1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa

118 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ đề tài "Nghiên cứu, đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội

Trang 1

PHẠM ANH DŨNG

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ XÂM NHẬP VÀ SỰ CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA TRUNG QUỐC TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA VIỆT NAM NHẰM ĐƯA RA GIẢI PHÁP CHIẾM

LĨNH LẠI THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

ỌC:

NGÔ TRẦN ÁNH

Hà Nội-Năm 2013

Trang 2

**********

Phạm Anh Dũng

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ XÂM NHẬP VÀ

SỰ CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA TRUNG QUỐC TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA VIỆT NAM NHẰM ĐƯA RA GIẢI PHÁP CHIẾM LĨNH LẠI THỊ

TRƯỜNG NỘI ĐỊA

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Quản trị kinh doanh

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN BẢO

Trang 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

VÀ CHÍNH SÁCH XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG

4

1.1 Thương mại quốc tế 4

1.1.4 Khái niệm về chính sách ngoại thương 6

1.2 Vấn đề xâm nhập thị trường 7

1.2.2 Mục tiêu của xâm nhập thị trường 81.2.3 Các công cụ để xâm nhập thị trường 101.2.3.1 Xuất khẩu 101.2.3.2 Nhượng quyền thương hiệu 121.2.3.3 Đầu tư trực tiếp 14

1.2.4 Chính sách chống xâm nhập thị trường từ nước ngoài 17

1.2.4.1 Thúc đẩy xuất khẩu đồng thời kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu 171.2.4.2 Đổi mới cơ chế chính sách quản lý điều hành xuất nhập khẩu 171.2.4.3 Xây dựng và thực thi chính sách tỷ giá hợp lý để thúc đẩy xuất

khẩu, hạn chế nhập khẩu

18

1.2.4.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá nội địa 191.2.4.5 Phát triển bền vững thị trường trong nước 201.2.4.6 Tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại và phù hợp 20

1.2.5 Lý thuyết về tỉ lệ xâm nhập thị trường 22 Chương 2: PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ XÂM NHẬP CỦA HÀNG HÓA

TRUNG QUỐC TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA VIỆT NAM

26

Trang 4

2.2 Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam- Trung Quốc 33

2.2.2 Cơ cấu xuất nhập khẩu song phương 362.2.3 Những vấn đề liên quan tới mậu dịch biên giới 40

2.3 Đánh giá sơ bộ tình hình thương mại song phương Việt Nam

- Trung Quốc

41

2.3.1 Những thành tựu đạt được 412.3.2 Những thách thức đối với Việt Nam 43

2.4 Mức độ xâm nhập của hàng hóa Trung Quốc vào thị trường

nội địa Việt Nam

53

2.5 Nguyên nhân dẫn đến sự xâm nhập mạnh của hàng hóa

Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam

63

2.5.1 Cơ chế đấu thầu còn nhiều hạn chế, lỏng nẻo 642.5.2 Năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường nội địa 662.5.3 Hạn chế trong năng lực xây dựng và thi hành chính sách về hỗ

2.5.6 Các ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu kém 75

Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HÀNG VIỆT NAM

CHIẾM LĨNH LẠI THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA

Trang 5

3.2.1.3 Quan tâm đầu tư và phát triển những mặt hàng công nghiệp phụ

trợ

87

3.2.1.4 Thiết lập hàng rào kỹ thuật đối với nhập khẩu 92

3.2.1.5 Cải thiện hoạt động của bộ máy hải quan, quản lý thị trường,

công an trong công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại

93

3.2.2 Những giải pháp từ phía Doanh nghiệp 95

3.2.2.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh của hàng hóa

Việt Nam

95

3.2.2.2 Đẩy mạnh phong trào “Nâng cao năng suất” và chủ

trương “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”

97

KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC 108

Trang 6

Hình 1.2 Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt

Nam

25

Hình 1.3 Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc theo nhóm hàng, 2008 26

Hình 1.4 Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc theo nhóm hàng, 2008 27

Bảng 1.3 Cán cân thương mại với Trung Quốc của một số nước trong khu vực,

2008

32

Bảng 1.4 Cơ cấu nhập khẩu từ Trung Quốc của các nước trong khu vực, 2008 33

Bảng 1.5 Cơ cấu xuất khẩu sang Trung Quốc của các nước trong khu vực, 2008 34

Bảng 1.6 Một số hạng mục chính cán cân thanh toán của Việt Nam với Trung

Quốc

36

Bảng 1.7 Hàng hóa giảm trên 10% thuế suất 39

Bảng 1.8 Tỷ lệ thâm nhập của Trung Quốc trên thị trường Việt Nam 42

Bảng 1.9 So sánh sự thay đổi về tỷ lệ thâm nhập và tấc độ tăng trưởng sản xuất

nội địa

45

Bảng 1.10 Tỷ lệ thâm nhập của Trung Quốc và lĩnh vực sản xuất, 2008 46

Bảng 1.11 Nhập siêu và cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường Việt

Nam

48

Bảng 1.12 Top 20 sản phẩm Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc, 2008 49

Bảng 1.113 Các dự án thầu trọng điểm của Trung Quốc tại Việt Nam thời kỳ 2007 -

Trang 7

Trade Area)

ASEAN+3 Hiệp hội các nước Đông Nam Á + Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

EHP Chương trình thu hoạch sớm của Hiệp định Khung về hợp tác kinh tế

toàn diện ASEAN – Trung Quốc ( Early Harvest Program )

EPC Thiết kế - Cung ứng vật tư thiết bị - Xây lắp ( Engenering,

Procument, Construction)

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment)

FTA Khu vực mậu dịch tự do ( Free Trade Area)

HS Hệ thống hài hòa ( Harmonized System)

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế ( International Monetary Fund)

IPR Tỷ lệ xâm nhập ( Import Penetration Rate)

ISIC Danh mục chuẩn quốc tế các ngành công nghiệp (International

Standart Industrial Classification)

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức ( Official Development Aid)

ODM Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm mang nhãn hiệu của doanh nghiệp

khác (Original Disign Manufacturer)

OEM Nhà sản xuất phụ tùng lắp ráp ( Original Equipment Manufacturer)

SITC Danh mục chuẩn quốc tế các loại hàng hóa( Standard International

Trade Classification)

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Năm 2004, trong khuôn khổ thỏa thuận thương mại khu vực (FTA), Việt

Nam và các đối tác đã ký kết thỏa thuận thành lập khu vực thương mại tự do

ASEAN-Trung Quốc Hiệp ước «ACFTA » (ASEAN-China Free Trade Area),

có hiệu lực từ năm 2010 (2015 đối với những nước kém phát triển hơn trong đó

có Việt Nam) sẽ tạo ra một khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới, với GDP

khoảng 2000 tỉ USD và dân số gần 1,7 tỉ người Quá trình hội nhập quốc tế

mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức, một trong

những thách thức lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt chính là sức ép cạnh tranh

gay gắt của Trung Quốc trên thị trường quốc tế cũng như thị trường nội địa của

Việt Nam Vấn đề này ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết trong bối

cảnh thâm hụt thương mại Việt- Trung ngày càng tăng trong những năm trở lại

đây, và việc Việt Nam trở nên quá phụ thuộc về thương mại vào một nền kinh tế

đã trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu

Đã có những nghiên cứu khá sâu vấn đề thâm hụt thương mại Việt-

Trung Lê Quốc Phương (2010) phân tích tác động của việc Trung Quốc nâng

giá Nhân Dân Tệ đối với xuất khẩu của Việt Nam, qua đó tác động tới thâm hụt

cán cân thương mại Trần Văn Thọ (2010) phân tích chiến lược, chính sách

nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của công nghiệp Việt Nam trước sự trỗi dậy

của kinh tế Trung Quốc Hà Thị Hồng Vân và Đỗ Tiến Sâm (2009) nghiên cứu

mối quan hệ giữa thương mại, FDI và ODA của Trung Quốc- Việt Nam trong

thời kỳ 1998-2008 và tác động của những yếu tố đó tới kinh tế Việt Nam Tuy

nhiên, các nghiên cứu trên chưa phân tích được cấu trúc của thâm hụt thương

mại, đồng thời chưa đo lường mức độ đe dọa của hàng nhập khẩu Trung Quốc

trên thị trường nội địa Việt Nam

Trang 9

Trong khuôn khổ đề tài "Nghiên cứu, đánh giá mức độ xâm nhập và

sự cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa”, chúng tôi hướng

tới việc giải quyết những khiếm khuyết của các nghiên cứu trên bằng cách so sánh thâm hụt thương mại của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam

Á với Trung Quốc, đặc biệt thông qua phương pháp tính toán và phân tích tỷ lệ thâm nhập của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam Đề tài của chúng tôi đưa ra những nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng cán cân thương mại Kết quả cho thấy mức độ thâm nhập của Trung Quốc ngày càng tăng trong

