Hồ Chí Minh với đề tài “Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của các NHTM đến năm 2010” hoặc Luận văn Thạc sỹ của Trần Thị Nguyệt, trường Đại học Ngoại thương với đề
Trang 1- -
LÊ THU GIANG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2- -
LÊ THU GIANG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐÀO THANH BÌNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, thông tin của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, sách, bài nghiên cứu và các trang website theo danh mục tài liệu của luận văn
Tác giả luận văn
LÊ THU GIANG
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM .4
1.1 Tổng quan về NHTM và cạnh tranh của NHTM 4
1.1.1 NHTM và các hoạt động cơ bản của NHTM 4
1.1.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM 7
1.2.Các tiêu chí và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM 9
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 9
1.2.2.Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM 10
1.3 Các phương pháp phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM 17 1.3.1 Phương pháp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NH 17
1.3.2.Phương pháp phân tích các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của NH 18
1.3.3 Mô hình ma trận SWOT phân tích năng lực cạnh tranh và tăng cường năng lực cạnh tranh của NHTM 20
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các NHTM 23
1.4.1 Các nhân tố bên trong 23
1.4.2.Các nhân tố bên ngoài 24
1.5 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số NHTM trên TG 28 1.5.1.Kinh nghiệm từ ngân hàng Citigroup 28
1.5.2.Kinh nghiệm từ ngân hàng Deutsche Bank 30
1.5.3.Kinh nghiệm từ ngân hàng Bank of America 31
1.5.4.Kinh nghiệm từ ngân hàng HSBC – Anh 32
1.5.5.Bài học về nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các NHTM tại Việt Nam 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM CP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM (TECHCOMBANK) TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 35
2.1 Tổng quan về TECHCOMBANK 35
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức 35
2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chính của TECHCOMBANK 37
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của TECHCOMBANK 48
2.2.1 Năng lực tài chính 48
2.2.2 Năng lực công nghệ 57
2.2.3 Nguồn nhân lực 59
Trang 52.2.4 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức 60
2.2.5 Hệ thống mạng lưới và mức độ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ 61
2.2.6 Chiến lược kinh doanh 64
2.2.7 Năng lực quản trị rủi ro 64
2.2.8 Uy tín, thương hiệu và chất lượng sản phẩm dịch vụ 65
2.3 Bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam 66
2.4 Vận dụng mô hình SWOT đánh giá năng lực cạnh tranh của TECHCOMBANK 68
2.4.1 Cơ hội và thách thức 69
2.4.2 Điểm mạnh và điểm yếu 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG CỦA NHTM CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 79
3.1 Định hướng phát triển của TECHCOMBANK và yêu cầu phải nâng cao năng lực cạnh tranh 79
3.1.1 Định hướng phát triển chung của ngành ngân hàng 79
3.1.2 Định hướng phát triển của TECHCOMBANK giai đoạn 2012 -2017 80
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của TECHCOMBANK trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 82
3.2.1 Tăng vốn điều lệ thông qua việc phát hành cổ phiếu tặng thưởng cán bộ nhân viên 82
3.2.2 Tăng cường tính chuyên môn trong quản lý 86
3.2.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng 87
3.2.4 Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao hình ảnh, thương hiệu 88
3.2.5 Đa dạng hóa sản phẩm 89
3.3 Một số kiến nghị 90
3.3.1 Đối với Chính phủ và cơ quan chức năng 90
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của TECHCOMBANK 37
BẢNG Bảng 1.1: Các chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh của NH 19
Bảng 1.2 Ma trận SWOT 21
Bảng 2.1: Quy mô vốn của techcombank giai đoạn 2007-2011 48
Bảng 2.2: Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM của các quốc gia trong khu vực 51
Bảng 2.3: Bảng cơ cấu huy động vốn 52
Bảng 2.4: Mô hình SWOT 69
Bảng 2.5: Mạng lưới hoạt động của một số NHTM tại Việt Nam 77
BIỂU Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng tín dụng qua các thời kỳ 42
Biểu đồ 2.2: Thị phần tín dụng một số ngân hàng năm 2011 42
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu cho vay theo thời hạn vay 43
Biều đồ 2.4: Tình trạng nợ xấu của một số ngân hàng theo nghiên cứu của công ty chứng khoán VCBS tại quý I/2012 44
Biểu đồ 2.5: Chất lượng dư nợ cho vay năm 2011 44
Biểu đồ 2.6: Phân tích chất lượng dư nợ cho vay 6 tháng đầu năm 2012 45
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu nợ tại thời điểm 31/12/2011 45
Biểu đồ 2.8: Dư nợ cho vay theo ngành nghề kinh doanh 6 tháng đầu năm 2012 46
Biểu đồ 2.9: Thu nhập thuần kinh doanh ngoại tệ 46
Biểu đồ 2.10: Tăng trưởng vồn điều lệ của Techcombank giai đoạn 2006-2011 49 Biểu đồ 2.11: Vốn điều lệ một số NHTM cổ phần tại Việt Nam 50
Biểu đồ 2.12: Thị phần huy động vốn của một số ngân hàng năm 2011 53
Biểu đồ 2.13: Cơ cấu huy động vốn theo loại nguồn 53
Biểu đồ 2.14: Biểu đồ cơ cấu huy động vốn của Techcombank 54
Biểu đồ 2.15: Biểu đồ khả năng sinh lời của Techcombank 55
Biểu đồ 2.16: Khả năng sinh lời trên tổng tài sản của một số NH 56
Biểu đồ 2.17: Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu của một số NH 56
Biểu đồ 2.18: Hệ số an toàn vốn của một số Ngân hàng 57
Biểu đồ 2.19: Trình độ học vấn cán bộ nhân viên Techcombank 60
Biểu đồ 2.20: Mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch 61
Biểu đồ 2.21: Biến động CPI và tỷ giá USD/VNĐ nửa cuối năm 2011 66
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Cạnh tranh là xu hướng chung của mọi nền kinh tế Nó ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp, các NHTM Ngày nay hầu hết các quốc gia đều thừa nhận trong mọi hoạt động đều phải có cạnh tranh, coi cạnh tranh không những là môi trường và là động lực của sự phát triển, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các mối quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội
Ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng là đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt mạnh mẽ hơn Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một cách mạnh mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao, hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước
Xu thế tất yếu của hoạt động cạnh tranh đang diễn ra không chỉ trên thị trường trong nước mà còn diễn ra trên toàn cầu, bên cạnh áp lực, thách thức lớn mà các NHTM Việt Nam phải đối mặt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết WTO cũng với các quy định, chính sách về quản lý NHTM của Chính phủ, đã, đang và sẽ tạo nhiều áp lực, khó khăn đối với NHTM Việt Nam Với năng lực hạn chế như hiện nay, các ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với những rủi
ro lớn, và gây ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế Điều này đòi hỏi bản thân mỗi ngân hàng phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để không những đứng vững mà ngày càng phát triển hơn Đặc biệt với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) - một ngân hàng cổ phần lớn với mục tiêu là sẽ trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam thì vấn đề này càng có ý
nghĩa quan trọng Từ những nhận thức như trên, đề tài “Nâng cao năng lực cạnh
tranh của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” được chọn nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, vận dụng lý thuyết, khai thác, tập hợp, xử lý các số liệu, luận văn nhằm:
Trang 9- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của NHTM, đặc biệt trong điều kiện của các NHTM Việt Nam hiện nay
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Techcombank trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Techcombank
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của NHTM và các nhân tố tạo nên năng lực cạnh tranh của NHTM
- Phạm vi nghiên cứu: Số liệu thu thập và phân tích của Techcombank trong giai đoạn từ 2006 – 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp,
dự báo để nghiên cứu đưa ra các đề xuất cụ thể, nhằm đánh giá và hệ thống hóa các vấn đề nghiên cứu và đưa ra các đánh giá cho luận văn
5 Đóng góp của luận văn
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại như Luận án Tiến sỹ của Trịnh Quốc Trung, trường Đại
học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh với đề tài “Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh và hội nhập của các NHTM đến năm 2010” hoặc Luận văn Thạc sỹ của Trần
Thị Nguyệt, trường Đại học Ngoại thương với đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế 2007 – 2010” hay Luận án Tiến sỹ của Lê Hồng Phong, Học viện
Ngân hàng với đề tài “Nâng cao năng lực hoạt động của Ngân hàng chính sách xã
hội Việt Nam” Cũng có một số công trình nghiên cứu đến năng lực cạnh tranh của
một số ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam như đề tài Luận văn Thạc sỹ
“Năng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đông Á trong tiến trình Hội nhập
Kinh tế quốc tế” của tác giả Đỗ Diệu Trang, Đại học Ngoại thương
Luận văn “Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ
thương Việt Nam (Techcombank) trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là
