1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở công ty điện lực từ liêm

116 291 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ, ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.1 Kinh tế đầu tư 1.1.1 Khái niệm về kinh tế đầu tư Kinh tế đầu tư là một khoa học về cách bỏ vốn để hình thành tài sản nhằ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

TRẦN ĐĂNG HIẾU

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN

LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở CÔNG TY ĐIỆN

LỰC TỪ LIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN TRỌNG PHÚC

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1 

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4 

DANH SÁCH BẢNG BIỂU VÀ PHỤ LỤC 6 

LỜI MỞ ĐẦU 7 

CHƯƠNG 1  CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ, ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 9 

1.1  Kinh tế đầu tư 9 

1.1.1  Khái niệm về kinh tế đầu tư 9 

1.1.2  Đầu tư phát triển 9 

1.1.3  Đặc điểm đầu tư phát triển 10 

1.1.4  Vai trò đầu tư phát triển 11 

1.1.5  Nguồn vốn đầu tư phát triển 15 

1.2  Đầu tư XDCB 18 

1.2.1  Khái niệm đầu tư XDCB 18 

1.2.2  Đặc điểm đầu tư XDCB 19 

1.2.3  Vai trò đầu tư XDCB 20 

1.2.4  Vốn đầu tư XDCB 21 

1.2.5  Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB 21 

1.2.6  Nội dung của vốn đầu tư XDCB 22 

1.3  Đầu tư XDCB ngành điện 24 

1.3.1  Các khái niệm 24 

1.3.2  Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành Điện 26 

1.3.3  Đặc điểm đầu tư XDCB của ngành Điện 28 

1.3.4  Vai trò, nhiệm vụ đầu tư XDCB các công trình điện 29 

1.3.5  Trình tự đầu tư XDCB các công trình điện .31 

1.4  Hiệu quả của đầu tư ngành điện 33 

1.4.1  Khái niệm về hiệu quả đầu tư 33 

1.4.2  Phân loại hiệu quả đầu tư 33 

1.4.3  Hệ chỉ tiêu hiệu quả đầu tư ngành điện 35 

1.4.4  Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư XDCB 38 

1.5  Tóm tắt chương 1 39 

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC TỪ LIÊM 41 

2.1  Tổng quan về kinh tế xã hội và sự phát triển của huyện Từ Liêm 41 

2.1.1  Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội 41 

Trang 4

2.1.2  Phương hướng phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010 – 2015 42 

2.2  Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Điện lực Từ Liêm 42 

2.3  Mô hình tổ chức quản lý của Công ty Điện lực Từ Liêm .43 

2.4  Chức năng và nhiệm vụ của Công ty Điện lực Từ Liêm 44 

2.4.1  Công tác lập kế hoạch 45 

2.4.2  Quản lý đầu tư phát triển 46 

2.4.3  Quản lý tài chính - kế toán 46 

2.4.4  Công tác kinh doanh điện năng 47 

2.4.5  Tổ chức và đào tạo cán bộ lao động 48 

2.4.6  Công tác thanh tra an toàn lao động 48 

2.4.7  Quản lý vật tư thiết bị 48 

2.5  Đặc điểm kinh doanh điện năng của Công ty Điện lực Từ Liêm 49 

2.6  Hiện trạng lưới điện phân phối: 51 

2.6.1  Nguồn cung cấp 51 

2.6.2  Trạm biến áp phân phối 51 

2.6.3  Đường dây phân phối 52 

2.6.4  Đường trục hạ thế và hệ thống công tơ 54 

2.7  Thực trạng quản lý các dự án tại Công ty Điện lực Từ Liêm 55 

2.7.1  Nguồn vốn đầu tư XDCB 59 

2.7.2  Công tác kế hoạch đầu tư XDCB 60 

2.7.3  Công tác tư vấn thiết kế 62 

2.7.4  Công tác thẩm định 63 

2.7.5  Công tác đấu thầu 63 

2.7.6  Công tác thi công, xây lắp 65 

2.7.7  Công tác quyết toán và giải ngân vốn 67 

2.7.8  Công tác vận hành sau khi bàn giao đưa công trình vào sử dụng 67 

2.8  Kết quả đầu tư XDCB tại Công ty Điện lực Từ Liêm 68 

2.8.1  Khối lượng vốn đầu tư thực hiện 68 

2.8.2  Tài sản cố định huy động 69 

2.8.3  Năng lực phục vụ tăng thêm 70 

2.8.4  Điện thương phẩm và tổng số khách hàng phát triển 71 

2.8.5  Doanh thu 72 

2.8.6  Số việc làm tăng thêm và thu nhập bình quân đầu người 72 

2.8.7  Kết quả chỉ tiêu kỹ thuật 73 

2.8.8  Hiệu quả kinh tế xã hội khác 75 

2.9  Những khó khăn, tồn tại trong công tác đầu tư XDCB tại Công ty Điện lực Từ Liêm 75 

Trang 5

2.9.1  Nguồn vốn đầu tư XDCB 76 

2.9.2  Công tác kế hoạch đầu tư XDCB 77 

2.9.3  Công tác lập các thủ tục đầu tư 78 

2.9.4  Công tác thẩm định 79 

2.9.5  Công tác đấu thầu 80 

2.9.6  Công tác thi công xây lắp 81 

2.9.7  Công tác quyết toán và giải ngân vốn 81 

2.10 Tóm tắt chương 2 82 

CHƯƠNG 3  MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XDCB Ở CÔNG TY ĐIỆN LỰC TỪ LIÊM 83 

3.1  Mục tiêu - kế hoạch của Công ty Điện lực Từ Liêm 83 

3.1.1  Phương hướng chung của Công ty Điện lực Từ Liêm trong những năm tới 83 

3.1.2  Mục tiêu và kế hoạch cụ thể về quản lý đầu tư XDCB ở Công ty Điện lực Từ Liêm 84 

3.2  Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đầu tư XDCB tại Công ty Điện lực Từ Liêm 84 

3.2.1  Giải pháp 1: Tuân thủ chuẩn mực quản lý nhà nước, ban, ngành trong XDCB 85 

3.2.2  Giải pháp 2: Xây dựng mô hình chuẩn trong thực hiện kiểm soát dự án đầu tư XDCB 87 

3.2.3  Giải pháp 3: Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng các nguồn vốn ……… 96 

3.2.4  Giải pháp 4: Đào tạo và đào tạo lại nhân lực của Công ty Điện lực Từ Liêm .97 

3.2.5  Giải pháp 5: Nâng cao chất lượng công tác tư vấn giám sát thi công công trình 98 

3.2.6  Giải pháp 6: Áp dụng hệ thống đấu thầu qua mạng trong công tác quản lý đầu tư XDCB .100 

3.3  Tóm tắt chương 3 104 

KẾT LUẬN 105 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 

PHỤ LỤC 107 

Trang 6

KĐTM Khu đô thị mới

ĐTXD Đầu tư xây dựng

SCL Sửa chữa lớn

QLVH Quản lý vận hành

XDCB XDCB

CNTT Công nghệ thông tin

BCKTKT Báo cáo kinh tế kỹ thuật

B04 Ban kỹ thuật Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội

B02 Ban kế hoạchcông ty Điện lực thành phố Hà Nội

B05 Ban vật tư công ty Điện lực thành phố Hà Nội

PAKT Phương án kỹ thuật

ĐVTV Đơn vị tư vấn

VTTB Vật tư thiết bị

TSCĐ Tài sản cố định

SXKD Sản xuất kinh doanh

HSMT Hồ sơ mời thầu

UBND Ủy ban nhân dân

BCNCKT Báo cáo nghiên cứu khả thi

Trang 7

TKKT Thiết kế kỹ thuật

TKKTTC Thiết kế kỹ thuật thi công

HSMT Hồ sơ mời thầu

DT Dự toán

PAKT Phương án kỹ thuật

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG BIỂU VÀ PHỤ LỤC

 

Bảng biểu

Bảng 2.1 Khối lượng trạm biến áp phân phối trên địa bàn Huyện Từ Liêm 51

Bảng 2.2 Chiều dài đường dây trung thế Huyện Từ Liêm 52

Bảng 2.3 Thống kê đường trục hạ thế Công ty Điện lực Từ Liêm quản lý 55

Bảng 2.4 Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư XDCB thời kỳ 2010- 2013 59

Bảng 2.5 Số liệu đấu thầu giai đoạn 2010 - 6/2013 64

Bảng 2.6 Các hình thức đấu thầu giai đoạn 2010- 6/2013 65

Bảng 2.7 Vốn đầu tư XDCB thực hiện thời kỳ 2010- 6/2013 68

Bảng 2.8 Tăng tài sản cố định các năm 2010- 6/2013 69

Bảng 2.9 Tình hình tiêu thụ điện năng tại Huyện Từ Liêm 71

Bảng 2.10 Thống kê kết quả kinh doanh của Công ty Điện lực Từ Liêm 71

Bảng 2.11 Bảng tính toán chỉ số tin cậy SAIFI - SAIDI - MAIFI trung bình năm

Bảng 2.12 Kết quả thực hiện giảm tổn thất điện năm 2010-2013 74

Phụ lục

Phụ lục 1 Báo cáo quản lý kỹ thuật năm 2010 107

Phụ lục 2 Báo cáo quản lý kỹ thuật năm 2011 109

Phụ lục 3 Báo cáo quản lý kỹ thuật năm 2012 111

Phụ lục 4 Báo cáo quản lý kỹ thuật 6/ 2013 113

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Đối với bất kỳ quốc gia nào, hệ thống kết cấu hạ tầng có vai trò vô cùng quan trọng

trong tiến trình phát triển kinh tế đất nước, hệ thống kết cấu hạ tầng tạo cơ sở tiền đề cho

phát triển tất cả các ngành kinh tế Trong hệ thống kết cấu hạ tầng thì năng lượng, đặc

biệt là điện năng là nguồn năng lượng không thể thiếu đối với các ngành sản xuất như

công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sử dụng cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật, an ninh

quốc phòng, cho đời sống con người

Ở nước ta, ngành điện luôn được chú trọng đầu tư nhằm đảm bảo đi trước các

ngành khác một bước Hàng năm ngành điện phải đầu tư rất lớn cho công tác XDCB:

xây dựng mới đường dây truyền tải điện, trạm biến áp, hệ thống hạ thế, cải tạo nâng công

suất các trạm biến áp, lộ đường dây Đặc thù của ngành điện là có công trình trải đều trên

mọi miền đất nước, yêu cầu về độ an toàn vận hành cao, các công trình phải có đơn vị

quản lý chuyên biệt và được vận hành thường xuyên Quá trình đầu tư xây dựng mới mất

nhiều thời gian cho công tác khảo sát lập dự án đầu tư, vật tư thiết bị có tính kỹ thuật cao

nên rất đắt tiền cần huy động nguồn vốn lớn, phải có nguồn nhân lực kỹ thuật cao vận

hành Do đó công tác quản lý đầu tư XDCB ngành điện còn gặp nhiều khó khăn

Công ty Điện lực Từ Liêm là một đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Thành

phố Hà Nội-Tập đoàn Điện lực Việt Nam Tốc độ đô thị hóa trên địa bàn Huyện Từ Liêm

trong những năm gần đây diễn ra rất nhanh chóng tuy nhiên không đồng đều Phụ tải

điện trên địa bàn Huyện Từ Liêm trải rộng, bán kính cấp điện lớn, lưới điện đã cũ, độ tin

cậy cấp điện chưa cao gây khó khăn trong công tác quản lý vận hành đảm bảo cung cấp

điện cũng như trong công tác khảo sát lập phương án ĐTXD mới Cùng với qúa trình xây

dựng và trưởng thành, Công ty đã luôn cố gắng khắc phục khó khăn, nâng cao hiệu quả

trong công tác đầu tư XDCB, đáp ứng nhu cầu điện ngày càng cao của các phụ tải điện

trong trên địa bàn Huyện Từ Liêm

Công tác tại Công ty Điện lực Từ Liêm, tôi thấy được tầm quan trọng của việc

nghiên cứu cơ sở lý luận, nắm bắt thực trạng đầu tư XDCB từ đó đưa ra được các giải

pháp nâng cao hiệu quả đầu tư xây dưng cơ bản tại Công ty Điện lực Từ Liêm và đã

Trang 10

quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư XDCB ở

Công ty Điện lực Từ Liêm” làm luận văn Thạc sỹ

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Kết hợp nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng quản lý XDCB tại Công ty Điện

lực Từ Liêm từ đó đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư

XDCB ở Công ty Điện lực Từ Liêm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý các dự án đầu tư XDCB tại

Công ty Điện lực Từ Liêm - Tổng Công ty Điện Lực Thành phố Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn trong việc đưa ra cơ sở lý luận phân

tích những thực trạng quản lý XDCB tại Công ty Điện lực Từ Liêm trong giai đoạn từ

năm 2010 đến tháng 6 năm 2013 từ đó đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu

quả quản lý XDCB ở Công ty Điện lực Từ Liêm

4 Các phương pháp nghiên cứu đề tài

Các phương pháp được sử dụng trong đề tài : Phân tích hiệu quả đầu tư dựa trên cơ

sở những lý thuyết về quản lý dự án, phân tích trên các số liệu thống kê, so sánh với các

tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành điện, phân tích hệ thống để tìm nguyên nhân khách quan,

chủ quan của các vấn đề về đầu tư XDCB

5 Kết cấu của đề tài

Tên đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở

Công ty Điện lực Từ Liêm”

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

ƒ Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả, đầu tư xây dựng cơ bản;

ƒ Chương II: Phân tích thực trạng quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Công ty

Điện lực Từ Liêm;

ƒ Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ

bản ở Công ty Điện lực Từ Liêm

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ, ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

1.1 Kinh tế đầu tư

1.1.1 Khái niệm về kinh tế đầu tư

Kinh tế đầu tư là một khoa học về cách bỏ vốn để hình thành tài sản nhằm sinh lợi,

có nội dung liên ngành rất tổng hợp, có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức khoa học và

những kinh nghiệm thực tiễn về đầu tư để giúp các nhà đầu tư thực hiện kê hoạch đầu tư

của mình vói hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội tốt nhất, cũng như đế giúp các

cơ quan quản lí của Nhà nước thực hiện quản lí đầu tư ở cấp vĩ mô với hiệu quả cao nhất

Mặt khác, kinh tế đầu tư cũng là một lĩnh vực quản lí kinh tế quan trọng nhất của

Nhà nước, một hoạt động kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp, vì lĩnh vực này có ảnh

hưởng quyết định đối với sự phát triển của các doanh nghiệp và đất nước

1.1.2 Đầu tư phát triển

Đầu tư là một hoạt động kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến gia tăng tiềm lực của

nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất của từng đơn vị kinh tế nói riêng, đồng thời tạo

ra việc làm cho các thành viên trong xã hội Đứng trên mỗi góc độ khác nhau sẽ có một

khái niệm về đầu tư khác nhau

Dưới góc độ tài chính: Đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư

nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời

Dưới góc độ tiêu dùng: Đầu tư là một hình thức hạn chế tiêu dùng hoặc hy sinh tiêu

dùng ở hiện tại để thu về một mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai

Dưới góc độ một nhà đầu tư: Đầu tư là việc bỏ vốn hay chi dùng vốn cùng các

nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra hoặc khai thác

sử dụng một tài sản) nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai

Từ các khái niệm trên về đầu tư ta có thể rút ra khái niệm chung về đầu tư như sau:

đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành hoạt động nào đó nhằm thu về

cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để

Trang 12

đạt được kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao

động và trí tuệ Những kết quả của đầu tư có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài

sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao

động cao hơn trong nền sản xuất xã hội

Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn

bằng tiền thành vốn hiện vật, là quá trình chi dùng vốn để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và

các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, và bồi dưỡng

nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh; dịch vụ; tạo ra những tài sản

mới, năng lực sản xuất mới và duy trì tiềm lực sẵn có của nền kinh tế

1.1.3 Đặc điểm đầu tư phát triển

Đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, do đó cần đẩy

mạnh hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm cơ bản khác biệt

với các loại hình đầu tư khác đó là:

Thứ nhất, đầu tư phát triển đòi hỏi lượng vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt

quá trình thực hiện đầu tư Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển Do đó

cần phải tính toán chính xác khả năng có thể đầu tư và để không bị thiếu vốn thì chủ đầu

tư nên đầu tư theo giai đoạn, hạng mục công trình nào cần làm trước, hạng mục công

trình nào cần làm sau có thể làm sau Đồng thời cần làm tốt các bước của quá trình lập

dự án và phải biết huy động vốn từ nhiều nguồn

Thứ hai, hoạt động đầu tư mang tính chất lâu dài Thời gian tiến hành một công

cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả phát huy tác dụng đòi hỏi nhiều năm tháng với

nhiều biến động xảy ra và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ số vốn đã bỏ ra cũng đòi

hỏi nhiều năm Đời của dự án gắn với sự tồn tại của sản phẩm dự án trên thị trường và từ

khi vận hành đến khi kết thúc đời dự án cũng đòi hỏi thời gian dài

Thứ ba, đa số các công trình thuộc đầu tư phát triển được tạo ra ở một vị trí cố định

Nên nó chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của vùng Để hoạt động đầu

tư có hiệu quả nhà đầu tư cần tìm hiểu rõ điều kiện khí hậu, tôn giáo, thói quen của người

dân nơi công trình được đầu tư

Thứ tư, vì thời gian đầu tư và vận hành kết quả kéo dài, vốn đầu tư lớn nên hoạt

động đầu tư phát triển có mức độ rủi ro cao Do đó khi tiến hành phải nghiên cứu mọi

Trang 13

yếu tố tác động đến hoạt động đầu tư của dự án, xem xét các nguyên nhân rủi ro và biện

pháp loại bỏ, hạn chế rủi ro

Ngoài ra hoạt động đầu tư phát còn có một số đặc điểm như: Thành quả có giá trị

lớn, chịu tác động lớn từ điều kiện ngoại cảnh: khí hậu, thời tiết, luật pháp, chính sách …

Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi

phải làm tốt công tác chuẩn bị, đó là việc lập dự án đầu tư

1.1.4 Vai trò đầu tư phát triển

Từ việc xem xét khái niệm của đầu tư phát triển, chúng ta có thể khẳng định đầu tư

phát triển là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng

trưởng Vai trò của đầu tư được thể hiện ở các mặt sau đây:

a) Đ u t  v a tác đ ng đ n t ng cung và t ng c u 

Cung, cầu là hai nhân tố cơ bản trong nền kinh tế thị trường, là động lực của tăng

trưởng kinh tế Tổng cầu là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các tác nhân trong nền

kinh tế (Doanh nghiệp, các nhà sản xuất) sẽ sử dụng tương ứng với giá, thu nhập và một

số biến khác đã biết Còn tổng cung là một bộ phận khối lượng sản phẩm quốc dân mà

các hãng sẽ sản xuất và sẵn sàng bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng

sản xuất và chi phí sản xuất đã cho

Có hai phương thức tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu đó là: tác động

trực tiếp và tác động gián tiếp Nếu sử dụng vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của quá

trình trực tiếp tạo ra sản phẩm, tác động đó là trực tiếp Còn nếu đem vốn đầu tư vào các

yếu tố đầu vào khác như: khoa học công nghệ, lao động từ đó tác động đến tổng cung

và tổng cầu trong nền kinh tế, tác động đó là gián tiếp

Cơ chế tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu ra sao?

Về mặt tổng cầu: Đầu tư là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn

bộ nền kinh tế Đầu tư tác động đến đường tổng cầu làm đường tổng cầu dịch chuyển và

sự tác động của đầu tư tới tổng cầu là sự tác động ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay

đổi, sự tăng lên về nhu cầu các yếu tố sản xuất tức tổng cầu tăng, dẫn tới sản lượng cân

bằng và giá cả các yếu tố đầu vào tăng lên

Trang 14

Về mặt tổng cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi

vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lượng

tiềm năng tăng lên trong khi giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Tăng tiêu dùng đến

lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ

bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội Tăng thu nhập cho người lao động, nâng

cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội Đây là tác động có tính chất dài hạn của

đầu tư Vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đầu tư chính ở điểm này

b) Đ u t  là m t nhân t  tác đ ng đ n s   n đ nh và phát tri n kinh t   

Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng

cung của nền kinh tế, làm cho mỗi sự thay đổi trong đầu tư, dù là tăng hay giảm đều

cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định

Bên cạnh những tác động tích cực do hoạt động đầu tư mang lại như: Tăng sản

lượng sản phẩm, tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, chuyển dịch cơ

cấu kinh tế hợp lý, cải thiện đời sốg, tăng thu nhập…thì hoạt động đầu tư cũng có nhiều

tác động tiêu cực đó là tác động đến môi trường (nếu đầu tư không hợp lý); làm giá cả

tăng lên trong một chừng mực nhất định dẫn đến lạm phát; đến lượt mình lạm phát làm

cho sản xuất đình trệ, đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn, thâm hụt ngân sách,

phát triển kinh tế chậm lại

c) Đ u t  tác đ ng đ n chuy n d ch c  c u kinh t  

Một số cơ cấu kinh tế quan trọng:

- Cơ cấu kinh tế ngành (Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ):trong những năm gần đây

cơ cấu ngành của Việt Nam: Công nghiệp: 33%, nông nghiệp: 27%, dịch vụ: 40%

- Cơ cấu kinh tế theo vùng: Việt Nam chia làm 7 vùng cơ bản (vùng núi phía Bắc;

Vùng đồng bằng Bắc Bộ; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Nam Trung Bộ; vùng Đông

Nam Bộ; vùng Tây Nguyên; vùng Tây Nam Bộ)

- Cơ cấu thành phần kinh tế

- Cơ cấu đầu tư sản xuất - phi sản xuất

- Cơ cấu đầu tư theo cơ cấu công nghệ của vốn

Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu để có tăng trưởng

nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%/năm) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự

Trang 15

phỏt triển nhanh ở khu vực cụng nghiệp và dịch vụ Đối với cỏc ngành lõm ngư nghiệp

do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5

đến 6%/năm là rất khú khăn Như vậy chớnh đầu tư quyết định quỏ trỡnh chuyển dịch cơ

cấu kinh tế của cỏc quốc gia, nhằm đạt tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn nền kinh tế

Một cơ cấu đầu tư đỳng sẽ cú tỏc dụng:

Thứ nhất, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phự hợp với quy hoạch phỏt triển, chiến

lược phỏt triển kinh tế xó hội của ngành, vựng

Thứ hai, tạo ra một cõn đối trờn phạm vi nền kinh tế giữa cỏc ngành, cỏc vựng và

lónh thổ

Thứ ba, phỏt huy được nội lực của vựng, của nền kinh tế trong khi vẫn xem trọng

yếu tố ngoại lực

Để đỏnh giỏ mức gia tăng trong tổng sản lượng quốc gia, cỏc nhà kinh tế thường bắt

đầu với việc ước tớnh tỷ lệ tớch luỹ và khối lượng sản phẩm đầu ra thuần tuý được tạo ra

từ đầu tư thuần Nhiều nghiờn cứu đó cố gắng lượng hoỏ lượng vốn cần thiết để tăng sản

lượng đầu ra thờm một đơn vị mỗi năm trong một khu vực hay của cả nền kinh tế Giỏ trị

tớnh được này gọi là tỷ số vốn - sản lượng hay hệ số vốn

Tỷ lệ gia tăng giữa vốn so với sản lượng viết tắt là ICOR được xỏc định bằng tỷ số

giữa khối lượng vốn tăng thờm với phần gia tăng của GDP hay suất đầu tư cần thiết để

tăng sản lượng đầu ra thờm một đơn vị Mụ hỡnh Harrod- Domar đó làm rừ ý nghĩa này

Theo tỏc giả, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc vào tỷ số vốn đầu tư - sản

lượng và năng suất của vốn đầu tư

Tỷ lệ vốn đầu tư/GDPTốc độ tăng trưởng GDP =

ICORNếu ICOR khụng đổi, tốc độ tăng GDP hoàn toàn phụthuộc vào vốn đầu tư

Hệ số ICOR của một nước, một vựng phụ thuộc vào trỡnh độ phỏt triển và cơ chế

chớnh sỏch trong từng thời kỳ Khi hai yếu tố thay đổi thỡ ICOR cũng thay đổi

Hệ số ICOR ở cỏc nước phỏt triển cao hơn cỏc nước đang phỏt triển bởi vỡ ở cỏc

nước kinh tế phỏt triển thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho

Trang 16

lao động, sử dụng nhiều công nghệ có giá trị cao Còn ở các nước chậm phát triển thường

thiếu vốn, thừa lao động, sử dụng lao động để thay thế cho vốn, sử dụng công nghệ kém

hiện đại, giá rẻ

Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn đề đảm bảo

các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc dân dự kiến Thực

vậy, ở nhiều nước đầu tư đóng vai trò như một “cái hích ban đầu”, tạo đà cho sự cất cánh

nền kinh tế

Công nghệ theo nghĩa chung nhất là một công cụ nhằm biến đổi nguồn lực tự nhiên

thành sản phẩm hàng hoá Công nghệ làm tăng khả năng cơ bắp và trí tuệ của con người

nhằm mục tiêu vì lợi ích cộng đồng

Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự

phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của mỗi nước bởi vì để có công nghệ cần

phải có một nguồn vốn đầu tư lớn Do vậy đầu tư có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến

tạo ra công nghệ cả nội sinh lẫn ngoại sinh

Một vài điều cần lưu ý, đối với các nước đang phát triển do lợi thế về quy mô lao

động nên có thể xem xét đầu tư vào những kỷ thuật mà dùng nhiều lao động thay thế cho

vốn, tuy nhiên không thể lấy tiêu chuẩn cực đại hoá việc thu hút lao động làm thu hút

đầu tư Cần phải có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp; trên cơ sở đó để

phát huy lợi thế so sánh của đơn vị và toàn nền kinh tế quốc dân

Một đội ngũ lao động có chất lượng tốt là đội ngũ lao động có trình độ tay nghề,

trình độ chuyên môn, thể lực tốt, có kỷ luật lao động Các tiêu chí để đo lường chất

lượng lao động đó là năng suất lao động và chất lượng sản phẩm

Để nâng cao chất lượng đội ngũ lao động không thể không tiến hành các hoạt động

đầu tư cho giáo dục và đào tạo, y tế, trả lương và thu nhập cho người lao động, đầu tư

vào điều kiện làm việc Qua đó ta có thể nói rằng đầu tư là yếu tố cơ bản, quan trọng ảnh

hưởng tới việc năng cao chất lượng đội ngũ lao động

Trang 17

1.1.5 Nguồn vốn đầu tư phát triển

Nguồn vốn đầu của một đất nước được hình thành từ hai nguồn cơ bản đó là nguồn

vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Vốn đầu tư trong nước được hình thành từ các nguồn sau đây:

- Vốn tích luỹ từ ngân sách

- Vốn tích luỹ của các doanh nghiệp

- Vốn tiết kiệm của dân cư

- Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: vốn đầu tư trực tiếp (FDI), vốn đầu tư gián tiếp (chủ

yếu ODA)

1.1.5.1 Nguồn vốn huy động trong nước

Nguồn vốn trong nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các nguồn lực

đưa vào vòng chung chuyển của nền kinh tế Nó không chỉ bao gồm tiền vốn biểu hiện

bằng tài sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao động, đất đai, tài nguyên… mà nó còn bao

gồm cả những giá trị tài sản vô hình như vị trí địa lý, thành tựu khoa học công nghệ, bản

quyền phát minh sáng chế

Các bộ phận cấu thành nguồn vốn trong nước đó là vốn tích luỹ từ ngân sách; vốn

tích luỹ các doanh nghiệp; vốn tiết kiệm dân cư

Vốn tích luỹ từ ngân sách (Tiết kiệm của chính phủ) là nguồn vốn được hình thành

từ thu thuế, phí và lệ phí, các khoản viện trợ hoặc các khoản thu khác Về nguyên tắc vốn

tích luỹ từ ngân sách được xác định bằng cách lấy tổng thu nhập trừ đi các khoản chi

tiêu Đối với Chính phủ đặc biệt là Chính phủ các nước đang phát triển chi cho đầu tư

phát triển là một nhiệm vụ chi quan trọng Do vậy tình trạng phổ biến là bội chi ngân

sách, nhưng đầu tư vẫn được coi là một nội dung chi tiêu quan trọng Các khoản chi của

Chính phủ qua ngân sách Nhà nước bao gồm: chi mua hàng hóa và dịch vụ (gồm chi

hoạt động thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển); các khoản trợ cấp và chi trả lãi

suất các khoản tiền vay Các khoản thu của Chính phủ chủ yếu thu từ thuế, một phần là

các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác

Vốn tích luỹ các doanh nghiệp (Tiết kiệm doanh nghiệp) là nguồn vốn tích luỹ của

các doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Đối với Doanh

Trang 18

nghiệp quốc doanh, vốn đầu tư được hình thành từ nhiều nguồn bao gồm: Vốn ngân

sách, vồn khấu hao cơ bản, vốn viện trợ qua ngân sách, vốn tự có, vốn vay, phát hành trái

phiếu, vốn góp liên doanh liên kết với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Đối với

doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nguồn vốn đầu tư bao gồm: vốn tự có, vốn vay, vốn cổ

phần, vốn liên doanh liên kết với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Đối với các

công ty cổ phần, vốn đầu tư ngoài các nguồn trên còn bao gồm tiền thu được do phát

hành trái phiếu (nếu có đủ điều kiện theo qui định của Luật Doanh nghiệp) Về nguyên

tắc tiết kiệm của các doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu của doanh nghiệp

và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Tiết kiệm của dân cư là nguồn nhỏ lẻ nằm phân tán trong dân chúng nhưng cũng

chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội Mức tiết kiệm của

dân cư một mặt phụ thuộc vào mức thu nhập của họ, mặt khác tuỳ thuộc vào mức lãi suất

tiền gửi tiết kiệm và chính sách ổn định tiền tệ của Nhà nước

1.1.5.2 Nguồn vốn huy động nước ngoài

Bao gồm vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu tư trực tiếp

Vốn đầu tư gián tiếp là vốn của chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi

chính phủ được thực hiện dưới các hình thức khác nhau là viện trợ hoàn lại, viện trợ

không hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, kể cả vay theo hình thức

thông thường Một hình thức đầu tư gián tiếp tồn tại dưới loại hình ODA-viện trợ phát

triển chính thức của các nước công nghiệp phát triển Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn

cho nên có tác dụng mạnh và nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát

triển kinh tế, xã hội của nước nhận đầu tư

Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu

tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu

hồi số vốn bỏ ra Vốn này thường không đủ lớn để giải quyết dứt điểm từng vấn đề kinh

tế xã hội của nước nhận đầu tư Tuy nhiên, với số vốn đầu tư trực tiếp nước nhận đầu tư

không phải lo trả nợ, lại có thể dễ dàng có được công nghệ, kể cả công nghệ bị cấm xuất

theo con đường ngoại thương; học tập được kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc

theo lối công nghiệp của nước ngoài, gián tiếp có chỗ đứng trên thị trường thế giới

Trang 19

Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, một vấn đề nan giải là

thiếu vốn và từ đó dẫn tới thiếu nhiều thứ khác Để thu hút nhanh nguồn vốn đầu tư trực

tiếp từ nước ngoài đòi hỏi các nước cần phải tạo lập môi trường thuận lợi, thông thoáng,

hấp dẫn cho nhà đầu tư như cung cấp cơ sở hạ tầng (Giao thông liên lạc, điện, nước…),

tạo lập đồng bộ cơ chế chính sách, luật pháp đặc biệt là luật đầu tư nước ngoài cần phải

thực sự “trên thoáng, dưới thông”, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu

công nghệ cao hướng thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào.Mối quan hệ vốn đầu tư

trong nước và vốn nước ngoài

Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, nguồn vốn trong nước có vai trò rất

quan trọng, nó quyết định trực tiếp tới sự phát triển kinh tế xã hội của từng nước, là

nguồn vốn bảo đảm tăng trưởng một cách bền vững, ổn định, đưa đất nước đến sự phồn

vinh một cách chắc chắn mà không phụ thuộc vào nước ngoài Điều đó được thể hiện ở

việc chúng ta có thể nắm giữ, tập trung được nguồn vốn này, chủ động bố trí được cơ cấu

đầu tư theo mục tiêu phát triển của từng thời kỳ phù hợp với trình độ phát triển của đất

nước

Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội

của một quốc gia bởi vì :

Thứ nhất, nó có vai trò quan trọng trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội

bởi lẽ đây là lĩnh vực đầu tư đem lại tỷ suất lợi nhuận thấp, thậm chí nhiều trường hợp

không thể thu hồi vốn, chịu nhiều yếu tố bất định của tự nhiên, kinh tế xã hội và thời

gian thu hồi vốn đầu tư kéo dài - đó là lý do các nhà đầu tư nước ngoài không muốn hoặc

không giám đầu tư vào Song cơ sở hạ tầng lại có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự

phát triển của một quốc gia

Thứ hai, vốn trong nước có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở

các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, từ đó nâng cao đời sống dân cư ở các khu vực này,

giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực thành thị và nông thôn Đồng thời

còn tácđộng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo ra sự phát triển cân đối Mặt khác, vốn

trong nước quyết định thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế xã hội, những mục tiêu

liên quan đến giáo dục, y tế, quốc phòng - an ninh

Trang 20

Thứ ba, vốn trong nước lại có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước

ngoài, vì cơ sở vật chất kỹ thuật để có thể tiếp thu và phát huy tác dụng của vồn đầu tư

nước ngoài đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế lại là khối lượng vốn đầu tư trong

nước Đồng thời vốn đầu tư trong nước là bộ phận vốn đối ứng để thu hút vốn đầu tư

nước ngoài

Bên cạnh vốn đầu tư trong nước có vai trò quyết định đến phát triển kinh tế của mỗi

quốc gia, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng đặc biệt đối với các nước

đang phát triển như Việt Nam Điều đó được thể hiện ở chỗ Nó tạo nguồn vốn bổ sung

quan trọng cho nền kinh tế, do nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp nên vốn

đầu tư nước ngoài là sự bù đắp rất lớn sự thiếu hụt về vốn Mặt khác nguồn vốn đầu tư

nước ngoài đặc biệt là vốn FDI đóng góp một phần quan trọng vào việc tăng kim ngạch

xuất nhập khẩu, mở rộng thị trường, góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ,

học hỏi kinh nghiệm quản lý Đồng thời nó là nguồn vốn hỗ trợ hoàn thiện cơ cấu kinh

tế Từ vai trò và mối quan hệ giữa các nguồn vốn một lần nữa cho phép chúng ta khẳng

định để phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nguồn vốn đầu tư trong nước quyết

định và vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng

1.2 Đầu tư XDCB

1.2.1 Khái niệm đầu tư XDCB

Xây dựng cơ bản là một hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản

xuất mở rộng các tài sản cố định có tính chất sản xuất và không có tính chất sản xuất cho

các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng

lại, hiện đại hoá hay khôi phục các tài sản cố định

Xây dựng mới là tạo ra những tài sản cố định chưa có trong bảng cân đối tài sản cố

định của nền kinh tế, thông qua quá trình này nền kinh tế có thêm tài sản cố định hay

trong danh mục tài sản cố định của nền kinh tế có thêm một tài sản mới

Xây dựng mở rộng là hoạt động đối với những cơ sở đã tồn tại người ta mua thêm

máy móc, xây dựng thêm các nhà xưởng, làm tăng giá trị TSCĐ đã có

Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung Đó là việc bỏ vốn để

tiến hành các hoạt động XDCB (từ việc khảo sát quy hoạch đầu tư, thiết kế và xây dựng

Trang 21

cho đến khi lắp đặt máy móc thiết bị để hoàn thiện cơ sở vật chất) nhằm tái sản xuất giản

đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế

1.2.2 Đặc điểm đầu tư XDCB

XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung nên đầu tư XDCB có đầy đủ

các đặc điểm và các tính chất của hoạt động đầu tư Trong đó nổi lên các đặc điểm cơ

bản là đặc thù của hoạt động đầu tư XDCB đó là:

- Thứ nhất, sản phẩm của đầu tư XDCB có tính cố định, nơi sản xuất cũng là nơi tiêu

thụ sản phẩm Từ đặc điểm đó chúng ta thấy sự phát huy tác dụng sau này của tài

sản cố định sẽ chịu tác động rất lớn môi trường kinh tế xã hội nơi tạo ra nó Như

vậy sản xuất di động, tư liệu sản xuất di động, sức lao động di động (vì sản phẩm

cố định tại chỗ nên các yếu tố khác đều phải di động) Từ đó đặt ra đối với hoạt

động XDCB phương pháp quản lý phức tạp hơn Và cũng do tính chất này nên

trong hoạt động tìm địa điểm xây dựng công trình chuẩn bị đầu tư là một khâu rất

quan trọng, có những công trình xây dựng tại địa điểm không hợp lý, toàn bộ chi

phí do chuyển địa điểm rất lớn Tìm địa điểm cho sản phẩm có tính cố định là điều

kiện tiên quyết trước khi tiến hành khởi công xây dựng công trình

- Thứ hai, sản phẩm XDCB có khối lượng lớn, chiếm diện tích lớn nên chịu ảnh hưởng

lớn của môi trường, khí hậu, thời tiết

- Thứ ba, thời gian XDCB và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu Từ đặc điểm

thời gian xây dựng dài nên ứ đọng vốn đối với hoạt động đầu tư XDCB lớn, càng ứ

đọng vốn càng thiệt hại lớn vì khối lượng vốn lớn, khối lượng sản phẩm lớn Hơn

nữa do thời gian xây dựng lâu nên chịu ảnh hưởng của các yếu tố như giá trị đồng

tiền, điều kiện thời tiết, tình hình chính trị Thời gian càng dài các yếu tố khác đó

càng thay đổi Nếu tác động từ các yếu tố đó theo chiều hướng xấu sẽ dẫn đến tổn

thất lớn Và sản phẩm XDCB tồn tại lâu, nếu tác động từ các yếu tố trên tốt, chất

lượng công trình tốt thì thành quả hoạt động đầu tư XDCB càng phát huy tác dụng

tốt trong thời gian dài, đóng góp lớn cho nền kinh tế, văn hoá xã hội, có những

công trình tồn tại vĩnh viễn và ngược lại

- Thứ tư, vốn cho hoạt động đầu tư XDCB lớn Do sản phẩm có khối lượng lớn, thời

gian xây dựng và tồn tại của sản phẩm XDCB dài nên chi phí cho đầu tư XDCB

Trang 22

chiếm từ 20 - 25% GDP (chi cho TSCĐ), một phần nếu sử dụng không hợp lý gây

ra thiệt hại lớn

- Thứ năm, tính đơn chiếc và chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm rất rõ của đầu

tư XDCB Tính đơn chiếc có nghĩa không có sản phẩm XDCB nào giống sản phẩm

nào Dù thiết kế giống nhau, sản phẩm cố định nhưng địa điểm khác nhau, thời tiết

khí hậu các vùng khác nhau sản phẩm không giống nhau hoàn toàn, chi phí sản

xuất cũng không giống nhau Từ tính đơn chiếc ta thấy mỗi một công cuộc đầu tư

tính chất quản lý khác nhau, giữa các công trình, dự án khác nhau đòi hỏi phương

pháp và trình độ quản lý thay đổi linh hoạt cho phù hợp với điều kiện cụ thể và

cũng vì tính đơn chiếc gây ra tính không ổn định cho quá trình thi công xây lắp

Tính cố định của sản phẩm XDCB cũng ảnh hưởng lớn đến tính đơn chiếc Tính

đơn chiếc nó không chỉ chịu ảnh hưởng của yếu tố kinh tế mà còn chịu ảnh hưởng

của yếu tố kỹ thuật

1.2.3 Vai trò đầu tư XDCB

Để đảm bảo cho nền kinh tế và xã hội không ngừng phát triển, sản xuất kinh doanh

được mở rộng, điều trước hết và căn bản là phải đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư

XDCB Trong một nền kinh tế xã hội, đối với bất kỳ một phương thức sản xuất nào cũng

đều phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật tương ứng Việc đảm bảo tính tương ứng đó là nhiệm

vụ của hoạt động đầu tư XDCB

Đầu tư XDCB là điều kiện cần thiết để phát triển tất cả các ngành kinh tế quốc dân

và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng Những năm qua nước ta do tăng cường đầu tư

XDCB, cơ cấu kinh tế đã có những biến đổi quan trọng Cùng với việc phát triển các

ngành kinh tế vốn có như cơ khí chế tạo, luyện kim, hoá chất, vận tải, nhiều ngành kinh

tế mới đã bắt đầu xuất hiện như: Bưu điện, hàng không…nhiều khu công nghiệp, nhiều

vùng kinh tế mới đã và đang được hình thành

Đầu tư XDCB là tiền đề cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ sở

sản xuất kinh doanh và dịch vụ, từ đó nâng cao năng lực sản xuất cho từng ngành và toàn

bộ nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện phát triển và nâng cao sức sản xuất xã hội, tăng

nhanh giá trị sản xuất và giá trị tổng sản phẩm trong nước, đồng thời nâng cao đời sống

Trang 23

vật chất tinh thần của người nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản về

chính trị, xã hội…

Đầu tư XDCB tạo nên một nền tảng cho việc ứng dụng những công nghệ mới, góp

phần thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế Nhà nước phù hợp với tình hình

hiện nay

1.2.4 Vốn đầu tư XDCB

Vốn đầu tư XDCB là nguồn vốn đầu tư dùng để tạo mới hoặc thay thế, đổi mới tài

sản cố định của các lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất vật chất cho nền kinh tế

quốc dân Do đó vốn đầu tư XDCB là thành phần tích cực trong vốn đầu tư toàn xã

hội.Hay nói cách khác vốn đầu tư XDCB là tổng chi phí nhằm đạt được mục đích đầu tư

bao gồm: chi phí cho công tác thăm dò khảo sát và thiết kế; chi phí cho công tác xây

dựng; chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng

dự toán

Vốn đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, nó là

một trong những yếu tố cần thiết để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế

quốc dân Vốn đầu tư XDCB góp phần đưa các thành tựu khoa học kỹ thuật vào xây

dựng và cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao được năng lực sản xuất và phục vụ

1.2.5 Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB

Vốn đầu tư XDCB được hình thành từ các nguồn sau đây:

-Vốn ngân sách Nhà nước: Bao gồm vốn ngân sách Nhà nước và ngân sách địa

phương Vốn ngân sách Nhà nước hình thành từ tích luỹ của nền kinh tế và được Nhà

nước bố trí trong kế hoạch ngân sách để cung cấp cho các đơn vị thực hiện các công trình

thuộc kế hoạch Nhà nước

-Vốn tín dụng đầu tư: Bao gồm vốn ngân sách Nhà nước dùng để cho vay, vốn huy

động của các đơn vị kinh tế trong nước và các tầng lớp dân cư Vốn vay dài hạn của các

tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế và kiều bào ở nước ngoài

-Vốn đầu tư XDCB tự có của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi

thành phần kinh tế Đối với các xí nghiệp quốc doanh, vốn này được hình thành từ lợi

Trang 24

nhuận (sau khi đã nộp thuế cho Nhà nước), vốn khấu hao cơ bản để lại, tiền thanh lý tài

sản và các nguồn thu khác theo qui định của Nhà nước

-Vốn hợp tác, liên doanh với nước ngoài: Vốn này của các tổ chức, cá nhân nước

ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được

Nhà nước Việt Nam chấp thuận trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập

doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo qui định của Luật

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Vốn vay nước ngoài: Bao gồm vốn do Chính phủ vay

theo hiệp định ký kết với nước ngoài, vốn do các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ trực

tiếp vay của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và vốn do ngân hàng đầu tư phát triển đi

vay

-Vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài (chủ yếu từ quỹ hỗ trợ phát triển chính

thức - ODA)

-Vốn huy động nhân dân bằng tiền, nguyên liệu, công cụ lao động

1.2.6 Nội dung của vốn đầu tư XDCB

Nội dung của vốn đầu tư XDCB liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện quản lý

hoạt động đầu tư XDCB và là cơ sở để thanh toán khối lượng thực hiện công tác đầu tư

XDCB Nội dung của vốn đầu tư XDCB bao gồm:

1.2.6.1 Vốn đầu tư cho xây dựng và lắp đặt (vốn cho xây lắp)

Vốn đầu tư xây dựng là các chi phí để xây dựng mới, mở rộng và khôi phục các

loại nhà cửa, vật kiến trúc (sử dụng lâu dài hoặc sử dụng tạm thời) có ghi trong dự toán

xây dựng

Vốn lắp đặt là các chi phí cho việc lắp đặt thiết bị máy móc vào nền bệ cố định (gắn

liền với công dụng của tài sản cố định mới tạo, kế cả chi phí chạy thử để kiểm tra chất

lượng máy Trong phần vốn này không bao gồm giá trị thiết bị và chi phí chạy thử để

kiểm tra thiết bị trước khi lắp đặt)

Phần vốn xây dựng và lắp đặt chỉ có tác dụng tạo nên phần vỏ bao che cho công

trình, nó không trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội Vì vậy ta có thể tìm mọi biện pháp

hợp lý trong thiết kế quy hoạch mặt bằng, hình khối kiến trúc, giải pháp kết cấu và sử

dụng các loại vật liệu xây dựng có hiệu quả để giảm bớt phần vốn này đến mức tối đa

Trang 25

1.2.6.2 Vốn đầu tư mua sắm máy móc thiết bị cho đối tượng xây dựng

Đó là toàn bộ vốn để mua sắm, vận chuyển và bốc dở các máy móc thiết bị, các

công cụ sản xuất của công trình từ nơi mua đến tận chân công trình Phần vốn này là tích

cực vì nó trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội sau khi xây dựng xong Cho nên, việc tăng

tỷ trọng của phần vốn thiết bị trong vốn đầu tư XDCB là một phương hướng tích cực

nhất trong việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư

1.2.6.3 Những chi phí XDCB khác (làm tăng và không làm tăng giá trị tài sản cố định)

Là những phần vốn chi cho các công việc có liên quan đến xây dựng công trình

như: Chi phí thăm dò khảo sát, thiết kế công trình, chi phí thuê hoặc mua thiết kế, mua

đất, đền bù hoa màu, di chuyển vật kiến trúc, chi phí chuẩn bị khu đất để xây dựng, chi

phí cho việc xây dựng các công trình tạm loại lớn phục vụ cho thi công (lán trại, kho

tàng, đường, điện, nước ), chi phí đào tạo cán bộ, công nhân vận hành sản xuất sau này,

chi phí lương chuyên gia (nếu có), chi phí chạy thử máy có tải, thử nghiệm và khánh

thành công trình

Trong những khoản chi phí của vốn kiến thiết cơ bản khác, có một số khoản chi phí

khi quyết toán công trình được tính vào giá trị tài sản cố định của công trình (làm tăng

giá trị tài sản cố định) như chi phí phục vụ cho thiết kế, mua đất xây dựng; còn lại các

chi phí khác là những chi phí không làm tăng giá trị TSCĐ như chi phí đào tạo, chi phí

khánh thành công trình, chi phí cho công tác xây lắp đã tiến hành nhưng bị đình chỉ hoàn

Vốn đầu tư XDCB là căn cứ để xác định giá trị tài sản cố định Quy mô và tốc độ

của nó quyết định đến quy mô của TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân Thực hiện vốn đầu

tư XDCB sẽ làm tăng quy mô tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân, là yếu tố quyết

định cho việc tăng năng lực sản xuất và tăng năng suất lao động xã hội

Trang 26

1.3 Đầu tư XDCB ngành điện

1.3.1 Các khái niệm

1.3.1.1 Năng lượng và hệ thống năng lượng

Năng lượng theo cách nhìn tổng quát là rất rộng lớn trong vũ trụ, cả thế giới là năng

lượng, chỉ riêng năng lượng mặt trời đã có trữ lượng gấp hàng chục tỷ lần năng lượng

tiêu thụ trên thế giới hàng năm Nhưng năng lượng ngày càng gay cấn và là vấn đề rất

lớn của thế giới Điều đó thật là dễ hiểu, để có năng lượng dùng được ở những những hộ

tiêu thụ, năng lượng sơ cấp phải trải qua nhiều công đoạn như khai thác, chế biến, vận

chuyển và phân phối Các công đoạn này đòi hỏi nhiều chi phí về vốn, kỹ thuật và các

ràng buộc xã hội

Năng lượng sơ cấp tồn tại dưới các dạng như: Hoá năng, thế năng, động năng, nhiệt

năng, cơ năng, năng lượng hạt nhân Sau khi khai thác qua các công đoạn biến đổi (nhà

máy điện, nhà máy lọc dầu ) năng lượng sơ cấp chuyển thành năng lượng thứ cấp như:

Điện năng, nhiệt năng, khí đốt…Năng lượng thứ cấp được phân phối tới các hộ tiêu thụ

Các thiết bị tiêu thụ năng lượng (động cơ điện, lò nhiệt ) biến đổi năng lượng cuối thành

năng lượng hữu ích Năng lượng hữu ích được biễu diễn dưới dạng KWh, Kcal

Năng lượng được sử dụng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, giao thông,

sinh hoạt Nhu cầu tiêu thụ năng lượng phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế xã hội của mỗi

nước, mỗi khu vực

Hệ thống năng lượng bao gồm các nguồn năng lượng, các khâu chế biến, truyền tải,

phân phối và tiêu thụ năng lượng Hệ thống năng lượng thường được xây dựng theo địa

dư, vùng, một quốc gia hay một khu vực các quốc gia

1.3.1.2 Hệ thống điện và đầu tư phát triển ngành Điện

Hệ thống điện là một phần của hệ thống năng lượng, bao gồm các nhà máy điện,

mạng điện và các hộ tiêu thụ (các doanh nghiệp, các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất, các hộ

gia đình)

Nhà máy điện có nhiệm vụ biến đổi năng lượng sơ cấp như: than, khí đốt, thuỷ

năng thành điện năng và nhiệt năng Các nhà máy điện nối với nhau thành hệ thống nhờ

các trạm biến áp và đường dây điện (gọi chung là mạng điện)

Trang 27

Nhà máy điện bao gồm: nhà máy nhiệt điện, nhà máy thuỷ điện, nhà máy điện dùng

sức gió, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy điện dùng năng lượng mặt trời

Mạng lưới điện bao gồm các trạm biến áp và các đường dây truyền tải điện Tuỳ

theo phạm vi mà người ta phân thành mạng điện khu vực và mạng điện địa phương hoặc

mạng chuyền tải, mạng phân phối và mạng cung cấp Các trạm biến áp có nhiệm vụ nối

các đường dây với cấp điện áp khác nhau trong hệ thống chung và trực tiếp cung cấp

điện năng cho các hộ tiêu thụ

Lưới truyền tải là các đường dây có điện áp từ 110 KV trở lên (200, 500 KV ) Còn

lưới phân phối các đường dây và các trạm biến áp phân phối có điện áp từ 35 KV trở

xuống

Trạm biến áp là các trạm biến đổi điện áp gồm các máy biến áp, các thiết bị bảo vệ

và chuyên dùng khác kèm theo

Máy biến áp là máy biến đổi điện áp trong đó có các loại máy tăng áp và hạ áp

Công suất máy biến áp là năng lực biến đổi điện áp, có thể nâng lên hoặc hạ xuống

tuỳ theo điện áp cụ thể

Dung lượng trạm biến áp là năng lực biến đổi điện áp của trạm Trong một trạm có

thể có một hay nhiều máy biến áp tuỳ thuộc yêu cầu sử dụng

Năng lượng được các nhà máy điện phát ra thông thường ở điện áp 6 hay 10,5 kV

sẽ đưa đến thanh cái chính của nhà máy Sau đó điện áp được nâng cao nhờ các trạm

tăng áp Trạm tăng áp gồm có các máy biến áp để nâng điện áp đến 35, 66, 110 và 220

kV hoặc hơn nữa Đường dây cao áp truyền tải điện năng đi xa và sẽ đưa đến các trạm hạ

áp Các trạm hạ áp sẽ hạ điện áp truyền tải xuống đến 10, 15, hay 6 kV; Công suất điện

này sẽ cung cấp cho các trạm phân phối trung tâm và cho các trạm hạ áp nơi tiêu thụ

thông thường là 0,4/0,23kV Phụ tải là nơi tiêu thụ cuối cùng trong lưới điện, bao gồm

các nhà máy, công sở, các hộ tiêu dùng điện, ánh sáng sinh hoạt công cộng Điện thương

phẩm là điện bán cho các hộ tiêu dùng điện

Từ việc tìm hiểu các khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm đầu tư phát

triển ngành Điện như sau:

Đầu tư phát triển ngành Điện là một bộ phận cơ bản của đầu tư phát triển năng

lượng, là việc chi dùng vốn cùng các nguồn lực khác để xây dựng các nhà máy điện

Trang 28

nhằm biến đổi các dạng năng lượng sơ cấp thành điện năng, xây dựng mạng lưới truyền

tải và phân phối điện tới các hộ tiêu thụ; bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện

các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các nhà máy, hệ thống đường

dây nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của chúng và tạo ra tiềm lực mới cho nền kinh tế

1.3.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành Điện

Đầu tư XDCB của ngành điện là một bộ phận của hoạt động đầu tư phát triển ngành

điện nói chung Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB của ngành như xây

dựng mới, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các tài sản cố định (từ việc khảo sát

qui hoạch đầu tư, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ

sở vật chất kỹ thuật ) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố

định cho ngành và cho nền kinh tế quốc dân

Công nghiệp điện là một ngành công nghiệp, nó tiến hành khai thác, biến đổi các

dạng năng lượng sơ cấp (hoá năng: than đá, dầu, khí đốt ; động năng: năng lượng gió,

sóng biển ; nhiệt năng; năng lượng mặt trời thành năng lượng điện sử dụng cho sản

xuất và cho tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày

1.3.2.1 Đặc điểm sản phẩm điện năng

Mỗi một loại hàng hoá đều có đặc điểm riêng Các loại hàng hóa khác nhau về tính

chất lý hoá, giá tri, giá trị sử dụng…Điện năng cũng vậy, nó là một loại hàng hoá đặc

biệt hơn các hàng hoá khác Có nhiều đặc điểm khi nói về sản phẩm của ngành điện,

nhưng dưới góc độ kinh tế- kỹ thuật sản phẩm ngành có một số đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, sản phẩm của ngành điện vừa là tư liệu sản xuất, vừa là tư liệu tiêu dùng

Điện năng được sử dụng vào tất cả các ngành, các lĩnh vực (công nghiệp, nông

nghiệp, GTVT, bưu điện ) và sử dụng cho ánh sáng sinh hoạt và dân dụng

Điện năng là năng lượng chủ yếu của các xí nghiệp công nghiệp, các xí nghiệp này

tiêu thụ khoảng 70% tổng số điện năng được sản xuất ra Nó được sử dụng như một yếu

tố đầu vào phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh Do đó điện năng là tư liệu dùng cho

sản xuất Mặt khác, điện năng sử dụng để thắp sáng hàng ngày, phục vụ đời sống dân

sinh nên điện năng đồng thời là tư liệu tiêu dùng

Thứ hai, sản phẩm của ngành điện không thể tồn kho

Trang 29

Đặc điểm sản phẩm của tất cả các ngành sản xuất vật chất khác là có thể dự trữ, tồn

kho, riêng ngành điện sản phẩm của nó không thể tồn trữ được Đây là nét khác biệt cơ

bản nhất trong tính chất sản phẩm của ngành điện so với các ngành sản xuất vật chất

khác Do đó, đi đôi với việc đầu tư sản xuất ra điện năng là phải xây dựng hệ thống

truyền tải và phân phối điện

Thứ ba, điện năng được phân phối từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thông qua hệ

thống dây tải điện, hệ thống trạm biến áp cao thế, trung thế và hạ thế

Thứ tư, trong quá trình sản xuất như tiêu dùng sản phẩm này luôn luôn có một

lượng điện năng mất đi một cách vô ích Phần điện năng tổn thất cũng tương tự như tổn

hao tự nhiên của một số hàng hoá, hiện nay tổn thất điện năng Việt Nam là khoảng 15%

Tổn thất điện năng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tựu chung lại có thể qui về hai yếu tố cơ

bản sau:

Tổn thất điện năng do các yếu tố kỹ thuật gây ra như chất lượng dây dẫn, chất

lượng máy biến áp, cường độ dòng điện, cấp điện áp

Tổn thất do các nguyên nhân quản lý gây ra: quản lý không chặt chẽ dẫn đến tình

trạng ăn cắp điện, dùng điện thẳng không qua đồng hồ

Từ những đặc điểm trên đây, đòi hỏi ngành điện phải có biện pháp kỹ thuật, quản lý

phù hợp, tăng cường biện pháp tiết kiệm điện trong mọi lúc mọi nơi

1.3.2.2 Đặc điểm ngành Điện

Là một bộ phận hợp thành cơ cấu ngành công nghiệp, nên ngành điện có đầy đủ đặc

điểm của ngành công nghiệp Ngoài ra do tính chất đặc trưng về sản phẩm, cũng như qui

trình từ sản xuất, cung ứng và tiêu thụ điện mà ngành điện còn có những đặc điểm sau:

Ngành điện là một ngành công nghiệp nặng tính chất kỹ thuật và qui trình công nghệ

phức tạp nên đòi hỏi tính chuyên môn, kỹ thuật cao, khối lượng vốn cho đầu tư phát triển

lớn Đồng thời từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng phải trải qua một hệ thống đường

truyền dẫn trung gian được xây dựng ngoài trời do đó chịu ảnh hưởng rất lớn các tác

động của điều kiện tự nhiên, môi trường, thời tiết, khí hậu Mặt khác, độ nguy hiểm về

sản phẩm của ngành là rất lớn nếu như không có sự hiểu biết khoa học, không nắm rõ

nguyên lý kỹ thuật thì tác hại và tổn thất do điện năng mang đến cực kỳ lớn, cùng với

những đặc điểm trên nên ngành điện đòi hỏi độ an toàn rất cao

Trang 30

1.3.3 Đặc điểm đầu tư XDCB của ngành Điện

Đầu tư XDCB các công trình điện nằm trong hoạt động đầu tư XDCB nói chung

của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nên hoạt động đầu tư XDCB các công trình điện có đầy

đủ các đặc điểm của hoạt động đầu tư XDCB Ngoài ra do tính chất đặc thù về sản phẩm

điện năng cũng như tính chất, đặc điểm của ngành Điện nên hoạt động đầu tư XDCB của

ngành Điện có những đặc điểm riêng Với vai trò là ngành cung cấp tư liệu sản xuất và tư

liệu tiêu dùng cho xã hội Do đó ngành điện có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển

của các ngành khác và đối với toàn xã hội Trong quá trình phát triển đất nước theo

hướng CNH - HĐH, tất cả các ngành, lĩnh vực đều cùng phát triển với nhiều nhà máy,

trường học, bệnh viện…cùng mọc lên nên nhu cầu tiêu dùng điện ngày càng tăng lên

Nhưng với đặc điểm của điện - là một sản phẩm không thể tích luỹ trước, mà quá trình

sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do vậy đặc điểm của đầu tư cũng như đầu tư

XDCB trong ngành điện là phải: Đầu tư đi trước một bước so với các ngành khác, đầu tư

trước về máy móc, thiết bị, nguồn, trạm và đường dây để khi có phát sinh nhu cầu của

ngành khác thì sẽ có điện để cung cấp kịp thời và không làm trễ thời gian của hoạt động

sản xuất kinh doanh

Đầu tư XDCB vào ngành điện đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn, vốn để xây dựng

các nhà máy điện, trạm điện, đường dây theo một hệ thống đồng bộ mới có thể truyền tải

và phân phối điện tới nơi tiêu thụ Để sản xuất ra điện năng có thể từ nhiều nguồn khác

nhau: Thuỷ điện, nhiệt điện, năng lượng hạt nhân…với mỗi phương thức khác nhau đòi

hỏi khối lượng vốn sử dụng khác nhau Do đó mỗi đất nước, mỗi khu vực, mỗi vùng có

thể lựa chọn phương thức nào phù hợp nhất với điều kiện hiện có để sản xuất ra điện hợp

lý, an toàn và hiệu qủa nhất

Để có được sản phẩm cuối cùng là điện năng đòi hỏi ngành điện phải đầu tư vào

nguồn, trạm và đường dây Đầu tư trong ngành điện chủ yếu là đầu tư về về kỹ thuật,

máy móc chứ không đòi hỏi đầu tư vào mua nguyên nhiên vật liệu như các ngành khác

Đầu tư XDXB nguồn điện là đầu tư vào các nhà máy điện, đầu tư vào trạm, đường dây

là đầu tư để mua những thiết bị máy móc mới, hiện đại Nói tóm lại những lĩnh vực cụ

thể cần đầu tư trong ngành điện là:

-Thứ nhất, đầu tư vào con người: Ngành điện là một ngành đặc thù về kỹ thuật,

nguy hiểm, yêu cầu độ an toàn cao, không giống như những ngành sản xuất khác, trong

Trang 31

lĩnh vực sản xuất và phân phối điện không phải bất kỳ người nào cũng có thể làm được

mà đòi hỏi người công nhân phải có trình độ chuyên môn cao, không được có bất kỳ một

sai sót nào, nếu không dễ nguy hiểm đến tính mạng của nhiều người dân Chính vì vậy

đầu tư đào tạo con người là một trong những yếu tố hàng đầu

-Thứ hai, đầu tư vào thiết bị: Để có nguồn sáng cung cấp cho nhu cầu của xã hộilà

cả một quá trình sản xuất diễn ra liên tục và phức tạp với nhiều máy móc thiết bị để tạo

nên một hệ thống điện (Gồm: Nguồn phát điện, lưới truyền tải và hệ thống phân phối)

Như vậy đầu tư vào con người và đầu tư vào thiết bị là yếu tố cơ bản để tạo nên sự

phát triển bền vững của ngành điện

1.3.4 Vai trò, nhiệm vụ đầu tư XDCB các công trình điện

Chúng ta có thể khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế muốn xây dựng

nước mình trở thành một nước công nghiệp mà không đầu tư phát triển ngành điện Do

đó ngành điện là một ngành công nghiệp hàng đầu, quan trọng để thực hiện đường lối

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là thước đo trình độ phát triển kinh tế, xã hội của

mỗi nước

Ngành điện là ngành công nghiệp sản xuất ra tư liệu sản xuất, là yếu tố đầu vào

không thể thiếu của mọi ngành trong một nền kinh tế hiện đại Do đó nó quyết định đến

trình độ sản xuất và năng suất lao động của các ngành khác cũng như của toàn xã hội, tạo

điều kiện phát triển các ngành có liên quan, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh

tế

Hơn nữa, là ngành sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, phục vụ đời sống, sinh hoạt cho các

tầng lớp dân cư trong xã hội Bởi vậy, ngành điện có ảnh hưởng tới việc nâng cao chất

lượng, trình độ và mức sống cho người dân trong xã hội Hội nhập nền kinh tế đất nước

với nền kinh tế khu vực và thế giới

1.3.4.1 Vai trò đầu tư XDCB các công trình điện

Hoạt động đầu tư XDCB các công trình điện là công cụ để thực hiện các nhiệm vụ

về sản xuất, kinh doanh, truyền tải điện tới khách hàng Một doanh nghiệp hay một xí

nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện năng muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh

phải thực hiện đầu tư XDCB các công trình cung cấp điện tới khách hàng

Trang 32

Đầu tư XDCB các công trình điện giải quyết mối quan hệ cung cầu về điện trên thị

trường Nền kinh tế ngày càng phát triển đi lên thì nhu cầu tiêu thụ điện cho sản xuất

kinh doanh, cho sinh hoạt ngày càng lớn, do đó việc tiếp tục đầu tư xây dựng các công

trình điện là điều kiện để đảm bảo nhu cầu điện thương phẩm không ngừng gia tăng

Điều đó có nghĩa khi đầu tư XDCB cần phải nghiên cứu nhu cầu, khả năng thanh toán

của khách hàng để đáp ứng nhu cầu đó một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất trong khả

năng của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện năng nói riêng, của toàn ngành điện nói

chung

Một vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động đầu tư XDCB các công trình điện

là việc góp phần cải thiện đời sống dân cư, nâng cao trình độ dân trí của các tầng lớp

nhân dân, cải tiến bộ mặt kinh tế - xã hội của từng vùng và từng địa phương Điện sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho người dân dễ dàng tiếp xúc với các công nghệ hiện đại trong

nước và trên thế giới, từ đó lựa chọn phương pháp sản xuất kinh doanh tốt

1.3.4.2 Nhiệm vụ đầu tư XDCB các công trình điện

Những nhiệm vụ cơ bản của hoạt động đầu tư xây dựng các công trình điện:

Thứ nhất, xây dựng các công trình đưa điện về các huyện, xã, nhất là các xã vùng

sâu vùng xa với chi phí hợp lý, đảm bảo có lợi cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

điện năng và cho người dân

Thứ hai, xây dựng các công trình phù hợp với nhu cầu của người dân, phù hợp với

chiến lược, qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ để

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng

trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân

Thứ ba, thực hiện xây dựng, cải tạo các trạm chống quá tải lưới điện (Đối với các

công ty điện lực chống quá tải lưới điện các đường dây 35 kV, 110 kV) Cải tạo thay thế

các công trình đã cũ nát, đảm bảo truyền tải điện một cách tốt nhất đến người tiêu dùng

Thứ tư, sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức nước ngoài, của

các địa phương thực hiện đầu tư xây dựng các công trình điện đạt hiệu quả cao nhất,

chống tham ô, lãng phí Đảm bảo xây dựng theo qui hoạch xây dựng, kiến trúc, đáp ứng

yêu cầu bền vững, mỹ quan, bảo vệ môi trường sinh thái; tạo môi trường cạnh tranh lành

Trang 33

mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây

dựng với chi phí hợp lý, thực hiện bảo hành công trình

Thứ năm, đưa ra các kế hoạch và các giải pháp đầu tư xây dựng mang tính thuyết

phục nhằm khuyến khích sự bỏ vốn của các tổ chức trong và ngoài nước, đảm bảo phụ

thuộc ít nhất vào nguồn vốn của Nhà nước

1.3.5 Trình tự đầu tư XDCB các công trình điện

1.3.5.1 Chuẩn bị đầu tư

Nội dung của kế hoạch này là lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi; báo cáo nghiên

cứu khả thi Kế hoạch chuẩn bị đầu tư phải căn cứ Tổng sơ đồ và qui hoạch được duyệt,

kế hoạch dài hạn của Tổng công ty

Trong kế hoạch CBĐT còn bao gồm cả phần kế hoạch về lập qui hoạch và về lập

Tổng sơ đồ do nhà nước giao

1.3.5.2 Thực hiện đầu tư

Kế hoạch này chỉ được ghi vào Kế hoạch đầu tư xây dựng khi đã có BCNCKT

được duyệt Kế hoạch thực hiện đầu tư có nhiệm vụ thực hiện phần thiết kế kỹ thuật

(TKKT) và lập tổng dự toán (TDT), ngoài ra còn phải thực hiện lập hồ sơ mời thầu

(HSMT), thiết kế kỹ thuật thi công (TKKTTC) và dự toán (DT) của công trình, nhằm

chuẩn bị điều kiện để đưa được các công trình vào Kế hoạch đầu tư xây dựng hàng năm,

làm cơ sở cho việc lập Kế hoạch đấu thầu hàng năm

Kế hoạch này được thể hiện những công trình đủ điều kiện đưa vào cân đối và bố

trí vốn đầu tư theo yêu cầu mục tiêu, tiến độ đã được Tổng công ty duyệt sau khi đã đủ

hồ sơ BCNCKT, TKKT, TDT, DT được duyệt

Trong kế hoạch thực hiện đầu tư xây dựng gồm hai loại công trình:

ƒ Loại công trình chuyển tiếp từ năm trước sang:

- Những công trình đã hoàn thành xây lắp nhưng bố trí đủ vốn so với DT và TDT được

duyệt hoặc giá trúng thầu đã được duyệt cho công trình

- Những công trình chưa thi công xong phải chuyển tiếp (Công trình có tiến độ thi

công nhiều năm)

Trang 34

- Những công trình thực hiện phần quyết toán: sau khi duyệt quyết toán còn thiếu vốn

phải được ghi Kế hoạch để hoàn trả

ƒ Các công trình khởi công mới trong năm Kế hoạch:

Các công trình khi đưa vào Kế hoạch đầu tư khởi công mới phải có đủ BCNCKT,

TKCS, TKKTTC, TDT, DT được duyệt và đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất của Tổng

công ty Đối với các công trình nhóm A, B nếu chưa có thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán

được duyệt nhưng trong quyết định đầu tư đã qui định mức vốn của từng hạng mục và có

thiết kế, dự toán hạng mục thi công trong năm thì được ghi Kế hoạch đầu tư Các công

trình nhóm C phải có đủ thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán được duyệt mới được ghi vào

Kế hoạch hàng năm Đối với các công trình nhóm C, theo qui định của Chính phủ thời

gian xây dựng không quá 2 năm (kể từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thành công

trình)

Trong Kế hoạch thực hiện đầu tư hàng năm sẽ ưu tiên cân đối vốn đầu tư cho các

công trình chuyển tiếp từ năm trước sang và trả nợ các công trình đã thanh quyết toán,

còn các công trình xây dựng mới sẽ căn cứ mức độ quan trọng để cân đối vốn Riêng đối

với công trình yêu cầu xây dựng cấp bách, công trình phục vụ chống quá tải sẽ được ưu

tiên đầu tư xây dựng trong năm kế hoạch

1.3.5.3 Kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng:

Giai đoạn này bao gồm những công trình đã hoàn thành giai đoạn thi công xây

dựng và nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng Trong quá trình thực hiện Kế hoạch đầu

tư xây dựng, khâu quyết toán cũng rất quan trọng của công tác đầu tư, nó là khâu cuối

cùng của công tác đầu tư xây dựng Sau khi công trình được bàn giao sử dụng phải được

quyết toán vốn đầu tư và phê duyệt quyết toán dứt điểm, không được kéo dài Vì vậy, các

ban quản lý dự án, các công ty Điện lực và các Công ty truyền tải Điện được giao quản

lý (Bên A) các công trình phải có trách nhiệm lập Kế hoạch làm căn cứ quyết toán các

công trình trong năm Kế hoạch để thực hiện Tổng công ty qui định các công trình đã

đưa vào sản xuất, sau 6 tháng với các công trình lưới điện, sau 1 năm với các công trình

nguồn điện phải được quyết toán xong, đối với một số công trình lớn, phức tạp có thể từ

1 đến 1 năm rưỡi sau phải quyết toán xong

Trang 35

1.4 Hiệu quả của đầu tư ngành điện

1.4.1 Khái niệm về hiệu quả đầu tư

Hiệu quả của dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, được đặc trưng bằng

các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và bằng các chỉ tiêu định

lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục

tiêu của dự án)

1.4.2 Phân loại hiệu quả đầu tư

1.4.2.1 Phân bại hiệu quả về mặt định tinh

a) Theo lĩnh v c ho t đ ng c a xã h i, hi u qu  có th  phân thành 

- Hiệu quả kinh tế (với cấp doanh nghiệp thường gọi là hiệu quả tài chính), ví dụ như

tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng mức thu ngân sách cho Nhà nước, đẩy mạnh

tốc độ phát triển kinh tế quốc dân

- Hiệu quả kĩ thuật, ví dụ việc đầu tư xây đựng để sản xuất các thiết bị tín học sẽ góp

phần đẩy mạnh tiến bộ khoa học và công nghệ cho các ngành kinh tế quốc dân

khác

- Hiệu quả xã hội, ví dụ dự án đầu tư có thể góp phần nâng cao mức sống của nhân

dân, giải quyết nạn thất nghiệp, tăng cường giáo dục và y tế, bảo vệ môi trường

- Hiệu quả quốc phòng, ví dụ các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực quốc phòng hoặc các dự

án đầu tư vừa có thể phục vụ phát triển kinh tế trong thời bình lại vừa có thể sử

dụng trong thời chiến

Riêng hiệu quả kinh tế có thể nhận được trực tiếp từ các dự án đầu tư cho sản xuất,

hoặc có thể nhận được gián tiếp từ các hiệu quả xã hội đem lại (ví dụ một dự án đầu tư

để nâng cao điều kiện bảo vệ sức khỏe cho người lao động có thể góp phần làm tăng

năng suất lao động cho xã hội)

- Hiệu quả của doanh nghiệp (trong phân tích dự án đầu tư thường được gọi là hiệu quả

tài chính)

Trang 36

- Hiệu quả đem lại cho Nhà nước và cộng đồng (trong phân tích dự án thường được gọi

là hiệu quả kinh tế- xã hội)

c) Theo ph m vi tác đ ng, hi u qu  có th  phân thành 

- Hiệu quả toàn cục: thể hiện lợi ích chung của một quốc gia, một cộng đồng nào đó

Nếu xét theo góc độ doanh nghiệp thì đó là hiệu quả của toàn doanh nghiệp

- Hiệu quả bộ phận: thể hiện lợi ích cửa một bộ phận nào đó nằm trong quốc gia hay

cộng đồng, hoặc của một đơn vị nào đó nằm trong doanh nghiệp

- Hiệu quả toàn cục và hiệu quả bộ phận có thể thống nhất với nhau, nhưng cũng có thể

có mâu thuẫn với nhau, ở đây cần có sự quản lí của Nhà nước để điều hoà các mâu

thuẫn này

d) Theo ph m vi th i gian, hi u qu  có th  phân thành 

- Hiệu quả trước mắt và ngắn hạn: thể hiện sự đáp ứng lợi ích trước mắt của các doanh

nghiệp và cộng đồng Hiệu quả loại này thường do các dự án đầu tư ngắn hạn thực

hiện

- Hiệu quả lâu dài: thể hiện sự đáp ứng lợi ích lâu dài và cho tương lai của quốc gia,

cộng đồng và doanh nghiệp Các dự án đầu tư dài hạn sẽ đáp ứng các yêu cầu này

và thường là các dự án đầu tư có trình độ khoa học-công nghệ cao của các doanh

nghiệp, các dự án đầu tư cho nghiên cứu khoa học- công nghệ đón đầu, các dự án

đầu tư về giáo dục và đào tạo

e) Theo m c đ  phát sinh tr c ti p hay gián ti p, hi u qu  có th  phân thành 

- Hiệu quả phát sinh trực tiếp từ các dự án đầu tư: ví dụ các hiệu quả về tăng lợi nhuận,

tăng mức đóng góp ngân sách cho Nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao

động do dự án đem lại

- Hiệu quả phát sinh gián tiếp kéo theo ở các lĩnh vực lân cận đối với dự án và do dự án

đầu tư đem lại Ví dụ một dự án đầu tư cho thuỷ điện, ngoài hiệu quả kinh tế trực

tiếp thu được của ngành điện do dự án đem lại, còn thu được nhiều hiệu quả cho

các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá và cho dân chúng

- Phân loại hiệu quả về mặt định lượng

Trang 37

- Theo cách tính toán, hiệu quả được phân thành: Hiệu quả được tính theo số tuyệt đối,

ví dụ tổng lợi nhuận thu được của đề án, tổng mức đóng góp cho ngân sách hàng

năm của dự án v.v

- Hiệu quả được tính theo số tương đối, ví dụ mức doanh lợi của một đồng vốn đầu tư,

mức đóng góp vào ngân sách Nhà nước tính cho một đồng vốn đầu tư tỷ sỗ giữa

lợi ích và chi phí, suất thu lợi nội tại V V

- Hiệu quả được tính theo sổ tuyệt đổi còn được đề nghị gọi là kết quả của đầu tư

- Hiệu quả tính cho một thời đoạn niên lịch (thường là năm)

- Hiệu quả tính cho cả đời dự án (kéo đài nhiều năm)

