1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro

132 537 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Hải Lâm K11B/BKHN-VT Luận văn Thạc sỹNHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước NHTW : Ngân hàng Trung ương NIM : Tỷ lệ

Trang 3

Trần Hải Lâm K11B/BKHN-VT Luận văn Thạc sỹ

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI 1

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - 2

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại. - 2

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại - 4

1.1.3 Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại: - 6

1.2 CÁC LOẠI RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - 14

1.2.1 Rủi ro tín dụng - 15

1.2.2 Rủi ro lãi suất - 20

1.2.3 Rủi ro thanh khoản - 22

1.2.4 Rủi ro tỷ giá - 24

1.2.5 Rủi ro công nghệ - 25

1.3 PHÂN LOẠI NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO CỦA NHTM - 26

1.4 QUẢN TRỊ RỦI RO KINH DOANH NGÂN HÀNG - 28

1.4.1.Khái niệm quản trị rủi ro: - 28

1.4.2 Sự cần thiết và mục đích quản lý rủi ro - 29

1.5 NỘI DUNG QUẢN TRỊ RỦI RO - 31

1.5.1 Xác định hạn mức rủi ro - 31

1.5.2 Đánh giá rủi ro - 32

1.5.3 Theo dõi tổng thể rủi ro - 33

1.5.4 Đánh giá quản trị rủi ro - 34

1.6 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO - 34

1.6.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản trị rủi ro - 34

1.6.2 Bài học rút ra từ các nước trên thế giới về quản trị rủi ro - 40

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH RỦI RO CỦA GP BANK VŨNG TÀU 41

Trang 4

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ GP.BANK CHI NHÁNH VŨNG TÀU - 42

2.1.1 Giới thiệu về NH TMCP Dầu Khí Toàn Cầu- GP.BANK - 42

2.1.2 Giới thiệu về ngân hàng GP Bank chi nhánh Vũng Tàu - 44

2.1 Các dịch vụ của GP Bank Vũng Tàu - 46

2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA GP.BANK VŨNG TÀU. - 52

2.2.1 Phân tích rủi ro tín dụng - 52

2.3 PHÂN TÍCH RỦI RO LÃI SUẤT - 76

2.3.1 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng - 76

2.3.2 Phân tích sự biến động của nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất - 80

2.3.3 Phân tích thực trạng rủi ro lãi suất của GP.Bank Vũng Tàu theo mô hình định giá lại - 84

2.3.4 Nguyên nhân rủi ro lãi suất của GP Bank Vũng Tàu trong thời gian qua - 86

2.4 PHÂN TÍCH RỦI RO THANH KHOẢN CỦA GP.BANK VŨNG TÀU 89

2.4.1 Tổ chức quản lý thanh khoản tại GP.Bank Vũng Tàu - 89

2.4.2 Quy trình quản lý thanh khoản tại GP.Bank Vũng Tàu - 91

2.4.3 Thực trạng quản lý rủi ro thanh khoản tại GP.Bank Vũng Tàu - 93

2.4.4 Đánh giá về quản lý rủi ro thanh khoản tại GP.Bank Vũng Tàu - 96

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA GP.BANK VŨNG TÀU 100

3.1 Mục tiêu của quản trị rủi ro - 101

3.1.1 Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng - 101

3.1.2 Mục tiêu quản trị rủi ro thanh khoản - 101

3.1.3 Mục tiêu quản trị rủi ro lãi suất - 101

3.2 Giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tại ngân hàng GP.Bank Vũng Tàu - 101

3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng - 101

3.2.2 Nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro lãi suất - 108

3.2.3 Nhóm giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro thanh khoản - 115

KẾT LUẬN 120

Trang 5

Trần Hải Lâm K11B/BKHN-VT Luận văn Thạc sỹ

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ,

nhiệt tình, quý báu của thầy cô, nhà trường và các bạn Với lòng kính trọng và

biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Viện kinh tế và Quản lý, Viện đào tạo sau đại học, Cán bộ nhân viên –

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi

trong quá trình học tập và làm luận văn

PGS.TS Phan Thị Thuận – người Cô kính mến đã hết lòng hướng dẫn,

dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn

Vợ tôi, Đào Thanh Vân, là hậu phương lớn, vững chắc đã luôn động

viên tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Tập thể các bạn lớp Cao học K11B-Vũng Tàu đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi

trong quá trình học tập và bảo vệ luận văn

Trân trọng!

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACB : Ngân hàng Á Châu

ALCO : Hội đồng quản lý tài sản

AMA : Cách tiếp cận đo lường hiện đại

CITAD : Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng

Core Banking : Hệ thống Ngân hàng lõi

DBS : Ngân hàng Singapore

FED : Cục dự trữ liên bang Mỹ

GDP : Tổng thu nhập quốc dân

GP Ecom : Thẻ ghi nợ nội địa

GP.Mobile :Ngân hàng di động

HĐQT : Hội đồng quản trị

IB : Kênh giao dịch tài chính

IBM : Công ty tin học

Mobile Banking : Giao dịch qua điện thoại đi động

Trang 7

Trần Hải Lâm K11B/BKHN-VT Luận văn Thạc sỹ

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước

NHTW : Ngân hàng Trung ương

NIM : Tỷ lệ lãi cận biên

NOSTRO : Tài khoản của ngân hàng A mở tại ngân hàng B

ODA, FDI : Nguồn vốn nước ngoài

PGD : Phòng giao dịch

Phone Banking : Dịch vụ ngân hàng điện thoại

POS : Máy thanh toán

QTRR : Quản trị rủi ro

RRHĐ : Rủi ro hoạt động

SCB : Ngân hàng thương mại cổ phần Siam

SMS Banking : Dịch vụ tin nhắn ngân hàng

Smartlink : Kết nối thông minh

SWIFT : Tổ Chức Viễn Thông Tài Chính Liên Ngân Hàng Toàn cầu

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu cho vay của GP.Bank Vũng Tàu năm 2012 và 4 quý năm 2013 -54

Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của GP.Bank Vũng Tàu -55

Bảng 2.3: Cơ cấu kỳ hạn huy động vốn năm 2013 của GP.Bank Vũng Tàu -57

Bảng 2.4: Tỷ lệ vốn cho vay trên vốn huy động của GP.Bank Vũng Tàu năm 2012 và 2013 -59

Bảng 2.5: Kỳ hạn cho vay của GP.Bank Vũng Tàu năm 2013 -60

Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng theo loại tiền, kỳ hạn năm 2012 -2013 -62

Bảng 2.7: Dư nợ cho vay theo ngành nghề tại GP.Bank Vũng Tàu năm 2012 – 2013 -64

Bảng 2.8: Phân loại nhóm nợ năm 2012 – 2013 -66

Bảng 2.9: Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng GP.Bank Vũng Tàu giai đoạn 2012-2013 77

Bảng 2.10: Tình hình tài sản của GP.Bank Vũng Tàu -79

Bảng 2.11: Tình hình nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất của GP.Bank Vũng Tàu -82

Bảng 2.12: Phân tích trạng thái nhạy cảm với lãi suất của GP.Bank Vũng Tàu -85

Bảng 2.13: Giới hạn khe hở thanh khoản tích lũy -93

Bảng 2.14: Bảng chỉ số trạng thái tiền mặt -94

Bảng 2.15: Chỉ số năng lực cho vay -95

Bảng 2.16: Chỉ số dư nợ/ tiền gửi của khách hàng -96

Trang 9

Trần Hải Lâm K11B/BKHN-VT Luận văn Thạc sỹ

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Vai trò và chức năng hoạt động của NHTM 6

Hình 1.2: Phân loại nguyên nhân rủi ro của NHTM 28

Hình 1.3: Sơ đồ quản trị rủi ro của NHTM 34

Hình 2.4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của ngân hàng GP Bank chi nhánh Vũng Tàu 45

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, dưới tác động của cạnh tranh thị trường và những biến động hết

sức mạnh mẽ của nền kinh tế, kinh doanh dịch vụ tài chính là một thách thức rất lớn

của các Ngân hàng Thương mại Nhu cầu mở rộng thị trưởng, tăng trưởng doanh

thu và khuếch trương vị thế luôn là mục đính hướng tới của các ngân hàng Tuy

nhiên, bên cạnh đó nguy cơ rủi ro luôn rình rập các ngân hàng buộc họ phải đề ra

những cách thức để giảm thiểu tối đa thiệt hại có thể xảy ra

Trở thành chi nhánh trực thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu Khí

