vì vậy, khi dự kiến tiến hành các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, không thể không chú ý đến vấn đề
Trang 21lợi thế so sánh Nếu tự nó không có lợi thế so sánh (tài nguyên thuộc loại khan hiếm, lao động vào loại có giá rẻ, vị trí rất thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm …) thì phải dự kiến phương án tạo ra lợi thế so sánh như đầu tư sang các nước khác có nhiều lợi thế so sánh hơn trong nước hoặc ở nước dự kiến ban đầu sẽ đầu tư (không
bị đánh thuế xuất khẩu hàng hoá của dự án, nhập khẩu thiết bị của dự án - chứ không phải để bán kiếm lời - khai thác tài nguyên khan hiếm …) hoặc đề ra các biện pháp để tạo lợi thế so sánh như sử dụng vật liệu mới, vật liệu khai thác tại chỗ để giảm chi phí đầu vào, tận dụng lao động dư thừa giá rẻ của địa phương (một phần hoặc toàn bộ thời gian lao động của họ) để khai thác nguyên vật liệu tại chỗ vừa làm giảm chi phí công nhân vừa giảm chi phí vận chuyển các đầu vào thường xuyên
- Những kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư Đây là tiêu chuẩn tổng hợp để đánh giá tính khả thi của toàn bộ dự án đầu tư Những kết quả và hiệu quả này phải lớn hơn hoặc chí ít cũng phải bằng nếu đầu tư vào dự án khác hoặc bằng định mức thì cơ hội đầu tư mới được chấp nhận để chuyển tiếp sang giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi hoặc khả thi
1.1.4.3 Nghiên cứu tiền khả thi
Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã được lựa chọn có quy mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu,
có nhiều yếu tố bất định tác động Bước này nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn, nhằm tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư (đã được xác định ở cấp độ ngành, vùng hoặc cả nước) hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không
Đối với các cơ hội đầu tư quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt kỹ thuật và triển vọng đem lại hiệu quả rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi
Nội dung nghiên cứu tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau đây:
+ Các bối cảnh chung về kinh tế, xã hội, pháp luật có ảnh hưởng đến dự án
+ Nghiên cứu thị trường
+ Nghiên cứu kỹ thuật
+ Nghiên cứu về tổ chức và nhân sự
Trang 22+ Nghiên cứu về tài chính
+ Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội
Những nội dung này cũng được xem xét ở giai đoạn nghiên cứu khả thi sau này Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết, xem xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình mọi đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật, tài chính kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành kết quả đầu tư Do đó độ chính xác chưa cao
Đối với các khoản chi phí nhỏ có thể tính nhanh chóng Chẳng hạn dự tính vốn lưu động cho một chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp bằng cách chia tổng doanh thu bình quân năm cho số chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp trong năm Đối với chi phí bảo hiểm, thuế: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với doanh thu, chi phí lắp đặt thiết bị: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị công trình hoặc thiết bị (các tỷ lệ này khác nhau đối với các dự án khác nhau) Đối với các chi phí đầu tư lớn như giá trị công trình xây dựng, giá trị thiết bị và công nghệ … phải tính toán chi tiết hơn
Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu tiền khả thi là luận chứng tiền khả thi Nội dung của luận chứng tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau:
- Giới thiệu chung về cơ hội đầu tư theo các nội dung nghiên cứu tiền khả thi ở trên
- Chứng minh cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đến mức có thể quyết định cho đầu tư Các thông tin đưa ra để chứng minh phải đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư
- Những khía cạnh gây khó khăn cho thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả của đầu tư sau này đòi hỏi phải tổ chức nghiên cứu chức năng hoặc nghiên cứu hỗ trợ
Nội dung nghiên cứu hỗ trợ đối với các dự án khác nhau, thường khác nhau tuỳ thuộc vào những đặc điểm về mặt kỹ thuật của dự án, về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm do dự án cung cấp, về tình hình phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật trong nước
và trên thế giới Chẳng hạn đối với các dự án có quy mô sản xuất lớn thời hạn thu hồi vốn lâu, sản phẩm do dự án cung cấp sẽ phải cạnh tranh trên thị trường thì việc nghiên cứu hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất cần thiết để từ đó khẳng định lại quy mô của dự án và thời gian hoạt động của dự án bao nhiêu là tối ưu, hoặc phải thực hiện các biện pháp tiếp thị ra sao để tiêu thụ hết sản phẩm của dự án và có lãi