1.4.3 Hệ chỉ tiêu hiệu quả đầu tư ngành điện

Để đánh giá một dự án đầu tư phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu về kỹ thuật,

công nghệ, tài chính, kinh tế và xã hội Đối với các dự án ĐTXD ngành điện thì hiệu quả

được thể hiện thông qua hai nhóm chỉ tiêu chính đó là hiệu quả tài chính, chỉ tiêu kỹ

thuật và hiệu quả kinh tế xã hội

1.4.3.1 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án

Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính phản ánh lợi ích trực tiếp của các doanh nghiệp với

tư cách là chủ đầu tư:

Hai chỉ tiêu tổng hợp trước hết phải kể đến trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động

đầu tư XDCB là chỉ tiêu điện thương phẩm và tổng số khách hàng phát triển

- Điện thương phẩm là lượng điện bán cho các hộ tiêu dùng điện

- Tổng số khách hàng phát triển là số lượng các đơn vị đã kí hợp đồng mua điện tăng

thêm của Công ty tính đến thời điểm nào đó

b) Doanh thu  

Cùng với chỉ tiêu điện thương phẩm, có hai chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh

giá hiệu quả hoạt động đầu tư XDCB là doanh thu Đây là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp

hiệu quả sản xuất kinh doanh và có quan hệ gián tiếp tới hiệu quả kinh tế hoạt động đầu

Trang 38

tư XDCB Doanh thu tăng càng cao chứng tỏ hoạt động đầu tư đúng hướng và có hiệu

quả

Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong mọi ngành đều có trách nhiệm bảo

toàn, phát triển nguồn vốn và thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước Ngân sách

Nhà nước trông chờ rất nhiều vào các doanh nghiệp, ngược lại ngân sách Nhà nước lại là

nguồn vốn rất quan trọng cho các doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư XDCB Các dự

án lớn quan trọng, có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh tế xã hội thường là vốn từ ngân

sách Do vậy đóng góp vào ngân sách của các đơn vị kinh tế Nhà nước nói chung không

chỉ đơn thuần là quan hệ kinh tế mà còn đóng góp cho xã hội hay mang lại hiệu quả kinh

tế xã hội

1.4.3.2 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật của dự án

a) Đ  tin c y c p đi n: 

Các dự án ĐTXD điện sau khi thi công, nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng

đều phải góp phần tăng độ tin cậy cung cấp điện cho khu vực và cho toàn hệ thống lưới

điện trên địa bàn được đầu tư

- Chỉ số tần suất mất điện trung bình của hệ thống (System Average Interruption

Frequency Index – SAIFI): Chỉ số này cung cấp thông tin về số lần mất điện trung

bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một năm Theo yêu cầu của

Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội SAIFI≤12

- Chỉ số thời gian mất điện trung bình của hệ thống (System Average Interruption

Duration Index - SAIDI): Chỉ số này cung cấp thông tin về thời gian (phút hoặc

giờ) mất điện trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một

năm.Theo yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội SAIDI≤4900

- Chỉ số tần suất mất điện thoáng qua trung bình của hệ thống (Momentary Average

Interruption Frequency Index – MAIFI): Chỉ số này cung cấp thông tin về số lần

mất điện thoáng qua trung bình của một khách hàng (trong một khu vực) trong một

năm.Theo yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội MAIFI ≤2.05

b) T n th t đi n năng: 

Trang 39

Tổn thất điện năng xuất phát từ nhiều nguyên do: Lưới điện quá tải nhưng vẫn phải

vận hành theo phương thức cưỡng bức; nhiều công trình xây dựng đường dây và trạm

biến áp bị chậm tiến độ Nhiều nơi, lưới điện trung áp đã cũ nát, nhiều máy biến áp,

đường dây có tổn thất cao, tiết diện nhỏ nhưng vẫn phải vận hành

Nếu các dự án ĐTXD điện đạt hiệu quả sẽ làm giảm tổn thất điện năng lưới điện

cũng như trạm biến áp xuống thấp hơn so với hiện trạng Tổng Công ty Điện lực TP Hà

Nội yêu cầu tổn thất điện năng hàng năm là ≤7%

Việc nghiên cứu khảo sát lập dự án ĐTXD điện tại những vị trí thích hợp, vị trí

đang có chất lượng điện năng thấp sẽ làm giảm bán kính cấp điện từ đó tăng chất lượng

điện áp, tăng chất lượng điện năng Theo quy định yêu cầu kỹ thuật Tổng Công ty Điện

lực TP Hà Nội bán kính cấp điện các quận huyện đông dân cư tối đa là 300m, đối với

khu vực phụ tải ít, vùng ít dân cư bán kính cấp điện tối đa là 500m Chất lượng điện áp

phải đảm bảo độ sụt áp ∆U≤±2,5%

1.4.3.3 Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội của dự án

Nhóm chi tiêu này phản ánh lợi ích của Nhà nước và của cộng đồng thu được của

dự án Các chỉ tiêu thu được của dự án ở đây được dùng để phục vụ cho Nhà nước và

cộng đồng

- Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa được

đẩy mạnh, chất lượng đời sống nhân dân được nâng cao từng ngày Việc yêu cầu

cung cấp điện năng đủ, tin cậy, ổn định cho các phụ tải tiêu thụ điện ngày càng

tăng Do đó để quá trình ĐTXD, quá trình vận hành, kinh doanh bán điện đạt hiệu

quả cần thiết bổ phải sung nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực có trình độ Việc

tạo thêm công ăn việc làm của doanh nghiệp sẽ giảm bớt gánh nặng thất nghiệp

cho xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh trật tự

- Thu nhập là động lực để người lao động cống hiến khả năng và sự say mê trong công

việc, đó là nguồn chủ yếu để cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên của

doanh nghiệp Thu nhập của người lao động tăng chứng tỏ được quá trình ĐTXD

đạt hiệu quả về cả chỉ tiêu tài chính và kinh tế xã hội

Trang 40

b) Hi u qu  kinh t  xã h i khác 

Ðảng và Nhà nước ta rất quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển ngành điện; coi đây

là một ngành công nghiệp hạ tầng quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã

hội; yếu tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi sự nghiệp CNH, HÐH đất nước Ðiện phải đi

trước một bước Ðó là quan điểm nhất quán, đúng đắn đã được đề ra từ rất sớm trong các

nghị quyết của Ðảng Việc đầu tư XDCB trong ngành điện hiệu quả sẽ góp phần chuyển

dịch cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ thúc đẩy phát triển

kinh tế

1.4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư XDCB

ƒ Điều kiện tự nhiên

XDCB thường được tiến hành ngoài trời, do đó nó chịu ảnh hưởng của điều kiện

khí hậu Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, từ đó mà nó cho

phép khai thác các kiến trúc phù hợp với điều kiện thực tế

ƒ Khả năng huy động và sử dụng vốn đầu tư XDCB có hiệu quả

Vốn là yếu tố vật chất quan trọng trong các yếu tố tác động đến tăng trưởng Nguồn

vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của sản xuất , muốn đạt được tốc độ tăng trưởng GDP

theo dự kiến thì cần phải giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn và các yếu tố khác

Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một hàng hoá “đặc biệt “, mà đã là hàng hoá thì tất

yếu phải vận động theo một quy luật chung là lượng cầu vốn thường lớn hơn lượng cung

về vốn Do đó , muốn khai thác tốt nhất các nhân tố cung về vốn để thoả mãn như cầu về

vốn trong nền kinh tế Huy động được nhưng cần xây dựng các phương án sử dụng vốn

đúng mục đích và có kế hoạch, tránh thất thoát lãng phí

ƒ Công tác quản lý nhà nước về đầu tư XDCB

Nhà nước, các bộ ban ngành ban hành luật, nghị định, thông tư và các quyết định để

quản lý đầu tư trong đó có đầu tư XDCB

Quá trình đầu tư bao gồm giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn đầu tư, giai đoạn sau

đầu tư đều phải tuân theo các chuẩn mực, cơ chế quản lý nhà nước Nhà nước, các bộ

ban ngành sử dụng các công cụ quản lý của mình để hướng dẫn, giám sát, thanh tra và

Ngày đăng: 09/10/2016, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS.Lã Văn Bạt (2004), Bài giảng môn Quản lý Chất lượng trong doanh nghiệp, Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường ĐHBK Hà Nội Khác
2. Tạ Thị Kiều An, Ngô Thị Ánh, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Hoàng Kiệt, Đinh Phượng Vương (2004), Quản lý chất lượng trong các tổ chức, NXB Thống kê Khác
3.PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt (2008), Giáo trình lập dự án đầu tư, NXB Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008 Khác
4.TS Từ Quang Phương (2005), Giáo trình quản lý dự án đầu tư, NXB Lao động Hà Nội Khác
5. Vụ công tác lập pháp (2005), Những nội dung cơ bản của Luật Điện lực, NXB Tư pháp Khác
6. Đỗ Văn Phức, Quản lý nhân lực, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật -2003 Khác
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật điện lực - Quốc hội thông qua ngày 03/1/2004 Khác
8. Bộ công nghiệp - Quy phạm trang bị điện ban hành kèm theo Quyết định số: Số 19/2006/QĐ-BCN ngày 17/6/2006 Khác
9. Viện chiến lược chính sách công nghiệp - Bộ Công nghiệp, Quy hoạch ngành điện lực cho 6 vùng kinh tế Khác
10. Viện Năng lượng - Quy hoạch cải tạo và phát triển lưới điện Huyện Từ Liêm - TP Hà Nội giai đoạn 2010 - 2015, có xét tới 2020.11. Các trang web của Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.6:  Các hình thức đấu thầu giai đoạn 2010- 6/2013 - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở công ty điện lực từ liêm
Bảng 2.6 Các hình thức đấu thầu giai đoạn 2010- 6/2013 (Trang 67)
Bảng 2.8:  Tăng tài sản cố định các năm 2010- 6/2013 - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở công ty điện lực từ liêm
Bảng 2.8 Tăng tài sản cố định các năm 2010- 6/2013 (Trang 72)
Bảng 2.10: Thống kê kết quả kinh doanh của Công ty Điện lực Từ Liêm. - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở công ty điện lực từ liêm
Bảng 2.10 Thống kê kết quả kinh doanh của Công ty Điện lực Từ Liêm (Trang 73)
Bảng 2.11: Bảng tính toán chỉ số tin cậy SAIFI - SAIDI - MAIFI trung bình năm - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở công ty điện lực từ liêm
Bảng 2.11 Bảng tính toán chỉ số tin cậy SAIFI - SAIDI - MAIFI trung bình năm (Trang 75)
Bảng 2.12: Kết quả thực hiện giảm tổn thất điện năm 2010-2013 - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở công ty điện lực từ liêm
Bảng 2.12 Kết quả thực hiện giảm tổn thất điện năm 2010-2013 (Trang 76)
Hình 3.1. Quy trình kiểm soát dự án XDCB - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ở công ty điện lực từ liêm
Hình 3.1. Quy trình kiểm soát dự án XDCB (Trang 90)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w