Toàn Cầu – GP.Bank Ngân hàng GP.Bank Vũng Tàu thành lập từ năm 2007 đã có

một vị thế mới trên bước đường phát triển hoà chung với sự phát triển của toàn hệ

thống từ Hội sở đến các chi nhánh và tạo sự hài hoà phát triển kinh tế khu vực miền

Nam trong lĩnh vực tín dụng Ngân hàng Cùng với sự phát triển chung của đời sống

xã hội, nâng cao tính cạnh tranh, phát triển các loại hình dịch vụ mới, giảm thiểu rủi

ro - đây là phần không thể thiếu trong chinh sách quản lý của Ngân hàng

Với đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực Tiền tệ - Ngân hàng các nhà kinh tế

đều thừa nhận và khẳng định: kinh doanh trong lĩnh vực này là một trong những "

nghề đặc biệt " nhất trong các nghề kinh doanh, do hàng hoá kinh doanh trong nghề

này là một hàng hoá " đặc biệt " đó là Tiền tệ, sự khác biệt này còn do tính đa dạng,

phong phú và nhạy cảm đặc biệt của nó đối với " sức khoẻ " của nền kinh tế Tính

đặc biệt của nó còn khẳng định ở chỗ, ngoài tính quy luật rủi ro đối với mọi nghề

kinh doanh thì kinh doanh Tiền tệ còn là nghề mạo hiểm nhất do độ rủi ro cao vì nó

có tính thường trực và nó không những cấp số cộng mà còn là cấp số nhân của nền

kinh tế

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề rủi ro bên cạnh các vấn đề khác trong

hoạt động Ngân hàng và việc xử lý vấn đề này để bảo đảm sự hoạt động Ngân hàng

mỗi khi gặp phải, vì vậy tôi nghiên cứu và trình bày đề tài “Phân tích rủi ro của

Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Chi nhánh Vũng Tàu và giải pháp giảm

thiểu rủi ro” này làm luận văn Thạc sỹ kinh tế

Trang 11

Trần Hải Lâm K11B/BKHN-VT Luận văn Thạc sỹ

2 Mục đích nghiên cứu

Phân tích rủi ro của Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Chi nhánh Vũng Tàu và

đưa ra giải pháp giảm thiểu rủi ro để giúp chi nhánh hoàn thiện hơn trong hoạt động

kinh doanh

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu tại Chi nhánh ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn Cầu Vũng

Tàu Với các số liệu được thu thập và phân tích giai đoạn 2012-2013 tại chi nhánh

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của

ngân hàng GP.Bank Vũng Tàu bao gồm 03 loại rủi ro: Rủi ro tín dụng; Rủi ro lãi

suất; Rủi ro thanh khoản và giải pháp giảm thiểu rủi ro

5 Kết cấu luận văn

Nội dung luận văn gồm 03 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về rủi ro của ngân hàng thương mại

Chương II: Phân tích rủi ro của GP.Bank Vũng Tàu

CHương III: Giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của

GP.Bank Vũng Tàu

Trang 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

Trang 13

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Năm 2010, do yêu cầu cấp bách về quá trình phát triển của hệ thống ngân

hàng Việt Nam cũng như sau tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trong nước

và quốc tế năm 2007, 2008 có nhiều biến động mạnh, để tạo cơ sở pháp lý cao cho

sự phát triển bền vững và ngăn ngừa tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới hệ

thống ngân hàng Việt Nam, Luật Các Tổ Chức Tín dụng (TCTD) ra đời (luật này đã

được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7

thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010) Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức,

hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập,

tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ

chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng Và áp

dụng cho các Tổ chức tín dụng; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Văn phòng đại

diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân

hàng; Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm

soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt

động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng

nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng

Hệ thống ngân hàng Việt Nam được tách bạch thành hai hệ thống, độc lập và rành

mạch về chức năng và nhiệm vụ

- Hệ thống NHNN Việt Nam với chức năng là Ngân hàng Trung ương

(NHTW) của Việt Nam

- Hệ thống các TCTD với chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng

Riêng về loại hình Ngân hàng thương mại, hiện nay bao gồm các ngân hàng

sau:

+ Ngân hàng Thương mại Nhà nước

+ Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP)

+ Ngân hàng Thương mại liên doanh

+ Ngân hàng Hợp Tác Xã Việt Nam

Trang 14

+ Chi nhánh ngân hàng Thương mại nước ngoài cung cấp tín dụng và dịch

vụ cho phần lớn các loại hình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế quốc doanh

Hoạt động chính của các NHTM là:

1 Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các

loại tiền gửi khác

2 Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động

vốn trong nước và nước ngoài

3 Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:

a) Cho vay;

b) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;

c) Bảo lãnh ngân hàng;

d) Phát hành thẻ tín dụng;

đ) Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được

phép thực hiện thanh toán quốc tế;

e) Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

4 Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng

5 Cung ứng các phương tiện thanh toán

6 Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây:

a) Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi,

nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ;

b) Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi

được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

(Theo điều 98 luật các TCTD 2010)

Qua quá trình hoạt động, hệ thống NHTM Việt Nam ngày càng lớn mạnh cả về

lượng và chất Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có 1 định nghĩa thống nhất về

NHTM Việt Nam Khái niệm phổ biến nhất hiện nay là:

Ngân hàng Thương Mại là Tổ chức kinh doanh Tiền Tệ mà hoạt động chủ

yếu và thường xuyên của nó là nhận tiền gởi của khách hàng với trách nhiệm

Trang 15

hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm

phương tiện thanh toán

Như vậy có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc

trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền

gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp

nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

 Kinh doanh Tài chính

Vốn Tạm thời thừa (do tiết kiệm )

Tạm thời thiếu (phát sinh trong lĩnh vực đầu tư)

Để giải quyết vấn đề này cần có cơ chế chuyển giao vốn trong nền kinh tế thị

trường

- Chuyển giao trực tiếp từ người thừa vốn sang người thiếu vốn dưới hình

thức Tín dụng Thương mại

- Chuyển giao gián tiếp từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua một trung gian

tài chính, chính là Ngân hàng Thương mại

Khi thực hiện chức năng này, Ngân hàng đóng vai trò là người trung gian

giữa bên đi vay và bên cho vay, thu hút lượng tiền nhàn rỗi ở khắp nơi trong nền

kinh tế tập hợp lại thành một nguồn vốn khá lớn phục vụ nhu cầu cho hoạt động sản

xuất kinh doanh và tìm kíếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất

 Trung gian thanh toán

Chi Chi hộ Thu

Ngân hàng Thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán chính là

việc Ngân hàng Thương mại thực hiện các nghiệp vụ chi trả tiền, hàng hoá, dịch vụ

cho các doanh nghiệp và cá nhân thông qua các công cu thanh toán như séc, uỷ

nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thuê tín dụng Việc Ngân hàng Thương mại thực hiện vai

trò trung gian thanh toán có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế Hoạt động này thúc

đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, tiết kiệm được tiền mặt, cước phí lưu thông, hạn

chế vốn ứ đọng trong khâu thanh toán tạo cơ sở cho Ngân hàng Thương mại tạo

Trang 16

tiền thông qua con đường tín dụng đối với các doanh nghiệp dưới hình thức cho vay

bằng chuyển khoản (bút tệ) thúc đẩy việc luôn chuyển tiền tệ một cách nhanh

chóng

Thông qua trung gian, các ngân hàng tạo điều kiện các nghành kinh tế phát

triển ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn, quy mô hơn

 Chức năng tạo tiền

Nhờ hoạt động nhận tiền gửi Ngân hàng có khả năng cho vay và khi cho vay

Ngân hàng có khả năng tạo nên tiền gửi không kỳ hạn, đó là một phần của khối tiền

tệ hay nói cách khác Ngân hàng Thương mại có khả năng cung ứng tiền cho nền

kinh tế Năng lực của hệ thống Ngân hàng Thương mại trong việc tạo tiền không

những đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân hệ thống Ngân hàng

Thương mại (tăng cường nguồn vốn để hoạt động mà còn có ý nghĩa to lớn Vì chức

năng “ tạo tiền “ của Ngân hàng Thương mại chỉ thực hiện được nếu vốn mà Ngân

hàng Thương mại huy động đã cho vay được và số tiền vay đó phải luân chuyển

được trong hệ thống Ngân hàng Thương mại Do đó nếu Ngân hàng Thương mại

không tạo được tiền có nghĩa là Ngân hàng Thương mại không tạo được điều kiện

thuận lợi cho quá trình sản xuất và trong nhiều trường hợp, sản xuất không thực

hiện được nguồn tích luỹ từ lợi nhuận và các nguồn khác bị hạn chế, các đơn vị sản

xuất lại còn có khả năng gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn do thừa vốn (tạm thời)

