1.1.2 Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử Từ khái niệm thủ tục hải quan quy định tại Điều 4 và Điều 16 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan, chúng ta có thể đưa ra khái
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 7
1.1.Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử 7
1.1.1 Khái niệm về thủ tục hải quan 7
1.1.2 Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử 8
1.1.3 Các chức năng của thủ tục hải quan điện tử 10
1.2 Sự cần thiết của việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử 15
1.2.1 Do xu thế hội nhập và phát triển thương mại quốc tế 15
1.2.2 Do yêu cầu quản lý Nhà nước đối với cộng đồng Doanh nghiệp 16
1.2.3 Do yêu cầu cấp thiết của thủ tục hải quan điện tử trong chiến lược phát triển của hải quan Việt Nam 16
1.2.4 Do yêu cầu nhiệm vụ mới của ngành Hải quan 17
1.3 Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam 18
1.3.1 Cơ sở pháp lý quốc tế 18
1.3.2 Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam 19
1.3.2.1 Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan
đến thực hiện thủ tục hải quan bằng phươngp pháp điện tử. 19
1.3.2.2 Cơ sở pháp lý áp dụng cho thủ tục hải quan điện tử qua các
giai đoạn 21
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thủ tục hải quan điện tử 24
Trang 21.4.1 Yếu tố bên trong 24
1.4.1.1 Về cơ sở hạ tâng công nghệ thông tin 24
1.4.1.2 Về nguồn nhân lực 25
1.4.1.3 Về các hoạt động tuyên truyền 25
1.4.1.4 Về quy trình thủ tục thực hiện 26
1.4.2 Yếu tố bên ngoài 27
1.4.2.1 Ý thức về việc chấp hành tham gia thủ tục hải quan điện tử của Doanh nghiệp 27
1.4.2.2 Hạ tầng viễn thông của Doanh nghiệp 28
1.4.2.3 Sự phối hợp của các Bộ Ban ngành liên quan trong việc
thực hiện hải quan điện tử 29
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá thủ tục hải quan điện tử 29
1.6 Kinh nghiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử của một số nước
trên thế giới 30
1.6.1.Kinh nghiệm của hải quan Hàn Quốc 31
1.6.2 Kinh nghiệm của hải quan Malaysia 33
1.6.3 Kinh nghiệm của hải quan Singapore .33
1.6.4 Kinh nghiệm của hải quan Nhật Bản 34
1.7 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Hải quan Việt Nam 35
Kết luận chương I: 38
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CKSBQT NỘI BÀI 40
2.1 Giới thiệu tổng quan về Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 40
2.1.1 Sơ lược về Chi cục hài quan CKSBQT Nội Bài 40
2.1.2 Bộ máy tổ chức của Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 41
2.1.3 Quá trình chuẩn bị cho việc áp dụng thủ tục hải quan điệnt tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 43
2.1.3.1 Về phía Tổng cục hải quan 43
Trang 32.1.3.2 Về phía Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 45
2.2 Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục hải quan CKSBQT Nội Bài 46
2.2.1 Quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
áp dụng tại Chi cục hải quan CKSBQT Nội Bài 46
2.2.1.1 Giai đoạn 1: Theo quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu thí điểm tại Thông tư 222/2010/TT-BTC 47
2.2.1.2 Giai đoạn 2: Theo quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu chính thức tại Nghị định 87/2012/NĐ-CP 54
2.2.2 Kết quả thực hiện quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu tại Chi cục hải quan CKSBQT Nội Bài 58
2.2.3 Đáng giá kết quả thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 65
2.2.3.1 Những ưu điểm 65
2.2.3.2 Những nhược điểm 76
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng 79
2.3.1 Nhân tố bên trong 77
2.3.1.1 Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ thông quan điện tử 77
2.3.1.2 Về tổ chức bộ máy, nhân sự và trình độ cán bộ 81
2.3.1.3 Về các hoạt động tuyên truyền 86
2.3.1.4 Mốt số nhân tố khác 88
2.3.2 Nhân tố bên ngoài 88
2.3.2.1 Khung pháp lý liên quan tới viêc thực hiện thủ tục hải quan điện tử88 2.3.2.2 Ý thức, quan điểm nhìn nhận của doanh nghiệp làm thủ tục hải quan điện tử 91
2.3.2.3 Hạ tầng viễn thông của Doanh nghiệp 91
2.3.2.4 Một số nhân tố khác 92
Kết luận chương II: 93
Trang 4CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU TẠI
CHI CỤC HQ CKSBQT NỘI BÀI 96
3.1 Mục đích xây dựng giải pháp 96
3.2 Giải pháp 1: Hoàn thiện các hệ thống quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 96
3.2.1 Căn cứ giải pháp 96
3.2.2 Mục đích giải pháp: 97
3.2.3 Nội dung giải pháp 99
3.2.4 Nguồn nhân lực và điều kiện 104
3.2.5 Kết quả dự kiến 105
3.3 Giải pháp 2: Xây dựng mô hình thủ tục hải quan điện tử và mô hình bộ máy tổ chức 106
3.3.1 Căn cứ giải pháp 106
3.3.2 Mục đích giải pháp 106
3.3.3 Nội dung giải pháp 107
3.3.3.1 Xây dựng mô hình thủ tục hải quan điện tử 107
3.3.3.2 Xây dựng mô hình bộ máy tổ chức 110
3.3.4 Nguồn lực và điều kiện 112
3.3.5 Kết quả dự kiến 114
3.4 Giải pháp 3: Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực 114
3.4.1 Căn cứ giải pháp 114
3.4.2 Mục đích của giải pháp 115
3.4.3 Nội dung giải pháp 115
3.4.3.1 Đào tạo cán bộ công chức 115
3.4.3.2 Sử dụng cán bộ công chức 117
3.4.3.3 Tiền lương và chính sách đãi ngộ cán bộ công chức 118
3.4.4 Kết quả dự kiến 120
3.5 Những giải pháp khác 120
Trang 53.5.1 Đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức
tham gia vào quy trình thông quan điện tử .120
3.5.2 Tăng cường quan hệ phối hợp, hợp tác trao đổi thông tin, ứng dụng
quản lý rủi ro trong công tác quản lý 121
3.5.3 Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
hải quan cho cộng đồng doanh nghiệp 122
3.5.4 Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan 124
3.5.5 Xây dựng hệ thống thu thập, nắm bắt thông tin phục vụ cho
việc thông quan kịp thời, đầy đủ, chính xác 126
3.5.6 Đẩy nhanh tiến độ xây dụng văn bản quy phạm pháp luật
về thủ tục hải quan điện tử 127
3.6 Kiến nghị và đề xuất cụ thể 131
3.6.1 Về truyền và nhận thông điệp dữ liệu điện tử 131
3.6.2 Về chứng từ hải quan điện tử 132
3.6.3 Về hệ thống xử lý dữ liệu điện tử 133
3.6.4 Về phát triển hệ thống đại lý làm thủ tục hải quan 134
Kết luận chương III: 137
KẾT LUẬN 139
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Hoạt động XNK và thu thuế của Hải quan Nội Bài 40
Bảng 2.2 Báo cáo tình hình triển khai thủ tục hải quan điện tử đối với hàng
hóa xuất nhập khẩu thí điểm theo Thông tư 222/2010/TT-BTC tại Chi cục
(từ ngày 10/6/2011 đến 31/12/2012) 60
Bảng 2.3 Báo cáo tình hình triển khai thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu chính thức theo Nghị định 87/2012/NĐ-CP tại Chi cục (từ 01/01/2013 đến nay) 61
Bảng 2.4: So sánh số liệu thực hiện thủ tục HQĐT đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan Nội Bài và Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội
(từ 6/2011-12/2012) 63
Bảng 2.5: So sánh thủ tục hải quan truyền thống (TTHQTT) và thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) 66
Bảng 2.6: Tóm tắt kết quả khảo sát 40 DN làm thủ tục HQĐT tại Chi cục
Hải quan CKSBQT Nội Bài 67
Bảng 2.7: Tóm tắt kết quả khảo sát 40 doanh nghiệp đã làm thủ tục hải quan truyền thống tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 68
Bảng 2.8: Tóm tắt kết quả khảo sát Hải quan cán bộ công chức vê việc 73
thực hiện thủ tục HQĐT tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 73
Bảng 2.9: So sánh khối lượng công việc và nhân sự của Chi cục Hải quan
Nội Bài từ năm 2007-2010 83
Bảng 2.10: Trình độ và số năm kinh nghiệm của CBCC Chi cục Hải quan
Nội Bài 84
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ các giai đoạn phát triển hải quan điện tử của Hải quan Hàn Quốc 32 Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài 43 Hình 2.2: Quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo Thông tư 222/2010/TT-BTC 49 Hình 2.3: Quy trình hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thí điểm và chính thức 55 Hình 3.1: Mức độ ứng dụng CNTT trong ngành Hải quan tại Việt Nam 101
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
APEC : Tổ chức hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
(Asia-Pacific Economic Cooperation) ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of
Southeast Asia Nations) ASYCUDA : Hệ thống tự động hóa số liệu Hải quan (Automated
Systems for Customs Data)
CBCC : Cán bộ công chức
CKSBQT : Cửa khẩu sân bay quốc tế
CNTT : Công nghệ thông tin
HQĐT : Hải quan Điện tử
HS : Hệ thống hài hòa và mô tả mã hóa hàng hóa
KTHSĐT : Kiểm tra hồ sơ điện tử
KTTG : Kiểm tra trị giá
Trang 9KTTTHH : Kiểm tra thực tế hàng hóa
TTDL : Trung tâm dữ liệu
TTHTPL : Tuyên truyền hỗ trợ pháp luật
VAN : Cơ quan/ Tổ chức truyền nhận dữ liệu (Value Added
Network) VPN : Mạng riêng ảo (Vitual Private Network)
XLDL TQĐT : Xử lý dữ liệu thông quan điện tử
WAN : Mạng diện rộng (Wide Area networks)
WB : Ngân hàng thế giới (World Bank)
WCO : Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs
Organisize) WTO : Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade
Organisize)
