- Phân tích môi trường kinh doanh, hiện trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội, từ đó tìm ra các cơ hội cũng như thách thức, điểm yếu cũng như điể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Nguyễn Trung Văn
HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HÀ NỘI
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Viện đào tạo sau đại học, Khoa Kinh tế & Quản lý cùng các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này
Đặc biệt, tôi xin trân trọng và cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo - Tiến sỹ
Nguyễn Ngọc Điện đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu để xây dựng và hoàn thiện đề tài
Xin được cảm ơn Ban lãnh đạo, các phòng ban chuyên môn, các đơn vị của Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội cũng như các doanh nghiệp bạn đã cung cấp tài liệu và tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia
sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song bản luận văn này khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhất định; tôi kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp chân thành của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và các đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2011
Người thực hiện
Nguyễn Trung Văn
Trang 3Tôi xin cam đoan:
- Đề tài tốt nghiệp này là do tôi tự xây dựng và hoàn thiện dưới sự hướng
dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Ngọc Điện
- Các số liệu sử dụng trong đề tài hoàn toàn trung thực với thực tế, các tài
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - 3
CHƯƠNG I - 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH - 6
CHIẾN LƯỢC KINH DOANH - 6
I.1 Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh: - 6
I.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh: - 6
I.1.2 Đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh: - 6
I.1.3 Các cấp chiến lược: - 7
I.2 Quản trị chiến lược: - 8
I.2.1 Khái niệm quản trị chiến lược: - 8
I.2.2 Vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh: - 9
I.3 Mô hình quản lý chiến lược kinh doanh: - 9
I.3.1 Mô hình quản lý chiến lược kinh doanh: - 9
I.4 Các chiến lược kinh doanh: - 24
I.4.1 Chiến lược tăng trưởng : - 24
I.4.2 Chiến lược suy giảm: - 26
I.4.3 Chiến lược đổi mới: - 27
I.5 Lựa chọn chiến lược: - 27
I.6 Các công cụ để phân tích và lựa chọn chiến lược: - 29
I.6.1 Bảng tổng hợp môi trường kinh doanh: - 29
I.6.2 Ma trận cơ hội: - 29
I.6.3 Ma trận nguy cơ: - 30
I.6.4 Ma trận Mc.Kinsey (ma trận GE) - 31
I.6.5 Ma trận chiến lược chính (Grand Strategy Matrix) - 32
I.6.6 Ma trận SWOT: - 33
TÓM TẮT CHƯƠNG I - 35
CHƯƠNG II - 36
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH - 36
CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HÀ NỘI - 36
II.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty điện lực TP Hà Nội: - 36
II.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển sản xuất kinh doanh: - 36
II.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội: - 38
II.1.3 Bộ máy tổ chức quản lý của Tổng Công ty Điện lực thành phố Hà Nội - 40
II.2.3 Phân tích môi trường nội bộ: - 64
II.2.4 Tổng hợp phân tích các yếu tố thuộc môi trường bên trong: - 78
TÓM TẮT CHƯƠNG II - 80
CHƯƠNG III - 81
HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH - 81
TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015 - 81
III.1 Sứ mệnh và mục tiêu chiến lược của EVN HANOI: - 81
III.1.1 Sứ mệnh: - 81
Trang 5III.1.2 Mục tiêu chiến lược: - 81
III.1.3 Một số chỉ tiêu chính của Tổng công ty đến năm 2015: - 82
III.2 Lựa chọn phương án chiến lược kinh doanh cho Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội đến năm 2015: - 83
III.2.1 Cơ sở lựa chọn chiến lược theo mô hình SWOT - 83
III.2.2 Phân tích theo mô hình SWOT: - 84
III.3 Các phương án chiến lược chủ yếu của Tổng Công ty đến năm 2015 85
III.3.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung bằng cách thâm nhập thị trường hiện tại - 85
III.3.2 Chiến lược tăng trưởng tập trung bằng việc phát triển sản phẩm mới - 92
TÓM TẮT CHƯƠNG III - 102
KẾT LUẬN - 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 105
Trang 6
MỞ ĐẦU
Ngành điện là một ngành kinh tế chủ đạo, có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Ngành điện cung ứng mặt hàng thiết yếu - điện năng - cho cuộc sống, sinh hoạt, lao động sản xuất của tất cả các ngành và người dân Do vậy việc duy trì và phát triển lưới điện đến tất cả các khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tập trung đầu tư, chỉ đạo một cách toàn diện đối với hoạt động của ngành điện
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, ngành điện đã luôn cố gắng hoàn thành một cách có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội
đã được Đảng và Nhà nước giao phó, đóng góp xứng đáng vào công cuộc đấu tranh bảo vệ và giải phóng đất nước trước đây cũng như công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay
Từ khi chuyển đối nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sáng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành điện nói chung và Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội nói riêng đã phải cố gắng rất nhiều để thích nghi và tồn tại trong điều kiện mới Khi Việt Nam hội nhập với thế giới, yêu cầu đổi mới đối với ngành điện, thay đổi cơ chế vận hành thị trường điện năng càng trở nên cấp bách Thị trường phát điện cạnh trạnh đã dần được hình thành, cơ chế bao cấp cho ngành điện từ
từ bị loại bỏ Vị thế độc quyền của các Công ty điện lực bị đe dọa, môi trường kinh doanh càng ngày càng khó khăn, nguy cơ phải cạnh tranh với đối thủ trên thương trường đã hiện hữu
Để tồn tại và phát triển bền vững cần thiết phải có một chiến lược hợp lý, những giải pháp hỗ trợ phù hợp để đáp ứng nhu cầu thị trường, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế thế giới và thích nghi những biến động phức tạp của môi trường nhằm đưa Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội phát triển về mọi mặt
và trở thành Tổng công ty có thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực phân phối điện năng của Thủ đô nói riêng và trong ngành điện lực Việt Nam nói chung
Từ thực tế đó, đề tài luận văn “Hoạch định chiến lược kinh doanh Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội đến năm 2015” là một nhu cầu cấp thiết
hiện nay để phần nào đó có thể giúp cho Tổng công ty chủ động, nâng cao hiệu quả kinh doanh và cạnh tranh thành công trong tương lai
1 Mục đích của luận văn:
- Nghiên cứu các lý luận có liên quan đến việc hoạch định chiến lược cho các công ty kinh doanh
Trang 7- Phân tích môi trường kinh doanh, hiện trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội, từ đó tìm ra các cơ hội cũng như thách thức, điểm yếu cũng như điểm mạnh của Tổng công ty
- Xây dựng đề xuất các giải pháp chiến lược cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội
2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: thống kê, mô phỏng, dự báo và phân tích kinh tế
Dữ liệu được thu thập dựa trên 2 nguồn sơ cấp và thứ cấp:
- Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc trao đổi với lãnh đạo của Tổng công ty điện lực TP Hà Nội và thăm dò ý kiến chuyên gia, điều tra thực tiễn…
- Dữ liệu thứ cấp được thu thập trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của Viện năng lượng và các báo cáo tổng kết của Tập đoàn điện lực Việt Nam, Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội cũng như trên mạng Internet
4 Những đóng góp của luận văn:
Luận văn này phân tích và đưa ra các giải pháp chiến lược cho công tác kinh doanh điện năng của Tổng công ty điện lực TP Hà Nội đến năm 2015
5 Kết cấu của luận văn:
- Phần mở đầu
- Chương I: Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh
- Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội
- Chương III: Hoạch định chiến lược kinh doanh Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội đến năm 2015
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 8- Kết quả: Luận văn này có thể là tài liệu tham khảo để Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội hoạch định các chính sách, chiến lược và kế hoạch trong tương lai từ nay đến năm 2015
Nghiên cứu vấn đề này, người viết đã có nhiều cố gắng, dành nhiều thời gian, suy nghĩ, tìm tòi học hỏi nghiên cứu Tuy nhiên, hoạch định chiến lược kinh doanh trong thời gian tới là một vấn đề tương đối phức tạp, mang tính thời
sự, thay đổi cùng thực tiễn của nền kinh tế đất nước đặc biệt đối với đặc thù là một doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong khâu phân phối điện năng như Tổng công ty điện lực TP Hà Nội Với thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết
Rất mong Thầy, Cô và bạn đọc quan tâm góp ý để luận văn được hoàn chỉnh và mang tính thiết thực hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Trang 9CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
I.1 Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh:
I.1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh:
Thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh từ đầu những năm 60 và tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau và vào từng thời kỳ phát triển khác nhau mà các nhà kinh tế có những quan niệm khác nhau về chiến lược
Tiếp cận về phía “cạnh tranh”, theo Micheal.E.Porter: “Chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh để phòng thủ”
Theo hướng tiếp cận khác, nhóm tác giả Garry D.Smith, Danny R.Arnold,
Bopby G.Bizzell trong cuốn “Chiến lược và sách lược kinh doanh” cho rằng:
“Chiến lược được định ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát dẫn dắt hoặc định hướng tổ chức đi đến mục tiêu mong muốn”
Theo Alfred Chandler (trường đại học Harward): “Chiến lược kinh doanh
là tiến trình định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”
Theo cách tiếp cận thông thường, chiến lược kinh doanh là công cụ giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình
Chiến lược kinh doanh nhằm giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài, là một điều hết sức quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Dựa vào chiến lược kinh doanh, các nhà quản lý có thể lập ra các kế hoạch cho những năm tiếp theo Một chiến lược vững mạnh luôn cần đến khả năng, điều hành linh hoạt, sử dụng được các nguồn lực vật chất, tài chính và con người thích ứng
I.1.2 Đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh:
Tuy còn có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến lược song các đặc trưng cơ bản của chiến lược trong kinh doanh được quan niệm tương đối thống nhất Các đặc trưng cơ bản đó là:
- Chiến lược kinh doanh phải xác định rõ những mục tiêu cơ bản, phương hướng kinh doanh cần đạt tới trong từng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh vực hoạt động quản trị của doanh nghiệp Tính định hướng của chiến
Trang 10lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động
- Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo những phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Nó chỉ mang tính định hướng còn trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu kinh tế, xem xét tính hợp lý và điều chỉnh một cách linh hoạt và khoa học cho phù hợp với môi trường và điều kiện kinh tế để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và khắc phục sự sai lệch do tính định hướng của chiến lược gây ra
- Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở các lợi thế của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài sản lực cả vô hình và hữu hình), năng lực cốt lõi của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt
cơ hội để giành ưu thế trong kinh doanh
- Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược
- Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện
và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao
I.1.3 Các cấp chiến lược:
Chiến lược có thể được quản lý ở nhiều cấp khác nhau trong một doanh nghiệp nhưng thông thường có 3 cấp chiến lược cơ bản:
- Chiến lược cấp công ty (Corporate strategy)
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (Strategic Business Unit-SBU)
- Chiến lược cấp chức năng (Functional strategy)
¾ Chiến lược cấp công ty:
Chiến lược cấp công ty hướng tới các mục tiêu cơ bản dài hạn trong phạm
vi của cả công ty Ở cấp này, chiến lược phải trả lời được câu hỏi: Các hoạt động nào có thể giúp công ty đạt được khả năng sinh lời cực đại, giúp công ty tồn tại
và phát triển?