một nghiên cứu mới, không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây, tập trung đề
Trang 10xuất cho một ngân hàng cụ thể là ngân hàng TECHCOMBANK Luận văn đã thể hiện được các điểm mới đó là:
- Thứ nhất: Tập trung nghiên cứu vấn đề tăng cường năng lực cạnh tranh cho một ngân hàng cụ thể đó là Ngân hàng TECHCOMBANK trên cơ sở hệ thống hóa
cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của NHTM
- Thứ hai: Đề xuất các giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TECHCOMBANK với mô hình tổ chức phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHTM và năng lực
cạnh tranh của NHTM
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của TMCP Kỹ thương Việt
Nam (Techcombank) trong giai đoạn 2006-2012
Việt Nam (Techcombank) trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trong quá trình thực hiện đề tài, được hướng dẫn tận tình của TS Đào Thanh Bình, cùng với sự cố gắng của bản thân, nhưng với kiến thức và trải nghiệm thực tế còn hạn chế, thông tin, tài liệu tham khảo còn giới hạn, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, cũng như mức độ bao quát và chiều sâu chưa được nghiên cứu đề cập đến Do vậy tác giả rất mong được sự hướng dẫn, chỉ bảo của thầy cô, các đóng góp của đồng nghiệp và những người có quan tâm, để đề tài được hoàn thiện hơn
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô là giảng viên chuyên ngành tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các bạn bè đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, thông tin cho tác giả, đặc biệt là TS Đào Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Trang 11CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM
1.1 Tổng quan về NHTM và cạnh tranh của NHTM
1.1.1 NHTM và các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng từ lâu đã trở thành một khái niệm quen thuộc với đại bộ phận dân
cư bởi sự tham gia sâu rộng của ngân hàng vào nền kinh tế quốc gia Ngân hàng với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế Theo quan điểm của giáo sư Peter S Rose thuộc Đại
học Texas A&M (Hoa Kỳ): “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
Ngân hàng thương mại là một bộ phận không thể tách rời khỏi đời sống xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường Sự ra đời của NHTM đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển đi lên của nhân loại
Tại Điều 20, Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam cũng nêu rõ: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư,
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với nhiều hoạt động đa dạng, có thể tổng hợp những hoạt động đó theo 3 nhóm hoạt động cơ bản,
đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính
1.1.1.1 Hoạt động huy động vốn
Nguồn vốn tiền gửi không kì hạn: đây là nguồn vốn hình thành dựa trên nhu cầu giao dịch, khi khách hàng muốn sử dụng các dịch vụ tài chính của ngân hàng Nguồn vốn này có quy mô rất lớn, luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong số nguồn vốn,
1 Quản trị Ngân hàng thương mại, Peter S Rose tr 7
2
Luật các Tổ chức tín dụng, NXB Tư pháp tr 24
Trang 12sự vận động lại phức tạp nên việc sử dụng rất mạo hiểm, cần phải thận trọng mới
có phương pháp sử dụng hiệu quả
Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác định sẽ được gửi vào ngân hàng sau một thời gian nhất định để hưởng lãi suất tương ứng với kì hạn đó (luôn cao hơn đối với lãi suất tiền gửi thanh toán)
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời và an toàn
Nguồn vốn chủ sở hữu: để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải
có một lượng vốn nhất định và còn được bổ sung trong quá trình hoạt động Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng
Các nguồn vốn khác: đây thường là các nguồn không phải trả lãi, tuy nhiên chi phi để có và duy trì chúng là rất đáng kể, ví dụ như nguồn uỷ thác
1.1.1.2 Hoạt động sử dụng vốn
Các hoạt động về ngân quỹ:
Dự trữ bắt buộc: đây là khoản dự trữ mà ngân hàng Nhà nước yêu cầu các NHTM nộp vào tài khoản tại ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích: hỗ trợ, bảo đảm
an toàn cho hoạt động của NHTM, vận hành chính sách tiền tệ quốc gia, quản lý hoạt động NHTM
Dự trữ vượt quá: là các khoản dự trữ tồn tại dưới dạng tiền mặt tại quỹ, các khoản tiền gửi tại ngân hàng khác, tiền mặt trong quá trình thu
Nhìn chung, ngân quỹ của NHTM là tài sản không sinh lời (hoặc sinh lời thấp trong trường hợp tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác được hưởng lãi) song lại là tài khoản có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên Do vậy, mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể được
Cho vay:
Cho vay là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian, sau đó được quyền thu cả gốc lẫn lãi Cho vay là khoản mục có tỷ lệ cao nhất trong các loại tài sản của ngân hàng Có rất nhiều loại hình cho vay khác
Trang 13nhau đáp ứng nhu cầu của dân cư hay các doanh nghiệp
Các hoạt động đầu tư:
Ngân hàng nhường quyền sở hữu cho người khác dưới hình thức hùn vốn, thu nhập căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ vốn góp Có nhiều hình thức đầu tư: đầu tư vào chứng khoán, đầu tư vào các dự án, đầu tư dưới dạng liên doanh với nhau để hình thành các ngân hàng liên doanh
Các hoạt động sử dụng vốn khác: quảng cáo, quảng bá, tài trợ cho sự phát triển nguồn nhân lực, các chương trình phát triển
1.1.1.3 Cung cấp dịch vụ tài chính trung gian
- Chuyển tiền: Ngân hàng làm theo lệnh của khách hàng chuyển trả tiền cho một người nào đó
- Thanh toán không dùng tiền mặt: Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các hình thức thanh toán ngày càng đa dạng: thanh toán bù trừ, sec, L/C, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, hối phiếu, thanh toán bằng thẻ
- Cung cấp các dịch vụ tài chính:
+) Dịch vụ ủy thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý tài chính hộ Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính
+) Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới
+) Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho 1 khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác
Trang 141.1.2 Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.2.1.Nội dung cạnh tranh của các NHTM
Môi trường hoạt động kinh doanh của các NHTM có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Do xuất phát từ những đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng và những ảnh hưởng của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế, cạnh tranh của NHTM có những đặc trưng riêng Đó là:
Các NHTM vừa cạnh tranh gay gắt vừa hợp tác với nhau: Cũng như bất kỳ
một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, trong hoạt động của mình, các ngân hàng luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để mở rộng thị trường và thu hút khách hàng nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Tính chất gay gắt trong cạnh tranh ngân hàng xuất phát từ đặc thù của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là có tính tương đồng cao và rất dễ bị bắt chước Mặt khác, trong cạnh tranh, các ngân hàng không chỉ sử dụng các công cụ mang tính truyền thống như phí, lãi suất, các dịch vụ ngân hàng,
mà còn sử dụng công nghệ hiện đại để đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, đưa ra các kênh phân phối mới và nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ, tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng
Bên cạnh đó, do điều kiện về vốn, mạng lưới, công nghệ có hạn trong khi nhu cầu, đòi hỏi về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng cao do đó các ngân hàng cũng phải liên kết với nhau để cùng cung cấp một hay một số sản phẩm, dịch vụ nhất định cho khách hàng Vì vậy, để tránh đổ vì toàn hệ thống cũng như tiết kiệm chi phí, đảm bảo an toàn trong kinh doanh, các NHTM một mặt cạnh tranh với nhau, một mặt, lại hợp tác chặt chẽ với nhau trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng
Cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh khả năng xảy ra rủi ro hệ thống: Các NHTM phải cạnh tranh lành mạnh thông qua
cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, đi vay
để cho vay lại nếu các ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh, hoặc cạnh tranh thông qua việc tăng lãi suất huy động tiền gửi, giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ, nới láng các điều kiện tín dụng sẽ làm cho nguồn thu của các ngân hàng giảm sút, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro tín dụng tăng cao dẫn đến rủi ro hệ thống Vì vậy, mặc dù cạnh tranh với nhau trong hoạt động, các NHTM vẫn liên kết với nhau, có thể thoả
Trang 15thuận để giữ mặt bằng giá cả phù hợp, đảm bảo lợi ích chung
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lây lan rất lớn Nếu một ngân hàng
có nguy cơ phá sản, khách hàng đồng loạt đến rút tiền, gây tâm lý hoang mang cho khách hàng gửi tiền tại các NHTM khác Điều này dễ dẫn đến khả năng đổ vì mang tính hệ thống mà tất cả các NHTM đều bị ảnh hưởng và tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Cạnh tranh ngân hàng luôn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư… Cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào,
ngân hàng hoạt động và cạnh tranh với nhau trong những môi trường và điều kiện kinh tế nhất định Hoạt động kinh doanh ngân hàng chịu sự chi phối của luật pháp, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu của những đối tượng khách hàng cụ thể:
- Khách hàng của ngân hàng là các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần của nền kinh tế Do vậy, hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như sự cạnh tranh giữa các ngân hàng luôn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài ngân hàng Với mỗi môi trường kinh doanh nhất định, điều kiện kinh tế nhất định, khu vực địa lý nhất định, ngân hàng cần có những chính sách phù hợp để đưa ra các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thu hút khách hàng, giành ưu thế trong cạnh tranh
- Cùng với quá trình mở cửa, hội nhập nền kinh tế, sự giao thoa về kinh tế giữa các quốc gia ngày càng mạnh mẽ Các ngân hàng tăng cường hợp tác với các ngân hàng nước ngoài cũng như mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ra thị trường các nước trên thế giới Lộ trình hội nhập đòi hỏi các NHTM trong nước phải tuân thủ các quy định quốc tế về hoạt động ngân hàng và sự tác động của phía đối tác Mỗi sự thay đổi của tỷ giá, lãi suất của các loại ngoại tệ liên quan, điều kiện kinh tế trên thế giới, chính sách tiền tệ của các nước… đều ảnh hưởng và tác động đến hoạt động kinh doanh của các NHTM trong nước Do vậy, trong cạnh tranh, các ngân hàng cũng phải có những chính sách thích hợp để đối phó với những biến động của thị trường tài chính quốc tế
Những công cụ cạnh tranh của NHTM
NHTM thực chất là một doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại là một tất yếu Cạnh tranh giữa các NHTM thể hiện ở những khía cạnh như sau:
Gia tăng các sản phẩm dịch vụ mới tiện ích: Các sản phẩm dịch vụ, nhất là
Trang 16dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngày càng đa dạng và phong phú hơn Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày một quyết liệt hơn đóng vai trò tích cực hơn trong nền kinh tế Cạnh tranh mạnh mẽ và sôi động nhất là phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại trong dân cư và cung cấp cho các doanh nghiệp Các NHTM đầu tư cho hiện đại hoá công nghệ, đẩy mạnh tiếp thị, khuyến mại, cạnh tranh mở rộng phạm vi phát hành và thanh toán các loại thẻ, bao gồm cả các loại thẻ tín dụng quốc tế, thẻ tín dụng nội địa, thẻ rút tiền mặt, nhất là những người có thu nhập khá, doanh nghiệp có đông người lao động, giới trẻ Cũng với xu hướng đa dạng dịch vụ mới, các NHTM cạnh tranh mở ra dịch vụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá, lãi suất, giá hàng xuất khẩu bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng
Cải tiến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng: Thị trường công nghệ ngân hàng
đang hứa hẹn rộng mở và phát triển mạnh trong thời gian tới khi các ngân hàng trong nước đẩy mạnh phát triển các dịch vụ trên nền tảng đổi mới công nghệ, nhằm tăng cường cạnh tranh, chuẩn bị cho hội nhập Các NHTM đã không ngần ngại bỏ
ra hàng triệu đôla mua phần mềm của nước ngoài với các công nghệ mới để tăng sức cạnh tranh Với thế mạnh vượt trội của các loại công nghệ sẽ tăng khả năng cung cấp các dịch vụ tiện ích cho người dân
Nâng cao năng lực tài chính: Năng lực tài chính của NHTM được thể hiện rõ
và quan trọng nhất ở quy mô vốn chủ sở hữu hay còn được gọi là vốn tự có Vốn tự
có là yếu tố quyết định sức mạnh tài chính của một NHTM, là “tấm nệm chống đỡ rủi ro“ Các NHTM đang chạy đua và tìm mọi cách để tăng vốn tự có nhằm phát triển các nguồn vốn huy động khác và bảo vệ các NHTM trước những rủi ro, các chủ nợ (người gửi tiền)
1.2.Các tiêu chí và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Theo P Samuelson thì cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần Một ngành có năng lực cạnh tranh nếu có năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước Và năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra những sản phẩm và chất lượng dịch vụ đáp ứng được thị hiếu của khách hàng trong môi trường cạnh tranh nhằm duy trì và phát triển những lợi thế và mở rộng thị phần, đạt được lợi nhuận cao nhất Khả năng cạnh tranh của các ngân hàng sẽ được
Trang 17nâng cao bởi cơ hội liên kết, hợp tác với các đối tác trong chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và khai thác thị trường
Theo Michael Porter để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải
có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn, hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay
dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn
NHTM cũng là một doanh nghiệp và là doanh nghiệp đặc biệt vì kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là cạnh tranh trong nội bộ nghành Từ những quan điểm trên, áp dụng đối với các ngân hàng thương mại thì các nhà nghiên cứu cho rằng năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành
và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng
chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, yếu tố quan trọng nhất
là chất lượng sản phẩm và giá thành sản phẩm Đối với NHTM, sản phẩm của NHTM là sản phẩm dịch vụ tài chính, có những yếu tố cấu thành riêng Do đó, đánh
giá năng lực cạnh tranh của NHTM dựa vào các phương diện sau:
1.2.2.1 Năng lực tài chính
Đánh giá năng lực cạnh tranh của một NHTM, vấn đề đầu tiên thường được quan tâm là tiềm lực tài chính của ngân hàng đó Tiềm lực tài chính được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác nhau, ở đây chỉ đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản nhất, đó là: Quy mô nguồn vốn, mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn, chất lượng tài
sản, mức sinh lợi…
a Quy mô nguồn vốn
Quy mô nguồn vốn của một NHTM thể hiện trước hết ở quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô vốn chủ sở hữu như là tấm đệm đảm bảo cho mỗi ngân hàng có khả năng chống đỡ trước những rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng như những rủi ro của môi trường kinh doanh Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng càng lớn thì ngân
Trang 18hàng càng có khả năng chống đỡ cao hơn đối với những “cú sốc” của môi trường kinh doanh Điều này ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện môi trường kinh doanh có những biến động khôn lường, khi sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh
tế ngày càng gia tăng trong điều kiện hội nhập như hiện nay, những rủi ro bất ngờ luôn tiềm ẩn Vốn chủ sở hữu còn ảnh hưởng tới khả năng đầu tư vào công nghệ ngân hàng vì ngân hàng chỉ có thể sử dụng vốn chủ sở hữu đầu tư vào công nghệ
Vì vậy, quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ sẽ là một bất lợi Đây là một trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Theo quy định của Basel, một tổ chức tài chính được gọi là đủ vốn khi hệ số
đủ vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro
CAR
=
Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản điều chỉnh"Có"
rủi ro
b Chất lượng tài sản có và mức sinh lời
Chất lượng tài sản: phản ánh “sức khoẻ” của một ngân hàng Chất lượng tài sản được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hoá của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn
Mức sinh lợi: là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng Chỉ tiêu mức sinh lợi có thể được phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành từ nguồn nào, từ hoạt động kinh doanh thông thường hay từ các khoản thu nhập bất thường), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tương quan với chi phí Trong số các chỉ tiêu này, hai chỉ tiêu thường được quan tâm để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là ROA, ROE
Về chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA):
Trang 19ROA = Lợi nhuận ròng * 100%
Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu trên cho thấy khả năng bao quát của hoạt động NHTM trong việc tạo thu nhập từ tài sản Các ngân hàng thường sử dụng ROA để đo lường mối quan hệ sinh lời của tài sản và nguồn vốn bởi vì một bộ phận nguồn vốn được sử dụng tạo nên tài sản không sinh lãi và có một bộ phận tài sản không sinh lãi lại tham gia tạo nên thu nhập cho ngân hàng Do vậy nếu ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của NHTM tốt, cơ cấu tài sản hợp lý Tuy nhiên nếu ROA quá lớn làm cho các nhà quản trị lo lắng vì rủi ro nhìn chung luôn đi song hành với lợi nhuận
Về chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Vốn CSH bình quân ROE là chỉ tiêu được các ngân hàng quan tâm đến nhiều nhất, cho thấy khả năng sinh lời từ một đồng vốn của chủ, số lợi nhuận ròng mà một cổ đông có được
Do vậy, các ngân hàng luôn cố gắng tăng chỉ tiêu ROE để tăng tính hấp dẫn đối với các cổ đông bằng phương pháp như: kiểm soát chi tiêu, đầu tư, quản lý rủi ro có hiệu quả…Tuy nhiên, việc tăng ROE quá cao so với ROA chứng tỏ nguồn vốn tự
có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn và do vậy ảnh hưởng đến mức độ lành mạnh trong hoạt động của NHTM
Khả năng thanh khoản là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền của khách hàng, được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn vốn Khả năng thanh khoản của ngân hàng được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ khả năng chi trả (tài sản có có thể thanh toán ngay trên tài sản nợ phải thanh toán ngay), khả năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán nhanh, đánh giá định tính về năng lực quản lý thanh khoản của các NHTM, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM
Việc quản lý rủi ro thanh khoản đối với NHTM là rất quan trọng Sự thiếu hụt của một ngân hàng đơn lẻ có thể có những tác động nghiêm trọng đến toàn hệ thống ngân hàng Trong điều kiện bình thường, những ngân hàng không xây dựng được cho mình một chiến lược hiệu quả để duy trì thanh khoản đầy đủ thì tình hình khó khăn về nguồn vốn sẽ ảnh hưởng xấu đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng Trong điều kiện nền kinh tế bị rơi vào khủng hoảng hay khi ngân hàng bị những tin
Trang 20đồn thất thiệt đe dọa đến uy tín của ngân hàng thì ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng khủng hoảng về khả năng thanh toán Chi phí cơ hội của một tỷ lệ thanh khoản cao là việc bớt đi những cơ hội sử dụng nguồn vốn huy động được cho một
cơ hội kinh doanh sinh lời như cho vay, mua cổ phiếu… Vì thế, các ngân hàng luôn phải cân nhắc giữa chi phí thanh khoản và rủi ro thanh khoản để xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản hiệu quả
Để xây dựng được một chiến lược quản lý rủi ro thanh khoản hiệu quả, đòi hỏi các ngân hàng phải có được hệ thống thông tin đầy đủ để đo lường, giám sát và kiểm soát và báo cáo rủi ro thanh khoản Bên cạnh đó, phải có một đội ngũ chuyên viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, có khả năng xây dựng được chiến lược và các quy trình quản lý thanh khoản, có khả năng giám sát và phản ứng linh hoạt trước những biến động bất thường trong cơ cấu tài sản nợ/có
c Thị phần
Thị phần phán ánh quy mô hoạt động của NHTM trên thị trường và cũng là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của một NHTM Thị phần của mỗi NHTM trên thị trường được phán ánh qua số lượng khách hàng, số lượng dư nợ, số lượng nghành nghề mà NHTM đó phục vụ
Thị phần là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh
Phương pháp, cách thức đo lường thị phần của NHTM:
- Thị phần của toàn bộ công ty so với thị trường : Đó chính là tỷ lệ phần trăm giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của toàn ngành
- Thị phần của công ty so với phân khúc mà nó phục vụ : Đó là tỷ lệ phần trăm giữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc
Thị phần tương đối = (Thị phần tuyệt đối của Ngân hàng / Thị phần tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh lớn nhất)*100%
Thị phần tuyệt đối = (Doanh thu của Ngân hàng/Tổng doanh thu trên thị trường)*100%
Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này, doanh nghiệp biết mình đang đứng ở vị trí nào và cần vạch ra chiến lược hành động như thế nào
Trang 211.2.2.2 Năng lực công nghệ
Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM… Công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng còn bao gồm hệ thống thông tin quản
lý MIS, hệ thống báo cáo rủi ro… trong nội bộ ngân hàng Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng Vì với tốc độ phát triển rất nhanh của ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ lĩnh vực ngân hàng nói riêng, nếu chỉ tập trung phân tích vào khả năng công nghệ hiện tại mà không chú ý tới khả năng nâng cấp và thay đổi trong tương lai thì sẽ rất dễ có những nhận thức sai lầm về năng lực công nghệ của các ngân hàng Vì thế, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng mở (nghĩa là khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế
1.2.2.3 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp cũng như ngân hàng nào Năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung thể hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp
vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng
là cái gốc của mọi cải tiến hay đổi mới Trình độ, hay kỹ năng của người lao động
là những chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực Động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không
Ngân hàng là một ngành đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm và trình
độ cao được tích luỹ theo thời gian Rõ ràng, nếu một ngân hàng có tốc độ lưu chuyển nhân viên cao sẽ không phải là một ngân hàng có lợi thế về nguồn nhân lực Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên viên ngân hàng thường rất tốn kém cả
về thời gian và công sức Hiệu quả của các chính sách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng, cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng duy trì một đội ngũ nhân sự chất lượng cao của một ngân hàng
Trang 221.2.2.4 Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức
Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc của một ngân hàng Năng lực quản lý thể hiện ở mức độ chi phối
và khả năng giám sát của Hội đồng quản trị đối với Ban giám đốc cũng như Hội đồng quản trị đối với việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng; chính sách tiền lương và thu nhập đối với ban giám đốc; số lượng, chất lượng và hiệu lực thực hiện của các chiến lược, chính sách và quy trình kinh doanh cũng như quy trình quản lý rủi ro, kiểm toán kiểm soát nội bộ Năng lực quản lý quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng Một Hội đồng quản trị hay một Ban giám đốc yếu kém, không có khả năng đưa ra những chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị trường… sẽ làm lãng phí các nguồn lực và làm yếu đi năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó
Năng lực quản lý của Hội đồng quản trị cũng như Ban giám đốc bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức của NHTM Cơ cấu tổ chức là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh
cơ chế phân bổ các nguồn lực của một ngân hàng có phù hợp với quy mô trình độ quản lý của ngân hàng; phù hợp với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không Cơ cấu tổ chức của một ngân hàng thể hiện ở sự phân chia các phòng ban chức năng, các bộ phận tác nghiệp, các đơn vị trực thuộc… Hiệu quả của cơ chế quản lý không chỉ phản ánh ở số lượng các phòng ban, sự phân công, phân cấp giữa các phòng ban mà còn phụ thuộc vào mức độ phối hợp giữa các phòng ban, các đơn vị trong việc triển khai chiến lược kinh doanh, các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, khả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến động của ngành hay những biến động trong môi trường vĩ mô…
1.2.2.5 Mức độ đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và phát triển mạng lưới
Hệ thống kênh phân phối luôn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của các NHTM Hệ thống kênh phân phối của NHTM được thể hiện ở số lượng các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc khác (như sở giao dịch) và sự phân bổ các chi nhánh theo địa lý lãnh thổ Việc triển khai các công nghệ ngân hàng hiện đại đang làm rút ngắn khoảng cách về không gian và làm giảm tác động của một mạng lưới chi nhánh rộng khắp đối với năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Tuy nhiên, vai trò của một mạng lưới chi nhánh rộng lớn vẫn rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong điều kiện các dịch vụ truyền thống của ngân hàng vẫn còn phát triển Hiệu quả của mạng lưới chi nhánh rộng cũng là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện thông qua tính hợp lý trong
Trang 23phân bố chi nhánh ở các vùng, miền cũng như vấn đề quản lý, giám sát hoạt động của các chi nhánh
Mức độ đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cũng là một chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Một ngân hàng có nhiều loại hình dịch vụ cung cấp phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của ngân hàng sẽ là một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh Sự đa dạng hoá các dịch vụ một mặt tạo cho ngân hàng phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép ngân hàng phát huy lợi thế nhờ quy
mô Tất nhiên, sự đa dạng hoá các dịch vụ cần phải được thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng Nếu không, việc triển khai quá nhiều dịch vụ có thể khiến ngân hàng kinh doanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực
1.2.2.6 Chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh hiệu quả của ngân hàng Một ngân hàng có thể phát triển thêm thị phần hay bị thu hẹp thị phần tùy thuộc vào chiến lược cạnh tranh hiệu quả Hiện nay, các ngân hàng mới thành lập ngày càng nhiều vì vậy một ngân hàng muốn tồn tại trong thị trường thì cần phải có những chiến lược thiết thực cụ thể cho từng năm, từng kỳ như chiến lược thu hút khách hàng, chiến lược Marketing, Vì là một loại hình kinh doanh dịch vụ đặc biệt nên sự thu hút nhiều khách hàng là cần thiết Vì thế, các chính sách, chiến lược cần phải đi sâu vào từng khách hàng, tạo niềm tin cho khách hàng và mang lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.2.2.7 Quản trị rủi ro ngân hàng
Quản trị rủi ro ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động hiệu quả của ngân hàng Mỗi ngân hàng cần phải duy trì mức rủi ro có thể chấp nhận được trong các hoạt động kinh doanh và cần thường xuyên đánh giá các rủi ro
để quyết định những rủi ro nào mình có khả năng kiểm soát, những rủi ro nào không thể kiểm soát được Đối với những rủi ro có thể kiểm soát, NHTM phải đưa
ra đánh giá để quyết định xem liệu có thể chấp nhận những rủi ro này hay không Đối với những rủi ro không thể kiểm soát được, NHTM phải quyết định chấp nhận rủi ro đó hoặc không tham gia, hoặc giảm mức độ tham gia vào hoạt động kinh doanh có rủi ro ấy Như vậy thông qua việc tăng cường năng lực quản trị rủi ro, ngân hàng sẽ đảm bảo hoạt động kinh doanh của mình được an toàn và phát triển
Trang 24bền vững, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng
1.2.2.8 Uy tín, thương hiệu, chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Uy tín và thương hiệu của ngân hàng là những dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm dịch vụ nào đó được cung cấp bởi một NHTM Thương hiệu là một loại tài sản của NHTM, thường được cấu thành từ một cái tên, hay các chữ, các cụm từ, một logo, một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên Uy tín và thương hiệu được thể hiện số năm hoạt động và chất lượng dịch vụ mà một NHTM cung cấp cho khách hàng Một ngân hàng thương mại được gọi là có thương hiệu khi được nhiều khách hàng thừa nhận và đánh giá cao về chất lượng dịch vụ
Các ngân hàng đều kinh doanh loại sản phẩm như nhau là sản phẩm tài chính, nhưng có các đặc trưng riêng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ, càng nhiều chương trình khuyến mại là thu hút đông đảo khách hàng, chương lượng là tác phong chuyên nghiệp, luôn vui vẻ, phục vụ ân cần và tư vấn nhiệt tình mang lại những tiện ích, nhanh chóng và chính xác giúp khách hàng hài lòng về sản phẩm
mà họ đang sử dụng
1.3 Các phương pháp phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
1.3.1 Phương pháp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NH
- Phương pháp phân tích theo cấu trúc thị trường
Theo quan điểm này, năng lực cạnh tranh của NH được xem xét theo 5 yếu tố của môi trường kinh tế vi mô theo mô hình cạnh tranh của Porter đó là: các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm, dịch vụ thay thế; các cá nhân tổ chức gửi tiền, sử dụng dịch vụ của NH; các khách hàng ; các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Ở đây ta chỉ xét môi trường kinh doanh ở tầm kinh tế vi mô ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh của NH và loại bỏ ảnh hưởng của môi trường vĩ mô cũng như những nỗ lực kinh doanh của bản thân NH Như thế quan điểm phân tích năng lực theo cấu trúc thị trường sẽ chỉ đưa ra một bức tranh hẹp về môi trường kinh doanh của NH Trong môi trường đó, việc NH phân tích năng lực cạnh tranh của mình đến mức độ nào hoàn toàn phụ thuộc vào việc NH tìm cách thích nghi với môi trường vi mô ra sao, các yếu tố còn lại hoàn toàn thuận lợi cho NH Nếu theo quan điểm này chúng ta sẽ có cái nhìn phiến diện và có thể đánh giá sai năng lực
Trang 25cạnh tranh thực sự của NH
- Phương pháp phân tích dựa trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh
- Phương pháp phân tích theo quan điểm tổng thể
Phân tích theo quan điểm tổng thể yêu cầu giải đáp 3 vấn đề cơ bản khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một NH Đó là: năng lực cạnh tranh của NH, những nhân tố thúc đẩy hay có đóng góp tích cực và những nhân tố hạn chế hay cản trở cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NH, những tiêu chí đặt ra cho chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của NH, những chính sách, công trình và công cụ của chính phủ để đáp ứng tiêu chí đó Quá trình điều chỉnh của NH và thay đổi cơ cấu ngành diễn ra song song với những biến đổi của môi trường cạnh tranh kinh tế chung Năng lực cạnh tranh của NH phụ thuộc vào các yếu tố do NH tự quyết định nhưng cũng còn phụ thuộc vào những nhân tố do Chính phủ và NHNN quyết định Quan điểm tổng thể phân tích năng lực cạnh tranh của NH trong trái thái động Theo quan điểm này, năng lực cạnh tranh của NH được phân tích trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường mà NH đang hoạt động và nó chịu sự tác động của các yếu
tố từ môi trường kinh doanh bên trong và bên ngoài ngân hàng Môi trường bên trong NH chính là các yếu tố nội lực của NH, có vai trò quyết định trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của NH Môi trường kinh doanh bên ngoài của NH bao gồm môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh tế vi mô
1.3.2 Phương pháp phân tích các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của NH
- Nội dung phương pháp
Coi năng lực cạnh tranh là một hệ phương trình phụ thuộc vào nhiều biến số Các biến số chính là các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của NH bao gồm: các biến số về nguồn nhân lực và quản trị chiến lược Theo đó công thức để tính giá trị năng lực cạnh tranh của NH như sau: F(b) = €(ai x bi) (i=1 – n) Trong đó:
F(b): là biểu hiện giá trị chỉ số năng lực cạnh tranh của NH
ai: là các hệ số thể hiện tầm quan trọng của các yếu tố đối với năng lực cạnh tranh của NH
bi: là biến số biểu hiện thay đổi năng lực cạnh tranh Giá trị bi là giá trị của các chỉ số thành phần tạo nên giá trị chỉ số năng lực cạnh tranh
Trang 26- Các chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh
Các chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh của NH chính là các tiêu chí được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của NH Các tiêu chí này được khái quát thành 9 nhóm chỉ số chính: năng lực tài chính; năng lực quản lý và điều hành; tiềm lực vô hình (giá trị phi vật chất của NH); trình độ trang thiết bị và công nghệ; năng lực marketing; cơ cấu tổ chức nguồn nhân lực; năng lực nghiên cứu và phát triển; năng lực hợp tác và liên kết quốc tế Các nhóm trên bao gồm các chỉ số thành phần
và được mô tả ở Bảng 1.1
Bảng 1.1: Các chỉ số đo lường năng lực cạnh tranh của NH
Tỷ suất sinh lợi Tăng trưởng thị phần
Năng lực quản lý điều hành Khả năng phân tích đối thủ cạnh tranh
Phân tích và dự báo môi trường kinh doanh Năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược
Tiềm lực vô hình (giá trị
Khả năng và tốc độ đổi mới công nghệ Mức độ hiện đại và công nghệ đang sử dụng
Chương trình khuyến mãi, ưu đãi, dự thưởng…
Năng lực mạng lưới phân phối và xúc tiến hỗn hợp
quản lý
Động lực đối với nhân viên
Nguồn nhân lực cho R&D
Trang 27Phương pháp này được thực hiện thông qua lập các phiếu lấy ý kiến chuyên gia đánh giá năng lực cạnh tranh của NH qua các bước sau đây:
+ Bước 1: Xác định ma trận đánh giá năng lực cạnh tranh của NH Trong
đó phải xác định cụ thể các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh theo lĩnh vực hoạt động, mức độ thực hiện cạnh tranh tương đối so với các đối thủ cạnh tranh và tầm quan trọng của các chỉ số
+ Bước 2: Thống kê ý kiến của các chuyên gia, các điểm số tương ứng với các mức độ thực hiện tương đối Trọng số của mỗi chỉ số được xác định bằng điểm số cho tầm quan trọng của chỉ số đó so với tổng số điểm Xác định giá trị cho từng nhóm chỉ số theo các chỉ số thành phần
+ Bước 3: Xác định chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp của NH Trong đó thể hiện được điểm số đánh giá và tầm quan trọng theo nhóm chỉ số quan trọng đo lường năng lực cạnh tranh của NH như năng lực tài chính, năng lực marketing, nguồn nhân lực, năng lực sản xuất, năng lực R&D, năng lực quản trị chiến lược Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và kết quả đánh giá tổng hợp năng lực cạnh tranh của NH rút ra được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức Từ đó có phương hướng và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để NH có thể giữ vững vị thế của mình trên thị trường
1.3.3 Mô hình ma trận SWOT phân tích năng lực cạnh tranh và tăng
cường năng lực cạnh tranh của NHTM
Hiện nay, có nhiều lý thuyết được áp dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của các NHTM, từ việc phân tích môi trường kinh doanh để đánh giá năng lực cạnh tranh đến việc phân tích lựa chọn các chiến lược cạnh tranh cho NHTM Một số các
mô hình kể đến như : Ma trận SWOT, mô hình 5 áp lực cạnh tranh, mô hình kim cương của M.E Porter Tuy nhiên các mô hình được sử dụng nhiều, phổ biến và dễ thực hiện để phân tích năng lực cạnh tranh của các NHTM là ma trận SWOT
Ma trận SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất kỳ tổ chức nào SWOT là viết tắt của Strengths (những điểm mạnh), Weaknesses (những điểm yếu), Opportunities (các
cơ hội) và Threats (các nguy cơ) SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí , định hướng năng lực kinh doanh hoặc cạnh tranh của một số doanh nghiệp SWOT là một kỹ thuật phân tích rất tốt trong việc xác
Trang 28định điểm mạnh, điểm yếu để từ đó tìm ra cơ hội và nguy cơ Để xây dựng ma trận SWOT cần phải liệt kê tất cả các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức thông qua ma trận theo thứ tự ưu tiên Tiếp đó là phối hợp tạo ra các nhóm tương ứng với mỗi nhóm này là các phương án chiến lược cạnh tranh
Bảng 1.2 Ma trận SWOT
Mô hình SWOT được sử dụng để đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
- S/O: Chiến lược dựa trên ưu thế của NHTM để tận dụng các cơ hội thị trường
- W/O: Chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các yếu điểm của NHTM để tận dụng cơ hội thị trường
- S/T: Chiến lược dựa trên ưu thế của NHTM để tránh các nguy cơ của thị trường
- W/T: Chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các yếu điểm của NHTM để tránh các nguy cơ của thị trường
Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của NHTM người ta thường đặt ra các câu hỏi sau:
- Các điểm mạnh: Lợi thế, ưu thế của NH là gì? Kinh doanh mảng nào là tốt nhất? Đâu là điểm mạnh của NH trên thị trường? Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh?
- Các điểm yếu: NH cần phải cải thiện gì, lĩnh vực nào? Cần tránh làm gì? Vấn đề gì đang được xem như là điểm yếu của NH so với các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở xem xét các vấn đề cả bên trong và bên ngoài? Vì sao các đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình? Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sự thật