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình thương mai toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam
đã và đang tham gia vào nhiều tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB, WTO,… Nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển trong xu thế hội nhập kinh
tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ Bên cạnh đó quá trình hội nhập và tham gia vào nền kinh tế quốc tế cũng đưa ra những đòi hỏi hết sức thiết thực về cải cách hành chính như giảm bớt sự can thiệp trực tiếp quá mực vào các hoạt động kinh tế và mối quan
hệ các thành phần kinh tế Xuất phát từ tình hình trên, ngành hải quan cũng cần có
sự đổi mới theo hướng đơn giản, hiện đại hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển
Cũng như các ngành khác trong nước và hải quan các nước trên thể giới, Hải quan Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức trong bối cảnh thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh cả về giá trị và khối lượng, cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển gia tăng của buôn lậu, gian lận thương mại và những loại hình tội phạm mới Thực tế trên cũng ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của hải quan và đòi hỏi phải cải cách sâu rộng trong đó một chế độ thủ tục hải quan đơn giản, minh bạch và hiện đại
là một yêu cầu đồng thời là một lợi thế của Việt Nam khi tham gia vào nền kinh tế thế giới
Vì vậy ngành hải quan đã và đang triển khai áp dụng rất nhiều các giải pháp
để cải cách thủ tục hải quan, đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu thương mại Việc thực hiện triển khai giải pháp trong quá trình quản lý đặc biệt
là triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước về hải quan Các quy trình thủ tục hải quan luôn được cải tiến sao cho ngày càng đơn giản hơn, minh bạch hơn, tạo thuận lợi nhất cho hoạt động thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu phát triển
Việc triển khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thời gian qua là một bước ngoặt trong công tác đổi mới quản lý hải quan, đây là một trong những nội
Trang 11dung quan trọng của chương trình cải cách thể chế cần phải thực hiện Thực hiện theo Quyết định 149/2005/QĐ-TTg ngày 19/07/2005 và Quyết định 103/2009/QĐ-TTg ngày 12/08/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thí điểm mở rộng thủ tục hải quan điện tử tại 13 cục hải quan tỉnh, thành phố trong thời gian qua là một bước đột phá quan trọng của ngành hải quan trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính Qua thời gian thực hiện thực tế cho thấy thủ tục hải quan điện tử là một hình thức thủ tục mới có nhiều ưu điểm so với thủ tục hải quan thủ công như: tiết kiệm chi phí, tiết kiệm nhân lực, thông quan hàng hóa nhanh chóng, giảm bớt thủ tục giấy tờ, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý Việc làm này đã được cộng đồng doanh nghiệp, dư luận đánh giá cao và đây cũng là một đóng góp quan trọng , thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập của Việt Nam với nền kinh tế thế giới
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử vần còn những hạn chế cần phải khắc phục để hoàn thiện và phát triển trong thời gian tới Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, là một cán bộ công chức đang công tác trong ngành Hải quan tôi xin chọn đề tài: “ Nghiên cứu thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay Quốc tế Nội Bài” để làm luận văn cao học
2 Mục đích của đề tài
Nhằm áp dụng các kiến thức đã học tại chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh vào thực tế công việc để giúp cho chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài đạt được kết quả và hiệu quả cao trong hoạt động của mình
Các mục tiêu cụ thể của đề tài:
- Hệ thống hóa cơ sở những vấn đề cơ bản về thủ tục hải quan điện tử, khẳng định sự cần thiết phải áp dụng thủ tục hải quan điện tử, nghiên cứu cơ sở pháp lý của thủ tục hải quan điện tử, kinh nghiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử của một số nước
Trang 12- Nghiên cứu thực trạng tình hình thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại Chi cục hải quan CKSBQT Nội Bài Chỉ rõ những ưu điểm, nhược điểm của quy trình thủ tục hải quan điện tử và một số những nhân tố tác động
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện quy trình thủ tục hải quan điện tử tại chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài nói riêng và phát triển mô hình thông quan điện tử tại Việt Nam nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực tế áp dụng thủ tục hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài trong thời gian quan
- Kinh nghiệm của một số nước đã áp dụng của một số nước
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về mặt không gian
- Kinh nghiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử của một số nước trên Thế giới đặc biệt là các quốc gia trong vùng Đông Nam Á (Asean) và Đông Bắc Á ( Nhật Bản, Hàn Quốc), vì các quốc gia này có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam
và có mô hình tương đối phù hợp với các điều kiện phát triển của Việt Nam
- Kinh nghiệm thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử của Chi cục hải quan Bắc Hà Nội Cơ sở của việc lựa chọn này là vì đây là một Chi cục lớn của Cục hải quan TP Hà Nội, có nhiều loại hình xuất nhập khẩu, số luợng doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn, lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, đa dạng về chủng loại hàng hóa
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các tài liệu, lý thuyết mô hình thông quan điện tử của một số nước, các số liệu thu thập được từ Văn phòng Hiện đại hóa Tổng cục Hải quan, các tạp chí nghiên cứu chuyên đề như Tin học Tài chính, Nghiên cứu Hải quan, báo Hải quan và các trang web
- Thông qua khảo sát thực tế mô hình thông quan điện tử của Hải quan một số nước trong khu vực
- Thông qua việc triển khai ứng dụng mô hình thông quan điện tử tại Cục Hải quan Thành phố Hà Nội, có tham khảo đơn vị cùng thực hiện thí điểm là Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội
Từ mô hình lý thuyết và các số liệu thực tế thu thập được thông qua phương pháp điều tra xã hội học, người viết đã sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp một cách hệ thống, khoa học
- Thông qua cuộc khảo sát vào tháng 6 năm 2012 đối với 40 Doanh nghiệp đã tham gia thủ tục hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài và 50 cán
bộ công chức thực thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong Chi cục bằng phiếu khảo sát (được gửi bằng hai hình thức gửi qua bưu điện và phát phiếu khảo sát trực tiếp)
5 Kết quả nghiên cứu liên quan đến luận văn
Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
- Một số nước tiên tiến (như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore ) đã thực hiện thông quan điện tử, thủ tục hải quan điện tử Tuy nhiên, do trình độ phát triển về kinh tế, năng lực quản lý, mô hình tổ chức bộ máy, trình độ của công chức
thừa hành có nhiều điểm khác biệt so với thực trạng của Việt Nam
- Một số nước đang phát triển cũng đang áp dụng thông quan điện tử từng phần (ở một vài khâu nghiệp vụ, một số loại hình hoặc một số điểm thông quan) Ví dụ: Trung Quốc, Inđônêxia, Malayxia
Chính vì vậy, đề tài tập trung nghiên cứu có hệ thống nhằm tìm ra các giải
Trang 14pháp có tính khả thi để hoàn thiện quy trình nhằm triển khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Tình hình nghiên cứu ở trong nước:
Đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều đề án, kế hoạch đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng trong lĩnh vực hoạt động của ngành Hải quan Đặc biệt là những năm gần đây trước yêu cầu đòi hỏi của hoạt động Hải quan trong điều kiện hội nhập, phát triển đã có nhiều đề tài nghiên cứu hướng tới mục tiêu cải cách, phát triển và hiện đại hóa Một số đề tài tiếp cận thủ tục Hải quan điện tử; quản lý rủi ro; ứng dụng công nghệ thông tin… các đề tài này xem như một trong những cấu phần, bộ phận của hiện đại hóa Hải quan, cụ thể:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: "Xây dựng chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm 2010", mã số 01-N2003, Chủ nhiệm đề tài: ThS Trương Chí Trung - Thứ
trưởng Bộ Tài chính, kiêm Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan;
- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nghiên cứu mô hình quản lý hải quan hiện đại tại các nước phát triển, đề xuất giải pháp vận dụng vào điều kiện Việt Nam", mã
số 05-2003, Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Toàn - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế;
- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nghiên cứu tổng quan về địa vị pháp lý, thẩm quyền của Hải quan trong hoạt động quản lý nhà nước giai đoạn đến năm 2010", mã
số 06-2003, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Hồng - Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế;
- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nghiên cứu vận dụng Công ước KYOTO sửa đổi năm 1999 vào thực tiễn hoạt động của Hải quan Việt Nam và xây dựng lộ trình tham gia", mã số 03-N2004, Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Trọng Hùng - Phó Vụ
trưởng Vụ Giám sát quản lý;
- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ thống công nghệ thông tin thực hiện thủ tục hải quan điện tử", mã số 06-N2005, Chủ nhiệm đề
tài: Nguyễn Công Bình - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin;
- Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2004-
2006, Ban hành kèm theo Quyết định 810/QĐ-BTC, ngày 16/3/2004 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính;
Trang 15- Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2008-
2010, Ban hành kèm theo Quyết định 456/QĐ-BTC, ngày 14/3/2008 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính;
- Luận văn thạc sĩ (2009), " Áp dụng quản lý rủi ro vào quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu", của Phạm Trần Thành, Cục Hải quan thành phố Hà Nội Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc áp dụng quản lý rủi
ro vào quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phân tích thực trạng áp dụng và đề xuất, giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro thời gian tới
Tất cả các công trình nghiên cứu, đề án trên đã trực tiếp và gián tiếp đưa ra các mục tiêu, phương hướng, luận cứ khoa học, các giải pháp nhằm từng bước cải cách, chuẩn hóa hoạt động hải quan mang tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, hoạt động minh bạch có hiệu quả theo yêu cầu hội nhập quốc tế ở mức độ ngắn hạn và trung hạn Tuy nhiên, chưa có đề tài khoa học nghiên cứu một cách hệ thống cũng như đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện qui trình thủ tục hải quan điện tử tại TP Hà Nội nói chung và Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài nói riêng
Từ phân tích trên, đặt ra yêu cầu nghiên cứu luận văn với chủ đề nêu trên Các công trình nghiên cứu trên đã tạo thuận lợi cho học viên trong việc tiếp cận với
mô hình quản lý hải quan hiện đại; có cách nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ về sự cần thiết, mục tiêu, giải pháp : “ Nghiên cứu thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay Quốc tế Nội Bài” trong giai đoạn hiện nay
6 Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương:
Phần mở đầu
Chương I: Giới thiệu tổng quan về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu
Chương II: Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu tại Chi cục hải quan CKSBQT Nội Bài
Chương III: Một số giải pháp để hoàn thiện quy trình thủ tục hải quan điện
tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục hải quan CKSBQT Nội Bài
Trang 16CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN
TỬ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử
1.1.1 Khái niệm về thủ tục hải quan
Để hiểu rõ về thủ tục hải quan điện tử là gì, trước hết chúng ta hãy bắt đầu bằng khái niệm thủ tục hải quan
- Theo định nghĩa tại chương 2 Công ước Kyoto: “Thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động mà cơ quan hải quan và những người khai hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan ”
- Theo định nghĩa của Luật hải quan năm 2001, tại khoản 6 Điều 4 và Điều
16 thì “ Thủ tục hải quan là công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải” Những công việc đó bao gồm:
+ Đối với người khai hải quan
Khai và nộp tờ khai hải quan, xuất trình chứng từ thuộc bộ sơ hải quan
Đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải;
Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của Pháp luật
+ Đối với công chức hải quan
Tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan;
Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải; Thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của Pháp luật;
Quyết định việc thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải
- Theo Điều 16 Luật sửa đổi , bổ sung một số điều của Luật hải quan năm
2005 thì công việc khai và nộp hồ sơ hải quan của người khai hải quan và công việc tiếp nhận, đăng ký hồ sơ hải quan của công chức hải quan đã được sửa đổi như sau:
+ Đối với người khai hải quan
Khai và nộp tờ khai hải quan; nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan điện tử người khai hải quan được khai
và gửi hồ sơ hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan
Trang 17+ Đối với công chức hải quan
Tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan; trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan điện tử việc tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan
Như vậy, thủ tục hải quan có thể được thực hiện bằng những cách thức, phương thức khác nhau, ví dụ: truyền thống (thủ công), bán truyền thống hoặc điện
tử Trước đây ở Việt Nam thủ tục hải quan chủ yếu thực hiện bằng phương pháp truyền thống (hoàn toàn dựa vào hồ sơ giấy) hoặc bán truyền thống - kết hợp giữa truyền thống và điện tử (khai báo bằng đĩa mềm, khai báo qua mạng Internet kết hợp với hồ sơ giấy) Trong phương pháp này luôn có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người khai hải quan và công chức hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan và
sử dụng hồ sơ giấy
Hiện nay, ngoài phương pháp truyền thống, bán truyền thống, thủ tục hải quan còn được thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp điện tử (hệ thống xử lý dữ liệu điện tử) Người khai hải quan có thể đăng ký hồ sơ làm thủ tục hải quan bằng cách tạo, gửi các thông tin dưới dạng điện tử đến cơ quan hải quan và nhận các thông tin (cũng dưới dạng điện tử) phản hồi từ phía cơ quan hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử Công chức hải quan tiếp nhận , kiểm tra hồ sơ hải quan
do doanh nghiệp gửi đến và thông báo kết quả xử lý hồ sơ cho doanh nghiệp cũng thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử Trong việc làm thủ tục hải quan, người khai hải quan và công chức hải quan không có sự tiếp xúc trực tiếp (trừ một số trường hợp ngoại lệ)
1.1.2 Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử
Từ khái niệm thủ tục hải quan quy định tại Điều 4 và Điều 16 Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật hải quan, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về thủ tục hải quan điện tử (HQĐT) như sau:
Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan, trong đó việc khai báo và gửi hồ
sơ của người khai hải quan và việc tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan của công chức hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan
Trang 18Nói một cách khác cụ thể hơn, thủ tục HQĐT là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện đối với hàng hóa, phương tiện vận tải, trong đó việc khai báo và gửi hồ sơ của người khai hải quan và việc tiếp nhận, đăng
ký hồ sơ hải quan của công chức hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý
dữ liệu điện tử của hải quan
Trên thực tế, không có khái niệm, định nghĩa thống nhất về thủ tục hải quan điện tử Hải quan các nước trên thế giới, tùy theo quan điểm, đặc điểm, mức độ phát triển của quốc gia để tiến hành triển khai thực hiện thủ tục HQĐT theo mô hình riêng của mình Điều này được thể hiện thông qua cách sử dụng từ ngữ về thủ tục hải quan điện tử - phụ thuộc vào phạm vi, chức năng, mức độ: Hải quan Thái Lan
sử dụng E- Customs (electronic customs- là Hệ thống hoàn chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho quá trình nhập khẩu hàng hóa vào Thái Lan); Hải quan Nhật Bản dùng NACCS (Hệ thống thông quan)
Như vậy, theo nghĩa hẹp: thủ tục HQĐT là việc ứng dụng công nghệ thông tin để thông quan tự động
Tuy có khác nhau về phạm vi, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, thủ tục HQĐT có một số đặc điểm chung như sau:
- Áp dụng công nghệ thông tin một cách tối đa, phù hợp với trình độ phát triển công nghệ thông tin của quốc gia
- Cung cấp các dịch vụ điện tử cho người khai hải quan như: dịch vụ khai hải quan điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, thông quan điện tử…
- Trao đổi, chia sẻ thông tin dữ liệu điện tử giữa các bên liên quan thông qua hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử: các cơ quan chức năng của Chính phủ, Ngân hàng, các hãng vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu…
- Có sự hỗ trợ các thiết bị, máy móc hiện đại khác để kiểm tra, kiểm soát hải quan: máy soi container, hệ thống camera, cân điện tử…
Theo nghĩa rộng: thủ tục HQĐT là thủ tục hải quan theo đó cơ quan hải quan áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin và trang thiết bị hiện đại để cung cấp các dịch vụ về thông quan hải quan cho người
Trang 19khai hải quan, phương tiện, hành khách xuất cảnh nhập cảnh và các bên có liên quan khác
Theo pháp luật Việt Nam, Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11/2009 của Bộ Tài chính quy định:
Thủ tục HQĐT là thủ tục hải quan trong đó việc khai báo, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, ra quyết định được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan
Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan là hệ thống thông tin do Tổng cục hải quan quản lý tập trung, thống nhất, sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Hệ thống khai HQĐT là hệ thống thông tin do người khai hải quan quản lý,
sử dụng
Thông điệp dữ liệu điện tử hải quan là thông tin được tạo ra, gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử theo định dạng chuẩn để thực hiện thủ tục HQĐT
Theo Nghị định Chính Phủ của Việt Nam, Nghị định số 87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 quy định:
Thủ tục HQĐT là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện
tử hải quan
Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan là hệ thống thông tin do Tổng cục Hải quan quản lý để thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Hệ thống khai HQĐT là hệ thống thông tin phục vụ cho người khai hải quan
và tiếp nhận thông tin, kết quả phản hồi của cơ quan Hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục HQĐT
1.1.3 Các chức năng của thủ tục hải quan điện tử
Một là, chức năng khai HQĐT, trong thủ tục hải quan truyền thống (thủ
công) thì cơ quan hải quan cung cấp dịch vụ cho người khai hải quan tại trụ sở của mình và dựa trên hình thức xử lý hồ sơ hải quan bằng giấy, có nghĩa là người khai hải quan chuẩn bị trước bộ hồ sơ hải quan giấy phù hợp với lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu mang đến trụ sở Chi cục Hải quan nơi thuận lợi để nộp và làm các thủ tục hải
Trang 20quan thông quan hàng hóa Vì vậy, nhờ phương tiện điện tử, các hệ thống máy tính nối mạng, hệ thống trao đổi dữ liệu người khai hải quan có thể tự mình hoặc thông qua các đại lý HQĐT có thể tiến hành thực hiện khai hải quan ở bất kỳ đâu, vào bất
cứ thời gian nào và với các loại máy tính khác nhau như: máy tính để bán, máy tính xách tay, máy tính bỏ túi, thậm chí là điện thoại di động, nếu các phương tiện điện
tử đã được cài đặt hệ thống khai hải quan điện tử và được kết nối với hệ thống xử lý
dữ liệu điện tử hải quan
Người khai hải quan tạo thông tin trên hệ thống khai HQĐT, sau đó truyền
dữ liệu đến cơ quan hải quan thông qua mạng Internet và theo dõi, thực hiện theo thông tin phản hồi của cơ quan hải quan để thông quan hàng hóa
Hai là, chức năng thông quan điện tử, theo đó hệ thống xử lý dữ liệu điện tử
hải quan nhận được thông tin khai hải quan sẽ tự động tiến hành kiểm tra, phân luồng khai hải quan (theo xanh, vàng, đỏ) tương ứng với mức độ kiểm tra hải quan (xanh là miễn kiểm tra; vàng là kiểm tra hồ sơ giấy hoặc đỏ là kiểm tra thực tế hàng trước khi thông quan), phản hồi kết quả kiểm tra thông tin khai hải quan kèm theo hướng dẫn thông quan hàng hóa cho người khai hải quan thực hiện Trong trường hợp cần thiết, công chức hải quan có thẩm quyền có thể tiến hành kiểm tra thông tin khai hải quan và trên cơ sở có thông tin khác liên quan đến lô hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để đưa ra đề xuất thay đổi mức độ kiểm tra hải quan
Đối với lô hàng thuộc diện miễn kiểm tra hải quan hệ thống sẽ gửi thông báo thông quan hàng hóa cho người khai hải quan để người khai hải quan làm thủ tục nhận tại nơi lưu giữ hàng hóa (trường hợp hàng hóa thuộc phải nộp thuế ngay trước khi nhận hàng thì hệ thống sẽ thông báo thông quan hàng hóa cho người khai hải quan sau khi chủ hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế)
Hỗ trợ cho phân luồng thông tin khai hải quan trong chức năng thông quan điện tử là áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại - áp dụng kỹ thuật quản
lý rủi ro trong quá trình thông quan trên cơ sở hệ thống thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan
Trang 21Ba là, chức năng quản lý rủi ro trong thủ tục HQĐT Ngày nay, trong xu thế
toàn cầu hóa thương mại, giao dịch, trao đổi mua bán hàng hóa giữa thương nhân các quốc gia phát triển mạnh mẽ do có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã làm cho lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, người và phương tiện xuất nhập cảnh tăng lên nhanh chóng Yêu cầu thực tiễn đòi hỏi cơ quan hải quan phải áp dụng thủ tục hải quan đem sự thuận lợi cho hoạt động thương mại, thông quan nhanh chóng, không ách tắc tại cửa khẩu Trong khi nguồn lực của cơ quan hải quan tăng nhưng không tương xứng với tốc độ tăng trưởng trong hoạt động thương mại; vì vậy cơ quan Hải quan không thể duy trì phương pháp quản lý truyền thống là "Tiền kiểm" quản theo kiểu "Gác cổng" tiến hành kiểm tra 100% các lô hàng hóa xuất nhập khẩu để hoàn thành vai trò kiểm tra, kiểm soát của mình
Trong lĩnh vực hải quan, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) đã đưa ra nhiều hướng dẫn thực hành liên quan đến áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, đặc biệt trong Công ước KYOTO sửa đổi có một chương (chương 6 / Kiểm tra Hải quan) với các chuẩn mực về áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong kiểm tra hải quan, như:
"Việc kiểm tra hải quan phải được giới hạn ở mức độ cần thiết để đảm bảo
sự tuân thủ Luật Hải quan" (chuẩn mực 6.2)
"Khi thực hiện kiểm tra hải quan, cơ quan hải quan phải áp dụng kỹ thuật đánh giá khả năng vi phạm"(chuẩn mực 6.3)
"Cơ quan hải quan phải sử dụng kỹ thuật phân tích khả năng vi phạm để xác định những người và hàng hóa, kể cả phương tiện vận tải cần được kiểm tra cũng như mức độ kiểm tra" (chuẩn mực 6.4)
"Cơ quan hải quan cần sử dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử
ở mức cao nhất có thể được để cải tiến công tác kiểm tra hải quan" (chuẩn mực chuyển tiếp 6.9)
"Cơ quan hải quan cần sử dụng đánh giá các hệ thống thương mại của công
ty kinh doanh nếu các hệ thống đó có ảnh hưởng đến hoạt động hải quan nhằm đảm bảo sự tuân thủ đối với các quy định về hải quan" (chuẩn mực 6.10)
Trang 22Áp dụng phương pháp này, cơ quan hải quan sẽ đánh giá, phân loại, xếp hạng các rủi ro trong các giao dịch thương mại, lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu, hành khách, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh… Trên cơ sở đó sẽ giúp cơ quan hải quan có thể phân bố nguồn lực, tập trung nguồn lực một cách hợp lý vào việc kiểm tra, kiểm soát (ví dụ chỉ tập trung nguồn lực vào kiểm tra những giao dịch, lô hàng xuất nhập khẩu, hành khách, phương tiện có mức độ rủi ro cao nhất hay hàng hóa của chủ hàng có mức độ tuân thủ pháp luật thấp nhất hoặc những hàng hóa có nguy cơ gian lận thương mại cao, Ngược lại lô hàng có mức độ rủi ro thấp sẽ không có nhiều sự can thiệp từ phía cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan, điều đó giúp cho việc thông quan hàng hóa có độ rủi ro thấp được thông quan nhanh chóng hơn rất nhiều và hàng hóa của chủ hàng có quá trình chấp hành tốt pháp luật hải quan sẽ được tạo thuận lợi hơn so với chủ hàng không chấp hành tốt pháp luật hải quan) Sự phân biệt đối xử trong thông quan hàng hoá có tác dụng khuyến khích sự tuân thủ pháp luật hải quan của doanh nghiệp và mức độ tuân thủ pháp luật ngày một tăng Như vậy, áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sẽ đem lại sự cân bằng giữa tạo thuận lợi cho thương mại và đảm bảo kiểm soát, giúp cho cơ quan hải quan hoàn thành tốt vai trò
Mặt khác, các tổ chức kinh tế hhế giới như WTO, APEC đều yêu cầu các quốc gia thành viên phải xây dựng thủ tục hải quan hài hòa và đơn giản hóa theo các chuẩn mực của Công ước KYOTO sửa đổi năm 1999 nhằm tạo thuận lợi cho thương mại Vì vậy, thực hiện cam kết về lĩnh vực hải quan trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, năm 2005 Việt Nam ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2001 để nội luật hóa các chuẩn mực bắt buộc Công ước KYOTO sửa đổi; theo đó, tại khoản 1.a Điều 15 đã quy định áp dụng kỹ thuật quản
lý rủi ro để kiểm tra hải quan trong thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu: "Kiểm tra hải quan được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật của chủ hàng, mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan để bảo đảm quản lý nhà nước về hải quan và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu"
Trang 23Đây là cơ sở pháp lý để Hải quan Việt Nam xây dựng hệ thống thu thập và
xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan nhằm áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong quá trình kiểm tra hải quan để thông quan hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo thủ tục hải quan truyền thống và thủ tục HQĐT
Bốn là, chức năng thanh toán điện tử của thủ tục HQĐT Việc kết nối giữa
hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan với các hệ thống của Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, người khai hải quan có thể thực hiện việc thanh toán các khoản thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, lệ phí hải quan và các khoản thuế khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại bất kỳ ngân hàng hay Kho bạc theo quy định về hình thức điện
