1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020

123 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số tác giả khác lại quan niệm: chất lượng NNL biểu hiện các yếu tố năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

VŨ THÀNH LONG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

TỈNH QUẢNG NINH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành : Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ĐẠI THẮNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của tỉnh Quảng Ninh

Tôi xin chân thành cảm ơn tiến sỹ Nguyễn Đại Thắng, người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trường Đại học Bách khoa Hà Nội, lãnh đạo và chuyên viên các sở, ban, ngành tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này; cám ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên, hỗ trợ tôi về tinh thần, vật chất trong quá trình học tập

Hạ Long, ngày 15/11/2013,

Tác giả luận văn

Vũ Thành Long

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 3

1.1 Tổng quan về nguồn nhân lực 3

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực 3

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực 5

1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 6

1.2 Phát triển nguồn nhân lực 9

1.2.1 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực 9

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phát triển nguồn nhân lực 11

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nguồn nhân lực 12

1.2.4 Nội dung chủ yếu phát triển nguồn nhân lực 20

1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia châu Á 23

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 23

1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 26

1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 28

1.3.4 Kinh nghiệm của các nước ASEAN 30

Tóm tắt Chương 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2001-2012 36

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh 36

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 36

2.1.2 Những đặc điểm kinh tế 38

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực của Tỉnh 42

2.2.1 Dân số của tỉnh Quảng Ninh thời gian qua 42

Trang 4

2.2.2 Quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực 46

2.2.3 Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh 48

2.2.4 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh 54

2.3 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Tỉnh 67

2.3.1 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực 67

2.3.2 Cơ chế, chính sách của tỉnh về đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài 76

2.4 Đánh giá chung về công tác phát triển nhân lực Quảng Ninh 81

2.4.1 Những điểm mạnh 81

2.4.2 Những điểm yếu, hạn chế 82

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 83

Tóm tắt Chương 2 85

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH QUẢNG NINH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 86

3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực Quảng Ninh đến năm 2020 86

3.1.1 Quan điểm tổng quát về phát triển nguồn nhân lực 86

3.1.2 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực 87

3.2 Dự báo tình hình, xu thế phát triển nguồn nhân lực 88

3.2.1 Dự báo cung lao động của tỉnh giai đoạn 2013-2020 88

3.2.2 Dự báo cầu lao động (việc làm) giai đoạn 2013-2020 89

3.2.3 Cầu của nhóm nguồn nhân lực đặc biệt 91

3.3 Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh từ nay đến năm 2020 91

3.3.1 Đổi mới toàn diện công tác quản lý Nhà nước về nguồn nhân lực 92

3.3.2 Nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn - kỹ thuật của nguồn nhân lực 101 3.3.3 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe để nâng cao thể lực người lao động 108

3.3.4 Mở rộng, tăng cường phối hợp và hợp tác để phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 110

Tóm tắt Chương 3 112

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh 38

Bảng 2.2: Giá trị sản xuất theo các ngành kinh tế tỉnh Quảng Ninh 40

Bảng 2.3: Cơ cấu các ngành kinh tế Quảng Ninh 41

Hình 2.4: Tăng trưởng GDP các nhóm ngành 2005-2012 (Tỷ đồng) 41

Hình 2.5: Cơ cấu kinh tế Quảng Ninh 2005-2012 42

Bảng 2.6: Dân số và tỷ lệ phát triển dân số thời kỳ 2001-2012 43

Hình 2.7: Đồ thị dân số tỉnh Quảng Ninh 44

Bảng 2.8 : Cơ cấu dân số tỉnh Quảng Ninh phân theo giới tính 45

Bảng 2.9: Tỷ lệ tăng dân số và cơ cấu dân số theo khu vực thời kỳ 2001-2012 46

Hình 2.10: Nguồn nhân lực Quảng Ninh năm 2012 phân theo khu vực 47

Bảng 2.11: Dân số và nguồn nhân lực giai đoạn 2001–2012 48

Bảng 2.12: Số cơ sở y tế và cán bộ y tế giai đoạn 2001-2012 50

Bảng 2.13: Trình độ học vấn phổ thông của lực lượng lao động 51

Bảng 2.14: Lực luợng lao động (đang làm việc) theo trình độ đào tạo 2001-2012 52

Bảng 2.15: Dân số trong độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế 54

Bảng 2.16: Dân số và lao động đang làm việc trong ngành KTQD 55

Bảng 2.17: Tình hình lao động đang có việc làm qua các năm 2001-2012 56

Bảng 2.18: Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động 56

Hình 2.19: Lực lượng lao động đang có việc làm phân theo thành phần kinh tế năm 2012 58

Bảng 2.20: Số lượng, chất lượng công chức, viên chức đến 31/12/2012 59

Hình 2.21: Chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng lao động trong các doanh nghiệp 61

Bảng 2.22: Trình độ nhân lực khoa học công nghệ theo nhóm tuổi 62

Hình 2.23: Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo trình độ đào tạo 62

Hình 2.24: Cơ cấu lao động xã hội Quảng Ninh năm 2012 65

Bảng 2.25: Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giai đoạn 2005 - 2012 65

Bảng 2.26: Tổng số lao động được giải quyết việc làm 2005-2012 66

Bảng 2.27: Năng suất lao động xã hội giai đoạn 2007-2012 67

Trang 6

Bảng 2.28: Tỷ lệ học sinh bỏ học của Quảng Ninh so với toàn quốc 68

Bảng 2.29: Hệ thống trường lớp, giáo viên, học sinh giáo dục phổ thông 68

Bảng 2.30: Hệ thống đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề Quảng Ninh 70

Bảng 2.31: Bảng tổng hợp về dạy nghề giai đoạn 2006-2012 71

Bảng 2.32: Kết quả đào tạo cán bộ, công chức giai đoạn 2004 - 2012 74

Hình 2.33: Kết quả đào tạo cán bộ, công chức giai đoạn 2004 - 2012 76

Bảng 2.34: Tổng hợp kinh phí chi trợ cấp sau đào tạo theo chính sách khuyến khích đào tạo và thu hút nhân tài giai đoạn 2006-2012 80

Bảng 3.1: Cung lao động theo ngành kinh tế 2013-2020 89

Bảng 3.2: Cầu lao động theo ngành kinh tế 2013-2020 90

Bảng 3.3: Cầu lao động qua đào tạo phân theo trình độ 90

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn ngày càng hiếm, để phát triển, thế giới không còn con đường nào khác phải chuyển sang khai thác nguồn lực vô hạn của con người – nền kinh tế tri thức Các quốc gia đang phát triển lại càng chú trọng đầu tư phát triển NNL, coi đó là chìa khóa để thực hiện chiến lược phát triển nhanh, bền vững, đuổi kịp các quốc gia phát triển hiện đại

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển chung của thế giới Đảng và Nhà nước đã xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-

2020 : “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”[14, tr 30] Một trong ba khâu đột phá của Chiến lược là “Phát triển nhanh NNL, nhất là NNL chất lượng cao, đổi mới căn bản

và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển NNL với phát triển

và ứng dụng khoa KH&CN”[14, tr 106]; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) tháng 10/2011 đã đề ra “tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng”, đòi hỏi sự tham gia mạnh mẽ của KH&CN,

của tri thức, mà hạt nhân là NNL để thực hiện mục tiêu đó

Quảng Ninh là cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có điều kiện đặc điểm tự nhiên, KTXH thuận lợi, các ngành kinh tế phát triển phong phú, năng động, thu hút mạnh mẽ NNL trong và ngoài tỉnh Những năm qua, Quảng Ninh đã quan tâm, chú trọng phát triển NNL, song bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại và thách thức đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết

Vì những lý do trên, việc phát triển NNL của cả nước cũng như tỉnh Quảng Ninh là vấn đề vừa có tính cấp bách trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài Vì

vậy, tác giả chọn vấn đề: "Một số giải pháp phát triển nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh từ nay đến năm 2020" làm đề tài luận văn Thạc sỹ

Kinh tế, với mong muốn đóng góp ý kiến vào việc giải quyết vấn đề này

Trang 9

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về NNL, phát triển NNL nói chung và phát triển NNL tỉnh Quảng Ninh nói riêng Tác giả cũng xác định đây là một lĩnh vực rất rộng, liên quan đến tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, trong luận văn chỉ tập trung nghiên cứu để nêu ra một số giải pháp về phát triển NNL phục vụ phát triển KTXH của tỉnh Quảng Ninh từ nay đến năm 2020 Các số liệu thu thập nghiên cứu, đề cập tại luận văn được xem xét trong giai đoạn từ năm 2001-2012, nhưng chủ yếu nghiên cứu số liệu giai đoạn 2007-

2012 Có một vài số liệu đã được cập nhật đến năm 2013

3 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Hệ thống tài liệu lý luận liên quan đến NNL, phát triển NNL

- Phương pháp phân tích tổng hợp, dự báo để đưa ra các giải pháp

- Các phân tích, tính toán dựa trên số liệu thu thập được từ nguồn cung cấp chính thống ở các sở, ngành của tỉnh Quảng Ninh và một số tỉnh, thành phố trong vùng Đồng bằng Sông Hồng và số liệu trong các tài liệu tham khảo khác của các nhà khoa học, các công trình nghiên cứu đã công bố…

4 Kết cấu của Luận Văn

Không kể phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương được trình bày trong 107 trang, 39 bảng biểu và hình vẽ, 01 Phụ lục

Chương 1: Lý luận chung về phát triển NNL trong quá trình phát triển KTXH Chương 2: Thực trạng NNL và phát triển NNL tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2001 -

2012

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu phát triển NNL tỉnh Quảng Ninh giai đoạn từ nay đến năm 2020

Trang 10

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

PHỤC VỤ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1 Tổng quan về nguồn nhân lực

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực

Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động Để hiểu được NNL, trước hết cần có sự phân biệt giữa nguồn lực với NNL Nguồn lực để phát triển KTXH của một quốc gia, vùng lãnh thổ được hiểu là tổng thể các yếu tố cả vật chất, phi vật chất tham gia vào quá trình phát triển KTXH như: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, NNL, năng lực tài chính, KH&CN, thể chế và chính sách, truyền thống văn hóa Như vậy NNL chỉ là một trong những yếu tố của nguồn lực

