III.Phương pháp luận triển khai đề tài: 3.1 Mối quan hệ giữa đào tạo – nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học: Những vấn đề đặt ra của đề tài Với vai trò
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
LÊ BÁ VƯƠNG
MÔ HÌNH VÀ CƠ CHẾ THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO
GIÀN KHOAN DẦU KHÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN VĂN BÌNH
Trang 2
MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CÁC MÔ HÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TỪ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐANG ĐƯỢC ÁP DỤNG TRÊN THẾ GIỚI 7
1.1- Mô hình tổ chức các hoạt động chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của Pháp: 7
1.1.1- Văn phòng sở hữu trí tuệ 7
1.1.2- Trung tâm tạo giá trị 9
1.1.3- Vườn ươm doanh nghiệp 10
1.1.4- Doanh nghiệp trong trường đại học 13
1.1.5- Công viên khoa học 16
1.1.6- Trung tâm cạnh tranh: 17
1.2.Các mô hình và chính sách chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của Nhật Bản 23 1.2.1- TLO – Mô hình thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa trường đại học và ngành công nghiệp: 23
1.2.2- Mô hình các khu ươm tạo công nghệ 25
1.3-Mô hình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp tại Hàn Quốc: 26
1.3.1- Các bộ phận cấu thành trong mô hình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ: 27
1.3.2- Các bộ, ngành và hành lang pháp lý trong việc hỗ trợ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ: 29
1.3.3- Quản lý sở hữu trí tuệ tại các trường đại học 30
1.4-Mô hình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tại đại học Thanh Hoa (Trung Quốc): 31
1.4.1-Giới thiệu tổng quan về đại học Thanh Hoa: 31
1.4.2-Mô hình tập đoàn công nghiệp đại học Thanh Hoa: 32
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CỦA DỰ ÁN CHẾ TẠO GIÀN KHOAN TỰ NÂNG 90 M 36
2.1 Khái quát về công ty PVShipyard 36
2.1.1 Lịch sử hình thành 36
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ 36
Trang 32.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty 36
2.1.4 Cơ sở vật chất của công ty 38
2.1.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 41
2.2.Các đặc trưng cơ bản của công nghiệp dầu khí biển 41
2.2.1.Các loại giàn khoan dầu khí 43
2.2.2.Mô tả chung giàn khoan tự nâng 90m nước 44
2.2.3.Nguyên lý hoạt động của giàn tự nâng 48
2.3.Thực trạng công tác NCKH và CGCN tại công ty PVShipyard 49
2.3.1 Ban quản lý dự án khoa học và công nghệ 49
2.3.2.Các kết quả đạt được trong NCKHCN 51
2.3.3.Các nguồn lực của công ty 52
2.3.4.Thực trạng hàm lượng công nghệ đã đạt được 53
2.4.Hiện trạng hợp tác giữa PVShipyard và các đơn vị khác 54
2.4.1.Phương án phối hợp với tổ chức nghiên cứu và cơ sở sản xuất trong nước 54
2.4.2 Phương án phối hợp với tổ chức nghiên cứu và cơ sở sản xuất ngoài nước 55
2.5.Nhận dạng nguyên nhân của các hạn chế và yếu kém 57
Tóm tắt chương II 60
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC MÔ HÌNH VÀ CƠ CHẾ THÚC ĐẦY HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO GIÀN KHOAN DẦU KHÍ 61
3.1 Mục tiêu của Công ty CP chế tạo giàn khoan dầu khí ( PVShipyard ) 61
3.1.1.Các căn cứ để xây dựng mục tiêu: 61
3.1.2.Mục tiêu của Công ty PVShipyard năm 2015: 61
3.2.Tính cấp thiết , nguyên tắc định hướng và căn cứ cho quá trình đổi mới 62
3.3.Đề xuất các mô hình thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chế tạo giàn koan dầu khí 72
3.3.1 Văn phòng sở hữu trí tuệ: 72
3.3.2.Mô hình Trung tâm ươm tạo và giải mã công nghệ: 75
3.3.3.Hệ thống doanh nghiệp trong các trường đại học: 85
Kết luận và kiến nghị: 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4DANH MỤC HÌNH VẼ:
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các đơn vị tham gia quá trình chuyển giao công nghệ trong trường đại
học 8
Hình 1.2: Sơ đồ phân bố các khu Technopole tại Pháp 17
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chứccông ty PVShipyard 37
Bảng 2.1: Hạng mục cơ sở vật chất công ty PVShipyard 38
Hình 2.2: Trích dẫn báo cáo tài chính năm 2011 PVShipyard 41
Hình 2.2: Các công cụ khoan 42
Hình 2.3: Các loại giàn khoan trên đất liền 43
Hinh 2.4: Các giàn khoan khai thác phân loại theo chiều sâu nước 43
Hình 2.5 : Các giàn khoan thăm dò và sửa giếng 44
Hình 2.6 Các khoan trong thân chính 46
Hình 2.7 Bố trí khối nhà ở và giàn sân bay 47
Hình 2.8 Giàn khoan tự nâng và các giàn nhẹ đỡ đầu giếng 49
Hình 3.1: Mô hình tổ chức hoạt động của trung tâm xúc tiến 73
Hình 3.2 Mối liên hệ giữa các đối tác của Trung tâm 79
Hình 3.3 Nguyên tắc hoạt động của Trung tâm 82
Trang 5DANH MỤC BẢNG:
Bảng 2.1: Hạng mục cơ sở vật chất công ty PVShipyard 38
Bảng 2.2 : Tình trạng trong thiết kế 53
Bảng 2.3: Tình trạng thi công 54
Bảng 3.1 Dịch vụ dầu khí của các nước châu Á 62
Bảng 3.2 Dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại một số nước Đông Nam Á 64
Bảng 3.3 Dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở một số nước châu Âu 65
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT:
ABS: American Bureau Shipping/ Tổ chức đăng kiểm tàu biển Mỹ
EPC: Engineering Procurement Construction/ Gói thầu thiết kế mua sắm thi công PVN: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
PVShipyard :Petro VietNam Marine Shipyard Joint Stock Company/Công ty cổ phần chế tạo giàn khoan dầu khí
NCKH: nghiên cứu khoa học
CGCN: Chuyển giao công nghệ
HVAC: Điều hoà thông gió
PVN: Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Nhận định về một tiềm năng sẵn có, Việt Nam đã xác định dầu khí là ngành kinh
tế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển đất nước Công tác chuẩn bị tìm kiếm, thăm dò dầu khí đã được chú trọng phát triển Được coi là ngành công nghiệp luôn đi đầu trong việc áp dụng các công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, nhưng hiện nay các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là lĩnh vực kỹ thuật của Việt Nam còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào các loại hình dịch vụ đơn giản như cung ứng lao động, cung cấp dịch vụ công nghệ thấp… Các dịch vụ công nghệ phức tạp, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao đều do các công ty/nhà thầu nước ngoài cung cấp Tương tự như vậy, lĩnh vực cơ khí chế tạo của chúng ta mới bắt đầu được vài năm và đang dừng lại ở việc chế tạo từng bộ phận của giàn đầu giếng với các kết cấu có tải trọng không quá 2500 tấn, tính phức tạp không cao Đối với các kết cấu
có khối lượng lớn, tính phức tạp công nghệ cao, đòi hỏi năng lực xây lắp, tổ hợp lớn như các cụm giàn công nghệ trung tâm, cụm giàn khai thác, các cụm giàn ép vỉa , chúng ta vẫn chưa chế tạo được và đều phải mua tại nước ngoài Bên cạnh đó, công tác thiết kế, khâu mấu chốt trong chuỗi dịch vụ EPC còn rất yếu và thiếu mặc dù chúng ta đã xây dựng các viện, các trung tâm nghiên cứu, thiết kế dầu khí Hiện chúng ta chưa có một đội ngũ kỹ sư thiết kế đủ năng lực để có thể đáp ứng các yêu cầu thiết kế độc lập
Với tình hình trên, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam (PVN) đã có chiến lược phát triển ngành Dầu khí nói chung và ngành Cơ khí chế tạo nói riêng bằng các biện pháp tăng tốc, trong đó có việc chế tạo giàn khoan dầu khí tại Việt Nam Các biện pháp cụ thể như thành lập ngay đơn vị chuyên trách thực hiện việc chế tạo giàn khoan, đồng thời, chủ trương giao thầu trong nước chế tạo giàn khoan tự nâng 90m nước đầu tiên do PVN làm chủ đầu tư, tiếp đến là giàn khoan 130m nước, giàn khoan nửa nổi nửa chìm và các giàn khoan biển cùng các giàn khoan đất liền khác Công ty cổ phần chế tạo giàn khoan dầu khí , tên giao dịch quốc tế Petro
Trang 82007 bởi các cổ đông chiến lược là : Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) , Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama), Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) dưới sự hỗ trợ
về chính sách và chủ trương của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ là phát triển lớn mạnh ngành cơ khí chế tạo giàn khoan dầu khí tại Việt Nam với chức năng , nhiệm vụ cơ bản là : đóng mới , sửa chữa và hoán cải các loại giàn khoan biển , các cấu kiện thường tầng và phương tiện nổi góp phần tạo vị thế chủ động đối với kế hoạch thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam , giảm thiểu việc thuê giàn khoan từ nước ngoài
Ngày 30/03/2012 công ty đã bàn giao giàn khoan tự nâng 90m nước cho chủ đầu
tư VietsovPetro đánh dấu một mốc quan trọng cho một dự án cơ khí trọng điểm của nhà nước Sự kiện này đã chính thức đưa Việt Nam trở thành một trong số ít các nước trên thế giới có thể chế tạo được giàn khoan tự nâng đạt tiêu chuẩn quốc tế Để thực hiện thành công dự án này công ty PVShipyard đã mua thiết kế cơ sở ( basic design ) giàn khoan từ đối tác nước ngoài LeTourneau của Mỹ , thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài trong hạng mục thiết kế, giám sát, quản lý dự án PVShipyard đã đào tạo đội ngũ kỹ sư từng bước làm chủ công nghệ thiết kế , thi công , chế tạo giàn khoan tự nâng
Việc mua thiết kế cơ sở chiếm đến 30% giá thành của dự án Thuê chuyên gia nước ngoài với chi phí cao Mua vật tư , trang thiết bị cho giàn khoan từ các công ty nước ngoài đã khiến giá thành giàn khoan của Việt Nam cao và khó có khả năng cạnh tranh được với các đối thủ chế tạo giàn khoan của nước ngoài như Rowan , PPL , Keppel của singapore; LeTourneau của Mỹ Chính vì vậy, chuyển giao công nghệ chế tạo giàn khoan tự nâng có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược phát triển của ngành chế tạo giàn khoan nói riêng và lĩnh vực cơ khí nói chung của tập đoàn
I.Mục tiêu nghiên cứu và nội dung của đề tài:
Trang 9địa hóa trang thiết bị , vật tư tiêu hao , vật tư chế tạo Làm chủ được công nghệ chế tạo giúp công ty khẳng định thương hiệu, giảm giá thành sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành trong khu vực và thế giới
Nội dung chính:
1 Phương pháp luận triển khai thực hiện đề tài