tử, theo cơ chế tự động chuyển tiền từ tài khoản của chủ hàng sang tài khoản của cơ quan hải quan
Năm là, chức năng quản lý vận tải đơn điện tử (e manifest) Chức năng này
cho phép cơ quan hải quan có thể giao tiếp với hệ thống dữ liệu điện tử của các hãng vận tải hoặc các đại lý vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu giám để truyền nhận trực tiếp dữ liệu vận tải đơn điện tử hoặc khai thác vận tải đơn điện tử từ trung tâm lưu trữ dữ liệu điện tử chung của cảng vụ phục vụ cho việc giám sát, quản lý hàng hóa trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh
Trên cơ sở phân tích các thông tin trên vận tải đơn điện tử, kết hợp với các tiêu chí quản lý rủi ro, hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan sẽ đưa ra quyết định mức độ kiểm tra hải quan phù hợp với từng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu như kiểm tra thông qua máy soi chiếu côngtenơ hoặc kiểm tra thủ công Ngoài ra, căn cứ kết quả phân tích vận tải đơn điện tử để thông tin cảnh báo cho các cơ quan chức năng tại cửa khẩu sớm có các biện pháp ngăn chặn các loại hàng hóa nguy hiểm, cấm nhập khẩu như: ma túy, chất nổ, vũ khí, chất thải độc hại, hàng cấm theo CITES…
Sáu là, chức năng kết nối mạng với các cơ quan thuộc Chính phủ Khi
quyết định thông quan cho lô hàng nhập khẩu, cơ quan hải quan không chỉ thực hiện quy định của Luật Hải quan mà còn phải thực hiện nhiều quy phạm pháp luật
do các Bộ, ngành ban hành nhằm bảo đảm quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu theo yêu cầu của Chính phủ Chức năng này, cho phép cơ quan hải quan
Trang 24phối hợp, chia sẻ thông tin với các Bộ, ngành khác chẳng hạn như: với Bộ Công thương về cấp giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch; với Bộ Y tế về kiểm dịch, vệ sinh,
an toàn sức khỏe con người… hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan sẽ kết nối để lấy các thông tin dữ liệu điện tử liên quan đến yêu cầu quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu để xử lý, quyết định thông quan hàng hóa
Hoàn thiện chức năng kết nối mạng với các cơ quan chính phủ để trao đổi
dữ liệu điện tử cần thiết là hướng đến một chính phủ điện tử, "một cửa quốc gia" trong quản lý hoạt động thương mại, tiến tới hội nhập "một cửa ASEAN" là cam kết của các nước trong khu vực Đông Nam Á
Như vậy, cũng như thủ tục hải quan truyền thống, quá trình làm thủ tục HQĐT cho lô hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu cho đến thông quan hàng hóa thì ngoài việc thực hiện quy định của Luật Hải quan, phải đồng thời thực hiện những quy phạm pháp luật khác liên quan, như: quy phạm pháp luật của Luật Giao dịch điện
tử, của Luật Công nghệ thông tin, Luật Thương mại, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Quản lý thuế, Luật Giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt thuế
và các quy định về chính sách xuất nhập khẩu, về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
1.2 Sự cần thiết của việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử
1.2.1 Do xu thế hội nhập và phát triển thương mại quốc tế
Trước sự phát triển của đất nước, bên cạnh những điều kiện thuận lợi ngành hải quan phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức Do đó công tác cải cách, hiện đại hóa hải quan trở nên bức thiết hơn bao giờ hết
Với việc ký kết các hiệp định song phương và đa phương về thương mại quốc
tế làm cho nhiệm vụ của ngành hải quan ngày càng phức tạp hơn , nhất là các vấn
đề liên quan đến hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá độc quyền Bên cạnh đó sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin truyền thông đã làm thay đổi phương thức hoạt động của cả doanh nghiệp và cơ quan quản
lý nhà nước Trước sự phát triển đó từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO), hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi ngành hải
Trang 25quan phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước của mình để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vừa đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của quản lý nhà nước về hải quan Đồng thời phải tiếp tục cải cách , hiện đại hóa, đổi mới hơn nữa, nâng cao năng lực cán bộ, công chức và cải thiện cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin,… Vì vậy, ngành hải quan đã ban hành một loạt các văn bản chỉ đạo
1.2.2 Do yêu cầu quản lý Nhà nước đối với cộng đồng Doanh nghiệp
Trước yêu cầu phát triển đất nước, đòi hỏi ngành hải quan phải nâng cao năng lực quản lý để đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách kinh tế của Nhà nước, chống buôn lậu, gian lận thương mại, ngăn chặn việc buôn bán, vận chuyển hàng cấm qua biên giới, ngăn chặn các giao dịch thương mại bất hợp pháp, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, lợi ích người tiêu dùng, an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường
Vì vậy ngành hải quan ngày càng phải không ngừng nâng cao năng lực quản
lý , đảm bảo thuận lợi thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch,… Cụ thể là phải đảm bảo môi trường làm việc trong sạch, chuyên nghiệp; thủ tục hải quan đơn giản, công khai, minh bạch; thông quan nhanh, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp
1.2.3 Do yêu cầu cấp thiết của thủ tục hải quan điện tử trong chiến lược phát triển của hải quan Việt Nam
Cải cách hiện đại hóa là xu hướng hoạt động tất yếu của quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về hải quan nói riêng, phù hợp với định hướng phát triển của Hải quan thế giới và khu vực Trong thời gian vừa qua, ngành Hải quan đã đẩy mạnh nỗ lực cải cách hiện đại hóa, thực hiện thông quan điện tử chính là thực hiện mục tiêu cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, đồng thời cũng là bước chuẩn bị quan trọng cho hàng loạt các hoạt động hiện đại hóa ngành Hải quan sau này
Thực hiện thủ tục HQĐT là bước chuẩn bị nguồn nhân lực và kinh nghiệm thực tế, từ đó góp phần đảm bảo tính hiệu quả của quá trình thực hiện kết qủa đầu ra
Trang 26của Dự án Hiện đại hóa Hải quan do Ngân hàng Thế giới (Dự án WB) tài trợ Như vậy, việc triển khai thực hiện thủ tục HQĐT không mâu thuẫn với việc triển khai
Dự án WB Mục đích cơ bản của thực hiện thí điểm thông quan điện tử là nhằm giúp tổng kết kinh nghiệm, tìm tòi, thử nghiệm mô hình phù hợp, giúp cho việc triển khai chính thức của Dự án WB đỡ mất thời gian và kinh phí thử nghiệm Bên cạnh đó, hiện nay yêu cầu về tạo thuận lợi thương mại, trong đó đẩy nhanh việc thông quan hàng hóa từ phía cộng đồng doanh nghiệp và Chính phủ rất bức xúc có tính tình thế và trước mắt hiện nay sẽ không được giải quyết kịp thời Vì vậy, trong điều kiện đó việc thực hiện thí điểm thông quan điện tử là hết sức cần thiết, không thể thiếu được và là tiền đề hoàn thiện Nghi định thủ tục HQĐT, Nghị định quy định chi tiết một số điều về thủ tục hải quan điện tử sẽ tạo khung pháp lý cao hơn, thúc đẩy việc phát triển thông quan điện tử (Nghị định 87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật hải quan về thủ tục hải quan điện
tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2013)
1.2.4 Do yêu cầu nhiệm vụ mới của ngành Hải quan
Trước tình hình thế giới có nhiều biến động về kinh tế, chính trị, bên cạnh những nhiệm vụ truyền thống, Hải quan các nước còn có thêm nhiệm vụ chống khủng bố, chống rửa tiền, chống dịch bệnh, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội v.v Trong điều kiện nguồn nhân lực của hải quan là có hạn, đứng trước yêu cầu trên, đòi hỏi cơ quan Hải quan các quốc gia phải cải cách và hiện đại hóa hải quan Một trong những nội dung cốt lõi của hiện đại hóa hải quan là thực hiện thủ tục HQĐT
Như vậy, thực hiện thủ tục HQĐT vừa là yêu cầu nội tại của các quốc gia vừa là đòi hỏi của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Chính phủ các nước đều nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện thủ tục HQĐT, coi thủ tục HQĐT như
là một nội dung cơ bản, thiết yếu của hải quan hiện đại, góp phần trực tiếp, thúc đẩy hoạt động thương mại và kinh tế đất nước phát triển
Trong tình hình trên, với biên chế có hạn nguồn nhân lực của ngành Hải quan không thể tiếp tục tăng mãi theo tốc độ gia tăng công việc và nếu như có tăng
Trang 27cũng không thể quản lý được một cách hiệu quả Chính vì vậy, một vấn đề đặt ra cho ngành Hải quan là phải thay đổi tư duy về phương pháp quản lý Đó là áp dụng phương pháp quản lý rủi ro (QLRR) vào trong hoạt động của hải quan, thay thế dần phương thức quản lý theo từng lô hàng tại cửa khẩu sang quản lý thông tin toàn bộ quá trình hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của Doanh nghiệp (DN); chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; phân loại DN dựa trên nguồn cơ sở dữ liệu có sẵn từ cơ quan Hải quan và thu thập được để có đối sách quản lý cho phù hợp; hướng DN vào quỹ đạo chấp hành nghiêm pháp luật trong mọi hoạt động
Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020 đã xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2020 là xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông-Nam Á Trên cơ sở Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, Bộ Tài chính phê duyệt Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan giai đoạn 2011 - 2015 với năm mục tiêu lớn là thực hiện thủ tục hải quan điện tử; triển khai Đề án Quản lý rủi ro, trong đó hướng trọng tâm vào việc nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro cả trước, trong và sau thông quan; xây dựng các địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung tại các địa bàn trọng điểm; triển khai chương trình Doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và điều kiện đặc thù của Việt Nam; xây dựng và vận hành hệ thống Chỉ số đánh giá hoạt động của ngành
Xuất phát từ mục tiêu phát triển, nguồn lực hiện tại, đặc điểm tương đồng về kinh tế, chính trị, văn hóa v.v đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện thủ tục HQĐT của một số nước ở vùng Đông Nam Á và Đông Á
1.3 Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam
1.3.1 Cơ sở pháp lý quốc tế
- Theo Công ước về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan ( Công ước Kyoto sửa đổi 1999) của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO):
Trang 28Phụ lục tổng quát, Chương III, mục 3.11: “ Đối với quy trình thông quan điện tử, hình thức tờ khai hàng hóa đăng ký bằng phương tiện điện tử phải dựa trên
cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế đối với việc trao đổi thông tin điện tử như quy định trong các khuyến nghị của Hội đồng Hợp tác Hải quan về công nghệ thông tin”
Theo chuẩn mực chuyển tiếp 3.1: “Cơ quan Hải quan phải cho phép nộp các chứng từ đi kèm bằng phương tiên điện tử”
Theo chuẩn mực chuyển tiếp 3.2: “Cơ quan hải quan phải cho phép nộp Tờ khai hàng hóa bằng phương tiện điện tử”
Theo chuẩn mực chuyển tiếp 6.1: “C cơ quan Hải quan cần sử dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử ở mức cao nhất có thể nhằm nâng cao công tác kiểm tra Hải quan”
Theo chuẩn mực chuyển tiếp 7.1: “Cơ quan Hải quan phải áp dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho hoạt động Hải quan nếu việc áp dụng đó tiết kiệm hơn và mang lại hiệu quả cao hơn cho Hải quan cũng như cho giới kinh doanh Hải quan phải quy định rõ các điều kiện cho việc áp dụng CNTT”
- Điều 6 Hiệp định hải quan ASEAN ngày 1/3/1997:
“1 Các nước thành viên sẽ đơn giản và hài hòa thủ tục hải quan nhằm thông quan một cách nhanh chóng và hiệu quả hàng hóa giao thương trong ASEAN
2 Việc đơn giản và hài hòa thủ tục hải quan trong ASEAN nên tuân theo các chuẩn mực và khuyến nghị thực hành của Công ước Kyoto, đã được sửa đổi, dưới sự bảo trợ của Hội đồng hợp tác hải quan (CCC) hoặc (WCO)”
1.3.2 Cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
1.3.2.1 Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thực hiện thủ tục hải quan bằng phươngp pháp điện tử
Trang 29- Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm thủ tục hải quan điện tử;
- Quyết định 50/2005/QĐ-BTC ngày 19/07/2005 của Bộ Tài chính về việc ban hành quy định quy trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đối với hà
ng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Quyết định 52/2007/QĐ-BTC ngày 20/06/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về việc thí điểm thủ tục hải quan điện tử;
- Quyết định 103/2009/QĐ-TTg ngày 12/08/2009 của Thủ tướng Chính Phủ quyết định sửa đổi , bổ sung mốt số điều của Quyết định 149/2005/QĐ-TTg;
- Thông tư 222/2009/TT-BTC ngày 26/11/2009 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử;
- Nghị định 87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 của Thủ tướng Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật hải quan về thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất nhập khẩu;
- Thông tư 196/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 hướng dẫn Nghị định 87/2012/NĐ-CP;
- Luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành;
- Các Luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các văn bản
pháp luật hướng dẫn thi hành
(Nguồn Cục công nghệ thông tin và thống kê - Tổng cục Hải quan)
b Hệ thống các văn bản quy định về công nghệ thông tin và giao dịch điện tử:
- Luật Công nghệ thông tin và các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện;
- Luật giao dịch điện tử ngày 29/11/2005 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện;
- Nghị định 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 của Chính Phủ về thương mại điện tử;
- Nghị định 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 của Chính Phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính
(Nguồn: Cục Công nghệ thông tin và thống kê - Tổng cục Hải quan)
Trang 301.3.2.2 Cơ sở pháp lý áp dụng cho thủ tục hải quan điện tử qua các giai đoạn
a Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg:
Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về thí điểm thủ tục hải quan điện tử quy định thực hiện thí điểm thủ tục HQĐT với
lộ trình từ năm 2005 đến 2007 Để thực hiện Quyết định này, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 50/2005/QĐ-BTC ban hành Quy định quy trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Sau thời gian thực hiện thí điểm, Bộ Tài chính đã tổ chức tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện chỉ ra một số bất cập: Phạm vi thực hiện tại Chi cục hải quan điện tử, tuy nhiên Chi cục HQĐT chỉ thực hiện việc tiếp nhận, đăn ký tờ khai, còn việc kiểm tra thực tế hàng hóa, xác nhận hàng đã làm thủ tục hải quan được thực hiện tại Chi cục hải quan cửa khẩu, đồng thời chỉ triển khai đối với loại hình kinh doanh; đối tượng doanh nghiệp được áp dụng thông quan điện tử bị bó hẹp Từ những bất cập này Bộ Tài chính đã đề xuất xây dựng văn bản pháp luật trình Chính phủ ban hành đề làm
cơ sở pháp lý cho việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử giai đoạn tiếp theo Theo
đó, ngày 12/08/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định 149/2005/QĐ-TTg
b Quyết đinh 52/2007/QĐ-BTC:
Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC ngày 20/06/2007 được xây dựng theo quan điểm kết hợp quy định về quy trình thủ tục hải quan với quy định về bộ máy tổ chức thực hiện là Chi cục hải quan điện tử Quyết định 52 đã nội luật hóa nhiều các chuẩn mực quốc tế về hải quan, tuy nhiên do điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ quản lý hải quan hiện nay chưa đáp ứng được nên một số nội dung chưa khả thi
Quyết định 52 chưa quy định cụ thể về chuyển đổi thực hiện từ thủ tục hải quan truyền thống sang điện tử đối với những loại hình cần có sự theo dõi liên tục, chuyển từ chi cục hải quan này sang chi cục hải quan khác
Quyết định 52 mới chỉ quy định một số loại hình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
Trang 31Nhằm thực hiện Quyết định 103/2009/QĐ-TTg ngày 12/08/2009 của Thủ tướng Chính phủ và khắc phục các bất cập nêu trên, ngày 26/11/2009, Bộ Tài chính
đã ban hành Thông tư số 222/2009/TT-BTC hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử ( thay thế Quyết định 52/2007/QĐ-BTC)
c Thông tư 222/2009/TT-BTC:
Thông tư này là cơ sở pháp lý cho việc triển khai mở rộng thủ tục HQĐT, vừa có tính ổn định và kế thừa những kết quả thực hiện theo Quyết định 52/2007/QĐ-BTC vừa được bổ sung thêm nhiều quy định mới phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay
Ngoài việc kế thừa những nội dung có tính khả thi, phát huy hiệu quả thực hiện thủ tục HQĐT của Quyết định 52/2007/QĐ-BTC, Thông tư đã bổ sung một số nội dung Cụ thể, sửa đổi những quy định cứng về tổ chức bộ máy để tạo tính linh hoạt cho các Cục hải quan địa phương trong việc bố trí tổ chức bộ máy để thực hiện quy trình thủ tục HQĐT theo định hướng mở rộng
Ngoài ra, Thông tư cũng bổ sung thêm nhiều điểm mới bao gồm: Các quy định để hài hòa giữa thủ tục HQĐT và thủ tục hải quan truyền thống liên quan đến khái niệm, định nghĩa, nguyên tắc trình tự thực hiện thủ tục thông quan, kiểm tra sau thông quan, quản lý rủi ro Các quy định về giải quyết thủ tục khi hệ thống CNTT của cơ quan hải quan hoặc DN có sự cố về đường truyền hoặc toàn bộ hệ thống Quy định về tăng cường các biện pháp nghiệp vụ để đơn giản hóa thủ tục hải quan như: kiểm tra trị giá hải quan; xác nhận thông quan; thanh khoản đối với các loại hình gia công , sản xuất hàng XK, chế xuất… Quy định về chuyển đổi DN từ thủ tục hải quan truyền thống sang điện tử đối với những loại hình cần có sự theo dõi liên tục, chuyển từ Chi cục hải quan này sang Chi cục hải quan khác
d Thông tư 196/2012/TT-BTC (hướng dẫn Nghị định 87/2012/NĐ-CP)