đa số các sản phẩm từ máy móc thiết bị đến hàng tiêu dùng Đặc biệt, các ngành sản xuất Trung Quốc thâm nhập nhiều nhất vào thị trường Việt Nam hiện nay đều tập trung vào một số lĩnh vực: điện lực, dầu khí, cơ khí, luyện kim, khai khoáng, hóa chất - những ngành công nghiệp thượng nguồn hiện đang có nhiều

dự án EPC với quy mô lớn do Trung Quốc thắng thầu đảm nhận, với chủ đầu tư đều là các tập đoàn kinh tế trụ cột của nền kinh tế Việt Nam Dù có những quan điểm cho rằng, nhập khẩu công nghệ, thiết bị là nhằm tới kỳ vọng nâng cao giá trị gia tăng trong tương lai, thực tế cho thấy, nhập siêu từ nước láng giềng đang ngày càng chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng nhập siêu của Việt Nam, mà giá trị lan tỏa về công nghệ cũng như về xã hội không cao như kỳ vọng

2 Mục tiêu của đề tài :

Mục tiêu của đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Giới thiệu một cách khái quát nhất về thương mại hàng hóa Việt Nam- Trung Quốc

- Phân tích tỷ lệ xâm nhập của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam, những thành tựu mà nước ta đã đạt được trong quan hệ thương mại với Trung Quốc và những thách thức đối với Việt Nam trong quá trình chiếm lĩnh lại thị trường nội địa

Trang 10

- Trên cơ sở phân tích tỷ lệ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam, đề tài hệ thống hóa và đề xuất các giải pháp để hàng Việt Nam chiếm lĩnh lại thị trường nội địa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Tỷ lệ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam, những nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập mạnh của hàng hóa Trung Quốc và các giải pháp để Việt Nam chiếm lĩnh lại thị trường nội địa

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là xuất nhập khẩu Việt Nam- Trung Quốc trên các nhóm hàng phân loại theo tiêu chuẩn SITC, sản xuất công nghiệp của Việt Nam phân loại theo ISIC từ năm 1999 đến 2008

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp:

- Phân tích, tổng hợp;

- So sánh, đối chiếu;

- Diễn giải và quy nạp;

- Thống kê, lượng hóa mức độ xâm nhập

5 Cấu trúc nội dụng luận văn

Đề tài bao gồm những nội dung sau :

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thương mại quốc tế và chính sách xâm nhập thị trường

Chương 2: Phân tích mức độ thâm nhập của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp để hàng Việt Nam chiếm lĩnh lại thị trường nội địa

Trang 11

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CHÍNH SÁCH XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG

1.1 Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế (hay là ngoại thương): là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ

giữa các quốc gia thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên Thương mại quốc tế có mầm mống từ hàng nghìn năm nay, nó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ vai trò trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế

1.1.2 Nội dung thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Trên góc độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương Nội dung của Thương mại quốc

tế bao gồm:

* Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên vật liệu, máy móc, thiết

bị, lương thực, thực phẩm, các loại hàng hóa tiêu dùng…) thông qua xuất – nhập khẩu trực tiếp hoặc xuất nhập khẩu ủy thác

* Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình (cá bí quyết công nghệ, bằng sáng chế, bằng phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch

vụ lắp ráp thiết bị, máy móc, dịch vụ du lịch, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, thương hiệu…) thông qua xuất–nhập khẩu trực tiếp hoặc xuất-nhập khẩu

ủy thác

* Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công Khi trình độ phát triển còn thấp, thiếu vôn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì cần phải chú

Trang 12

trọng các hoạt động gia công thuê cho nước ngoài, nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình

và cao hơn là phải sản xuất và xuất khẩu trực tiếp Hoạt động gia công mang tính chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công ngắn, có đầu vào và đầu ra gắn liền với thị trường nước ngoài, nên nó được coi là một bộ phận của hoạt động ngoại thương

* Xuất khẩu tại chỗ Trong trường hợp này, hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt ra biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như xuất khẩu Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế…Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quả cao do giảm bớt được chi phí bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh

* Tái xuất khẩu và chuyển khẩu Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang một nước thứ ba với điều kiện hàng hóa đó không qua gia công, chế biến Như vậy ử đây có cả hành động mua và bán nên mức rủi ro có thể lớn

và lợi nhuận có thể cao Còn trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà ở đây chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi, bảo quản…Bởi vậy, mức độ rủi ro trong hoạt động chuyển khẩu nói chung

là thấp và lợi nhuận cũng không cao

1.1.3 Chức năng của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế có 2 chức năng cơ bản sau đây:

Một là, làm biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu

nhập quốc dân được sản xuất trong nước thông qua việc xuất và nhập khẩu nhằm đạt tới cơ cấu có lợi cho nền kinh tế trong nước Chức năng này thể hiện việc thương mại hóa quốc tế làm lợi cho nền kinh tế quốc dân về mặt giá

Trang 13

trị sử dụng

Hai là, thương mại quốc tế góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế

quốc dân, do việc mở rộng trao đổi mà khai thác triệt để lợi thế của nền kinh

tế trong nước trên cơ sở phân công lao động quốc tế, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành Các chức năng của thương mại quốc tế có liên quan chặt chẽ với các nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nó Căn cứ vào các nhân tố này người ta phân biệt thành thương mại bù đắp và thương mại thay thế

- Thương mại bù đắp diễn ra do sự khác nhau về các điều kiên tự nhiên và

do trình độ phát triển còn thấp của lực lượng sản xuất

- Thương mại thay thế diễn ra trên cơ sở sự phân công lao động quốc tế

đã đạt tới trình độ phát triển cao, chuyên môn hóa vào những mặt hàng có ưu thế Thương mại bù đắp và thương mại thay thế có liên hệ chặt chẽ với nhau,

bổ sung cho nhau và thúc đẩy lẫn nhau phát triển

1.1.4 Khái niệm về chính sách ngoại thương:

Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh

tế, hành chính và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực ngoại thương của một nước trong thời kỳ nhất định

Chính sách ngoại thương là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh

tế của một nước, nó góp phần thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ

Mục tiêu phát triển kinh tế của một đất nước trong từng thời kỳ có khác nhau, cho nên đường lối chính sách ngoại thương phải thay đổi để đạt được những mục tiêu cụ thể của chính sách kinh tế Không có chính sách ngoại thương áp dụng cho mọi thời kỳ phát triển kinh tế Tuy nhiên, các chính sách ngoại thương đều có tác dụng bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại sự cạnh tranh từ

Trang 14

bên ngoài, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và bành

trướng ra bên ngoài

1.2 Vấn đề xâm nhập thị trường

1.2.1 Khái niệm xâm nhập thị trường

Xâm nhập thị trường nước ngoài là những biện pháp hoặc chiến lược nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ, thúc đẩy tăng lợi nhuận, sức ảnh hưởng và thị phần nắm giữ Hoạt động xâm nhập thị trường được coi là một nội dung trong hoạt động marketing quốc tế Xâm nhập thị trường nước ngoài để mở rộng thị trường là hệ quả của quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền kinh tế Nói cách khác, xâm nhập thị trường nước ngoài là nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, nhu cầu này xuất hiện khi:

- Doanh nghiệp có khả năng cung cấp những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng tốt hơn hoặc với giá rẻ hơn để phản công lại thị trường nội địa của đối thủ cạnh tranh nhằm làm phân hóa nguồn lực của các đối thủ này

- Doanh nghiệp nhận thấy rằng có những thị trường nước ngoài mang lại lợi nhuận cao hơn thị trường trong nước

- Doanh nghiệp có thể cần phát triển một hệ thống khách hàng lớn hơn

để phục vụ chiến lược quy mô kinh tế của mình

- Doanh nghiệp có thể không muốn quá phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ nào đó mà muốn phân tán rủi ro

- Khách hàng của doanh nghiệp có hoạt động ở nước ngoài nên cần dịch vụ của doanh nghiệp ở nước đó

Trang 15

1.2.2 Mục tiêu của xâm nhập thị trường

1.2.2.1 Nâng cao lợi ích kinh tế đối với bản thân các doanh nghiệp

Xu hướng thâm nhập thị trường nước ngoài ra đời để thỏa mãn nhu cầu

mở rộng thị trường, nâng cao lợi nhuận trong lĩnh vực sản xuất và trao đổi, buôn bán hàng hóa, dịch vụ Khi thị trường nội địa đã được các doanh nghiệp khai thác triệt để và tận dụng tối đa mọi ưu thế của thị trường về nguồn nhân lực, quy mô tiêu thụ, thị trường nội địa trở thành một cơ sở vững chắc để các doanh nghiệp tìm hiểu và tận dụng thị trường lao động giá rẻ và thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng ở nước ngoài Thị phần mở rộng tất yếu mang lại nguồn lợi khổng lồ cho các doanh nghiệp về doanh thu, quảng bá hình ảnh và

uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế, đồng thời còn tạo cho các nhà kinh doanh cơ hội cải thiện cơ cấu sử dụng lao động, và giá thành sản phẩm