Có thể nói, khái niệm NNL hiện nay không có gì mới với nền kinh tế nước

ta Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà người nghiên cứu có những nhận thức, quan niệm khác nhau về NNL Có khá nhiều những khái niệm khác nhau về NNL chẳng hạn như:

- Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi

cá nhân và của đất nước Theo Ngân hàng thế giới: NNL là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu Theo Tổ chức Lao động Quốc Tế: NNL là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người ở dạng hiện thực hoặc tiềm năng để phát triển KTXH trong một cộng đồng Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: NNL là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, cũng có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng Theo Luật Lao động: NNL của xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động

Tuy có những quan niệm khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận nghiên cứu

Trang 11

nhưng những điểm chung có thể nhận thấy qua các khái niệm về NNL là: Số lượng nhân lực (có bao nhiêu người trong hiện tại và tương lai); Chất lượng nhân lực ( trí tuệ, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ…); Cơ cấu nhân lực (về trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi ) và có một ý nghĩa chung nhất là phản ánh khả năng lao động của xã hội Như vậy, NNL và nguồn lao động có ý nghĩa tương đồng

Khái niệm nguồn lao động rộng hơn lực lượng lao động Nó không chỉ bao gồm lực lượng lao động; mà còn bao gồm cả bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, nhưng chưa tham gia hoạt động kinh tế (đang đi học; nội trợ; chưa tìm được việc làm; không có nhu cầu làm việc, nghỉ hưu có khả năng lao động )

Lực lượng lao động hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động đang có việc làm, hoặc không

có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc Các quốc gia quy định độ tuổi lao động khác nhau, nhiều nước lấy tuổi tối thiểu là 15 tuổi, còn tuổi tối đa vẫn còn có sự khác nhau, tuỳ thuộc vào tình hình phát triển KTXH của mỗi nước, có nước quy định là

60, có nước 65, thậm chí có nước đến 70, 75 tuổi Đặc biệt ở Úc không có quy định tuổi về hưu và do đó không có giới hạn tuổi tối đa Ở Việt Nam Luật lao động quy định tuổi lao động là từ 15 - 60 tuổi đối với nam và từ 15 - 55 tuổi đối với nữ

Dân số từ đủ 15 tuổi trở lên

Có khả năng lao động Không có khả năng lao động

Đi học

Nội trợ cho gia đình mình

Không có nhu cầu làm việc

Tình trạng khác

Lực lượng lao động

Nguồn lao động (Nguồn nhân lực)

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên

với lực lượng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam

Trang 12

NNL sẵn có trong dân cư được phân chia thành: NNL tham gia vào hoạt động kinh tế; NNL dự trữ Quan hệ này được mô hình hoá trong sơ đồ 1.2:

Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

Lực lượng lao động đang thất nghiệp

Hình 1.2: Mối quan hệ giữa các bộ phận trong NNL

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực

Đặc trưng về mặt sinh học và xã hội con người: con người là sản phẩm của tự

nhiên và xã hội cho nên con người chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xã hội cùng các quy luật biến đổi của chúng một cách khăng khít, chặt chẽ Hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động đó, con người cải tạo chính bản thân mình, làm cho con người ngày càng trở nên hoàn thiện hơn Nếu không có con người với tư cách là chủ thể sinh động nhất của xã hội thì không thể có xã hội, không thể có sự vận động phát triển của xã hội

Đặc trưng về số lượng: Nói đến số lượng NNL của bất kỳ một tổ chức, một

địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đặt ra là hiện có bao nhiêu người và tới đây sẽ có thêm bao nhiêu nữa Đó là những câu hỏi cho việc xác định số lượng NNL Sự phát triển về quy mô NNL phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và nhóm yếu tố bên ngoài (như: phạm vi lãnh thổ, các quy định pháp luật về giới hạn tuổi tác, cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính, chính sách thu hút lao động, di

Trang 13

dân), nếu những quy định này thay đổi sẽ ảnh hưởng tới quy mô NNL Sự gia tăng tổng dân số là cơ sở hình thành và gia tăng NNL Nhưng theo quy định ở nước ta về

độ tuổi lao động tối thiểu thì nhịp độ tăng giảm dân số phải sau 15 năm mới tác động đến nhịp tăng, giảm NNL

Đặc trưng về chất lượng: Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, chất lượng

NNL được biểu hiện thông qua các yếu tố: giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển KTXH và nâng cao chất lượng cuộc sống

Có quan điểm cho rằng: chất lượng NNL được biểu hiện thông qua các giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ, tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển KTXH

Một số tác giả khác lại quan niệm: chất lượng NNL biểu hiện các yếu tố năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất NNL thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển KTXH

Tóm lại, qua các quan điểm trên có thể thấy chất lượng NNL là tổng thể những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất và phát triển con người Những nét đặc trưng đó bao gồm: những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực chuyên môn, phong cách đạo đức, lối sống, tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL Chất lượng là một đặc trưng quan trọng của NNL, cần vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo, cũng như sẵn sàng đón nhận những tiến bộ

kỹ thuật - công nghệ mới Chất lượng NNL vừa là động lực vừa là thước đo trình độ phát triển của một xã hội nhất định trong một giai đoạn, một thời điểm

1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Trong số các nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ và tiềm lực về con người hay NNL, phục vụ phát triển KTXH thì NNL có ý nghĩa quyết định NNL và lực lượng lao động là nhân tố của

sự phát triển, còn mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn con người, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Như vậy, con

Trang 14

người vừa là động lực, vừa là cái đích của phát triển KTXH

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định: Phát triển, nâng cao chất lượng NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định

sự phát triển nhanh, bền vững đất nước [14, tr 41] Tuy nhiên, vai trò quyết định của NNL chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được đào tạo để có năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng được những yêu cầu mà quá trình CNH-HĐH đặt ra trước mắt và lâu dài Vai trò quyết định của NNL, nhất là NNL chất lượng cao có thể thấy rõ qua một số điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất là, NNL là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và

phát triển KTXH NNL, nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác

Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, KHCN…, có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó NNL được xem

là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển KTXH của mỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, NNL (nhất là là trí tuệ, chất xám) có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không

bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác

dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với NNL một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển KTXH Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể phát triển nhanh và bền vững nếu biết chăm lo, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, biết phát huy nhân tố con người Thực tiễn phát triển của một số quốc gia Châu

Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore là những ví dụ rõ nhất để minh chứng cho điều đó

Thứ hai là, NNL là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự

nghiệp CNH-HĐH; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện

Trang 15

và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH-HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển KTXH còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và phát triển bền vững

Thứ ba là, NNL, nhất là nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn

khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp HĐH đất nước nhằm phát triển bền vững

CNH-Thứ tư là, NNL có chất lượng cao là điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, NNL đặc biệt là NNL chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, người lao động còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc Trong điều kiện như vậy, người lao động ngoài ý thức dân tộc cao, còn phải có trình độ trí tuệ xứng tầm của khu vực và thế giới Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng có lực lượng nòng cốt, lực lượng dẫn đầu và nhân tài Lực lượng nòng cốt của đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề - những người trực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước và nước ngoài Do đó, họ phải có một trình độ trí tuệ, khả năng nhất định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến Hơn thế nữa, với những tri thức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp, người lao động không những sử dụng các công cụ lao động hiện có,

mà còn có thể sáng tạo ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ trí thức Với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực, phải thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp, có năng lực tiếp thu, chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của KH&CN hiện đại

Trang 16

của thế giới vào thực tiễn Việt Nam Đồng thời, họ phải có năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành, nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước Đội ngũ trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năng: tham mưu, nghiên cứu, thiết kế, sáng tác; thực hiện, thi hành, ứng dụng, phát triển; giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện; quản lý, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo Bộ phận nhân tài có vai trò thực sự quan trọng trong đội ngũ lao động Bộ phận này là hạt nhân có chất lượng cao, có năng lực khai phá những hướng đi mới trong nghiên cứu khoa học để đạt được những thành tựu mới, phục vụ công cuộc CNH-HĐH Số lượng của đội ngũ này không nhất thiết phải lớn, nhưng phải thực sự là các nhà khoa học đầu đàn, tiêu biểu

1.2 Phát triển nguồn nhân lực

1.2.1 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực

Quan niệm của Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) cho rằng: Phát triển NNL được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO): Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như: nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất

và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO): Sự phát triển NNL như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại quan niệm: Phát triển NNL, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn

về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người

Trang 17

Có thể khái quát lại: phát triển NNL là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể

về chất lượng của NNL và sự biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng cao năng lực

và động cơ của người lao động Như vậy, thực chất của phát triển NNL là quá trình tìm cách nâng cao chất lượng của NNL đó Hay nói cách khác đầy đủ hơn, phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng yêu cầu về NNL cho sự phát triển KTXH trong từng giai đoạn phát triển

Cần phân biệt thuật ngữ tăng trưởng NNL và phát triển NNL Phát triển NNL gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lượng NNL, thể hiện ở việc nâng cao trình

độ giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, sức khoẻ và thể lực cũng như

ý thức hệ, đạo đức của người lao động Còn tăng trưởng NNL gắn với việc tăng về

số lượng trong lực lượng lao động Phát triển NNL có vai trò và ý nghĩa quyết định hơn so với sự tăng trưởng NNL, nhất là trong bối cảnh dân số, lao động và kinh tế của Việt Nam

Quá trình phát triển NNL đòi hỏi tạo ra sự biến đổi về mặt số lượng, chất lượng và một cơ cấu đội ngũ nhân lực phù hợp để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển KTXH Đầu tư cho NNL là sự tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội nói chung

Phát triển NNL được xem xét trên hai mặt chất và lượng Về chất, phát triển NNL được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực,

kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho NNL phát triển; về lượng là gia tăng số lượng NNL, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản nhất

