Vì vậy, trong điều kiện khó khăn, rủi ro của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của Việt Nam nói riêng, đã đặt ra yêu cầu cho mỗi doanh nghiệp, cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS NGUYỄN VĂN BẢO
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ 6
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO CẦU 15
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẦU 15
1.1.1 Khái niệm cầu 15
1.1.2 Cầu cá nhân và cầu thị trường 18
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu 22
1.2 PHÂN TÍCH CẦU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CẦU 25
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của phân tích cầu 25
1.2.2 Các phương pháp phân tích cầu 27
1.3 DỰ BÁO CẦU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO CẦU 29
1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết của dự báo cầu 29
1.3.2 Các phương pháp dự báo cầu thị trường 30
1.3.3 Vai trò của ước lượng dự báo cầu đối với doanh nghiệp 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO CẦU VỀ SẢN PHẨM SỮA BỘT TRẺ EM TẠI HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LỰA CHỌN MÔ HÌNH DỰ BÁO 36
2.1 KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG SỮA BỘT TRẺ EM HIỆN NAY 36
2.1.1 Nhu cầu sữa bột trẻ em ở Việt Nam hiện nay 36
2.1.2 Đặc tính từ phía cung của thị trường sữa bột trẻ em 37
Trang 42.2 THỰC TRẠNG NHU CẦU VỀ SỮA BỘT TRẺ EM TẠI HÀ NỘI 42
2.2.1 Hà Nội là thị trường hấp dẫn và tiềm năng với sản phẩm sữa bột trẻ em 42
2.2.2 Thị trường sữa bột trẻ em ở Hà Nội bị chi phối bởi các hãng sữa ngoại 44 2.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẦU VỀ SỮA BỘT TRẺ EM 46
2.3.1 Giá cả sữa bột 46
2.3.2 Giá sữa bột trẻ em nhập ngoại 47
2.3.3 Ảnh hưởng của lạm phát 50
2.3.4 Thu nhập trung bình của người dân Hà Nội 52
2.3.5 Dân số 52
2.3.6 Chất lượng và hình thức sản phẩm 53
2.3.7 Thị hiếu của người tiêu dùng 54
2.3.8 Chính sách của nhà nước 54
2.4 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO THỊ TRƯỜNG SỮA BỘT TRẺ EM Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 55
2.4.1 Thị trường có nhiều triển vọng phát triển 55
2.4.2 Thị trường phụ thuộc nhiều vào nguồn sữa nhập khẩu 56
2.4.3 Những nghịch lý cản trở sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp 57 2.4.4 Khó khăn các doanh nghiệp gặp phải là do tâm lý, tập quán tiêu dùng và tâm lý sính hàng ngoại 57
2.4.5 Thị trường sữa của Việt Nam có nhiều biến động và tập trung kinh tế cao của một số tập đoàn lớn 58
2.5 LỰA CHỌN MÔ HÌNH DỰ BÁO 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
Trang 5CHƯƠNG 3 - VẬN DỤNG MÔ HÌNH HỒI QUY ĐỂ DỰ BÁO CẦU SẢN
PHẨM SỮA BỘT TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015 63
3.1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, ƯỚC LƯỢNG CẦU SẢN PHẨM SỮA BỘT TRẺ EM 63
3.2 KẾT QUẢ HỒI QUY BẰNG EVIEWS 64
3.3 DỰ BÁO CẦU SỮA BỘT TRẺ EM Ở HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015 68
3.3.1 Lập hàm hồi quy cho biến P1, P2, M, N 68
3.3.2 Kết quả dự báo cầu mặt hàng sữa bột trẻ em ở Hà Nội đến năm 2015 72
3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH VÀ CÔNG TÁC DỰ BÁO CẦU MẶT HÀNG SỮA BỘT TRẺ EM TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015 73
3.4.1 Nhóm giải pháp từ phía các doanh nghiệp 74
3.4.2 Nhóm giải pháp từ phía cơ quan Quản lý Nhà nước 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 86
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dưới dự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Bảo, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Trang 6Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2013
Người thực hiện
Trịnh Thị Ngọc Mai
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Mức tăng trưởng tiêu thụ sữa trong nước các giai đoạn 36
Bảng 2.2 :Số doanh nghiệp sữa qua các năm 41
Bảng 2.3 : Lượng sữa trẻ cần theo tháng tuổi 43
Bảng 2.4 :Biến động giá sữa bột thế giới, tỷ giá ngoại tệ, lạm phát và giá sữa trong nước so với năm mốc 2006 46
Bảng 2.5 : Giá niêm yếu một số loại sữa cho trẻ từ 1-3 tuổi trên thị trường 48
Bảng 3.1 Kết quả phân tích ước lượng bằng phần mềm Eviews 65
Bảng 3.2 : Kết quả hồi quy biến P1 69
Bảng 3.3 : Kết quả hồi quy biến P2 70
Bảng 3.4 : Kết quả hồi quy biến M 71
Bảng 3.5 Bảng kết quả hồi quy biến N 72
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Đồ thị đường cầu về sữa bột trẻ em 16
Hình 1.2 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người mua sữa Sunny Mama, sinh tố 19
Hình 1.3 Xây dựng đường cầu thị trường về sữa bột trẻ em 21
Hình 1.4 Đồ thị tác động của thu nhập đến cầu 23
Hình 1.5 Đường ngoại suy 31
Hình 2.1 Biểu đồ nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa 5 tháng đầu năm 2011 38
Hình 2.2 Cơ cấu trị trường nhập khẩu sữa và sản phẩm tại Việt Nam 40
Hình 2.3 : Thị phần của một số hãng sữa lớn 41
Hình 2.4 : Tỷ lệ người sử dụng sản phẩm sữa bột trẻ em theo hãng sữa 44
Hình 2.5 : Tỷ lệ thụ thuộc của giá sữa vào các yếu tố 47
Hình 2.6 : Mức thay đổi của chi phí đầu vào và giá sữa bột trẻ em trong nước 48
Hình 2.7 : Giá sữa bột nội địa (Vinamilk) và sữa ngoại (Abbott) 50
Hình 2.8 : Thu nhập bình quân 1 hộ gia đình tại Hà Nội từ năm 2002-2010 52
Hình 2.9 : Dân số trung bình của Hà Nội từ năm 2002-2011 53
Hình 2.10 : Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu sản phẩm sữa bột trẻ em tại Hà Nội 59
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay, sự liên kết giữa các quốc gia đã đạt đến mức độ cao Do đó, sự suy giảm nền kinh tế của một quốc gia sẽ có ảnh hưởng tới các quốc gia khác Đặc biệt là, các quốc gia có nền kinh tế phát triển như
Mỹ Từ cuối năm 2007, trong năm 2008 và đầu năm 2009, chúng ta đã thấy rõ ảnh hưởng của khủng hoảng nền kinh tế Mỹ đến nền kinh tế các nước trên thế giới trong
đó có Việt Nam Thực tế, nền kinh tế nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn từ cuối năm
2007 Đánh dấu là sự suy yếu của thị trường chứng khoán, lạm phát tăng cao kỷ lục trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, đặc biệt là trong năm 2008 lạm phát đã ở mức phi mã (19,89%), tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng bị giảm đáng kể từ mức tăng trưởng 8,5% năm 2007 chỉ còn 7,5% năm 2008
Chính những yếu tố này đã ảnh hưởng rất lớn tới các chủ thể trong nền kinh tế,
rõ rệt nhất, là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Do chi phí đầu vào tăng, làm cho lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp đều bị giảm đi đáng kể Vì vậy, nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch kinh doanh của các công ty này Bên cạnh đó, thu nhập của người tiêu dùng giảm cũng tác động xấu tới cầu về các sản phẩm Những tác động tiêu cực này, cũng được thể hiện đặc biệt đối với ngành sữa của Việt Nam,
và các doanh nghiệp kinh doanh sữa càng chịu nhiều rủi ro hơn Do đa số các sản phẩm sữa mà các doanh nghiệp này kinh doanh là nhập khẩu từ nước ngoài Hơn nữa, thông tin về hàm lượng chất Melamine trong sữa càng làm gây hoang mang hơn cho người tiêu dùng
Mục tiêu chủ yếu, hàng đầu của các doanh nghiệp kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu hay tối thiểu hóa chi phí Vì vậy, trong điều kiện khó khăn, rủi ro của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của Việt Nam nói riêng, đã đặt ra yêu cầu cho mỗi doanh nghiệp, cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc phân tích và dự báo cầu về mặt hàng sữa mà công ty mình kinh doanh Từ đó, các