Cơ hội đầu tiên đối với các nhà kinh doanh là tìm đến những thị trường có nguồn lao động rẻ, nguồn tài nguyên, nhiên liệu dồi dào, đây là những điều kiện quan trọng giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất ra thị trường nước ngoài, kiểm soát chặt chẽ và triệt để cũng như cân bằng tình hình sản xuất – kinh doanh giữa hai khu vực thị trường nội địa và thị trường ngoại quốc Học hỏi những kinh nghiệm buôn bán quốc tế, đầu tư, quản lý và tiếp thu những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật ứng dụng cho sản xuất và điều hành kinh tế ở quy mô quốc gia và quốc tế, nhanh chóng hội nhập với xu thế toàn cầu hoá là

Trang 16

quốc gia Sự đồng thuận này giữa các doanh nghiệp và chính phủ, trước hết là bởi nguồn lợi kinh tế mang lại khi thị trường nước ngoài được khai phá và tận dụng thành công: GDP tăng cao, nâng cao xuất khẩu cũng đồng nghĩa với việc nâng cao ngân sách quốc gia, cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước và mức sống của người dân trong nước, phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành, cơ cấu sản xuất và cán cân xuất nhập khẩu Mở rộng thị trường cho hàng hoá đẩy mạnh sản xuất trong nước phát triển tạo công ăn việc làm và khuyến khích phát triển công nghệ thúc đẩy sản xuất Xuất khẩu hàng hoá có lợi thế so sánh

và lợi thế tuyệt đối để mua lại những hàng hoá khó sản xuất ở trong nước, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng ngày càng tạo nhiều lợi thế

so sánh hơn (chuyển dịch cơ cấu ngành nghề); nhập khẩu và tiếp thu trực tiếp các công nghệ tiên tiến đầu tay, hiện đại hoá nền kinh tế và cải thiện tiêu dùng cho nhân dân, tăng quy mô thị trường

Ngoài ra, trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế, xâm nhập và mở rộng thị trường nước ngoài trở thành một nhu cầu tất yếu đối với rất nhiều quốc gia, đặc biệt là những nền kinh tế cần nhiều tài nguyên, nguyên liệu và nhiên liệu thô phục vụ cho phát triển công nghiệp Xâm nhập vào thị trường nước ngoài

là giải pháp tối ưu để tiến hành khai thác, tận dụng, thậm chí tiến đến kiểm soát nguồn tài nguyên, nguyên nhiên liệu dồi dào ở nhiều nước đang và kém

và phát triển Thị trường nước ngoài khi đó không đơn thuần là “đầu ra”- thị trường tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước, mà trở thành nguồn cung cấp

“đầu vào” thỏa mãn “cơn khát” năng lượng, tài nguyên của nền công nghiệp nội địa

1.2.2.3 Nâng cao vị thế chính trị của quốc gia trên trường quốc tế

Trong kỷ nguyên mới của toàn cầu hóa, mỗi quốc gia đều cần nhận thức được rõ ràng vị thế của mình trên chính trường quốc tế Mặt trái của toàn

Trang 17

những thế lực lớn trong kinh tế thế giới, và sự “lép vế” trong quan hệ ngoại giao, phân chia lợi ích kinh tế của các nước “tầm vóc” kinh tế bé nhỏ hơn Bởi thế, càng nâng cao sức ảnh hưởng trên thương trường, các quốc gia càng

có nhiều lợi thế để thúc đẩy tiếng nói của mình trên chính trường quốc tế, đây

là định hướng phát triển lâu dài mà quốc gia nào trên thế giới cũng khát khao hướng đến Xu hướng thâm nhập, mở rộng thị trường, đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là toàn cầu hóa kinh tế sâu rộng như hiện nay, trở thành một nhu cầu phát triển cực kỳ quan trọng phục vụ cho mục đích chính trị của các nền kinh tế

1.2.3 Các công cụ để xâm nhập thị trường

1.2.3.1 Xuất khẩu

Xuất khẩu hàng hóa là hình thức đầu tiên của chiến lược thâm nhập thị trường quốc tế, thông qua hoạt động tiêu thụ những hàng hóa được sản xuất trong nước ra thị trường nước ngoài Phần lớn các công ty bắt đầu việc mở rộng thị trường ra nước ngoài với tư cách là những nhà xuất khẩu và sau đó mới chuyển từ phương thức này sang phương thức khác để phục vụ thị trường nước ngoài Hình thức xuất khẩu có cả những ưu điểm và nhược điểm

- Hiệu quả của chiến lược xuất khẩu là nhằm hướng tới làm cho sản phẩm thích ứng và thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng và sự ưa thích

Trang 18

của thị trường Đồng thời làm cho các chính sách giá cả, phân phối và xúc tiến được liên kết chặt chẽ với nhau trong một chiến lược marketing tổng thể

- Những rủi ro bắt nguồn từ nguyên nhân ít kinh nghiệm xuất khẩu, ít

am hiểu thị trường của các công ty mới bước chân vào kinh doanh quốc tế Các công ty có thể tiến hành xuất khẩu hàng hóa của mình theo 2 phương thức: tự tiến hành những hoạt động xuất khẩu - xuất khẩu trực tiếp, hoặc sử dụng dịch vụ của những người trung gian marketing quốc tế - xuất khẩu gián tiếp

- Xuất khẩu trực tiếp:

Hình thức xuất khẩu trực tiếp xuất hiện khi doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu trực tiếp cho người mua hay người nhập khẩu ở thị trường nước ngoài

Có nhiều dạng xuất khẩu trực tiếp như: phòng xuất khẩu của công ty chịu trách nhiệm bán hàng ở nước ngoài, chi nhánh thương mại, người bán hàng lưu động, hoặc đại lý và nhà phân phối đặt ở nước ngoài

- Xuất khẩu gián tiếp:

Xuất khẩu gián tiếp là hình thức khi doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài thông qua các tổ chức độc lập trong nước Đó là các trung gian bán buôn trong nước, các công ty thương mại, các đại lý đặt trong nước, người mua thường trú, người môi giới xuất nhập khẩu, đại lý xuất khẩu của người sản xuất, công ty quản lý xuất khẩu

Trang 19

Hiện nay, hình thức xuất khẩu gián tiếp được các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng phổ biến do trong giai đoạn mới tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế, khả năng mở rộng thị trường bằng con đường khác còn nhiều hạn chế Hơn nữa hình thức này phù hợp với nguồn lực và kinh nghiệm xuất khẩu ít ỏi của các doanh nghiệp

Nói chung, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chỉ tập trung hoạt động của họ chủ yếu trong môi trường sở tại quen thuộc nên giảm thiểu được những rủi ro tài chính và thương mại Thêm vào đó, hình thức xuất khẩu gián tiếp thông qua các trung gian xuất khẩu còn có những ưu điểm khác nữa:

- Thứ nhất, giúp cho người sản xuất thâm nhập nhanh chóng vào thị trường nước ngoài Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể sử dụng công ty quản lý xuất khẩu- một hình thức tác nhân trung gian- có nhiều kinh nghiệm hoạt động trên thị trường nước ngoài hơn và do đó, giảm bớt được rủi ro gắn liền với việc bán hàng trong một môi trường xa lạ

- Thứ hai, người sản xuất có thể nhận được sự hỗ trợ ngay về tài chính khi các thỏa thuận mua bán được thông qua

- Thứ ba, việc chuyên môn hóa hoạt động trong nước có thể làm tăng hiệu quả của hoạt động đó và tạo ra những cơ hội đem lại lợi nhuận lớn hơn

Ví dụ: nếu khách hàng nước ngoài đã quan tâm đến một loại sản phẩm của công ty thì họ cũng có thể có nhu cầu mua loại sản phẩm khác do công ty sản xuất Hơn nữa, người mua thường thích mua theo thói quen, tức là làm việc với một số ít người cung cấp do sự tin tưởng và để tiết kiệm chi phí liên quan đến việc mua

1.2.3.2 Nhượng quyền thương hiệu

Nhượng quyền thương hiệu là cách thức mà một doanh nghiệp cho phép một doanh nghiệp khác nào đó được sử dụng tài sản vô hình của mình như quy trình sản xuất, thương hiệu, sáng chế, bí mật kinh doanh để thu về khoản

Trang 20

phí sử dụng những tài sản vô hình đó Các nhãn hiệu thương mại có thể là yếu

tố rất quan trọng đối với sự hình thành và đảm bảo thành công cho các cơ hội kinh doanh của các giấy phép có khả năng sinh lời Ví dụ: các công ty của

Mỹ như COCA-COLA và DISNEY đang cấp phép sử dụng các nhãn hiệu thương mại của họ cho các nhà sản xuất nước ngoài trên các sản phẩm như quần áo, đồ chơi, đồng hồ,….Chỉ riêng ở Châu Á và khu vực Thái Bình Dương, doanh thu của các sản phẩm được DISNEY cấp phép đã tăng gấp đôi

kể từ năm 1988 đến năm 1990, và đã tiếp tục tăng gấp đôi một lần nữa cho đến năm 1994

Nhượng quyền thương mại (Franchising) là một hình thức chuyển nhượng giấy phép đặc biệt, trong đó công ty bán cho người mua “những quyền hữu hạn” về sử dụng tên nhãn của mình với một khoản thanh toán trọn gói và chia sẻ lợi nhuận với người mua quyền kinh doanh Tuy nhiên, khác với việc bán giấy phép, ở đây người mua quyền kinh doanh phải đồng ý tuân thủ những nguyên tắc, qui định nghiêm ngặt về cách thức kinh doanh

¾ Ưu điểm:

Các ưu điểm của việc nhượng quyền thương mại tương tự như nhượng bán giấy phép Đặc biệt, với những chi phí và rủi ro gắn liền với việc mở rộng thị trường nước ngoài, người bán quyền kinh doanh không phải chịu mà chính người mua phải chịu

¾ Nhược điểm:

- Nhượng quyền thương mại đòi hỏi công ty phải quản lý và kiểm soát gắt gao chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung ứng sao cho đúng với những nguyên tắc và quy định về cách thức kinh doanh Do đó, công ty sẽ phải mất chi phí cho việc này

Việc bán quyền kinh doanh có thể làm giảm uy tín và hạn chế khả năng phối hợp chiến lược toàn cầu của công ty bởi trên thực tế, những người mua

Trang 21

quyền kinh doanh thường không quan tâm đầy đủ đến chất lượng dịch vụ cung cấp Để khắc phục nhược điểm này, công ty có thể thành lập công ty con

ở mỗi thị trường hay khu vực mà nó đang mở rộng hoạt động

1.2.3.3 Đầu tư trực tiếp

Một trong những hình thức được áp dụng rộng rãi nhất khi tham gia vào thị trường thế giới là việc tiến hành đầu tư 100% vốn của các công ty nước ngoài Khi một doanh nghiệp đã có đủ nguồn lực và kinh nghiệm về xuất khẩu và khối lượng của thị trường nước ngoài đủ lớn thì họ sẽ tiến tới thành lập ở nước ngoài cơ sở sản xuất hay lắp ráp của mình Điều này có thể được thực hiện thông qua việc thành lập mới hay thôn tính các công ty

¾ Ưu điểm:

Việc đầu tư 100% vốn có một số ưu điểm như tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, tránh các hàng rào thuế quan và hạn ngạch…Việc thành lập công ty con sẽ làm giảm thiểu rủi ro do việc mất khả năng kiểm soát và giám sát công nghệ gây ra Hơn nữa, nó còn tạo cho công ty một kiểu kiểm soát chặt chẽ các hoạt động ở các thị trường khác nhau và do đó, nâng cao khả năng phối hợp trên toàn cầu, thực hiện lợi thế quy mô, lợi thế vị trí, tác động kinh nghiệm và hỗ trợ cạnh tranh giữa các thị trường Các công ty có thể thay đổi sự lựa chọn các chiến lược của mình từ việc cấp phép hay tham gia liên doanh, song chiến lược đầu tư trực tiếp thường có tốc độ bành trướng thị trường nhanh hơn, kiểm soát và thu được lợi nhuận nhiều hơn

¾ Nhược điểm:

Tuy nhiên việc đầu tư trực tiếp thường là phương thức tốn kém nhất để phục vụ thị trường nước ngoài Công ty mẹ phải chịu toàn bộ chi phí và rủi ro của việc thành lập các công ty con ở nước ngoài Có 2 loại rủi ro: rủi ro kinh

tế vĩ mô và rủi ro kinh tế vi mô Loại thứ nhất ít gặp hơn nhưng nếu có nó sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của cả công ty Đó là những vấn đề kinh tế và

Trang 22

chính trị lớn có ảnh hưởng đến một nước và là mối đe dọa đối với các khoản tiền đầu tư đã bỏ ra Nó có nguồn gốc là những sự kiện chính trị hay quân sự, hoặc một sự bất ổn định về tài chính, dẫn đến hạn chế tự do chuyển nhượng vốn, lao động,…Hay cũng có thể là những quy định của chính phủ nước sở tại

về thuế hay những điều chỉnh, hạn chế tự do hoạt động của doanh nghiệp

1.2.3.4 Xúc tiến thương mại

Xúc tiến thương mại là các biện pháp và nghệ thuật dùng để thông tin

về hàng hoá, tác động tới người mua, lôi kéo họ về phía mình và các biện pháp hỗ trợ cho bán hàng, đồng thời thúc đẩy, khuyến khích phát triển thương mại Trong hoạt động xúc tiến thương mại có 03 chủ thể tham gia chủ yếu là: Chính phủ, các tổ chức hoạt động XTTM và các doanh nghiệp Xúc tiến thương mại gồm 3 nội dung chính là: quảng cáo, các hoạt động yểm trợ và xúc tiến bán hàng Nói cách khác, đó là các hoạt động nghiên cứu bàn giấy, khảo sát và các dịch vụ liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hành vi mua bán nhưng không thuộc hành vi mua bán mà chỉ hỗ trợ nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Các biện pháp xúc tiến thương mại có thể tác động hỗ trợ gián tiếp hay trực tiếp đến phát triển thương mại như: hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu triển khai, hỗ trợ việc tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra, hỗ trợ về mặt tài chính, kích thích nhu cầu tiêu dùng tăng lên thông qua việc ký kết các Hiệp định thương mại, thông qua hội chợ triển lãm, thông qua mở rộng hệ thống phân

phối, thiết lập văn phòng đại diện ở nước ngoài

Trang 23

tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư

Ưu điểm của ODA là: Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm); thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả

và thời gian ân hạn 8-10 năm); trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA

Bất lợi khi nhận ODA: Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho mình, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, các nước này đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực

và trên thế giới) Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Nguồn vốn viện trợ ODA còn gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do nước viện trợ sản xuất Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng nước viện trợ có thể tham gia

gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

Trang 24

1.2.4 Chính sách chống xâm nhập thị trường từ nước ngoài

1.2.4.1 Thúc đẩy xuất khẩu đồng thời kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu Nghiên cứu nắm chắc thị trường nước ngoài để tạo ra lực kéo hàng hóa trong nước từ khách hàng và các nhà nhập khẩu ngoài nước Đồng thời khai thác lợi thế của hàng xuất khẩu để đẩy mạnh ra thị trường thế giới Chính vì vậy phải nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu dự báo thị trường cả trong ngắn hạn và dài hạn

Phát hiện các cơ hội và thị trường tiềm năng trong xuất khẩu đồng thời phải hiểu rõ các rào cản của thị trường nhập khẩu để chủ động vượt qua Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tận dụng lợi thế trong thực thi các cam kết trong hiệp định thương mại song phương và đa phương

Đặc biệt phải xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về hàng nhập khẩu, nhất là tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn môi trường và tiêu chuẩn vệ sinh

an toàn cho người tiêu dùng trong nước Vận hành hệ thống cảnh báo sớm có hiệu quả Hoàn thiện chính sách và bảo đảm phân công, phối hợp hợp lý trong kiểm soát thương mại biên mậu

Đây cũng chính là một trong những vấn đề rất yếu kém của Việt Nam, chính sách thuế chưa phù hợp, buôn lậu và gian lận thương mại diễn ra ngày càng trầm trọng cả về quy mô, lẫn mức độ làm ảnh hưởng rất lớn đến việc hàng hóa

từ nước ngoài xâm nhập thị trường nội địa với giá thành rẻ, có nhiều lợi thế cạnh tranh với các mặt hàng cùng chủng loại của Việt Nam

1.2.4.2 Đổi mới cơ chế chính sách quản lý điều hành xuất nhập khẩu

Cơ chế, chính sách quản lý xuất nhập khẩu, một mặt phải đổi mới cho phù hợp với yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế, mặt khác phải đảm bảo tính đồng bộ, mục tiêu rõ ràng trong dài hạn và minh bạch dễ tiên lượng Cần xây