2 Tổng quan các mô hình chuyển giao công nghệ từ các trường đại học đang được áp dụng trên thế giới
3 Thực trạng chuyển giao công nghệ , mối quan hệ hợp tác của doanh nghiệp với các trường đại học
4 Đề xuất mô hình hợp tác , chuyển giao công nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp
II.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Công tác chuyển giao công nghệ của dự án chế tạo giàn
khoan tự nâng 90m tại PVShipyard
Phạm vị nghiên cứu: Nghiên cứu chuyển giao công nghệ chế tạo giàn khoan tự
nâng 90m nước, đặc biệt chú trọng đến các mô hình chuyển giao công nghệ từ các trường đại học đang được áp dụng trên thế giới
III.Phương pháp luận triển khai đề tài:
3.1 Mối quan hệ giữa đào tạo – nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học: Những vấn đề đặt ra của đề tài
Với vai trò là trung tâm khoa học và đào tạo, mỗi trường đại học đều có sứ mạng là:
o Ðào tạo được các thế hệ sinh viên giỏi đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của
Trang 10Ba nhiệm vụ trên luôn song hành gắn kết và hỗ trợ cho nhau Nếu đào tạo không gắn liền với việc triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thì đội ngũ giảng viên không cập nhật được những thành tựu mới về khoa học
và công nghệ trong lĩnh vực của mình và chất lượng giảng dạy sẽ không cao Chính
vì vậy mà ở các nước phương Tây phân bổ thời gian của một giảng viên Đại học thường 40% cho giảng dạy, 40% cho nghiên cứu và 20% cho các hoạt động dịch vụ,
tư vấn Ba nhiệm vụ này chính là ba tiêu chí để đánh giá xếp loại các trường đại học trong xu thế phát triển và hội nhập Riêng hoạt động chuyển giao ứng dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ vào thực tiễn sản xuất đang được nhiều trường đại học trên thế giới quan tâm thúc đẩy bởi vì các hoạt động này:
Giải quyết đầu ra cho các hoạt động NCKH, tạo động lực thúc đẩy các quá trình nghiên cứu;
Tạo sân chơi hấp dẫn cho đội ngũ cán bộ trẻ và sinh viên, thu hút và giữ chân người tài cho các trường Đại học;
Tạo nguồn tài chính để tăng thu nhập cho các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu và tái đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu và giảng dạy;
Góp phần nâng cao uy tín của các nhà khoa học, nâng cao chất lượng giảng dạy;
Là một trong các tiêu chí quan trọng để khẳng định uy tín và thương hiệu của
cơ sở đào tạo
Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua mặc dù nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm gắn kết cộng đồng khoa học với các doanh nghiệp, công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học và các viện nghiên cứu tuy đã có những kết quả nhất định nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của xã hội Các kết quả Nghiên cứu Khoa học hiện nay chỉ mới dừng lại ở qui mô phòng thí nghiệm, chưa đủ điều kiện để áp dụng ở qui mô công nghiệp, do vậy số công trình được đưa vào áp dụng thực tiễn rất hạn chế Thực tế cho thấy nhiều kết quả nghiên cứu khoa học từ các đề tài được nghiệm thu chưa được khai thác sử dụng một cách có hiệu quả Việc gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh chưa tốt Do vậy hiện nay đòi hỏi cần phải có một đơn vị trung gian để phối hợp trường đại học với cơ sở
Trang 11sản xuất; cần phải có một mô hình để gắn kết hoạt động nghiên cứu khoa học với chuyển giao công nghệ và ứng dụng công nghiệp
Tại mỗi trường đại học của Việt Nam đều có các bộ phận chuyên trách về các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (phòng KH-CN, các Trung tâm nghiên cứu, …) Thậm chí nhiều trường đã phát triển riêng cho mình các doanh nghiệp Tuy nhiên sự gắn kết giữa các đơn vị này nhằm mục tiêu thúc đẩy và nâng cao hiệu quả các quá trình chuyển giao công nghệ là rất yếu kém Họ chưa thực sự đóng vai trò đồng hành và hỗ trợ các nhà khoa học trong các hoạt động nghiên cứu, ươm tạo và chuyển giao Đầu tư của nhà nước cho công tác NCKH thường chỉ dừng
ở quy mô thành công ở phòng thí nghiệm Mô hình tổ chức hiện nay chưa cho phép thu hút được nguồn đầu tư ươm tạo tiếp đến quy mô công nghiệp Hậu quả là khả năng ứng dụng của các công trình khoa học rất thấp, do chỉ bó hẹp trong phạm vi các cơ sở NCKH thuần tuý nên năng lực tiếp thị, khả năng kiểm soát quá trình triển khai yếu, dẫn đến các nhóm nghiên cứu không dám mạo hiểm phát triển tiếp đến giai đoạn chuyển giao cho doanh nghiệp thông qua các hợp đồng CGCN Hoạt động lao động sản xuất, chuyển giao công nghệ vì thế không mang tính chuyên nghiệp, không thể cạnh tranh
Bên cạnh đó, nhận thức ở tầm vĩ mô về tầm quan trọng của các hoạt động NCKH và CGCN đối với các trường đại học cũng như việc phá bỏ các rào cản trong việc triển khai các hoạt động CGCN ở nước ta còn hạn chế Chúng ta chưa có được các cơ chế, chính sách mang tính đột phá để khuyến khích các nhà khoa học và huy động nguồn lực của xã hội tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, ươm tạo và chuyển giao Trong khi đó các quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Pháp và Hàn Quốc đã triển khai rất hiệu quả Nhiều mô hình, nhiều cơ chế chính sách đã tạo ra bước phát triển mang tính đột phá
hỗ trợ các trường đại học
Như vậy việc thay đổi mô hình của các tổ chức hiện đang đảm nhận chức năng triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm gắn chặt hơn các hoạt động này với nhu cầu của thị trường và nâng cao hiệu quả của chúng đang là yếu cầu mang tính cấp bách đối với các trường đại học của Việt Nam Song
Trang 12chính sách nhằm khuyến khích các nhà khoa học và huy động các nguồn lực xã hội tham gia Các trường đại học ở nước ngoài họ đang làm rất tốt việc này và chúng ta
có thể học tập Tuy nhiên trình độ phát triển, mô hình quản lý kinh tế - xã hội của
họ có nhiều điểm khác so với Việt Nam Do vậy nghiên cứu để chắt lọc những điểm phù hợp về mô hình cũng như cơ chế là một trong những nội dung quan trọng của
đề tài Bên cạnh đó cũng cần triển khai nội dung nghiên cứu khảo sát hiện trạng mô hình tổ chức, quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của Việt Nam để có những đề xuất về lộ trình đổi mới cho phù hợp với trình độ phát triển, nhất là về nhận thức, chất lượng công tác quản lý
3.2 Quy trình các bước triển khai các hoạt động nghiên cứu của đề tài:
Như đã trình bày ở trên mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích đánh giá hiện trạng, đúc rút kinh nghiệm từ các mô hình thành công của nước ngoài đề tài đưa ra đề xuất mô hình tổ chức các hoạt động chuyển giao, thương mại hóa các sản phẩm khoa học - công nghệ chế tạo giàn khoan dầu khí phù hợp với điều kiện Việt Nam kèm theo các cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quản của các hoạt động này Các nội dung nghiên cứu được triển khai theo trình tự như sau:
Tìm hiểu , nghiên cứu về mô hình cũng như cơ chế thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đang được áp dụng tại các trường đại học của nước ngoài
Song song với việc nghiên cứu các mô hình và cơ chế đang được áp dụng tại các trường đại học của nước ngoài, tôi đã triển khai công tác điều tra đánh giá thực trạng về mô hình tổ chức và cách thức triển khai các hoạt động chuyển giao công nghệ tại một số trường đại học kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam
Thu thập dữ liệu về dự án chế tạo giàn khoan tự nâng 90m nước đã triển khai thành công tại công ty PVShipyard, qua đó đưa ra mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp và các trường đại học trong việc chuyển giao công nghệ chế
tạo giàn khoan dầu khí
Kết quả của công trình nghiên cứu bao gồm: báo cáo khoa học, báo cáo tóm
tắt của đề tài, kỹ yếu các báo cáo tham luận của Hội thảo
Trang 13CHƯƠNG I: CÁC MÔ HÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TỪ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐANG ĐƯỢC ÁP DỤNG TRÊN THẾ GIỚI
Như đã trình bày ở trên để học tập kinh nghiệm từ các mô hình chuyển giao công nghệ đang được áp dụng từ các trường đại học trên thế giới, nhóm nghiên cứu
đã tập hợp thông tin thu được từ các chuyến khảo sát Trung Quốc (năm 2008, chuẩn
bị cho thành lập BKHoldings của đại học Bách khoa Hà Nội), cộng hòa Pháp và Đài loan (năm 2009) của nhóm nghiên cứu và các tài liệu về mô hình tại các trường đại học, viện nghiên cứu của Hàn Quốc1 và Nhật Bản2 Nội dung trình bày dưới đây là tóm tắt vê mô hình và các cơ chế thúc đẩy đang được áp dụng tại các quốc gia này
1.1- Mô hình tổ chức các hoạt động chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của Pháp:
Trong các tài liệu (1), (2) chúng tôi đã đề cập chi tiết mô hình, cơ chế, chính sách được áp dụng tại các trường đại học của Pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Các nội dung dưới đây là tóm tắt chức năng, nguyên tắc hoạt động của một số tổ chức tham gia vào quy trình đưa sản phẩm khoa học – công nghệ từ trường đại học vào thực tiễn sản xuất
Có 5 đơn vị, tổ chức chủ yếu tham gia vào quá trình tạo giá trị, hỗ trợ và thúc đẩy hoạt chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của Pháp Mối quan hệ giữa các đơn vị này có thể mô tả ở sơ đồ ở hình 1 dưới đây
1.1.1- Văn phòng sở hữu trí tuệ (Licensing Office):
Hầu hết các trường đại học đạt đẳng cấp quốc tế trên thế giới đều rất chú trọng đến vấn đề sở hữu trí tuệ (Intelectuel Proprety – IP) và đều có bộ phận chuyên trách về vấn đề này Vấn đề bản quyền đều được các trường quy định theo hướng :
Xác lập quyền sở hữu của trường đại học đối với các kết quả nghiên cứu
khoa học được thực hiện trong phạm vi nhà trường ;
Hiệu trưởng các trường là người đại diện quyền sở hữu và là người kí các
văn bản cho phép đưa vào khai thác các kết quả nghiên cứu ;
Tất cả các cá nhân tham gia vào quá trình xúc tiến chuyển giao công nghệ
đều phải cam kết bảo mật thông tin về các bí quyết công nghệ Các hợp
1
Xem TS Cao Tô Linh: Nghiên cứu về chuyển giao công nghệ, phát minh giữa trường đại học và doanh nghiệp tại Hàn
Quốc Báo cáo tại hội thảo “Mô hình và cơ chế phát triển doanh nghiệp tại các trường đại học Việt Nam” Hà Nội, ngày 27-01-2010.