DN có thể đề ra những chiến lược kinh doanh tối ưu, những giải pháp hiệu quả để khai thác tốt hơn cầu thị trường về sản phẩm của công ty, cũng như có thể chủ động hơn trong kinh doanh
Trang 10Trong nền kinh tế mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng và áp lực cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, một trong những vấn đề sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là phải nắm bắt được các thông tin thị trường một cách chính xác và nhanh nhạy Khi mà xu hướng cầu quyết định cung ngày càng trở nên rõ nét hơn thì công tác phân tích và dự báo cầu trong doanh nghiệp càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Điều này càng trở nên quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong một thị trường “nóng” như thị trường sữa Việt Nam nói chung và thị trường sứa bột trẻ em nói riêng
Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển kinh tế mạnh mẽ kéo theo mức thu nhập, mức sống của người dân cũng được cải thiện rõ rệt Nếu trước đây thành ngữ “ăn no mặc ấm” là ước mơ của nhiều người thì hôm nay, khi đất nước gia nhập WTO thì lại là “ăn ngon, mặc đẹp” Sữa và các sản phẩm từ sữa ngày càng là nhu cầu nhất thiết của đời sống con người Nếu trước những năm 90 chỉ có 1-2 nhà sản xuất phân phối sữa (nhập ngoại) thì hiện nay đã có hơn 20 hãng sữa nội địa và rất nhiều doanh nghiệp phân phối sữa chia nhau thị trường tiềm năng 80 triệu dân Thị trường tiêu thụ sữa hiện nay đang tăng mạnh với nhiều loại mặt hàng đa dạng phong phú Tổng lượng tiêu thụ sữa Việt Nam liên tục tăng mạnh với mức từ
15 – 20% /năm Về mức tiêu thụ sữa trung bình của Việt Nam hiện nay khoảng 7,8kg/người/năm tức là đã tăng gấp 12 lần so với những năm đầu thập niên 90 Theo dự báo trong thời gian sắp tới mức tiêu thụ sữa sẽ tăng từ 15-20% (tăng theo thu nhập bình quân) Sản phẩm sữa là sản phẩm dinh dưỡng bổ sung ngoài các bữa
ăn hàng ngày- với trẻ em, thanh thiếu niên, người trung tuổi và cả những người cao tuổi-sữa có tác dụng hỗ trợ sức khoẻ Trên thị trường có rất nhiều loại ngũ cốc, đồ uống tăng cường sức khoẻ… Nhưng các sản phẩm này về chất lượng và độ dinh dưỡng không hoàn toàn thay thế được sữa Trong đó, sữa bột trẻ em là một sản phẩm hết sức nhạy cảm do tâm lý của các bậc cha mẹ luôn muốn dành cho con em mình những gì tốt đẹp nhất Cùng với tâm lý sính hàng ngoại của đa số các bậc cha
mẹ, sữa ngoại mặc dù có giá cả rất cao song người tiêu dùng vẫn cố gắng mua với
hy vọng con cái được khoẻ mạnh, thông minh hơn
Trang 11Những nguyên nhân đó làm cho việc phân tích và dự báo cầu đối với sản phẩm sữa bột là vô cùng cần thiết nhằm có những bước đi phù hợp để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm sữa nội so với sữa ngoại Đứng trước những những thực trạng trên, qua quá trình tìm hiểu thị trường sữa bột trẻ em tại Hà Nội, tác giả
đã lựa chọn đề tài “Phân tích và dự báo nhu cầu về sản phẩm sữa bột trẻ em trên
địa bàn Hà Nội đến năm 2015” Đề tài tập trung phân tích các lý luận về cầu, phân
tích và dự báo cầu, thực trạng phát triển, cách thức triển khai dự án dự báo và ước lượng cầu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm sữa bột trẻ em nội so với sữa ngoại
2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Phân tích cầu là một vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc vì đây là vấn đề liên quan tới các chính sách hoạch định của doanh nghiệp Với mỗi một tác giả có những cách tiếp cận vấn đề này theo các hướng khác nhau và áp dụng ở từng doanh nghiệp khác nhau Sau đây là một số công trình nghiên cứu về cầu của các tác giả:
“Phân tích cầu về dịch vụ vận tải hành khách công cộng trên thị trường Hà Nội và một số giải pháp phát triển thị trường nội địa của công ty TNHH Mai Linh Thủ Đô”, của tác giả Bùi Thị Vân Anh (2007) Đề tài đã đi sát vào mục tiêu nghiên
cứu, đã ứng dụng phần mềm kinh tế lượng trong phân tích cầu Tuy nhiên, luận văn vẫn chưa nêu đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến cầu, vai trò của phân tích cầu, mô hình ước lượng chưa đủ các yếu tố cơ bản Đặc biệt, luận văn này mới chỉ phân tích
số liệu thứ cấp, chưa có số liệu sơ cấp
Theo cách tiếp cận của tác giả Hồ Thị Mai Sương với đề tài “Phân tích nhu
cầu và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tư vấn ở khu vực phía Bắc của công
ty cổ phần Hoàn Đạt”- Luận văn tốt nghiệp khoa kinh tế năm 2007 Luận văn có
thế mạnh là nêu đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng tới cầu dịch vụ tư vấn, vai trò của phân tích cầu, và đã giải quyết tốt được vấn đề đặt ra của công ty Hoàn Đạt Tuy nhiên, do đối tượng của đề tài nghiên cứu là dịch vụ tư vấn, khó hơn khi đối tượng
là hàng hóa Do đó, đề tài vẫn chưa áp dụng được phần mềm kinh tế lượng trong phân tích
Luận văn tốt nghiệp khoa kinh tế năm 2007, “Phân tích cầu và một số giải
Trang 12pháp phát triển thị trường Diêm Thống Nhất khu vực phía Bắc tại công ty cổ phần Diêm Thống Nhất” của tác giả Trịnh Thị Thắm Tác giả đã đi sâu vào giải quyết
vấn đề đặt ra Nhưng luận văn vẫn chưa nêu được vai trò của phân tích cầu đối với doanh nghiệp Các kiến nghị của tác giả đã dựa trên định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ
cụ thể và thực trạng cầu về sản phẩm Diêm Thống Nhất của công ty Tuy nhiên, với
số liệu thu thập được khá nhiều nhưng luận văn chưa có ứng dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích để có cơ sở khoa học khi đề xuất một số giải pháp Luận văn của tác giả Trịnh Thị Thắm cũng chưa có sự thu thập và phân tích số liệu sơ cấp Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu được tác giả Lê Thị Hoa thực hiện
trong đề tài “ Phân tích cầu và giải pháp pháp phát triển thị trường Dược phẩm của
công ty cổ phần Traphaco” đề tài nghiên cứu cầu sản phẩm dược phẩm của công ty
cổ phần Traphaco từ năm 2003 đến năm 2008 Trên cơ sở thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp và thứ cấp tác giả đã làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng tới cầu dược phẩm của công ty từ đó đưa ra các biện pháp phát triển thị trường dược phẩm Tuy nhiên, tác giả chưa có ứng dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích và dự báo cầu để có cơ sở khoa học khi đề xuất một số giải pháp cho công ty
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết (2010) “Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm thông táo
Hoa Linh trên địa bàn Hà Nội của công ty dược phẩm Hoa Linh” đã đi sâu phân
tích tình hình hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Dược phẩm Hoa Linh giai đoạn 2005-2009 , chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm Thông Táo của công ty từ đó đưa ra những giải pháp có tính thực tiễn cao trong việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên số liệu thu thập được chỉ dừng lại ở số liệu thứ cấp, chưa có số liệu sơ cấp thu thập qua bảng phiếu điều tra, khảo sát
Nguyễn Thị Lệ (2009): “Phân tích và dự báo cầu về mặt hàng sữa của công ty
TNHH Thương mại FCM trên địa bàn Hà Nội đến năm 2010” Tác giả nghiên cứu
cầu về sản phẩm sữa Sunny Mama ở Hà Nội trong giai đoạn 2001 – 2008, và dự báo cầu đến năm 2010 bằng phương pháp điều tra chọn mẫu và phương pháp phân tích kinh tế lượng Đề tài đã đi sát vào mục tiêu nghiên cứu, sử dụng đầy đủ các phương pháp nghiên cứu, ứng dụng được các phần mềm kinh tế lượng trong phân tích cầu đồng thời, phản ánh đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng tới cầu từ đó đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn cao Tuy nhiên, đối tượng phân tích là mặt hàng sữa nên có cách tiếp cận khác với sản phẩm DDVSPN