Trang 25

dựng đồng bộ các tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn môi trường trong thương mại, các biện pháp phi thuế quan, tự vệ, khẩn cấp, áp thuế chộng bán phá giá, thuế tiêu thụ đặc biệt v.v…Nhằm hạn chế nhập khẩu từ nước ngoài, trước hết là từ các nước đang phát triển, ASEAN và Trung Quốc Các biện pháp hành chính như hạn chế, cấm nhập, gia tăng các thủ tục, v.v…chỉ có tác dụng tức thời ngắn hạn Cần có tầm nhìn dài hạn trong phối hợp xuất khẩu và nhập khẩu, cả trên bình diện kinh tế quốc dân và với các mặt hàng chủ lực Cần có chủ trương, quyết sách hợp lý trong thu hút đầu tư từ Trung Quốc, khai thác cơ hội của chương trình thu hoạch sớm trong quy định hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc và cải thiện cán cân Thương mại giữa hai nước

1.2.4.3 Xây dựng và thực thi chính sách tỷ giá hợp lý để thúc đẩy xuất

khẩu, hạn chế nhập khẩu

Nhiều nghiên cứu ở trong nước và quốc tế đã chỉ ra tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất nhập khẩu Về mặt lý thuyết tỷ giá hối đoái có thể tác động đến xuất nhập khẩu qua ba kênh Thứ nhất, chính sách tỷ giá có thể tác động trực tiếp đến các dòng thương mại, từ đó dẫn đến áp lực phải can thiệp bằng các chính sách thương mại như trợ giá hoặc thuế quan; Thứ hai; thông qua tác động chung của chính sách tỷ giá đến cán cân thanh toán nói chung; Thứ ba; tác động gián tiếp của chính sách tỷ giá đến tăng trưởng và lạm phát trong nước

Theo nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện nghiên cứu chiến lược ngân hàng nhà nước khẳng định: “Chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy ảnh hưởng của tỷ giá danh nghĩa chưa rõ nét trong việc tác động đến xuất nhập khẩu, trong khi đó tỷ giá thực hiệu quả lại có tác động rất rõ nét đến thâm hụt thương mại Điều này chứng tỏ tỷ giá danh nghĩa chưa

Trang 26

sát với tỷ giá thực hiệu quả…Trong thời gian hiện nay, nên theo đuổi mục tiêu

ổn định tỷ giá, song điều hành tỷ giá danh nghĩa nên bám sát tỷ giá thực hiệu quả, điều đó từng bước tạo điều kiện cho tỷ giá trở thành công cụ khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu trong trung hạn” Cần có chính sách vĩ mô thích hợp không vì mục tiêu tăng trưởng mà phải vì mục tiêu giữ lạm phát ở mức độ hợp lý trong trung và dài hạn để vừa đạt được ổn định tỷ giá hối đoái vừa tăng tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam

1.2.4.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá nội địa

Vấn để hết sức quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trong nước là phải xác định mặt hàng có lợi thế Trên cơ sở đó phải xây dựng và thực thi chiến lược sản xuất các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam về cơ bản còn phân tán, lạc hậu Vấn đề tổ chức lại để hình thành sản xuất hàng hóa lớn, chuyên môn hóa cao trên nền tảng công nghệ hiện đại có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa

Từ đó để hạn chế việc xâm nhập thị trường từ nước ngoài, thì phải có chính sách tập trung xây dựng các thương hiệu hàng hoá mạnh của quốc gia Nhà nước tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu hàng hoá trên thị trường quốc tế để tránh bị nước ngoài đăng ký trước

Tổ chức lại hệ thống phân phối hàng hóa trong nước và tiếp cận hệ thống phân phối bán lẻ ở thị trường nước ngoài Đẩy mạnh truyền thông và xúc tiến thương mại ở ngoài nước

Khai thác lợi thế cạnh tranh phải tạo ra sự khác biệt sản phẩm hàng hoá Vấn đề trọng tâm ở đây là phát triển đa dạng hoá sản phẩm, thường xuyên đổi mới để tăng sự hấp dẫn Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu

Trang 27

Tăng cường năng lực cạnh tranh thông qua liên kết quốc tế, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

1.2.4.5 Phát triển bền vững thị trường trong nước

Thực tiễn mấy chục năm gần đây cho thấy rằng, những quốc gia đi theo

mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu đã đạt được tăng trưởng kinh tế cao và thay đổi cơ cấu kinh tế hết sức nhanh chóng Điều đó khiến mô hình công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu trở thành một xu thế phổ biến Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế mới đang đặt ra một số vấn đề đối với mô hình này:

Một là, sự phụ thuộc quá mức vào thị trường ngoài nước sẽ làm cho nền

kinh tế trong nước dễ bị tổn thương, khi có biến động của thị trường thế giới sẽ ảnh hưởng lớn đến kinh tế trong nước

Hai là, đầu tư thúc đẩy xuất khẩu mang lại kết quả bị động về chính sách

tiền tệ, ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô

Ba là, thiên nhiều về coi trọng công nghiệp cơ cấu nền kinh tế mất cân đối,

ít chú ý đến nhu cầu trong nước, dễ bỏ qua thị trường trong nước Đây là nguy

cơ tiềm ẩn của sự khủng hoảng và là điều kiện rất thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập thì trường đặc biệt là những phân khúc bị bỏ ngỏ

Vì vậy, cần có một chính sách áp dụng công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu

và phát triển vững chắc thị trường trong nước Khuyến khích tiêu dùng, kích cầu tiêu dùng là con đường phát triển bền vững, ổn định với những trọng tâm chủ yếu là: nâng cao năng lực tiêu dùng của dân cư; cải thiện xu hướng tiêu dùng của người dân và tăng cơ cấu tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ

1.2.4.6 Tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại và phù hợp

Tái cơ cấu kinh tế đã được đề cập đến từ lâu ở Việt Nam, tuy nhiên đến tận thời kỳ bùng nổ lạm phát nghiêm trọng cuối năm 2008 và suy thoái nền

Trang 28

kinh tế từ đầu năm 2009 đến nay thì vấn đề tái cơ cấu kinh tế mới được quan tâm nhiều Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã phần nào làm rõ hơn những nút thắt cổ chai đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới như: chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế thấp, sự yếu kém của nền hệ thống tài chính, cơ sở hạ tầng, các ngành công nghiệp phụ trợ, năng lực cạnh tranh, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và các vấn

đề xã hội phát sinh

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch trong thời gian qua là không hiện đại, tác động của yếu tố khoa học công nghệ trong chuyển dịch cơ cấu trong các ngành, vùng kinh tế còn thấp Đến nay công nghệ cao sử dụng trong các ngành kinh tế của Việt Nam mới chỉ đạt 20% (tiêu chí công nghiệp hóa phải

là 60%) Trong công nghiệp các doanh nghiệp tự động hóa mới đạt 1,9% bán

tự động là 19,6%, cơ khí hóa 26,6%, bán cơ khí hóa là 35,7%, thủ công là 16,2% Tốc độ đổi mới công nghệ so với các nước trên thế giới vẫn còn rất chậm Với cơ cấu như vậy, đương nhiên nhiên là hạn chế khá lớn đến tính bền vững, tính hiệu quả trong tăng trưởng kinh tế ở nước ta

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế với sự thâm nhập của các cuộc cách mạng và khoa học công nghệ toàn cầu, cơ cấu kinh tế nước ta sẽ có điều kiện tốt cho sự dịch chuyển cơ cấu về chất, kết nối với cơ cấu kinh tế trong khu vực, làm tăng khả năng tăng trưởng kinh tế và đáp ứng được yêu cầu của phân công, hợp tác kinh tế trong khu vự Tái cấu trúc nền kinh tế nhằm tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng

Chuyển từ mô hình gia công, lắp ráp theo mô – đun sang mô hình tích hợp sản xuất và phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ trong chế biến nông sản, công nghiệp dệt may, ô tô, xe máy, điện tử v.v… có ý nghĩa đặc biệt hướng tới

Trang 29

giảm nhập siêu, chống sự xâm nhập của các thị trường ngoài nước trong dài hạn

Thuật ngữ tỷ lệ xâm nhập lần đầu tiên được sử dụng trong kinh tế bởi James Hughes và AP Thirlwall (1977) Mối quan hệ giữa sản xuất trong nước, viết tắt là Y, và nhu cầu trong nước, viết tắt là D, có thể được thể hiện như sau:

Y = D + EX - IM, EX là xuất khẩu và IM là nhập khẩu

Theo J.L Mucchielli (1999), OECD (2003), R Álvarez (2008), B Goldar (2008), tỷ lệ xâm nhập (importation penetration rate, viết tắt là IPR) là phần trăm giá trị hàng nhập khẩu đáp ứng tổng tiêu dùng trên thị trường nội địa của một quốc gia Tiêu dùng trên thị trường nội địa đến lượt nó được định nghĩa là tổng của giá trị sản xuất và nhập khẩu ròng