Sau 7 năm triển khai thí điểm ngày 23/10/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định 87/2012/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật hải quan về thủ tục HQĐT đối với hàng hóa XNK thương mại, với mục tiêu đưa thủ tục HQĐT trở thành phương thức thực hiện thủ tục hải quan chính thức, tồn tại và phát triển song song
Trang 32với thủ tục hải quan truyền thống Trên cơ sở đó, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư 196/2012/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 87, than thế Thông tư 222/2009/TT-BTC Thông tư 196 đã kế thừa toàn bộ nội dung quy định về phạm vi áp dụng tại Thông tư 222, tuy nhiên loại bỏ 3 thủ tục gồm: Thủ tục HQĐT đối với hàng hóa đặt gia công ở nước ngoài; thủ tục HQĐT đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra của DN ưu tiên; thủ tục HQĐT đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra kho ngoại quan Theo đó, phạm vi áp dụng của Thông tư này chỉ bao gồm thủ tục HQĐT đối với 10 loại hình: hàng hóa XNK theo hợp đồng mua bán; hàng hóa XNK để thực hiện hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài; hàng hóa XNK theo loại hình nhập nguyên liệu
để sản xuất hàng XK; hàng hóa XNK của DN chế xuất; hàng hóa XNK để thực hiện
dự án đầu tư; hàng hóa kinh doanh theo phương thức TN-TX; hàng hóa XNK tại chỗ; hàng hóa đã xuất khẩu nhưng bị trả lại; hàng hóa đã nhập khẩu nhưng phải xuất trả; hàng hóa XNK chuyển cửa khẩu
Thông tư đã kế thừa những nội dung thí điểm thành công của Thông tư 222
và sửa đổi bổ sung các nội dung còn bất cập: Tự động hóa kiểm tra, đăng ký và phân luồng tờ khai; quy định cụ thể về chữ ký số cụ thể phạm vi hiệu lực của chữ
ký số mà ở Thông tư 222 chưa được quy định chi tiết; nhiều đối tượng được trao đổi thông tin với Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan; bãi bỏ quy định nộp chứng từ điện tử trước thông quan để giảm thiểu thời gian và nhân lực không cần thiết, giúp nâng cao tính tự động hóa; tự động hủy những tờ khai đã hết hiệu lực; đưa ra cơ sở xác định hàng hóa đã XK; áp dụng báo cáo đối với DN chế xuất
e Cơ sở pháp lý về giao dịch điện tử để áp dụng cho thủ tục hải quan
Mặc dù cơ sở pháp lý về giao dịch điện tử về cơ bản đã có tuy nhiên cho đến nay nhiều quy định của Luật giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đi vào cuộc sống Đặc biệt là quy định về chữ ký điện tử, kết nối mạng giao dịch giữa các cơ quan Nhà nước với nhau; hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam chưa đáp ứng được việc triển khai giao dịch điện tử theo đúng chuẩn mực của thế giới và khu vực
Trang 331.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thủ tục hải quan điện tử
1.4.1 Yếu tố bên trong
1.4.1.1 Về cơ sở hạ tâng công nghệ thông tin
Thực hiện thủ tục HQĐT là một trong những chiến lược cải cách và hiện đại hóa ngành Hải quan Hải quan điện tử được xây dựng trên nền công nghệ thông tin
và quy trình nghiệp vụ đơn giản, hài hòa, thống nhất và phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế Thực hiện thủ tục HQĐT không những đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như giảm thời gian thông quan, chi phí và thủ tục hành chính, giấy tờ cho DN,… mà còn nâng cao chất lượng cán bộ hải quan với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao và tinh thần phục vụ DN văn minh, lịch sự, có kỷ cương, kỷ luật và trung thực,…
Tuy nhiên một yếu tố rất quan trọng không thể thiếu được khi triển khai thủ tục hải quan điện tử đó là cơ sở hạ tầng CNTT, các trang thiết bị làm việc phải được tràn bị đồng bộ, phù hợp với yêu cầu cải cách hiện đại hóa Hệ thống thông tin phải đáp ứng được yêu cầu quản lý công việc theo phương pháp hiện đại Hệ thống mạng, tốc độ đường truyền , phần mềm hệ thống triển khai thủ tục HQĐT,… phải đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Tóm lại, hệ thống cơ sở hạ tầng CNTT, các trang thiết bị máy móc khi triển khai thủ tục HQĐT sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình thủ tục HQĐT Trong thực hiện thủ tục HQĐT, hệ thống công nghệ thông tin nói chung và hạ tầng mạng nói riêng được coi là vấn đề cốt lõi Hiện nay, hạ tần mạng phục vụ HQĐT được dựa
trên tạ tầng mạng do Bộ Tài Chính cung cấp cho toàn ngành Tài Chính, trong đó có
Tổng cục Hải quan
Nhận thức được tầm quan trọng đó, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi
đã triển khai HQĐT chính thức thì ngành Hải quan đã đặt ra yêu cầu hàng đầu trong công cuộc cải cách hiện đại hóa đó là tập trung đầu tư thêm các trang thiết bị, máy móc, cơ sở vật chất để triển khai thủ tục HQĐT Nếu có được cơ sở hạ tầng CNTT, trang bị phần mềm tối ưu và nâng cao được chất lượng nguồn lực của ngành hải quan thì ngành Hải quan có thể tự tin áp dụng thủ tục HQĐT, góp phần không nhỏ
Trang 34trong công cuộc cải cách hiện đại hóa nói chung của nền kinh tế đất nước
1.4.1.2 Về nguồn nhân lực
Chúng ta biết rằng thủ tục HQĐT đòi hỏi phải được xây dựng trên nền tảng CNTT hiện đại, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn lực để thực hiện thủ tục HQĐT Thủ tục HQĐT thực chất chỉ là một phương thức thực hiện và chỉ có thể phát huy hiệu quả tối đa nếu các chế độ quản lý hải quan được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế và năng lực thực hiện của cơ quan hải quan Trong đó năng lực của từng cán bộ, công chức trong việc thực hiện quy trình nghiệp vụ HQĐT đòi hỏi rất cao Nếu HQĐT được xây dựng trên nền tảng CNTT hiện đại, chuẩn hóa mà lực lượng để thực hiện, triển khai lại yếu, kém thì thủ tục HQĐT sẽ rất bất cập, khập khiễng, không đồng bộ
Vì vậy, có thể khẳng định rằng để triển khai thủ tục HQĐT thành công thì không thể thiếu được yếu tố về con người, chất lượng nguồn lực trong việc thực hiện, triển khai HQĐT Ngành Hải quan cần phải chủ động, tích cực trong việc đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách làm thủ tục HQĐT, thường xuyên mở lấp tập huấn nâng cao trình độ, đáp ứng tốt nhât những yêu cầu của HQĐT Trong thời gian này và trong thời gian tới ngành Hải quan cần đầu tư nguồn lực, cơ sở vật chất, hệ thống CNTT và nguồn nhân lực có chất lượng để đáp ứng kỳ vọng của DN về thủ tục HQĐT
1.4.1.3 Về các hoạt động tuyên truyền
Đối với một Nhà nước đang phát triển thì công tác quản lý hành chính của Nhà nước luông thay đổi là điều tất yếu và nó cũng đống nghĩa với việc phát sinh các thủ tục hành chính mới Do vậy, các cơ quan quản lý Nhà nước trong đó có cơ quan hải quan sẽ không ngừng cải cách thủ tục hành chính để đảm bảo phục vụ lợi ích quản lý Nhà nước, lợi ích của tổ chức, cá nhân và của nhân dân Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong quá trình cải cách thủ cục hành chính, hiện đại hóa ngành Hải quan Hiện nay ngành hải quan đã và đang thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật theo chỉ đạo của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên Đẩy
Trang 35mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, tư vấn, giải đáp vướng mắc sẽ là một vấn đề quan trọng để triển khai hải quan điện tử thành công và phát triển thủ tục hải quan điện tử, thủ tục hải quan và ngành hải quan nói chung Ngày 17/10/20007 Tổng cục hải quan đã chủ động ban hành Quyết định số 1915/QĐ-TCHQ ban hành quy chế tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người nộp thuế Việc tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật (TTHTPL) cho cộng đồng doanh nghiệp được triển khai bằng các hình thức phong phú, thường xuyên, đa dạng như: TTHTPL trực tiếp tại trụ sở Chi cục hải quan hoặc trụ sở doanh nghiệp, qua điện thoại hoặc bằng văn bản; qua hội nghị đối thoại hoặc hội thảo, tập huấn; công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử hải quan (tại website: www.customs.gov.vn), báo hải quan, phát hành tờ rơi, hoặc các ấn phẩm khác,…
Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, tư vấn, giải đáp vướng mắc… trong thời vừa qua đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay được ngành hải quan đặc biệt quan tâm, chú ý vì đây sẽ là bước đột phá thể hiện quyết tâm cải cách và là tinh thần cầu thị của ngành hải quan Đây cũng là cơ hội để ngành thay đổi phương thức tiếp cận của hải quan trong quan hệ với doanh nghiệp theo hướng coi doanh nghiệp là đối tác Vì vậy, đây là là yếu tố giúp thủ tục hải quan điện tử nói riêng và thủ tục hải quan nói chung được hiệu quả và thuận lợi theo đúng phương châm mà ngành hải quan đã đưa ra “chuyên nghiệp - minh bạch - hiệu quả”
và 7 ngày trong tuần, thay vì diễn ra trong giờ hành chính như trươc Tại cơ quan hải quan, dữ liệu về DN, hàng hóa sẽ được quản lý, phân thành 3 luồng: xanh, vàng,
đỏ tùy theo mức độ rủi ro của hàng hóa Việc xác định hàng hóa thuộc luồng nào sẽ căn cứ theo dữ liệu của hải quan về chủng loại, nguồn gốc hàng hóa đó, khai báo và
Trang 36mức độ chấp hành pháp luật của DN Chính vì thế, khi thực hiện thủ tục HQĐTsẽ đem lại nhiều lợi ích cho cả cơ quan hải quan và DN
Quy trình thủ tục HQĐT đơn giản, hài hòa, thống nhât, đạt chuẩn mực quốc
tế sẽ giúp cho cơ quan hải quan thực hiện việc quản lý một cách có hiệu quả, đồng thời giúp DN xuất nhập khẩu tăng cường khả năng cạnh tranh do tiết kiệm thời gian