Còn khi Ngân hàng thương mại tăng cường tín dụng, khối lượng tín dụng có xu

hướng tăng, kéo theo xu hướng tăng khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế

 Thu quỹ của khách hàng:

Ngân hàng là một tổ chức đứng ra bảo quản tiền và tài sản của khách hàng

theo sự uỷ thác, đồng thời thực hiện thu và chi của khách hàng

Tạo ra sự an toàn cho tài sản

Tài sản của khách hàng được sinh lợi

Các nguồn tài chính trong nền kinh tế được sử dụng triệt để

Chức năng của NHTM được trình bày trên hình 1.1 dưới đây cho thấy vai trò

Trang 17

Hình 1.1: Vai trò và chức năng hoạt động của NHTM

-Doanh nghiệp - Doanh nghiệp

-Tổ chức kinh tế - Tổ chức kinh tế

-Cá nhân hộ - Cá nhân hộ

gia đình gia đình

1.1.3 Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại:

Hoạt động của Ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ và

dịch vụ Ngân hàng với nội dung chính là: Thường xuyên nhận tiền gửi và sử dụng

số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán

 Đặc trưng của Ngân hàng thương mại:

Thứ nhất, hoạt động kinh doanh tiền tệ Trên thị trường tài chính, NHTM

là các tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất chuyển tải những khoản vồn huy

động được trong xã hội đến những người có nhu cầu chi tiêu và đầu tư Với chức

năng ban đầu là nhận tiền gửi của xã hội, sau đó, các NHTM đã trở thành các chủ

thể chuyên mua bán quyền sử dụng vốn Tùy theo trình độ phát triển của nền kinh

tế- xã hội cũng như công nghệ ngân hàng mà cơ cấu và chủng loại các sản phẩm

khác nhau Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của

khoa học và công nghệ, các sản phẩm mới đã ra đời như: Máy rút tiền tự động

(ATM), Homebanking, SMS banking, Internet banking, Mobile banking…

Thứ hai, hoạt động kinh doanh của NHTM có tính nhạy cảm cao và luôn

chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật Hoạt động kinh doanh của ngân hàng dựa

trên niềm tin, vì vậy, tính nhạy cảm trong kinh doanh rất cao Chỉ cần có biến động

T

Í

N D Ụ N

- Dịch vụ bảo lãnh , uỷ thác , tư vấn

- Dịch vụ kinh doanh ngoại hối

Trang 18

nhỏ cũng có thể gây tác động đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng ( Một thay

đổi nhỏ về lãi suất cũng có thể dẫn đến khách hàng rút tiền từ NH này sang gửi ở

NH khác với mức lãi suất cao hơn)

Thứ ba, Các sản phẩm dịch vụ của NHTM mang tính tương đồng, dễ bắt

trước và gắn chặt với yếu tố thời gian Các sản phẩm dịch vụ mà NH cung cấp cho

khách hàng rất đa dạng Song phần lớn các sản phẩm của mỗi NH này lại tương

đồng với các sản phẩm của NH khác, đặc biệt là các sản phẩm truyền thống như:

Huy động vốn, cho vay, bảo lãnh thanh toán, ký gửi… Nếu một NHTM vừa thực

hiện một loại hình dịch vụ nào đó có hiệu quả thì ngay lập tức bị các NH khác “bắt

trước” Như vậy, khái niệm sản phẩm dịch vụ mới của NHTM phải được hiểu là sản

phẩm dịch vụ mà NH đó đưa ra thị trường trước các đối thủ cạnh tranh

Thứ tư, Khách hàng của NHTM rất đa dạng và đông đảo Mọi tầng lớp

dân cư đều có thể có giao dịch với ngân hàng nên đòi hỏi của khách hàng đối với

các sản phẩm dịch vụ cũng phải đa dạng và rất khác nhau Vì vậy, mỗi NH phải xây

dựng nghiên cứu chiến lược khách hàng phù hợp

Thứ năm, hoạt động kinh doanh của NH gắn liền với yếu tố rủi ro Rủi ro

có thể xảy a với bất kỳ loại hình kinh doanh nào của NH Tuy nhiên, rủi ro trong

kinh doanh NH có những đặc điểm khác biệt so với các lĩnh vực kinh doanh khác về

nguyên nhân và mức độ Rủi ro trong kinh doanh NH có tính lan truyền và hậu quả

để lại là vô cùng lớn, Không chỉ bao gồm rủi ro nội tại trong ngành mà của tất cả

các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn

ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác Những rủi ro thường gặp bao gồm: Rủi ro tín

dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro công nghệ, rủi ro lãi suất

 Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM

NHTM là một doanh nghiệp (DN) thực hiện hoạt động kinh doanh về tiền tệ,

tín dụng Hoạt động kinh doanh cơ bản của các NHTM là các hoạt động đem lại lợi

nhuận cho NHTM bao gồm: Hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và đầu tư

vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác

Trang 19

Phần lớn hoạt động kinh doanh của NHTM thể hiện qua bảng cân đối kế

toán Đó là bảng kê các tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ với đặc trưng cơ bản nhất là:

Tổng tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ

Bảng cân đối kế toán thể hiện nguồn vốn và tài sản của NH Ngân hàng huy

động vốn để cho vay Để có nguồn vốn, các NH nhận tiền gửi và đi vay sau đó cho

vay hoặc đầu tư vào các lĩnh vực khác nhằm tạo ra lợi nhuận cho NH Thu nhập từ

các hoạt động sau khi đã bù đắp chi phí tạo ra lợi nhuận cho NH Với vai trò là

trung gian tín dụng, trung gian thanh toán của nền kinh tế, NH có những dịch vụ

trung gian thu lợi nhuận khác ngoài hoạt động kinh doanh nói trên

a Hoạt động huy động vốn

Để có nguồn vốn kinh doanh các ngân hàng phải có biện pháp thu hút khách

hàng đến ký gửi tài sản của mình ( chủ yếu là tiền) vào tài khoản của mình để chi

tiêu theo yêu cầu

Trong cơ cấu nguồn vốn, các nhà quản trị NH thường quan tâm đến tính hợp

lý giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu của NH với nguồn vốn NH huy động từ bên ngoài

Quan tâm đến sự tương ứng giữa nguồn vốn ngắn hạn, dài hạn với việc sử dụng vốn

trong ngắn hạn và dài hạn

 Huy động vốn chủ sở hữu của ngân hàng

Để có thể thành lập một ngân hàng, theo quy định chủ sở hữu phải “có vốn điều

lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật tại thời điểm thành

lập” (theo Điều 5 - thông tư 09/2010/TT-NHNN) gọi là vốn pháp định Đây là số

vốn tối thiểu để thành lập NH do pháp luật quy định ( hiện nay NHNN quy định khi

thành lập ngân hàng yêu cầu vốn pháp định phải từ 3.000 tỷ đồng trở lên) Tùy theo

từng loại hình NH mà nguồn hình thành vốn điều lệ do các chủ sở hữu đóng góp

khác nhau Nếu NH tư nhân thì vốn này do vốn riêng của chủ doanh nghiệp đầu tư,

NH cổ phần do các cổ đông đóng góp, NHTMNN do Nhà nước tham gia góp vốn,

nếu là NH liên doanh thì từ vốn góp của nước sở tại và nước ngoài Vốn chủ sở hữu

là mức vốn riêng thuộc quyền sở hữu của NH Trong hoạt động NH nguồn vốn này

Trang 20

thường nhỏ so với tổng nguồn vốn do đó chúng chủ yếu tham gia vào tài sản cố

định, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ kinh doanh

Do chức năng quan trọng của vốn chủ sở hữu là có thể bù đắp được các tổn

thất phát sinh từ nghiệp vụ tín dụng, đầu tư và những rủi ro khác trong kinh doanh

nên cơ cấu và mức vốn chủ sở hữu thích hợp là một nhân tố hết sức quan trọng

trong việc đảm bảo an toàn và khuyến khích hoạt động kinh doanh của một NH

Vốn chủ sở hữu của NH càng lớn càng làm tăng sự tín nhiệm của công chúng, tăng

sức chịu đựng của NH khi tình hình kinh tế, tình hình hoạt động của NH lâm vào

tình trạng khó khăn Vốn chủ sở hữu của NH càng lớn càng làm tăng khả năng tạo

thuận lợi cho NH vì có thể đa dạng hóa các hoạt động từ đó có nhiều cơ hội tạo ra

nhiều tiền hơn

 Huy động vốn nợ ( tiền gửi và tiền đi vay)

Ngoài vốn chủ sở hữu, các NHTM thực hiện huy động vốn nợ Đây là một trong

những hoạt động chủ yếu của NHTM nhắm giải quyết “đầu vào”, tức là giải quyết

nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng chính đáng của tất cả các khách hàng Để

huy động vốn, các NHTM có thể thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài và dưới các

hình thức khác nhau:

- Nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức:

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ

trọng lớn trong tổng nguồn tiền của NH Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh

tranh và để có nguồn tiền có chất lượng càng cao, các NH đã đưa ra và thực hiện

nhiều hình thức huy động khác nhau như:

+ Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất

cứ lúc nào: Bộ phận tiền gửi này bao gồm: tiền gửi để thanh toán và tiền gửi để đảm

bảo an toàn tài sản của khách hàng, tiền gửi không kỳ hạn của các tầng lớp dân cư

với tính chất là các khoản tiền để dành Loại tiền gửi này chiếm tỷ trọng lớn trong

tổng nguồn vốn của NHTM và có chi phí huy động thấp nhưng biến động mạnh,

tính chất vận động phức tạp và khả năng xảy ra rủi ro của NH lớn

Trang 21

+ Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: là loại tiền gửi có

quy định cụ thể về thời gian rút tiền của khách hàng Nó có thể là tiền gửi có kỳ hạn

của doanh nghiệp khi có các khoản thu xác định thời hạn chi hoặc các khoản tích

lũy của doanh nghiệp Đây là loại tiền gửi có số dư tương đối ổn định

+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là nguồn tiền có tỷ trọng lớn trong tổng nguồn

vốn của NH Nhằm thu hút ngày cáng nhiều tiền tiết kiệm các NH cố gắng khuyến

khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng

mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh

hấp dẫn (ví dụ như: tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằng

vàng, gửi tiền trúng thưởng, các hình thức khuyến mãi khác….) Tiền gửi tiết kiệm

không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn

ngân hàng, thông thường mức cho vay từ 95% đến 100% mệnh giá sổ

- Vốn vay của NHTM

Các NHTM vay từ NHNN (như hình thức vay tái cấp vốn), vay các TCTD khác…

để giải quyết kịp thời các nhu cầu chi trả cấp bách hoặc duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc

do NHNN quy định hoặc vay trên thị trường bằng cách phát hành các kỳ phiếu, trái

phiếu

Điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của NHTM và các doanh nghiệp

phi tài chính là: NHTM chủ yếu kinh doanh từ nguốn vốn huy động từ các thành

phần kinh tế và dân cư, còn các doanh nghiệp khác hoạt động bằng nguồn vốn chủ

sở hữu là chính Vì vậy, nghiên cứu tình hình huy động vốn là vấn đề được quan

tâm đầu tiên khi xem xét nguồn vốn của NHTM Hiệu quả của hoạt động huy động

vốn thể hiện ở:

+ Quy mô, tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động

+ Cơ cấu tiền gửi của NH ảnh hưởng đến thu nhập của NH Các NH đứng đầu về

thu nhập thường huy động tiền gửi thanh toán nhiều hơn các ngân hàng khác

Những khoản tiền gửi lại này mang lãi suất thấp, thậm chí không có lãi, luôn mang

theo phí dịch vụ đối với khách hàng và chính nó đem lại thu nhập nhiều hơn Do

vậy các NH có mức thu nhập cao thường có thể thu hút và giữ một số lượng lớn tiền

Trang 22

gửi cơ sở - tiền gửi có giá trị danh nghĩa nhỏ từ các cá nhân, tổ chức- mang lãi suất

thấp và thường trung thành với NH hơn các khoản tiền gửi khác

+ Chất lượng nguồn vốn huy động thông qua tính ổn định và chi phí phải trả cho

nguồn vốn huy động

Hoạt động huy động vốn hiệu quả là huy động được tổng nguồn vốn đủ đảm

bảo khả năng thanh toán, tốc độ tăng trưởng cao đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh

tế Nguồn vốn hiệu quả là đảm bảo chênh lệch lãi suất cơ bản càng cao thì thu nhập

càng lớn và ngược lại Nguồn vốn hiệu quả là nguồn vốn ổn định và có cơ cấu

nguồn vốn phù hợp để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn như các nguồn vốn trung, dài

hạn để đầu tư dự án trung dài hạn Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất trong vốn

điều lệ của NH

b Hoạt động cho vay và đầu tư

- Hoạt động cho vay (tín dụng): là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM

để tạo thu nhập Sau khi xác định được mức vốn dự trữ bắt buộc theo định mức và

số tiền gửi có thể sử dụng để kinh doanh, Ngân hàng cho vay đối với những khách

hàng có uy tín có thể đầu tư an toàn, thu hồi vố đúng hạn, tăng tối đa vòng vay vốn

tín dụng thu được nhiều lợi nhuận nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đây là

hình thức NH giao cho khách hàng sử dụng 1 khoản tiền để sử dụng vào mục đích

và thời gian thỏa thuận nhất định giữa NH và khách hàng với nguyên tắc hoàn trả cả

gốc và lãi Nghiệp vụ này hiện nay luôn chiếm từ 60% đến 80% tài sản của các

NHTM Việc cấp tín dụng của các NHTM thường dưới nhiều hình thức như: Theo

thời gian sử dụng, theo mục đích sử dụng, theo cách thức cho vay chiết khấu, tín

dụng ứng trước, thấu chi tài khoản, cho thuê tài chính, bảo lãnh thanh toán….Khi

cho vay, các NH quan tâm đến việc bảo toàn vốn của mình và có lợi nhuận tối đa,

còn khách hàng muốn nhận được được khoản tín dụng với những điều kiện ưu đãi

nhất Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, quyết định sự

tồn tại và phát triển của NH Tuy nhiên hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rũi ro

nhất trong tất cả các hoạt động của NH (rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro đạo

Trang 23

vốn của NH là huy động từ nền kinh tế Nhờ hoạt động tín dụng mà nền kinh tế vận

hành một cách trôi chảy, chuyển vốn từ người thừa sang người thiếu vốn, giảm sự ứ

đọng về vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, tạo khả

năng tài trợ cho mọi lĩnh vực: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại…

Thu nhập của NHTM qua dịch vụ tín dụng phụ thuộc vào các yếu tố:

+ Quy mô, cơ cấu tín dụng;

+ Khả năng bù đắp rủi ro;

+ Chất lượng tín dụng;

Đối tượng cho vay của các Ngân hàng thương mại rất phong phú , đa dạng

Nói cách khác, các thành phần kinh tế đều là đối tượng phục vụ của các Ngân hàng

nếu họ đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc, chế độ, thể lệ tín dụng của Ngân hàng quy

định và sử dụng vốn vay có hiệu quả

 Đối tượng cho vay: Chi phí xây dựng cơ bản , nhà xưởng , kho tàn , máy móc

thiết bị , phương tiện sản xuất , chế biến hàng hoá , chi phí xây dựng cơ sở hạ

tầng điện nước xử lí ô nhiễm môi trường Ngoài ra có tín dụng thuê mua ,

thực chất là chi thuê tài chính là phương thức tài trợ vốn Thuê mua là hình

thức cho thuê tài sản dài hạn mà trong đó người cho thuê chuyển giao tài sản

thuộc sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng

 Cho vay tiêu dùng cũng là một nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng thương

mại loại cho vay này nhằm tài trợ cho nhu cầu sinh hoạt của người tiêu dùng

có thể cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn để mua sắm sửa chữa cải tạo nâng

cấp nhà ở , phương tiện nghe nhìn , chi phí học tập của sinh viên, chi phí

khám chữa bệnh…

Trong cho vay gồm có:

+ Cho vay ngắn hạn về vốn lưu động Trong cho vay vốn lưu động thì có cho

vay hỗ trợ ngân quỹ nhằm bù đắp vốn tạm thời trong một thời gian ngắn trong quỹ

của doanh nghiệp do chưa đến thời hạn thu tiền bán hàng mà phải trả nguyên nhiên

vật liệu, công lao động, nộp thuế, thời gian vay theo kỳ Ngoài ra còn thực hiện cho

vay chiết khấu, thương phiếu tín dụng ứng trước thời gian vay dưới 12 tháng

Trang 24

+ Cho vay trung ,dài hạn: Tín dụng cho vay trung , dài hạn là loại tín dụng

đầu tư gồm các khoản cho vay tài sản cố định có thời gian trên 12 tháng (trung hạn

từ trên 12 tháng đến 60 tháng , dài hạn trên 60 tháng trở lên nhưng không quá thời

gian hoạt động còn lại của quyết định hoặc giấy phép thành lập đơn vị và không quá

25 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống)

- Hoạt động đầu tư:

+ Đầu tư mua chứng khoán: Đây là hoạt động đầu tư tài chính mà hầu hết các NH

tham gia vào Các NH dùng vốn của mình để mua các loại chứng khoán khác nhau

có độ rủi ro thấp, năng lực thị trường cao, chủ yếu do Chính phủ hoặc do các doanh

nghiệp lớn phát hành nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh khoản khi cần và thu lợi

nhuận Hiện nay, do tình hình thị trường chứng khoán đang rơi vào khủng hoảng,

hàng loạt các mã chứng khoán giảm giá mạnh nên hoạt động đầu tư này cũng giảm

đi rất nhiều Các NH không dám mạo hiểm đầu tư vào chứng khoán như vài năm

trước đây

c Hoạt động kinh doanh dịch vụ khác

Kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, các loại hình dịch vụ của NH ngày

càng thêm phong phú, đa dạng và thu nhập từ dịch vụ chiếm một vị trí quan trọng

trong tổng thu nhập của NH Hoạt động này của NH mang tính chất dịch vụ đơn

thuần nhưng có đặc điểm là không cần tới vốn, NH không sử dụng nguồn vốn kinh

doanh của mình để phục vụ khách hàng Xuất phát từ những nhu cầu của khách

hàng, với vai trò của NHTM trong xã hội và bằng các phương tiện của mình,

NHTM đáp ứng nhanh chóng, chính xác những nhu cầu đó và NH thu phí dịch vụ

của khách hàng Xu hướng hiện nay là các NH chủ động mở rộng các hoạt động

dịch vụ để cải thiện thu nhập và củng cố vị thế của mình Các dịch vụ chủ yếu là:

 Kinh doanh ngoại tệ

Kinh doanh ngoại tệ là việc các NHTM dùng đồng tiền nước này để mua bán

đồng tiền nước khác tại cùng một địa điểm hoặc giữa các địa điểm khác nhau trong

cùng một khoảng thời gian hoặc tại các thời điểm khác nhau nhằm mang lại thu

Trang 25

 Bảo lãnh

Bảo lãnh là việc các NHTM dùng uy tín và khả năng tài chính của mình để

bảo lãnh cho khách hàng nếu như họ có yêu cầu Các loại bảo lãnh mà khách hàng

thực hiện: Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh

dự thầu và các hình thức bảo lãnh khác theo yêu cầu của doanh nghiệp và cá nhân

Thông qua hoạt động bảo lãnh, NH thu phí dịch vụ bảo lãnh

 Dịch vụ thanh toán

Dịch vụ thanh toán là việc NHTM cung ứng và thực hiện các dịch vụ sau:

Hoạt động thu hộ; hoạt động chi hộ; hoạt động chuyển tiền; Dịch vụ thanh toán

quốc tế: Đó là việc NH thanh toán tiền cho các bên tham gia hợp đồng ngoại thương

dựa trên cơ sở hệ thống NH đại lý của mình trên thế giới Các hình thức thanh toán

quốc tế được NH sử dụng là: Thư tín dụng, chuyển tiền, nhờ thu

Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán kể trên, NHTM thu được các khoản

“phí dịch vụ” Khi nhu cầu dịch vụ thanh toán của nền kinh tế xã hội ngày càng phát

triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực thì “ Phí dịch vụ” là khoản thu không nhỏ và có xu

hướng ngày càng gia tăng của các NH

 Các dịch vụ khác

Như việc cung ứng các dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho

thuê tủ, két,….và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật hiệu quả của các

hoạt động này thể hiện ở thu nhập từ các hoạt động này Việc mở các sản phẩm dịch

vụ để thu phí trở thành một yếu tố then chốt trong chiến lược tăng cường thu nhập

của NHTM những năm gần đây

1.2 CÁC LOẠI RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Hoạt động kinh doanh của NHTM thường gặp các loại rủi ro là: Rủi ro

tín dụng; Rủi ro lãi suất; Rủi ro thanh khoản; Rủi ro ngoại hối; Rủi ro công

nghệ

Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các NHTM

hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào là không có rủi

ro Rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho

Trang 26

chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng

như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường Do đó khái niệm

về rủi ro ngân hàng là:

Rủi ro Ngân hàng là những biến cố xảy ra ngoài mong đợi, gây mất mát,

thiệt hại về tài sản ( tiền ), thu nhập của Ngân hàng trong quá trình hoạt động

của mình

1.2.1 Rủi ro tín dụng

1.2.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng:

Loại rủi ro này so với các loại rủi ro hàng hoá (H - T ) khác vì ở đây là tiền

mà khách hàng phải chuyển hoá công đoạn (T - H - T) mới có khả năng hoàn trả

cho Ngân hàng Có nhiều hình thức cho vay khác nhau nên mức độ rủi ro cũng khác

nhau Chẳng hạng rủi ro đối với cho vay ngắn hạn thường do chất lượng kiểm tra

tính toán đầu tư không chặt chẻ so với cho vay trung dài hạn vì ở hai khoản này việc

thẩm định một cách kỹ lưỡng nhưng việc thu hồi các khỏan nợ lâu cho nên xác suất

xẩy ra rủi ro cao nhiều khi mất cả vốn lẫn lãi

“Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một

khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho

vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn”,

theo A.Saunders và H.Lange định nghĩa

Còn theo Ủy ban Basle định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách

hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo điều

khoản đã thỏa thuận”

Theo quyết định 493/QĐ-NHNN, của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại

khoản 1, điều 02 đề cập khái niệm “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của

TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách

hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo

cam kết”

Có rất nhiều cách khác nhau định nghĩa về rủi ro tín dụng, song các quan

Trang 27

năng xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay

vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm vốn

và/hoặc lãi) Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NHTM, làm giảm thu

nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn

tới thua lỗ, thậm chí là phá sản

1.2.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Tùy vào những thời điểm nhất định, vào giai đoạn hưng thịnh hay suy thoái

của nền kinh tế, trong một môi trường kinh tế nhất định với những chính sách cụ thể

mà mức độ rủi ro chịu ảnh hưởng khách nhau Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh

rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau :

- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát

sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá

khách hàng Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm

và rủi ro nghiệp vụ

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín

dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết

định cho vay

+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản

trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm

bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo

+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt

động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý

các khoản cho vay có vấn đề

- Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát

sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được

phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung

+ Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính

riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất

phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

Trang 28

+ Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều

đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng

một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng

một loại hình cho vay có rủi ro cao

Chắc chắn ở bất kỳ một NH nào cũng không muốn để xãy ra rủi ro tín dụng,

vì rủi ro tín dụng gắn liền với việc mất một phần hoặc toàn bộ vốn, lãi Thu hồi nợ

chật vật, tỷ lệ nợ quá hạn cao, và đương nhiên là giảm hiệu quả kinh doanh của NH

Nhưng trong thực tế nó vẫn phát sinh ngoài ý muốn của các nhà đầu tư cũng như

khách hàng vay vốn

1.2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Nhận diện được những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng giúp ngân hàng

chủ động hơn trong công tác phòng ngừa rủi ro

a Nguyên nhân khách quan:

- Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng:

Trong hoạt động kinh doanh những tai hoạ và rủi ro do thiên tai nhiều khi

quá lớn mà con người đành bó tay Ví dụ: đầu tư trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi

những khi gặp bão lụt hay dịch bệnh nhiều khi mất trắng Nhưng những biến động

của thiên nhiên có tính chất chu kỳ hoặc theo mùa thì đối với nhà kinh doanh có sự

quan tâm nghiên cứu dự báo đều có thể tránh hoặc hạn chế thiệt hại

Bên cạnh đó, quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế cũng

đem đến nhiều rủi ro tất yếu Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, khiến nhiều

khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc

khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng

cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải

nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn

sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút

- Rủi ro từ chính sách vĩ mô của nhà nước

Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn

Trang 29

về pháp lý của nhà nước trong đó hoạt động tín dụng ngân hàng là đối tượng chịu sự

tác động trực tiếp Khi hành lang pháp lý chưa an toàn, môi trường kinh doanh kém

lành mạnh và những chính sách thường thay đổi, thiếu đồng bộ sẽ gây những ánh

tắc, hệ lụy nặng nề cho hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng

nói riêng

Trong những năm gần đây, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính

phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều Luật liên quan đến hoạt