Giá trị của IPR nằm từ 0 đến 100: IPR= 0 (không có hàng nhập khẩu) và IPR= 100% khi tất cả các nhu cầu trong nước được thỏa mãn bởi hàng nhập khẩu (không sản xuất trong nước và không có xuất khẩu)

IPR ở quy mô quốc gia : Xuất khẩu là tổng kim ngạch xuất khẩu song phương, nhập khẩu là tổng kim ngạch nhập khẩu song phương, GDP tổng sản xuất trong

Trang 30

nước Nói cách, tử số là tổng nhập khẩu, mẫu số là tổng GDP và nhập khẩu ròng (tức là, tổng nhu cầu nội địa)

Khi nghiên cứu một ngành công nghiệp cụ thể, IPR cũng là một khái niệm quan trọng để đánh giá mức độ tổn thương của một ngành công nghiệp trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu

Từ quan điểm kinh tế vĩ mô, một quốc gia có sản xuất lớn và khả năng cạnh tranh quốc tế cao sẽ tăng cường xuất khẩu và giảm nhập khẩu Trong trường hợp này, tỷ lệ xuất khẩu sẽ tăng lên và tỷ lệ xâm nhập sẽ giảm Ngược lại, một quốc gia sản xuất hàng hóa sản xuất ở mức thấp, khả năng cạnh tranh quốc tế yếu sẽ giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu Trong trường hợp này, tỷ lệ xuất khẩu sẽ giảm và tỷ lệ xâm nhập sẽ tăng Lưu ý rằng mối quan hệ được mô

tả ở đây cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác Hai yếu tố là rào cản nhập khẩu và chi phí giao dịch có thể tác động tới tỷ lệ xâm nhập Nếu một quốc gia đã thiết lập các hàng rào nhập khẩu, quốc gia khác mặc dù sản xuất có hiệu quả hơn nhưng cơ hội xuất khẩu sang nước kia sẽ bị hạn chế, và tỷ lệ xâm nhập

sẽ không tăng Tương tự như vậy, nếu chi phí vận chuyển và các chi phí giao dịch khác là rất cao, sự khác biệt trong năng lực cạnh tranh quốc tế có thể không được phản ánh trong tỷ lệ xâm nhập

Ngoài ra, ở cấp độ ngành công nghiệp, tỷ lệ xâm nhập phản ánh cơ cấu công nghiệp của một quốc gia Trong trường hợp của một nước đang phát triển có một xu hướng xuất khẩu một khối lượng lớn các hàng hóa sơ cấp và nhập khẩu

số lượng lớn hàng hoá công nghiệp Điều đó dẫn đến, các nước đang phát triển thường có tỷ lệ xuất khẩu (Xuất khẩu/GDP) cao đối với hàng hóa sơ cấp và tỷ lệ xâm nhập cao đối với hàng hóa công nghiệp Các nước công nghiệp thì ngược lại, xuất khẩu khối lượng đáng kể hàng hóa công nghiệp và nhập khẩu số lượng lớn hàng hoá sơ cấp Do đó, các nước này thường có tỷ lệ xuất khẩu cao đối với hàng hóa công nghiệp và tỷ lệ thâm nhập cao đối với hàng hóa sơ cấp

Trang 31

Cần phải lưu ý rằng một nước có tỷ lệ thâm nhập thấp không nhất thiết có nghĩa

là các rào cản nhập khẩu cao và ngược lại Trên thực tế, tỷ lệ thâm nhập thấp có thể phản ánh tập hợp các yếu tố không thuận lợi cho thương mại quốc tế (ví dụ như, chi phí vận chuyển cao) Hơn nữa, nếu một nước có sự kết hợp của tỷ lệ xuất khẩu cao và tỷ lệ thâm nhập thấp có thể là biểu hiện của năng lực cạnh tranh cao của các công ty trong nước Khi tỷ lệ xuất khẩu và tỷ lệ nhập khẩu cao đối với một ngành công nghiệp cụ thể, rất có khả năng đó là do sự gia tăng của thương mại nội ngành

Ngoài cách tính trên, một số nhà kinh tế đưa ra công thức khác để tính chỉ

Trong đó: IM là Nhập khẩu, S là tổng giá trị sản xuất công nghiệp

D Dark (2004) lại tính tỷ lệ thâm nhập bằng phần trăm giá trị nhập khẩu trên GDP

Trong đó IM là Nhập khẩu, GDP là tổng sản phẩm quốc dân

Hạn chế trong cách tính A D Tran (2006) và D Dark (2004) là không

đề cập đến vấn đề tạm nhập tái xuất, nói cách khác, những hàng hóa được nhập khẩu vào thị trường trong nước, nhưng sau đó lại được xuất khẩu ra nước ngoài thì không tạo sức ép cạnh tranh lớn trên thị trường nội địa Do đó, đặt trong bối cảnh ở Việt Nam, tỷ lệ nhập khẩu trong cấu phần xuất khẩu còn rất cao, chiếm khoảng 2/3 giá xuất xưởng, chúng tôi sử dụng cách tính tỷ lệ

Trang 32

thâm nhập theo cách thứ nhất của J.L Mucchielli (1999), nhằm loại bỏ yếu tố tạm nhập-tái xuất trong phân tích sức ép cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nội địa Việt Nam

Trang 33

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-TRUNG QUỐC, PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ XÂM NHẬP CỦA HÀNG HÓA TRUNG QUỐC

TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA VIỆT NAM 2.1 Khái quát về chính sách thương mại Việt Nam và Trung Quốc

2.1.1 Chính sách thương mại của Việt Nam trong quan hệ thương mại với Trung Quốc

Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định và xác định rõ chính sách kinh tế đối ngoại của đất nước Chúng ta vẫn quyết tâm thực hiện chính sách đối ngoại tự chủ cả về kinh tế, chính trị, xã hội, nêu cao tinh thần Việt Nam luôn muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Trong quan hệ với các nước, chúng ta đẩy mạnh hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với tất cả các doanh nghiệp nước ngoài, tổ chức quốc tế, chính phủ các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo hai bên cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại bằng nguyên tắc thương lượng, đảm bảo an ninh, chính trị để cùng phát triển

Trong quan hệ với nước láng giềng lớn nhất của mình là Trung Quốc, chủ trương của Việt Nam cũng không nằm ngoài chính sách chung đó Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết rất nhiều Hiệp định, thỏa thuận, thông cáo, tuyên bố chung về thương mại Việt – Trung Việt Nam cũng có trên 30 văn bản pháp luật quy định về vấn đề này Điều này cho thấy, Việt Nam rất coi trọng vấn đề thương mại với Trung Quốc

Trong các văn bản đó, đáng chú ý nhất phải kể đến chủ trương “Hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Nam-Trung Quốc” được hình thành trên cơ sở lấy tuyến trục giao thông và các hoạt động kinh tế làm nòng cốt, phát huy tác

Trang 34

động lôi kéo và lan tỏa ra bên ngoài trong quá trình phát triển Chủ trương này được xây dựng bởi lãnh đạo hai nước từ tháng 5/2005 Về không gian lãnh thổ, vành đai kinh tế Việt Nam-Trung Quốc bao gồm thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam và tỉnh Hải Nam, Khu tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây) của Trung Quốc Hai hành lang kinh tế bao gồm: (I) hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; (II) hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Ngoài ra, hệ thống chính sách của chúng ta còn quy định những nội dung như:

- Công tác tổ chức, quản lý thị trường vùng biên giới Việt - Trung phải nhằm mục tiêu mở rộng giao lưu hàng hóa giữa hai nước và nhân dân hai bên biên giới, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi Mặt khác, cần phải thiết lập trật tự trên thị trường này, kiên quyết ngăn chặn và bài trừ tệ nạn xã hội

- Mọi hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và xuất nhập cảnh qua biên giới bắt buộc phải thông qua các cửa khẩu, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Đồn biên phòng và Hải quan cửa khẩu

- Tổng cục Hải quan định kỳ tổ chức tiếp xúc với Hải quan Trung Quốc để thông báo cho nhau danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu của mỗi bên, có biện pháp thông báo cho mỗi bên nghiêm chỉnh chấp hành, đồng thời phải phối hợp kiểm tra, xử lý các vi phạm

Từ năm 1996, để đưa các hoạt động thương mại đi vào nề nếp, tạo sự hấp dẫn các thương nhân Trung Quốc sang buôn bán tại Việt Nam, phát huy lợi thế

so sánh và tạo động lực để phát triển kinh tế xã hội các tỉnh vùng biên, chính phủ cho phép các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng được áp dụng thí điểm một số chính sách mở tại khu vực kinh tế cửa khẩu mỗi tỉnh và đã đạt được những hiệu quả nhất định