Trang 14đồng về bảo mật thông tin thường được kí kết trước khi bắt đầu đàm phán các điều khoản chuyển giao công nghệ ;
Nguồn thu từ các hợp đồng chuyển giao công nghệ sau khi trừ các khoản chi
phí được phân chia giữa nhà trường, phòng thí nghiệm nơi kết quả nghiên cứu được thực hiện và cá nhân các nhà khoa học tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các đơn vị tham gia quá trình chuyển giao công
nghệ trong trường đại học
Văn phòng sở hữu trí tuệ là nơi hỗ trợ các nhà khoa học, các phòng thí nghiệm tiến hành các thủ tục đang kí các phát minh sáng chế, các giải pháp hữu ích, xác lập quyền sở hữu trí tuệ của nhà trường đối với các sản phẩm khoa học – công nghệ Đây cũng là nơi lưu trữ, giới thiệu các sản phẩm khoa học công nghệ của nhà trường với các khách hàng bên ngoài
Ngày nay, nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều trang thông tin điện tử được thiết lập với sự hợp tác tham gia của nhiều trường đại học, viện nghiên cứu nhằm tập hợp và giới thiệu với cộng đồng kinh tế xã hội những sản phẩm khoa học
tế - xã hội vùng
và quốc gia
DOANH NGHIỆP CỦA NHÀ TRƯỜNG
Văn phòng sở hữu trí tuệ (TLO)
Trung tâm tạo giá
trị
Vườn ươm doanh nghiệp
Hệ thống các doanh nghiệp đại học
Hệ thống các công viên khoa học
Trang 15– công nghệ đang nắm giử của các trường và viện Tạo điều kiện thuận lợi trong việc tìm kiếm và thương mại hóa các sản phẩm khoa học – công nghệ Điển hình
dạng trang thông tin này tại Pháp là trang France Transfert Technologies (www.f2t.fr) Trang thông tin này đang lưu trữ 800 kết quả nghiên cứu thuộc nhiều
lĩnh vực khác nhau
1.1.2- Trung tâm tạo giá trị (Cellule de Valorisation): Đây là tổ chức được thành
lập rất gọn nhẹ trực thuộc bộ phận quản lý khoa học của các trường đại học Trung tâm tạo giá trị được thành lập nhằm mục tiêu hỗ trợ các phòng thí nghiệm tăng hiệu quả quá trình chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất Trung tâm
có nhiệm vụ tìm kiếm, tuyển chọn từ các phòng thí nghiệm các đề tài, dự án nghiên cứu đã được nghiệm thu ở giai đoạn nghiên cứu cơ bản và có tiềm năng ứng dụng cao để đưa vào ươm tạo, nâng cao giá trị và chuyển giao vào thực tiễn với các
nhiệm vụ cụ thể sau:
Giúp các nhà khoa học trong quá trình thương thảo và ký kết các hợp đồng
nghiên cứu, hợp đồng sử dụng các dịch vụ với các tổ chức, cá nhân bên ngoài;
Tư vấn xây dựng hồ sơ tìm kiếm nguồn tài trợ của chính phủ, các tổ chức quốc tế, các cấp chính quyền địa phương nhằm hoàn thiện công nghệ đến quy mô công nghiệp để có thể thương mại hoá hoặc chuyển giao sang giai đoạn ươm tạo doanh nghiệp;
Tư vấn về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thương thảo các hợp đồng chuyển giao công nghệ;
Hỗ trợ các nhà khoa học trong quá trình thành lập và chuyển sang giai đoạn
ươm tạo doanh nghiệp
Về nhân sự, như đã nói ở trên, mô hình tổ chức của dạng trung tâm này là rất gọn nhẹ Ví dụ trong khuôn viên của trường đại học tổng hợp Bourgogne3 ở thành phố Dijon có đến 7 trung tâm tạo giá trị, trong đó có trung tâm Synerjinov4 Trung tâm chỉ có 3 nhân viên, trong đó có 2 nhân viên phụ trách 2 lĩnh vực : công nghệ thực
Trang 16
phẩm và công nghệ y sinh, còn nhân viên thứ 3 đảm trách các vấn đề về luật pháp (sở hữu trí tuệ và thương thảo hợp đồng) Synerjinov được thành lập từ năm 2005 đến nay họ đã tuyển chọn được 8 dự án đưa vào ươm tạo trong đó 7 dự án thành công Kế hoạch của 3 năm tới là tuyển chọn và ươm tạo cho 15 dự án Dưới đây là quy trình tuyển chọn và tạo giá trị cho các dự án sản phẩm khoa học – công nghệ được thực hiện tại trung tâm Synerjinov :
Tuyển chọn từ các phòng thí nghiệm trong phạm vi phụ trách của Trung tâm các đề tài dự án đã nghiệm thu ở giai đoạn nghiên cứu cơ bản Ưu tiên những
đề tài, dự án có được bằng phát minh, sáng chế
Mỗi dự án nộp bản giới thiệu tóm tắt (3 đến 4 trang);
Cán bộ Trung tâm tiến hành đánh giá sơ bộ theo các tiêu chí :
Sản phẩm có bị trùng lặp
Nhu cầu thị trường có đủ lớn
Được các nhà tài trơ quan tâm
Chủ dự án có quyết tâm theo đuổi
Sau khi qua gia đoạn sơ tuyển, Trung tâm hướng dẫn chủ dự án xây dựng đề
án chi tiết (báo cáo khả thi)
Trung tâm thành lập Hội đồng thẩm định để đánh giá tính khả thi của dự án Các dự án được tuyển chọn sẽ nhận được khoản tài trợ tối đa 45 000 Euro dùng để chi trả các dịch vụ sau (các dự án không nhận tiền trực tiếp mà sử dụng các dịch vụ do Trung tâm đứng ra thuê các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện theo yêu cầu của dự án):
Nghiên cứu thị trường
Thiết kế lại kiểu dáng công nghiệp, bao gói sản phẩm
Sản xuất thử nghiệm
Tìm kiếm khách hàng, xây dựng và thương thảo các hợp đồng thưong mại
hoặc hỗ trợ các nhóm hoàn thiện hồ sơ chuyển sang giai đoạn ươm tạo doanh nghiệp
1.1.3- Vườn ươm doanh nghiệp (Incubateur): Tại đầu ra của các Trung tâm tạo giá
trị các sản phẩm khoa học – công nghệ hoặc được đem bán hoặc chủ dự án phát
Trang 17triển tiếp sang giai đoạn tạo lập doanh nghiệp Lúc này dự án được chuyển giao sang vườn ươm Vườn ươm doanh nghiệp là tổ chức được thành lập trên cơ sở luật
về sáng tạo và nghiên cứu năm 1999 nhằm hỗ trợ quá trình thành lập các doanh nghiệp khoa học – công nghệ Sứ mệnh của các vườn ươm là tìm kiếm, ươm tạo thông qua việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các đề án thành lập doanh nghiệp khoa học – công nghệ xuất phát từ các cơ sở đào tạo và nghiên cứu công lập
Tại Pháp thông thường vườn ươm được thành lập không phải cho từng trường đại học riêng lẻ mà cho một vùng bao gồm nhiều trường đại học, viện nghiên cứu Ví
dụ vươm ươm GRAIN5 tiếp nhận các ý tưởng, dự án đầu vào từ 10 trường đại học, viện nghiên cứu thuộc vùng Grenoble hoặc vườn ươm PREMICE6 có đối tác từ 11 trường đại học và viện nghiên cứu thuộc vùng Bourgogne Trên thế giới có nhiều dạng vườn ươm khác nhau, nhưng tại Pháp vươn ươm thường là một tổ chức phi lợi nhuận, nguồn tài chính cho hoạt động của các vườn ươm đều được tài trợ bởi chính phủ, cộng đồng châu Âu, chính quyền địa phương các cấp
GRAIN là vườn ươm do các đơn vị trường đại học Bách khoa Grenoble (INPG), Uỷ ban năng lượng nguyên tử (CEA), trung tâm quốc gia về nghiên cứu khoa học (CNRS), trường đại học tổng hợp Joseph Fourier (UJF), trường đại học tổng hợp Pierre Mendès-France (UPMF), trường đại học vùng Savoie, phòng thương mại và công nghiệp thành phố Grenoble (CCI), Viện công nghệ thông tin và tự động hoá quốc gia (INRIA) hợp tác thành lập
Tài chính cho các hoạt động của vườn ươm do chính phủ, cộng đồng châu Âu, chính quyền thành phố Grenoble, chính quyền vùng Rhône – Alpes, vùng Isère và vùng Drôm cung cấp
Trang 18
Trong thời gian từ 1999 đến 2007, vườn ươm đã tiếp nhận và đưa vào ươm tạo 131
dự án và đã có 73 doanh nghiệp được thành lập
Trung tâm châu Âu hỗ trợ các quá trình sáng tạo tại các doanh nghiệp (Centre Européen d‟Entrprises et d‟Innovation – CEEI)
Hệ thống các vườn ươm được thành lập theo luật về sáng tạo và nghiên cứu khoa học – công nghệ năm 1999
Hệ thống các công viên khoa học – Technopole
Tính đến tháng 1/2008 mạng lưới này đã tập hợp được 33 Trung tâm CEEI, 30 vườn ươm và 52 khu công viên khoa học Technopole Kinh phí giành cho hỗ trợ các hoạt động sáng tạo công nghệ và tạo lập doanh nghiệp trong năm 2007 là gần 500 triệu Euro Có trên 10 000 doanh nghiệp đã tham gia mạng lưới trong đó có trên 700 doanh nghiệp được thành lập mới và tạo ra gần 2000 việc làm Đặc biệt có đến 10% các dự án sáng tạo khoa học công nghệ là do các sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đại học thực hiện
7
Xem trang thông tin www.retis-innovation.fr
Trang 191.1.4- Doanh nghiệp trong trường đại học (Entreprise Universitaire):