Theo Fred R David, chiến lược cấp công ty có thể phân thành phân thành
4 nhóm cơ bản sau: Nhóm chiến lược kết hợp, nhóm chiến lược chuyên sâu, nhóm chiến lược mở rộng hoạt động và các chiến lược khác… Trong đó, mỗi loại chiến lược lại bao gồm nhiều hoạt động cụ thể, ví dụ như: Chiến lược thâm nhập thị trường có thể gồm gia tăng lực lượng bán hàng, tăng chi phí quảng cáo,
Trang 11tiến hành các hoạt động khuyến mại và những hoạt động tương tự để gia tăng thị phần trong một khu vực địa lý
¾ Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh:
Chiến lược kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể Chiến lược kinh doanh bao gồm cách thức cạnh tranh mà
tổ chức lựa chọn, cách thức tổ chức định vị trên thị trường để đạt được lợi thế cạnh tranh và các chiến lược định vị khác nhau có thể sử dụng trong bối cảnh cụ thể của mỗi ngành Theo Michael Porter, có ba chiến lược cạnh tranh tổng quát: Chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hoá sản phẩm và chiến lược tập trung vào một phân khúc thị trường nhất định
¾ Chiến lược cấp chức năng:
Chiến lược cấp chức năng hay còn gọi là chiến lược hoạt động là chiến lược của các bộ phận chức năng (marketing, dịch vụ khách hàng, phát triển sản xuất, logistics, tài chính, nghiên cứu và phát triển-R&D, nguồn nhân lực…) Các chiến lược này giúp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động trong phạm vi công
ty, do đó giúp các chiến lược kinh doanh, chiến lược cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu
I.2 Quản trị chiến lược:
I.2.1 Khái niệm quản trị chiến lược:
Theo nhóm tác giả Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Bopby G.Bizzell
trong cuốn “Chiến lược và sách lược kinh doanh” cho rằng: “Quản lý chiến lược
là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”
Trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn biến động như hiện nay, thường tạo ra những cơ hội và nguy cơ bất ngờ, quá trình quản trị chiến lược giúp chúng ta nhận biết được các cơ hội và nguy cơ trong tương lai nhằm giúp các doanh nghiệp xác định rõ hướng đi, vượt qua những thử thách trong thương trường, vươn tới tương lai bằng những nỗ lực của chính mình
Quá trình quản trị chiến lược giúp cho doanh nghiệp gắn kết được kế hoạch đề ra với môi trường bên ngoài, sự biến động càng lớn doanh nghiệp càng phải cố gắng chủ động
Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình hệ thống quản trị chiến lược có tính thích ứng, thay đổi cùng với sự biến động của thị trường
Trang 12Do vậy quản trị chiến lược đi theo hướng hành động hướng tới tương lai, không chấp nhận việc đi theo thị trường, mà nó có tác động thay đổi môi trường kinh doanh
Tóm lại, quản trị chiến lược là một sản phẩm của khoa học quản lý hiện đại dựa trên cơ sở thực tiễn, đúc kết kinh nghiệm của rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức Tuy vậy mức độ thành công của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộc vào năng lực triển khai, thực hiện, kiểm soát của hệ thống bên trong và được xem như là nghệ thuật trong quản trị kinh doanh
I.2.2 Vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh:
Việc xây dựng, thực hiện chiến lược kinh doanh trong cơ chế thị trường hiện nay có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Quản trị chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận rõ được mục đích, hướng đi của tổ chức trong tương lai, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp
- Quản trị chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thương trường kinh doanh
- Quản trị chiến lược kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững
- Quản trị chiến lược kinh doanh tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp để có quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường Nó tạo ra cơ
sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển, đào tạo bồi dưỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm Trong thực tế, phần lớn các sai lầm trong đầu tư, công nghệ, thị trường… đều xuất phát từ chỗ xây dựng chiến lược hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lược
Cội nguồn của thành công hay thất bại phụ thuộc vào một trong những
yếu tố quan trọng là doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh như thế nào?
I.3 Mô hình quản lý chiến lược kinh doanh:
I.3.1 Mô hình quản lý chiến lược kinh doanh:
Hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm vào một thời gian dài, thông thường là từ 5 năm trở lên, do vậy nó phải dựa trên cơ sở dự báo dài hạn Hoạch định chiến lược kinh doanh là một chức năng của quản trị chiến lược
Trang 13Hình 1.1 là mô hình quản lý chiến lược cơ bản, trong đó bố trí các phần chủ yếu của qui trình quản lý chiến lược
(Nguồn: Chiến lược và sách lược kinh doanh - Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Bobby G.Bizzell)
Hình 1.1: Mô hình quản lý chiến lược
¾ Hoạch định chiến lược:
Thiết lập chiến lược gồm việc phát triển nhiệm vụ kinh doanh, xác định các cơ hội, nguy cơ đến với tổ chức từ bên ngoài, chỉ rõ các điểm mạnh, điểm yếu bên trong, thiết lập các mục tiêu dài hạn, tạo ra các chiến lược thay thế và chọn ra các chiến lược đặc thù để theo đuổi
¾ Thực hiện chiến lược:
Thực hiện chiến lược là quá trình đưa những chiến lược khác nhau của tổ chức vào thực thi Các biện pháp thực hiện những cấp khác nhau của chiến lược được gắn chặt với việc xây dựng chiến lược
¾ Đánh giá, điều chỉnh:
Giai đoạn cuối của quản lý chiến lược là đánh giá chiến lược
Tất cả chiến lược tùy thuộc vào thay đổi tương lai vì các yếu tố bên trong và bên ngoài thay đổi không ngừng Ba hoạt động chính yếu của giai đoạn này là: (i) xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến lược hiện tại, (ii) đo lường các thành tích và (iii) thực hiện các hoạt động điều
chỉnh
Xác định chức năng nhiệm vụ và mục tiêu
Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược
Thực hiện chiến lược
Đánh giá và kiểm tra thực hiện
Phân tích môi trường
Trang 14I.3.2 Phân tích môi trường kinh doanh:
Theo nhóm tác giả Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Bopby G.Bizzell
trong cuốn “Chiến lược và sách lược kinh doanh” cho rằng: Môi trường kinh
doanh của doanh nghiệp bao gồm: Môi trường bên ngoài doanh nghiệp và môi trường bên trong doanh nghiệp
(Nguồn: Chiến lược và sách lược kinh doanh - Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Bobby G.Bizzell)
Hình 1.2: Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài doanh nghiệp gồm môi trường vĩ mô và môi trường
vi mô (môi trường ngành) Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố nằm bên ngoài
tổ chức, định hình và có ảnh hưởng đến môi trường vĩ mô và môi trường nội bộ đồng thời tạo ra các cơ hội và nguy cơ đối với tổ chức Môi trường vĩ mô bao hàm các yếu tố bên ngoài tổ chức, định hướng sự cạnh tranh trong ngành
Môi trường bên trong doanh nghiệp chỉ bao gồm các yếu tố (nguồn lực)
nội bộ của doanh nghiệp
Môi trường vĩ mô
Trang 15I.3.2.1 Phân tích môi trường bên ngoài:
Môi trường bên ngoài (external environment) là hệ thống các yếu tố phức
tạp, luôn có nhiều cơ hội lẫn nguy cơ tác động đến hoạt động của doanh nghiệp theo các mức độ khác nhau Sự biến động của các yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp, chúng tác động đan xen lẫn nhau và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài bao gồm:
- Môi trường vĩ mô (macro environment) hay còn gọi là môi trường tổng quát
- Môi trường vi mô (micro environment) hay còn gọi là môi trường ngành
Khi phân tích các yếu tố của môi trường bên ngoài, các doanh nghiệp cần xem xét tính chất tác động của từng yếu tố, mối tương tác giữa các yếu tố,… để
dự báo cụ thể mức độ, bản chất và thời điểm ảnh hưởng nhằm xử lý các tình huống một cách linh hoạt, đồng thời có giải pháp hữu hiệu để tận dụng tối đa các
cơ hội, hạn chế hoặc ngăn chặn kịp thời các nguy cơ nhằm nâng cao hiệu quả và giảm tổn thất trong quá trình quản trị chiến lược
Việc phân tích môi trường bên ngoài bao gồm cả cấp độ môi trường vĩ
mô và môi trường vi mô nhằm mục đích nhận thức được cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ gặp phải trong quá trình hoạt động của nó, đó là cơ
sở quan trọng cho quá trình quản trị chiến lược, đặc biệt là tiền đề cho việc hoạch định chiến lược
a Phân tích môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát):
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố nằm ngoài tổ chức, bao trùm mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động của tất cả các doanh nghiệp Môi trường này được xác lập bởi các yếu tố vĩ mô như: các điều kiện kinh tế - chính trị và luật pháp - văn hoá và xã hội - tự nhiên - công nghệ - toàn cầu
Phân tích các tác động vĩ mô bao gồm phân tích sự tác động của các yếu
tố như các điều kiện kinh tế, chính trị- pháp luật, văn hoá xã hội, các điều kiện
tự nhiên và công nghệ đối với hoạt động của doanh nghiệp Tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp mà các tác động vĩ mô khác nhau về mức độ
và tính chất tác động Trong nhiều trường hợp, một yếu tố tác động tạo nguy cơ cho doanh nghiệp này nhưng lại là cơ hội cho doanh nghiệp khác và ngược lại Thường thì doanh nghiệp không thể thay đổi được các điều kiện vĩ mô, trái lại phụ thuộc vào nó Ngoài ra một số đặc điểm khác nữa cần lưu ý là các ảnh hưởng vĩ mô thường có tính lâu dài hơn so với cấp độ môi trường khác
¾ Môi trường kinh tế:
Trang 16Đây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những
cơ hội và đe dọa khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến chiến lược của doanh nghiệp
Một số các yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp như:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:
Nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại khi nền kinh tế sa sút sẽ dẫn đến giảm chi phí tiêu dùng đồng thời làm tăng lực lượng cạnh tranh
- Lãi suất:
Lãi suất và xu hướng của lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư và do vậy ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp Lãi suất tăng sẽ hạn chế nhu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và như vậy làm nhu cầu tiêu dùng giảm xuống
- Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái:
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo vận hội tốt cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của doanh nghiệp đặc biệt nó tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu Thông thường chính phủ sử dụng công cụ này để điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu theo hướng có lợi cho nền kinh tế
- Lạm phát:
Lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế Khi lạm phát quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư của các doanh nghiệp, sức mua của xã hội bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế, kích thích thị trường tăng trưởng
- Thuế:
Các ưu tiên hay hạn chế của chính phủ với các ngành được cụ thể hoá thông qua luật thuế Sự thay đổi của hệ thống thuế hoặc mức thuế có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ đối với các doanh nghiệp vì nó làm cho mức chi phí hoặc thu nhập của doanh nghiệp thay đổi
¾ Môi trường chính trị:
Trang 17- Chính trị:
Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu tư Các yếu tố như thể chế chính trị, sự ổn định hay biến động về chính trị tại quốc gia hay một khu vực là những tín hiệu ban đầu giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu là nguy cơ của doanh nghiệp để đề ra các quyết
định đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các khu vực
- Luật pháp:
Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh thần của luật pháp và chấp hành tốt những qui định của pháp luật, nghiên cứu để tận dụng được các cơ hội từ các điều khoản của pháp lý mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể dẫn đến từ những qui định pháp luật, tránh được các thiệt hại do
sự thiếu hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh
- Chính phủ:
Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ và các chương trình chi tiêu của mình
Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp, chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, qui định, ngăn cấm, hạn chế vừa đóng vai trò khách hàng quan trọng đối với doanh nghiệp (trong chương trình chi tiêu của chính phủ) và sau cùng chính phủ đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp như cung cấp thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác
¾ Môi trường văn hoá xã hội:
Môi trường văn hoá xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà chúng được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể Các khía cạnh hình thành môi trường văn hoá xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động kinh doanh như: những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, nghề nghiệp; những phong tục, tập quán, truyền thống; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội, …
Bên cạnh đó dân số cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các yếu
tố khác của môi trường vĩ mô Những thay đổi trong môi trường dân số sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Những khía cạnh cần quan tâm của
Trang 18môi trường dân số bao gồm: tổng số dân, tỷ lệ tăng dân số, kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, thu nhập, …
¾ Môi trường tự nhiên:
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên; đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự trong sạch của môi trường, nước và không khí,…
Trong nhiều trường hợp, chính sách các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch
vụ Có thể nói, các điều kiện tự nhiên luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của con người (đặc biệt là các yếu tố của môi trường sinh thái), mặt khác, nó cũng là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, du lịch, vận tải,…
¾ Môi trường công nghệ:
Công nghệ mới có thể tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm rẻ hơn với chất lượng cao hơn, làm cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt hơn Sự ra đời của công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm có nhiều tính năng hơn và qua đó có thể tạo ra những thị trường mới hơn cho các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp
Tuy nhiên, sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao đồng thời tạo áp áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh
Áp lực tác động của sự phát triển công nghệ và mức chi tiêu cho sự phát triển công nghệ khác nhau theo ngành Đối với những ngành bị ảnh hưởng bởi
sự thay đổi kỹ thuật nhanh thì quá trình đánh giá những cơ hội và đe dọa mang tính công nghệ trở thành một vấn đề đặc biệt quan trọng của việc kiểm soát các yếu tố bên ngoài
¾ Môi trường toàn cầu:
Khu vực hoá và toàn cầu hoá đã, đang và sẽ là một xu hướng tất yếu mà mọi doanh nghiệp, mọi ngành, mọi chính phủ phải tính đến Môi trường quốc tế
sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn theo quan điểm từ những khác biệt về xã hội,
văn hoá, cấu trúc thể chế, chính sách và kinh tế
b Phân tích môi trường vi mô (môi trường ngành):
Theo mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter thì môi trường
vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó
Trang 19Các đối thủ mới tiềm ẩn
Nguy cơ có các đối thủ cạnh tranh mới
Nguy cơ do các sản phẩm/dịch vụ thay thế
Nhà cung cấp
Khả năng
ép giá của nhà cung cấp hàng
Khả năng ép giá của khách hàng
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Cường độ cạnh tranh
Khách hàng
Sản phẩm thay thế
(Nguồn: Chiến lược và sách lược kinh doanh - Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Bobby G.Bizzell)
Hình 1.3 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
Việc phân tích môi trường vi mô (môi trường cạnh tranh) nhằm nhận thức được năm áp lực cạnh tranh hiện tại và tương lai đang đe doạ doanh nghiệp bao gồm: Áp lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành, nguy cơ xâm nhập ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, áp lực từ phía nhà cung cấp, áp lực từ phía khách hàng và áp lực của sản phẩm thay thế Khi áp lực từ các yếu tố nào
đó trong năm yếu tố này tăng lên thì càng có nguy cơ làm giảm mức lợi nhuận của doanh nghiệp và ngược lại khi áp lực từ các yếu tố này giảm thì đó là cơ hội quan trọng để doanh nghiệp tăng lợi nhuận Việc phân tích môi trường cạnh tranh cho thấy bản chất của các áp lực và cơ chế tác động của nó để giúp doanh nghiệp hình thành chiến lược nhằm đối phó có hiệu quả với các lực lượng cạnh tranh
¾ Áp lực của đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Một trong 5 lực lượng cạnh tranh theo mô hình của Michael Porter là các
công ty cạnh tranh vốn đã có vị thế vững vàng trên thị trường trong cùng một ngành nghề kinh doanh Số lượng, qui mô và sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như chiến lược của
Trang 20doanh nghiệp Mức độ cạnh tranh càng cao, giá cạnh tranh càng giảm kéo theo lợi nhuận giảm
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là các tổ chức đang hoạt động cùng ngành kinh doanh với doanh nghiệp, tạo ra cấu trúc cạnh tranh bên trong khu vực, là áp lực thường xuyên đe dọa trực tiếp đến doanh nghiệp
Các đối thủ cạnh tranh đang tìm cách tăng doanh thu bán hàng, tăng lợi nhuận bằng những chính sách và biện pháp tạo ra những bất lợi cho doanh nghiệp
Vì dung lượng thị trường có hạn, các doanh nghiệp “cạnh tranh” giành nhau thị phần bằng các biện pháp giảm giá, quảng cáo, khuyến mãi, thuyết phục khách hàng, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những nét khác biệt trong cung cấp sản phẩm và dịch vụ, tạo ra giá trị cho khách hàng
Có 3 yếu tố quan trọng tạo thành mức độ cạnh tranh giữa các công ty hoạt động cùng một lĩnh vực kinh doanh như nhau, đó là:
- Cơ cấu cạnh tranh:
Cơ cấu cạnh tranh là sự phân bố số lượng và tầm cỡ các công ty cạnh tranh trong cùng ngành kinh doanh Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung Một ngành bao gồm nhiều nhà cạnh tranh có tiềm lực ngang nhau thường cạnh tranh khốc liệt
-Tốc độ tăng trưởng của ngành:
Nếu ngành có tốc độ tăng trưởng cao thì mức độ cạnh tranh sẽ không căng thẳng vì chiếc bánh thị trường lớn đủ chỗ cho các đối thủ Ngược lại tốc độ tăng trưởng của ngành chậm lại sẽ biến cuộc cạnh tranh của doanh nghiệp thành cuộc chiếm giữ, giành giật và mở rộng thị phần
- Rào cản ngăn chặn doanh nghiệp ra khỏi ngành:
Mỗi ngành sản xuất có các yếu tố tạo nên rào chắn nhập ngành thì cũng
có các yếu tố tạo ra rào chắn ngăn cản không cho doanh nghiệp ra khỏi ngành
Khi các hoạt động kinh doanh trong ngành không còn thuận lợi, các công ty muốn rút lui ra khỏi ngành, đồng nghĩa các doanh nghiệp phải chịu mất mát khá nhiều Sự mất mát càng cao thì rào cản càng cao và ngược lại
¾ Quyền lực của khách hàng:
Khách hàng là đối tượng được các doanh nghiệp quan tâm phục vụ và khai thác, là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, không có khách hàng thì không có doanh nghiệp Người mua có thể được xem như là một sự đe
Trang 21doạ cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn
Trong khi mua hàng, khách hàng thường sử dụng quyền lực của mình để đưa ra những đòi hỏi bất lợi cho người bán về giá mua, điều kiện giao hàng, chất lượng sản phẩm, điều kiện thanh toán…, tạo ra sức ép làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Như vậy khách hàng vừa là thượng đế vừa là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, khách hàng đem đến cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể lấy đi lợi nhuận của doanh nghiệp
Do đó khi xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp cần phải nhận biết được các cơ hội và rủi ro có thể xảy ra cho doanh nghiệp do khách hàng mang lại để có những kế hoạch cụ thể tận dụng những cơ hội và giảm thiểu những rủi ro này
¾ Quyền lực của nhà cung cấp:
Doanh nghiệp hoạt động cần các yếu tố đầu vào do các nhà cung cấp bán Mỗi thời kỳ lợi thế trong mua bán thuộc về ai căn cứ vào số lượng người tham gia mua bán trên thị trường này, nói cách khác là căn cứ vào quan hệ cung cầu các yếu tố đầu vào trên thị trường
Các doanh nghiệp cung cấp các yếu tố sản xuất cho doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, dịch vụ tư vấn thiết kế, dịch vụ vận chuyển… trong thương thuyết kinh doanh cũng có thể tạo ra những sức ép về giá, về phương thức cung cấp và phương thức thanh toán có nguy cơ đe dọa lợi ích của doanh nghiệp Nhưng nhiều khi cũng tạo ra những cơ hội kinh doanh tốt cho công ty Tạo thế cạnh tranh trong quá trình cung cấp, liên minh chiến lược,
là những giải pháp giảm bớt sức ép của yếu tố môi trường này
Trong xây dựng chiến lược kinh doanh, phân tích nhà cung ứng giúp doanh nghiệp nhận biết được những thuận lợi, khó khăn từ nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất hiện tại và trong tương lai, từ đó đề ra các giải pháp, các chiến lược chức năng phù hợp để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp
Khi người cung cấp có ưu thế, họ có thể gây áp lực mạnh và tạo bất lợi cho doanh nghiệp
¾ Áp lực của đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Đối thủ tiềm tàng bao gồm các công ty hiện nay không ra mặt cạnh tranh nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai Sự xuất hiện của đối thủ tiềm ẩn cũng làm tăng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong ngành
Trang 22Nguy cơ đe dọa của thành phần này là có khả năng chiếm thị phần của các nhà sản xuất hiện tại, làm giảm lợi nhuận trung bình của ngành trong tương lai, điều đó buộc các doanh nghiệp phải phán đoán và ứng phó
Thông thường các công ty này có ưu thế cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về dịch vụ hậu mãi hoặc về khả năng chuyên biệt hoá sản phẩm Sự trung thành với nhãn hiệu là nguồn rào cản khiến cho các doanh nghiệp mới tham gia khó lòng giành giật thị phần trên thương trường Các doanh nghiệp có tiềm năng phải tốn kém rất nhiều để có thể bẻ gãy lòng ưu ái đã được củng cố của khách hàng đối với nhãn hiệu đã có uy tín trước đó
Đối thủ tiềm ẩn có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của công ty do họ đưa vào khai thác năng lực sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết
Khi phân tích mức độ đe dọa của những người nhập ngành tiềm năng, người ta thường đi đến phân tích các yếu tố tạo nên rào chắn nhập ngành, đó là tập hợp các yếu tố ngăn cản những người mới tham gia vào kinh doanh trong một ngành công nghiệp nào đó Nếu rào chắn nhập ngành cao, sự đe dọa của nó thấp và ngược lại
¾ Áp lực các sản phẩm thay thế:
Lực lượng đe doạ cuối cùng trong mô hình M.Porter là sự đe dọa của các sản phẩm thay thế
Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế rất đa dạng và phức tạp tạo thành nguy
cơ cạnh tranh về giá rất mạnh đối với sản phẩm cũ, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt một ngưỡng tối đa cho mức giá mà các công ty trong ngành có thể kinh doanh có lãi Điều này thể hiện qua độ co giãn của cầu theo giá chéo
Do các loại hàng có tính thay thế cho nhau nên sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường Khi giá của sản phẩm chính tăng thì sẽ khuyến khích xu hướng
sử dụng sản phẩm thay thế và ngược lại Khả năng lựa chọn giá cả của sản phẩm thay thế càng hấp dẫn thì ngưỡng chặn trên đối với lợi nhuận của ngành càng vững chắc hơn
Như vậy có thể thấy sản phẩm thay thế vừa mang lại cơ hội cho doanh nghiệp trong việc mở rộng danh mục sản phẩm sản xuất tìm kiếm thị trường mới nhưng cũng mang lại những thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp nếu các sản phẩm của doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh với nó
I.3.2.2 Phân tích môi trường nội bộ doanh nghiệp:
Trang 23Môi trường nội bộ bao gồm hệ thống các yếu tố hữu hình và vô hình, tồn tại trong các quá trình hoạt động của doanh nghiệp hay tổ chức và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình quản trị chiến lược
Vì vậy, phân tích môi trường nội bộ là hết sức cần thiết đối với mọi loại hình tổ chức trong nền kinh tế; đây là cơ sở giúp doanh nghiệp biết rõ các điểm mạnh và các điểm yếu của mình so với các đối thủ cạnh tranh; đồng thời, giúp nhà quản trị biết được khả năng nắm bắt các cơ hội của thị trường trong từng kỳ Việc phân tích môi trường bên trong giúp các nhà quản trị có thể nhận diện rõ chính mình và có cơ sở đề xuất các giải pháp để tận dụng điểm mạnh sẵn
có, hạn chế điểm yếu nhằm giảm bớt rủi ro của môi trường bên ngoài
Phân tích môi trường bên trong bao gồm phân tích các nguồn lực của doanh nghiệp như nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực vô hình và phân tích hoạt động của các bộ phận chức năng Trong từng thời kỳ, các yếu tố của môi trường bên trong doanh nghiệp đều có điểm mạnh và điểm yếu so với từng đối thủ cạnh tranh Đồng thời tính chất và mức độ mạnh, yếu của các yếu
tố này thay đổi theo theo thời gian
Nói cách khác, phân tích môi trường nội bộ là để “biết mình, biết người” qua đó các nhà quản trị chiến lược có cơ sở xác định nhiệm vụ, đề xuất các mục tiêu và hình thành các chiến lược thích nghi với môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức
Ngoài ra, khi phân tích và đánh giá tình hình nội bộ, những người tham gia thực hiện có điều kiện hiểu biết thực trạng về con người, các nguồn lực hữu hình và vô hình, các công việc của các đơn vị và các bộ phận chức năng trong tổ chức
Việc phân tích điểm mạnh và điểm yếu của môi trường nội bộ được thực hiện thông qua những nội dung cơ bản sau đây:
a Phân tích đánh giá các nguồn lực:
Nguồn lực của một doanh nghiệp bao gồm: nguồn nhân lực, tài sản vật chất, các nguồn lực vô hình Đây là nhóm yếu tố quyết định khả năng hoạt động của doanh nghiệp, quyết định sự thành bại trên thị trường; trong đó nguồn lực quan trọng nhất là con người
Trang 24Trong các doanh nghiệp, yếu tố này cực kỳ quan trọng vì mọi quyết định liên quan đến quá trình quản trị chiến lược đều do con người quyết định, khả năng cạnh tranh trên thị trường mạnh hay yếu, văn hóa tổ chức tốt hay chưa tốt v.v đều xuất phát từ con người
Việc phân tích nguồn nhân lực thường xuyên là cơ sở giúp các doanh nghiệp, các tổ chức đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổ chức so với yêu cầu về tiêu chuẩn nhân sự trong từng khâu công việc và so với nguồn nhân lực của đối thủ cạnh tranh nhằm có kế hoạch bố trí sử dụng hợp lý nguồn nhân lực hiện có
Đồng thời việc đánh giá khách quan sẽ giúp doanh nghiệp chủ động thực hiện việc đào tạo và tái đào tạo cho các thành viên của doanh nghiệp từ nhà quản trị cấp cao đến người thừa hành nhằm bảo đảm thực hiện chiến lược thành công lâu dài và luôn thích nghi với những yẻu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong nền kinh tế hiện nay
¾ Nguồn lực vật chất:
Nguồn lực vật chất bao gồm những yếu tố như: vốn sản xuất, nhà xưởng máy móc thiết bị, nguyên vật liệu dự trữ, thông tin môi trường kinh doanh v.v Mỗi doanh nghiệp có các đặc trưng về các nguồn lực vật chất riêng, trong đó có
cả điểm mạnh lẫn điểm yếu so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Việc phân tích và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật chất là cơ sở quan trọng giúp nhà quản trị các doanh nghiệp hiểu được các nguồn lực vật chất tiềm tàng, những hạn chế v.v để có các quyết định quản trị thích nghi với thực tế như: khai thác tối đa các nguồn vốn bằng tiền và nguồn vốn cơ sở vật chất hiện
có, lựa chọn và huy động các nguồn vốn bên ngoài khi thật sự có nhu cầu, chọn đối tượng cần hợp tác nhằm tăng qui mô nguồn lực vật chất, thực hiện dự trữ một tỉ lệ cần thiết để đảm bảo khả năng đương đầu (phòng thủ hoặc tấn công) với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.v.v
¾ Các nguồn lực vô hình:
Ngoài các nguồn lực trên, mỗi doanh nghiệp hoặc tổ chức còn có các nguồn lực khác mà con người chỉ nhận diện được qua tri giác, đó là các nguồn lực vô hình Nguồn lực này có thể là thành quả chung của các thành viên trong
tổ chức hoặc một cá nhân cụ thể và ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động của
tổ chức
Tuỳ theo tiềm lực sẵn có, quy mô và giá trị những nguồn lực này của mỗi doanh nghiệp có sự khác nhau và thay đổi theo thời gian Nếu không nhận diện
và đánh giá đúng mức các nguồn lực vô hình, nhà quản trị các doanh nghiệp
dễ đánh mất các lợi thế sẵn có của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 25Trong thực tế có nhiều doanh nghiệp chưa nhận rõ tầm quan trọng của các nguồn lực vô hình sẵn có, vừa chưa biết tận dụng, vừa xem thường hoặc lãng phí, đồng thời còn tiếp thêm sức mạnh của đối thủ cạnh tranh bằng việc bán đi nguồn lực vô hình của mình cho đối thủ với giá rẻ
Tóm lại, các nguồn lực của mỗi doanh nghiệp rất đa dạng Tùy theo đặc điểm, hoạt động, quy mô, cơ cấu, đặc trưng của các nguồn lực này trong các doanh nghiệp có sự khác nhau
Việc phân tích so sánh và đánh giá đúng mức các nguồn lực hiện tại và tiềm năng trong từng kỳ sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp thấy rõ sự tiến bộ của mình trong quá trình phát triển Đồng thời, nhận diện được mối tương quan mạnh yếu về các nguồn lực với các đối thủ cạnh tranh nhằm có cơ sở đưa ra các chiến lược cạnh tranh hữu liệu, quyết định nắm bắt các cơ hội hoặc ngăn chặn hạn chế các nguy cơ trong môi trường kinh doanh kịp thời
b Phân tích hoạt động các bộ phận chức năng trong tổ chức:
Tuỳ theo quy mô hoạt động, việc phân chia các đơn vị và các bộ phận chức năng của mỗi doanh nghiệp có khác nhau, phù hợp với các nhiệm vụ và các chiến lược cần thực hiện trong từng kỳ
Các bộ phận chức năng tiêu biểu như: Marketing, nhân sự, tài chính - kế toán, nghiên cứu và phát triển, sản xuất Hoạt động của các bộ phận này tạo ra các lợi ích vật chất, các nguồn lực vô hình cho doanh nghiệp Mỗi bộ phận chức năng có nhiệm vụ riêng nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Ngày nay, vai trò của các bộ phận chức năng rất quan trọng Những chức năng chủ yếu đều có các chiến lược hoạt động cụ thể như: chiến lược marketing, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược huy động và sử dụng vốn đầu
tư, chiến lược mua hàng, chiến lược phát triển công nghệ mới…
Vì vậy, việc phân tích thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của các bộ phận chức năng rất quan trọng Nó giúp nhà quản trị giám sát những diễn biến của môi trường nội bộ trong mối quan hê tương tác với môi trường bên ngoài nhằm có cơ sở bổ sung, chấn chỉnh những lệch lạc kịp thời; đồng thời nhận diện được các điểm mạnh và điểm yếu trong từng lĩnh vực so với các đối thủ cạnh tranh nhằm có các chiến lược cạnh tranh và các chính sách hoạt động thích nghi với môi trường kinh doanh
¾ Phân tích hoạt động của bộ phận marketing:
Marketing là hệ thống các hoạt động liên quan đến quá trình nghiên cứu,
dự báo, xác định các nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu và đáp ứng tốt các nhu cầu đó bằng hỗn hợp marketing (marketing mix) hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh trong từng thời kỳ, tại mỗi khu vực thị trường
Trang 26Tóm lại các nhà quản trị doanh nghiệp luôn phải đánh giá các hoạt động Marketing vì chúng gắn liền với các chiến lược cạnh tranh trên thị trường, quyết định sự tồn tại lâu dài hay không của mỗi doanh nghiệp
¾ Phân tích hoạt động của bộ phận nhân sự:
Quản trị nhân sự là các hoạt động liên quan đến việc tuyển mộ, huấn luyện, sử dụng, đãi ngộ, đánh giá và khuyến khích lòng trung thành của người lao động đối với tổ chức Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, quản trị nhân sự có vai trò rất quan trọng đối với quá trình quản trị các chiến lược của doanh nghiệp, quyết định sự thành bại của tổ chức
Căn cứ vào những thông tin về các hoạt động quản trị nhân sự, nhà quản trị phân tích và đánh giá sự tiến bộ theo thời gian và những điểm mạnh điểm yếu
so với các công ty cạnh tranh trong từng kỳ Đây là cơ sở giúp nhà quản trị chuẩn bị các chiến lược, chính sách và các chương trình hành động trong quản trị nhân sự giai đoạn sau có hiệu quả cao hơn
¾ Phân tích hoạt động của bộ phận tài chính kế toán
Chức năng tài chính kế toán liên quan đến những hoạt động huy động và
sử dụng các nguồn lực vật chất của doanh nghiệp trong từng kỳ, thực hiện hạch toán kinh tế trong tất cả các khâu công việc trong quá trình hoạt động Chức năng tài chính kế toán gắn liền với hoạt động của các bộ phận chức năng khác, quyết định tính khả thi, tính hiệu quả của nhiều chiến lược và chính sách khác của doanh nghiệp
Căn cứ vào kết quả phân tích thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất, nhà quản trị sẽ phân tích và đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu về các hoạt động tài chính kế toán của doanh nghiệp so với các công ty cạnh tranh theo khu vực thị trường, dự báo các xu hướng, đề ra các quyết định về chiến lược và chính sách tài chính doanh nghiệp, các chương trình huy động và phân bổ các nguồn vốn có hiệu quả, thích nghi với môi trường hoạt động
¾ Phân tích hoạt động của bộ phận nghiên cứu và phát triển:
Nghiên cứu và phát triển (Research and Development-R&D) đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ứng dụng những công nghệ mới kịp thời
để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường như: phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến qui trình sản xuất để giảm chi phí, Hoạt động này có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc trưng sản phẩm, nguồn nhân lực, nguồn vốn tự có, sự trợ giúp của chính phủ…
¾ Phân tích hoạt động sản xuất tác nghiệp:
Trang 27Sản xuất và tác nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra ở từng công đoạn trong các quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Chức năng này gắn liền với công việc của người thừa hành ở tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp, từ bộ phận sản xuất đến các khâu công việc ở bộ phận hành chính và các bộ phận chức năng chuyên môn Những hoạt động này tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Số lượng và chất lượng sản phẩm hay dịch vụ, mức độ hài lòng của khách hàng, chi phí hoạt động v.v là những yếu tố đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất tác nghiệp Tùy theo nhu cầu thực tế việc phân tích chức năng này sẽ được tiến hành thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất
¾ Phân tích hoạt động của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, thông tin môi trường kinh doanh là cơ sơ quan trọng đề ra các quyết định quán trị Cơ cấu dữ liệu về thông tin môi trường
mà doanh nghiệp thu thập và tích lũy được xem là một loại tài sản, một nguồn lực có giá trị và so sánh được với các đối thủ cạnh tranh
Đây là nguồn lực có khả năng giúp công ty nâng cao chất lượng các quyết định quản trị và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường Thật vậy một hệ thống thông tin hữu hiệu sẽ cho phép các doanh nghiệp có những khả năng đặc biệt trong việc hỗ trợ các bộ phận khác hình thành, tổ chức, thực hiện
và kiểm tra các chiến lược của công ty ở mọi thời điểm trên tất cả các khu vực thị trường
I.4 Các chiến lược kinh doanh:
Chiến lược kinh doanh là những giải pháp định hướng, giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu lâu dài Tuỳ theo nhiệm vụ và những mục tiêu cần đạt được, các nhà quản trị quyết định lực chọn các chiến lược phù hợp
I.4.1 Chiến lược tăng trưởng :
Các chiến lược nhằm vào việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng của doanh nghiệp thường được gọi là chiến lược tổng quát hoặc chiến lược chủ đạo Bao gồm:
- Chiến lược tăng trưởng tập trung;
- Chiến lược tăng trưởng bằng con đường hội nhập;
- Chiến lược tăng trưởng bằng đa dạng hoá
I.4.1.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung:
Là chiến lược chủ đạo đặt trọng tâm vào việc cải tiến các sản phẩm hoặc
Trang 28thị trường hiện có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào
Khi theo đuổi chiến lược này doanh nghiệp hết sức cố gắng để khai thác mọi cơ hội có được về các sản phẩm dịch vụ hiện đang sản xuất, kinh doanh hoặc thị trường hiện đang tiêu thụ, cung ứng bằng cách thực hiện tốt hơn các công việc mà họ đang tiến hành
Nhiều doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành xem đây là chiến lược chủ đạo giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa những khả năng tiềm tàng trong nội bộ
và khai thác triệt để các cơ hội thị trường bên ngoài Những doanh nghiệp thực hiện chiến lược tăng trưởng tập trung thường phát triển trong nội bộ, họ không thích mua lại các doanh nghiệp cùng ngành khác
Trong thực tế chiến lược này phù hợp với những ngành kinh doanh còn
có khả năng khai thác thị trường, nhãn hiệu hàng hoá có uy tín, sản phẩm có khả năng cải tiến và/ hoặc đa dạng hoá mẫu mã
Chiến lược tăng trưởng tập trung thường có 3 loại:
¾ Thâm nhập thị trường:
Là chiến lược tìm cách làm tăng thị phần cho các sản phẩm hoặc dịch
vụ hiện có trong các thị trường hiện có bằng các nỗ lực mạnh mẽ trong công tác Marketing
¾ Phát triển thị trường:
Là chiến lược tìm cách tăng trưởng bằng con đường thâm nhập vào các thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hiện doanh nghiệp đang sản xuất hay cung ứng
¾ Phát triển sản phẩm:
Là chiến lược tìm cách tăng trưởng thông qua việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới để tiêu thụ trên các thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt
động
I.4.1.2 Chiến lược tăng trưởng bằng con đường hội nhập (liên kết):
Chiến lược tăng trưởng liên kết thích hợp đối với các doanh nghiệp đang kinh doanh các ngành kinh tế mạnh, khi cơ hội sẵn có phù hợp với các mục tiêu
và chiến lược dài hạn mà doanh nghiệp đang thực hiện Chiến lược này cho phép củng cố vị thế của doanh nghiệp và cho phép phát huy đầy đủ hơn khả năng kỹ thuật của doanh nghiệp
Các loại chiến lược tăng trưởng hội nhập:
¾ Chiến lược tăng trưởng hội nhập theo chiều dọc:
Chiến lược hội nhập theo chiều dọc là chiến lược mà doanh nghiệp tự đảm nhận sản xuất và cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất (hội
Trang 29nhập dọc ngược chiều) hoặc tự giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm của mình (hội nhập xuôi chiều)
¾ Chiến lược tăng trưởng hội nhập theo chiều ngang:
Chiến lược hội nhập theo chiều ngang là chiến lược hợp nhất có thể thực hiện bằng cách sáp nhập hai hoặc nhiều cơ sở sản xuất một cách tự nguyện hoặc qua thôn tính được hình thành và phát triển thông qua cạnh tranh trên thị trường hay liên doanh, liên kết
I.4.1.3 Chiến lược tăng trưởng bằng đa dạng hoá:
Là chiến lược đầu tư vào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau khi doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh hiện tại Có nhiều lý do để doanh nghiệp theo đuổi chiến lược đa dạng hoá nhưng nhìn chung chiến lược đa dạng hoá thường hướng tới mục tiêu gia tăng giá trị Chiến lược này thích hợp đối với các doanh nghiệp không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng trong ngành hiện thời với các sản phẩm và thị trường hiện đang kinh doanh
I.4.2 Chiến lược suy giảm:
Chiến lược này thích hợp khi doanh nghiệp cần sắp xếp lại để tăng cường hiệu quả sau một thời gian tăng trưởng nhanh, khi trong ngành không còn cơ hội tăng trưởng dài hạn và làm ăn có lãi; khi nào kinh tế không ổn định hoặc khi có các cơ hội khác hấp dẫn hơn các cơ hội mà doanh nghiệp đang theo đuổi
Có 4 loại chiến lược suy giảm, bao gồm:
I.4.2.1 Cắt giảm chi phí:
Đây là chiến lược ngắn hạn tạm thời hướng vào việc giảm bớt các bộ phận không mang lại hiệu quả hoặc các vấn đề khó khăn tạm thời liên quan đến
điều kiện môi trường
I.4.2.2 Thu lại vốn đầu tư:
Chiến lược này áp dụng khi doanh nghiệp nhượng bán hoặc đóng cửa một trong các doanh nghiệp của mình nhằm thay đổi căn bản nội dung hoạt động, thu hồi vốn đầu tư
Kết quả của việc thu hồi vốn đầu tư dẫn đến việc phân bố lại các nguồn lực để làm sống lại các doanh nghiệp hoặc tạo ra các cơ hội kinh doanh mới
I.4.2.3 Thu hoạch:
Thu hoạch là tìm cách tăng tối đa dòng luân chuyển tiền vì mục đích trước mắt bất chấp hậu quả lâu dài như thế nào
Đây là lựa chọn tốt nhất khi doanh nghiệp muốn thoát khỏi sự suy
Trang 30thoái của ngành Chiến lược thu hoạch đòi hỏi doanh nghiệp phải cắt giảm toàn
bộ các khoản đầu tư mới về thiết bị, quảng cáo, nghiên cứu và phát triển Kết cục không thể tránh khỏi là doanh nghiệp sẽ đánh mất thị phần (bởi vì nó sẽ không còn tiếp tục đầu tư vào kinh doanh ở lĩnh vực này) và dòng tiền sẽ tăng lên Tuy nhiên cuối cùng dòng tiền sẽ giảm và ở giai đoạn này doanh
nghiệp nên rút lui khỏi lĩnh vực kinh doanh
I.4.2.4 Chiến lược rút lui:
Chiến lược rút lui dựa vào ý tưởng rằng doanh nghiệp có thể tối đa hoá mức thu hồi vốn đầu tư vào việc kinh doanh bằng cách bán đứt doanh nghiệp
đó trước khi ngành lâm vào tình trạng suy thoái Chiến lược này thích hợp khi doanh nghiệp không thể cạnh tranh nổi trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của ngành suy giảm và họ cũng không có các nguồn lực cần thiết để theo đuổi các chiến lược khả quan khác
I.4.3 Chiến lược đổi mới:
Chiến lược đổi mới có thể nói là một trong những chiến lược có tác động bên ngoài mạnh nhất Trước hết, đổi mới có thể khôi phục sự tăng trưởng của doanh nghiệp, tiếp đến là của toàn ngành hoặc ngược lại, đổi mới sản xuất cũng
có thể làm ngừng mức tăng trưởng hay đổi mới cũng có thể tác động đến cơ cấu cạnh tranh
Các chiến lược đổi mới rất khó thực hiện, mặc dù có tiềm năng lớn Về phương diện tổ chức cũng như chiến lược, cần phải đề phòng cẩn thận nếu doanh nghiệp không muốn rơi vào hiểm họa Tuy nhiên, có những phương pháp
và quy trình giúp các doanh nghiệp thực hiện chiến lược này Ở đây, hơn tất cả các chiến lược khác việc lựa chọn chiến lược gắn liền với việc vận dụng trong thực tế Phần thưởng rất lớn nhưng nguy hiểm cũng nhiều nếu doanh nghiệp không biết hoặc không có khả năng quản lý chiến lược đổi mới
I.5 Lựa chọn chiến lược:
Lựa chọn chiến lược là một khâu quan trọng của toàn bộ quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh Về bản chất, quyết định lựa chọn chiến lược là việc trên cơ sở hệ thống mục tiêu đã xác định, các nhà hoạch định tiếp tục sử dụng các công cụ thích hợp để hình thành các chiến lược giải pháp Chất lượng của hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động triển khai thực hiện chiến lược
và các hoạt động khác như đầu tư, đổi mới tổ chức, đào tạo cán bộ, công nhân,…
Để đảm bảo việc lựa chọn chiến lược đúng đắn, phù hợp với thị trường, quá trình lựa chọn chiến lược kinh doanh cho từng thời kỳ cụ thể cần quán triệt một số yêu cầu sau:
Trang 31¾ Thứ nhất, bảo đảm tính hiệu quả lâu dài của quá trình kinh doanh Hiệu quả lâu dài là cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững nên phải được thể hiện trong hoạch định chiến lược kinh doanh Yêu cầu bảo đảm tính hiệu quả lâu dài của quá trình kinh doanh đòi hỏi trong quá trình xây dựng và lựa chọn chiến lược phải chú trọng khai thác các cơ hội kinh doanh, các khả năng và nguồn lực đang và sẽ xuất hiện, hạn chế hoặc xoá bỏ các hạn hẹp cũng như khắc phục những điểm yếu đang tồn tại hoặc có thể xuất hiện để xác định các giải pháp chiến lược
Mọi phương án chiến lược đưa ra và phương án chiến lược được lựa chọn phải dựa trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội lâu dài
¾ Thứ hai, bảo đảm tính liên tục và kế thừa của chiến lược
Quá trình lựa chọn chiến lược đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển liên tục đòi hỏi các quá trình chiến lược phải kế tiếp nhau, quá trình sau phải tiếp nối, kế thừa các thành tựu và khắc phục các tồn tại của quá trình trước
Tính liên tục và kế thừa còn được ước định bởi đặc điểm của các sự kiện
và quá trình kinh tế cũng như bởi yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan vận động và chi phối các hoạt động sản xuất kinh doanh
¾ Thứ ba, chiến lược phải mang tính toàn diện, rõ ràng
- Tính chất toàn diện của chiến lược thể hiện ở nội dung các vấn đề mà chiến lược đề cập
- Tính rõ ràng của chiến lược đòi hỏi cần làm rõ các vấn đề then chốt
¾ Thứ tư, phải đảm bảo tính nhất quán và tính khả thi
- Tính nhất quán của chiến lược đòi hỏi sự thống nhất xuyên suốt giữa mục tiêu và các giải pháp chiến lược Muốn vậy phải đảm bảo tính logic trong tư duy chiến lược
- Tính khả thi là đòi hỏi cao nhất của chiến lược Tính khả thi trở thành hiện thực khi đảm bảo được tất cả các yêu cầu toàn diện, rõ ràng và nhất quán
¾ Thứ năm, đảm bảo thực hiện mục tiêu ưu tiên
Trong mỗi giai đoạn phát triển của mình, doanh nghiệp phải xác định hệ thống mục tiêu chiến lược phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện hệ thống mục tiêu cho suốt quá trình tồn tại và phát triển của nó Các tính toán xác định hệ thống mục tiêu chiến lược là các tính toán trên cơ sở tận dụng mọi cơ hội, hạn chế hoặc xóa bỏ mọi đe dọa, phát huy điểm mạnh và khắc phục mọi điểm yếu
Trang 32I.6 Các công cụ để phân tích và lựa chọn chiến lược:
I.6.1 Bảng tổng hợp môi trường kinh doanh:
Bảng tổng hợp môi trường kinh doanh tổng hợp các yếu tố, môi trường
chính yếu trong đó liệt kê từng yếu tố và đánh giá ảnh hưởng (tốt hay xấu) và ý
nghĩa (hoặc tác động) của yếu tố đó đối với doanh nghiệp
- Cột 1 liệt kê các yếu tố môi trường kinh doanh quan trọng nhất và các thành
tố của chúng
- Cột 2 được dùng để phân loại yếu tố môi trường theo mức độ quan trọng
tổng thể của chúng đối với doanh nghiệp
- Cột 3 được dùng để chỉ ra tác động thực sự của mỗi yếu tố đối với doanh
nghiệp
- Cột 4 mô tả tính chất tác động của yếu tố Các yếu tố tạo ra cơ hội và thế
mạnh của doanh nghiệp được đánh dấu (+), còn các yếu tố mang tính nguy cơ và thế
yếu được đánh dấu (-)
- Cột 5 là số điểm tính cho mỗi yếu tố Lấy trị giá tầm quan trọng của mỗi
yếu tố đối với ngành (cột 2) nhân với ảnh hưởng của nó đối với doanh nghiệp
(cột 3) và lấy dấu (+) hoặc (-) ở cột 4 gắn vào kết quả tính được
Bảng 1.1: Bảng tổng hợp môi trường kinh doanh
Các yếu
tố môi
trường
Mức độ quan trọng của yếu tố
đối với ngành
Tác động đối với doanh nghiệp Tính chất tác
động
Số điểm quan trọng
(+) = tốt (-) = xấu
Nhân trị số ở cột 1 (mức độ quan trọng) với cột 2 (mức độ tác động) và đặt dấu (+) hoặc (-) vào kết quả thu được
(Nguồn: Chiến lược và sách lược kinh doanh - Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Bobby G.Bizzell)
I.6.2 Ma trận cơ hội:
Ma trận cơ hội phân loại cơ hội theo thứ tự ưu tiên trên cơ sở xác định
mức độ tác động của một cơ hội đối với doanh nghiệp và xác xuất mà doanh
nghiệp có thể tranh thủ được cơ hội đó
Ma trận cơ hội cơ bản được thể hiện như hình dưới đây:
Trang 33Ma trận cơ hội Tác động của cơ hội
Cao Trung bình Thấp Xác suất để DN Cao
có thể Trung bình tranh thủ cơ hội Thấp
= Ưu tiên cao
I.6.3 Ma trận nguy cơ:
Ma trận nguy cơ rất giống với ma trận cơ hội, chỉ khác là nó có thêm một cột về mức độ tác động Cột này phản ánh các nguy cơ có thể làm cho doanh nghiệp sụp đổ hoàn toàn, như nguy cơ phá sản
Ngoài các nhóm ưu tiên thấp, trung bình và cao, còn có nhóm ưu tiên khẩn cấp là các nguy cơ cần phải chú ý tức thời
Ma trận nguy cơ cơ bản được thể hiện như hình dưới đây:
Ma trận nguy cơ Tác động của nguy cơ
Hiểm nghèo Nguy kịch Nghiêm trọng Nhẹ Xác suất Cao
Trang 34Nguy cơ thuộc ô ưu tiên khẩn cấp thường do lãnh đạo tối cao xử lý Các doanh nghiệp ít khi có đủ thời gian để thu thập nhiều thông tin bổ sung về nguy
cơ khẩn cấp vì thông thường phải có biện pháp tức thì nhằm tránh các nguy cơ
đó ngay sau khi nhận ra chúng
Đối với nguy cơ có thứ tự ưu tiên cao, doanh nghiệp còn có thời gian để thu thập các thông tin bổ sung
Đối với nguy cơ ở các mức ưu tiên thấp hơn thì càng ít có biện pháp phải thông qua, nhất là các biện pháp do lãnh đạo cấp trên thông qua Nguy cơ có mức ưu tiên thấp nhất thường chỉ cần theo dõi
I.6.4 Ma trận Mc.Kinsey (ma trận GE)
Ma trận này được hình thành với hai chiều biểu thị: Sức hấp dẫn của thị trường và khả năng (lợi thế) cạnh tranh được thể hiện trong hình 1.6
Sức hấp dẫn thị trường có thể được đánh giá thông qua nhiều yếu tố với mức quan trọng khác nhau như quy mô thị trường, tỷ lệ tăng trưởng của thị trường, sức cạnh tranh, sức sinh lợi của ngành kinh doanh, cường độ và tính chất cạnh tranh của thị trường, chi phí kinh doanh thâm nhập thị trường, tính chất rủi
ro, mạo hiểm, tính co giãn của cầu, kinh nghiệm sản xuất, tính hấp dẫn về vật liệu, khả năng thay đổi sức hấp dẫn về xã hội…
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
= Lựa chọn chiến lược đầu tư phát triển
= Chọn lọc giữ vững thị phần
= Chiến lược thay thế hay rút lui
(Nguồn : Khái niệm về quản trị chiến lược - Fred R David)
Hình 1.6- Ma trận Mc.Kinsey
Trang 35Lợi thế cạnh tranh tương đối của các đơn vị kinh doanh có thể được đánh giá thông qua các yếu tố như: thị phần tương đối, giá cả cạnh tranh, khả năng sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ, tài chính…
Khả năng cạnh tranh cũng được chia thành 3 mức: mạnh, trung bình, yếu
Với cách phân chia mỗi trục thành 3 mức như đã mô tả ở hình 1.6 thì lưới hoạch định chiến lược kinh doanh thành 9 ô
+ Ma trận này sử dụng tương đối phức tạp
I.6.5 Ma trận chiến lược chính (Grand Strategy Matrix)
Ma trận chiến lược chính là công cụ phổ biến để hình thành các chiến lược có khả năng lựa chọn Tất cả các tổ chức đều có thể nằm ở một trong bốn góc vuông chiến lược của ma trận chính Theo ma trận này, vị trí của doanh nghiệp được xác định dựa trên kết quả phân tích các điều kiện môi trường vĩ mô
và môi trường bên trong
Các doanh nghiệp nằm ở góc tư thứ nhất của ma trận chiến lược chính có
vị trí chiến lược rất tốt, mức tăng trưởng của thị trường rất cao, công ty có vị thế cạnh tranh tốt Các doanh nghiệp này có thể tập trung vào sản phẩm và thị trường hiện tại, có thể kết hợp về phía trước, phía sau, hay theo chiều ngang