Trang 23Nghiên cứu thị trường đầu vào của các nguyên liệu cơ bản đặc biệt quan trọng đối với dự án phải sử dụng nguyên liệu với khối lượng lớn mà việc cung cấp có nhiều trở ngại như phụ thuộc vào nhập khẩu, hoặc đòi hỏi phải có nhiều thời gian (như trồng tre, nứa, gỗ để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy) và bị hạn chế bởi điều kiện tự nhiên (phải có đủ diện tích đất đai thích hợp cho việc trồng tre, nứa, gỗ trong
ví dụ trên) Nghiên cứu quy mô kinh tế của dự án là một nội dung trong nghiên cứu
hỗ trợ Có nghĩa là nghiên cứu các khía cạnh của dự án về mặt kinh tế, tài chính, kỹ thuật, quản lý, từ đó lựa chọn các quy mô thích hợp nhất để đảm bảo cuối cùng đem lại hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất cho chủ đầu tư và cho đất nước
Nghiên cứu hỗ trợ vị trí thực hiện dự án đặc biệt quan trọng đối với các dự
án có chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra lớn (kể cả hao hụt tổn thất trong quá trình vận chuyển) Nhiệm vụ của nghiên cứu hỗ trợ ở đây là nhằm xác định được vị trí thích hợp nhất về mặt địa lý vừa đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật trong hoạt động, vừa đảm bảo chi phí vận chuyển là thấp nhất
Nghiên cứu hỗ trợ để lựa chọn công nghệ, trang thiết bị được tiến hành đối với các dự án đầu tư có chi phí đầu tư cho công nghệ và trang thiết bị là lớn, mà công nghệ và trang thiết bị này lại có nhiều nguồn cung cấp với giá cả khác nhau, các thông số kỹ thuật (công suất, tuổi thọ …), thông số kinh tế (chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, giá cả sản phẩm có thể bán được) khác nhau
Các nghiên cứu hỗ trợ có thể được tiến hành song song với nghiên cứu khả thi, và cũng có thể tiến hành sau nghiên cứu khả thi tuỳ thuộc thời điểm phát hiện các khía cạnh cần phải tổ chức nghiên cứu sâu hơn Chi phí cho nghiên cứu hỗ trợ nằm trong chi phí nghiên cứu khả thi
1.1.4.4 Nghiên cứu khả thi
Đây là bước sàng lọc lần cuối để lựa chọn được dự án tối ưu Ở giai đoạn này phải khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi hay không? Có vững chắc, có hiệu quả hay không?
Ở bước nghiên cứu này, nội dung nghiên cứu cũng tương tự như giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, nhưng khác nhau ở mức độ chi tiết hơn, chính xác hơn Mọi khía cạnh nghiên cứu đều được xem xét ở trạng thái động, tức là có tính đến các yếu
Trang 24tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung nghiên cứu Xem xét sự vững chắc hay không của dự án trong điều kiện có sự tác động của các yếu tố bất định, hoặc cần có các biện pháp tác động gì để đảm bảo cho dự án có hiệu quả
Tất cả ba giai đoạn nghiên cứu nói trên phải được tiến hành đối với các dự kiến đầu tư lớn nhằm đảm bảo từng bước phân tích sâu hơn, đầy đủ và chi tiết hơn, phát hiện và khắc phục dần những sai sót ở các giai đoạn nghiên cứu trước thông qua việc tính toán lại, đối chiếu các dữ kiện, các thông số, thông tin thu thập được qua mỗi giai đoạn Điều này sẽ đảm bảo cho các kết quả nghiên cứu khả thi đạt được độ chính xác cao
Đối với dự án đầu tư nhỏ, quá trình nghiên cứu có thể gom lại làm một bước Bản chất, mục đích và công dụng của nghiên cứu khả thi
- Bản chất của nghiên cứu khả thi
Xét về mặt hình thức, tài liệu nghiên cứu khả thi là một tập hồ sơ trình bày một cách chi tiết và có hệ thống tính vững chắc, hiện thực của một hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội theo các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý và kinh tế xã hội
Ở Việt Nam, nghiên cứu khả thi thường được gọi là lập luận chứng kinh tế
kỹ thuật Nghiên cứu khả thi được tiến hành dựa vào kết quả của các nghiên cứu cơ hội đầu tư và nghiên cứu tiền khả thi đã được cấp có thẩm quyền chấp nhận Ở giai đoạn nghiên cứu khả thi, dự án được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đảm bảo cho mọi dự đoán, mọi tính toán đạt được ở mức độ chính xác cao trước khi được đưa ra để các
cơ quan kế hoạch, tài chính, ngân hàng, các định chế tài chính quốc tế thẩm định
- Mục đích của nghiên cứu khả thi
Như phần trên đã đề cập, quá trình nghiên cứu khả thi được tiến hành qua 3 giai đoạn Giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư nhằm loại bỏ ngay những dự kiến rõ ràng không khả thi mặc dù không cần đi sâu vào chi tiết Tính không khả thi này được chứng minh bằng các số liệu thống kê, các tài liệu thông tin kinh tế dễ tìm Điều đó giúp cho tiết kiệm được thời giờ, chi phí của các nghiên cứu kế tiếp
Việc nghiên cứu tiền khả thi nhằm loại bỏ các dự án bấp bênh (về thị trường,
Trang 25về kỹ thuật), những dự án mà kinh phí đầu tư quá lớn, mức sinh lời nhỏ, hoặc không thuộc loại ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh Nhờ đó các chủ đầu tư có thể loại bỏ hẳn dự án để khỏi tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn
Còn việc nghiên cứu khả thi là xem xét lần cuối cùng nhằm đi đến những kết luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án bằng các số liệu đã được tính toán cẩn thận, chi tiết, các đề án kinh tế - kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự
án trước khi quyết định đầu tư chính thức
Như vậy, nghiên cứu khả thi là một trong những công cụ thực hiện kế hoạch kinh
tế của ngành, của địa phương và của cả nước, để biến kế hoạch thành hành động cụ thể
và đem lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước, lợi ích tài chính cho nhà đầu tư
1.1.4.5 Thực hiện dự án
Thực hiện dự án là giai đoạn biến các dự án đầu tư thành hiện thực nhằm đưa
dự án vào hoạt động trong thực tế của đời sống kinh tế xã hội Giai đoạn này bao gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết kế đến khi đưa dự
dự án và quản lý các hoạt động đó theo các kế hoạch đã dự tính
1.1.4.7 Đánh giá sau khi thực hiện dự án
Thực chất đây là việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của
dự án trong giai đoạn vận hành, khai thác Phân tích, đánh giá dự án trong giai đoạn này nhằm:
- Hiệu chỉnh các thông số kinh tế - kỹ thuật để đảm bảo mức đã được dự kiến trong Nghiên cứu khả thi
- Tìm kiếm cơ hội phát triển, mở rộng dự án hoặc điều chỉnh các yếu tố của
Trang 26dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo hiệu quả dự án Dựa vào các kết quả phân tích, đánh giá quá trình vận hành, khai thác dự án để có quyết định đúng đắn về sự cần thiết kéo dài hoặc chấm dứt thời hạn hoạt động của dự án
1.1.4.8 Kết thúc dự án
Tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt động của dự án (thanh toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục pháp lý khác)
Công dụng của các dự án đầu tư:
- Đối với nhà nước và các định chế tài chính thì dự án đầu tư là cơ sở để thẩm định và ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ cho dự án đó
- Đối với chủ đầu tư thì dự án đầu tư là cơ sở để:
+ Xin phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư) và giấy phép hoạt động
+ Xin phép được nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị
+ Xin hưởng các khoản ưu đãi (nếu dự án thuộc diện ưu tiên) về đầu tư + Xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp
+ Xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nước
+ Kêu gọi góp vốn hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu
1.2 ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm đầu tư từ ngân sách nhà nước
Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước là việc sử dụng phần vốn ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư phát triển, vốn vay nước ngoài của Chính phủ và vốn hỗ trợ phát triển chính thức của nước ngoài cho Chỉnh phủ và Chính quyền các cấp (ODA), vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh và vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, dùng để đầu tư vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh
tế quốc dân, các dự án đầu tư có hiệu quả, các ngành kinh tế mũi nhọn có vị trí quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Những ngành này cần một lượng vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng và thu hồi vốn dài …
Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà
Trang 27nước, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ
Căn cứ vào khả năng thu hồi vốn trực tiếp của dự án đầu tư và tính chất nguồn vốn, hiện tại Nhà nước định ra ba hình thức đầu tư phát triển đó là: Cấp phát đầu tư, tín dụng đầu tư và doanh nghiệp tự đầu tư
- Hình thức cấp phát dành cho các dự án đầu tư không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc các lĩnh vực như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các dự án giao thông, thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng Quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các trạm thú y, động thực vật; nghiên cứu giống mới và cải tạo giống; các
dự án xây dựng công trình, dự án quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật; dự án bảo vệ môi trường sinh thái; dự án an ninh quốc phòng, các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, góp vốn cổ phần liên doanh bằng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân theo quyết định của Chính phủ; các dự án quy hoạch ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn; các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội Tất cả nhu cầu vốn trên được cấn đối từ ngân sách Nhà nước
- Hình thức tín dụng đầu tư dành cho các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kinh
tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tạo việc làm có khả năng thu hồi vốn; các dự án đầu tư cho một số ngành kinh tế quan trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ (như điện, xi măng, sắt thép …); Các dự án đầu tư của ngành đảm bảo hiệu quả kinh tế