Tại Pháp, luật về sáng tạo và nghiên cứu thực sự đã trở thành một cuộc cách mạng tạo một động lực thực sự cho quá trình chuyển giao công nghệ vào thực tiễn
Để thấy rỏ điểm này, chúng tôi xin đề cập đến một khía cạnh trong quản lí tài chính các đề tài nghiên cứu khoa học tại các trường đại học của Pháp Đội ngũ các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu tại các trường đại học của Pháp có thể được trao chủ trì các
đề tài nghiên cứu khoa học Hợp đồng được kí kết thông qua nhà trường Các cán
bộ thuộc biên chế tham gia đề tài dù với tư cách tham gia hay chủ trì đều không được thêm thu nhập hàng tháng từ kinh phí đề tài Nhưng họ có thể dùng kinh phí
đề tài để trả thù lao hàng tháng cho các học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh Lợi ích tài chính mà họ có thể được hưởng là được đề tài chi trả kinh phí tham gia các cuộc hội thảo khoa học trong nước và quốc tế với các chủ đề liên quan đến đề tài
Là công chức thuộc biên chế nhà nước họ không được phép tham gia thành lập công
ty riêng Luật về sáng tạo và nghiên cứu khoa học đã cho phép họ không những thành lập công ty nhằm khai thác và thương mại hóa thành quả nghiên cứu khoa học của mình mà còn cho phép tăng tỉ lệ cổ phần nắm giử tối đa từ 15% lên 49% Ngoài
ra họ có thể được phép biệt phái với thời hạn tối đa là 6 năm sang nắm giử chức vụ quản lí điều hành công ty Nếu không họ có thể kí hợp đồng hưởng phụ cấp với công ty với ty cách cố vấn kỹ thuật trong khi vần làm việc và hưởng lương từ nhà trường
Hiện tại có ít nhất 3 mô hình doanh nghiệp trong các trường đại học của Pháp Doanh nghiệp do nhà trường bỏ vốn thành lập làm chức năng cầu nối giữa các phòng thí nghiệm của nhà trường với cộng đồng kinh tế - xã hội bên ngoài trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức Doanh nghiệp do công ty của nhà trường góp vốn với các cán bộ, sinh viên của nhà trường thành lập nhằm thương mại hóa các thành quả khoa học, công nghệ của nhà trường trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và mô hình doanh nghiệp do các cán bộ, sinh viên nhà trường cùng các đối tác bên ngoài bỏ vốn thành lập Nhà trường vẫn nắm quyền sở hữu đối với sản phẩm trí tuệ do các nhà khoa học sáng tạo ra, nhưng không tham gia góp
Trang 20Công ty INPG-Entreprise SA 8 là doanh nghiệp do đại học Bách khoa Grenoble
(INPG-Group) thành lập từ năm 1991 làm nhiệm vụ tạo giá trị cho các sản phẩm khoa học – công nghệ và thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ của hơn 900 cán bộ từ 26 phòng thí nghiệm của tổ hợp 6 trường đại học công nghệ thuộc tập đoàn INPG Hoạt động của doanh nghiệp này xoay quanh 4 trục cơ bản:
Tư vấn chuyển giao công nghệ
Triển khai các hợp đồng nghiên cứu theo đơn đặt hàng của các doanh
Hiện tại INPG-Entreprise SA đã góp vốn thành lập 12 doanh nghiệp khoa học công nghệ trong các lĩnh vực: công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng, công nghệ vật liệu, công nghệ điện tử, công nghệ môi trường Hệ thống doanh nghiệp này đã có những đóng góp lớn trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của tập đoàn Bách khoa Grenoble
So với đại học Bách khoa Grenoble thì việc thành lập doanh nghiệp tại trường đại học Bourgogne diễn ra muộn hơn Mãi đến năm 2008, Trường đại học Bourgogne
mới thành lập công ty có tên WELIENCE9 với nhiệm vụ thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ của nhà trường Tuy vậy, ngay trong năm đầu tiên doanh số của nhà trường đã đạt đến 2 triệu Euro Tương tự như INPG-Entreprise SA, hoạt động của Welience tập trung vào các lĩnh vực:
Tư vấn chuyển giao công nghệ;
Thực hiện các hợp đồng nghiên cứu phát triển theo đơn đặt hàng
của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế;
Trang 21Để khởi nghiệp, Welience đã nhận được khoản đầu tư 2 triệu Euro từ chính quyền vùng Bourgogne để xây dựng xưởng sản xuất thử nghiệm Hiện tại Welience có 40 nhân viên và có thể huy động 1500 cộng tác viên là đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu của đại học Bourgogne thuộc các chuyên ngành:
Công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm;
Công nghệ vật liệu;
Công nghệ môi trường
Công nghệ y sinh
Lĩnh vực khoa học xã hôi và nhân văn
Công ty Nexidia10 được giới thiệu trong báo cáo này là ví dụ điển hình về một doanh nghiệp trẻ thuộc trường đại học (JEU) được hưởng nhiều quy chế ưu đãi của luật sáng tạo và nghiên cứu năm 1999 Công ty được thành lập trên cơ sở phát triển kết quả nghiên cứu của trường đại học Bourgogne Giáo sư Jean GUZZO đã nhận bằng phát minh, sáng chế trong lĩnh vực công nghệ sinh học Kết quả nghiên cứu đã được trung tâm tạo giá trị Sinerjinov tuyển chọn và tiếp đó đã được chuyển tiếp sang vườn ươm Premice Dự án đã thụ hưởng các tài trợ cho quá trình hoàn thiện công nghệ (45 000 Euro) và ươm tạo doanh nghiệp (450 000 Euro) Ngay trong năm đầu tiên hoạt động công ty đã đạt doanh số 180 000 Euro Doanh số năm 2009 dự kiến là 300 000 Euro và 500 000 Euro cho năm 2010 Mặc dù là công ty được thành lập xuất phát từ kết quả nghiên cứu thuộc trường đại học Bourgogne, nhưng trường
đại học này không có cổ phần tại Nexidia Giữa trường Bourgogne và công ty Nexidia ký một hợp đồng hợp tác về quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu và
hàng năm công ty có trách nhiệm nộp cho trường khoản kinh phí từ 2% đến 7% doanh thu Ngoài ra công ty được thuê phòng làm việc (90 m2), phòng thí nghiệm, xưởng sản xuất trong khuôn viên của trường cho các hoạt động của mình Giáo sư Jean GUZZO nắm giử 49% cổ phần, mức tối đa mà luật định cho phép đối với một cán bộ thuộc biên chế của trường đại học Ông GUZZO không trực tiếp quản lý Nexidia mà chỉ ký với công ty hợp đồng với tư cách cố vấn kỹ thuật và hưởng thù lao từ các hoạt động này Ông vẫn làm việc và hưởng lương từ đại học Bourgogne
Trang 22với cương vị phụ trách chương trình đào tạo Sau đại học Qua trao đổi với giáo sư GUZZO, bà Giám đốc vườn ươm Premice và bà Claire Gillaizeau, cán bộ của trung tâm Sinerjinov, chúng tôi được biết có khoảng 20 công ty kiểu như Nexidia đã được
thành lập tại đại học Bourgogne trong các năm qua
1.1.5- Công viên khoa học (Technopole hoặc Scientifique Parc):
Xuất phát từ khái niệm Công viên khoa học (Science Park) của các nước Anh/Mỹ mà ở Pháp người ta đưa ra khái niệm Technopole Thực chất đó là một khu công nghiệp công nghệ cao, nằm ở gần các trường đại học và viện nghiên cứu Các doanh nghiệp nằm trong Technopole thường có đơn vị làm chức năng nghiên cứu phát triển (R&D) và có quan hệ chặt chẽ với các phòng thí nghiệm của các trường đại học Một trong những biểu tượng thành công của mô hình Technopole ở Pháp là khu Sophia Antipolis được thành lập cách đây tròn 40 năm Đến thời điểm năm
2008 có trên 1400 doanh nghiệp với hơn 30 000 lao động hoạt động trong khuôn viên của khu Technopole này Tại đây cũng có 5000 sinh viên cùng với hơn 4000 giảng viên và cán bộ nghiên cứu cùng làm việc Diện tích của toàn khu Sophia Antipolis là 2300 ha
Hiện tại toàn nước Pháp có đến 55 khu Technopole gắn liền với các trung tâm đại học lớn của Pháp
Nhờ các điều kiện hạ tầng kỹ thuật được xây dựng hoàn chỉnh và các chính sách hỗ trợ cụ thể của chính phủ, chính quyền địa phương các cấp cũng như cộng đồng châu
Âu mà hệ thống các Technopole đã đóng góp rất hữu hiệu cho quá trình chuyển giao công nghệ từ các trường đại học đến các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế
Trang 23Hình 1.2: Sơ đồ phân bố các khu Technopole tại Pháp 1.1.6- Trung tâm cạnh tranh:
1.1.6.1-Bối cảnh ra đời của các Trung tâm cạnh tranh tại Pháp:
Năm 2005 nước Pháp bắt đầu triển khai quá trình cải tổ hệ thống đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học với các mục tiêu:
Tạo cho hệ thống đào tạo đại học của Pháp có thể đáp ứng tốt hơn khả năng cạnh tranh quốc tế;
Tăng sức hút đối với các trường đại học của Pháp;
Tạo dựng những mối quan hệ hợp tác thực sự giữa các trường đại học, các cơ
sở nghiên cứu với các đối tác của nền kinh tế;
Thực hiện chính sách quy mô thông qua đó tạo được sự cân bằng giữa các vùng, miền trên bình diện quốc gia về hệ thống đào tạo đại học và nghiên
Trang 24Sản phẩm của quá trình cải tổ này là sự hình thành nên các tổ chức, các mạng lưới như:
Cụm nghiên cứu và đào tạo đại học (Pôles de Recherche et d’Enseignement
Supérieur – PRES)
Mạng lưới các trung tâm nghiên cứu tiên tiến (Réseaux Thématiques de
Recherche Avancée –RTRA)
Trung tâm cạnh tranh (Pôles de compétitivité)
Trung tâm tạo giá trị (Cellule de valorisation)
Vườn ươm doanh nghiệp (Incubateur)
Doanh nghiệp trong trường đại học (Entreprise Universitaire)
Trong đó, trung tâm cạnh tranh là tổ chức được thành lập theo vùng địa lý đảm nhận chức năng liên kết giữa các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu với các doanh nghiệp nhằm tạo nên nguồn lực cho quá trình hợp tác và phát triển với sự
hỗ trợ đắc lực của các đối tác khác như nhà nước, các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức quốc tế Thực chất đây là một văn phòng điều hành chung các hoạt động nghiên cứu và triển khai các ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiển sản xuất Trung tâm có nhiệm vụ:
Trao đổi thông tin, xác định các nhu cầu về đổi mới và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất nhằm định hướng cho các quá trình nghiên cứu – triển khai tại các trường đại học và viện nghiên cứu
Tập hợp nguồn lực, nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh của các cơ
sở nghiên cứu và đào tạo
Tìm kiếm, khai thác các nguồn lực tài chính cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai
Cung cấp thông tin, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao, tìm kiếm nguồn tài chính cho các đầu tư đổi mới công nghệ
Kế hoạch thành lập các Trung tâm cạnh tranh do chính phủ Pháp khởi xướng năm
2005 Các trường đại học, các viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp của từng địa phương tùy theo thế mạnh của mình mà liên kết với nhau và đệ trình lên chính
Trang 25phủ đề án mang đặc thù riêng của mình Ví dụ ở vùng Grenoble có Trung tâm
Minalogic chuyên sâu về lĩnh vực công nghệ Chip và công nghệ Nano, vùng Bourgogne có Trung tâm Vitagora chuyên sâu về công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm, vùng Paris có Trung tâm System@tic chuyên sâu về lĩnh vực công nghệ
thông tin, tự động hóa Có hơn 150 đề án thành lập Trung tâm cạnh tranh đã được
đệ trình và chỉ có 71 Trung tâm cạnh tranh được thành lập Hệ thống các Trung tâm này được đánh giá là đã có những đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển của nền kinh tế Pháp trong các năm qua Cụ thể trong 3 năm (2006 – 2008) đã huy động được nguồn lực tài chính là 3,6 tỷ Euro cho triển khai 544 dự án nghiên cứu phát triển (R&D) Trong đó nguồn huy động từ nhà nước là 1,1 tỷ Euro còn lại 2,5 tỷ huy động từ các doanh nghiệp Với các kết quả đã đạt được chính phủ Pháp quyết định chi tiếp 1,5 tỷ Euro cho triển khai giai đoạn 2 (2009 – 2011)
1.1.6.2-Lợi ích của các thành viên tham gia Trung tâm:
Trung tâm có thể được ví như mắt xích kết nối cung - cầu của các sản phẩm khoa học và công nghệ Là nơi mà mỗi một thành viên tham gia đều thu được các lợi ích:
Được hỗ trợ trong tìm kiếm đối tác, phát triển mạng lưới của các doanh nghiệp, của tổ chức
Dể dàng trong việc tìm kiếm thông tin về cung – cầu công nghệ với chi phí thấp
Đối với các tổ chức nghiên cứu được hỗ trợ trong xây dựng dự án, thẩm định, đóng góp ý kiến cho hoàn thiện và nâng cao chất lượng dự án Được cấp giấy chứng nhận mang thương hiệu Trung tâm để làm tăng khả năng cạnh tranh của dự án đối với tổ chức cấp kinh phí
Được trợ giúp trong tìm kiếm nguồn tài chính cho quá trình đầu tư đổi mới công nghệ và triển khai các dự án nghiên cứu R&D
Được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, sáng chế, phát minh
Có thể sử dụng các máy móc, thiết bị, các phòng thí nghiệm hiện đại trong mạng lưới của Trung tâm để triển khai các công trình nghiên cứu, kiểm định chất lượng sản phẩm, …
Thuận lợi trong tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao
Được cung cấp thông tin
Trang 26Mô hình Trung tâm cạnh tranh đang ngày càng thu hút cộng đồng các doanh nghiệp, các trường đại học và viện nghiên cứu của Pháp tham gia Tại Trung tâm Minalogic chẳng hạn, trung bình hàng năm có từ 20 đến 30 thành viên mới gia nhập
1.1.6.3-Mô hình và cơ chế hoạt động của Trung tâm cạnh tranh:
Như đã nói ở trên thực chất Trung tâm là một tổ chức bao gồm các doanh nghiệp, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các nhà đầu tư và các tổ chức kinh tế-xã hội tự nguyện liên kết, phối hợp với nhau nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của từng thành viên tham gia
Trung tâm được thành lập theo mô hình một tổ chức phi lợi nhuận Mô hình điều hành hoạt động của Trung tâm bao gồm:
Đại hội thường niên
Hội đồng quản trị
Ban điều hành
Các nhóm làm việc
a) Đại hội thường niên:
o Hình thức như Đại hội cổ đông trong mô hình công ty cổ phần Hội nghị
được tổ chức thường niên, mỗi năm 1 lần với thành phần tham dự là đại diện của tất cả các đơn vị thành viên của Trung tâm
o Đây là nội dung hoạt động bắt buộc đối với các tổ chức phi lợi nhuận tại Pháp
o Hội nghị thảo luận đánh giá kết quả hoạt động năm của Trung tâm Thông
qua định hướng phát triển của Trung tâm
o Thông qua dự toán ngân sách hoạt động năm tiếp theo của Trung tâm và
quyết định mức đóng lệ phí năm cho các thành viên
o Bầu Hội động quản trị của Trung tâm
o Là dịp để các thành viên của Trung tâm trực tiếp gặp gở và tìm kiếm các đối
tác
Trang 27b) Hội đồng quản trị:
Là các đại diện được bầu từ các nhóm thành viên Ví dụ tại Trung tâm Minalogic ở thành phố Grenoble Hội đồng quản trị của Minalogic có 6 thành viên bao gồm đại diện của các nhóm:
Chủ tịch Hội đồng quản trị của trung tâm Minalogic hiện nay là đại diện của Hãng Schneider-electric
Hội đồng quản trị có nhiệm vụ:
Đại diện cho Trung tâm trong các hoạt động ở bình diện quốc gia và quốc
tế
Xây dựng định hướng chiến lược cho Trung tâm
Quyết định bộ máy điều hành hoạt động của Trung tâm
Xét đơn gia nhập của các thành viên mới
Quyết định dán nhãn Trung tâm cho các thuyết minh đề tài nghiên cứu của
Tạo giá trị và thương mại hóa kết quả của các dự án
Thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên
Các doanh
nghiệp lớn
Các doanh nghiệp N & V
Các Viện nghiên cứu
Các cơ sở đào tạo
Các cấp chính quyền
Trang 28 Triển khai các hoạt động thông tin, truyền thông quảng bá hình ảnh của Trung tâm
Đảm trách các hoạt động đối ngoại của Trung tâm (với các Trung tâm khác
và các quan hệ hợp tác quốc tế)
Cơ cấu, số lượng nhân viên của bộ máy điều hành tùy thuộc vào quy mô và lĩnh vực hoạt động Tại Trung tâm System@tic chẳng hạn số lượng các thành viên tham gia trung tâm lên đến trên 400 nên số lượng nhân viên của Ban điều hành là 25 người, nhưng ở Minalogic số lượng nhân viên chỉ có 6 người đảm nhận điều phối hoạt động hợp tác của trên 150 thành viên Thông thường bộ máy điều hành gồm các vị trí:
Giám đốc Ban điều hành
Thư ký văn phòng ban điều hành
Cán bộ phụ trách công tác thông tin
Cán bộ phụ trách quan hệ vói các doanh nghiệp
Cán bộ phụ trách quan hệ với chính quyền
Cán bộ phụ trách các nhóm chuyên môn (Ví dụ tại Minalogic có 2