động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, Luật và các Văn bản đã có song việc triển khai

vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập

- Rủi ro do thông tin bất đối xứng:

Thông tin không cân xứng trên thị trường tài chính dẫn đến sự lựa chọn đối

nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các NH trước nguy cơ rủi ro cao Môi trường kinh tế

cũng có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay và gây ra thiệt hại hoặc

mang đến thành công đối với người cho vay

- Rủi ro từ phía khách hàng:

Nguyên nhân từ phía người đi vay là một trong những nguyên nhân chính

gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng Thông thường loại rủi ro này bao gồm:

Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro kinh doanh của doanh

nghiệp được thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết

quả kinh doanh Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc xây

dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp không khoa học, việc dự toán chi phí và xác định mức sản lượng không phù

hợp Các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung

cấp, thị trường tiêu thụ

Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở các doanh

nghiệp không thể đối phó với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ

Rủi ro tài chính diễn ra cùng với mức độ sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài

chính doanh nghiệp Rủi ro này thể hiện ở việc doanh nghiệp sử dụng không hợp lý

nguồn vốn vay, dùng nguồn vốn vay trung dài hạn phục vụ cho các nhu cầu đầu tư

Trang 30

vốn lưu động dẫn đến mất cân đối tài chính, mất khả năng chi trả Đây là loại rủi ro

thường gặp ở một số doanh nghiệp trong thời gian vừa qua

Nhìn chung đối với các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được

thông qua quá trình tìm hiểu, nắm vững “tình hình sức khỏe của khách hàng” cả

trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của

phương án sản xuất kinh doanh

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác thuộc về khách hàng vay như khách

hàng sử dụng vốn sai mục đích, hoặc khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng như lập

hồ sơ giả, làm giả giấy tờ tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng Nội bộ khách

hàng không đoàn kết nhất trí, tồn tại mâu thuẫn trong công tác quản lý cũng khiến

cho hoạt động bị ngừng trệ, sản xuất bị đình đốn, không có tiền trả nợ ngân hàng

b Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng

- Do sự yếu kém trong công tác điều hành quản trị

Yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong kinh doanh khi môi trường

kinh doanh ngày càng được quốc tế hoá và cạnh tranh quyết liệt như ở nước ta hiện

nay Nhiều nhà quản trị chưa đủ các điều kiện để điều hành ngân hàng, chưa được

đào tạo một cách cơ bản, không nắm bắt nhanh kịp thời thông tin thay đổi, thiếu bản

lĩnh trong điều hành, chưa am hiểu pháp luật, bố trí nhân sự không phù hợp với

trách nhiệm, Một số ngân hàng áp dụng việc giải quyết cho vay theo kiểu “trực

tuyến cá nhân” từ cán bộ tín dụng đến trưởng phòng tín dụng đến giám đốc Thực

tế, việc áp dụng tổ chức cho vay này thì quyền lực tập trung vào giám đốc còn trách

nhiệm của cá nhân bên dưới thường không rõ ràng, từ đó dẫn đến thiếu tinh thần

trách nhiệm, dễ xảy ra rủi ro tín dụng

- Rủi ro do cán bộ không thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ

Quy trình cho vay ở hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay là tương đối

đầy đủ và phù hợp với cơ chế thị trường và quy định pháp luật nhằm đảm bảo an

toàn vốn vay cho tổ chức tín dụng

Trang 31

1 Vốn vay phải bảo đảm bằng giá trị vật tư, hàng hóa tương đương Cho vay

phải hoàn trả vốn, trả lãi đúng hạn và sử dụng vốn vay đúng mục đích

2 Cho vay phải tuân thủ các điều kiện: lập hồ sơ vay, có tài sản đảm bảo

3 Phải tuân thủ chặt chẽ các bước kiểm tra, kiểm soát ở các công đoạn trước,

trong và sau khi cho vay

Tuy nhiên, khi thực hiện cho vay vì nhiều lý do khác nhau mà cán bộ tín

dụng đã bỏ qua các quy trình nghiệp vụ, việc kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ ngân

hàng còn bộc lộ nhiều hạn chế từ việc thẩm định cho vay đến việc bảo lãnh vay vốn,

bảo lãnh mở L/C

Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm

định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi

cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách

chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm

quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Tuy

nhiên, trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này do

một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng,

một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá

lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu

- Rủi ro do nhân viên ngân hàng thái hoá về đạo đức, biến chất, tư lợi:

Một số trường hợp cán bộ tín dụng hoặc lãnh đạo ngân hàng cấu kết với

khách hàng, xảy ra những tiêu cực trong cho vay thì thì nguy cơ xảy ra rủi ro đối

với món vay đó là rất cao Không phải do trình độ năng lực yếu kém, không đủ sức

thẩm định độ tin cậy của dự án hay phương án xin vay mà do tư lợi, đạo đức phẩm

chất của một số cán bộ ngân hàng có chiều hướng thái hoá biến chất Mặc dù luật

pháp, quy chế nghiệp vụ và những ràng buộc khác có chặt chẽ đến đâu họ vẫn tìm

cách vi phạm và rủi ro xảy ra

1.2.2 Rủi ro lãi suất

1.2.2.1 Khái niệm rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm khi lãi suất

thị trường thay đổi ngoài dự kiến gắn với thay đổi nhiều nhân tố khác như cấu

trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn, quy mô và kỳ hạn của các hợp đồng kỳ hạn…

Trang 32

Lãi suất là công cụ quan trọng trong cơ chế lãi suất để Ngân hàng hoạt động

có hiệu quả trong các tầng lớp dân cư, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế

Trong cơ chế thị trường, lãi suất của Ngân hàng thương mại được hình thành

trên cơ sở lãi suất thị trường, vì thế luôn luôn biến động Rủi ro này bắt nguồn từ

quan hệ tài sản có và tài sản nợ Cơ cấu tài sản có, tài sản nợ mức độ mất cân đối

của nó sẽ quyết định tình thế rủi ro lãi suất của một Ngân hàng Điển hình là nếu

Ngân hàng dùng tài sản nợ ngắn hạn hoặc với lãi suất biến đổi để đầu tư vào tài sản

có dài hạn hơn với lãi suất biến đổi để đầu tư vào tài sản có dài hạn hơn vẫn giữ

nguyên Những thiệt hại do lãi suất gây ra làm chi phí nguồn vốn (tài sản nợ), cao

hơn thu nhập sử dụng vốn (tài sản có )lúc đó kinh doanh bị lỗ vốn Ngoài ra, do sự

giảm sút gía trị của đồng tiền trong thời hạn chi vay dẫn tới tình trạng: Tuy lãi suất

cho vay không thay đổi nhưng lãi suất thực tế giảm sút Vốn và lãi Ngân hàng thu

về có giá trị thực tế không bằng vốn bỏ ra ban đầu (lạm phát)

1.2.2.2 Phân loại rủi ro lãi xuất

a/ Rủi ro tái định giá: Mức độ nhạy cảm của tài sản và công nợ đối với lãi suất phụ

thuộc vào kì hạn cho tới ngày định giá gần nhất Khi đó, lãi suất được thay đổi lại

trong thời gian kì hạn của hợp đồng hay thỏa thuận tiền gửi Thời hạn tái định giá là

khoảng thời gian còn lại tính đến ngày lãi suất được thay đổi lại Như vậy, thời hạn

tái định giá là khái niệm hoàn toàn khác so với thời gian đáo hạn do thời gian đáo

hạn là thời điểm hợp đồng hay thỏa thuận tiền gửi kết thúc Trong khoảng thời gian

đáo hạn có thể có nhiều thời hạn tái định giá Bởi vậy, với những tài sản và công nợ

có tài sản có lãi suất thả nổi, thời gian hợp lý nhất để đánh giá rủi ro lãi suất là thời

hạn tái định giá, chứ không phải thời gian còn lại đến khi đáo hạn

b/ Rủi ro mất cân đối: Sự mất cân đối giữa ngày đáo hạn theo hợp đồng của tài sản

với lãi suất cố định và công nợ dùng để tài trợ các tài sản đó sẽ tạo ra rủi ro lãi suất