Quy mô dân số và cấu thành dân cư của địa phương là cơ sở cung cấp, hình thành và phát triển NNL Dân số tăng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của NNL, tăng nguồn lao động xã hội Tuy nhiên, việc tăng dân số một mặt tăng NNL cho phát triển kinh tế, mặt khác cũng gây sức ép trong việc bố trí sử dụng số người bước vào độ tuổi lao động Nếu số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm tăng cao

Trang 18

hơn so với nhu cầu sử dụng lao động của nền kinh tế thì hậu quả tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng cao

Phát triển NNL là việc đầu tư vào các yếu tố của quá trình sản xuất Cần lưu

ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tư thì đầu tư vào con người, đầu tư cho NNL là đầu tư quan trọng nhất Đầu tư cho con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau như: giáo dục tại nhà trường, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế

Phát triển NNL dưới góc độ của quốc gia, một vùng, địa phương là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động năng động, có thể lực tốt, có trình độ lao động cao,

có kỹ năng sử dụng lao động hiệu quả Xét ở góc độ cá nhân thì phát triển NNL là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động Nói một cách tổng thể, phát triển NNL là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất Trí lực có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm Thể lực có được nhờ vào chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trường làm việc…

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phát triển nguồn nhân lực

Xét trên cơ sở khoa học, sự cần thiết khách quan phát triển NNL xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Trước hết sự phát triển NNL xuất phát từ nhu cầu về lao động Do yêu cầu phát triển của xã hội, NNL xã hội ngày càng tăng, nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng lớn và phong phú, đa dạng Tất yếu xã hội phải tạo

ra nhiều của cải theo đà phát triển ngày càng tăng của nó; nghĩa là lực lượng tham gia vào các hoạt động của nền sản xuất xã hội phải ngày càng nhiều, chất lượng lao động ngày càng phải cao về trình độ trí tuệ và sức sáng tạo của con người, hay nói cách khác phải nâng cao chất lượng NNL, tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao mới đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội

Sự cần thiết phải nâng cao trình độ sức lao động còn cần thiết ở chỗ, xuất phát từ nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, khi kinh tế phát triển, xã hội trở nên văn minh hơn thì con người luôn luôn được hoàn thiện ở cấp độ cao hơn Đến lượt nó đòi hỏi việc nâng cao trình độ tri thức của người lao động;

Trang 19

nghĩa là không phải chỉ do yêu cầu thực tiễn của sản xuất mà do yêu cầu đòi hỏi từ chính bản thân con người, hay nói cách khác, chất lượng của NNL sẽ tăng lên là điều tất yếu trong tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội

Sự phát triển của NNL còn là một tất yếu do tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng KH&CN, yêu cầu khoa học của tính đồng bộ trong tiến trình phát triển Đối với Việt Nam đang tiến hành CNH-HĐH nền kinh tế, chất lượng NNL tăng lên không chỉ có ý nghĩa để sử dụng các thành tựu mới H&CN mà còn có điều kiện để sáng tạo ra các tư liệu lao động mới Hơn thế quá trình CNH-HĐH yêu cầu NNL phải có sự chuyển biến về chất từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ

Qua phân tích ở trên cho thấy, NNL có vai trò đặc biệt quan trọng Việc phát triển NNL là tất yếu khách quan, phù hợp xu thế phát triển của thời đại, là yêu cầu bắt buộc của quá trình CNH-HĐH của cả nước, của mỗi địa phương NNL chất lượng cao là tiền đề, là cơ sở quyết định sự thành bại trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Hơn nữa, phát triển NNL còn khắc phục được những hạn chế của đất nước

về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, vị trí địa lý… Đó là giải pháp tốt nhất để đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh bền vững

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nguồn nhân lực

1.2.3.1 Nhóm nhân tố "tự nhiên"

Nhóm này bao gồm quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số Các nhân tố này được xem xét trong mối quan hệ qua lại giữa sự biến dộng dân số, với NNL và giải quyết việc làm

Quy mô dân số được biểu thị khái quát bằng tổng số dân cư của một khu vực vào thời điểm nhất định Quy mô dân số là nhân tố quan trọng là căn cứ để hoạch định chiến lược phát triển Mỗi một nước (cũng như một vùng, địa phương) cần có một quy mô dân số thích hợp, tương thích với điều kiện tự nhiên, cũng như trình độ phát triển KTXH của mình

Trang 20

Cơ cấu dân số thích hợp bảo đảm cho sự phát triển ổn định, được nhiều nhà dân số học nhất trí: Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là 26%28%; Tỷ lệ người trong

độ tuổi lao động là 6064%; Tỷ lệ người già trên độ tuổi lao động là: 1012% Muốn vậy, thì tỷ suất sinh (TFR) phải giữ ở mức thay thế

Cơ cấu dân số theo độ tuổi có tác động đến số lượng NNL: tăng nhanh hay chậm

Cơ cấu dân số theo giới tính có vai trò trong cân bằng sinh thái của cộng đồng, trong những mối liên hệ xã hội và kinh tế

Cơ cấu dân số theo khu vực thành thị, nông thôn thể hiện mức độ đô thị hoá Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển NNL Nhưng nếu dân số

có tăng nhanh trong điều kiện nước nghèo, khi mà không có khả năng cung cấp đầy

đủ dinh dưỡng và chăm sóc y tế, trình độ học vấn thấp v.v Năng suất lao động thấp, sản phẩm quốc dân tăng chậm thì rất bất lợi cho phát triển KTXH

Di dân là một trạng thái vận động của dân cư Di dân (theo nghĩa đơn giản, trực tiếp) là sự di chuyển dân cư từ đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác Di dân

là một hiện tượng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố có những yếu tố khó kiểm soát Trong quá trình CNH, hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị là một tất yếu khách quan

1.2.3.2 Nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội

Các nhân tố này liên quan chặt chẽ với chất lượng NNL

Như chúng ta đều biết bất kỳ một quá trình sản xuất xã hội nào cũng cần có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động; trong đó sức lao động là yếu tố chủ thể của quá trình sản xuất; nó không chỉ làm “sống lại” các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn có khả năng sáng tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Điều

đó chứng tỏ vai trò của NNL có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Trong các NNL sẵn có thì chất lượng NNL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Như đã phân tích trên để cải biến đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động phải sử dụng lao động chân tay, song để sáng tạo ra các đối tượng lao động và tư liệu lao động mới tất yếu cần đến đội ngũ lao động trí óc

Trang 21

Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL trước hết phải kể đến là sức khỏe của NNL Đây là một yêu cầu tất yếu, tiên quyết và không thể thiếu Bởi sức khỏe là nhân tố quyết định để duy trì sự tồn tại, là cơ sở cốt yếu để tiếp nhận, duy trì

và phát triển trí tuệ Hơn thế, chỉ có sức khỏe mới là cơ sở cho giáo dục đào tạo tốt

hơn, mới có điều kiện để tiếp thu tri thức của nhân loại, mới có khả năng xử lý các

thông tin, ứng dụng tri thức của nhân loại vào thực tiễn

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng KH&CN thì vai trò của đội ngũ trí thức, lao động chất xám ngày càng tăng và càng có ý nghĩa quyết định Điều này đã được Karl Marx dự báo khoa học về vai trò của lao động trí tuệ: đến một trình độ nào đó, tri thức xã hội biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự tiên đoán của Karl Marx đã trở thành hiện thực trong điều kiện ngày nay khoa học

đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Trí tuệ - lao động trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu đội ngũ NNL trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ngày nay Trí tuệ của NNL được thể hiện thông qua tri thức Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng Hơn nữa dù máy móc công nghệ hiện đại đến đâu mà không có phẩm chất và năng lực cao, có tri thức khoa học thì không thể vận hành để làm “sống lại” nó chứ chưa nói đến việc phát huy tác dụng của nó thông qua hoạt động của con người

Việc phân tích nhân tố trên đây cho thấy lao động chất xám-lao động trí tuệ

là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với NNL của xã hội, đánh dấu bước phát triển của một xã hội nhất định trong điều kiện quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay Để có được NNL có trí tuệ cao không có cách nào khác là tác động từ sự nghiệp giáo dục đào tạo Sự nghiệp giáo dục đào tạo góp phần quan trọng nhất tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất lượng của NNL

Truyền thống lịch sử, văn hóa, thói quen, tập quán, đạo đức, lối sống, cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL Trong những biểu hiện về thái độ của những người hiện đại với những di sản truyền thống thì ý thức tự tôn dân tộc và lòng tự hào về những giá trị truyền thống là yếu tố rất cơ bản, có ý nghĩa xuyên

Trang 22

suốt Tuy nhiên, cũng còn không ít những thói quen, tập tục ảnh hưởng đến hiệu quả lao động cần loại bỏ Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để nhận ra mức độ ảnh hưởng của truyền thống lên cuộc sống của con người Việt Nam hiện đại

Trong các quan hệ cộng đồng thì quan hệ gia đình là tế bào của xã hội Đối với con người Việt Nam, cuộc sống gia đình hòa thuận theo quan niệm truyền thống

là nhân tố quan trọng chi phối tâm thức của họ Đối với một số quy phạm đạo đức truyền thống như đạo hiếu, lối sống thanh bạch, trong sạch, lòng nhân ái, sẵn sàng tương trợ người khác trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn, là những nhân tố cần phát huy và có ý nghĩa nhất định đối với nâng cao chất lượng NNL

Chất lượng NNL, được phân tích làm sáng tỏ trên các mặt: cơ cấu NNL hiện

có, trình độ học vấn, số năm đi học bình quân; tình trạng thể lực NNL về tình trạng sức khỏe, trọng lượng, chiều cao, tình trạng bệnh tật Chất lượng NNL gắn với nghề nghiệp chuyên môn nhất định và có thể phân loại tất cả lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hóa Hàm lượng công nghệ, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động tri thức

Trình độ trí lực và kỹ năng của NNL, trình độ học vấn của dân số trong độ tuổi lao động, số năm học văn hóa phổ thông, số năm đào tạo nghề Trình độ học vấn phổ thông, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, lao động kỹ thuật được đào tạo chính qui, phân bổ giữa các vùng Trình độ lao động được đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học Cơ cấu nguồn lao động được đào tạo và sử dụng… Người công nhân có trình độ cao là người lao động theo phương pháp tiên tiến, giỏi nghề chính và biết nghề khác, tiếp thu học hỏi nhanh để vận hành được máy móc