Trưởng nhóm: Công nghệ Nano và Công nghệ Chip)
d) Tài chính cho hoạt động của Trung tâm
Trung tâm có biên chế và nguồn tài chính riêng cho các hoạt động của mình Hàng năm Ban điều hành Trung tâm phải có báo cáo hoạt động, quyết toán tài chính
và bản dự toán ngân sách cho năm sau trình tại Đại hội thường niên Đây là căn cứ
để quyết định mức tài trợ của các cấp chính quyền và lệ phí đóng góp của các thành
viên Ví dụ nguồn ngân sách cho hoạt động của Trung tâm Minalogic năm 2008 là
900 nghìn Euro đến từ các nguồn sau:
Lệ phí đóng góp từ các thành viên: 500 nghìn Euro
Chính phủ tài trợ: 250 nghìn Euro
Chính quyền địa phương tài trợ: 150 nghìn Euro
Đây là cách huy động tài chính theo phương thức công – tư cùng hợp tác mà các
tổ chức khoa học – công nghệ của Việt Nam cần học tập Nhà nước, chính quyền địa phương góp một khoản tài trợ tượng trưng Các doanh nghiệp khi được trực tiếp tham gia xây dựng định hướng hoạt động của các tổ chức KH-CN ngoài việc huy động phần lớn nguồn tài chính cho các tổ chức này họ còn là người đặt hang, định hướng cho các hoạt động nghiên cứu của các tổ chức KH-CN
Trang 291.2.Các mô hình và chính sách chuyển giao công nghệ tại các trường đại học của Nhật Bản
Với sự xuất hiện khái niệm "Kinh tế tri thức", các Chính phủ ở hầu hết các nước OECD ngày càng tăng cường những cam kết của họ về các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Đối với Nhật Bản, ngay từ những năm thập niên 80 của thế kỷ trước, Chính phủ Nhật đã khẳng định rằng mục tiêu chính sách cơ bản của nước này
là nhằm trở thành một "quốc gia có nền tảng là khoa học và công nghệ" Dưới đây
là một trong số các mô hình chủ yếu trong Chính sách chuyển giao công nghệ của Nhật Bản phát triển tại các trường đại học
1.2.1- TLO – Mô hình thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa trường đại học và ngành công nghiệp:
Nhận thấy những phát minh ở các trường đại học đã không được tận dụng và mang lại giá trị cho cho xã hội, một đạo luật về thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa trường đại học và ngành công nghiệp đã ra đời Đạo luật có tên là Luật về các Tổ chức Cấp phép Công nghệ (TLOs) được ban hành vào năm 1998 Đạo luật này, được Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế (MITI) và Bộ Khoa học- Giáo dục-Thể thao và Văn hoá (Monbu-sho) đồng soạn thảo, nhằm làm cho việc chuyển giao công nghệ giữa trường đại học và ngành công nghiệp được thuận lợi hơn
Đạo luật về TLOs được thực thi nhằm tạo ra một "chu trình chuyển giao công nghệ đúng đắn" thể hiện qua việc làm cho quá trình cấp bằng sáng chế được dể dàng và thuận lợi hơn Tại các trường đại học công lập, TLOs với sứ mạng thực hiện công việc chuyển giao công nghệ, có thể được tổ chức thành một công ty cổ phần, một công ty hữu hạn hoặc một tổ chức hợp tác, còn trong trường hợp của các trường đại học tư thục, TLOs có thể giữ vai trò là một phân khu của một liên hiệp các khoa Một khi được Bộ trưởng Monbu-sho hoặc MITI phê duyệt trên cơ sở kế hoạch hoạt động mà họ đệ trình, các TLO sẽ đủ tư cách để nhận được các khoản tiền trợ cấp (giới hạn tiền trợ cấp hàng năm là 20 triệu Yên/TLO trong suốt 5 năm đầu tiên), các
Trang 30khoản đảm bảo nợ và hỗ trợ về thu thập thông tin do Quỹ Cải thiện cơ cấu Công nghiệp cung cấp
Căn cứ vào các bằng sáng chế được phát sinh trong các trường đại học công lập và được Nhà nước sở hữu, Bộ luật còn định ra một loại TLO nữa, đó là những TLO
"được uỷ nhiệm" (nintein) bởi Các bộ trưởng có thẩm quyền Những TLO này được phép đệ trình và giữ cho bằng sáng chế không bị tính tiền; và khai thác những bằng sáng chế này (đạo luật về vấn đề này có hiệu lực từ năm 1999)
Đối với người được cấp đăng ký, Bộ luật đưa ra một sửa đổi đối với Luật Tạo điều kiện thuận lợi cho Sự hình thành của Doanh nghiệp mới, cho phép một công ty vừa
và nhỏ (SME) giữ nguyên được vai trò là người hưởng hoa lợi của khoản đầu tư do Công ty Thúc đẩy và Đầu tư SME cung cấp, thậm chí khi vượt quá giới hạn vốn là
100 triệu Yên
Từ khi thông qua Luật về các TLO năm 1998 cho tới cuối tháng 4/2003, Nhật Bản
đã có 32 TLO được chấp nhận hoạt động và một TLO được uỷ nhiệm hoạt động, TLO này có chức năng cấp phép những patent do Chính phủ sở hữu Kể từ khi 4 TLO đầu tiên được thành lập năm 1998, không chỉ số lượng các ứng dụng bằng sáng chế của các trường đại học tăng lên cùng với số lượng các TLO, mà còn cả thu nhập từ việc cấp phép của trường đại học cũng tăng, ví dụ như tiền bản quyền và thu nhập có được từ việc ký kết hợp đồng lựa chọn Điều này cho thấy rằng ngày càng có nhiều sở hữu trí tuệ được các giảng viên trường đại học sở hữu sử dụng các dịch vụ cấp bằng sáng chế và cấp phép của TLO Hiện nay nhận thức của xã hội Nhật Bản về tầm quan trọng của TLO ngày càng tăng lên Từ việc ươm tạo các hạt giống công nghệ của trường đại học thành các ứng dụng thực tiễn, việc thực hiện cấp bằng sáng chế và cấp phép các kết quả nghiên cứu học thuật của TLO đòi hỏi các TLO phải dành thời gian cho các hoạt động như tạo các môi liên lạc với giới công nghiệp, đàm phán và ký hợp đồng các công trình nghiên cứu hợp tác giữa ngành công nghiệp và trường đại học, tổ chức các hội thảo, triển lảm trưng bày các sản phẩm KH-CN Vì vậy, vai trò của TLO đã được mở rộng trong kinh doanh từ việc cấp bằng sáng chế và cấp phép cơ bản tới việc trang bị nhận thức cho các giảng
Trang 31viên đại học về các vấn đề sở hữu trí tuệ (IP), liên lạc công nghiệp và tới các hoạt động hỗ trợ đồng bộ cho việc chuyển giao công nghệ Năm 2002, Hội nghị của Uỷ ban Hợp tác giữa Trường đại học và Công nghiệp về Việc làm và Cải tổ Cơ cấu Ngành công nghiệp đã chuyển đổi TLO thành Cơ quan Quản lý Công nghệ (TMO) Hơn thế, vào tháng 6/2002, Chính phủ còn sửa đổi các luật và biện pháp liên quan nhằm mở rộng phạm vi các hoạt động của TLO trường đại học đối với hỗ trợ thương mại hoá công nghệ Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng nhiều trợ giúp và ưu đãi cho các TLO Cho đến cuối năm tài khoá 2001, dưới sự trợ cấp của "Quỹ tài trợ Cải thiện Cơ cấu Ngành công nghiệp", một khi đơn xin tài trợ được phê duyệt, nhà nước có thể tài trợ tới 2/3 chi phí hoạt động của mỗi TLO (nhưng không vượt quá
30 triệu Yên) và sẽ được cấp hàng năm cho 5 năm liên tiếp Từ năm tài khoá 2002,
Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (từ 1/2001, MITI được đổi thành METI)
sẽ bắt đầu quản lý việc cấp tài trợ cho các TLO và giảm tài trợ xuống một mức nhất định
1.2.2- Mô hình các khu ƣơm tạo công nghệ
Trong khi các TLO hoạt động trong lĩnh vực chuyển đổi các hạt giống công nghệ từ trường đại học hoặc các viện nghiên cứu thành sở hữu trí tuệ và chuyển giao những
sở hữu trí tuệ này bằng việc cấp phép cho người sử dụng công nghệ, thì giá trị xã hội của công nghệ không thể được công nhận mà không có quá trình ươm tạo, ở quá trình đó các vườn ươm đóng vai trò quan trọng Sau giai đoạn ươm tạo, các công viên khoa học tham gia vào chu trình với vai trò là một phương tiện hữu ích rất quan trọng đối với những doanh nghiệp mới thành lập chuyên sâu về nghiên cứu
Trong suốt thập niên 80, Chính phủ Nhật Bản bắt đầu thực hiện một loạt các biện pháp để thúc đẩy các ngành công nghiệp địa phương, bao gồm việc thành lập rộng rãi các cơ quan hỗ trợ công nghiệp và các công viên khoa học, mặc dù khái niệm về khu ươm tạo công nghệ vẫn chưa phổ biến Khu ươm tạo công nghệ phi lợi nhuận đầu tiên được sáng lập được dựa trên Luật Thúc đẩy Sự tham gia của thành phần Tư nhân và số lượng các Khu ươm tạo phi lợi nhuận đã tăng lên kể từ đầu những năm