- Các cơ hội: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mà NH mong đợi? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước có
Trang 29liên quan tới lĩnh vực hoạt động của NH, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số, từ các sự kiện diễn ra trong khu vực Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là
rà soát lại các ưu thế của mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra các cơ hội mới nào không?
- Các nguy cơ: Những trở ngại hiện tại? Có điểm yếu nào đang đe dọa NH? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? Nhưng đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Có vấn đề gì về nợ xấu hay dòng tiền? Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến điểm yếu thành triển vọng
Ma trận phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM thông qua việc phân tích tình hình bên trong và bên ngoài NH, thực hiện lọc thông tin theo một trật tự dễ hiểu và dễ xử lý hơn Các yếu tố bên trong cần phân tích có thể là: văn hóa NH, hình ảnh NH, cơ cấu tổ chức, nhân lực chủ chốt, khả năng sử dụng các nguồn lực, kinh nghiệm đã có, hiệu quả hoạt động, năng lực hoạt động, danh tiếng thương hiệu, thị phần, nguồn tài chính, bản quyền, công nghệ, bí mật thương mại Các yếu tố bên ngoài cần phân tích có thể là: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, đối tác, môi trường chính trị - kinh tế, xã hội, pháp luật
Chất lượng phân tích của ma trận SWOT phụ thuộc vào chất lượng thu thập và
xử lý các thông tin có được Cần tránh cái nhìn chủ quan từ một phía, nên tìm kiếm thông tin từ mọi phía: Ban giám đốc, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp, đối tác chiến lược, tư vấn SWOT cũng có phần hạn chế khi sắp xếp các thông tin có xu hướng giản lược Điều này làm cho nhiều thông tin có thể bị gò ép vào vị trí không phù hợp với bản chất vấn đề Nhiều đề mục có thể bị trung hòa hoặc nhầm lẫn giữa
2 thái cực S-W và O-T do quan điểm của nhà phân tích
Ưu điểm của SWOT là đơn giản, dễ hình dung, bao quát đủ các yếu tố cả trong và ngoài NH Sử dụng thông tin bất cân xứng để đưa ra quyết định sẽ rất gay
go Bởi vậy, việc xây dựng chiến lược kinh doanh và đưa ra các giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh cần phải phân tích tổng thể các mặt mạnh, yếu, cơ hội thách thức tác động đến NH mà không nên chỉ phân tích điểm mạnh, cơ hội đến với
NH mà bỏ qua phân tích điểm yếu, thách thức của NH
Trang 301.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các NHTM
Hoạt động của các NHTM chịu tác động của nhiều nhân tố, chính những nhân tố này đã ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới năng lực cạnh tranh của ngân hàng Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng này thành hai nhóm lớn: nhóm các nhân tố
thuộc bản thân các NHTM và nhóm các nhân tố khách quan
1.4.1 Các nhân tố bên trong
a Ban điều hành
Ban điều hành được hiểu ở đây là bao gồm từ Hội đồng quản trị/sáng lập đến Ban tổng giám đốc/CEO Đây là những người có vài trò điều hành chiến lược, có tầm nhìn và định vị các mục tiêu lâu dài Nhiệm vụ của nhà chiến lược phải phân tích và phán đoán được năng lực của chính ngân hàng mình và các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác định các cơ hội và đe doạ đối với ngân hàng mình Vì vậy, nếu ban điều hành không nhận thức được áp lực cạnh tranh trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay sẽ hết sức nguy hiểm đến sự tồn vong của NHTM
Tuy nhiên, chỉ nhận thức thôi thì chưa đủ, yêu cầu đặt ra là ban điều hành phải huy động nguồn lực để tổ chức thực hiện các kế hoạch nhằm biến các nhận thức thành các hành động cụ thể Các kế hoạch hành động vừa đảm bảo phù hợp với nguồn lực của NHTM, thu được các kết quả tương ứng và phải phù hợp với tốc độ thực hiện với các đối thủ khác, nếu không sẽ bị chậm hoặc tụt hậu so với các đối thủ
b Chất lượng nguồn nhân lực
Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, vì
vậy có thể nói chất lượng nhân viên ngân hàng là một yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh tranh cạnh của các NHTM Trong hoạt động sản xuất kinh doanh dù công nghệ có hiện đại tới đâu, dù có tự động hoá cao đến mức nào thì vẫn cần có con người điều khiển, giám sát mọi hoạt động Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ (như lĩnh vực ngân hàng) thì vai trò của con người càng trở nên quan trọng vì quá trình sản xuất diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ, sản phẩm dịch vụ được tạo ra ngay trong quá trình giao tiếp, trao đổi giữa cán bộ, nhân viên ngân hàng với khách hàng Chất lượng sản phẩm dịch vụ do chính các cán bộ, nhân viên đó quyết định nên, do
đó những cán bộ, nhân viên ngân hàng có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Trang 31c Cơ sở vật chất và kỹ thuật
Trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ nói chung, công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng thì ngân hàng nào có chính sách áp dụng công nghệ hiện đại, khả năng thích ứng công nghệ mới cao và
có thể kết hợp với công nghệ của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới sẽ tạo ra cho khách hàng nhiều tiện ích, phục vụ khách hàng tốt hơn, chính là đã tạo ra sức hấp dẫn đối với khách hàng
Cơ sở vật chất còn được thể hiện qua mạng lưới các vị trí, địa điểm kinh doanh, quy trình sản phẩm… Ở những nơi đông dân cư, gần những trung tâm thương mại lớn sẽ có nhiều khả năng tiếp cận với khách hàng hơn và ngược lại Quy trình sản phẩm tốt sẽ giúp khả năng xử lý các giao dịch nhanh chóng, chính xác…
1.4.2 Các nhân tố bên ngoài
Bên cạnh môi trường vi mô thì môi trường vĩ mô cũng có những tác động tới năng lực cạnh tranh của NHTM, nói đến môi trường vĩ mô nghĩa là bao gồm những môi trường cơ bản như: môi trường kinh tế, môi trường văn hoá – xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường chính phủ, pháp luật và chính trị
a Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế có ý nghĩa đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng Nếu coi hệ thống ngân hàng như là một hệ tuần hoàn trong một cơ thể sống là nền kinh tế thì hệ tuần hoàn đó có hoạt động tốt hay không, có đủ máu để lưu thông và chất lượng máu cũng như hệ thống mao mạch có tốt hay không lại phụ thuộc vào cơ thể sống
đó Cụ thể, bất kể một ngân hàng nào cũng thường quan tâm tới một số chỉ tiêu như: tốc độ phát triển của nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát Một nền kinh tế có tốc độ phát triển cao sẽ tạo cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động ngân hàng và ngược lại Còn mức lãi suất sẽ quyết định tới mức cầu cho doanh nghiệp, nên các ngân hàng thường đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn với doanh nghiệp Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, có thể đem lại cho ngân hàng một vận hội kinh doanh tốt hoặc cũng có thể là nguy cơ phá sản Tỷ lệ lạm phát cũng ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thông qua việc ảnh hưởng tới sự nhiệt tình của các nhà đầu tư đối với các dự án Nghiên cứu các chỉ tiêu của môi trường kinh tế cũng như chiều hướng phát triển của toàn
bộ nền kinh tế là cơ sở quan trọng để các nhà chiến lược ngân hàng hoạch định về
Trang 32chiến lược đầu tư, đổi mới của mình
b Môi trường văn hoá – xã hội:
Một số yếu tố về văn hoá – xã hội có thể ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, cụ thể nó ảnh hưởng thông qua việc tác động tới nhu cầu và nguồn nhân lực
Những đặc điểm xã hội ảnh hưởng tới nhu cầu đối với các dịch vụ ngân hàng
đó là: lòng tin của dân chúng đối với các ngân hàng, thói quen tiêu tiền và tiết kiệm của người dân, trình độ dân trí và khả năng hiểu biết về các dịch vụ của ngân hàng, mức thu nhập của người dân…
Có thể nói ngân hàng là ngành kinh doanh “lòng tin” Ngân hàng là người giữ tiền cho người dân cũng như các doanh nghiệp, ngân hàng chính là người giữ hầu bao của nền kinh tế Nếu ngân hàng không tạo được niềm tin trong dân chúng thì chắc chắn hoạt động ngân hàng sẽ không thể tồn tại Thói quen tiêu dùng của người dân ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là tập quán sử dụng tiền tệ Nếu người dân có thói quen sử dụng tiền mặt nhiều thì rõ ràng ngân hàng sẽ
bị hạn chế trong kinh doanh Mức tiết kiệm của người dân càng cao càng ảnh hưởng đến nguồn cung ứng tín dụng cho các ngân hàng Trình độ dân trí cũng là một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng
là một loại dịch vụ cao cấp, không phải ai cũng tự tin để giao dịch với ngân hàng Trình độ dân trí càng cao thì khả năng phổ biến các dịch vụ ngân hàng hiện đại càng thuận lợi, dễ dàng và có cơ hội để đổi mới của ngân hàng cũng sẽ cao hơn Mức thu nhập của người dân sẽ là yếu tố quyết định tới nhu cầu đối với các dịch vụ ngân hàng, thu nhập có cao thì người dân mới có khả năng tiếp cận cũng như là có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng và ngược lại
Bên cạnh đó, một số đặc điểm văn hoá – xã hội ảnh hưởng tới nguồn nhân lực trong lĩnh vực ngân hàng như: quan điểm về doanh nhân và kinh doanh, quan điểm
về sự giàu có, quan điểm về thăng tiến, quan điểm về đạo đức nghề nghiệp, quan điểm về học tập và tự đào tạo, quan điểm về sự gắn bó với nghề nghiệp, quan điểm
về rủi ro và thất bại…