Trang 13Chu Thị Quỳnh Trang (2011) “Phân tích và dự báo cầu đối với sản phẩm thiết
bị trường học Nam Anh trên địa bàn Hà Nội đến năm 2015” Tác giả đã sử dụng
phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích kinh tế lượng trong quá trình nghiên cứu cầu sản phẩm thiết bị trường học giai đoạn 2007 – 2015 trên địa bàn Hà Nội Trong đề tài, tác giả đã làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng tới cầu, sử dụng phần mềm SPSS trong phân tích dữ liệu sơ cấp và ứng dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích thứ cấp Tuy nhiên số lượng mẫu quan sát còn hạn chế
Đề tài luận văn tốt nghiệp“Phân tích cầu và dự báo cầu về sản phẩm thuốc lá
VINATABA trên thị trường phía Bắc của công ty TM Thuốc lá đến năm 2015” của
tác giả Nguyễn Thị Tâm, (2009) Tác giả đã khái quát về cầu sản phẩm thuốc lá VINATABA trong giai đoạn 2006-2008 và sử dụng phương pháp điều tra theo phiếu điều tra, phương pháp phân tích dữ liệu bằng các phần mềm kinh tế lượng nên tính chính xác cao Các kiến nghị của tác giả đã dựa trên định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và thực trạng cầu về sản phẩm thuốc lá VINATABA của công ty Nhưng luận văn vẫn chưa nêu vai trò phân tích cầu đối với doanh nghiệp Mặt khác, với số liệu thu thập được khá nhiều nhưng luận văn chưa có ứng dụng mô hình kinh
tế lượng trong phân tích để có cơ sở khoa học khi đề xuất một số giải pháp
Đề tài luận văn tốt nghiệp “Phân tích và dự báo cầu về mặt hàng thuốc Bạch
Long Hoàn của công ty cổ phần Y Dược Bảo Long trên thị trường Hà Nội tới năm 2011” của Nguyễn Minh Quang, (2010) Tác giả Nguyễn Minh Quang đã khái quát
về cầu sản phẩm thuôc Bạch Long Hoàn trong giai đoạn 2005-2009 Tác giả đã đã
đi sát vào mục tiêu nghiên cứu, đã áp dụng việc thiết kế, tổng hợp và phân tích các
số liệu sơ cấp, đồng thời áp dụng phần mềm kinh tế lượng vào phân tích cầu Tuy nhiên, các đề xuất giải pháp để phát triển thị trường của đề tài vẫn chưa sát với thực tiễn
Đề tài “Phân tích và dự báo cầu về mặt hàng rau an toàn trên thị trường Hà
Nội của Tổng công ty thương mại Hà Nội đến năm 2015” của tác giả Nguyễn Thị
Hường (2011) Tác giả Nguyễn Thị Hường đã khái quát về cầu sản phẩm rau an toàn trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010 Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích định lượng để phân tích, trong đó đặc biệt chú trọng vận dụng mô hình ước lượng cầu để đánh giá tác động của các nhân tố tới cầu về rau an toàn của công ty Từ đó đưa ra các giải pháp mang
Trang 14tính thiết thực nhất nhằm giải quyết những khó khăn còn tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh mặt hàng rau an toàn của công ty thương mại Hà Nội trong thời gian qua Tuy nhiên, mặt hàng đề tài này đề cập tới là mặt hàng rau sạch nên có nhiều điểm khác với mặt hàng nước tăng lực
“Phân tích và dự báo cầu về mặt hàng sữa của công ty TNHH Thương mại
FCM trên địa bàn Hà Nội đến năm 2010” của tác giả Nguyễn Thị Lệ (2009) Tác
giả Nguyễn Thị Lệ đã khái quát về cầu mặt hàng sữa trên địa bàn Hà Nội Tác giả
đã đi sát vào mục tiêu nghiên cứu, đã áp dụng việc thiết kế, tổng hợp và phân tích các số liệu sơ cấp, đồng thời áp dụng phần mềm kinh tế lượng vào phân tích cầu Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của hai đề tài này là cầu về mặt hàng sữa, do vậy
sẽ có những điểm khác trong quá trình phân tích và dự báo cầu giữa mặt hàng này với mặt hàng nước tăng lực
Đề tài “Phân tích và dự báo cầu về mặt hàng nước tăng lực Sting của công ty
cổ phần thương mại Bài Thơ trên địa bàn Hà Nội đến năm 2015” là một trong
những đề tài đầu tiên tập trung vào công tác phân tích và dự báo cầu về một sản phẩm trên phạm vi cả tổng công ty của công ty Cp thương mại Bài Thơ Đề tài sẽ vận dụng cách tiếp cận định tính và định lượng để phân tích, trong đó đặc biệt chú trọng vận dụng mô hình ước lượng cầu để đánh giá tác động của các nhân tố tới cầu
về nước tăng lực Sting của công ty Từ đó đưa ra các giải pháp mang tính thiết thực nhất nhằm giải quyết những khó khăn còn tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh mặt hàng này của công ty trong thời gian qua và các giải pháp phát triển nâng cao doanh thu kinh doanh mặt hàng này
Căn cứ vào tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, tác giả đã quyết định thực hiện
đề tài “Phân tích và dự báo cầu về mặt hàng sữa bột trẻ em đến năm 2015”
Những vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài gồm:
Nghiên cứu cầu và các nhân tố ảnh hưởng tới cầu một mặt hàng, đặc biệt là mặt hàng sữa bột trẻ
Nghiên cứu về các phương pháp phân tích và dự báo cầu, vận dụng các phương pháp này khi nghiên cứu và dự báo cầu về sản phẩm sữa bột trẻ em
Dựa vào những chỉ tiêu dự báo, và những điều tra thực tế về nhu cầu của
Trang 15khách hàng trên địa bàn Hà Nội Từ đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển thị trường sữa bột trẻ em
Như vậy, qua đề tài sẽ chỉ rõ được mức độ đáp ứng của đề tài này với một số yêu cầu đặt ra trên bình diện chung về kinh tế và quản lý thị trường, cũng như những vấn đề cấp thiết mà xã hội mong muốn
Quá trình thực hiện đề tài đi tới giải quyết được một số câu hỏi sau:
Trong giai đoạn nền kinh tế của VN khó khăn như hiện nay, tình hình cầu
về cầu sữa bột trẻ em có những biến động như thế nào?
Công tác phân tích và dự báo cầu ở công ty đã được chú ý chưa? Trong điều kiện nền kinh tế khó khăn như hiện nay, thu nhập của người dân mua sữa bị ảnh hưởng, mức độ tác động của nó đối với cầu là bao nhiêu?
Đề tài được thực hiện dựa trên nguồn số liệu lấy từ:
Tổng cục thống kê
Bộ Công thương
Tài liệu trong các sách, giáo trình
Tài liệu trên mạng
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu về lý luận
Mục tiêu lý luận của đề tài được đặt ra là:
- Hệ thống lại một cách tổng quát về cầu, cầu cá nhân, cầu thị trường và các nhân tố ảnh hưởng tới cầu như: giá cả của bản thân hàng hóa, thu nhập của người dân, thị hiếu, kỳ vọng và các yếu tố khác,…
- Ngoài ra, đề tài cũng nêu rõ hơn về phân tích và dự báo cầu như: Khái niệm, công cụ, phương pháp phân tích và dự báo Cũng như, vai trò của phân tích và dự
báo cầu, từ đó dẫn tới nhu cầu về phân tích và dự báo là mang tính tất yếu
3.2 Mục tiêu thực tiễn
- Phân tích thực trạng phát triển thị trường sữa nói chung và thị trường sữa bột trẻ em nói riêng Đồng thời phân tích và ước lượng cầu sản phẩm sữa bột trẻ em trên địa bàn Hà Nội
Trang 16- Rút ra một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sữa bột trẻ em sản xuất trong nước với sữa ngoại trên thị trường Hà Nội nói riêng và thị trường nội địa nói chung
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Cầu về sữa bột trẻ em
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Để đảm bảo tính cập nhật của đề tài, đề tài tập trung nghiên cứu cầu sản phẩm sữa bột trẻ em từ năm 2009 đến nay
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên bàn thành phố Hà Nội
5 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần các phần Lời cảm ơn, Danh mục bảng biểu, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, đề tài nghiên cứu có kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích và dự báo cầu