90 Hơn nữa, kể từ khi thông qua Luật Xúc tiến Doanh nghiệp mới năm 1998, Liên đoàn Phát triển địa phương Nhật Bản (JRDC) có trách nhiệm làm cho các khu ươm tạo công nghệ được phát triển thuận lợi Tới 4/2002, có tới 30 khu ươm tạo được JRDC thành lập Cũng như vậy, trong năm 2002, một ngân sách bổ sung của JRDC dược phê duyệt để cấp tiền cho việc thành lập các khu ươm tạo trường đại học
Trang 32nghệ (MEXT) (Từ 1/2001 Monbu-sho trở thành MEXT) cấp tài chính cho việc thành lập các khu ươm tạo ở trường đại học Tohoku, Viện Công nghệ Tokyo và trường đại học Nagoya, tiếp theo là hơn 10 khu ươm tạo trường đại học bằng ngân sách bổ sung của MEXT
Xét về cơ sở hạ tầng, năm 2003, ngân sách hàng năm dành cho việc thành lập các vườn ươm doanh nghiệp chiếm tới 2,3 tỷ Yên và 7,3 tỷ Yên dành cho việc thành lập các vườn ươm của trường đại học
Nhằm cải thiện các dịch vụ hỗ trợ của các khu ươm tạo về mặt số lượng và chất lượng, một chiến lược hiệu quả hơn được chú trọng vào việc nâng cấp số lượng và chất lượng các nhà quản lý việc ươm tạo, đây là một lĩnh vực chuyên nghiệp đang hiện rõ Đó là lý do vì sao METI bắt đầu trợ cấp chi phí của các vườn ươm về mặt đào tạo các nhà quản lý việc ươm tạo, với hi vọng hình thành nên một mạng lưới các nhà quản lý khu ươm tạo trong tương lai
Đối với hỗ trợ về mặt công nghệ, điều quan trọng đối với một khu ươm tạo là duy trì được mối liên hệ với các trường đại học và các viện nghiên cứu và nâng cao việc tiếp cận với thông tin Đối với hỗ trợ thương mại, một khu ươm tạo nên hoạt động theo cách tích hợp các chuyên viên như các nhà kinh doanh có kinh nghiệm, những người được uỷ quyền và luật sư cấp bằng sáng chế, các nhân viên kế toán và các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ, các nhóm và các hệ thống khác
1.3-Mô hình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp tại Hàn Quốc:
Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại GDP (PPP - tính theo sức mua của USD) bình quân đầu người đã nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007 Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề
từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc Hàn Quốc có những tên tuổi lớn toàn cầu trong rất nhiều lĩnh vực: Samsung, LG (điện tử, hóa chất); Posco (sắt thép, xây dựng), Doosan (xây dựng, hóa chất), Kumho Asiana (hàng không, xây dựng, hóa chất), Huyndai (ô tô, đóng tàu), KIA (ô tô), Lotte (siêu thị) Việc phát triển mối quan hệ bền vững qua lại giữa nghiên cứu trong giáo dục với các công ty sản xuất kinh doanh có thể nói đã đóng góp vào sự phát triển của Hàn Quốc trong thế kỷ 20 cũng như trong nhiều năm nữa
Có 3 cách tiếp cận trong chuyển giao công nghệ, phát minh được các trường và doanh nghiệp tại Hàn Quốc sử dụng:
Trang 33 Tiếp xúc trực tiếp giữa phòng thí nghiệm (PTN) và công ty: Có hợp tác trực
tiếp giữa các phòng thí nghiệm (PTN) của các trường đại học với các doanh nghiệp, công ty Các dự án nghiên cứu, phát triển sản phẩm được ký kết không chỉ với các công ty vừa và nhỏ (SME) mà ngay cả với rất nhiều các tập đoàn lớn Ví dụ như đại học POSTECH hàng năm thực hiện rất nhiều các nghiên cứu ứng dụng cho tập đoàn thép POSCO, thậm chí POSCO đã thành lập một viện nghiên cứu ngay tại POSTECH ( Research Institute of Steel Technology- RIST)
Công ty đặt hàng nghiên cứu tới PTN thông qua một tổ chức thứ 3: Một
PTN có thể được đề nghị tham gia nghiên cứu một mảng trong dự án của một PTN hoặc đơn vị nghiên cứu khác Hình thức này chủ yếu dựa trên mối quan hệ cá nhân của các giáo sư phụ trách các PTN Có nhiều PTN chia sẻ nghiên cứu của mình với các trung tâm nghiên cứu và trường đại học tại các nước phát triển trên thế giới như Mỹ và Nhật Bản thông qua việc gửi sinh viên tới các PTN tiên tiến ở nước ngoài để tiếp thu các công nghệ mới sau
đó quay lại thực hiện các dự án của PTN mình, hoặc trực tiếp chia sẻ thông tin nghiên cứu, hoặc mời chuyên gia nước ngoài tham dự
Các tổ chức của chính phủ tài trợ trực tiếp cho nghiên cứu của PTN rồi cấp phép sử dụng kết quả nghiên cứu cho các doanh nghiệp bên ngoài Đối với
các nghiên cứu mang tầm chiến lược quốc gia, các nghiên cứu khoa học cơ bản thì nhà nước thông qua các tổ chức đầu tư cho nghiên cứu như KOSEF, BK21 tài trợ cho các đề tài, chương trình Các quỹ đầu tư cho nghiên cứu
cũng có thể nhận được tài trợ từ các tập đoàn công nghiệp, kinh doanh lớn
1.3.1- Các bộ phận cấu thành trong mô hình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ:
Phòng thí nghiệm (Laboratory - PTN): 13
Science Research Center (SRC), Engineering Research Center (ERC): Được thành lập nhằm thúc đẩy hợp tác giữa trường, viện và các công ty Công ty thường đóng góp chi phí hoạt động cho các trung tâm (90%)
Regional Research Center (RRC): Lập bởi chính quyền vùng và các tổ chức
hỗ trợ R&D nhằm thúc đẩy nghiên cứu KH&CN cũng như nguồn nhân lực của vùng
Technology Innovation Center (TIC): TIC được thành lập chủ yếu bởi trường đại học (có thể có công ty tham gia) nhằm tạo ra nguồn lực nghiên cứu dồi dào (chuyên gia, kết quả nghiên cứu, bí quyết công nghệ, thiết bị,
Trang 34 University Industrial Technology Force (UNITEF): UNITEF ra đời vào 14/09/1996 Đây là một tổ chức tự nguyện, tập trung tri thức của hơn 2000
GS từ 108 trường đại học với 8 chi nhánh trong cả nước Mục tiêu của nó là nhằm thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các SME, đẩy mạnh phát minh sáng chế trong công nghiệp thông qua việc hợp tác chặt chẽ giữa các trường đại học và các doanh nghiệp
Hệ thống các vườn ươm doanh nghiệp (Technology Business Incubator – TBI): Do bộ Thương Mại, Công nghiệp và Năng lượng (MOICE) hoặc chương trình hỗ trợ khởi lập doanh nghiệp của bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ (MEST) hỗ trợ thành lập Sự ra đời của TBI đã giúp thúc đẩy mạnh mẽ chuyển giao công nghệ tại Hàn Quốc nói chung và giữa trường đại học và doanh nghiệp nói riêng
Các công viên Khoa học, Vùng trọng điểm công nghệ (cluster) và các Trung tâm cấp phép công nghệ (TLO consortium) cũng góp phần thúc đẩy hợp tác giữa các trường và doanh nghiệp Tại Hàn Quốc có 3 cluster khá mạnh gắn liền với các công viên khoa học: Daeduk Science Town (tại thành phố Daejon); Kangnam, Kyunggi và Incheon (thuộc khu vực thủ đô – Capital Region); và Kwangju Các Cluster gắn kết sự quan tâm của chính quyền địa phương, các bộ ngành, các công ty với các trường đại học và viện nghiên cứu trong vùng Đi kèm với cluster người ta thương thành lập các TLO consortium Các TLO này có thể đóng góp vào việc nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp vùng do chúng gắn với hoạt động của vùng Có 4 TLO consortium theo khu vực như sau:
Tên (Trang chủ) Đơn vị lãnh
đạo
Các tổ chức thành viên Thời
gian thành lập TLO cho khu vực thủ đô
Trang 35(www.cttl.or.kr) 6 Công ty môi giới và tư vấn
TLO cho miền Trung
(www.ctc.ne.kr)
KITECH 5 GRI
10 ĐH
2 Công viên công nghệ
1 Công ty môi giới
Các bộ ngành, các tổ chức liên quan đóng vai trò rất lớn trong thúc đẩy nghiên cứu
tại các trường Có thể kể đến Bộ Giáo Dục, Khoa Học và Công Nghệ (MEST 11
), Quỹ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (Korea Science and Engineering
Foundation - KOSEF 12 ), Quỹ nghiên cứu Hàn Quốc (Korea Research Foundation - KRF 13 ) với các dự án BK21 (Brain Korea 21) và NURI14 (New University for Regional Innovation) Tuy vai trò và sự hỗ trợ cụ thể có khác nhau giữa các bộ ngành nhưng họ có những đặc điểm chung như sau:
Mục tiêu chủ đạo là phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc có năng lực cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ nhưng gián tiếp, các tổ chức này là nơi phân bổ các nguồn vốn vào những nơi có khả năng phát triển nghiên cứu công nghệ mạnh nhất