Các doanh nghiệp nằm ở góc tư thứ hai phải thận trọng với chiến lược hiện tại của mình Mặc dù doanh nghiệp đang nằm trong ngành có mức tăng trưởng cao nhưng khả năng cạnh tranh của công ty còn hạn chế Doanh nghiệp cần phải xác định lại chiến lược hiện thời, và có những thay đổi như thế nào để cải thiện các hoạt động cạnh tranh của mình
Các doanh nghiệp nằm trong góc tư thứ hai đều thuộc ngành có mức tăng trưởng cao vì vậy chiến lược phát triển tập trung thường là lựa chọn đầu tiên Tuy vậy để tăng khả năng cạnh tranh, công ty nên kết hợp theo chiều ngang và thêm nữa là phải xem xét chiến lược loại bớt hay thanh lý để có thể tập trung nguồn lực
Trang 36Các doanh nghiệp nằm ở góc phần tư thứ ba hoạt động trong ngành có mức tăng trưởng chậm và khả năng cạnh tranh yếu Những doanh nghiệp này phải có những thay đổi mạnh và nhanh chóng để tránh những tổn thất lớn Trước tiên doanh nghiệp cần giảm đầu tư, giảm chi phí trong lĩnh vực hiện hữu, chuyển hoạt động kinh doanh hiện thời sang lĩnh vực khác Nếu thấy triển vọng xấu thì tốt nhất chọn chiến lược loại bỏ hay thanh lý bớt
Các doanh nghiệp thuộc góc tư thứ tư có vị thế cạnh tranh mạnh nhưng lại làm trong ngành có mức tăng trưởng thấp Nhưng doanh nghiệp này có thể áp dụng chiến lược đa dạng hoá trong lĩnh vực còn hứa hẹn Họ có thể theo đuổi thành công các chiến lược đa dạng hoá tập trung, theo chiều ngang hay liên doanh liên kết
I.6.6 Ma trận SWOT:
Mục đích của việc phân tích này là phối hợp các mặt mạnh, mặt yếu với các nguy cơ và cơ hội thích hợp
Thị trường tăng trưởng nhanh
Góc tư thứ 3
- Giảm bớt chi tiêu
- Đa dạng hóa theo chiều ngang
- Đa dạng hóa liên kết
- Loại bớt
- Thanh lý
Góc tư thứ 4
- Đa dạng hóa tập trung
- Đa dạng hóa theo chiều ngang
- Đa dạng hóa liên kết
- Liên doanh
Vị trí cạnh tranh mạnh
Thị trường tăng trưởng chậm
(Nguồn : Khái niệm về quản trị chiến lược - Fred R David)
Trang 37Để lập một ma trận SWOT (Strengths – Weaknesses – Opportunities - Threats), trước tiên ta kể ra các mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và nguy cơ được xác lập bằng các ma trận thứ tự ưu tiên theo các ô tương ứng
1:
2:
… n:
Chiến lược S/T
Sử dụng các điểm mạnh để né tránh nguy cơ
1:
2:
… n:
Những điểm yếu chủ yếu (W)
1:
2:
… n:
(Nguồn: Chiến lược và sách lược kinh doanh - Garry D.Smith, Danny R.Arnold, Bobby G.Bizzell)
Hình 1.8 Mô hình Ma trận SWOT
Sau đó nhà phân tích chiến lược tiến hành so sánh một cách có hệ thống từng cặp tương ứng các yếu tố nói trên để tạo ra các cặp phối hợp logic
Quá trình này tạo ra 4 nhóm phối hợp cơ bản:
- Chiến lược điểm mạnh - cơ hội (S/O) phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội
- Chiến lược điểm yếu- cơ hội (W/O) khắc phục điểm yếu để tận dụng cơ hội
- Chiến lược điểm mạnh - nguy cơ (S/T) phát huy điểm mạnh để vượt qua nguy cơ
- Chiến lược điểm yếu - nguy cơ (W/T) khắc phục điểm yếu để vượt qua nguy cơ
Trang 38TÓM TẮT CHƯƠNG I
Chương này đã trình bày khái quát lý thuyết về lý luận chiến lược kinh doanh: khái niệm, vai trò, yêu cầu chiến lược kinh doanh và các loại chiến lược kinh doanh; đồng thời cũng nêu rõ nội dung và trình tự để hoạch định chiến lược kinh doanh: sứ mệnh, mục tiêu; phân tích môi trường kinh doanh; mô hình để lựa chọn phương án chiến lược và các giải pháp để thực hiện các phương án chiến lược đối với doanh nghiệp
Việc phân tích và dự báo môi trường kinh doanh là một yêu cầu không thể thiếu được trong công tác quản trị chiến lược vì hệ thống các yếu tố môi trường là một thực thể phức tạp, biến động liên tục theo thời gian
Việc phân tích môi trường bên ngoài bao gồm cả cấp độ môi trường vĩ mô
và môi trường vi mô nhằm mục đích nhận thức được cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ gặp phải trong quá trình hoạt động của nó, đó là cơ
sở quan trọng cho quá trình quản trị chiến lược, đặc biệt là tiền đề cho việc hoạch định chiến lược
Phân tích môi trường vi mô (môi trường cạnh tranh) nhằm nhận thức được năm áp lực cạnh tranh hiện tại và tương lai đang đe dọa doanh nghiệp Việc phân tích môi trường cạnh tranh cho thấy bản chất của các áp lực và cơ chế
Việc phân tích môi trường bên trong giúp các nhà quản trị có thể nhận diện rõ chính mình và có cơ sở đề xuất các giải pháp để tận dụng điểm mạnh sẵn
có, hạn chế điểm yếu nhằm giảm bớt rủi ro của môi trường bên ngoài
Tóm lại khi tiến hành hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị cần quản lý chặt chẽ hệ thống các yếu tố môi trường nhằm chủ động trong tất cả các quyết định, nhất là nắm bắt kịp thời các cơ hội thị trường hấp dẫn và ngăn chặn hay hạn chế những nguy cơ có thế gây tổn hại cho doanh nghiệp
Những nội dung này sẽ làm cơ sở lý luận cho việc phân tích và hoạch định chiến lược kinh doanh cho Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội ở các chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HÀ NỘI
II.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty điện lực TP Hà Nội:
II.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển sản xuất kinh doanh:
II.1.1.1 Tên và địa chỉ giao dịch:
- Tên tiếng Việt: TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Tên tiếng Anh: HANOI POWER CORPORATION
- Tên viết tắt : EVN HANOI
- Địa chỉ: Số 69 phố Đinh Tiên Hoàng - phường Lý Thái Tổ - quận Hoàn Kiếm - thành phố Hà Nội
- Điện thoại: 04.22200898
- Fax: 04.22200899
- Website: http://www.evnhanoi.vn
- Logo của Tổng công ty:
II.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển:
¾ Văn bản pháp lý thành lập Tổng Công ty:
Quyết định số 0738/QĐ-BCT, ngày 05 tháng 02 năm 2010 của Bộ công thương về việc thành lập Công ty mẹ - Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Công ty Điện lực thành phố Hà Nội, hoạt động theo hình thức công ty mẹ - công ty con
¾ Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội tiền thân là Nhà máy đèn Bờ Hồ,
do thực dân Pháp xây dựng năm 1892
Năm 1960, nhà máy đèn Bờ Hồ được đổi tên thành Sở quản lý và phân phối điện khu vực I; được giao nhiệm vụ quản lý trạm 110 kV Đông Anh và phần lớn đường dây 110 kV khu vực phía Bắc
Năm 1980, Sở quản lý và phân phối điện khu vực I được đổi tên thành Sở Điện lực Hà Nội; được giao nhiệm vụ quản lý vận hành lưới điện 35 kV trở xuống; kinh doanh phân phối điện và làm chủ đầu tư các công trình phát triển lưới điện phân phối
Trang 40Từ năm 1984, lưới điện Hà Nội bắt đầu được cải tạo với quy mô lớn nhờ
sự giúp đỡ của Liên Xô Tuy nhiên, do nguồn điện còn thiếu nên việc cấp điện cho Hà Nội vẫn không ổn định, chưa thoả mãn được nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân Thủ đô Cuối năm 1984, điện năng thương phẩm đạt 604,8 triệu kWh (khu vực Hà Nội là 273,4 triệu kWh) tăng 26,8 lần so với năm 1954 và lưới điện đã phát triển tới 3.647 km đường dây cao hạ thế Năm 1995, Tổng công ty Điện lực Việt nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam) được thành lập, là đơn vị sản xuất và kinh doanh điện năng trên phạm
vi toàn quốc Ngày 08/7/1995, Sở Điện lực Hà Nội được thành lập lại và được đổi tên thành Công ty điện lực TP Hà Nội, là Công ty Nhà nước; thành viên hạch toán độc lập trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Năm 2008, theo Nghị quyết của Quốc hội, Thủ đô Hà Nội được mở rộng trên cơ sở sáp nhập tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hoà Bình vào Thủ đô Hà Nội; Tập đoàn Điện lực Việt Nam có quyết định sáp nhập nguyên trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tại Điện lực Hà Tây, Chi nhánh điện Mê Linh và 4 xã huyện Lương Sơn thuộc Công ty Điện lực 1 vào Tổng công ty điện lực TP Hà Nội
Sau khi mở rộng, diện tích Thủ đô Hà Nội là 3.348,52 km2, bằng 0,97%
so với cả nước, rộng hơn gấp 3 lần so với Hà Nội cũ; dân số 6,448 triệu người, chiếm khoảng 7,4 % dân số cả nước; mật độ dân số 1.926 người/km2, đứng thứ hai trong cả nước Thủ đô Hà Nội là một trong những Thủ đô có diện tích và dân
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tổng công ty điện lực TP Hà Nội không ngừng xây dựng và phát triển theo nguyên tắc phát huy tối đa ngành nghề kinh doanh chính, kết hợp với các ngành nghề kinh doanh khác mà pháp luật cho phép, phát huy sức mạnh tổng hợp dựa trên uy tín, thương hiệu và nguồn nhân lực dồi dào,