Chương 2: Thực trạng phân tích và dự báo cầu sản phẩm sữa bột trẻ em tại
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Lựa chọn mô hình dự báo
Chương 3: Vận dụng mô hình hồi quy để dự báo cầu sản phẩm sữa bột trẻ
em tại Hà Nội đến năm 2015
Trang 17CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO CẦU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẦU
1.1.1 Khái niệm cầu
1.1.1.1 Khái niệm cầu và luật cầu
a Khái niệm cầu
Theo Ngô Đình Giao (2006): “Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định, giả sử cá nhân tố khác không đổi”
Qua khái niệm về cầu ta thấy, cầu về hàng hóa hay dịch vụ bao giờ cũng bao gồm hai nhân tố là khả năng mua và sự sẵn sàng mua của người tiêu dùng Khi người tiêu dùng có khả năng mua một hộp sữa Sunny Mama nhưng chưa có sự sẵn sàng để mua sữa này, sẽ không tạo thành cầu về sữa Sunny Mama Hay khi họ rất mong muốn sử dụng sữa Sunny Mama để đảm bảo sức khỏe cho các bà mẹ và thai nhi Nhưng nếu thu nhập của khách hàng quá thấp cũng không hình thành cầu về sữa này
Cần phân biệt sự khác nhau giữa cầu và lượng cầu Lượng cầu là một lượng cụ thể của hàng hóa hay dịch vụ mà người mua mong muốn và có khả năng mua tại một mức giá nhất định, trong một giai đoạn nhất định với các yếu tố khác không đổi Còn cầu là tập hợp của các lượng cầu ở các mức giá khác nhau
b Luật cầu
Theo tác giả Ngô Đình Giao (2006), luật cầu được phát biểu là: “Lượng cầu hàng hóa hay dịch vụ được cầu trong một khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa hoặc dịch vụ đó giảm xuống” Luật cầu được giải thích rõ qua hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập Hiệu ứng thay thế nói lên hầu như các hàng hóa đều có sự thay thế cho nhau trong tiêu dùng Khi đó, giá của hàng hóa này tăng thì lượng cầu về mặt hàng thay thế cho nó cũng tăng lên Do đó, làm cho cầu về hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại
Hiệu ứng thu nhập được hiểu là khi giá của hàng hóa thay đổi làm cho thu nhập
Trang 18thực tế của người tiêu dùng cũng thay đổi Khi thu nhập thực tế tăng hay giảm đi làm cho lượng cầu về hàng hóa đó cũng tăng lên hoặc giảm đi (hàng hóa thông thường)
Như vậy, khi giá của một hàng hóa tăng làm cho thu nhập thực tế của người tiêu dùng giảm do đó làm cho cầu về hàng hóa đó cũng giảm theo và ngược lại
1.1.1.2 Đường cầu và hàm cầu
a Đường cầu
Đường cầu là một đường mô tả hàng hóa hay dịch vụ mà người mua mong muốn và có khả năng mua Nó là tập hợp tất cả các điểm phản ánh mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa và lượng cầu tại mức giá nhất định
Hình 1.1 Đồ thị đường cầu về sữa bột trẻ em
Qua đồ thị ta thấy, đường cầu về sữa bột trẻ em (D) là một đường có dốc xuống,
có độ dốc âm Nhìn vào đường cầu, ta càng nhận thấy rõ hơn về sự khác biệt của cầu và lượng cầu Cầu là toàn bộ đường cầu nhưng lượng cầu được phản ánh thông qua 1 điểm cụ thể trên đường cầu như lượng cầu tại điểm A là Q1 hộp, tại B là Q2
Trang 19a: Là hệ số chặn, nó phản ánh khi hàng hóa này được cho không (P = 0) thì lượng cầu sẽ đạt lớn nhất a đơn vị hàng hóa
b: Là hệ số chỉ sự nhạy cảm của lượng cầu phụ thuộc vào giá Trước hệ b là dấu
âm, như vậy hàm cầu đã phản ánh đúng theo luật cầu Nếu P thay đổi (tăng) một đơn vị thì lượng cầu sẽ thay đổi (giảm) b đơn vị hàng hóa
1.1.1.3 Độ co dãn của cầu
Độ co dãn của cầu là một chỉ tiêu phản ánh phần trăm thay đổi của lượng cầu khi các nhân tố (giá của hàng hóa đó, thu nhập, giá của hàng hóa liên quan) thay đổi 1% (với điều kiện các nhân tố khác không đổi)
Như vậy, tùy theo dạng của biến ảnh hưởng ta có các loại độ co dãn của cầu theo giá của bản thân hàng hóa đó ( D
Theo định nghĩa về độ co dãn của cầu theo giá ta có công thức tính D
P
E như sau :
%Q là phần trăm thay đổi của lượng cầu
% P là phần trăm thay đổi của giá của hàng hóa đó
E được xác định tương tự như D
P
Nghiên cứu độ co dãn đặc biệt là độ co dãn của cầu theo giá là rất quan trọng
Vì nó là cơ sở cho việc định giá của một DN Khi DN có độ lớn D
E cũng đem lại cho DN những căn cứ cho việc
ra quyết định đúng đắn Khi DN nghiên cứu về cầu được kết quả về D
I
E là một số
dương tức là hàng hóa mà DN đang kinh doanh là hàng hóa thông thường Vì vậy, nếu triển vọng thu nhập của người dân tăng lên, DN nên có kế hoạch cho việc tăng cung ứng mặt hàng mà mình kinh doanh, và ngược lại
Trang 20Bên cạnh đó, X
Y
P
E cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng cho DN Vì trong nền kinh
tế thị trường hiện nay, hiếm khi có sản phẩm nào được tiêu dùng một cách độc lập
Nó thường có sự bổ sung, thay thế cho nhau trong tiêu dùng
Ví dụ, sản phẩm thay thế của Sunny Mama là XO Mum, sữa Humama,… Khi tính toán được chính xác X
Y
D P
E , doanh nghiệp có thể dự tính được chính xác hơn về lượng cầu đối với mặt hàng mà mình đang kinh doanh Do đó, đảm bảo cho việc kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn
1.1.2 Cầu cá nhân và cầu thị trường
1.1.2.1 Khái niệm cầu cá nhân
Cầu cá nhân là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà từng cá nhân riêng lẻ có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (giả thiết các nhân tố khác không thay đổi)
Cầu cá nhân là yếu tố cơ bản để hình thành nên cầu thị trường về một loại hàng hóa Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có sự lựa chọn chi tiêu, mức độ phản ứng với sự biến động của giá cả hàng hóa và các yếu tố khác là khác nhau
Do đó, đường cầu của các cá nhân khác nhau là khác nhau Ví dụ, cầu về sữa Sunny Mama của hai cá nhân X, Y là khác nhau
1.1.2.2 Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu
Sự lựa chọn tối ưu là quyết định lựa chọn tiêu dùng tập hợp hàng hóa mà đem lại lợi ích cao nhất cho người tiêu dùng với sự hạn chế về thu nhập Theo tác giả Ngô Đình Giao (2006) “Việc tiêu dùng tối ưu có nghĩa là chúng ta chọn một cơ cấu tiêu dùng hàng hóa tối đa hóa tổng lợi ích Điều kiện để tối đa hóa tổng lợi ích là: Lợi ích cận biên tính trên một đồng của hàng hóa này bằng lợi ích cận biên tính trên một đồng của hàng hóa khác và bằng tổng lợi ích cận biên tính trên một đồng bất kỳ của một hàng hóa nào khác”
N N C
C B
B A
A
P
MU P
MU P
MU P
Trang 21được coi là tối ưu khi nó thỏa mãn được cả hai điều kiện cần và đủ là:
B A
B B A
A
P b P a I
P
MU P
Như chúng ta đã biết, đường bàng quan (U) là thể hiện những sự kết hợp trong việc lựa chọn hai hàng hóa hay tất cả những sự lựa chọn đó đều mang lại một một mức lợi ích như nhau đối với người tiêu dùng Đường ngân sách (I), được hiểu là tập hợp các điểm mô tả các phương án kết hợp tối đa hàng hóa hay dịch vụ mà người tiêu dùng có thể mua được với mức ngân sách của mình và giá cả của hàng hóa là cho trước
Như vậy, căn cứ vào điều kiện lựa chọn tiêu dùng tối ưu, ta có thể xác định điểm tiêu dùng tối ưu dựa trên đồ thị 1.2 Giả sử, người tiêu dùng chỉ mua sữa Sunny Mama (A) và sinh tố (B) Khi đó, qua đồ thị ta xác định được điểm tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng là tại điểm E (QB;QA) Điểm E là điểm tiếp xúc của hai đường bàng quan (U) và đường ngân sách (I) Nó đã thể hiện được điểm tiêu dùng này mang lại lợi ích tối đa là (U) Ngoài ra, điểm tiêu dùng E cũng đã đáp ứng yêu cầu
về ngân sách của người tiêu dùng, vì nó nằm trên đường ngân sách I
Hình 1.2 Lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người mua sữa Sunny Mama, sinh tố
Q
Q
Trang 22Như vậy có thể kết luận: Điểm tiêu dùng tối ưu là điểm tiếp xúc của hai đường bàng quan (U) và đường ngân sách (I)
1.1.2.3 Xây dựng đường cầu cá nhân và cầu thị trường
a Xây dựng đường cầu cá nhân
Đường cầu cá nhân là một đường có độ dốc xuống Chúng ta có thể xây dựng đường cầu cá nhân về một loại hàng hóa thông qua điểm tiêu dùng tối ưu như sau:
Ví dụ, một người tiêu dùng có tập hợp hàng hóa tiêu dùng là sinh tố (A) và sữa Sunny Mama (B) Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu ban đầu được xác định là tại điểm
E1 (QB1;QA1) điểm tiếp xúc giữa U1 và I1 Khi giá của sữa Sunny Mama tăng từ PB1lên PB2 đường ngân sách I1 xoay vào trong, đường ngân sách mới là I2 Giá Sunny Mama tăng lên làm cho MUB/PB giảm đi, để đạt được tối đa hóa lợi ích, người tiêu dùng sẽ tăng chi tiêu sinh tố và giảm sữa Sunny Mama (Phụ lục 4)
Qua đồ thị ở phụ lục 4, điểm tiêu dùng tối ưu lúc này không phải là E1 mà là E2
Số lượng Sunny Mama giảm từ QB1 đến QB2, số lượng sinh tố tăng lên từ QA1 đến
QA2 Khi giá Sunny Mama tăng lên từ PB1 lên PB2 làm cho lượng cầu về nó giảm từ
QB1 đến QB2 Từ đó, ta xác định đường cầu cá nhân về Sunny Mama là đường D đi qua 2 điểm K, H như trên đồ thị
b Đường cầu thị trường
Cầu thị trường là tổng số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà mọi người sẵn sàng
và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian đã cho Cầu thị trường là tổng hợp của các cầu cá nhân lại với nhau
Việc xác định đường cầu thị trường về một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó, có
thể được thực hiện theo nguyên tắc “cộng ngang” các đường cầu cá nhân Theo
nguyên tắc này, đường cầu thị trường về một loại hàng hóa hay dịch vụ được xác định bằng việc cộng lần lượt tất cả các số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà các cá nhân trong thị trường mong muốn và sẵn sàng mua ở một mức giá nhất định
Trang 23Hình 1.3 Xây dựng đường cầu thị trường về sữa bột trẻ em
Ta có thể xác định đường cầu thị trường về sữa đơn giản từ hai đường cầu cá nhân về sữa DX, DY Tại mức giá P1, ta có lượng cầu thị trường là QTT1 được xác định là QTT1= QX1 + QY1 Khi mức giá tăng từ P1 lên P2 làm cho lượng cầu của các
cá nhân X và Y đều giảm xuống QX2 và QY2, lượng cầu thị trường giảm xuống ở mức: QTT2= QX2 + QY2
Đường cầu thị trường được xác định là DTT đi qua 2 điểm A(QTT1;P1) và B(QTT2;P2) như trên đồ thị 1.3 Đường cầu thị trường là một đường có độ dốc âm
và độ dốc thoải hơn so với các đường cầu của các cá nhân
Vì khi giá tăng P = P2 - P1, lượng cầu của cá nhân X giảm là: QX = QX1 -
Như vậy, độ co dãn của cầu thị trường theo giá lớn hơn độ co dãn của cầu cá nhân theo giá của các cá nhân X và Y
D TT
Q
P1 P
Trang 241.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu
1.1.3.1 Yếu tố giá cả của bản thân hàng hóa
Tác động từ yếu tố giá cả của bản thân hàng hóa thể hiện rất rõ qua luật cầu Do giá của hàng hóa tăng lên, với hạn chế về ngân sách, và để tối đa hóa lợi ích của mình như đã phân tích ở trên Người tiêu dùng sẽ cân nhắc, họ sẽ lựa chọn mức tiêu dùng tối ưu mới là giảm tiêu dùng hàng hóa đó, tăng tiêu dùng hàng hóa khác Vậy khi, giá của bản thân hàng hóa tăng sẽ làm cho lượng cầu về hàng hóa đó giảm và ngược lại Tức là, khi giá cả của bản thân hàng hóa thay đổi sẽ gây ra sự trượt dọc trên đường cầu Trong đồ thị xây dựng đường cầu cá nhân (Phụ lục) khi giá của sữa tăng từ PB1 đến PB2 tăng gây ra sự trượt dọc trên đường cầu cá nhân về Sunny Mama, được thể hiện bởi sự trượt dọc trên đường D từ điểm K đến điểm H
Và trên đồ thị của đường cầu thị trường (Đồ thị 1.3), khi giá tăng từ P1 đến P2 đã gây ra sự trượt dọc trên đường cầu thị trường (DTT) từ điểm A đến điểm B
1.1.3.2 Yếu tố ngoài bản thân giá cả của hàng hóa
Yếu tố giá cả của bản thân hàng hóa tác động tới lượng cầu (gây ra sự trượt dọc trên đường cầu), các yếu tố ngoài giá của bản thân hàng hóa tác động tới cầu (làm dịch chuyển đường cầu) Cụ thể là:
a Thu nhập của người dân
Thu nhập của người dân đặc biệt là thu nhập thực tế của họ (loại bỏ yếu tố lạm phát), có tác động rất lớn đối với cầu về một loại hàng hóa Vì thu nhập đại diện cho khả năng mua của người tiêu dùng Thực tế, có hai loại hàng hóa chịu sự ảnh hưởng của yếu tố thu nhập nhưng hoàn toàn ngược nhau là hàng hóa thông thường
và hàng hóa thứ cấp
Trang 25Hình 1.4 Đồ thị tác động của thu nhập đến cầu
Qua đồ thị 1.4 chứng minh rõ sự tác động của thu nhập đối với cầu Đối với hàng hóa thông thường, khi thu nhập tăng từ I0 lên I1 làm cho cầu tăng từ D0 lên D1, đường cầu dịch chuyển sang phải Với hàng hóa thứ cấp, khi thu nhập tăng từ I0 lên
I2, cầu về hàng hóa này giảm từ D0 đến D2, điều đó làm đường cầu dịch chuyển sang trái
b Giá cả của hàng hóa liên quan
Hiện nay, rất ít hàng hóa được tiêu dùng một cách độc lập, và việc không có mặt hàng thay thế cho nó trong tiêu dùng lại càng hiếm Khi giá của các nhân tố này thay đổi sẽ tác động trực tiếp tới cầu về một loại hàng hóa Khi giá hàng hóa bổ sung cho hàng hóa đó trong tiêu dùng tăng, sẽ làm cho cầu về hàng hóa đó giảm, đường cầu dịch chuyển sang trái và ngược lại
Khi giá của hàng hóa thay thế cho hàng hóa đó trong tiêu dùng tăng, làm cho cầu về hàng hóa đó tăng lên, đường cầu dịch chuyển sang phải Vì cùng đem lại lợi ích như mong muốn, giá rẻ hơn làm cho lợi ích của việc tiêu dùng hàng hóa đó tăng lên Ví dụ, khi sữa Similac Mum tăng giá sẽ làm cho cầu về sữa Sunny Mama tăng lên
c Quy mô thị trường
Quy mô thị trường được hiểu là số lượng người tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường Khi quy mô thị trường tăng lên làm cho cầu thị trường về hàng hóa, dịch vụ tăng lên Do đó, khi số lượng người mua một loại hàng hóa tăng lên làm cho lượng cầu thị trường ở mỗi mức giá cũng tăng Do cầu thị trường tăng làm cho
Hàng hóa thông thường
I 2 >I
I 1 >I
P
Trang 26đường cầu dịch chuyển sang phải
Nếu số lượng người mua giảm đi sẽ làm cho cầu thị trường giảm và đường cầu dịch chuyển sang trái Yếu tố quy mô thị trường có tác động làm dịch chuyển đường cầu Ví dụ, khi số phụ nữ trong độ tuổi 20-39 ở HN tăng lên sẽ làm cho cầu về sữa Sunny Mama tăng (đường cầu sữa Sunny Mama dịch chuyển sang phải)
d Thị hiếu của người tiêu dùng
Thị hiếu hay sở thích của người tiêu dùng là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới cầu Nó là một trong hai yếu tố ảnh hưởng sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu (yếu tố chủ quan) Khi người tiêu dùng có thị hiếu tăng về một loại hàng hóa nào đó sẽ làm cho cầu về hàng hóa đó tăng và ngược lại Ví dụ, khi người tiêu dùng trở nên ưa thích hương vị của sữa Sunny hơn, sẽ làm cho đường cầu Sunny tăng (đường cầu dịch chuyển sang phải)
e Sự kỳ vọng của người tiêu dùng
Sự kỳ vọng của người tiêu dùng là sự dự báo, dự đoán khá chắc chắn và có thể tin tưởng được của họ về các nhân tố có ảnh hưởng tới cầu một loại hàng hóa, dịch
vụ nào đó Người tiêu dùng sẽ căn cứ vào những kỳ vọng đó để đưa ra quyết định tiêu dùng có lợi nhất cho mình Ví dụ, nếu người tiêu dùng kỳ vọng giá của XO Mum tăng, khi đó cầu về hàng đó sẽ tăng lên Ứng với mỗi mức giá đã cho lượng cầu đều tăng lên, do đó dự báo về giá sữa XO Mum tăng làm cầu về XO mum tăng lên, đường cầu dịch chuyển sang phải
f Các yếu tố khác