Về chất lượng NNL, đặc trưng NNL Việt Nam thông minh, cần cù, chịu khó, sáng tạo, có trình độ học vấn, có khả năng nắm bắt nhanh những thành tựu mới của KH&CN trên nhiều ngành nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, thích ứng với kinh tế thị trường NNL đã qua đào tạo từ nhiều địa chỉ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Đây là nguồn lực cơ bản cần thiết cho trước mắt và tương lai để tiến hành

Trang 23

lao động sản xuất đạt hiệu quả cao

Tuy nhiên, ở nước ta lao động nông nghiệp chiếm phần lớn trong tổng số lực lượng lao động Do đó trong tiến trình phát triển, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức theo yêu cầu của tiến trình CNH-HĐH

Có nhiều chỉ số đánh giá chất lượng NNL (GDI, HDI, HPI ), trong đó chỉ

số quan trọng nhất mà Tổ chức Liên Hiệp quốc đưa ra là chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index) để đo lường kết quả và đánh giá thành tựu phát triển con người Đây là một tiêu chí tổng hợp nhất đánh giá sự tiến bộ và phát triển của mỗi quốc gia về con người Giá trị của HDI được tính bằng trung bình nhân của

ba chỉ số cơ bản là: chỉ số tuổi thọ (LEI); chỉ số giáo dục (EI) và chỉ số thu nhập

(II):

Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội Nó được tạo nên bởi sự hoà hợp của nhiều yếu tố như thể chất, tinh thần, nội tạng, môi trường v.v Sức khoẻ là nhân tố rất quan trọng tác động đến thể chất của nguồn lao động Sức khoẻ và dinh dưỡng được cải thiện sẽ nâng cao chất lượng NNL, là cơ sở để phát triển Tình trạng sức khoẻ và dinh dưỡng tác động đến tuổi thọ trung bình Bộ

Y tế Việt Nam đã đưa ra 8 chỉ tiêu để đánh giá trạng thái sức khỏe của NNL, gồm: chỉ tiêu thể lực chung (chiều cao, cân nặng, vòng ngực), mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt, nội khoa, ngoại khoa, thần kinh, da liễu Trên cơ sở 8 chỉ tiêu trên, trạng thái sức khỏe NNL được đánh giá và xếp loại thành 3 loại: loại A - thể lực tốt, loại

B - thể lực trung bình, loại C - thể lực yếu Bên cạnh việc đánh giá trạng thái sức khỏe của người lao động, người ta còn nêu ra các chỉ tiêu đánh giá trạng thái sức khỏe NNL của quốc gia thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ sinh thô, chết thô, tỷ lệ tăng tự nhiên; tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi; tỷ lệ sinh thấp cân của trẻ em; tỷ lệ dừng mức sinh; tuổi thọ trung bình; tỷ lệ GDP/đầu người; cơ cấu giới tính, tuổi tác

Trình độ về học vấn (giáo dục) được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ người biết chữ; số năm học bình quân, số năm học kỳ vọng (có thể chi tiết đến từng nhóm

Trang 24

tuổi, giới tính) tình hình giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp; cao đẳng đại học và đào tạo công nhân kỹ thuật Trình độ học vấn thể hiện mặt bằng dân trí Trình độ học vấn là cơ sở quan trọng để nâng cao trình độ và kỹ năng làm việc của người lao động Trình độ học vấn được nâng cao tạo thuận lợi mang tính nội sinh để phát triển giáo dục, đào tạo nghề, là nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng NNL GDP/người phụ thuộc vào tốc độ tăng của GDP và quy mô, tốc độ tăng dân

số Chỉ tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, thể lực của NNL Chỉ tiêu này được cụ thể hoá trong các chỉ tiêu: sức khoẻ, dinh dưỡng, mức tiêu thụ điện năng

Theo Báo cáo phát triển con người 2012 do Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và Bộ Ngoại giao chính thức công bố tại Hà Nội ngày 3/7/2013 thì Việt Nam có chỉ số phát triển con người HDI là 0,617 và xếp thứ 127/187 nước, đứng trong nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình Trong khu vực, HDI của Việt Nam thấp hơn HDI của các nước Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippines, chỉ cao hơn Campuchia và Lào Trong ba chỉ số thành phần của HDI, chỉ số phát triển giáo dục của chúng ta có giá trị không cao Từ năm 1999 đến năm 2008, tăng trưởng kinh tế đã trở thành yếu tố chính thúc đẩy tiến bộ trong chỉ số HDI của Việt Nam Trong giai đoạn này, chỉ số thu nhập tăng 29,9% trong khi chỉ số tuổi thọ tăng 10,1% và chỉ số giáo dục chỉ tăng có 3,4% Nói cách khác, chỉ số thu nhập đóng góp 55,7% vào tăng trưởng HDI trong giai đoạn 1999-2008, trong khi chỉ số tuổi thọ trung bình đóng góp 31,8% và chỉ số giáo dục chỉ đóng góp 12,6%

Chỉ số GDI là chỉ số đánh giá sự bình đẳng về cơ hội phát triển giữa phụ nữ

và nam giới Chỉ số GDI hiện nay cho thấy vẫn còn khoảng cách giới trong giáo dục

ở các tỉnh nghèo nhất Ở một số tỉnh, tỷ lệ người lớn biết chữ là nữ thấp hơn 30% so với nam Ví dụ, ở Lai Châu, tỷ lệ người lớn biết chữ của nữ là 48%, của nam 75,5% Tương tự, một số tỉnh, khoảng cách giới trong tỷ lệ nhập học chung là 30% Điện Biên có tỷ lệ nhập học chung của nữ là 55,3% và của nam là 78,5%

20%-Chỉ số nghèo khổ tổng hợp HPI là chỉ số đo lường các kết quả về xóa đói

Trang 25

giảm nghèo, bảo đảm các nhu cầu cơ bản cho tất cả mọi người Đây cũng là một trong những chỉ số thể hiện chất lượng NNL; bởi giải quyết tốt vấn đề này sẽ là cơ

sở để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Năm 2011, UNDP đưa ra Chỉ số mới là Chỉ số đói nghèo đa chiều phi tiền tệ (MPI) cho Việt Nam, đo lường các hình thức thiếu thốn khác nhau về y tế, giáo dục, mức sống Theo đó, số người nghèo đa chiều

ở Việt Nam nhiều hơn số người nghèo về thu nhập Năm 2008, tỷ lệ nghèo về thu nhập là 14,5% trong khi tỷ lệ nghèo đa chiều là 23,3%

1.2.3.3 Thị trường sức lao động

Đề cập về phát triển NNL trong kinh tế thị trường, không thể không đề cập đến thị trường sức lao động Khẳng định sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI, cho rằng: “Hoàn thiện thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực” Nguồn lực quan trọng có ý nghĩa quyết định

sự phát triển của nền sản xuất xã hội là sức lao động Để khơi dậy nguồn lực sức lao động nhân tố quan trọng này, điều tất yếu phải phát triển hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động Đại hội Đảng XI khẳng định: “Tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường…Phát triển thị trường lao động, khuyến khích các hình thức giao dịch việc làm”

Nâng cao tính linh hoạt của thị trường sức lao động, tức là tránh những quy định hành chính máy móc, mà cần để giá cả sức lao động, số lượng, chất lượng sức lao động, cơ cấu lao động tự thích ứng với những thay đổi của thị trường, nâng cao tính linh hoạt của tổ chức sản xuất, chế độ làm việc, phương thức hợp đồng thuê mướn nhân công, trình tự và nội dung thương lượng thỏa thuận giữa giới chủ và giới thợ

Thị trường sức lao động ra đời gắn liền với sự ra đời và vận động của một loại hàng hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động Các yếu tố cơ bản trên thị trường sức lao động quan trọng nhất là hàng hóa sức lao động, cung cầu và giá cả sức lao

Trang 26

động Đối với hàng hóa sức lao động nếu quan hệ mua bán diễn ra bình đẳng và sử dụng đúng thì hiệu quả KTXH mang lại rất cao đối với doanh nghiệp và xã hội

Nguồn cung và cầu về sức lao động thực chất là cung và cầu về NNL được hình thành từ các yếu tố khác nhau Nguồn cung về nhân lực được hình thành từ các

cơ sở đào tạo (các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề ) Nguồn cung còn được thể hiện từ những người đang tìm việc làm, từ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc nguồn cung còn có từ nguồn lao động nhập khẩu Một nguồn cung khác liên tục được

bổ sung là những người vừa đến độ tuổi lao động Với đặc điểm, cơ cấu dân số Việt Nam hiện nay khá trẻ thì đây là nguồn cung rất lớn và thuận lợi

Nguồn cầu về lao động được hình thành từ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hoặc từ nhu cầu nhập khẩu lao động của nước ngoài Sự tác động qua lại của cung cầu sức lao động hình thành nên giá cả sức lao động Mức thù lao mà người lao động nhận được phản ánh trạng thái cân bằng trên thị trường sức lao động

Sự mất cân đối trong thị trường sức lao động là vấn đề đặt ra cần quan tâm khi nghiên cứu thị trường sức lao động Trong những năm vừa qua việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, đòi hỏi số lượng lớn công nhân kỹ thuật, song nhiều doanh nghiệp rất khó khăn trong khâu tuyển lao động, nghĩa là khi phát triển ngành, nghề, chúng ta chưa có được một chiến lược phát triển thị trường sức lao động tương ứng

1.2.3.4 Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Mục tiêu phát triển KTXH của một quốc gia, mỗi địa phương là mục đích hoặc kết quả cụ thể (các chỉ tiêu KTXH) đề ra để phấn đấu đạt được Trên cơ sở mục tiêu chiến lược chung sẽ có mục tiêu, chiến lược, chức năng như: chiến lược NNL, chiến lược về giáo dục đào tạo, chiến lược về phát triển kinh tế ngành