Trang 35

- Về xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong

cả nước và cư dân hai bên được phép xuất nhập khẩu tất cả các loại hàng hóa trừ hàng hóa nằm trong danh mục hàng cấm xuất, nhập khẩu và danh mục hàng hóa được Nhà nước quản lý bằng hạn ngạch

- Về thuế, đối với những hàng hóa xuất nhập khẩu chính ngạch, tiểu ngạch

có mức thuế suất trên 5%, áp dụng mức thuế suất trong biểu thuế Đối với những mặt hàng xuất nhập khẩu tiểu ngạch có trong biểu thuế xuất nhập khẩu chính ngạch có thuế suất dưới 5%, áp dụng mức thuế 5% Các mặt hàng không

có trong danh mục biểu thuế xuất nhập khẩu chính ngạch thì áp dụng mức thuế 5% Sau khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO tháng 01/2007, Việt Nam đang có những điều chỉnh về thuế để phù hợp với những cam kết khi gia nhập WTO

- Về thanh toán, ngoài Hiệp định về thanh toán và hợp tác được sửa đổi năm 2001 thì đến năm 2004, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 689/2004-QĐ-NHNN về Quy chế thanh toán trong trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi trong vấn đề thanh toán trong hoạt động thương mại

Qua đó, có thể thấy rằng mặc dù rất quan tâm đến việc đẩy mạnh hoạt động thương mại với nước bạn láng giềng Trung Quốc nhưng hệ thống chính sách của ta vẫn chưa đáp ứng được thực tiễn hoạt động này

2.1.2 Chính sách thương mại của Trung Quốc

Vì Trung Quốc và Việt Nam có biên giới chung, là nước láng giếng với nhau, do đó Trung Quốc xác định tiến hành quan hệ buôn bán với các nước làng giềng, chú trọng đồng thời tiến hành hai loại hình buôn bán chính ngạch và biên mậu, áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế (giảm 50% thuế trong 5 năm so với mậu dịch chính ngạch), nhằm phát huy mọi lợi thế về địa lý và phục vụ cho phát

Trang 36

triển kinh tế ở các địa phương vùng biên giới

Với mục tiêu trên, vào những năm đầu thập niên 90 trở đi, Trung Quốc bắt đầu có sự thay đổi chính sách đối với Việt Nam, tiếp theo việc tăng cường quan

hệ chính trị, Trung Quốc bắt đầu coi trọng quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại với Việt Nam hơn trước, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN thì Trung Quốc coi Việt Nam là đối tác quan trọng gắn liền với đối tác ASEAN, với mục tiêu xâm nhập thị trường Việt Nam như là thị trường tiêu thụ trung bình, có nhiều lĩnh vực có thể sử dụng hàng hoá kỹ thuật của Trung Quốc, vừa thông qua Việt Nam để vào các thị trường khác trong ASEAN nhất là Lào và Camphuchia

Trung Quốc có chính sách về giao lưu kinh tế qua biên giới với các nước làng giềng nói chung (trong đó có Việt Nam) một cách nhất quán, trên nguyên tắc "Tự sản xuất, tự tìm thị trường và tự cân đối", họ coi biên mậu là một quốc sách quan trọng để phát triển kinh tế vùng biên giới, nâng cao mức sống cư dân biên giới, nhằm ổn định biên giới quốc gia Trung Quốc coi biên mậu là một trong những biện pháp quan trọng để góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu toàn cầu của Trung Quốc là cố gắng thực hiện 4 hiện đại hoá để vươn lên thành một cường quốc có ảnh hưởng lớn đối với đời sống chính trị - kinh tế thế giới trong thế kỷ 21 Do vậy Nhà nước Trung Quốc đã có chính sách hỗ trợ và giành

ưu đãi đặc biệt về mọi mặt nhất là giao quyền quản lý rộng rãi cho địa phương Trung Quốc đề ra nhiều chính sách cụ thể để khuyến khích và thúc đẩy thương mại với các nước láng giềng, cụ thể như sau:

¾ Chính sách nhập khẩu

Trong chính sách nhập khẩu của mình, Trung Quốc luôn quán triệt nguyên tắc “nhập tất cả những thứ cần và thiếu” tức là Trung Quốc chủ trương ưu tiên nhập khẩu các mặt hàng là nguyên liệu phục vụ sản xuất, đảm

Trang 37

bảo cho sự hoạt động bình thường và nhịp nhàng của các nhà máy, xí nghiệp, phục vụ tốt cho nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước như các nguyên liệu thô, hàng nông lâm thủy hải sản sơ chế

¾ Chính sách xuất khẩu

Chính sách xuất khẩu biên mậu của Trung Quốc tập trung cho mục tiêu kích thích sản xuất trong nước, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường, tạo cơ hội cho các địa phương đặc biệt là cho các khu vực kinh tế kém phát triển Chính vì thế, các mặt hàng xuất khẩu qua đường biên giới chủ yếu

là hàng hóa do các địa phương sản xuất và chủ yếu được xuất khẩu theo hình

thức tiểu ngạch Tuy nhiên, theo Văn kiện số 1998/884 về mậu dịch kinh tế đối ngoại, Trung Quốc đã có những điều chỉnh nhất định nhằm đẩy mạnh xuất

khẩu chính ngạch làm cho tỷ lệ xuất khẩu tiểu ngạch giảm xuống 10-20% Đáng chú ý là từ năm 2001 trở lại đây, Trung Quốc đã thực hiện nâng thuế nhập khẩu tiểu ngạch từ 0-5% lên 2-15% tùy theo loại hàng hóa Nhờ những điều chỉnh về thuế nhập khẩu tiểu ngạch này đã góp phần đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch

Tuy nhiên, dọc các tuyến biên giới Việt-Trung, Trung Quốc áp dụng phương thức lập các kho hàng lớn, luôn trong tình trạng tập kết đầy hàng hóa tại các tỉnh, thị xã, thị trấn giáp biên giới để đảm bảo có thể xuất hàng thường xuyên và khi có điều kiện tốt sẽ xuất hàng ồ ạt qua biên giới Với chính sách như vậy, Trung Quốc đã lợi dụng được khu vực biên giới để xuất hàng tồn kho

và kém phẩm chất vào Việt Nam Điều này sẽ là một bất lợi lớn cho nền sản xuất trong nước do đó chính phủ và các doanh nghiệp phải nắm vững những chính sách của Trung Quốc để có biện pháp thích ứng để đảm bảo lợi ích trong kinh doanh của mình

Trang 38

¾ Chính sách thuế

Nhà nước Trung Quốc coi việc thu thuế xuất nhập khẩu là đòn bẩy điều tiết hoạt động thương mại hàng hóa qua biên giới Đây là công cụ chủ yếu thực hiện chính sách mậu dịch biên giới của nước này

Căn cứ vào các ưu tiên của Trung Quốc, các thành phố, huyện thị biên giới mở cửa sẽ được phân cấp quản lý thu thuế biên mậu, toàn bộ số tiền thu được sẽ được để lại cho địa phương đầu tư cho cơ sở hạ tầng Trung Quốc giao quyền cho Chính phủ địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc:

- Mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương

- Mức thuế do cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương

- Tại các cửa khẩu quốc tế, thuế xuất nhập khẩu hàng hoá do cơ quan Hải quan thu và nộp về ngân sách Trung ương

Theo Văn kiện số 1998/884 của Trung Quốc, các công cụ về thuế và phi thuế được thực hiện theo hướng sau: hàng hóa tiêu dùng cho sinh hoạt hàng ngày của nhân dân nhập khẩu qua chợ biên giới có giá trị dưới 3000 NDT/người/ ngày sẽ được miễn thuế, nếu vượt quá thì phải chịu thuế cho phần giá trị vượt quá Trung Quốc cũng áp dụng biện pháp giảm 50% thuế nhập khẩu và 50% thuế VAT, hoàn thuế VAT cho hàng hóa xuất khẩu biên mậu ngay cả đối với các lô hàng thanh toán bằng đồng nhân dân tệ (chỉ có các doanh nghiệp đăng ký hoạt động kinh doanh tại huyện biên giới mới được hưởng ưu đãi này) Tuy nhiên, sau khi là thành viên của WTO năm 2001, Trung Quốc đã bãi bỏ hạn ngạch và giảm dần mức thuế xuất nhập khẩu biên mậu theo tỷ lệ thực thi là 15%/năm Từ tháng 10/2001, Trung Quốc nâng thuế

Trang 39

nhập khẩu tôm sú nuôi và cá nước ngọt lên mức cao chưa từng thấy: 50% đối với tôm nuôi và 20% đối với cá nước ngọt nhằm bảo hộ nghề nuôi tôm cá trong nước

Như vậy, chính sách thuế của Trung Quốc đối với mậu dịch biên giới là rất đa dạng và linh hoạt, tùy từng hoàn cảnh và thời kỳ sẽ có sự thay đổi sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế Trung Quốc

Quốc đã kí Hiệp định về thanh toán và hợp tác vào năm 1993 và sửa đổi năm 2001

Hiệp định này quy định mọi khoản thanh toán được thực hiện qua các Ngân hàng thương mại theo thông lệ quốc tế và ngoại tệ tự do chuyển đổi Việc thanh toán biên mậu qua ngân hàng dựa trên 3 khía cạnh chính sau:

- Về hình thức hàng đổi hàng, dựa trên mức chênh lệch đổi hàng, hai bên thoả thuận phương thức trao đổi hợp lý

- Được sự cho phép của NHNN, các doanh nghiệp hoạt động mậu dịch biên giới được phép mở tài khoản tại các ngân hàng của nước có chung đường biên giới

- Căn cứ vào tình hình giao dịch cụ thể của cư dân biên giới, các chi nhánh của các NHTM hai nước thiết lập các điểm đổi tiền tại các khu vực cửa khẩu

Về công tác thu đổi ngoại tệ, Trung Quốc giao cho chính quyền địa phương biên giới thành lập các bàn thu đổi tại biên giới để thuận tiện cho việc

Trang 40

thông thương giữa hai bên Tuy nhiên, biện pháp này chưa thực sự có hiệu quả

Hiện nay, Trung Quốc và các nước láng giềng trong đó có Việt Nam đang nỗ lực để hoàn thiện hơn nữa chính sách về thanh toán biên mậu

¾ Một số chính sách ưu tiên khác

Để khuyến khích hoạt động mậu dịch biên giới ngày càng phát triển, chính phủ Trung Quốc đã áp dụng rất nhiều chính sách ưu tiên cho các địa phương vùng ven biên giới như: các địa phương được quyền phê chuẩn các dự án hợp tác sản xuất và gia công hàng xuất khẩu trong phạm vi lãnh thổ của mình đồng thời có thể lập các khu hợp tác kinh doanh mậu dịch biên giới, xây dựng xí nghiệp gia công xuất khẩu Các xí nghiệp trong khu vực này có hoạt động sản xuất để xuất khẩu là chính thì tùy theo quy mô sẽ được trao quyền chủ động kinh doanh xuất nhập khẩu với các quốc gia láng giềng và hưởng ưu đãi về thuế Ngoài ra, hàng năm các địa phương sẽ được Nhà nước cấp một khoản tiền nhất định và được sử dụng số tiền thuế và lệ phí hàng hóa thu được để xây dựng, tu bổ cơ sở hạ tầng

Trung Quốc cũng áp dụng những chính sách ưu tiên về thuế Với các

dự án đầu tư vào ngoại thương tại địa phương biên giới, hai năm đầu được miễn thuế, năm 3, 4, 5 giảm 50% Với các dự án đầu tư và sản xuất, xây dựng, giao thông, thông tin, liên lạc… thì miễn thuế 5 năm đầu, 5 năm tiếp theo giảm 50% Các dự án đầu tư của nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu đối với toàn bộ máy móc, thiết bị văn phòng, thiết bị phục vụ sinh hoạt Lợi nhuận thu được ở một số hạng mục có thể miễn thuế khi chuyển ra nước ngoài Tất cả các xí nghiệp ở vùng biên giới được giảm 24% thuế so với mức thuế chung nội địa Trung Quốc còn cho phép các nhà đầu tư của nước láng giềng sử dụng nguyên liệu, vật tư sản xuất được coi là vốn đầu tư Bộ phận hàng hóa này có thể tiêu thụ theo quy định mậu dịch biên giới Trung Quốc

Ngày đăng: 09/10/2016, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Quốc Phương (2010), “Phân tích tác động của việc Trung Quốc nâng giá Nhân Dân Tệ đối với xuất khẩu của Việt Nam”, Tổng quan Kinh tế-xã hội Việt Nam quý 4 (12) 2010, Phụ trương Tạp chí Kinh tế và Dự báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của việc Trung Quốc nâng giá Nhân Dân Tệ đối với xuất khẩu của Việt Nam
Tác giả: Lê Quốc Phương
Năm: 2010
3. Sài Gòn Giải Phóng online, “Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Tháng 4, vẫn thiếu hụt 40.000 tấn xăng, dầu cung cấp ra thị trường”, 06/04/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Tháng 4, vẫn thiếu hụt 40.000 tấn xăng, dầu cung cấp ra thị trường
4. Sài Gòn Tiếp Thị, “Năm dự án nhiệt điện chậm trễ và các nhà thầu Trung Quốc”, 7/11/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm dự án nhiệt điện chậm trễ và các nhà thầu Trung Quốc
5. Sở Công Thương Quảng Ninh, “Giới thiệu Ngành công nghiệp Bauxit - Alumin - Nhôm Việt Nam”, 29/04/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Ngành công nghiệp Bauxit - Alumin - Nhôm Việt Nam
6. Từ Thúy Anh, “Chính sách thương mại của Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế”, trong Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2008 (Chủ biên:Nguyễn Đức Thành), NXB Tri Thức, June 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thương mại của Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế”, trong "Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2008
Nhà XB: NXB Tri Thức
8. Trần Văn Thọ (2001) “Chính sách chiến lược mở rộng xuất khẩu mặt hàng công nghiệp Việt Nam”, Kaihatsu Kinyu Kenkyujo-ho (JBIC), Tháng 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chiến lược mở rộng xuất khẩu mặt hàng công nghiệp Việt Nam
2. Phạm Huyền, VNR500, Trung Quốc trúng thầu 90% công trình thượng nguồn ở Việt Nam” , 31/7/2010 Khác
7. Chính sách thương mại và vấn đề nhập siêu của Việt Nam. GS Hoàng Đức Thân Khác
10. Trần Văn Thọ (2010), Luận về phát triển kinh tế Việt Nam, Keiso Shobo Khác
11. VCCI, 10/09/2010, ô Thu hỳt FDI Trung Quốc vào Việt Namằ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giữa Việt Nam và Trung Quốc - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Hình 1.1. Xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giữa Việt Nam và Trung Quốc (Trang 42)
Hình 1.2. Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt Nam - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Hình 1.2. Nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu của Việt Nam (Trang 43)
Hình 1.3. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc theo nhóm hàng, - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Hình 1.3. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc theo nhóm hàng, (Trang 44)
Hình 1.4. Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc theo nhóm hàng, 2008 - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Hình 1.4. Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc theo nhóm hàng, 2008 (Trang 45)
Bảng 1.6. Một số  hạng mục chính cán cân thanh toán của Việt Nam với Trung - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.6. Một số hạng mục chính cán cân thanh toán của Việt Nam với Trung (Trang 56)
Bảng 1.7. Hàng hóa giảm trên 10% thuế suất - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.7. Hàng hóa giảm trên 10% thuế suất (Trang 59)
Bảng 1.9 so sánh sự thay đổi về tỷ lệ thâm nhập và tấc độ tăng trưởng sản xuất - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.9 so sánh sự thay đổi về tỷ lệ thâm nhập và tấc độ tăng trưởng sản xuất (Trang 64)
Bảng 1.10. Tỷ lệ thâm nhập của Trung Quốc và lĩnh vực sản xuất, 2008 - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.10. Tỷ lệ thâm nhập của Trung Quốc và lĩnh vực sản xuất, 2008 (Trang 65)
Bảng 1.11. Nhập siêu và cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên th ị trường Việt - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.11. Nhập siêu và cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên th ị trường Việt (Trang 67)
Bảng 1.12: Top 20 sản phẩm Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc, 2008 - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.12 Top 20 sản phẩm Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc, 2008 (Trang 68)
Bảng 1.13. Các dự án thầu trọng điểm của Trung Quốc tại Việt Nam thời - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.13. Các dự án thầu trọng điểm của Trung Quốc tại Việt Nam thời (Trang 73)
Bảng 1.1. Xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giữa Việt Nam và Trung Quốc - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.1. Xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giữa Việt Nam và Trung Quốc (Trang 115)
Bảng 1.2.a. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc, 2010 - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.2.a. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc, 2010 (Trang 116)
Bảng 1.2.b. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Trung Quốc, - Nghiên cứu đánh giá mức độ xâm nhập và sự cạnh tranh của hàng hóa trung quốc trên thị trường nội địa việt nam nhằm đưa ra giải pháp chiếm lĩnh lại thị trường nội địa
Bảng 1.2.b. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Trung Quốc, (Trang 117)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w