Không có sự khác biệt trong sự đối xử giữa các trường, viên nghiên cứu công và tư Việc cấp kinh phí cho nghiên cứu phụ thuộc vào tiềm năng phát triển và năng lực thực hiện của từng đơn vị (mà đôi khi đánh giá cụ thể hơn
11
Nguồn tại http://english.mest.go.kr/
12 Nguồn tại http://www.kosef.re.kr/english_new/introduction/introduction_02.html
Trang 36là đối với từng PTN) dựa trên số lần đăng ký phát minh sáng chế, số bài báo khoa học tầm quốc tế
Hành lang pháp lý nhằm hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt đông nghiên cứu và chuyển giao công nghệ:
Các chính sách chủ đạo thúc đẩy xúc tiến việc chuyển giao công nghệ từ khu vực nghiên cứu sang môi trường doanh nghiệp tại Hàn Quốc được mô tả trong bảng dưới đây Trong đó đạo luật xúc tiến chuyển giao công nghệ (TTPA) được cho là có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới các trường đại học trong việc quản lý sở hữu trí tuệ (IPR) Tuy nhiên còn rất nhiều các bộ luật của các ngành có quy định trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động chuyển giao công nghệ
1972 Đạo luật xúc tiến nghiên cứu
và phát triển (R&DPA)
Cho phép những người ký hợp đồng R&D được giữ quyền phát minh được phát triển trong khi thực hiện dự án R&D hỗ trợ từ chính phủ
1993 Kế hoạch kinh tế mới 5 năm
(1993-1997)
Chú trọng vào vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ PRI tới doanh nghiệp
1995 Đạo luật hỗ trợ cho việc khởi
sự SME (sửa đổi)
Đẩy mạnh việc thành lập các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ ngay tại các PRI
1997 Đạo luật tiêu chuẩn đặc biệt
cho phát minh công nghệ và
khoa học
Đòi hỏi chính phủ phát triển tiêu chuẩn hỗ trợ phù hợp cho các phát minh khoa học và công nghệ, chú trọng vào triển khai và mở rộng ảnh hưởng của công nghệ
1997 Đạo luật tiêu chuẩn đặc biệt
cho việc xúc tiến các doanh
nghiệp mại hiểm
Cho phép các nhà nghiên cứu (bao gồm cả GS) gắn với các GRI (hoặc các trường đại học) trong việc lập các doanh nghiệp trong khi vẫn giữ được chỗ làm việc hiện thời tại các PRI
2000 Đạo luật xúc tiến chuyển giao
công nghệ (TTPA)
Quy định rằng tất cả các PRI đều phải có một TLO (Phòng cấp phép công nghệ) với ít nhất một nhân viên chuyên thực hiện nhiệm vụ chuyển giao công nghệ
1.3.3- Quản lý sở hữu trí tuệ tại các trường đại học
Tại Hàn Quốc phần lớn các trường đại học chưa có bề dày lịch sử trong việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D) và bảo vệ quyền phát minh sáng chế
Trang 37nếu so với các viện nghiên cứu được cấp vốn chính phủ Các trường đại học thường chú trọng vào giảng dạy nhiều hơn là tiến hành các nghiên cứu Điều này dẫn tới thiếu đồng bộ và yếu kém trong quản lý quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và ít khi thương mại hoá thành công các phát minh sáng chế đã được đăng ký Do đó, trong vài năm gần đây, một số trường đại học cùng với sự ra đời của TTPA đã thiết lập hệ thống quản lý IPR chính tắc nhờ việc đẩy mạnh quá trình liên kết với các doanh nghiệp và
sự phát triển mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu trong các trường đại học Thông thường các trung tâm quản lý IPR xây dựng các khung tỷ lệ chia sẻ lợi nhuận có được từ phát minh giữa trường, GS nghiên cứu, nhân viên, sinh viên, đối tác và chúng khá đa dạng về cách thức chia sẻ cũng như cách thức hoạt động Ví dụ như viện KAIST thanh toán các đăng ký IPR và lợi nhuận từ công nghệ đó được chia sẻ giữa các bên liên quan: 30% cho viện để nhằm tái đầu tư nghiên cứu, 10% giành cho người đóng góp nghiên cứu chính, 5% giành cho GS hướng dẫn chính, 4% giành cho các GS phụ giúp, 2% cho các kỹ thuật viên và 3% giành cho các đối tượng khác Còn ở POSTECH, lợi nhuận dưới mức 300 triệu Won (khoảng 290,000 USD) sẽ được phân chia theo tỷ lệ 50:10:40 cho trường, khoa và nhóm phát minh Đối với mức lợi nhuận trên 300 triệu Won, tỷ lệ sẽ là 2/3 giành cho trường và khoa, nhóm phát minh sẽ được nhận 1/3 POSTECH không cung ứng phí cho việc đăng
ký phát minh một cách riêng rẽ trừ khi lợi nhuận đã tính tới các phí dịch vụ
1.4-Mô hình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tại đại học Thanh Hoa
(Trung Quốc):
Trong quá trình xúc tiến đổi mới các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của mình, trường đại học Bách khoa Hà Nội đã cử một đoàn cán bộ đi khảo sát học tập kinh nghiệm tại một số trường đại học của Trung Quốc (đại học Thanh Hoa, đại học Giao thông vận tải Tây An và đại học công nghệ Hoa Nam)
Mô hình và những thành tựu mà đại học Thanh Hoa đã đạt được đáng để chúng ta học tập
1.4.1-Giới thiệu tổng quan về đại học Thanh Hoa:
Thanh Hoa là một trong những trường đại học hàng đầu của Trung Quốc Trụ sở chính của trường được xây dựng trên khuôn viên rộng 405 ha Tại thời điểm đoàn đi khảo sát trường có 2857 cán bộ giảng dạy (CBGD) Trong đó có 1172 Giáo sư;
1061 Phó giáo sư; 34 Viện sỹ viện hàn lâm khoa học Trung Quốc Tỷ lệ CBGD dưới 45 tuổi là 67%
Trang 38Là trường đại học công nghệ hàng đầu của Trung Quốc nên các trang thiết bị phục
vụ cho đào tạo và nghiên cứu khoa học cua đại học Thanh Hoa được trang bị rất tốt Các thông tin về trang thiết bị và quy mô tuyển sinh của trường Thanh Hoa được thể hiện ở bảng số liệu sau Đây là trường đại học đã đoạt 01 giải thưởng Nobel
Trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên
cứu:
PTN Quốc gia :
01 PTN Trọng điểm cấp bộ:
13 PTN Trọng điểm cấp nhà nước :
12
Quy mô tuyển sinh năm 2008:
Qui mô đào tạo ĐH: 31 786
Qui mô đào tạo Thạc sĩ
Khoa học : 8 065
Nghề nghiệp: 4 777
Qui mô đào tạo NCS:
5156
1.4.2-Mô hình tập đoàn công nghiệp đại học Thanh Hoa:
Sau nhiều năm thử nghiệm đến nay đại học Thanh Hoa đã thành lập Tập
đoàn công nghiệp Thanh Hoa (Tsinghua Holding Co.,Ltd) Mô hình là công ty
trách nhiệm hữu hạn nhà nước, 100% vốn pháp định là của ĐH Thanh hoa (2 tỷ NDT-2003) Doanh nghiệp thuộc sở hữu của đại học Thanh Hoa, nhưng độc lập về quản lý đối với trường Để kiểm soát trường thành lập Hội đồng quản lý sản nghiệp
mà chúng tôi tạm dịch là Ban quản lý công sản gồm những người có chuyên môn giúp lãnh đạo trường quản lý các hoạt động của doanh nghiệp Như vậy ở đây các hoạt động chuyển giao công nghệ được vận hành theo đúng cơ chế của thị trường,
không chịu sự quản lý hành chính của một cơ sở đào tạo, nghiên cứu công lập
Trang 39Thanh Hoa Holdings có chức năng quản lý, sinh lợi lượng tài sản hữu hình và vô hình mà đại học Thanh Hoa đã đầu tư vào hệ thống doanh nghiệp Nhiệm vụ chính
của công ty là :
Thương mại hoá các thành tựu nghiên cứu KH & công nghệ của nhà trường
Ươm tạo các doanh nghiệp công nghệ cao;
Tư vấn và chuyển giao công nghệ;
Quản lý đầu tư, vốn & tài sản
Các doanh nghiệp thuộc tập đoàn Thanh Hoa được phân chia thành 2 dạng:
Công ty thành viên: là những doanh nghiệp mà Thanh Hoa Holdings nắm cổ phần chi phối
Công ty liên kết là dạng công ty Thanh Hoa Holdings góp cổ phần nhưng không nắm quyền kiểm soát
Trang 40Tại thời điểm năm 2008 Thanh Hoa Holdings bao gồm 98 đơn vị trong đó có 32 công ty thành viên và 66 công ty liên kết Trong 3 năm liên tục từ 2003 đến 2005, Thanh Hoa Holdings được xếp hạng là một trong 500 tập đoàn công nghiệp đứng đấu Trung Quốc với các kết quả cụ thể về doanh thu như sau:
Công viên khoa học đại học Thanh
Hoa:
Thành lập năm 1994;
Diện tích 25 ha, 69000 m2
sàn (tại Bắc kinh );
Là môi trường thu hút sự
sáng tạo và đổi mới, nơi qui
tụ của trí tuệ và tài năng;
Là nơi tương tác, giao thoa
giữa NCKH và công nghiệp;
Là nơi tập trung của các
công nghệ cốt lõi (core
technology) & nuôi dưỡng
các doanh nghiệp xuất sắc