Ngoài những nhân tố chủ yếu trên có rất nhiều yếu tố khác có vai trò thứ yếu tác động tới cầu về một hàng hóa dịch vụ như thiên tai, chính sách của chính phủ, chất lượng các dịch vụ sau bán của các công ty,… Ví dụ, khi lũ lụt xảy ra làm cho cầu về các mặt hàng lương thực như mỳ tôm, lương khô tăng lên Hay khi chính phủ đánh thuế thu nhập đối với người tiêu dùng làm cho cầu về hàng hóa và dịch vụ giảm đi Hoặc các công ty có sự chăm sóc tốt đối với khách hàng sẽ làm cho tăng lên cầu về hàng hóa đó của công ty,…
1.1.3.3 Hàm cầu tổng quát
Từ việc xác định các yếu tố xác định hàm cầu, ta có thể xác định được phương trình đường cầu tổng quát có dạng:
Trang 27QD = F (P, M, PR, T, N, …)
Trong đó: - QD là lượng cầu hàng hoá
- P là giá cả của bản thân hàng hoá đó
- PR là giá cả của hàng hoá thay thế
- M là thu nhập của người tiêu dùng
- T là thị hiếu (hay sở thích) của người tiêu dùng
- N là dân số Hàm cầu tổng quát biểu diễn dưới dạng tuyến tính:
QD = a + bP + cM + dPR + eT + fN
Trong đó: a là hệ số chặn Các hệ số góc (b, c, d, e, f) đo ảnh hưởng đối với lượng hàng hoá được tiêu thụ khi thay đổi một trong các biến (P, M, PR, T, và N) khi các đại lượng khác không đổi Khi hệ số góc của một biến nhất định là số dương (âm) lượng cầu sẽ tỷ lệ thuận (tỷ lệ nghịch với biến đó)
Ngoài ra cũng có thể biểu diễn đường cầu dưới dạng phi tuyến Dạng thông dụng nhất là dạng loga tuyến tính:
QD = a Pb Mc PRd Te Nf
1.2 PHÂN TÍCH CẦU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CẦU
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của phân tích cầu
1.2.1.1 Khái niệm về phân tích cầu
“Phân tích cầu là quá trình thiết kế, thu thập, xử lý thông tin về tình hình tiêu dùng của người tiêu dùng và báo cáo kết quả phân tích thông tin cần thiết phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị” [3, Tr 28] Như vậy, để phân tích cầu tốt cần nhìn nhận, đánh giá, bóc tách tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến cầu Đó là quá trình nghiên cứu tất các các nhân tố trực tiếp cũng như gián tiếp ảnh hưởng đến
Trang 28cầu Nó được bắt đầu từ quan sát khảo sát thực tê, thu thập cho tới phân tích và xử
lý số liệu
Dựa trên những lý luận cơ bản về cầu và các nhân tố ảnh hưởng tới cầu, ta có thể hiểu phân tích cầu là việc nghiên cứu mối quan hệ phụ thuộc của lượng cầu với một hay nhiều biến khác nhằm phục vụ cho việc ước lượng và dự báo giá trị trung bình của lượng cầu với các giá trị đã biết của biến độc lập
Như vậy, để thực hiện phân tích cầu tốt cần phải có sự xem xét, nhìn nhận và bóc tách được sự tác động của các nhân tố tới lượng cầu như thế nào Nó là quá trình nghiên cứu tất cả các yếu tố có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới cầu Quá trình này được tiến hành từ việc khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu, tìm nguyên nhân đến việc đề ra các định hướng hoạt động cũng như giải pháp thực hiện các định hướng đó
1.2.1.2 Sự cần thiết của phân tích cầu
Phân tích cầu là một hoạt động không thể thiếu đối với bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh trong bất kỳ ngành nghề nào Công tác phân tích cầu càng trở nên quan trọng hơn trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay khi mà cầu ngày càng có xu hướng quyết định cung
- Phân tích cầu cung cấp cho doanh nghiệp các thông tin chính xác và kịp thời
về tình hình giá cả, thị trường cũng như đối thủ cạnh tranh
- Phân tích cầu giúp doanh nghiệp đánh giá được tình hình hoạt động của chính bản thân mình, tìm ra được những điểm mạnh để phát huy và những điểm yếu, thiều sót để khắc phục
- Phân tích cầu giúp doanh nghiệp phát hiện được các nhân tố ảnh hưởn tới cầu sản phẩm của doan nghiệp, đồng thời đánh giá được mức độ của các nhân tố tác động đến cầu
- Thông qua phân tích cầu, doanh nghiệp sẽ có những quyết định kinh doanh đúng đắn và kịp thời Do doanh nghiệp đã đánh giá, nắm bắt được tình hình thị trường cũng như nội tại trong doanh nghiệp
Trang 29Do đó, doanh nghiệp cần có sự quan tâm, chú trọng đến hoạt động phân tích cầu Làm tốt công tác này sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, giảm thiểu những rủi ro cho doanh nghiệp
1.2.2 Các phương pháp phân tích cầu
1.2.2.1 Phương pháp phân tích gián tiếp
Đây là phương pháp đơn giản, doanh nghiệp nghiên cứu cầu thị trường hiện tại thông qua các tài liệu sẵn có: như hồ sơ lưu trữ của công ty về các kết quả nghiên cứu trước đây, nguồn dữ liệu nội bộ của công ty, nguồn dữ liệu bên ngoài… Dựa vào những tài liệu này, doanh nghiệp có thể giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình, tập trung phân tích những đặc điểm cơ bản ảnh hưởng đến cầu thị trường, từ
đó giảm chi phí cũng như thời gian nghiên cứu Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, các dữ liệu có thể không nói lên nhu cầu hiện tại của thị trường, nên nó không mang tính cập nhật và khách quan
1.2.2.2 Phương pháp điều tra, nghiên cứu người tiêu dùng
Điều tra, nghiên cứu người tiêu dùng là việc xem xét xem người tiêu dùng sẽ phản ứng như thế nào với những thay đổi cụ thể trong giá, thu nhập, giá của các hàng hóa có liên quan, các chi phí quảng cáo và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu khác Công việc này có thể tiến hành bằng cách hỏi trực tiếp người tiêu dùng, hoặc sử dụng các phiếu điều tra do các chuyên gia marketing thiết kế và chuyển đến người tiêu dùng trả lời, hoặc quan sát trực tiếp hành vi của người tiêu dùng… Về mặt lý luận, các câu hỏi điều tra người tiêu dùng có thể cung cấp một phần lớn thông tin hữu ích cho doanh nghiệp Thực tế các thông tin này có thể không chính xác vì người tiêu dùng đôi khi hoặc không thể hoặc không sẵn sàng trả lời một cách trung thực Phương pháp này đôi khi phát sinh chi phí cao nếu quy mô của mẫu điều tra là lớn và cần sự phân tích tỷ mỉ
Trang 301.2.2.3 Phương pháp thí nghiệm trên thị trường
Một trong những phương pháp thường được tiến hành là lựa chọn một số thị trường có những đặc điểm kinh tế, xã hội giống nhau, sau đó tiến hành thay đổi giá
ở một số thị trường, thay đổi hình thức xúc tiến bán hàng ở một số thị trường, thay đổi bao bì ở một số thị trường khác và ghi chép lại các phản ứng của khách hàng ở các thị trường khác nhau Dựa vào số liệu thu thập được, có thể xác định được ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau như: tuổi tác, giới tính, thu nhập và giáo dục, quy
mô gia đình tới cầu đối với hàng hoá
Phương pháp này có ưu điểm nổi bật là phản ánh được tính khách quan của thị trường và người tiêu dùng biểu hiện cầu của họ một cách tự nhiên Tuy nhiên, phương pháp này rất tốn kém Phương pháp này có ý nghĩa đặc biệt đối với các doanh nghiệp trong chính sách định giá và trong việc thử nghiệm các phương án xúc tiến bán hàng đối với các sản phẩm lần đầu đưa ra thị trường
1.2.2.4 Phương pháp kinh tế lượng
Đây là sự phân tích về lượng các vấn đề kinh tế hiện thời dựa trên việc vận dụng đồng thời lý thuyết và thực tế
Phương pháp này gồm các bước:
Bước 1: Nêu giả thiết về các mối quan hệ giữa các biến kinh tế
Bước 2: Thiết lập hàm số cầu
Theo phần trên ta đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến cầu Và mối quan
hệ giữa lượng cầu và các nhân tố trên được gọi là hàm cầu tổng quát Hàm cầu tổng quát có dạng:
QD = F (P, M, PR, T, PE, N…)
Bỏ qua biến T và PE khó khăn trong việc định lượng thị hiếu và xác định kỳ vọng
về giá cả Như vậy, hàm cầu có dạng:
Trang 31QD = F (P, M, PR, N)
Hàm cầu thực nghiệm tuyến tính có dạng:
QD = a + bP + cM + dPR + eN
Dấu dự tính của các hệ số:
b: mang dấu âm
c: mang dấu dương đối với hàng hóa thông thường và mang dấu âm đối với hàng hóa thứ cấp