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp Một đất nước phải coi trọng doanh nghiệp và doanh nhân thì các doanh nghiệp nước đó mới có điều kiện thuận lợi để phát triển Bên cạnh đó, ngân hàng còn là một ngành dịch vụ đòi hỏi nguồn nhân
Trang 33lực phải có trình độ nhất định, sự thành công của ngân hàng đòi hỏi phải có những
cá nhân xuất sắc, có tham vọng kinh doanh, làm giàu và thăng tiến Nếu một đất nước mà người dân coi trọng những giá trị trên thì những người có những phẩm chất đó sẽ có điều kiện phát triển và ngân hàng có nhiều cơ hội để tuyển chọn được nguồn nhân lực có nhiều phẩm chất đối với sự phát triển của mình Ngân hàng đồng thời cũng là ngành chịu nhiều rủi ro nhất, vì thế những nhân viên ngân hàng phải là những người có khả năng phát hiện và đánh giá được rủi ro, dám chấp nhận rủi ro, đồng thời là người có sự thận trọng cần thiết, tôn trọng các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp Coi trọng đạo đức cũng là một phẩm chất quan trọng đối với các nhân viên ngân hàng Việc coi trọng đạo đức là cơ sở để ngân hàng giữ chữ tín đối với khách hàng, là chỗ dựa cho niềm tin của công chúng đối với ngân hàng Một xã hội coi trọng đạo đức cũng là một điều kiện thuận lợi đối với việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngân hàng Do sự đòi hỏi về mức độ tích luỹ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nên tập quán về sự gắn bó với nghề nghiệp cũng có ý nghĩa rất quan trọng Nếu người dân ở một nước có thói quen ít thay đổi chỗ làm việc và thường gắn bó với một doanh nghiệp nào đó trong một thời gian dài thì các ngân hàng nước đó sẽ
có lợi thế trong việc duy trì và liên tục nâng cao trình độ đội ngũ nhân viên của mình, trên cơ sở đó để nâng cao lợi thế cạnh tranh Rất nhiều mảng hoạt động của ngân hàng đòi hỏi người lao động phải có trình độ cao và kinh nghiệm tích luỹ liên tục Ngân hàng cũng là một ngành có tốc độ đổi mới và cải tiến rất cao, vì vậy khả năng tự học, tự đào tạo của các nhân viên sẽ có ý nghĩa quyết định đối với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng Một xã hội coi trọng việc học tập, rèn luyện cũng là một lợi thế đối với ngành ngân hàng của nước đó
c Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố ảnh hưởng tới ngân hàng như: môi trường khí hậu, sinh thái, tổng dân số, tỷ lệ phát triển dân số, xu thế thay đổi về nhân khẩu học hay vị trí địa lý mà ngân hàng có trụ sở hay chi nhánh…
Môi trường khí hậu ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống của các cá nhân, tổ chức – khách hàng của ngân hàng, từ
đó ảnh hưởng tới chính hoạt động của ngân hàng
Môi trường dân số cũng là một yếu tố rất đáng quan tâm, các thông tin về tổng
số dân, tỷ lệ tăng dân số, cấu trúc dân cư… sẽ giúp ngân hàng có thể dự đoán về thị trường hiện tại cũng như tương lai của ngân hàng Căn cứ vào những thông tin trên,
Trang 34ngân hàng xác định được đoạn thị trường mục tiêu của mình để có những chiến lược, chính sách cụ thể cho phù hợp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngân hàng đó
Vị trí của các ngân hàng cũng rất quan trọng, vì một trong những đặc tính của ngành dịch vụ là sản phẩm dịch vụ không nhìn thấy, chất lượng sản phẩm dịch vụ
đó như thế nào tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố Cái mà khách hàng nhìn thấy đầu tiên đó
là cơ sở hạ tầng của ngân hàng, và vị trí địa lý của nó là một yếu tố mà nhiều khách hàng quan tâm Một ngân hàng đóng tại vị trí trung tâm rõ ràng sẽ được nhiều khách hàng biết đến và chiếm được cảm tình ban đầu của họ Đây chính là một lợi thế mà các ngân hàng phải khai thác
d Môi trường chính phủ, pháp luật và chính trị:
Chính phủ có vai trò quan trọng đối với bất kì một ngành nào, đặc biệt đối với ngành ngân hàng – người thủ quỹ của toàn nền kinh tế
Chính phủ tác động đến sự phát triển của ngân hàng trước hết với vai trò của người quản lý, giám sát của toàn hệ thống thông qua vai trò của Ngân hàng Trung ương Sự hoạt động an toàn và lành mạnh của hệ thống NHTM là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế ở một quốc gia Do mối liên kết rất chặt chẽ của toàn bộ
hệ thống NHTM, sự đổ vỡ của một ngân hàng thưòng gây ra những hậu quả rất to lớn và có khả năng gây ra hiệu ứng lan truyền lên toàn bộ hệ thống Hơn nữa ngành ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, sự
đổ vỡ của hệ thống ngân hàng sẽ gây khó khăn cho tất cả các ngành đó Vì thế, hoạt động của các NHTM phải chịu sự quản lý và giám sát hết sức chặt chẽ của các cơ quan nhà nước nói chung và của ngân hàng trung ương nói riêng
Ngoài chức năng của một người quản lý, giám sát các hoạt động của hệ thống ngân hàng, chính phủ còn là chủ sở hữu, là con nợ và chủ nợ lớn, thậm chí lớn nhất của các NHTM Chính phủ cũng đồng thời là người hoạch định đường lối phát triển chung của toàn ngành và điều phối nỗ lực chung của toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế Chính phủ có thể có những chính sách tác động đến cung cầu, đến ổn định kinh tế vĩ mô, đến các điều kiện nhân tố sản xuất, các ngành liên quan và phụ trợ của ngành ngân hàng để tạo thuận lợi hay kìm hãm sự phát triển của ngành ngân hàng Đánh giá vai trò của chính phủ trong việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM ở một nước vì vậy rất cần thiết
Trang 35Vai trò của Chính phủ thể hiện nhưng không giới hạn ở những nội dung: sự đầy đủ, tính đồng bộ và hiệu lực thi hành của các quy định pháp luật, các chính sách liên quan đến hoạt động ngân hàng, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại, vai trò của Chính phủ với tư cách là chủ sở hữu, con nợ, chủ
nợ của các NHTM, hiệu quả của các chính sách, các biện pháp ưu đãi trong lĩnh vực ngân hàng và các lĩnh vực liên quan…
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các ngân hàng thương mại cũng như các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại của một nước như trình bày ở trên đã thể hiện tương đối toàn diện năng lực cạnh tranh hiện tại cũng như khả năng duy trì và phát triển trong tương lai của các ngân hàng thương mại
1.5 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số NHTM trên TG
1.5.1.Kinh nghiệm từ ngân hàng Citigroup
Citigroup trụ sở chính đặt tại New York, được hình thành từ quá trình sát nhập hãng Travellers Group (một công ty kinh doanh thẻ nổi tiếng) với Citibank (ngân hàng bán lẻ lớn nhất nước Mỹ-thành lập năm 1812) để trở thành tập đoàn ngân hàng – tài chính hàng đầu thế giới hiện nay Một số kinh nghiệm từ hoạt động của Citigroup:
- Citigroup là tập đoàn cung cấp dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất thế giới Citigroup hiện có trên 3.400 chi nhánh và trụ sở trên 100 nước, cung cấp việc làm cho hơn 160.000 nhân viên trên toàn thế giới với khoảng 200 triệu tài khoản khách hàng
- Hoạt động dịch vụ của Citigroup gồm 2 nhóm chính: dịch vụ cá nhân (Citibank’s Global Consumer Bank- cung cấp cho khách hàng một hệ thống các dịch vụ ngân hàng cá nhân hoàn thiện, gồm có thế chấp tài chính cá nhân và doanh nghiệp, khoản vay cá nhân, thẻ tín dụng, tài khoản gửi và đầu tư, Visa Travel Money) và dịch vụ Ngân hàng tập đoàn (Citibank Global Corporate Bank- đáp ứng được nhu cầu tài chính toàn diện của các tập đoàn tài chính; các công ty đa quốc gia…) Ngoài ra Citigroup còn phát triển thêm CitiDirect Online- là một dịch vụ ngân hàng hoạt động trên nền internet toàn cầu, giúp khách hàng tiếp cận với tất cả các sản phẩm giao dịch mà Citibank cung ứng, từ tiền mặt, giao dịch thương mại, chứng khoán và ngoại hối Qua hệ thống này, khách hàng được tiếp cận toàn cầu,
Trang 36xử lý thực tế với sự đảm bảo an ninh tuyệt đối, thủ tục đơn giản và khả năng hỗ trợ
kỹ thuật trực tuyến; Citibank Online Investments- là dịch vụ đầu tư trực tuyến sẽ giúp khách hàng là doanh nghiệp và tổ chức quản lý cùng lực lượng tiền mặt và tình hình đầu tư, tham khảo nhanh giá cả thị trường, đăng ký đầu tư cho hàng loạt sản phẩm từ các chi nhánh của Citibank tại Trung Quốc, Australia, Singapore, New York, London,…
- Mặt khác, các khách hàng của Citibank có thể sử dụng hình thức giao dịch từ
xa để đáp ứng nhu cầu của họ, thông qua CitiPhone Banking, Citibank’s 24 giờ, ngân hàng điện thoại 7 ngày 1 tuần, Citibank’s Internet Banking Ngoài ra, Citibank Website cung cấp tỷ giá chung, các thông tin sản phẩm, tin tức và thể thao Các khách hàng có thể thoải mái và tiện lợi khi thực hiện các cuộc giao dịch ngân hàng trực tuyến, là một trong những trang web phong phú và thân thiện với người sử dụng
Việc thành công trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng không thể không kể đến việc đổi mới công nghệ hiện đại nhanh chóng và kịp thời của Citibank Citibank đã tiên phong về công nghệ Ngân hàng điện tử qua việc giới thiệu e-banking và website cung cấp một loạt những dịch vụ trên mạng Với mục tiêu dẫn đầu trong việc đáp ứng những giao dịch thẻ tín dụng, Citibank biết rằng họ cần có một mạng lưới cơ sở hạ tầng vững chắc trên nền tảng công nghệ hiện đại Đặc biệt, công ty muốn bổ sung những dịch vụ tốt hơn, khả năng tồn trữ nhiều hơn
và hệ thống mạng kết nối tốt Điều này giúp Citibank đáp ứng nhanh hơn nhu cầu trên mạng, giúp Citibank gia tăng khối lượng giao dịch cũng như vượt xa đối thủ cạnh tranh