và khả năng thu hồi vốn Các nhu cầu vốn này một phần được ngân sách Nhà nước
bố trí theo chính sách từng thời kỳ, số còn lại là nguồn vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh
- Hình thức doanh nghiệp tự đầu tư dành cho các dự án đầu tư mới hoặc mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý theo hướng xoá bao cấp về vốn đầu tư, chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh, xu hướng hình thức cấp phát vốn đầu tư sẽ giảm, thay vào đó là hình thức tín dụng đầu tư sẽ tăng lên
+ Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước có điểm khác cơ bản với đầu tư bằng
Trang 28vốn không phải của Nhà nước là cơ chế quản lý Do chủ sở hữu vốn đầu tư phát triển của Nhà nước là Nhà nước, chủ đầu tư chỉ là người sử dụng vốn nên cần có cơ chế quản lý chặt chẽ đi liền với việc kiểm tra giám sát để hạn chế tiêu cực, thất thoát, lãng phí Còn vốn đầu tư không phải của Nhà nước, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn đích thực nên cơ chế quản lý đơn giản, gọn nhẹ hơn
1.2.2 Quan điểm đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước
Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là bộ phận cấu thành trong toàn bộ vốn đầu tư toàn xã hội, mặc dù thường chiếm tỷ trọng không cao, song đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đặc biệt thể hiện trên các mặt sau:
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình kinh tế, xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp những dịch vụ công cộng như hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng … mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; Các
dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước được triển khai ở các vị trí quan trọng then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế xã hội phát triển ổn định
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:
Về mặt cầu: Đầu tư phát triển trong đó có đầu tư từ ngân sách Nhà nước sẽ
tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lưu thông, tạo công ăn việc làm, thu nhập
Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực mới của
nền kinh tế tăng lên tác động làm tăng tổng cung trong dài dạn, kéo theo tăng sản lượng tiềm năng, giá cả sản phẩm giảm
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ:
Thông qua đầu tư các Chương trình dự án ở vùng sâu vùng xa về giao thông,
y tế, giáo dục … giúp cho các vùng này có điều kiện giao thông thuận lợi, nhân dân được giáo dục nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ tạo điều kiện phát triển vùng
Trang 29Thông qua các dự án đầu tư phát triển của mình Nhà nước có thể điều chỉnh giúp ngành nghề này phát triển, hạn chế ngành nghề khác không có lợi
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế và cho toàn nền kinh tế phát triển Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước được coi là vốn mồi để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển Chẳng hạn có đường giao thông thuận lợi thì thị trường hàng hoá có điều kiện phát triển, cơ sở
hạ tầng kinh tế phát triển sẽ tạo khả năng to lớn để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá giáo dục, y tế, du lịch …
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước có vai trò mở đường cho sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân
Do các dự án đầu tư vào những lĩnh vực trên thường rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp nên Nhà nước thường phải đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước như: các dự án đầu tư cho phòng thí nghiệm trọng điểm, các trạm, trại nghiên cứu giống mới, các trường đại học, các bệnh viện, các trung tâm y
tế dự phòng Có đầu tư của Nhà nước sẽ cung cấp các dịch vụ công tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, hoạt động đầu tư phát triển nói riêng đều phải được xem xét từ hai góc độ Nhà đầu tư (Doanh nghiệp) và Nhà nước
1.2.2.1 Quan điểm của nhà đầu tư
Trên góc độ nhà đầu tư tức là các doanh nghiệp mục đích cụ thể của họ có nhiều, nhưng quy tụ lại là lợi nhuận và lợi nhuận tối đa Vì vậy họ quan tâm đến kết quả cụ thể của một đồng vốn bỏ ra sẽ mang lại hiệu quả tài chính như thế nào?
Muốn vậy, nhà đầu tư phải tìm kiếm lĩnh vực đầu tư sao cho vốn đầu tư bỏ ra ít, chi phí sản xuất thấp nhất, giá thành sản phẩm hạ nhưng lại tăng chất lượng, sản lượng và lợi nhuận Bởi vì lợi nhuận phản ánh kết quả thực chất, cuối cùng của hoạt động đầu tư
Do đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển có thời gian dài, giá trị đồng tiền cũng biến đổi theo thời gian nên trong quá trình lựa chọn đầu tư, nhà đầu tư phải sử dụng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá Ví dụ như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn
Trang 30đầu tư, NPV, IRR, thời gian thu hồi vốn đầu tư, …
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện đầu tư với mục đích là lợi nhuận nhà đầu tư cũng trực tiếp tạo ra lợi ích cho xã hội (mặc dù lợi ích này không phải là mục tiêu quan tâm của nhà đầu tư) như tạo thêm việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước, nâng cao trình độ kỹ thuật, quản lý của người lao động …
1.2.2.2.Quan điểm của Nhà nước
Nhà nước là người chủ đại diện cho toàn xã hội nên Nhà nước không chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế của nhà đầu tư, mà còn quan tâm đến lợi ích của cả nền kinh tế và toàn xã hội Thậm chí có dự án còn gây nguy hiểm cho xã hội, nhất là về môi trường, khai thác tài nguyên … Do đó trên giác độ quản lý vĩ mô Nhà nước phải xem xét đánh giá việc thực hiện hoạt động đầu tư đó có những tác động gì đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Có nghĩa là phải xem xét mặt kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư, xem xét những lợi ích xã hội do đầu tư đem lại, những chi phí mà nền kinh tế xã hội phải gánh chịu, để từ đó cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước chấp nhận có cho phép đầu tư hay không
Vì vậy cần có sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước trong hoạt động đầu tư phát triển theo định hướng mục tiêu đã định, và việc đánh giá hiệu quả đầu tư phải xét trên quan điểm toàn diện của nền kinh tế quốc dân Phải kết hợp giữa lợi ích toàn xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Đồng thời phải xét đến các mặt kinh
tế - chính trị xã hội Đối với Nhà nước chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế vốn đầu tư quan trọng nhất là mức tăng trưởng GDP, là mức tăng năng suất xã hội, tăng thu ngân sách gắn liền với các chỉ tiêu về xã hội và công bằng xã hội
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ĐT PT từ NSNN
Do việc đánh giá hiệu quả đầu tư được xem xét trên 2 góc độ: Nhà đầu tư và nhà nước nên hình thành ra 2 hệ thống chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả đầu tư
1.2.3.1 Đối với các nhà đầu tư
Nhà đầu tư thường sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư như sau:
a Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư Đây là vấn đề được các nhà đầu tư quan tâm nhất
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được của nhà đầu tư so
Trang 31với vốn đầu tư bỏ ra Chỉ tiêu này được tính bằng 2 công thức sau:
a1 Tính theo lợi nhuận hàng năm:
% 100 x I
W
= RR
vo
i i
Trong đó:
RRi: Tỷ suất lợi nhuận
Wi: Lợi nhuận năm thứ i
Ivo: Vốn đầu tư
a2 Tính theo cả vòng đời dự án:
% 100 x I
W
= RR
vo pv
Trong đó:
pv
Ivo : Số vốn đầu tư
b Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ
giữa lợi nhuận và doanh thu Nếu tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ hoạt động cho đầu tư
có hiệu quả và ngược lại
Chỉ tiêu này được tính bằng 2 công thức sau:
b1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu từng năm được tính như sau:
% 100
= x O
W r
i
i oi
Trong đó:
Roi: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm thứ i
Wi: Lợi nhuận năm i
Oi: Doanh thu năm i
b2 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bình quân năm của cả đời dự án được tính là:
Trang 32% 100 x O
c Chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại thuần) NPV là mức lợi nhuận mà cả vòng đời dự án
đem lại:
Trong đó:
Ci: Tổng chi phí của dự án năm thứ i
r: Tỷ lệ chiết khấu được chọn
Kết quả nếu NPV (+) thì hiệu quả dự tính của dự án tốt, nếu NPV (-) thì dự
án bị lỗ
d Chỉ tiêu IRR (tỷ lệ hoàn vốn nội bộ) IRR là tỷ lệ lãi mà nếu dùng làm tỷ lệ chiết
khấu tính các khoản thu chi và quy về hiện tại thì tại đó tổng thu bằng tổng chi
Kết quả nếu IRR > lãi suất tiền gửi ngân hàng dài hạn cùng thời điểm (chi phí cơ hội của vốn) thì dự án đầu tư có hiệu quả
Trường hợp ngược lại, dự án đầu tư không có hiệu quả
e Thời gian thu hồi vốn đầu tư là thời gian cần thiết để các khoản thu từ lợi nhuận
thuần bình quân hoặc từ khấu hao bình quân và lợi nhuận thuần bình quân đủ bù đắp vốn đầu tư ban đầu Chỉ tiêu này được tính bằng 1 trong 2 công thức:
pv
vo TH
=
i (1+ )
)C-B(Σ
=NPV
0 ) 1 (
) - (
C B
Trang 33vo TH
W D
I T
1.2.3.2 Đối với Nhà nước
Nhà nước thường sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả đầu tư như sau:
a Hệ số ICOR
ICOR=(Kt-Kt-1)/ (Yt - Yt-1)
Hệ số ICOR thể hiện khả năng sử dụng có hiệu quả đồng vốn bỏ ra Hệ số ICOR cao hay thấp thể hiện số vốn đầu tư nhiều hay ít cho sự tăng trưởng một đồng GDP
Chỉ số gia tăng vốn và sản lượng có thể áp dụng vào toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoặc áp dụng vào từng khu vực riêng biệt cho ngành nông nghiệp, công nghiệp hoặc từng ngành công nghiệp chuyên sâu Do tính chất tổng hợp của chỉ tiêu ICOR cho nên chỉ tiêu này sẽ chỉ có ý nghĩa đối với các nguồn vốn có tỷ trọng lớn trong đầu tư Đối với các nguồn vốn quá nhỏ, chỉ tiêu này sẽ có rất ít ý nghĩa Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần nhằm mục tiêu kinh tế mà còn bao hàm cả mục tiêu về chính trị xã hội
Nó không chỉ là phương tiện đơn thuần để làm thay đổi cơ cấu kinh tế có hiệu quả hơn mà còn giải quyết vấn đề chính trị quan trọng như: thu hẹp khoảng cách phát triển ở các vùng núi, khó khăn, đảm bảo an ninh quốc phòng … Điều này đảm bảo cho việc phân tích toàn diện hiệu quả chứ không chỉ là những nhận định đơn thuần
về hiệu quả kinh tế
b Chỉ tiêu hệ số hiệu quả kinh tế vốn đầu tư
Hệ số hiệu quả kinh tế chung của vốn đầu tư là kết quả cụ thể của một đồng vốn đầu tư bỏ vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào đó sẽ thu được bao nhiêu tiền lãi Nó có tác dụng để đánh giá kết quả đầu tư giữa các thời kỳ hoặc giữa các ngành, xí nghiệp Chỉ tiêu này được xác định trong những phạm vi khác nhau tuỳ theo yêu cầu của việc nghiên cứu
Trang 34Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoặc của các ngành sản xuất lớn người
ta xác định chỉ tiêu này như sau:
qd c
c Chỉ tiêu giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm Ký hiệu là NVA Đây là chỉ tiêu
phản ánh hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư NVA là mức chênh lệch giữa toàn bộ giá trị đầu ra và toàn bộ giá trị đầu vào NVA được tính bằng công thức:
NVA = O – (M1 + Iv)
Trong đó:
O: là tổng giá trị đầu ra dự kiến (doanh thu)
M1: là tổng giá trị đầu vào
Iv: là vốn đầu tư hoặc (khấu hao)
d Chỉ tiêu số lao động có việc làm Do thực hiện đầu tư và số lao động có việc làm
tính trên một đơn vị vốn đầu tư
Số lao động có việc làm bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp và việc làm gián tiếp Hệ số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư được tính bằng công thức:
1.2.3.3 Phạm vi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách nhà nước có hạn, nhà nước chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, không có
Trang 35khả năng đầu tư hoặc không được phép đầu tư Do đó phạm vi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước tập trung chủ yếu vào các dự án thuộc loại sau:
- Dự án có quy mô lớn mà các thành phần kinh tế khác khó có khả năng đáp ứng Các công trình loại này thường là các công trình lớn có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng, miền, địa phương hoặc ngành kinh tế
- Dự án có khả năng thu hồi vốn thấp Các dự án này do khả năng thu hồi vốn thấp nên không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác đầu tư vào trong khi công trình lại có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng nên nhà nước phải sử dụng ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng
- Dự án mà các thành phần kinh tế khác không được phép đầu tư Loại này thường là các công trình thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng, các công trình có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội của nhân dân
1.3 QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1.3.1 khái niệm chung
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ chức - kỹ thuật cùng các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên
cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng
Để nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển, vấn đề quan trọng là quản lý vốn đầu tư Quản lý vốn đầu tư phát triển là quá trình quản lý các chi phí đầu tư để đạt được mục tiêu đầu tư Các chi phí đó bao gồm chi phí khảo sát, quy hoạch, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí mua sắm thiết bị xây lắp và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán được duyệt
Trang 36Quản lý đầu tư ở tầm vĩ mô là quản lý các dự án đầu tư Quá trình hình thành
và vận hành dự án qua ba giai đoạn là: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và vận hành khai thác dự án Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến hành một cách liên tục Quá trình quản lý đầu tư theo các dự án cũng là quá trình quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của nó
Vốn đầu tư phát triển được quản lý theo yêu cầu, nguyên tắc, mục đích và trình tự, thủ tục như sau:
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng
1.3.2.1 Môi trường kinh tế - xã hội
Nếu môi trường đầu tư hấp dẫn về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh như tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, thị trường tiêu thụ, giá thuê đất, thuế, tín dụng … thì sẽ thu hút được nhà đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư sẽ có điều kiện cao hơn và ngược lại
Nếu điều kiện chính trị - xã hội ổn định, luật pháp đảm bảo, nhất quán sẽ làm cho mọi người yên tâm bỏ vốn đầu tư, yên tâm làm ăn, một điều kiện thuận lợi cho việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và ngược lại