d: mang dấu dương nếu là hàng hóa thay thế và mang dấu âm nếu là hàng hóa bổ sung
e: mang dấu dương
Hàm cầu thực nghiệm phi tuyến
Dạng thông dụng nhất là dạng loga tuyến tính
Q = aPbMcPRdNe
Để ước lượng dạng hàm cầu này phải chuyển về loga tự nhiên
lnQ = lna + blnP + clnM + dlnPR + elnN
Bước 3: Thu nhập các số liệu trong hàm cầu Kinh tế lượng yêu cầu phải có
số lượng mẫu lớn để đảm bảo độ tin cậy của kết quả ước lượng
Bước 4: Tiến hành ước lượng các tham số Kiểm định ý nghĩa thống kê, và ý
nghĩa kinh tế của các hệ số, đánh giá mức độ phù hợp của mô hình
1.3 DỰ BÁO CẦU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO CẦU
1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết của dự báo cầu
1.3.1.1 Khái niệm về dự báo cầu
Ước lượng cầu được hiểu là sự lượng hóa các mối quan hệ của cầu với các nhân
tố ảnh hưởng đến cầu, dựa trên số liệu thu thập được và những kết quả của phân tích
Trang 32cầu Những số liệu thu thập (giá trị của các quan sát) được là yếu tố rất cần cho ước lượng, còn những kết luận của phân tích cầu là căn cứ quan trọng để kiểm định tính đúng đắn của hàm cầu ước lượng
Dự báo cầu là giai đoạn cuối cùng trong quá trình nghiên cứu cầu, là việc tính toán cầu trong tương lai dựa vào những giả thiết nhất định về xu hướng vận động biến đổi của cầu Ước lượng cầu là một công cụ rất tốt để phân tích định lượng về cầu và đồng thời nó cũng là một căn cứ quan trọng để dự báo cầu
1.3.1.2 Sự cần thiết của dự báo cầu
Dự báo cầu là một hoạt động rất cần thiết của doanh nghiêp
- Nó phục vụ cho việc lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp: Dựa trên các kết quả của dự báo cầu, doanh nghiệp có thể đưa ra những kế hoạch kinh doanh hợp lý và hiệu quả, phù hợp với tình hình thị trường cũng như của doanh nghiệp
- Tăng khả năng nắm bắt cơ hội và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp: dựa trên kết quả của dự báo cầu có thể tiên liệu được một số tình huống có thể xảy ra để chủ động nắm bắt cơ hội cũng như có những đề phòng với rủi ro Qua đó, dự báo cầu góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tận dụng một cách tối ưu các nguồn lực của doanh nghiêp
1.3.2 Các phương pháp dự báo cầu thị trường
Khi tiến hành dự báo cầu của 1 mặt hàng cần căn cứ vào việc thu thập, xử lý
số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ vào một số mô hình toán học (Định lượng) Tuy nhiên dự đoán cầu cũng có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai (Định tính) và
để dự báo định tính được chính xác hơn, người ta cố loại trừ những tính chủ quan của người dự báo Sau đây là một số phương pháp dự báo cầu thị trường:
1.3.2.1 Phương pháp ngoại suy
Một trong những kỹ thuật đơn giản nhất là giả định rằng diễn biến của các biến đang dự đoán trong tương lai cũng giống như trong quá khứ Đây là cơ sở của
Trang 33việc dự báo Ở mức cơ bản nhất, phương pháp này giả định rằng lượng bán năm sau
sẽ bằng lượng bán năm nay hoặc tỷ lệ tăng lượng bán năm sau bằng tỷ lệ tăng lượng bán năm nay Một cách phức tạp hơn là xác định những xu hướng trong quá khứ gần rồi ngoại suy những xu hướng này trong tương lai Hình 1.5 minh họa quá trình này Các điểm chấm rải rác trên hình 1.5 biểu thị lượng bán trong thời kỳ gần đây
và đường thẳng nét liền được xem như tập hợp tốt nhất cho các điểm này Sự mở rộng xu hướng này trong tương lai được đánh dấu bằng nét đứt cho ta dự đoán về lượng bán trong các thời lỳ tương lai Nhược điểm cơ bản của phương pháp là không đưa ra những suy luận về các nhân tố ảnh hưởng cầu mà chỉ giả định rằng yếu tố duy nhất cần phải tính đến là thời gian Nó cũng giả định rằng mối quan hệ giữa thời gian và biến đang dự đoán là mối quan hệ trong đơn giản và tồn tại cả
trong dài hạn
Hình 1.5 Đường ngoại suy
1.3.2.2 Dự báo theo mùa vụ - chu kỳ
Dự báo theo mùa vụ - chu kỳ: Dữ liệu theo chuỗi thời gian có thể biểu hiện
sự biến động đều đặn có tính mùa vụ hoặc chu kỳ Khi ước lượng theo xu hướng
Các ước lượng cho các thời kỳ tương lai
Lượng
bán
Trang 34tuyến tính thông thường, có thể có sai lệch trong dự báo Ta có thể sử dụng biến giả Nếu có N giai đoạn mùa vụ thì sử dụng N-1 biến giả Biến giả bằng 1 nếu quan sát rơi vào giai đoạn đó, bằng 0 nếu quan sát rơi vào giai đoạn khác
Ví dụ dự báo bán hàng cho 4 quý năm 2009
Qt = a + b*t +c1*D1 + c2*D2 + c3*D3
Trong đó:
Qt là mức tiêu thụ
D1, D2, D3 là các biến giả
D1 = 1 nếu quan sát rơi vào quý I, bằng 0 nếu vào quý II, III, IV
D2 = 1 nếu quan sát rơi vào quý II, bằng 0 nếu vào quý I, III, IV
D3 = 1 nếu quan sát rơi vào quý III bằng 0 nếu vào quý, I, II, IV
Sau đó sử dụng phân tích hồi quy để ước lượng các hệ số (có thể sử dụng phần mềm Eviews):
^
Q = aˆ + b^*t + c^1*D1 + c^2*D2 + c^3*D3
Nếu b^ > 0 biến cần dự đoán tăng theo thời gian
Nếu b^ < 0 biến cần dự đoán giảm theo thời gian
Nếu b^ = 0 biến cần dự đoán không đổi theo thời gian
Sử dụng kiểm định T hoặc p-value để kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ
số ước lượng
1.3.2.3 Dự báo định tính
Điều tra và thăm dò ý kiến thường được sử dụng để thực hiện những dự đoán ngắn hạn khi không có số liệu định lượng
Trang 35a Thăm dò ý kiến
Lượng bán của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào mức độ chung của hoạt động kinh tế và lượng bán của cả ngành và chúng còn phụ thuộc vào các chính sách của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể dự đoán lượng bán của bản thân mình bằng việc thăm dò ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài doanh nghiệp
- Thăm dò ý kiến người lãnh đạo: Doanh nghiệp có thể thăm dò ý kiến của ban quản lý cao nhất từ các bộ phận bán hàng, tài chính và các bộ phận tổ chức về lượng bán hàng của doanh nghiệp trong quý hoặc năm tới Mặc dù sự nhìn nhận cá nhân của những người này mang tính chủ quan nhưng bằng việc lấy trung bình các
ý kiến của các chuyên gia có hiểu biết nhiều nhất về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp thì có thể hy vọng có một dự đoán tốt Cũng có thể thăm dò ý kiến của các chuyên gia bên ngoài Để tránh ảnh hưởng bắt chước có thể sử dụng phương pháp Delphi Các chuyên gia được hỏi ý kiến riêng và sau đó cung cấp câu trả lời mà không chỉ ra ai là người chịu trách nhiệm về một ý kiến cụ thể
- Thăm dò ý kiến lực lượng bán hàng: Đây là những người tiếp xúc gần nhất với người tiêu dùng và ý kiến của họ sẽ cung cấp những thông tin có giá trị
- Thăm dò những dự định của người tiêu dùng: Có thể thăm dò ý kiến của những người mua hiện thực và khách hàng tiềm năng về dự định mua sắm của họ
b Quan tâm đến triển vọng nước ngoài
Ngày nay các doanh nghiệp không chỉ chú trọng thị trường trong nước mà đang tìm kiếm nhiều thị trường nước ngoài Doanh nghiệp phải cạnh tranh với cả ở trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài.Vì thế, rất quan trọng nếu dự đoán những thay đổi trong các thị trường ngoài nước vì nó ảnh hưởng không chỉ đến thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến cạnh tranh trong nước
Trang 361.3.2.4 Phương pháp phân tích hồi quy
Đây là phương pháp cơ bản để ước lượng hàm cầu, là một loại hình phương pháp hiện đại Nội dung cơ bản của phương pháp là giải thích những giá trị được nhận thấy trong quá khứ bằng phương trình hồi quy Thực chất của phương pháp này là phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng với nhau
Một số cảnh báo khi thực hiện dự báo:
Dự báo càng xa tương lai thì khoảng biến thiên hay miền không chắc chắn càng lớn
Mô hình dự đoán được xác định sai, thiếu biến quan trọng, sử dụng dạng hàm không tin cậy đều làm giảm độ tin cậy của dự báo
Dự báo thường thất bại khi xuất hiện điểm ngoặt dẫn đến sự thay đổi đột ngột của biến quan sát
1.3.3 Vai trò của ước lượng dự báo cầu đối với doanh nghiệp
1.3.3.1 Phục vụ cho việc lập kế hoạch, chiến lược kinh doanh
Kế hoạch và chiến lược kinh doanh là những định hướng mà DN đề ra để có thể đạt được mục tiêu kinh doanh của DN Xác định đúng các yếu tố và mức độ ảnh hưởng định lượng của chúng tới cầu (yếu tố rất quan trọng đối với quyết định kinh doanh) Khi thực hiện ước lượng và dự báo cầu tốt, DN có đầy đủ cơ sở tin cậy để tiến hành lập các kế hoạch, chiến lược kinh doanh đặc biệt là chiến lược về giá, chiến lược kích cầu của công ty, chiến lược phát huy thế mạnh để nâng cao sức cạnh tranh,… Cũng như các kế hoạch chi tiết hơn cho cung ứng hàng hóa đáp ứng tốt nhu cầu thị trường
1.3.3.2 Giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh
Giảm thiểu rủi ro là vai trò tất yếu của bất kỳ một dự báo nào Đối với doanh nghiệp vai trò này của ước lượng và dự báo cầu càng rõ hơn Khi doanh nghiệp ước lượng được mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới cầu và dự báo cả những nhân tố đó cũng như dự báo cầu Qua đó, doanh nghiệp sẽ lập ra nhiều phương án đối phó khác nhau với sự biến động của các nhân tố trong từng thời kỳ
Trang 37Mama tăng lên trong tương lai mà theo ước lượng giá hàng hóa thay thế có tác động cùng chiều với lượng cầu về hàng hóa của doanh nghiệp kinh doanh Do đó, doanh nghiệp sẽ chủ động trước phương án về nguồn hàng ngay từ bây giờ để đáp ứng với thay đổi đó
1.3.3.3 Nâng cao hiệu quả kinh doanh
Khi doanh nghiệp ước lượng và dự báo tốt về cầu, sẽ giúp cho doanh nghiệp
có những phương án tốt để có thể thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của mình Với những
kế hoạch được lập ra công ty có thể chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh của mình, giảm thiểu rủi ro kinh doanh từ đó giảm được những chi phí không đáng có Qua đó, ước lượng và dự báo cầu nâng cao được hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp là điều tất yếu
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Việc dự báo cầu sản phẩm dựa trên cơ sở lý luận về cầu sản phầm, qua đó xác định hàm cầu tổng quát, lựa chọn mô hình dự báo phù hợp Trong luận văn này, tác giả lựa chọn mô hình hàm cầu tuyến tính để dễ dàng nhận thấy sự phụ thuộc của các yếu tố đối với cầu sản phẩm Trong chương tiếp theo, tác giả căn cứ vào cơ sở
lý luận đã nêu ở trên để phân tích cụ thể các yếu tố ảnh hưởng tới cầu sản phẩm sữa, qua đó đánh giá thực trạng cầu sản phẩm sữa bột trẻ em tại địa bàn Hà Nội
Trang 38CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO CẦU VỀ SẢN PHẨM SỮA BỘT TRẺ EM TẠI HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LỰA CHỌN MÔ HÌNH DỰ BÁO
2.1 KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG SỮA BỘT TRẺ EM HIỆN NAY
2.1.1 Nhu cầu sữa bột trẻ em ở Việt Nam hiện nay
Thị trường Việt Nam với gần 90 triệu dân (số liệu năm 2012), tỉ lệ tăng hàng năm vào khoảng 1,2% nên mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu trẻ em ra đời, với mức tăng GDP khoảng 6-8% mỗi năm và tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn ở mức tương đối cao (khoảng 20%) sẽ là một thị trường tiềm năng để phát triển ngành sữa nói chung
và sản phẩm sữa bột trẻ em nói riêng
Hơn nữa, như thống kê, mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Việt Nam năm 2010 là 14,8 lít/người/năm, còn ở mức rất thấp so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong khu vực và trên thế giới như Thuỵ Sỹ 140 lít/người/năm, Hà Lan 120 lít/người/năm, Úc 110 lít/người/năm, Đài Loan 40 lít/người/năm,… nên nhu cầu về
sữa và tiềm năng của thị trường sữa còn rất lớn
Bảng 2.1 : Mức tăng trưởng tiêu thụ sữa trong nước các giai đoạn
Tốc độ tăng trưởng Đơn vị 2001-2005 2008-2010 2010-2012
(Xử lý theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan)
Sữa hiện nay được tiêu thụ chủ yếu tại các thành phố lớn, khu vực thành thị
có kinh tế phát triển, còn tại các vùng nông thôn thì rất thấp Theo số liệu thống kê
Trang 39của Viện Dinh dưỡng thì người dân thành thị sử dụng lượng sữa bình quân hàng năm nhiều gấp 4 lần người dân nông thôn
Các vùng nông thôn càng nghèo, càng xa thì cơ hội được dùng các sản phẩm sữa càng ít Ngay ở các vùng nông thôn thì mức tiêu thụ sữa của các xã nghèo chỉ bằng một phần năm mức tiêu thụ sữa ở xã không nghèo Trong tương lai khi mức thu nhập bình quân tăng lên thì mức tiêu thụ sữa cũng sẽ gia tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn
Cơ cấu tiêu dùng đang có nhiều thay đổi Năm 2009 sữa bột chiếm khoảng 25% tổng khối lượng sữa tiêu thụ trong nước, nay chỉ còn khoảng 21% Trong khi sữa thanh trùng, tiệt trùng gồm các loại sữa dinh dưỡng, sữa tươi, sữa tiệt trùng, sữa chua…đang tăng mạnh Sữa tươi tiệt trùng và sữa chua là hai ngành hàng có số người sử dụng cao nhất do giá rẻ, phù hợp với nhiều đối tượng và nhiều lứa tuổi khác nhau Hiện nay trên thị trường Việt Nam có tới hơn 300 loại sản phẩm sữa do các công ty trong nước sản xuất và nhập khẩu, cạnh tranh nhau khá gay gắt Các loại sản phẩm sữa có giá bán đắt nhất và cũng là các loại sữa được tiêu thụ mạnh nhất là sữa cho trẻ em, người lớn tuổi và phụ nữ mang thai
Thị trường sữa bột trẻ em tại Việt nam hiện nay đang nóng lên vì nhiều chủng loại sữa liên tục tăng giá và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi mà có ngày càng nhiều các hãng sữa ngoại kinh doanh trên thị trường Trong năm 2012 vừa qua, thị trường đã ghi nhận tơí 16 lần tăng giá sữa
2.1.2 Đặc tính từ phía cung của thị trường sữa bột trẻ em
Quy mô ngành sữa ở Việt Nam còn bé, nhưng đầy tiềm năng Ngành sữa Việt Nam chỉ thực sự phát triển từ năm 1990 khi các công ty sữa nước ngoài bắt đầu quay lại Việt Nam sau đổi mới Mặc dù vậy, khả năng cung ứng sữa nguyên liệu trong nước hiện vẫn còn rất hạn chế
Hiện nay đàn bò trong nước chỉ cung cấp được khoảng 22% tổng sản lượng sữa, chủ yếu từ những hộ gia đình nuôi bò sữa quy mô nhỏ, khả năng cho sữa
Trang 40thấp Lượng sữa tươi này thường dùng cho sản xuất sữa nước và sữa đặc có đường, còn lại 78% nhu cầu phải đáp ứng bằng nhập khẩu, bao gồm 31% nhập khẩu sữa thành phẩm và 47% nhập khẩu sữa nguyên liệu Theo Bộ công thương, tính riêng 5 tháng đầu năm 2011, cả nước đã nhập khẩu trên 300 triệu USD sữa và các sản phẩm sữa (Hình 2.1)
(Nguồn: Bộ Công Thương)
Hình 2.1 Biểu đồ nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa 5 tháng đầu năm 2011
Các hãng sữa khi đầu tư nhà máy thường không chỉ sản xuất mỗi sữa bột trẻ em mà còn sản xuất các sản phẩm khác từ sữa để tận dụng lợi thế nhờ phạm
vi Trong khi chi phí của việc chuyển giao công nghệ về Việt Nam từ thiết bị, quy trình sản xuất đến con người là rất lớn, thì lợi ích nhận được lại không đủ bù đắp vì quy mô thị trường còn bé, nguồn sữa nguyên liệu lại không đủ đáp ứng Điều này dẫn đến chi phí sản xuất sữa bột trẻ em ở Việt Nam cao hơn so với giá nhập khẩu
Do đó, các hãng sữa thường chỉ tham gia hoạt động thương mại chứ không sản xuất Thị trường sữa bột trẻ em ở Việt Nam hiện nay gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu Hình thức kinh doanh phổ biến hiện nay là nhập khẩu sữa thành