Mục tiêu phát triển KTXH tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ) và các lĩnh vực xã hội như: y tế, giáo dục, đào tạo, môi trường Mỗi lĩnh vực này phải phụ thuộc vào mục tiêu chung của quốc gia, địa phương để đề ra các mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực

Trang 27

Các cơ quan Nhà nước chức năng và các doanh nghiệp căn cứ vào mục tiêu phát triển KTXH tổng thể để hoạch định các chính sách phát triển và chính sách phát triển NNL của mình Chính sách phát triển NNL phù hợp với mục tiêu phát triển KTXH của quốc gia, của tỉnh, của doanh nghiệp, sẽ đảm bảo đủ NNL với cơ cấu lao động phù hợp và những năng lực, trình độ, kỹ năng và phẩm chất cần thiết

để thực hiện hiệu quả các mục tiêu đề ra

1.2.3.5 Các chế độ, chính sách

Ngoài các chế độ, chính sách chung của nhà nước như: chính sách kinh tế, chính sách dân số, chính sách GD&ĐT , thì các chính sách đặc thù riêng của mỗi tỉnh, thành phố có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển NNL của địa phương Các chế độ, chính sách của địa phương thường không phải là luật lệ cứng nhắc mà bám sát thực tiễn hơn, đảm bảo phù hợp với từng giai đoạn trong chiến lược phát triển để đạt được mục đích Một số nội dung trong các chế độ, chính sách của địa phương có ảnh hưởng đến quá trình phát triển NNL là:

- Chính sách ưu tiên đối với người lao động để thu hút lao động chất lượng cao và duy trì NNL như: cơ chế tuyển dụng; bố trí, sử dụng và trả lương lao động theo năng lực; chính sách ưu đãi về đất đai, nhà ở cho người lao động

- Chính sách khuyến khích trong di dân, nhập khẩu dân cư từ bên ngoài

- Chính sách khuyến khích đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng NNL

1.2.4 Nội dung chủ yếu phát triển nguồn nhân lực

1.2.4.1 Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

Quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển NNL cần thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển trong từng lĩnh vực KTXH của quốc gia, địa phương Chiến lược,

quy hoạch phát triển NNL được thực hiện qua các bước:

- Phân tích môi trường, xác định mục tiêu phát triển KTXH là gì

- Phân tích hiện trạng NNL

- Phân tích quan hệ cung cầu nhân lực, xây dựng các chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng NNL

Trang 28

- Thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình quản trị phát triển NNL

- Kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện

1.2.4.2 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo NNL là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định, tạo ra sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người, nhằm đáp ứng được việc thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển KTXH của quốc gia, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp ở một thời kỳ nhất định

Đào tạo NNL nhằm cập nhật các kỹ năng, kiến thức mới cho người lao động, giúp người lao động trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định,

để thực hiện các công việc hiện tại một cách tốt hơn, đặc biệt khi người lao động thực hiện các công việc không đáp ứng được các tiêu chuẩn mẫu, hoặc khi chuyển người lao động đảm nhận công việc mới theo định hướng của tổ chức

Bằng nhiều phương thức đào tạo như dạy và học trực tiếp tập trung, thông qua các phương tiện truyền thông, băng hình, đĩa hình hay đào tạo trực tuyến qua mạng với các hình thức đào tạo: đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình

độ giúp trang bị kiến thức phổ thông, chuyên môn và quản lý cho NNL

Đào tạo NNL là cực kỳ cần thiết cho sự thành công của quốc gia, địa phương, tổ chức Kết quả của quá trình đào tạo NNL sẽ nâng cao chất lượng, phát triển NNL

1.2.4.3 Chính sách thu hút, khuyến khích tạo động lực cho người lao động

và duy trì nguồn nhân lực

Chính sách thu hút, khuyến khích tạo động lực và chiến lược kích thích lao động và động viên học nhằm duy trì củng cố và phát triển lực lượng lao động gắn

bó với một cơ quan, đơn vị cụ thể hay rộng hơn là gắn bó với địa phương nơi người lao động làm việc Nếu cơ quan, đơn vị có lực lượng lao động có trình độ và bố trí vào vị trí thích hợp, nhưng chính sách lương bổng, đãi ngộ không thích hợp thì tinh thần người lao động sẽ giảm sút, năng suất lao động kém Chính sách lương bổng đãi ngộ của cơ quan, đơn vị đối với người lao động bao gồm: đãi ngộ về mặt tài chính và đãi ngộ phi tài chính

Trang 29

a) Đãi ngộ về mặt tài chính

Đãi ngộ về mặt tài chính được chia làm 2 phần: đãi ngộ trực tiếp là trả lương tháng, lương công nhật, tiền thưởng và đãi ngộ gián tiếp là các khoản phúc lợi và các kế hoạch bảo hiểm Trong đãi ngộ về mặt tài chính thì hình thức trả lương, thưởng rất quan trọng Cơ cấu trả lương được chia thành trả lương theo khối gián tiếp và trực tiếp Khối gián tiếp là cán bộ quản lý doanh nghiệp và các nhân viên hành chính Hình thức trả lương cho khối gián tiếp thường là lĩnh lương theo tháng

và các khoản tiền thưởng Khối lao động trực tiếp đựơc lĩnh lương theo thời gian hoặc sản phẩm với các phương pháp trả lương như: phương pháp trả lương theo từng sản phẩm, trả lương thưởng 100%, trả lương theo giờ tiêu chuẩn, trả lương cơ bản cộng với tiền thưởng

Đãi ngộ gián tiếp về mặt tài chính là các khoản phúc lợi và các kế hoạch bảo hiểm Các khoản phúc lợi bao gồm: phúc lợi theo quy định của pháp luật và phúc lợi tự nguyện Phúc lợi theo quy định của pháp luật là các bảo hiểm xã hội: trợ cấp

ốm đau bệnh tật, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí Phúc lợi tự nguyện là các khoản phúc lợi không theo quy định pháp luật nhằm khuyến khích người lao động yên tâm công tác, gắn bó với cơ quan: đó là chương trình bảo

vệ, chăm sóc sức khoẻ, giải trí, các loại dịch vụ, bảo hiểm nhân thọ và các loại trợ cấp khác

b) Đãi ngộ phi tài chính

Ở nước ta, hiện mức sống còn thấp, hầu hết người lao động chủ yếu quan tâm nhiều đến đãi ngộ tài chính để lo cho cuộc sống thường ngày, nên kích thích phi tài chính chưa thực sự trở thành nhu cầu thiết yếu Tuy nhiên, khi đất nước phát triển hơn trong tương lai, vấn đề này sẽ ngày càng quan trọng Ngày nay, ở một số nước có nền kinh tế phát triển, nhiều khi kích thích phi tài chính nhiều khi quan trọng hơn các kích thích về tài chính Kích thích phi tài chính bao gồm: bản thân công việc đó có thu hút và làm cho người lao động thoả mãn không; môi trường, điều kiện, hoàn cảnh làm việc có thoả mãn nhu cầu của người lao động chưa Ngoài

ra, đãi ngộ phi tài chính còn thể hiện ở chỗ làm thoả mãn các nhu cầu ở thứ bậc cao

Trang 30

như nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được thể hiện mình, nhu cầu được học tập, thăng tiến

1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia châu Á

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH khá thành công, nhưng khi phát triển NNL cũng phải đối mặt đối mặt với rất nhiều khó khăn: Năm

2004, dân số Trung Quốc đạt 1,3 tỷ người nhưng chất lượng thấp Theo số liệu cuộc điều tra dân số lần thứ 5, có khoảng 87 nghìn người mù chữ trong độ tuổi 15 trở lên Bình quân số năm giáo dục cho người từ 25 - 64 tuổi là 7,97 năm, bằng với tỷ lệ này ở Mỹ cách đó 100 năm Chất lượng văn hóa của dân cư cũng còn cách xa so với các nước phát triển Bên cạnh đó, trình độ chung về khoa học kém xa so với các nước phát triển Mức độ phát triển NNL thấp và phương pháp còn đơn lẻ, nội dung đào tạo không dựa trên nhu cầu thực tế, nên những lao động được đào tạo vẫn không phù hợp với các vị trí làm việc Phương pháp phát triển NNL chủ yếu dựa vào giáo dục, đào tạo nghề, rất ít xem xét tới các phương pháp khác Cấu trúc phát triển NNL chưa hợp lý trong các ngành, giữa khu vực thành thị và nông thôn Việc đầu tư cho phát triển NNL chưa đầy đủ, trong đó, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là phần đầu tư chính yếu nhất còn rất thiếu Năm 2001, tỷ lệ tổng đầu tư cho giáo dục và tài chính giáo dục chỉ chiếm tương ứng 4,83% và 3,19% trong GDP, tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với các nước phát triển và quá thấp để hỗ trợ giáo dục cho một nước với số dân 1,3 tỷ người Trước những khó khăn thách thức đó, Trung Quốc đã có những chiến lược hợp lý để đưa một nước đông dân thành một nước có NNL tốt, có năng lực, khả năng Chiến lược của Chính phủ Trung Quốc trong phát triển NNL đó là:

- Thay đổi quan niệm và hiện thực hoá khái niệm NNL là nguồn lực hàng đầu: Với các nguồn lực tự nhiên tương đối khan hiếm, nguồn lực con người của

Trung Quốc là một lợi thế so sánh với các nước trên thế giới Vì thế, trong dài hạn cũng như hiện tại, Trung Quốc chỉ có thể lựa chọn con đường phát triển NNL Mặt khác không chỉ coi NNL như một yếu tố sản xuất đơn giản và coi phát triển NNL là

Trang 31

một phương tiện để phát triển kinh tế mà phải coi phát triển toàn diện là mục tiêu

cao nhất trong việc phát triển NNL

- Tiếp tục chiến lược “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc”,

“Giáo dục kiến lập Trung Quốc” và xây dựng một xã hội học tập Giáo dục là

phương tiện cơ bản để phát triển NNL, quyết định trong việc cải thiện chất lượng công dân Trung Quốc kiên trì với các chiến lược “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc” và “Giáo dục kiến lập Trung Quốc”; tăng cường giáo dục cơ bản, tập trung vào trau dồi khả năng tư duy của người học và hướng họ tới sự trí thức hóa; nâng cao giáo dục chất lượng, tập trung vào bồi dưỡng năng lực sáng tạo và thực hành; đẩy mạnh sự phát triển toàn diện về phẩm chất đạo đức, trí lực, thể lực

và thẩm mỹ Mở rộng quy mô giáo dục ở các trường trung học, cao đẳng, dạy nghề, động viên giáo dục dân sự và đầu tư đa dạng cho giáo dục Trung Quốc định hướng

“trở thành một xã hội theo phương thức học tập dân sự và học tập suốt đời”

- Mở rộng đầu tư và làm nhiều biện pháp để phát triển NNL: Trung Quốc

tăng cường đầu tư cho giáo dục, mở rộng các kênh đầu tư đa dạng như đầu tư nước ngoài, đầu tư của doanh nghiệp và công dân; thúc đẩy sự hăng hái đầu tư cho giáo dục và xa hơn là thúc đẩy phát triển NNL Đồng thời, cải thiện cơ cấu đầu tư, chủ yếu đầu tư vào giáo dục người trưởng thành, giáo dục trung học và tiểu học, giáo dục nghề nghiệp, đầu tư vào những khu vực còn nghèo Ngoài ra, có những hình thức đa dạng để phát triển NNL như: đào tạo nghề ở các doanh nghiệp, công ty; tăng chi phí cho đào tạo; sử dụng con người hợp lý và thay thế những người thích

hợp vào vị trí phù hợp

- Cải thiện cơ cấu thông qua phát triển NNL: Sự sắp xếp hợp lý NNL giúp

nâng cấp cơ cấu ngành nghề, tạo ra sự phát triển kinh tế liên vùng một cách hài hòa Với việc gia nhập vào WTO, Trung Quốc phải đối mặt với quy định về cơ cấu ngành nghề và vấn đề phát triển các miền Trọng tâm của phát triển NNL chuyển hướng vào các vùng nông thôn nhằm cải thiện chất lượng khoa học và văn hóa của những người nông dân, thúc đẩy lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn chuyển sang các ngành phi nông nghiệp; chuyển sang ngành công nghiệp thứ ba như tài

Trang 32

chính, thông tin, giao tiếp, du lịch…để nâng cấp cơ cấu ngành nghề và tạo ra nhiều

cơ hội việc làm; đào tạo những tài năng kiểu mới phù hợp với việc kinh doanh và quản lý

- Cải tiến những hệ thống bất hợp lý, hoàn thiện hệ thống thị trường lao động, tạo ra một môi trường phát triển và sử dụng NNL tốt hơn:

Thứ nhất, thiết lập hệ thống đầu tư cho NNL và thu lại lợi ích Nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường là sự gắn kết, loại trừ của các nhà đầu tư và phần lợi nhuận Để khuấy động sự hăng hái của các nhà đầu tư, thiết lập hệ thống hợp lý để đầu tư cho NNL và thu lại lợi ích

Thứ hai, thiết lập hệ thống luân chuyển lực lượng lao động Với nền kinh tế thị trường, luân chuyển lao động trở thành một phương thức để phát triển NNL, phương thức đó được gọi là đầu tư “tài sản riêng” Vì vậy, hệ thống luân chuyển NNL phải bảo vệ kiểu đầu tư này, giúp các nhà đầu tư tìm thấy vị trí thích hợp nhất thông qua thị trường Điều này đòi hỏi cần thiết phải cải cách các hệ thống tương ứng: tình trạng thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, đăng ký thường trú cho công dân, tình trạng sở hữu và hệ thống lưu trữ

Thứ ba, thiết lập hệ thống sử dụng NNL Phá bỏ những trở ngại về việc làm trong thị trường lao động, loại bỏ sự phân biệt nghề nghiệp, đảm bảo sự công bằng

và tự do về việc làm của người lao động Đồng thời, đảm bảo các doanh nghiệp, tổ chức có đầy đủ quyền trong việc tuyển dụng và sa thải Với áp lực lớn cạnh tranh nghề nghiệp, người lao động phải chủ động nâng cao năng lực làm việc và việc phát triển NNL sẽ đạt hiệu quả cao hơn

- Thành lập tổ chức phát triển NNL, tăng cường sự ủng hộ và bảo đảm của chính phủ trong phát triển NNL: Các cơ quan chính phủ khuyến khích và ủng hộ

việc thành lập các tổ chức phát triển NNL, nhanh chóng bắt kịp với trình độ quốc tế Chính phủ thiết lập các tiêu chuẩn cho việc gia nhập thị trường và bộ máy của các

tổ chức phát triển NNL Công dân Trung Quốc có thể chọn lựa nội dung, địa điểm, phương pháp, kế hoạch học tập theo nhu cầu

Trang 33

1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là một nước có quá trình CNH diễn ra khá mạnh từ các năm cuối của thế kỷ XIX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mở cửa hội nhập kinh tế thế giới,

du nhập công nghệ tri thức từ các nước Phương Tây và với tinh thần học tập của người Nhật, nước Nhật đã nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp phát triển thuộc loại bậc nhất thế giới Trong quá trình CNH, nước Nhật rất coi trọng phát triển GD&ĐT nhân lực cho nông thôn Hệ thống giáo dục phổ cập tiểu học, giáo dục trung học được Chính phủ đặc biệt quan tâm trong chính sách phát triển, làm nền móng cho đào tạo NNL Tỷ lệ đến trường so với nhóm tuổi, trung học 66% vào năm 1950 và 93% vào năm 1980; con số này ở đại học là 6% và 31%

Thời kỳ đầu CNH, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất gia đình, nhà buôn bán ở các thị trấn và ở nông thôn Nhật Bản có vai trò quan trọng trong dạy nghề bậc thấp cho lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại Lao động lành nghề được đào tạo tại các nhà máy có quy mô lớn, khi ra trường được các doanh nghiệp tư nhân tuyển dụng vào làm việc Đặc điểm nổi bật nhất về đào tạo, dạy nghề của Nhật Bản là Chính phủ khuyến khích phát triển hệ thống đào tạo nghề tại công ty Trong ba hình thức cơ bản để đào tạo nghề cho lao động nông thôn là đào tạo tại trường, đào tạo tại công ty, đào tạo kết hợp tại trường và công ty, thì thành công hơn cả tại Nhật Bản là hình thức đào tạo tại công ty Sự phát triển của hình thức đào tạo này thường bắt nguồn từ truyền thống đào tạo, dạy nghề, văn hóa và hệ thống quản lý trước đây của người Nhật Bản Hơn nữa, đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại công ty, tạo điều kiện cho người lao động học được các kiến thức, kỹ năng phù hợp với công nghệ sử dụng, sát với yêu cầu, nhu cầu sử dụng của các công ty Chính phủ khuyến khích hình thức đào tạo này vì ngoài yếu tố chất lượng đào tạo, đáp ứng thị trường lao động, đào tạo nghề tại công ty còn tiết kiệm được đầu tư cho Chính phủ Nhiều công ty lớn của Nhật Bản đã đầu tư xây dựng các trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao, bao gồm đào tạo cả trình độ bậc thấp, công nhân lành nghề và lành nghề cao đáp ứng cho thị trường lao động thành phố và thị trường các vùng nông thôn Đào tạo

Trang 34

nghề tại công ty có vai trò rất lớn đối với lao động nông thôn Nhật Bản trong quá trình chuyển sang công nghiệp hiện đại Đa số lao động nông thôn sau khi tốt nghiệp phổ thông được đào tạo đại học và học nghề Số học sinh nông thôn học nghề bao gồm những người sau tốt nghiệp phổ thông được các công ty thuê vào làm việc, lập danh sách và cho tham gia trực tiếp vào các khóa đào tạo do chính công ty

tổ chức Trong đào tạo tại công ty các nội dung chính được đặt ra là:

Đào tạo về truyền thống hoạt động kinh doanh, truyền thống văn hóa của công ty, các giá trị công việc và thái độ làm việc, các quyền, lợi ích, trách nhiệm của nhân viên; tăng cường niềm tin và lòng tự hào của người tham gia đào tạo đối với công ty

Đào tạo các kiến thức lý thuyết chung liên quan tới công nghệ sản xuất của các nghề đào tạo, cập nhật các kiến thức về máy móc thiết bị mới đang sử dụng và

sẽ được đổi mới trong tương lai Các tài liệu đào tạo do các trung tâm, cơ sở đào tạo của công ty chuẩn bị, hoặc do những người hướng dẫn, kèm cặp đào tạo của công ty soạn ra

Chương trình thực hành trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn đặc biệt được chú trọng, chương trình học kiến thức thực hành được thực hiện thông qua chỉ dẫn trong quá trình sản xuất của công ty, phát hành các cuốn cẩm nang tự học cho học viên, tăng thời lượng các buổi thảo luận kỹ thuật, thảo luận chất lượng, chuyển đổi vị trí làm việc và tự học

Đáng chú ý là hệ thống giáo dục phổ thông của Nhật Bản rất hiệu quả, giáo dục toàn diện, nên chất lượng học sinh nông thôn tốt nghiệp phổ thông không có khoảng cách lớn so với thành phố Đây là cơ sở rất quan trọng để đào tạo được đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của các công ty

Ngoài đào tạo nghề, để đáp ứng nhu cầu phát triển nền công nghiệp hiện đại

và phát triển nông thôn, Nhật Bản còn rất chú trọng đào tạo lao động trình độ đại học của khu vực nông thôn Đến nay, Nhật Bản có nền giáo dục đại học rất phát triển với 460 trường đại học và 1,8 triệu sinh viên Trước năm 1950, học sinh nông

Trang 35

thôn theo học đại học chiếm tỷ lệ thấp, đến năm 1980 tỷ lệ học sinh đến trường đại học so với nhóm tuổi là 31% và hiện nay có gần 50% học sinh nông thôn tốt nghiệp phổ thông trung học theo học các chương trình đại học Các trường đại học của Nhật Bản thường được trang bị hiện đại, kết hợp đào tạo và nghiên cứu khoa học, cập nhật được các tri thức mới của thế giới và trong nước, nhờ công nghệ thông tin phát triển mạnh nên chất lượng đào tạo lao động trình độ đại học và nông thôn rất cao Để tạo điều kiện cho học sinh nông thôn học đại học, chính phủ khuyến khích phát triển hệ thống các chương trình giảng dạy đại học qua truyền hình, có khích lệ quá trình tự học và một số trường tiến hành tuyển sinh thông qua bảng điểm của quá trình học và thư giới thiệu

1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là con rồng châu Á đã đạt được những thành tựu đặc biệt trong CNH-HĐH Cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc năm 1966 là nông nghiệp 34,9%; công nghiệp 25,6%; dịch vụ 39,5%, đến năm 1980 con số này là 16,0%; 41% và 43% Giai đoạn năm 1960-1970 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới, GNP bình quân đầu người của Hàn Quốc tăng trung bình 6,7% một năm và vào năm 1990 đã đạt 2.370 đô la Mỹ/người Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm vụ lớn cho chính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo NNL để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ

Có thể nói Hàn Quốc là nước thành công trong kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chính sách phát triển NNL Công trình nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1993) đã nhấn mạnh đến thành tựu đào tạo NNL của Hàn Quốc, trong đó có vai trò to lớn của tập trung đầu tư cho giáo dục, đảm bảo cho mọi người dân được giáo dục, đào tạo với quy mô lớn, ở tất cả các ngành lĩnh vực của nền kinh tế Tỷ lệ đăng ký đi học theo nhóm tuổi tương ứng của Hàn Quốc năm

1971 tiểu học là 103%, năm 1992 là 105%; trung học năm 1970 là 42%; năm 1992

là 90%; đại học năm 1980 là 16%; năm 1992 là 42% Hệ thống giáo dục đào tạo luôn mở ra cơ hội cho người lao động nông thôn theo học các trường, lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật theo nhu cầu của bản thân để tìm kiếm việc làm phù hợp trên

Trang 36

thị trường lao động

Trong những năm đầu của quá trình CNH-HĐH, chính phủ Hàn Quốc phát triển hệ thống đào tạo, thu hút lao động vào đào tạo các ngành nghề hàm lượng lao động cao như ngành dệt, may, giầy da, đồ chơi, công nghiệp chế biến, nhà hàng… (cuối những năm 1960) Các thời kỳ sau, công nghiệp phát triển mạnh mẽ, lao động được đào tạo với quy mô lớn trong các lĩnh vực sắt thép, hóa chất, đóng tàu, xây dựng công nghiệp, xây dựng dân dụng, xe lửa, điện tử, viễn thông, máy tính và chất bán dẫn… Sự phát triển mạnh các ngành công nghiệp xuất khẩu, dịch vụ đã giải quyết được việc làm cho lao động nông thôn mất việc làm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; trong lực lượng lao động, lao động nông nghiệp đã giảm từ 74,1% năm 1950 xuống còn 38,6% năm 1980 Đời sống người lao động không ngừng được nâng cao nhờ tăng nhanh lao động kỹ năng và việc làm

có năng suất lao động cao

Chính phủ Hàn Quốc có chính sách khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nghề, hướng dẫn thực tập nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là cho lao động nông thôn theo học nghề ban đầu, để đảm bảo cung ứng cho nhu cầu của các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh Chính phủ quy định các công ty sử dụng hơn 150 công nhân hàng năm phải tham gia đào tạo nghề cho người lao động trong vùng, chú trọng đào tạo lao động từ nông thôn Các kế hoạch đào tạo phải được đệ trình hàng năm lên Bộ Lao động, nếu công ty nào không thực hiện thì phải nộp khoản thuế từ 0,25% đến 0,67% quỹ lương Trên thực tế một số công ty không muốn đào tạo mà thay vào đó là nộp thuế để khỏi phải thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề Chính phủ sử dụng khoản thuế này vào mục đích hỗ trợ đào tạo cho lao động nông thôn và hỗ trợ đào tạo đối với các ngành thiếu hút lao động kỹ năng, đang cần đào tạo khẩn cấp cho nhu cầu áp dụng công nghệ mới, mở rộng quy mô hoạt động Chính phủ cũng khuyến khích phát triển hình thức tín dụng, giảm thuế và trợ cấp, nhằm tạo điều kiện cho lao động nghèo, lao động nông thôn có thể tham gia các khóa đào tạo, học nghề, học đại học Trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hướng vào phát triển các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức và công nghệ

Trang 37

cao hơn Hàn Quốc đã có chính sách tăng cường quy mô và chất lượng giáo dục trung học phổ thông kể cả ở nông thôn, để đảm bảo cơ sở cho đào tạo nhân lực trình

độ cao, đáp ứng giai đoạn phát triển của các ngành kinh tế Trong đó, đặc biệt là nhân lực trong ngành công nghệ thông tin, dược phẩm, chế tạo ô tô, điện tử cao cấp, viễn thông, chế tạo máy móc chính xác, tự động hóa, công nghệ sinh học…

1.3.4 Kinh nghiệm của các nước ASEAN

Các nước ASEAN có nền kinh tế tăng trưởng cao (Singapore, Thái Lan, Malaysia) đều có chung đặc điểm trong đào tạo, phát triển nhân lực Trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách phát triển mạnh mẽ các ngành sử dụng nhiều lao động như công nghiệp chế biến làm tăng giá trị hàng nông sản và khai khoáng, công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu, các ngành xây dựng hạ tầng cơ sở, năng lượng… Trong giai đoạn này, việc phát triển NNL được ưu tiên hàng đầu vào phổ cập giáo dục tiểu học để tạo điều kiện cho lực lượng lao động nông thôn bị mất việc làm trong quá trình đô thị hóa, CNH chuyển dịch sang hoạt động ở khu vực công nghiệp, dịch vụ Đa số các nước ASEAN đều thực hiện chính sách miễn phí cho giáo dục tiểu học và loại bỏ sự phân biệt về sắc tộc, giới tính trong GD&ĐT Chính sách phổ cập tiểu học có vai trò quan trọng làm cơ sở cho phát triển trung học phổ thông và đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp trong giai đoạn phát triển kinh tế sau này của các nước ASEAN

Trong giai đoạn CNH-HĐH, đô thị hóa mạnh mẽ ở các nước ASEAN 1980) lao động dôi dư trong nông nghiệp là rất lớn CNH-HĐH thúc đẩy phát triển mạnh các ngành như công nghiệp điện tử, viễn thông, hàng dệt may cao cấp, giầy

(1970-da, chế biến nông sản xuất khẩu; dịch vụ tài chính, ngân hàng và cảng biển (Singapore, Malaysia, Thái Lan)… Để đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành này, các nước ASEAN đã chuyển sang chiến lược tăng tốc giáo dục phổ thông trung học, cải cách sâu rộng nền giáo dục phổ thông thời kỳ mới Do quy mô học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học tăng lên nhanh chóng ở nông thôn, hệ thống giáo dục đào tạo của một số nước ASEAN (Thái Lan, Indonesia, Malaysia…) đã có bước

Trang 38

thay đổi là mở rộng thêm các trường đào tạo tư nhân để tạo điều kiện tiếp nhận thêm học sinh, sinh viên nông thôn vào học, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

Một số nước ASEAN (Thái Lan, Indonesia…) mở rộng giáo dục nghề, giáo dục kỹ thuật ngay trong bậc trung học Chương trình giảng dạy được đổi mới và đưa các môn học kỹ thuật vào trong chương trình học phổ thông, lao động được tiếp cận với tri thức ngành nghề và có định hướng nghề nghiệp tốt để tham gia vào đào tạo chuyên môn kỹ thuật sau khi tốt nghiệp phổ thông

Các cố gắng về tăng cường mở rộng giáo dục trung học phổ thông, giáo dục nghề và giáo dục cao đẳng, đại học làm tăng tỷ lệ qua đào tạo và chất lượng của NNL, đặc biệt là các vùng ven các đô thị lớn như Kuala Lumpur, Bangkok, Manila… tạo điều kiện rất thuận lợi cho quá trình CNH-HĐH và đô thị hóa

Chính phủ Malaysia đã xây dựng quỹ phát triển NNL (HDRF) quy định vai trò của chủ doanh nghiệp trong một số lĩnh vực công nghiệp, chế tạo, dịch vụ phải

có nghĩa vụ đóng góp cho quỹ hàng năm 1% quỹ lương Chính phủ dùng quỹ này để trợ giúp đào tạo, dạy nghề đối với các ngành nghề có nhu cầu lớn về lao động kỹ thuật, đào tạo lao động nông thôn cho chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp năng suất lao động thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn trong quá trình đô thị hóa và đầu tư nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề Các lĩnh vực được đào tạo từ quỹ tài trợ phát triển NNL của Malaixia như chế tạo, khách sạn, du lịch, bưu chính viễn thông, vận tải, quảng cáo, máy tính… Chính phủ Malaixia khuyến khích hệ thống cơ sở đào tạo nghề tư nhân thu hút đào tạo nhân lực phục vụ cho các chương trình phát triển các ngành nghề mới như chế tạo, lắp ráp và sửa chữa ô tô, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, vận tải, quảng cáo…

Singapore mặc dù là nước nhỏ, đa số lao động hoạt động trong ngành dịch vụ (năm1980 là 58,9%), năm 1950 lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ 8,1% và qua quá trình cơ cấu lại nền kinh tế đã giảm xuống 2,2% vào năm 1980 nhưng chính phủ đã tích cực triển khai chương trình phát triển NNL, xây dựng quỹ phát triển kỹ năng

Trang 39

(SDF) và chương trình tái phát triển kỹ năng (SRP- là chương trình sáng kiến của

ba bên làm tăng kỹ năng làm việc của lực lượng lao động) để có nguồn cung cấp các khoản tài chính khuyến khích các chủ sử dụng lao động tham gia các chương trình đào tạo, nâng cao kỹ năng, tạo ra khả năng cống hiến suốt đời cho người lao động Đặc biệt đối với người lao động nông thôn thông thường có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, không có chứng chỉ nghề thì chương trình SRP có vai trò quan trọng giúp người lao động nông thôn nâng cao trình độ và nhận được chứng chỉ nghề, tạo cơ hội khi cần thiết họ có thể chuyển nghề hoặc tìm việc trên thị trường lao động

Một số nước ASEAN như Singapore, Thái Lan có dịch vụ du lịch rất phát triển, kể cả ở nông thôn (du lịch sinh thái, văn hóa…), trong đó vai trò của các công

ty du lịch rất quan trọng đối với đào tạo nghiệp vụ du lịch cho lao động nông thôn, đảm bảo phát triển và thực hiện các dịch vụ này văn minh và hiệu quả Đối với một

số vùng ngoại ô thủ đô của nhiều nước ASEAN, phần lớn lao động nông thôn đã chuyển sang các hoạt động dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch (Kuala Lumpur, Bangkok…)

Trong chính sách đào tạo, phát triển NNL nông thôn, Chính phủ các nước Philipin, Thái Lan…còn rất chú trọng lựa chọn những học sinh nông thôn tốt nghiệp trung học để đào tạo nghề phục vụ cho xuất khẩu lao động Hàng năm, xuất khẩu lao động đã giải quyết được hàng trăm nghìn việc làm cho lao động nông thôn ở các nước này, tạo điều kiện cho quá trình đô thị hóa được thuận lợi, đặc biệt là ở các vùng ngoại ô quy mô Đồng thời, khi trở về nước, nhờ tay nghề được nâng cao, tư duy kinh tế rộng mở hơn và có vốn nên khả năng tạo việc làm và tìm việc làm của những người lao động này là rất lớn Lao động đi xuất khẩu về nước còn là nguồn cung cấp lao động kỹ năng hiệu quả cho các ngành công nghiệp như khai thác dầu

mỏ, dệt, may, chế tạo ô tô, điện tử, xây dựng dân dụng và xây dựng công nghiệp… Chính phủ các nước ASEAN rất chú trọng mở rộng hợp tác với các trường, tổ chức kinh tế, tổ chức phát triển quốc tế (AIT, UNDP, WB…) để thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo ở nông thôn và các vùng ngoại ô thành phố lớn

Trang 40

Trong đó, chương trình quan trọng là tăng cường các lớp khuyến nông, lâm, ngư, tạo điều kiện để lao động nông nghiệp có đủ kỹ năng áp dụng công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng cây trồng, vật nuôi Đồng thời, mở các chương trình đào tạo chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nông thôn, tạo môi trường cho phát triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn để thu hút lao động nông thôn dư thừa do quá trình đô thị hóa, làm giảm dòng người nông thôn vào thành phố lớn tìm việc Để phát triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, một số nước ASEAN như Malaysia, Philipin, Indonesia… khuyến khích các nghệ nhân, những người có tay nghề truyền thống cao, dạy nghề cho người lao động nông thôn bằng hình thức kèm cặp tại các cơ sở sản xuất gia đình hoặc tư nhân Sau đó, họ được nhận vào làm việc hoặc mở các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tự tạo việc làm phi nông nghiệp cho bản thân và người khác trong địa phương

Tuy nhiên, tình trạng thiếu lao động kỹ thuật chất lượng cao do nhu cầu phát triển khá nghiêm trọng ở một số nước ASEAN Chính vì vậy, các nước ASEAN đang tiếp tục thực hiện các chính sách cải cách giáo dục và đào tạo để khắc phục các nhược điểm của hệ thống giáo dục và đào tạo Đặc biệt là khắc phục xu hướng phát triển các trường, cơ sở đào tạo, dạy nghề tập trung nhiều tại các thành phố lớn, trong khi tại các địa phương, các khu công nghiệp tập trung và các vùng nông thôn lại thiếu Đồng thời, khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động trong các ngành có hàm lượng tri thức, công nghệ cao và các ngành nghề mới phát triển của nền kinh tế Giống như các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Chính phủ các nước ASEAN cũng đã tăng dần mức đầu tư cho GD&ĐT Chi tiêu nhà nước cho GD&ĐT của Malaixia năm

1980 là 6,0% GDP; năm 1991 là 6,4% và so với ngân sách chính phủ là 20% (1991), con số này ở Philipin là 1,7%; 2,9% và 15,7% Nhìn chung đối với các nước ASEAN, hiện nay mức đầu tư cho GD&ĐT của Chính phủ đạt khoảng 20% trong tổng chi tiêu nhà nước Trong xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của nền kinh tế tri thức, hệ thống GD&ĐT của một số nước ASEAN đã có sự điều chỉnh thích ứng với giai đoạn phát triển mới Trong đó, kể cả đối với đào tạo, phát triển NNL nông thôn được chú trọng

Ngày đăng: 09/10/2016, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn Phức (2009), Quản lý doanh nghiệp, NXB Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Bách Khoa
Năm: 2009
2. Hoàng Văn Châu (2009) “Phát triển nguôn nhân lực chât lượng cao cho hội nhập kinh tê –vấn đề cấp bách sau khủng hoảng”, Tạp chí kinh tế đối ngoại(số 38) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển nguôn nhân lực chât lượng cao cho hội nhập kinh tê –vấn đề cấp bách sau khủng hoảng
3. Nguyễn Cảnh Huy (2010), Tài liệu bài giảng “Phương pháp định lượng trong quản lý”, Đại học Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp định lượng trong quản lý
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huy
Năm: 2010
4. Nguyễn Hoàng Giang Thanh (2007), Luật lao động và các văn ban hướng dẫn thi hành, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật lao động và các văn ban hướng dẫn thi hành
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giang Thanh
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2007
5. Nguyễn Hữu Thân (2008), Quản trị nhân sự, NXB Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân sự
Tác giả: Nguyễn Hữu Thân
Nhà XB: NXB Lao động-xã hội
Năm: 2008
6. Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (2004), Quản lý mguồn nhân lực ở Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý mguồn nhân lực ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2004
7. Phùng Lê Dung-Đỗ Hoàng Hiệp (2009) “Phát triển nguồn nhân lực dựa trên các chiến lược kinh tế”, Tạp chí nghiên cứu châu phi và trung đông (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển nguồn nhân lực dựa trên các chiến lược kinh tế”
8. Võ Xuân Tiến (2010), “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”, Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”
Tác giả: Võ Xuân Tiến
Năm: 2010
9. Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Công văn số 1006/BKHĐT-CLPT ngày 22/02/2011 về “Đề cương hướng dẫn xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực các tỉnh, thành phố giai đoạn 2011-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đề cương hướng dẫn xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực các tỉnh, thành phố giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2011
11. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (1999), Thuật ngữ lao động - Thương binh và xã hội. NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ lao động - Thương binh và xã hội
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 1999
12. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2006), Niên giám thông kê tỉnh Quảng Ninh 2005, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thông kê tỉnh Quảng Ninh 2005
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
13. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2011), Niên giám thông kê tỉnh Quảng Ninh 2010, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thông kê tỉnh Quảng Ninh 2010
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
15. Quốc hội (2006), Luật Giáo dục, , NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2006
16. Quốc hội (2007), Luật dạy nghề, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dạy nghề
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007
18. Tỉnh uỷ Quảng Ninh, (2010), Báo cáo Số 204 - BC/TU ngày 15/9/2010 “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trình tại đại hội đại biểu lần thứ XIII” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trình tại đại hội đại biểu lần thứ XIII
Tác giả: Tỉnh uỷ Quảng Ninh
Năm: 2010
19. Tổng Cục Thống kê, (2006), Niên giám thông kê Việt Nam 2005, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thông kê Việt Nam 2005
Tác giả: Tổng Cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
20. Tổng cục Thống kê, (2011), Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam 2010, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam 2010
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
21. Tổng Cục Thống kê, (2011), Niên giám thông kê Việt Nam 2010, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thông kê Việt Nam 2010
Tác giả: Tổng Cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên (Trang 11)
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa các bộ phận trong NNL - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa các bộ phận trong NNL (Trang 12)
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh (Trang 45)
Hình 2.5: Cơ cấu kinh tế Quảng Ninh 2005-2012 - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.5 Cơ cấu kinh tế Quảng Ninh 2005-2012 (Trang 49)
Hình 2.7: Đồ thị dân số tỉnh Quảng Ninh - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.7 Đồ thị dân số tỉnh Quảng Ninh (Trang 51)
Hình 2.10: Nguồn nhân lực Quảng Ninh năm 2012 phân theo khu vực - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.10 Nguồn nhân lực Quảng Ninh năm 2012 phân theo khu vực (Trang 54)
Bảng 2.11: Dân số và nguồn nhân lực giai đoạn 2001–2012 - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Bảng 2.11 Dân số và nguồn nhân lực giai đoạn 2001–2012 (Trang 55)
Bảng 2.15: Dân số trong độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Bảng 2.15 Dân số trong độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế (Trang 61)
Bảng 2.17: Tình hình lao động đang có việc làm qua các năm 2001-2012 - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Bảng 2.17 Tình hình lao động đang có việc làm qua các năm 2001-2012 (Trang 63)
Hình 2.19: Lực lượng lao động đang có việc làm phân theo thành phần kinh tế - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.19 Lực lượng lao động đang có việc làm phân theo thành phần kinh tế (Trang 65)
Hình 2.21: Chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng lao động trong các doanh nghiệp - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.21 Chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng lao động trong các doanh nghiệp (Trang 68)
Bảng 2.22: Trình độ nhân lực khoa học công nghệ theo nhóm tuổi - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Bảng 2.22 Trình độ nhân lực khoa học công nghệ theo nhóm tuổi (Trang 69)
Hình 2.24: Cơ cấu lao động xã hội Quảng Ninh năm 2012 - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.24 Cơ cấu lao động xã hội Quảng Ninh năm 2012 (Trang 72)
Bảng 2.31: Bảng tổng hợp về dạy nghề giai đoạn 2006-2012 - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Bảng 2.31 Bảng tổng hợp về dạy nghề giai đoạn 2006-2012 (Trang 78)
Hình 2.33: Kết quả đào tạo cán bộ, công chức giai đoạn 2004 - 2012 - Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế   xã hội tỉnh quảng ninh từ nay đến năm 2020
Hình 2.33 Kết quả đào tạo cán bộ, công chức giai đoạn 2004 - 2012 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w