1.3.2.2 Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước
Nếu cơ chế quản lý đầu tư xây dựng phù hợp với chế độ sở hữu vốn, tạo được động lực và sự ràng buộc về quyền lợi, trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo của chủ đầu tư thì sẽ phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và ngược lại
Chính sách và cơ chế đầu tư là nhân tố chủ quan, nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư Nếu có cơ chế và chính sách đúng thì sẽ huy động và khai thác tốt các điều kiện khả năng, lợi thế so sánh của các quốc gia, các doanh nghiệp và dân cư
Chính sách đầu tư với những ưu đãi thì tạo điều kiện không chỉ các nhà đầu
tư nước ngoài mà cả các nhà đầu tư trong nước đến đầu tư, bên cạnh thu hút được nhiều vốn, mà còn thu hút cả kinh nghiệm quản lý, công nghệ và tạo điều kiện để
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Chính sách đầu tư bao gồm một hệ thống đồng bộ các công cụ, cơ chế khuyến khích đầu tư như: chính sách thuế, lãi suất, tín dụng, lao động, tiền lương, đất đai, chính sách khuyến khích đầu tư theo vùng, ngành Đối với những vùng, miền ưu tiên thì cần phải có những chính sách cụ thể, nhất quán, mang tính ổn định
và lâu dài
Trang 37Bằng việc nhận dạng nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa việc định giá kinh tế và giá tài chính, nhà phân tích có thể nói được liệu sự khác biệt đó là do thị trường hay chính sách gây ra Nếu là do chính sách gây ra, thì phải xem xét chi phí
và lợi ích của sự thay đổi chính sách làm cho những đánh giá kinh tế và tài chính xích lại gần nhau hơn Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ khi đầu tư xây dựng một dự án, như địa điểm, qui mô vào thời gian nào, đã đúng lúc chưa, hay liệu có tốt hơn không nếu thuyết phục các cơ quan chức năng thay đổi chính sách
1.3.2.3 Quan điểm của huyện
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới phát triển huyện Trong đó đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước là một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đến thực hiện dự án, đồng thời cũng phải quản lý chặt chẽ trong tất cả các khâu của dự án để chống lãng phí, thất thoát đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội
1.3.2.4 Năng lực quản lý của huyện nói chung và của đội ngũ cán bộ
Đa số chủ đầu tư, Ban quản lý thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đào tạo đầy đủ, thiếu kinh nghiệm, yếu cả về chuyên môn và khả năng quản lý XDCB
Năng lực cán bộ quản lý đầu tư xây dựng bao gồm các cấp cán bộ như chủ đầu tư, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo … đáp ứng yêu cầu về năng lực trình độ, thích ứng với cơ chế thị trường là điều kiện thuận lợi phát huy hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư và ngược lại
1.3.2.5 Phương pháp quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện
Để quản lý đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách, huyện Thanh Ba đã thành lập hai ban quản lý dự án là Ban QLDA đầu tư xây dựng khối kinh tế và Ban QLDA đầu tư xây dựng khối văn hóa – xã hội do 2 đồng chí phó Chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban; các phó ban là các trưởng phòng: Tài chính – kế hoạch, Kinh tế và hạ tầng, Nông nghiệp và phát triển nông thôn; các thành viên trong ban là do chuyên viên các phòng chuyên môn tham gia Cả hai Ban QLDA hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm vừa là công chức nhà nước và hoạt động kiêm nhiệm quản lý dự án Các bước từ khảo sát thiết kế, đến giám sát, thi công đều được giao cho các công ty có đủ năng lực thực hiện
Trang 381.4 NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.4.1 Công tác lập và quản lý quy hoạch
- Tất cả các chủ đầu tư khi tiến hành lập dự án đầu tư các dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của UBND huyện Thanh Ba phải được quy hoạch địa điểm xây dựng (đối với dự án chưa được cấp đất) hoặc phải được xác nhận địa điểm có phù hợp hay không (đối với dự án chủ đầu tư đã được cấp đất) UBND huyện Thanh
Ba lựa chọn và phê duyệt quy hoạch
- Trước khi tiến hành xây dựng chủ đầu tư phải được cấp giấy phép xây dựng + UBND huyện cấp giấy phép xây dựng các công trình trên địa bàn mình quản
lý gồm:
- Công trình của các tổ chức được xây dựng trên địa bàn các xã, thị trấn
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; quy hoạch phát triển ngành; quy hoạch phát triển vùng … Mục đích, yêu cầu của công tác lập và quản lý quy hoạch là xây dựng những căn cứ khoa học, thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoạch định và chỉ đạo thực hiện các chủ trương, các kế hoạch, chương trình, dự án phát triển trong 5 năm, 10 năm và 15 năm
Quy hoạch giúp cho nhân dân, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong
huyện, ngoài huyện và nước ngoài hiểu rõ được tiềm năng, thế mạnh, cơ hội đầu tư, khả năng hợp tác liên doanh, liên kết trên địa bàn cũng như với các huyện khác Mặt khác giúp các cấp uỷ Đảng, UBND các cấp chỉ đạo, điều hành việc thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đột phá phát triển phù hợp với cơ chế thị trường
1.4.2 Lập kế hoạch và bố trí vốn ĐT
+ Điều kiện để các dự án được bố trí kế hoạch vốn đầu tư hàng năm của Nhà nước:
- Đối với các dự án quy hoạch: có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch
và dự toán chi phí công tác quy hoạch được duyệt theo thẩm quyền
- Đối với các dự án chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt; có dự toán chi phí công tác chuẩn bị đầu tư được duyệt theo thẩm quyền
- Đối với các dự án thực hiện đầu tư: phải có quyết định đầu tư từ thời điểm trước 31 tháng 10 năm trước năm kế hoạch, có thiết kế, dự toán và tổng dự toán được duyệt theo quy định
Trang 39Trường hợp dự án được bố trí vốn trong kế hoạch thực hiện đầu tư nhưng chỉ
để làm công tác chuẩn bị thực hiện dự án thì phải có quyết định đầu tư và dự toán chi phí công tác chuẩn bị thực hiện dự án được duyệt
+ Lập kế hoạch, bố trí và thẩm tra phân bổ vốn đầu tư năm:
* Lập kế hoạch:
- Theo quy định của Luật NSNN về việc lập dự toán NSNN hàng năm, căn
cứ vào tiến độ và mục tiêu thực hiện dự án, chủ đầu tư lập kế hoạch vốn đầu tư của
dự án gửi cơ quan quản lý cấp trên
- Thời gian lập, trình, duyệt, giao kế hoạch vốn đầu tư theo quy định của Luật NSNN
* Phân bổ vốn:
- Ủy ban nhân dân huyện Thanh Ba lập phương án phân bổ vốn đầu tư trình Hội đồng nhân dân huyện quyết định Theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phân bổ và quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm
vi quản lý đã đủ các điều kiện quy định, đảm bảo khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư; cơ cấu vốn trong nước, vốn ngoài nước, cơ cấu ngành kinh tế; đúng với Nghị quyết Quốc hội, nghị quyết Tỉnh uỷ, Huyện uỷ chỉ đạo của UBND tỉnh về điều hành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán NSNN hàng năm
Phòng Tài chính Kế hoạch huyện có trách nhiệm cùng với các cơ quan chức năng của huyện tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện phân bổ vốn đầu tư cho từng
dự án do huyện quản lý
- Sau khi phân bổ vốn đầu tư huyện Thanh Ba có trách nhiệm gửi kế hoạch vốn đầu tư cho Sở Tài chính
* Giao kế hoạch vốn cho các chủ đầu tư:
Sau khi việc phân bổ vốn đã được sở Tài chính thẩm tra, chấp thuận.UBND huyện giao chỉ tiêu kế hoạch cho các chủ đầu tư để thực hiện, đồng gửi Kho bạc nhà nước nơi dự án mở tài khoản để theo dõi, làm căn cứ kiểm soát, thanh toán vốn
* Thẩm tra và thông báo danh mục dự án và vốn đầu tư:
Trang 40- Căn cứ kế hoạch vốn đầu tư đã được Ủy ban nhân dân quyết định, phòng
Tài chính Kế hoạch huyện xem xét thủ tục đầu tư xây dựng của các dự án, thông báo gửi các cơ quan chức năng trong huyện, đồng gửi Kho bạc nhà nước để làm căn
cứ kiểm soát thanh toán vốn
- Trường hợp dự án không đủ thủ tục đầu tư xây dựng hoặc việc phân bổ kế
hoạch chưa đúng với quy định, phòng Tài chính Kế hoạch có văn bản báo cáo Ủy ban nhân dân đồng cấp để chỉ đạo hoàn tất thủ tục theo quy định
- Chủ đầu tư phải gửi phòng Tài chính - kế hoạch các cấp các tài liệu cơ sở của các
dự án trong kế hoạch để thẩm tra, thông báo danh mục thanh toán vốn của các dự án đầu tư
1.4.3 Phân cấp quản lý ĐT và xây dựng
Quản lý dự án các công trình trên địa bàn huyện Thanh Ba nói riêng và cấp xã nói chung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đều theo hệ thống quy định pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản do Chính Phủ quy định Được thực hiện trên cơ sở hướng dẫn của
Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và các bộ chủ quản theo chuyên ngành
Tại địa bàn huyện Thanh Ba tỉnh Phú thọ các dự án đầu tư được thực hiện trên cơ sở cơ quan quyết định đầu tư là UBND huyện Thanh Ba Các dự án đầu tư
có quy mô dưới 15 tỷ đồng được UBND tỉnh quy định tại quyết định số: UBND ngày 23 tháng 4 năm 2013 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc phân cấp cho Chủ tịch UBND các huyện, thành thị thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên;
04/2013/QĐ-Theo phân cấp quy định của Chính phủ thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, C trong phạm vi và khả năng cân đối ngân sách của địa phương sau khi thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được uỷ quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp; Tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án có
sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên Hiện tại UBND tỉnh Phú Thọ chưa
có quy định phân cấp quyết định đầu tư cho UBND các xã trong tỉnh.Vì vậy, các xã chỉ quản lý xây dựng công trình do cấp trên giao cho làm chủ đầu tư