Không chỉ dẫn đầu trong việc cung ứng các dịch vụ đa dạng, Citibank gây dựng được sự nổi tiếng của mình nhờ vào việc luôn tập trung tới những sản phẩm mới, sáng tạo và linh hoạt dựa trên sự hiểu biết và năm bắt rõ nhu cầu của khách hàng Các sản phẩm có chức năng vượt xa so với mục đích được làm ra Đó là Business Power, hai trong một cung cấp khả năng linh hoạt cho phép kết nối tài chính cá nhân và tài chính kinh doanh cho những nhà quản ý kinh doanh nhỏ và tư nhân Đó là Mortgage Minister Credit Card liên kết với Citibank Homecredit, một loại thẻ cho phép khách hàng trả tiền thuê nhà trước 17 năm; Mortgage Plans, thẻ tín dụng tuần hoàn cho những đồ thế chấp Đó là loại thẻ Photocard, một loại thẻ với chức năng bảo mật khả năng nhận dạng mà chỉ có ảnh mới có thể cung cấp được, đặc tính của nó còn có giá trị nhiều hơn so với những giá trị về tài chính
Trang 37Ngoài ra, Citibank nâng cao vị trí dẫn đầu của mình để thiết lập một hình thức kinh doanh mới International Process Solutions Dự án chung này cung cấp các dịch vụ
cơ quan một cách đầy đủ cho các tập đoàn và các công ty bảo hiểm thông qua quá
trình chuyển tiền lần lượt và thu trả
1.5.2 Kinh nghiệm từ ngân hàng Deutsche Bank
Deutsche Bank hay Deutsche Bank AG (theo tiếng Đức là Công ty Cổ phần Ngân hàng Đức) có trụ sở tại Frankfurt, được thành lập vào năm 1870; là tập đoàn ngân hàng tư nhân lớn nhất nước Đức và là tập đoàn tài chính đứng thứ 21 thế giới hiện nay Một số kinh nghiệm từ hoạt động của Deutsche Bank:
Hai lĩnh vực chủ chốt của ngân hàng Deutsche là kinh doanh ngân hàng doanh nghiệp và đầu tư và quản lý khách hàng và tài sản Hai lĩnh vực này đã đem lại mức lợi nhuận kỷ lục cho Ngân hàng Deutsche trong năm 2006 với lợi nhuận trước thuế tăng 33%, lên mức 8,12 tỷ euro Có được kết quả như trên, trước hết chính là nhờ đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp của Ngân hàng Deutsche
Quản lý tiền mặt là một vấn đề mang tính cạnh tranh tại Châu Á với gần như mọi ngân hàng toàn cầu cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tương tự cho khách hàng Nhưng bằng việc quan sát cách thực hiện dịch vụ quản lý tiền mặt của Ngân hàng Deutsche cho những tổ chức tài chính, không khó để khám phá ra tại sao họ đi một bước trước những đối thủ cạnh tranh Ngân hàng Deutsche đã nổi lên như những người dẫn đầu trong các dịch vụ quản lý tiền mặt cho những tổ chức tài chính tại Châu Á, bằng tiếp cận trọn vẹn cùng với những lợi thế cạnh tranh thông qua những sản phẩm có tính đổi mới, các dịch vụ mang tính địa phương lẫn toàn cầu cũng như những kỹ thuật hiện đại Nhưng ngân hàng tự hào về sự khác biệt của
nó so với các đối thủ cạnh tranh khác dựa vào một lý luận đơn giản: Cam kết dài hạn đối với khách hàng của mình
Từ việc thiết lập mô hình kinh doanh với khách hàng là trung tâm của Ngân hàng, dễ dàng tiếp cận thông tin Ngân hàng thông qua đội ngũ nhân viên có khả năng sử dụng ngôn ngữ địa phương, kết hợp với một mạng lưới toàn cầu mạnh mẽ; đến việc hợp nhất những thông tin về việc quản lý tiền mặt, tài chính thương mại thông qua giao dịch 1 cửa duy nhất tại Ngân hàng để giải quyết vần đề thuận tiện hơn cho khách hàng Như 1 nhà quản trị cao cấp của Duetsche nói: “Kỹ thuật tư vấn của chúng tôi khiến chúng tối có được nhiều thứ hơn so với một nhà cung cấp dịch
Trang 38vụ đơn thuần; nó phản ánh triết lý của chúng tôi khi tiếp xúc với khách hàng của mình là quan tâm đến nhu cầu của khách hàng hơn là chỉ đưa ra cho họ những sản phẩm” phần nào thể hiện rõ sự khác biệt của Duetsche Bank so với các đối thủ cạnh tranh khách trên thị trường
1.5.3 Kinh nghiệm từ ngân hàng Bank of America
Bank of America cũng là một NHTM lớn ở Mỹ Cùng với Citigroup, Bank of America rất quan tâm đến việc đa dạng hoá hoạt động dịch vụ, chú trọng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ và cho vay tiêu dùng Các dịch vụ chủ yếu Ngân hàng này cung cấp là:
- Dịch vụ tài khoản séc và tài khoản tiết kiệm, các loại thẻ ngân hàng, thẻ liên kết, cho vay và cho vay mua nhà, các dịch vụ đặc biệt như: dịch vụ ngân hàng cho quân đội, sinh viên, bảo hiểm, ngoại tệ, séc du lịch Hiện nay, Ngân hàng này đã xây dựng một hệ thống máy ATM trải rộng trên toàn nước Mỹ với số lượng trên 17.000 máy
- Dịch vụ qua internet: Bank of America là ngân hàng đứng đầu thế giới về số lượng khách hàng đăng kí giao dịch qua internet (15 triệu khách hàng vào đầu năm 2006) và có 7,5 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán các hoá đơn qua internet Có được kết quả như vậy là do Ngân hàng đã không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng các dịch vụ thanh toán, dịch vụ cho vay qua mạng và các loại hình sản phẩm, dịch vụ khác
Nhìn chung, hệ thống NHTM Mỹ đã phát triển tới mức rất cao Người dân Mỹ rất yên tâm khi họ gửi tiền hoặc giao dịch với các ngân hàng của họ Đó là điều kiện rất tốt để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư Chính vì sự tin tưởng vào hệ thống ngân hàng như vậy, mà hầu hết người dân Mỹ chọn cách giữ tiền tại ngân hàng ở các tài khoản séc, tiết kiệm hay chứng chỉ tiền gửi thay vì cất trữ tiền mặt, kim loại quí hay các vật có giá khác tại nơi cư trú của họ Sở dĩ các NHTM Mỹ có được sự tin tưởng của khách hàng vì họ đã xây dựng được uy tín của mình bằng cách cung cấp các dịch vụ đa dạng, chất lượng tốt, tiện lợi, đáp ứng kịp thời các nhu cầu ngày càng cao của người dân Các ngân hàng Mỹ còn đặc biệt chú trọng áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng, làm tăng hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh Họ thực sự coi việc áp dụng công nghệ hiện đại là một quá trình vận động không ngừng, do đó, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới luôn luôn
Trang 39được giới thiệu và đi vào hoạt động, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân và nền kinh tế
1.5.4 Kinh nghiệm từ ngân hàng HSBC – Anh
Tập đoàn HSBC là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất trên thế giới với các chi nhánh tại châu Âu, châu Á Thái Bình Dương, châu
Mỹ, Trung Đông và châu Phi HSBC định vị thương hiệu của mình thông qua thông điệp “Ngân hàng toàn cầu am hiểu địa phương” Tổng giá trị tài sản của Tập đoàn là 2.547 tỉ đô la Mỹ tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2008
HSBC được thành lập từ năm 1865, có trụ sở chính ở Luân Đôn (Anh) và hiện
có gần 9.500 văn phòng hoạt động ở 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, phục vụ trên 100 triệu khách hàng trong đó hơn 45 triệu là khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử trên toàn cầu HSBC cung cấp hàng loạt dịch vụ tài chính với quy mô lớn như: dịch vụ tài chính cá nhân, đầu tư và tài chính doanh nghiệp, ngân hàng tư nhân, tư vấn tài chính và rất nhiều dịch vụ khác cho HSBC hoạt động với phương châm là một tập đoàn lớn nhưng rất quan tâm đến việc phát triển hoạt động tới từng địa phương trên toàn thế giới
HSBC rất quan tâm đến việc đầu tư lớn vào phát triển công nghệ thông tin ứng dụng trong mở rộng dịch vụ ngân hàng Đối với HSBC, công nghệ là chìa khoá để nâng cao hiệu quả kinh doanh Vì vậy, riêng trong năm 2003, Ngân hàng này đã đầu
tư 3 tỉ USD vào phát triển công nghệ thông tin, hiện đại hoá, tổ chức hoạt động theo mảng khách hàng và sản phẩm, dịch vụ cung cấp và đang tập trung hướng vào các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính, ngân hàng cho cá nhân và tiêu dùng cho một
số lượng rất lớn khách hàng
HSBC có mặt tại Việt Nam rất sớm, HSBC hiện là ngân hàng nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam xét về vốn đầu tư, mạng lưới giao dịch, số lượng nhân viên và khách hàng Với hai chi nhánh tại Hà Nội và Tp.HCM và một văn phòng đại diện tại Cần Thơ, HSBC hiện có hơn 250 nhân viên phục vụ một lượng khách hàng đa dạng từ khách hàng công ty, định chế tài chính, các quỹ đầu tư trong nước và quốc tế, các khách hàng cá nhân FinanceAsia, tập đoàn xuất bản tài chính hàng đầu châu Á vừa công bố HSBC Việt Nam là ngân hàng nước ngoài tốt nhất tại Việt Nam năm 2006, trong công bố Giải thưởng quốc gia 2006, mục Ngân hàng nước ngoài tốt nhất
HSBC là ngân hàng nước ngoài duy nhất tại Việt Nam cung cấp đầy đủ các
Trang 40dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ tài chính doanh nghiệp, dịch vụ ngân hàng cho các định chế tài chính, thanh toán quốc tế, thanh toán và quản lý tiền tệ, lưu ký chứng khoán và quản lý quỹ, ngoại hối và thị trường vốn, thu xếp nợ, tài trợ dự án
và dịch vụ tài chính cá nhân
Tạp chí AsianBanker cũng xếp HSBC Việt Nam thứ hai trong danh sách các ngân hàng bán lẻ tốt nhất tại Việt Nam 2006 HSBC là ngân hàng nước ngoài duy nhất nằm trong danh sách 3 ngân hàng đứng đầu, cho dù mạng lưới phân phối còn
Hai là, cần đổi mới công nghệ ngân hàng, tạo ra những sản phẩm có chức năng vượt so với mục đích
Kinh nghiệm từ ngân hàng Deutsche cho thấy với sự kết hợp giữa chiến lược công nghệ cấp cao, tiềm lực tài chính mạnh mẽ, một mạng lưới rộng lớn, và một mục tiêu khách hàng trung tâm, Ngân hàng Deutsche đang ở vị trí thuận lợi cho việc đáp ứng nhu cầu không chỉ cho phạm vi những khách hàng trong vùng và toàn cầu, mà còn cho những Ngân hàng bản địa mà đang sử dụng những tiện ích dịch vụ của nhà cung cấp toàn cầu Mặc dù Techcombank là một trong những ngân hàng ứng dụng công nghệ ngân hàng gần như sớm nhất nhưng trong thời gian tới
Techcombank cũng cần hoàn thiện công nghệ hiện đại hóa ngân hàng như: Ưu tiên
xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu Data Warehouse, Business Intelligence, Cash Management, Risk Rating, Sale Force nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các khối Bên cạnh đó, Techcombank cũng cần phải nâng cấp toàn diện hệ thống T24r7