Ví dụ, một tài sản với thời gian đáo hạn là 4 năm được tài trợ bởi công nợ đáo hạn

trong 3 năm sẽ tạo ra rủi ro lãi suất trong 1 năm còn lại khi cần phải thương thảo lại

nguồn tài trợ thay thế

Trang 33

c/ Rủi ro cơ bản: Rủi ro này phát sinh khi lãi suất của các tài sản và công nợ khác

nhau có biểu hiện khác nhau cho dù chúng có cùng thời hạn tái định giá

Ví dụ, ngân hàng huy động được một khoản tiền gửi bằng USD từ một khách hàng

Sau đó, ngân hàng này gửi lại số tiền trên vào tài khoản của mình tại ngân hàng

nước ngoài nhằm ăn chênh lệch lãi suất Tuy nhiên, ngân hàng có thể sẽ phải chịu

rủi ro khi biên độ chênh lệch lãi suất của hai khoản tiền gửi đó thay đổi không đoán

trước được do sự thay đổi lãi suất với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)

d/ Rủi ro quyền lựa chọn: Là loại rủi ro khi khách hàng có thể sử dụng quyền để

tham gia hay chấm dứt hợp đồng với lãi suất cố định Điều này có thể do việc thực

hiện quyền lựa chọn trong hợp đồng hay do khách hành chấm dứt hợp đồng do lãi

suất ưu đãi hơn trên thị trường Cụ thể :

 Khoản vay với lãi suất cố định cho phép ngân hàng thanh toán toàn bộ công

nợ

bất kỳ lúc nào khi thấy lãi suất giảm, không có lợi cho khách hàng Trong trường

hợp này, các ngân hàng cần đưa điều khoản về phí phạt trong trường hợp khách

hàng thanh toán trước kì hạn khi kí kết hợp đồng vay hay thỏa thuận tiền gửi

Khoản phí phạt này sẽ giúp bù đắp một phần thu nhập lãi mất đi do sau đó ngân

hàng phải tái đầu tư khoản vốn nhận được với lãi suất thấp hơn cho những khách

hàng sau

 Khoản tiền gửi với lãi suất cố định cho phép khách hàng rút tiền mặt bất cứ

lúc nào khi thấy lãi suất tăng, không có lợi cho khách hàng

1.2.3 Rủi ro thanh khoản

Đối với các tổ chức tín dụng nói chung, thì rủi ro thanh khoản gây ra đối với

các ngân hàng là thường xuyên và nghiêm trọng hơn cả Nguyên nhân chính xuất

phát từ đặc điểm mang tính đặc thù của bảng cân đối tài sản là: Ngân hàng đã dùng

các nguồn vốn ngắn hạn bên tài sản nợ để tài trợ cho các tài sản có Ngoài ra, khi

những người gửi tiền nhận thấy Ngân hàng gặp rắc rối về thanh khoản thì đồng loạt

rút tiền ngay lập tức ra khỏi Ngân hàng, hơn nữa hành động rút tiền của những

người gửi tiền có tính lây lan và phản ứng dây chuyền nhanh chóng và rộng khắp

Trang 34

a Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản:

Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năng tức

thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản

tín dụng đã cam kết Như vậy:

Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng

đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng

với chi phí cao Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân

hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt

hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán

b Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản:

Thanh khoản có vấn đề của một ngân hàng có thể do các nguyên nhân cơ bản sau

đây:

Một là, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các

cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản

đầu tư dài hạn Cho nên, đã xãy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn

và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng

tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn

Hai là, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và

người vay vốn Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để

đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận

các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi

sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, những xu hướng của

sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân

hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng

đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ

Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp

và kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự

trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả

Trang 35

1.2.4 Rủi ro tỷ giá

a Khái niệm rủi ro tỷ giá:

Kinh doanh ngoại hối là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh rất quan trọng

của Ngân hàng thương mại, phạm trù này liên quan chặt chẻ với tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là sự so sánh giá cả của một đồng tiền quy đổi ra một đồng

tiền khác giữa các nước Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường tỷ gía cũng luôn biến

động, việc Ngân hàng nắm giữ các chứng khoán, các khoản vay nợ ngoại tệ hoặc

tiền mặt ngoại tệ sẽ bị rủi ro do tỷ giá thay đổi

Rủi ro tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi có sự dịch chuyển tỷ giá của các ngoại tệ

mà NHTM giữ dưới dạng tài sản Có, tài sản Nợ hoặc cả hai tức là tạo trạng thái

ngoại hối mở (open or unhedged position) để đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi.

b Phân loại rủi ro tỷ giá

- Rủi ro thị trường: Khi thị trường xảy ra các biến động: Hoạt động ngoại hối mà

đặc biệt là tỷ giá luôn gắn liền và chịu ảnh hưởng của tình hình vĩ mô nền kinh tế,

đặc biệt là tình hình biến động lãi suất, xuất nhập khẩu, nhập siêu… những nhân tố

này có tác động rất lớn đến sự biến động của tỷ giá hối đoái

- Rủi ro chính sách: Đặc biệt các chính sách tài chính và tiền tệ của quốc gia có

tác động rất lớn đến thị trường hối đoái và tỷ giá hối đoái

- Rủi ro tâm lý: Tâm lý của dân chúng cũng có tác động không nhỏ đến tỷ giá hối

đoái, đặc biệt là tâm lý số đông, các hoạt động cung cầu ngoại tệ trên thị trường bị

chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai

- Rủi ro khác: Thiên tai, lũ lụt,…ảnh hưởng đến đời sống và tác động đến lượng

kiều hối,… tạo ra những tác động lên tỷ giá hối đoái

c Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá hối đoái:

Nguyên nhân chủ quan: Do trạng thái ngoại hối của ngân hàng không cân

xứng, tức là có sự chênh lệch giá trị tài sản Có và tài sản Nợ ngoại hối hoặc chênh

lệch giữa doanh số mua vào và bán ra của đồng tiền nước ngoài Từ sự không cân

xứng đó, khi ngân hàng thực hiện mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho

Trang 36

chính ngân hàng nhằm mục đích đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá biến động thì rủi ro sẽ

xuất hiện khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng

Nguyên nhân khách quan: Do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi

đối với ngân hàng Nguyên nhân của sự biến động này là: mất cân đối giữa cung –

cầu ngoại tệ trên thị trường, cán cân thanh toán quốc tế; chính sách thuế quan, năng

suất lao động, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước, lãi suất giữa đồng ngoại tệ

và nội tệ…

1.2.5 Rủi ro công nghệ

Những năm gần đây, đổi mới công nghệ-hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

đã trở thành chủ đề được NHNN Việt Nam cũng như hệ thống các NHTM đặc biệt

quan tâm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Các NHTM đã tập

trung nâng cao hiệu quả hoạt động bằng những khoản đầu tư lớn vào các lĩnh vực

như công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng công nghệ,…Bằng chứng là các NH thiệt

lập một mạng lưới máy rút tiền, gửi tiền tự động - ATM, máy thanh toán –POS, xây

dựng hệ thống chuyển tiền tự động trong và ngoài nước với thời gian ngắn nhất, hệ

thống phần mềm quản lý hiện đại giúp thực hiện giao dịch nhanh chóng với số

lượng cực lớn

Việc áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ cho phép các NH tiến hành

các hoạt động kinh doanh trên quy mô lớn, nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro

Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ vào ngân hàng thường xuất hiện rủi ro trong các

trường hợp sau:

- Việc ứng dụng nhiều hơn các công nghệ tự động tiềm ẩn khả năng chuyển

đổi các lỗi do xử lý thủ công sang rủi ro hệ thống, khi các hoạt động nghiệp

vụ dựa nhiều vào các hệ thống công nghệ đang được sử dụng rộng rãi

- Sự phát triển của các nghiệp vụ giao dịch điện tử và các ứng dụng liên quan

hoạt động kinh doanh có thể đẩy ngân hàng tới nguy cơ rủi ro tiềm ẩn như:

Các vấn đề về an ninh hệ thống; Sự gian lận bên trong và bên ngoài; Các sự

cố do hỏng hóc máy tính

Trang 37

Kinh doanh thẻ cũng là một dạng của rủi ro công nghệ

Hoạt động thanh toán thẻ đang phát triển ngày càng mạnh ở hầu hết các nước

trên thế giới Ở Việt Nam, nhờ sự phát triển nhanh chóng của Công nghệ thông tin,

ứng dụng công nghệ mới trong các hoạt động Ngân hàng và sự chuyển hướng tập

trung của các Ngân hàng vào lĩnh vực bán lẻ Công nghệ thông tin kích thích mạnh

mẽ quá trình hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và là yếu tố tiên quyết tạo điều kiện

cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt,

qua đó mang lại những lợi ích lớn cho ngân hàng, người tiêu dùng và toàn xã hội

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, rủi ro có thể xảy ra trong quá trình Phát hành và

thanh toán thẻ khiến các Ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình

thanh toán thẻ, bởi khách hàng sử dụng thẻ, cũng như các bên có lợi ích liên quan

còn nhiều lo ngại về vấn đề này

Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ

phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng

công nghệ tin học trong lĩnh vực NH Thẻ NH là công cụ thanh toán do NH phát

hành cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt

trong phạm vi số sư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp

Rủi ro trong hoạt động thẻ là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất

có liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành và hoạt

động thanh toán qua thẻ Đối tượng chịu rủi ro là NH, chủ thẻ hoặc đơn vị chấp

nhận thẻ

1.3 PHÂN LOẠI NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO CỦA NHTM

Ngoài ra, kinh doanh ngân hàng còn có các nhóm nguyên nhân dẫn đến

rủi ro sau:

Nhóm nguyên nhân chủ quan thuộc về năng lực quản trị ngân hàng:

 Do không quản lý chặt chẽ thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả

 Cho vay và đầu tư quá mức, ví dụ tập trung cho vay quá nhiều vào một

doanh nghiệp hoặc một ngành nào đó; trong đầu tư chỉ chú trọng vào một loại

chứng khoán có rủi ro cao

Trang 38

 Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin

không đầy đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý

 Do hoạt động kinh doanh trái pháp luật, tham ô

 Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ

nghiệp vụ

Nhóm nguyên nhân khách quan thuộc về phía khách hàng:

 Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý

 Do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả

 Khách hàng kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hoá không tiêu thụ được

 Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu khả năng thanh khoản

 Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo

Nhóm nguyên nhân khách quan từ môi trường hoạt động kinh doanh:

 Do thiên tai, hoả hoạn

 Tình hình an ninh, chính trị trong nước, khu vực không ổn định

 Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất cân bằng cán cân

thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động bất thường

 Môi trường pháp lý bất lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô

 Khách hàng bị tai tử nạn

 Chính sách của nhà nước thay đổi

Tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến rủi ro của NHTM được trình bày trong hình

1.2

Trang 39

Hình 1.2: Phân loại nguyên nhân rủi ro của NHTM

1.4 QUẢN TRỊ RỦI RO KINH DOANH NGÂN HÀNG

1.4.1.Khái niệm quản trị rủi ro:

Quản trị rủi ro là một quá trình bao gồm các hoạt động nhằm hạn chế,

loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả mà rủi ro gây ra đối với hoạt

động kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của

doanh nghiệp, giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại về người và của cải của

doanh nghiệp

Theo nhiều chuyên gia tài chính, ngân hàng là một trong những lĩnh vực đối

mặt với nhiều rủi ro nhất Các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua

lại với nhau và đều có thể gây tổn thất lớn cho hệ thống ngân hàng thương mại

(NHTM) Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng nào có thể tồn tại và phát triển

lâu dài mà không xây dựng cho mình hệ thống quản trị rủi ro (QTRR) hiệu quả

Một số rủi ro cơ bản trong kinh doanh ngân hàng: Rủi ro tín dụng (Credit Risk);

Rủi ro tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate (Forex) Risk); Rủi ro lãi suất

Nguyên nhân rủi ro

- Chi phí vốn thay đổi

- Tỷ giá hối đoái

- Thuế thu nhập tăng

- Thuế VAT tăng

Trang 40

(Interest Rate Risk); Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk); Rủi ro công nghệ

(Technology risk); Rủi ro tác nghiệp (Operational Risk)…

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không

mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng,

giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản

chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định

Một ngân hàng kinh doanh bị lỗ liên tục hoặc thường xuyên không đủ khả

năng thanh khoản có thể dẫn đến một cuộc rút tiền quy mô lớn và con đường phá

sản là tất yếu Như một hệ quả, rủi ro khiến ngân hàng bị lỗ và bị phá sản, sẽ ảnh

hưởng đến hàng triệu người gửi tiền, hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng

vốn, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng cao, sức mua giảm sút, thất

nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội, và hơn nữa sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng

loạt các ngân hàng trong nước và khu vực

Theo quan điểm kinh doanh ngân hàng hiện đại, được nhiều đồng thuận, cho

rằng cần quản trị tất cả các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng một cách toàn

diện Theo đó, quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn

diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những

tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro

1.4.2 Sự cần thiết và mục đích quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro giúp đảm bảo ổn định và vững tài chính cho các NHTM

Nhìn chung, cơ cấu hoạt động của các NHTM Việt Nam trong thời gian qua

hầu như không thay đổi Chức năng chủ yếu vẫn là trung gian phân bổ nguồn vốn:

Từ người cho vay đến người vay, từ người mua đến người bán Trong quá trình tồn

tại, hoạt động NH luôn phải đối phó với rất nhiều vấn đề quan trọng, nhất là duy trì

được thương xuyên trạng thái cân đối giữa nhu cầu và khả năng có được nguồn vốn

trong mọi điều kiện để đảm bảo ổn định và vững chắc về tài chính cho ngân hàng,

thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng

Xu thế tự do hóa tài chính và cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu

Ngày đăng: 09/10/2016, 23:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Vai trò và chức năng hoạt động của NHTM - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Hình 1.1 Vai trò và chức năng hoạt động của NHTM (Trang 17)
Hình 1.2: Phân loại nguyên nhân rủi ro của NHTM - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Hình 1.2 Phân loại nguyên nhân rủi ro của NHTM (Trang 39)
Hình 1.3: Sơ đồ quản trị rủi ro của NHTM - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Hình 1.3 Sơ đồ quản trị rủi ro của NHTM (Trang 45)
Hình 2.4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của ngân hàng GP. Bank chi nhánh Vũng Tàu - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Hình 2.4 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của ngân hàng GP. Bank chi nhánh Vũng Tàu (Trang 56)
Bảng 2.1: Cơ cấu cho vay của GP.Bank Vũng Tàu năm 2012 và 4 quý năm - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.1 Cơ cấu cho vay của GP.Bank Vũng Tàu năm 2012 và 4 quý năm (Trang 65)
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của GP.Bank Vũng Tàu - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn của GP.Bank Vũng Tàu (Trang 66)
Bảng 2.3: Cơ cấu kỳ hạn huy động vốn năm 2013 của GP.Bank Vũng Tàu - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.3 Cơ cấu kỳ hạn huy động vốn năm 2013 của GP.Bank Vũng Tàu (Trang 68)
Bảng 2.4: Tỷ lệ vốn cho vay trên vốn huy động của GP.Bank Vũng Tàu năm - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.4 Tỷ lệ vốn cho vay trên vốn huy động của GP.Bank Vũng Tàu năm (Trang 70)
Bảng 2.5: Kỳ hạn cho vay của GP.Bank Vũng Tàu năm 2013 - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.5 Kỳ hạn cho vay của GP.Bank Vũng Tàu năm 2013 (Trang 71)
Bảng 2.6 - Kết cấu cho vay phân theo loại tiền và kỳ hạn cho vay dưới đây. - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.6 Kết cấu cho vay phân theo loại tiền và kỳ hạn cho vay dưới đây (Trang 73)
Bảng 2.7: Dư nợ cho vay theo ngành nghề tại GP.Bank Vũng Tàu năm 2012 – - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.7 Dư nợ cho vay theo ngành nghề tại GP.Bank Vũng Tàu năm 2012 – (Trang 75)
Bảng 2.8: Phân loại nhóm nợ năm 2012 – 2013 - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.8 Phân loại nhóm nợ năm 2012 – 2013 (Trang 77)
Bảng 2.13: Giới hạn khe hở thanh khoản tích lũy - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.13 Giới hạn khe hở thanh khoản tích lũy (Trang 104)
Bảng 2.14: Bảng chỉ số trạng thái tiền mặt - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
Bảng 2.14 Bảng chỉ số trạng thái tiền mặt (Trang 105)
Bảng  2.15 phản  ánh  chỉ  số năng  lực  cho  vay của  GP.  Bank  Vũng  Tàu qua - Phân tích rủi ro của ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu chi nhánh vũng tàu và giải pháp giảm thiểu rủi ro
ng 2.15 phản ánh chỉ số năng lực cho vay của GP. Bank Vũng Tàu qua (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w