và chi phí thực hiện thủ tục hải quan Cái lợi nhất của quy trình thư tục HQĐT trên
là giúp cho ngành Hải quan chuyển tử quản lý giao dịch trực tiếp sang áp dụng phương thức hiện đại, giao dịch gián tiếp; từ xử lý thủ công trên giấy tờ sang xử lý trên máy tính, tránh được sự tiếp xúc trực tiếp giữa DN và can bộ hải quan; giúp cán
bộ hải quan nhận thức rõ cải cách hiện đại hóa là xu thế tất yếu để phát triển bộ máy Nhà nước nói chung, cơ quan Hải quan nói chung Tuy nhiên quy trình thủ tục HQĐT thực chất chỉ là một phương thức thực hiện và chỉ có thể phát huy hiệu quả tối đa nếu các chế độ quản lý hải quan được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế và năng lực thực hiện của các cơ quan liên quan
1.4.2 Yếu tố bên ngoài
1.4.2.1 Ý thức về việc chấp hành tham gia thủ tục hải quan điện tử của Doanh nghiệp
Việc tham gia và thực hiện thủ tục HQĐT không chỉ đơn thuần là thay đổi phương thức thực hiện thủ tục hải quan mà còn là sự thay đổi về cả tư duy và nhận thức của Doanh nghiệp Việc DN nhìn nhận và ý thức được nhiều lợi ích khi tham gia thủ tục HQĐT sẽ giúp luôn luôn chấp hành đầy đủ các quy định khi tham gia thủ tục HQĐT Điều này sẽ giúp cho hoạt động quản lý hải quan nói chung và thủ tục HQĐT nói riêng hiệu quả
Việc triển khai thủ tục HQĐT đã giảm rất nhiều trách nhiệm của cơ quan hải quan, tuy nhiên không thể tránh khỏi những trường hợp DN lợi dụng thủ tục HQĐT
để gian lận Ví dụ có trường hợp DN khai rất nhiều tờ khai cho 01 lô hàng nhập khẩu để thăm dò kết quả phân luồng Nếu tỷ lệ phân luồng xanh (chỉ kiểm tra sơ bộ, không kiểm tra thực tế hàng hóa) cao thì DN mới đăng ký chính thức và tiếp tục làm thủ tục để thông quan Trưởng hợp DN bị phân luổng đỏ (phải kiểm tra thực tế
Trang 37hàng hóa) DN sẽ hủy tờ khai Hoặc trên thực tế có một hành vi lặp lại nhiều lần đó
là khi DN làm thủ tục HQĐT là khai sai mã số HS dẫn đến giảm số thuế phải nộp Như vậy, lợi ích của việc DN tham gia thủ tục HQĐT là rất nhiều nhưng nếu DN không có ý thức chấp hành tốt thủ tục hải quan, chấp hành tốt các chính sách của Pháp luật thì đối với cơ quan hải quan việc thực hiện thủ tục HQĐT phát sinh và tiềm ẩn nguy cơ gian lận cao mà không thể kiểm soát được Do đó, sẽ tạo khẽ hở để các DN gian lận và sẽ giảm số thuế phải thu cho ngân sách Nhà nước
Tóm lại, ngoài việc bản thân ngành Hải quan cần phải nâng cao năng lực của lưc lượng hải quan ở địa phương; cần xây dựng cơ sở dữ liệu về DN, mặt hàng, địa bàn có nguy cơ rủi ro, xây dựng cơ sở dữ liệu sát với thực tế, thì bản thần ý thức chấp hành của các DN khi tham gia thủ tục HQĐT là rất quan trọng Nếu các DN cùng chung sức với cơ quan hải quan trong việc thực hiện thủ tục HQĐT thì HQĐT
sẽ đem lại được rất nhiều lợi ích cho cả hải quan và DN theo đúng nghĩa của nó
1.4.2.2 Hạ tầng viễn thông của Doanh nghiệp
Đối với DN khi tham gia vào thủ tục QHĐT cần phải có các trang thiết bị về công nghệ thông tin như máy tính kết nối mạng Internet và được cài đặt phần mềm khai báo hải quan Thực tế, hầu hết các DN mức độ đầu tư về các trang thiết bị, nhân viên doanh nghiệp chưa thành thạo trong việc khai báo do chưa tham gia các lớp đào tạo của các cơ sở đào tạo thuộc ngành hải quan hoặc một số DN chưa thường xuyên,… Nhưng chủ yếu do sự nhìn nhận từ phía DN về việc đầu tư hạ tầng phục vụ cho việc thực hiện thủ tục HQĐT Để thủ tục HQĐT được triển khai hiệu quả cần sự đồng bộ từ phía về hạ tầng viễn thông từ phía cơ quan hải quan và phía
DN
Việc nhận thức của DN về việc đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT, kỹ thuật, hệ thống mạng, đội ngũ thực hiện thủ tục HQĐT là rất quan trọng, nếu DN hiểu được những lợi ích mà DN được hưởng từ việc tham gia thủ tục HQĐT thì phải tích cực
phối hợp để việc thực hiện thủ tục được thông suốt, dễ dàng
Trang 381.4.2.3 Sự phối hợp của các Bộ Ban ngành liên quan trong việc thực hiện hải quan điện tử
Thủ tục HQĐT hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc tập trung chủ yếu vào quy trình thông quan hàng hóa Việc triển khai thủ tục HQĐT muốn thành công, tạo thuận lợi, thông thoáng cho DN cũng như đem lại nhiều lợi ích cho cơ quan hải quan thì không chỉ một mình ngành Hải quan hoạt động độc lập được mà cần được trao đổi thông tin, phối hợp giữa các Bộ, ngành trong việc quản lý đối với các loại hàng hóa, thuế suất,… thì mới đáp ứng được mức độ tự động hóa của hệ thống thủ tục HQĐT đúng theo yêu cầu để ra Mặt khác thủ tục HQĐT thực chất chỉ là một phương thức thực hiện và chỉ có thể phát huy hiệu quả tối đa nếu các chế độ quản lý hải quan được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế và năng lực thực hiện của các cơ quan, Bộ, ngành liên quan
Hiện nay, khi triển khai thủ tục HQĐT thì ngành hải quan mới chỉ điện tử hóa được các chứng từ thuộc quản lý của cơ quan hải quan, còn những chứng tử thuộc
sự quản lý của các ngành khác như giấy phép của các Bộ, ngành , giấy chứng nhận xuất xứ nhập khẩu, giấy nộp tiền vào kho bạc (chứng từ nộp thuế), giấy đăng ký kiểm tra chất lượng (kiểm dịch động thực vật, an toàn vệ sinh thực phẩm)… vẫn chưa điện tử hóa được Hệ quả là hồ sơ điện tử mới chỉ điện tử hóa được một phần , kéo theo thủ tục HQĐT chưa thể hiện được đúng bản chất
Tóm lại, để thủ tục HQĐT được hiệu quả và thủ tục HQĐT mở rộng phát triển trong tương lai thì cần sự tham gia, phối hợp tích cực của các Bộ, ngành liên quan, cần sự hướng dẫn rõ ràng, đơn giản của các văn bản liên quan của các Bộ, ngành ban hành, tránh chồng chéo và gây khó khăn cho Doanh nghiệp Điều này sẽ làm cho thủ tục HQĐT đơn giản, hài hòa, tạo thông thoáng và hoạt động được theo đúng bản chất
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá thủ tục hải quan điện tử
Xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại và hội nhập hiện nay đòi hỏi
cơ quan hải quan phải hoạt động hiệu quả hơn Vì vậy, ngành hải quan đã triển khai nhiều giải pháp trong quá trình quản lý đặc biệt là áp dụng công nghệ thông tin vào
Trang 39hoạt động quản lý nhà nước về hải quan Việc triển khai thực hiện thủ tục HQĐT là một trong những giải pháp mang lại hiệu quả rất lớn trong công tác đổi mới quản lý của hải quan Để đánh giá hoạt động của việc thực hiên thủ tục hải quan điện tử nói riêng và hoạt động của hải quan Việt Nam nói chung như thế nào là hiệu quả phải
có căn cứ khoa học, dựa vào những số liệu cụ thể mang tính định lượng Đó là các chỉ tiêu:
+Thời gian giải phóng hàng khi thực hiện thủ tục HQĐT trung bình;
+ Sự hài lòng của khách hàng đối với việc thực hiện thủ tục HQĐT
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
1.6 Kinh nghiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử của một số nước trên thế giới
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, trong thời gian qua, hầu hết Hải quan các nước đã nỗ lực thực hiện thủ tục hải quan điện tử nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho hoạt động thương mại hợp pháp, đồng thời nâng cao năng lực
Trang 40quản lý nhà nước về hải quan Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan điện tử ở các nước có sự khác nhau Điều này được thể hiện
rõ nét khi nghiên cứu ở một số cơ quan Hải quan nước ngoài như Hàn Quốc, Malaysia, Singapore và Nhật Bản
1.6.1.Kinh nghiệm của hải quan Hàn Quốc
Qua nhiều giai đoạn triển khai hiện đại hoá hải quan, đến thời điểm hiện nay
có thể nói, Hải quan Hàn Quốc đã phát triển thành cơ quan hải quan hiện đại với 100% hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đựơc thực hiện thông quan điện tử, 96% hàng xuất khẩu không cần nộp giấy tờ, đối với hàng nhập khẩu tỷ lệ này là 80% Hệ thống thông tin của hải quan được kết nối với nhiều đơn vị có liên quan như hãng tàu, ngân hàng, cơ quan quản lý chuyên ngành để cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác hải quan thông qua hình thức EDI (Electronic Data Interchange – Trao đổi dữ liệu điện tử)
Thủ tục hải quan Hàn Quốc được thực hiện với sự trợ giúp của hệ thống tự động hoá được xây dựng và vận hành theo mô hình tập trung Toàn bộ hệ thống được vận hành tập trung tại một trung tâm xử lý dữ liệu đặt tại cơ quan Hải quan Trung ương Deajoon được vận hành 24/24 giờ Các địa điểm làm thủ tục hải quan (Customs House) kết nối với hệ thống thông qua mạng diện rộng (WAN) và chạy chương trình tại trung tâm xử lý để thực hiện thủ tục hải quan điện tử Hệ thống tự động hoá của Hải quan Hàn Quốc kết nối với đơn vị truyền nhận chứng từ điện tử (hay còn gọi là VAN) KT-NET để trao đổi chứng từ điện tử với các bên liên quan như người vận tải, giao nhận, ngân hàng, chủ hàng, kho ngoại quan, cơ quan quản
lý chuyên ngành để cấp giấy phép, cảnh sát, hải quan các nước… Hệ thống được thiết kế dựa trên công nghệ trao đổi dữ liệu điện tử EDI (ứng dụng chuẩn UN/EDIFACT) nhưng có sửa đổi lại cho phù hợp với yêu cầu đặc thù của Hải quan Hàn Quốc
Sự phát triển hải quan điện tử của Hàn Quốc được mô tả như sau: