Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV nói riêng đã không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế, phát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ ANH THƯ
HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THƯ TÍN DỤNG (L/C) TẠI BIDV QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG VŨ TÙNG
Hà Nội - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Nguyễn Thị Anh Thư
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo sau Đại học – Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin cảm ơn TS Đặng Vũ Tùng – người đã khuyến khích, tận tình chỉ dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn các anh, chị đồng nghiệp đang công tác tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Quảng Ninh đã hợp tác, chia
sẻ thông tin, cung cấp nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc tới gia đình, bạn bè - những người luôn sát cánh động viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH VẼ ix
LỜI NÓI ĐẦU x
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THƯ TÍN DỤNG 1
1.1 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM 1
1.1.1 NHTM và các hoạt động chủ yếu của NHTM 1
1.1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM 3
1.2 Phương thức thư tín dụng (L/C) 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Ưu thế của phương thức L/C 8
1.2.3 Một số loại L/C cơ bản 9
1.2.4 Quy trình nghiệp vụ 10
1.2.5 Cơ sở pháp lý 11
1.3 Rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức L/C 13
1.3.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro thanh toán quốc tế 13
1.3.2 Các dạng rủi ro TTQT theo phương thức L/C của NHTM 14
1.4 Hạn chế rủi ro TTQT tại các NHTM 27
1.4.1 Hậu quả khi phát sinh rủi ro TTQT đối với NHTM 27
1.4.2 Phương pháp hạn chế rủi ro TTQT của các NHTM 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC THƯ TÍN DỤNG TẠI BIDV QUẢNG NINH 32 2.1 Giới thiệu tổng quan về BIDV Quảng Ninh 32
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 32
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức 35
Trang 52.1.3 Các hoạt động nghiệp vụ chính 36
2.2 Hoạt động kinh doanh của BIDV Quảng Ninh giai đoạn 2010-2012 37
2.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh 37
2.2.2 Hoạt động huy động vốn 39
2.2.3 Hoạt động tín dụng 40
2.2.4 Hoạt động dịch vụ 42
2.3 Hoạt động TTQT theo phương thức L/C tại BIDV Quảng Ninh 43
2.3.1 Văn bản hướng dẫn nghiệp vụ 43
2.3.2 Quy trình xử lý giao dịch 43
2.3.3 Kết quả hoạt động TTQT 46
2.4 Thực trạng rủi ro TTQT theo phương thức L/C tại BIDV Quảng Ninh 51
2.4.1 Rủi ro trong phương thức L/C xuất khẩu 52
2.4.2 Rủi ro trong phương thức L/C nhập khẩu 59
2.5 Đánh giá rủi ro TTQT theo phương thức L/C tại BIDV Quảng Ninh 68
2.5.1 Mặt tích cực 68
2.5.2 Mặt hạn chế 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
Chương 3: GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG TTQT THEO PHƯƠNG THỨC L/C TẠI BIDV QUẢNG NINH 74
3.1 Định hướng phát triển hoạt động TTQT của BIDV 74
3.2 Nguyên nhân rủi ro TTQT theo phương thức L/C của BIDV 75
3.2.1 Nguyên nhân khách quan 75
3.2.2 Nguyên nhân chủ quan 80
3.3 Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro TTQT theo phương thức L/C 82
3.3.1 Hoàn thiện mô hình, bộ máy tổ chức 82
3.3.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ TTQT có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp 84
3.3.3 Tăng cường đảm bảo an toàn từ các nghiệp vụ có liên quan 88
3.3.4 Tăng cường hợp tác toàn diện với khách hàng 92
3.3.5 Các giải pháp khác 95
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7IBMB Dịch vụ Internet Banking - Mobile Banking
ICC International Chamber of Commerce - Phòng Thương mại
Quốc tế ISBP
International Standard Banking Practice for the Examination of Documents under Documentary Credits - Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ
EXIMBANK Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
EU European Union - Liên minh châu Âu
L/C Letter of Credit - Thư tín dụng
NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
OFAC The Office of Foreign Assets Control – Cơ quan kiểm soát
tài sản nước ngoài SWIFT
Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication - Hiệp hội Viễn thông Tài chính liên ngân hàng toàn cầu
TCTD Tổ chức tín dụng
TTR Telegraphic Transfer - Chuyển tiền bằng điện
Trang 8TTQT Thanh toán quốc tế
UCP The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits
- Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
URR Uniform Rules for bank-to-bank Reimbursement - Quy tắc
thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng VCB Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
VIETINBANK Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
XNK Xuất nhập khẩu
Trang 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1 - Kết quả hoạt động kinh doanh 2010-2012 38
Bảng 2 - Hoạt động huy động vốn giai đoạn 2010-2012 39
Bảng 3 - Hoạt động cấp tín dụng giai đoạn 2010-2012 41
Bảng 4 - Hoạt động dịch vụ giai đoạn 2010-2012 42
Bảng 5 - Hoạt động TTQT giai đoạn 2010-2012 47
Bảng 6 - Thực trạng hoạt động TTQT theo phương thức L/C năm 2012 52
Bảng 7 - Thực trạng rủi ro đối với L/C xuất khẩu năm 2012 53
Bảng 8 - Thực trạng rủi ro đối với L/C nhập khẩu năm 2012 60
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ - HÌNH VẼ
Trang
Hình 1 - Quy trình thanh toán L/C 10
Hình 2 - Rủi ro thường gặp trong TTQT của NHTM 14
Hình 3 - Chênh lệch tỷ giá qua 3 đợt biến động đầu năm 2013 19
Hình 4 - Mô hình tổ chức của BIDV Quảng Ninh 35
Hình 5 - Lưu đồ quy trình phát hành L/C 45
Hình 6 - Thị phần TTQT của các NHTM trên địa bàn năm 2012 46
Hình 7 - Cơ cấu mặt hàng L/C xuất khẩu năm 2012 48
Hình 8 - Doanh số TTQT giai đoạn 2010-2012 49
Hình 9 - Doanh số TTQT theo phương thức thanh toán 50
Hình 10 - Số lượng giao dịch rủi ro theo phương thức L/C năm 2012 71
Hình 11 - Tỷ lệ trị giá giao dịch rủi ro theo phương thức L/C năm 2012 71
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Căn cứ lựa chọn đề tài
Trong xu thế quốc tế hóa mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, thương mại quốc
tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu đối với mỗi quốc gia Mở rộng kinh doanh đối ngoại không chỉ đơn thuần là tìm kiếm lợi nhuận mà còn phát huy được lợi thế so sánh, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng phát triển kinh
tế quốc tế, đặc biệt là ngoại thương Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam đã mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới, trong đó có các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, các nước trong khối liên minh Châu Âu-EU Kinh tế quốc tế
mở rộng đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải phát triển dịch vụ thanh toán quốc
tế tương ứng để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Đây không chỉ là nguồn thu lớn về dịch vụ cho các ngân hàng thương mại mà còn góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước hoàn thiện mắt xích quan trọng nhất của giao dịch thương mại quốc tế
Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói riêng đã không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế, phát triển đa dạng các phương thức thanh toán như nhờ thu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ Trong đó, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó Tuy nhiên, tín dụng chứng từ không phải là nghiệp vụ đơn giản, trong thực tế công tác này đã gặp phải không ít những rủi ro gây thiệt hại cả về tài chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp Việt Nam Thậm chí những đơn
vị, tổ chức này đã phải nhận lấy những bài học kinh nghiệm đắt giá
Thực trạng trên cho thấy việc phát hiện, phòng ngừa những rủi ro trong thanh toán quốc tế đặc biệt là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ là một việc làm cần thiết mà các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp
Trang 12Việt Nam phải quan tâm chú trọng
Xuất phát từ nhận thức đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Hạn chế rủi
ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức thư tín dụng (L/C) tại BIDV Quảng Ninh”, với mong muốn từ những thực tiễn phát sinh và bài học kinh nghiệm
để đưa ra một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán này, góp phần đưa thư tín dụng trở thành phương thức thanh toán hoàn thiện, tin cậy và hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Quảng Ninh (BIDV Quảng Ninh) ngày càng an toàn, hiệu quả
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rủi ro TTQT theo phương thức L/C tại BIDV Quảng Ninh, xác định nguyên nhân của những mặt hạn chế, từ đó đề ra giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro nhằm giảm thiểu những tổn thất trong thanh toán L/C, đưa L/C trở thành phương thức thanh toán an toàn, hiệu quả, góp phần đẩy mạnh hoạt động TTQT nói riêng và nâng cao kết quả kinh doanh của BIDV Quảng Ninh
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức thư tín dụng tại BIDV Quảng Ninh và những rủi ro thực tế phát sinh
- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2010-2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng kết hợp trong đề tài: thống kê, phân tích thực
tế, so sánh, tổng hợp dựa trên số liệu báo cáo của NHNN Quảng Ninh, BIDV Quảng Ninh
Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu những kinh nghiệm từ những tình huống đã phát sinh trên thực tế ở một số ngân hàng bạn trong nước, nước ngoài để
từ đó rút ra được bài học cần thiết, nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục đích đặt ra trong luận văn
Trang 135 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro trong TTQT theo phương thức L/C
- Chương 2: Thực trạng về quản lý rủi ro trong TTQT theo phương thức L/C
tại BIDV Quảng Ninh
- Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong TTQT theo phương
thức L/C tại BIDV Quảng Ninh
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC THƯ TÍN DỤNG 1.1 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
1.1.1 NHTM và các hoạt động chủ yếu của NHTM
1.1.1.1 Khái niệm về NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Theo luật Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ
tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Theo luật Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp
thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính (Đạo luật ngân hàng, 1941)
Theo luật Việt Nam: NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận (Luật các tổ chức tín dụng, 2010)
Hay, NHTM là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của chính phủ
để cho vay tiền và mở các khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi mà dựa vào đó
Trang 161.1.1.2 Chức năng của NHTM
- Chức năng trung gian: NHTM làm trung gian giữa người gửi tiền và người
vay tiền, giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường
- Chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:
NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán việc mua bán hàng hóa và sử dụng dịch vụ Để thực hiện chức năng này ngân hàng đã tạo ra các phương tiện thanh toán (tạo ra tiền), cung ứng mạng lưới và các dịch vụ thanh toán
- Chức năng bảo lãnh: NHTM đứng ra đảm bảo khả năng thanh toán cho
khách hàng
- Chức năng đại lý: NHTM thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản
của họ, làm các dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác như mua bán chứng khoán, cung cấp dịch vụ ngân quỹ, tư vấn, cho thuê két
- Chức năng thực hiện chính sách: NHTM thực hiện các chính sách kinh tế
của Chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu
xã hội khác
1.1.1.3 Các hoạt động chủ yếu của NHTM
- Hoạt động huy động vốn: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận Bên cạnh tiền gửi huy động từ khách hàng cá nhân, tổ chức còn có nguồn tiền vay từ NHNN và các TCTD khác Tuy nhiên nguồn tiền này chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn huy động của các NHTM do lãi suất phải trả cho các khoản vay này thường cao hơn các khoản huy động khác
- Hoạt động sử dụng vốn (hoạt động cấp tín dụng và đầu tư): là việc thỏa
thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ
Trang 17- Hoạt động cung ứng dịch vụ: là việc cung ứng phương tiện thanh toán; mua
bán ngoại tệ, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, dịch vụ ngân quỹ và các dịch vụ khác cho khách hàng
1.1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
1.1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế (TTQT) đã ra đời từ lâu, nhưng nó mới chỉ phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng gia tăng, từ đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân hàng cũng tăng theo Thanh toán quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của nền kinh tế của các quốc gia hiện nay
TTQT có thể được định nghĩa theo các quan điểm khác nhau:
Thứ nhất, TTQT là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên
quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước [(11), tr.7]
Thứ hai, TTQT là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông
qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau [(3), tr.9]
Từ hai định nghĩa trên đây, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm TTQT
Trước hết, TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch
thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng trên thế giới
Ngoài ra, khác với thanh toán trong nước, TTQT thường gắn với việc trao
đổi đồng tiền nước này với đồng tiền của nước khác Do vậy, khi ký kết các hợp đồng ngoại thương, các bên phải thống nhất loại ngoại tệ được dùng để thanh toán,
Trang 18đồng thời thận trọng lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro khi tỷ giá hối đoái biến động Các đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu là các loại ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi tự do như Đô la Mỹ (USD), Euro (EUR), Bảng Anh (GBP) và Yên Nhật (JPY) Tiền tệ trong TTQT thường tồn tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán như hối phiếu, séc, thẻ thanh toán, thư chuyển tiền, điện chuyển tiền
Mặt khác, thanh toán giữa các nước đều được tiến hành thông qua ngân hàng
và không dùng tiền mặt, nếu có thì chỉ trong những trường hợp đặc biệt Do vậy TTQT về bản chất chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, được hình thành và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thương và các trao đổi tiền tệ quốc tế
Bên cạnh đó, TTQT được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán
thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia, bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán
1.1.2.2 Vai trò của NHTM trong TTQT
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ kinh
tế, chính trị thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ Từ đó hình thành nên các khoản thu và chi tiền tệ quốc tế giữa các đối tác ở các nước khác nhau Các mối quan hệ tiền tệ này ngày một phong phú, đa dạng với quy mô ngày càng lớn Chúng góp phần tạo nên tình trạng tài chính của mỗi nước, có thể ở trạng thái bội thu hay bội chi Trong các giao dịch thương mại quốc tế, các đối tác ở các nước khác nhau,
do vậy có sự khác nhau về ngôn ngữ, cách xa nhau về địa lý nên việc thanh toán không thể tiến hành trực tiếp với nhau mà phải thông qua các tổ chức trung gian, đó chính là các ngân hàng thương mại cùng với mạng lưới hoạt động khắp nơi trên thế giới Vì vậy, các NHTM có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế, điều này được thể hiện ở các mặt sau:
- Cung cấp các khoản bảo lãnh tín dụng hoặc tín dụng: bao gồm bảo lãnh tín
chấp, bảo lãnh phát hành L/C, cho vay… đối với nhà nhập khẩu và chiết khấu chứng từ xuất khẩu, mua lại chứng từ nhờ thu… đối với nhà xuất khẩu
Trang 19- Trung gian thanh toán: thực hiện thanh toán giữa các bên liên quan, đảm
bảo an toàn, nhanh chóng và chính xác
- Tư vấn: trong bất kì trường hợp nào nếu gặp phải những vấn đề liên quan
đến thanh toán trong giao dịch ngoại thương, khách hàng liên quan đều có thể nhận được những tư vấn tốt từ cán bộ chuyên môn trong các NHTM
- Quản lý rủi ro tín dụng: trong thương mại quốc tế, người mua có thể phải
giao dịch với một người bán mà họ không hề biết, thậm chí kể cả sau khi đã có giao dịch mua bán với nhau, các bên cũng không thể chắc chắn về mức độ tin cậy của đối tác, do đó khó lường trước được những rủi ro có thể xảy ra Với sự giúp đỡ của NHTM, người mua và người bán sẽ yên tâm và tin tưởng hơn vì sẽ loại trừ được rủi
ro Ví dụ cụ thể đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, hành động phát hành L/C của NHTM đồng nghĩa với cam kết sẽ thay thế người mua trả tiền cho người bán nếu người bán thực hiện đúng điều khoản và điều kiện của L/C
- Quản lí rủi ro về ngoại hối: Trong thương mại quốc tế người mua và người
bán ở hai nước khác nhau và loại tiền giao dịch sẽ là ngoại tệ đối với ít nhất một trong hai bên Do vậy, họ phải đương đầu với những rủi ro về tỷ giá tiền tệ biến động Những rủi ro này sẽ dễ dàng loại trừ với các hoạt động nghiệp vụ của NHTM như mua bán quyền chọn, kỳ hạn
- Cung cấp khả năng lựa chọn các phương thức thanh toán: hiện nay các
NHTM có thể cung cấp cho khách hàng nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau như: chuyển tiền, nhờ thu, L/C và các bên có thể lựa chọn phương thức phù hợp nhất với điều kiện của mình
1.1.2.3 Các phương thức TTQT chủ yếu của NHTM
Phương thức TTQT là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền trong giao dịch, mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu điểm và nhược điểm khác nhau Vì vậy việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được hai bên thoả thuận bàn bạc và ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương
Trang 20Phương thức TTQT được sử dụng chủ yếu tại các NHTM bao gồm:
Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Đây là phương thức thanh toán mà trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền mà khách hàng yêu cầu Hiện nay, phương tiện chủ yếu của phương thức này là chuyển tiền thông qua hệ thống SWIFT
- Ưu điểm: Là phương tiện thanh toán đơn giản, thuận tiện, chi phí thấp,
thanh toán trực tiếp giữa bên mua và bên bán, ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian
- Nhược điểm: Đây là phương thức rủi ro cao đối với cả hai bên mua và bán
do quy trình thanh toán không chặt chẽ, không ràng buộc trách nhiệm, tách rời giữa việc giao hàng và thanh toán Phương thức chuyển tiền thường được sử dụng trong thanh toán biên mậu, thanh toán phí vận chuyển, bảo hiểm
Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
Đây là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì tiến hành uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu mà người bán lập ra
Phương thức nhờ thu bao gồm:
- Nhờ thu phiếu trơn (clean collection): là phương thức trong đó người bán
uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho khách hàng không qua ngân hàng
Phương thức này chỉ áp dụng khi người bán và người mua phải tin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc là chi nhánh của nhau Phương thức thường dùng để thanh toán chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước phí vận tải, bảo hiểm, tiền phạt vì việc thanh toán này không cần kèm theo chứng từ
Nhược điểm của phương thức này là không đảm bảo quyền lợi cho người bán vì việc thanh toán tách rời khỏi việc nhận hàng vì vậy người mua có thể nhận
Trang 21hàng mà không chịu thanh toán hoặc thanh toán chậm trễ Tuy nhiên, trong trường hợp hối phiếu đến sớm hơn chứng từ người mua cũng sẽ gặp rủi ro khi phải trả tiền ngay mà chưa biết việc giao hàng có đúng hợp đồng không
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection): là phương thức thanh
toán trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu và bộ chứng từ gửi hàng Ngân hàng chỉ giao bộ chứng từ cho người mua với điều kiện người mua trả tiền hối phiếu hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu Tuỳ theo điều kiện trả tiền mà phương thức này chia làm hai loại:
+ Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documentary against payment-D/P) phương thức này chỉ sử dụng khi người bán trả tiền ngay
+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documentary against acceptance- D/A) phương thức này chỉ áp dụng trong trường hợp mua chịu
So với trường hợp nhờ thu phiếu trơn phương thức này đảm bảo hơn vì ngân hàng thay mặt cho người bán khống chế bộ chứng từ Tuy nhiên ngân hàng chỉ có trách nhiệm là trung gian thu hộ tiền mà không có trách nhiệm gì về việc trả tiền của người mua cũng như kiểm tra bộ chứng từ Phương thức này chỉ áp dụng trong trường hợp hàng bán lần đầu, hàng ứ đọng, khó tiêu thụ, thu cước phí vận tải
Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of credit)
Đây là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Đây là phương thức thanh toán bảo vệ quyền lợi cho cả người bán, người mua và là phương thức mà NHTM tham gia và có trách nhiệm lớn nhất
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, NHTM không những là trung gian thu hộ và chi hộ mà còn là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán cho bên xuất khẩu
Thanh toán theo L/C tạo sự thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, tuy nhiên rủi
ro vẫn có thể xảy ra với các bên liên quan Các doanh nghiệp cần chuẩn bị cho mình những kiến thức về L/C, lường trước những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thanh toán L/C để các cuộc giao thương diễn ra nhanh gọn, đạt hiệu quả cao
Trang 221.2 Phương thức thư tín dụng (L/C)
1.2.1 Khái niệm
Phương thức thư tín dụng (hay còn gọi là phương thức tín dụng chứng từ) là một sự thỏa thuận, theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ mở một thư tín dụng cho người hưởng lợi được khách hàng chỉ định, trong đó cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người đó (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng [(11), tr 225]
Công cụ để thực hiện phương thức thanh toán này là thư tín dụng (L/C – Letter of Credit) L/C là một chứng thư (điện hoặc ấn chỉ), trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất nếu họ xuất trình một bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C [(11), tr 227]
1.2.2 Ưu thế của phương thức L/C
Trong giao dịch thương mại quốc tế hiện đại, các bên đối tác mua bán thường lựa chọn L/C làm phương thức thanh toán Sở dĩ thư tín dụng được ưa chuộng và sử dụng phổ biến như vậy là do nó có những đặc điểm nổi bật so với các phương thức thanh toán khác Nếu như phương thức chuyển tiền, nhờ thu gây bất lợi cho một bên người mua hoặc một bên người bán, cũng có khi là cả hai bên thì phương thức thanh toán L/C tỏ ra ưu việt hơn, nó không những mang lại một số quyền lợi nhất định cho Ngân hàng mà nó còn đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên tham gia xuất nhập khẩu: Người bán đảm bảo được thanh toán nếu xuất trình được
bộ chứng từ hoàn chỉnh, hợp lệ, còn người mua cũng đảm bảo nhận được hàng đúng thời hạn, đúng như quy định trong hợp đồng Cụ thể, sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có những ý nghĩa nhất định như sau:
Đối với nhà xuất khẩu:
Là người hưởng lợi của thư tín dụng, nhà xuất khẩu có được đảm bảo rằng khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C cho ngân hàng phát hành, nhà xuất khẩu sẽ nhận được tiền thanh toán
Trang 23Tình trạng tài chính của người mua được thay thế bằng việc ngân hàng phát hành L/C cam kết trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu trên cơ sở chứng từ được xuất trình phù hợp với các điều khoản của L/C
Đối với nhà nhập khẩu:
Trước hết, nhà nhập khẩu sẽ nhận được hàng hoá đúng như yêu cầu trong bộ chứng từ xuất trình theo L/C đã phát hành Người mua chỉ có trách nhiệm thanh toán khi tất cả các điều kiện, điều khoản của L/C đã được thực hiện đúng
Trong trường hợp được ngân hàng cho phép ký quỹ dưới 100%, nhà nhập khẩu sẽ không bị đọng vốn vì không phải ứng trước tiền
Đối với ngân hàng thương mại (NHTM)
Phương thức thanh toán L/C mang lại cho NHTM nguồn thu lớn từ phí phát hành, phí sửa đổi, phí thông báo, phí xác nhận, phí thanh toán Do nghiệp vụ này tương đối phức tạp nên mức phí cũng khá cao
Ngoài ra khi quy định các khoản ký quỹ cho doanh nghiệp mở L/C ngân hàng còn huy động thêm được một lượng vốn giá rẻ đáng kể phục vụ cho hoạt động của các nghiệp vụ khác như cho vay xuất nhập khẩu, xác nhận, bảo lãnh Hơn nữa, với việc thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán L/C sẽ góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trên nhiều phương diện khác nhau không chỉ ở trong nước mà ngay cả trên trường quốc tế
1.2.3 Một số loại L/C cơ bản
Hiện nay, các NHTM thường sử dụng một số loại L/C như sau:
- L/C xác nhận (Confirmed L/C): L/C được một ngân hàng khác xác nhận,
đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng phát hành
- L/C có thể chuyển nhượng (Transferable L/C): L/C cho phép người thụ
hưởng yêu cầu chuyển nhượng toàn bộ/một phần số tiền của L/C cho một/nhiều người khác
- L/C tuần hoàn (Revolving L/C): L/C sau khi thực hiện xong hoặc hết hạn hiệu
lực thì tự động có hiệu lực trở lại cho đến khi thực hiện hết tổng giá trị hợp đồng
- L/C giáp lưng (Back-to-back L/C): L/C được mở trên cơ sở một L/C khác
Trang 24- L/C đối ứng (Reciprocal L/C): L/C chỉ có hiệu lực khi L/C đối ứng với nó
được mở
- L/C dự phòng (Standby L/C): do ngân hàng của người xuất khẩu phát hành,
cam kết thanh toán cho nhà nhập khẩu nếu người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng
- L/C điều khoản đỏ (Red clause L/C): L/C cho phép ứng trước cho người
thụ hưởng để mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hóa theo L/C đã mở
từ
(2)
Đề nghị
mở L/C
(8) Thanh toán
(6) Xuất trình chứng
từ
(4) Thông báo L/C
Nhà nhập khẩu
(Applicant)
Nhà xuất khẩu (Beneficiary)
Hình 1 - Quy trình thanh toán L/C
(Nguồn: Quy trình TTQT - BIDV)
(1) Nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu ký hợp đồng mua bán ngoại thương; (2) Nhà nhập khẩu (applicant) làm đơn đề nghị ngân hàng của mình (Issuing bank) phát hành L/C cho nhà xuất khẩu hưởng (beneficiary);
(1)Hợp đồng
(3) Phát hành L/C
(5) Giao hàng (6) Xuất trình chứng từ (8) Thanh toán
Trang 25(3) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng phát hành L/C chuyển đến nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu;
(4) Ngân hàng đại lý (advising bank) sẽ thông báo L/C đến người xuất khẩu; (5) Nếu người xuất khẩu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không đồng ý thì yêu cầu nhà nhập khẩu sửa đổi L/C cho phù hợp với hợp đồng;
(6) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C và thông qua ngân hàng của mình để xuất trình tới ngân hàng phát hành;
(7) Ngân hàng phát hành thông báo tình trạng bộ chứng từ đến nhà nhập khẩu Nếu bộ chứng từ phù hợp với L/C hoặc nhà nhập khẩu chấp nhận bất đồng thì ngân hàng trả bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu Nếu bộ chứng từ không phù hợp và nhà nhập khẩu không chấp nhận thì ngân hàng gửi trả lại bộ chứng từ
(8) Nhà nhập khẩu mang bộ chứng từ đi nhận hàng và thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu
1.2.5 Cơ sở pháp lý
Vấn đề pháp lý trong hoạt động TTQT rất phức tạp do các bên liên quan hoạt động ở các quốc gia khác nhau, trong điều kiện môi trường pháp lý và hệ thống luật pháp khác nhau Trong hệ thống luật pháp điều chỉnh các hoạt động ngoại thương nói chung, hoạt động TTQT nói riêng gồm có luật quốc tế và luật quốc gia
Đối với các phương thức thanh toán quốc tế, cho đến nay vẫn chưa có luật quốc tế mà mới chỉ có các tập quán quốc tế Phương thức L/C được điều chỉnh bởi các tập quán cụ thể như sau:
- Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (Uniform Customs
and Practice for Documentary Credits) do Phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành năm 1933, đã qua 6 lần sửa đổi và bản sửa đổi gần nhất là năm 2007 (UCP600,
2007 Revision)
Đây là bộ Quy tắc được công nhận rộng rãi dùng để điều chỉnh việc sử dụng thư tín dụng trong các hoạt động thương mại quốc tế Mục tiêu cốt yếu của UCP là tạo ra một bộ quy tắc thống nhất trong thực hành tín dụng chứng từ để các bên liên quan không phải đối phó với sự xung đột pháp luật không đáng có giữa các quốc gia
Trang 26- Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong thanh toán tín dụng chứng từ (International Standard Banking Practice for the
Examination of Ducuments under Documentary Credits) do Phòng Thương mại quốc
tế ICC ban hành, thường đi kèm để giải thích chi tiết nội dung thực tiễn của UCP
ISBP ra đời do trong quá trình thực hiện TTQT, rất nhiều ngân hàng và khách hàng có những cách giải thích trái ngược nhau về quy định của UCP ISBP
là một bộ phận đính kèm của UCP500 nhằm đưa ra những cách giải thích thống nhất trong việc kiểm tra chứng từ cho các ngân hàng và khách hàng khi tham gia hoạt động TTQT ISBP đã góp phần giảm các tranh cãi về bất đồng chứng từ do cách hiểu, các giải thích khác nhau của các bên liên quan gây ra
- Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ dành cho thương mại điện tử do ICC ban hành, bản sửa đổi gần nhất là eUCP600 (Supplement to UCP600
for Electronic Presentation, 2007) eUCP là phụ trương về xuất trình chứng từ điện tử, được sử dụng đồng thời cùng với UCP, ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thương mại điện tử đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên toàn thế giới
- Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng (Uniform Rules for bank-to-bank Reimbursement) do ICC ban hành vào tháng 11/1995 (có hiệu lực vào
1/7/1996), bản sửa đổi gần nhất là URR725, có hiệu lực vào 1/10/2008
Quy tắc này quy định về cách thức áp dụng hoàn trả theo tín dụng chứng từ, nghĩa vụ và trách nhiệm của các ngân hàng tham gia, hình thức và ghi chú về uỷ quyền hoàn trả, sửa đổi uỷ quyền hoàn trả, yêu cầu hoàn trả và các cam kết hoàn trả…
Tuy nhiên, ICC là một tổ chức quốc tế tư nhân chứ không phải là một cơ quan chính phủ Do vậy những tập quán quốc tế do ICC ban hành chỉ là những quy phạm pháp lý tuỳ ý, không bắt buộc Các nước vận dụng tập quán quốc tế không giống nhau Các ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng một số điều của UCP cũng như
từ chối áp dụng một số điều khác bằng việc miễn trừ trong nội dung của L/C phát hành Với một số nước có quy tắc riêng về thư tín dụng thì L/C còn chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia, và luật này thường được ưu tiên áp dụng nếu như có sự khác biệt với tập quán thương mại quốc tế
Trang 271.3 Rủi ro thanh toán quốc tế theo phương thức L/C
1.3.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro thanh toán quốc tế
1.3.1.1 Khái niệm rủi ro thương mại
Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Trong lĩnh vực kinh doanh, rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước
Hiểu theo nghĩa cơ bản nhất, rủi ro là khả năng lỗ vốn hoặc thất bại, các đầu tư có khả năng lỗ vốn cao hơn được coi là rủi ro cao hơn Vì vậy, có thể nói rủi
ro là sự bất định của tỷ suất sinh lợi của một đầu tư [(10), tr.97]
Đối với NHTM, mọi hoạt động kinh doanh đều tiềm ẩn rủi ro rất lớn NHTM
ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán…phục vụ cho phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cá nhân với đặc thù kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Vì vậy, hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro
mà chúng ta khó có thể lường trước được Nguyên nhân của những tiềm ẩn rủi ro này là do ngân hàng là một trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế với lãi suất thấp, sau đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao hơn để thu lợi nhuận Nếu ngân hàng không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động đủ vốn nhưng không có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, sẽ dẫn đến rủi ro
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội… gây ra những thiệt hại không nhỏ cho ngân
Trang 28hàng Hơn nữa, ngân hàng kinh doanh không chỉ huy động vốn và cho vay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ, đại lý… Vì vậy có thể nói rằng rủi ro ngân hàng rất đa dạng Ngoài ra, các ngân hàng đang hoạt động trong cơ chế thị trường
có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng với nhau và với các tổ chức tín dụng, dẫn đến việc cạnh tranh về lãi suất để huy động được vốn, làm cho lãi suất huy động vốn cao hơn lãi suất cho vay cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi
ro cho ngân hàng
1.3.1.2 Khái niệm rủi ro TTQT
Rủi ro trong thanh toán quốc tế là rủi ro phát sinh trong quá trình thanh toán giữa các bên trong giao dịch quốc tế (nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng, các
tổ chức cá nhân, trung gian có liên quan ) Rủi ro thanh toán quốc tế cũng tương tự như rủi ro thanh toán nội địa nhưng phức tạp và khó kiểm soát hơn do trong giao dịch quốc tế, các chủ thể ở cách xa nhau, thậm chí còn chưa gặp mặt nhau, bên cạnh
đó là sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán, luật pháp giữa các quốc gia…
1.3.2 Các dạng rủi ro TTQT theo phương thức L/C của NHTM
Kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, vì vậy những rủi
ro trong hoạt động ngân hàng cũng mang tính đặc thù Trong hoạt động TTQT, các NHTM thường phải đối mặt với những rủi ro sau đây:
(Nguồn: Quy trình TTQT - BIDV) Hình 2 - Rủi ro thường gặp trong TTQT của NHTM
Trang 291.3.2.1 Rủi ro chính trị, pháp lý
Rủi ro chính trị, pháp lý thường là bất khả kháng, rất khó dự báo và gây hậu quả nghiêm trọng đến các bên có liên quan Loại rủi ro này thường xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
Biến động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia
Tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượng kinh tế của nhiều quốc gia, TTQT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia Một sự biến động về chính trị, kinh tế, chính sách quản lý ngoại hối, ngoại thương, thuế, lĩnh vực ưu tiên của một quốc gia sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết như đã thoả thuận của các bên Ví dụ hai doanh nghiệp ký kết hợp đồng mua bán một loại hàng hoá, với hình thức thanh toán là tín dụng chứng từ Hàng đã được giao và chứng từ đã được lập đầy đủ phù hợp với quy định của L/C và được gửi tới xuất trình tại ngân hàng phát hành Tuy nhiên do chính sách điều hành xuất nhập khẩu của nước nhập khẩu thay đổi, mặt hàng đó không được phép nhập khẩu vào trong nước nếu không có giấy phép của một cơ quan có thẩm quyền Lô hàng bị ách lại tại cửa khẩu để chờ giấy phép trong khi bộ chứng từ phù hợp phải được thanh toán theo đúng cam kết của L/C Rủi ro trước tiên thuộc về nhà nhập khẩu, tuy nhiên ngân hàng phát hành cũng
bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng phát hành tài trợ cho nhà nhập khẩu dưới hình thức phát hành L/C ký quỹ dưới 100%
Sự suy thoái kinh tế, biến động chính trị sẽ ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến quá trình thanh toán và gây rất nhiều rủi ro cho ngân hàng
Giao dịch liên quan đến danh sách đen, chính sách cấm vận
Các giao dịch liên quan đến danh sách đen và chính sách cấm vận của Liên Hợp Quốc (LHQ), OFAC, EU, Mỹ…thường tiềm ẩn rủi ro chính trị, pháp lý rất lớn
LHQ đã thông qua một số công ước, nghị quyết như: Công ước Palermo về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (năm 2000), Công ước quốc tế về
Trang 30chống tài trợ cho khủng bố (năm 1999), Nghị quyết 1373 (năm 2001)…trong đó bắt buộc tất cả các nước thành viên phải hình sự hóa việc rửa tiền và tài trợ cho hoạt động khủng bố Việt Nam là thành viên của LHQ từ năm 1977 và những hiệp ước, công ước quốc tế đã ký này cũng có hiệu lực như luật quốc gia
Trong thời gian qua, hàng loạt hoạt động rửa tiền đội lốt các giao dịch thanh toán quốc tế ở Việt Nam đã bị phát hiện Tội phạm che giấu việc chuyển tiền bất hợp pháp bằng việc giả danh nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam với giá trị L/C lớn nhưng thực chất giá trị hàng hóa rất nhỏ, nhằm chuyển khối lượng tiền lớn vào Việt Nam Sau đó các khoản tiền này được quay vòng tại Việt Nam nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tiền Thị trường ngoại tệ đen tại Việt Nam tương đối phát triển nên việc chuyển đổi ngoại tệ sang đồng nội tệ để đầu tư, tiêu dùng khá dễ dàng Tội phạm cũng có thể làm giả thư tín dụng nhập khẩu cũng như tờ khai hải quan nhằm che đậy việc chuyển tiền qua biên giới
Ngoài phòng chống rửa tiền, các giao dịch liên quan đến danh sách cấm vận của Mỹ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Mỹ là một trong các quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới, có quyền lợi kinh tế, có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế tại một số quốc gia Mỹ cấm vận đối với một số quốc gia khi có sự thay đổi về chế
độ chính trị, đảng lãnh đạo… tại quốc gia đó gây ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế của Mỹ (Cuba, Myanmar…) hoặc một số quốc gia, tổ chức, cá nhân có liên quan đến các chương trình sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt (Bắc Triều Tiên, Iran…), các hoạt động vi phạm nhân quyền (Syria, Sudan…), hoạt động khủng bố đe dọa sự
an toàn của Mỹ (Al Qaeda, Osama Bin Laden…) Tất cả các giao dịch TTQT liên quan đến hàng hóa cấm xuất nhập đối với nước bị cấm vận, đến tổ chức, ngân hàng,
cá nhân thuộc danh sách đen hoặc hàng hóa được chuyên chở trên những hãng tàu
bị cấm…thực hiện bằng đồng USD qua các ngân hàng tại Mỹ đều có nguy cơ bị phong tỏa, thu giữ, điều tra và có thể bị phạt Đã có rất nhiều khoản tiền của nhiều ngân hàng trên thế giới bị phong toả tại Mỹ do vi phạm các quy định cấm vận của nước này
Trang 31 Giao dịch liên quan đến luật điều chỉnh, tranh chấp, khiếu kiện:
Một vấn đề rủi ro nữa mà các bên liên quan trong hoạt động TTQT có thể phải gặp phải là những phán quyết của toà án địa phương yêu cầu dừng việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết của các bên Trường hợp thường gặp nhất là việc toà
án ra lệnh cho ngân hàng phát hành dừng thanh toán bộ chứng từ nhập khẩu do có khiếu kiện từ phía nhà nhập khẩu Trong trường hợp này, ngân hàng chiết khấu và nhà xuất khẩu có thể gặp phải rủi ro không được thanh toán hoặc bị chậm thanh toán cho đến khi lệnh dừng thanh toán hết hiệu lực
Rủi ro pháp lý cũng liên quan đến vấn đề vi phạm pháp luật của các khách hàng, hoặc các ngân hàng, gây ảnh hưởng đến các đối tác Việc ngân hàng nhận phát hành các L/C nhập khẩu những mặt hàng bị cấm nhập khẩu hoặc chuyển các khoản tiền không đúng mục đích, không theo quy định của chế độ quản lý ngoại hối của mỗi nước là vi phạm pháp luật Các khách hàng có những sai phạm trong hoạt động kinh doanh dẫn đến việc bị truy tố trước pháp luật cũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến các ngân hàng trong các giao dịch TTQT
Rủi ro pháp lý còn liên quan đến luật điều chỉnh các hoạt động TTQT, quyền
và nghĩa vụ của các bên liên quan, luật giải quyết tranh chấp khi có vấn đề khiếu kiện phát sinh Khi có tranh chấp, khiếu kiện giữa các bên thì vấn đề đặt ra là toà án nước nào sẽ thụ lý vụ án và xử lý trên cơ sở luật pháp của nước nào Đây là vấn đề phức tạp bởi vì rất khó để thông thạo và nắm vững luật pháp quốc gia của bên đối tác Nguyên nhân sâu xa của loại rủi ro này là môi trường pháp lý và luật pháp các nước khác nhau Trong thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ, ngoài thông lệ quốc tế thì các giao dịch này còn bị điều chỉnh và chi phối bởi hệ thống luật quốc gia Mức độ vận dụng UCP vào thực tiễn của từng nước lại rất khác nhau, tùy thuộc vào hệ thống pháp luật của nước đó Thông thường, luật quốc gia ít khi có xung đột với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, nếu có sự khác biệt, thậm chí đối nghịch, có nước tôn trọng thông lệ quốc tế, có nước lại yêu cầu tuân thủ luật quốc gia Sự khác biệt luật pháp giữa các nước là điều không tránh khỏi, vì vậy rủi ro tất yếu xảy ra Tuy các ngân hàng chỉ giao dịch trên chứng từ, được miễn
Trang 32trách đối với thực tế hàng hóa nhưng khi quyền lợi của khách hàng không đảm bảo, ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ
1.3.2.2 Rủi ro ngoại hối
Trong hoạt động TTQT, người xuất khẩu và người nhập khẩu ở hai nước khác nhau nên loại tiền tệ sử dụng trong hoạt động TTQT là ngoại tệ đối với ít nhất một bên Khi đó sẽ xuất hiện tỷ giá hối đoái quy đổi giữa đồng ngoại tệ và đồng nội
tệ Trong cơ chế tỷ giá thả nổi, tỷ giá hối đoái với tư cách là giá cả của một loại hàng hoá đặc biệt luôn biến động không ngừng do nhiều nhân tố tác động, gây ra những rủi ro tỷ giá hối đoái cho các ngân hàng và các khách hàng tham gia vào hoạt động TTQT
Việc lựa chọn đồng tiền thanh toán trong hợp đồng ngoại thương phụ thuộc vào các yếu tố như tương quan lực lượng của hai bên mua bán, vị trí của đồng tiền
đó trên thị trường quốc tế, tập quán sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới…
Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau mà các nhân tố này thường xuyên thay đổi Cho dù chỉ với một sự thay đổi nhỏ trong tỷ giá hối đoái nhưng khối lượng ngoại hối lớn thì cũng sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng phá sản
Rất ít ngân hàng trong nước có khả năng tự cân đối nguồn ngoại tệ tại chỗ để đáp ứng đủ nguồn cung ngoại tệ cho khách hàng tại mọi thời điểm Với những giao dịch lớn vượt số lượng ngoại tệ dự trữ, các ngân hàng phải thực hiện mua bán trên thị trường ngoại hối và phải chấp nhận những biến động về giá diễn ra tại thị trường này
Mặt khác, các giao dịch TTQT thường được thực hiện trong thời gian dài hơn các phương thức khác (chuyển tiền, nhờ thu…) nên khó có thể dự đoán diễn biến của tỷ giá trong điều kiện thị trường ngoại hối đầy biến động
Trong chế độ điều hành tỷ giá, NHNN giới hạn giá trần giữa đồng USD và VND Tại những thời điểm thị trường ngoại hối căng thẳng và biến động, mức giá giao dịch thực tế vượt so với giá trần rất xa Khách hàng có nguồn ngoại tệ thường tìm mọi cách để bán ngoại tệ ra thị trường lấy giá cao nên nguồn cung ngoại tệ cho
Trang 33ngân hàng rất khan hiếm Trong khi đó, NHNN tăng cường kiểm tra, giám sát các ngân hàng để tránh tình trạng “hai tỷ giá”, đảm bảo giao dịch ngoại tệ thực hiện đúng giá niêm yết trong giới hạn giá trần Tình hình này gây khó cho cả doanh nghiệp và ngân hàng trong thanh toán XNK
Có thể thấy rõ thiệt hại từ rủi ro hối đoái qua ví dụ diễn biến 3 đợt biến động
tỷ giá từ đầu năm 2013 trở lại đây:
(Nguồn: Bản tin thị trường - BIDV)
Hình 3 - Chênh lệch tỷ giá qua 3 đợt biến động đầu năm 2013
Với mức chênh lệch vài trăm đồng mỗi USD giữa giá mua bán tại các ngân hàng và giá mua bán tại thị trường tự do, tổn thất đối với doanh nghiệp XNK và ngân hàng sẽ rất lớn
1.3.2.3 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quan nhưng không có khả năng đòi hoàn trả Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng có thể đóng vai trò là ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu hoặc ngân hàng thông báo Dù ở bất cứ vai trò nào thì trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng cũng đều gặp những rủi ro nhất định:
Trang 34 Đối với ngân hàng phát hành:
Khi phát hành L/C, ngân hàng phát hành đã thực hiện việc cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu vì thông thường L/C được phát hành với mức ký quỹ dưới 100% Nếu nhà nhập khẩu gặp rủi ro trong kinh doanh dẫn đến tình trạng vỡ nợ, phá sản, mất khả năng thanh toán thì sẽ gây ra rủi ro rất lớn cho ngân hàng phát hành Ngân hàng vẫn phải thanh toán cho nhà xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp như đã cam kết trong L/C dù không có khả năng đòi bồi hoàn từ nhà nhập khẩu Mặc dù các NHTM thường yêu cầu vận đơn được lập theo lệnh của ngân hàng phát hành để bảo lưu quyền sở hữu đối với lô hàng và thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp đảm bảo tiền vay theo nghiệp vụ tín dụng, nhưng việc giải toả và tiêu thụ lô hàng để thu hồi vốn cũng gặp rất nhiều khó khăn, thời gian và chi phí Đây là một nguy cơ tiềm ẩn đối với các NHTM bởi năng lực tài chính của các doanh nghiệp trong nước còn yếu, mọi hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay của ngân hàng Mọi rủi ro xảy ra đối với lô hàng nhập khẩu như phương án nhập khẩu không hiệu quả, hàng nhập về không tiêu thụ được do nhu cầu và giá cả trên thị trường thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho nhà nhập khẩu, hàng nhập khẩu không đảm bảo chất lượng… đều có thể dẫn đến tình trạng nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán đúng hạn khoản vay cho ngân hàng
Đối với ngân hàng chiết khấu:
Khi thực hiện chiết khấu bộ chứng từ, ngân hàng chiết khấu đã mua lại quyền đòi tiền từ ngân hàng phát hành L/C của nhà xuất khẩu Nếu ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản thì rủi ro tín dụng thuộc về ngân hàng chiết khấu
Tuy các NHTM hiện nay thường thực hiện chiết khấu có truy đòi (nghĩa là nếu bộ chứng từ đã chiết khấu bị ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận từ chối thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán thì ngân hàng chiết khấu có quyền truy đòi lại nhà xuất khẩu số tiền đã ứng trước) nhưng nếu nhà xuất khẩu không có khả năng hoàn trả lại số tiền đó thì ngân hàng chiết khấu sẽ phải gánh chịu khoản rủi ro này
Trang 35 Đối với ngân hàng xác nhận:
Trong trường hợp ngân hàng phát hành L/C là ngân hàng nhỏ, ít có danh tiếng hoặc không có quan hệ đại lý với ngân hàng thông báo thì thường yêu cầu ngân hàng thứ ba có uy tín, có quan hệ với cả hai bên đứng ra xác nhận, đảm bảo Nói cách khác, ngân hàng xác nhận đã cung cấp tín dụng cho ngân hàng mở L/C Khi thực hiện việc xác nhận L/C nhưng không yêu cầu ngân hàng phát hành ký quỹ 100% trị giá L/C, ngân hàng xác nhận có thể phải đối mặt với rủi ro tín dụng khi ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản
1.3.2.4 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan Đây
là vấn đề quan trọng trong thương mại quốc tế, bởi vì các bên đối tác thường ở cách
xa nhau, thậm chí không hề gặp nhau trong quá trình mua bán Do vậy có thể không nắm rõ những thông tin về uy tín, đạo đức kinh doanh, năng lực tài chính của đối tác Hơn nữa, do các bên đối tác ở cách xa nhau nên điều kiện tiếp cận thường xuyên để theo dõi, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ gặp nhiều khó khăn Trong điều kiện như vậy, các rủi ro đạo đức rất dễ xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng đối với cả khách hàng lẫn các ngân hàng
Trong các phương thức thanh toán chuyển tiền và nhờ thu, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian nên không bị ảnh hưởng nhiều bởi rủi ro đạo đức của các bên liên quan Tuy nhiên, trong phương thức tín dụng chứng từ, các hành vi đạo đức của bất kỳ một đối tác nào đều ảnh hưởng nhiều đến các ngân hàng tham gia Sau đây là một số rủi ro đạo đức thường gặp trong hoạt động TTQT:
Rủi ro đạo đức từ khách hàng trong nước
Trong một số trường hợp do nhà nhập khẩu không dự đoán được xu thế biến động của thị trường nên hàng hóa nhập về Việt Nam gặp bất lợi về giá Trước tình hình đó, nhà nhập khẩu gây sức ép, yêu cầu ngân hàng phát hành L/C tìm mọi cách
để trì hoãn thanh toán, thường là qua việc bắt lỗi bất đồng của bộ chứng từ Mặt khác, nhà nhập khẩu không chịu làm các thủ tục thanh toán như nhận nợ vay đối với
Trang 36L/C mở bằng vốn vay hoặc nộp tiền vào tài khoản đối với các L/C mở bằng vốn tự
có, ký quỹ dưới 100% Những trường hợp như vậy đã đẩy ngân hàng phát hành vào tình huống khó xử, nếu làm theo ý khách hàng, bắt lỗi không đúng UCP và thông lệ quốc tế thì sẽ gây mất uy tín, thậm chí có thể bị ngân hàng nước ngoài kiện ra toà Nếu muốn giữ uy tín thì ngân hàng phát hành phải đứng ra trả thay theo như L/C đã cam kết Khi đó, việc đòi tiền từ nhà nhập khẩu sẽ rất khó khăn
Rủi ro đạo đức từ đối tác nước ngoài
Trong trường hợp thanh toán L/C hàng xuất khẩu, nếu nhà nhập khẩu không phải là những bạn hàng đáng tin cậy, vì những lợi ích trước mắt mà không quan tâm đến đạo đức trong kinh doanh thì có thể lừa nhà xuất khẩu xếp hàng lên tàu, rồi trì hoãn hoặc từ chối thanh toán bằng những thủ đoạn nghiệp vụ bắt lỗi bất đồng chứng từ, ép giá nhà xuất khẩu để thu lợi cho mình Trong nhiều trường hợp, nhà xuất khẩu đành chịu bán lỗ còn hơn chở hàng quay về Đây là tình huống dễ xảy ra đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam bởi năng lực hạn chế và thị trường để xuất hàng không nhiều Mặt khác, rất nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam không tiếp cận được với người mua cuối cùng mà phải bán hàng qua trung gian Việc thanh toán được thực hiện bằng thư tín dụng chuyển nhượng nên gặp nhiều rủi ro hơn so với thư tín dụng thông thường vì ngân hàng chuyển nhượng thư tín dụng không bị ràng buộc trách nhiệm thanh toán cho người hưởng lợi thứ hai, mà chỉ thực hiện thanh toán khi ngân hàng phát hành thanh toán cho họ Trong những trường hợp như vậy, nhà xuất khẩu Việt Nam vừa mất hàng, vừa chịu nhiều chi phí vận chuyển, bảo hiểm phát sinh mà nguy cơ không thu được tiền rất cao Nếu ngân hàng chiết khấu, cho vay ứng trước những bộ chứng từ như vậy thì ngân hàng cũng chịu rủi ro tương ứng
Trong một số trường hợp thanh toán L/C hàng nhập khẩu, nhà xuất khẩu nước ngoài cố ý giao hàng hoá không phù hợp với hợp đồng, không đúng thời gian quy định, hoặc không giao hàng nhưng lại xuất trình một bộ chứng từ hoàn hảo trên
bề mặt (chứng từ giả mạo) để đòi tiền thì ngân hàng phát hành vẫn phải thanh toán Nhà nhập khẩu là người gánh chịu rủi ro cuối cùng song nếu ngân hàng phát hành là
Trang 37người cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu thì rủi ro của nhà nhập khẩu cũng là rủi ro của ngân hàng
Rủi ro đạo đức từ ngân hàng nước ngoài
Ngân hàng phát hành cũng có thể thông đồng với nhà nhập khẩu cố tình tìm
kiếm những bất đồng của bộ chứng từ để từ chối thanh toán cho nhà xuất khẩu Trong nhiều trường hợp, những lỗi bất đồng đó không phù hợp với UCP và thông lệ quốc tế, hoặc là những lỗi bất đồng đang có nhiều ý kiến tranh cãi Ngân hàng chiết khấu và nhà xuất khẩu có thể kiện ra Phòng thương mại quốc tế (ICC) nhưng rất mất thời gian và tốn kém
L/C cho phép đòi tiền bằng điện có thể bị ngân hàng chiết khấu lợi dụng đòi tiền dù bộ chứng từ có bất đồng Khi ngân hàng phát hành nhận được chứng từ và kiểm tra thấy bất đồng thì tiền đã thanh toán cho ngân hàng chiết khấu rồi Về lý thuyết, ngân hàng phát hành có quyền đòi tiền lại từ ngân hàng chiết khấu nhưng nếu ngân hàng chiết khấu không chịu trả lại thì ngân hàng phát hành sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn để đi khiếu kiện Nhìn chung, nguyên nhân sâu xa của rủi ro đạo đức là thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác Giữa các đối tác tham gia giao dịch thường cách nhau một khoảng cách địa lý rất xa nên không nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và đạo đức kinh doanh của đối tác Vì vậy mà đã đưa ra những quyết định sai lầm gây nên rủi ro trong thanh toán
Các quy tắc và thông lệ quốc tế áp dụng cho phương thức thanh toán bằng L/C vốn dĩ đã phức tạp và còn rất nhiều vấn đề, cách hiểu gây tranh cãi Có nhiều trường hợp phát sinh cùng một bất đồng nhưng khi ở các vai trò khác nhau, các ngân hàng sẽ có cách ứng xử khác nhau Việc giải quyết tranh chấp trong việc kiểm tra chứng từ giữa các ngân hàng thường là rất phức tạp, mất thời gian và tốn kém Kết quả phân định phụ thuộc khá nhiều vào tương quan lực lượng giữa hai ngân hàng liên quan, và cho dù có được phân xử là đúng thì các bên liên quan cũng phải mất rất nhiều thời gian, chi phí, mất cơ hội kinh doanh và đặc biệt là bị đọng vốn
Trang 381.3.2.5 Rủi ro tác nghiệp
Đây là những rủi ro xảy ra trong quá trình thao tác nghiệp vụ TTQT Do vậy đây là những rủi ro mang tính chủ quan, do trình độ, kỹ năng xử lý nghiệp vụ của cán bộ TTQT tại các ngân hàng Các ngân hàng giữ vai trò khác nhau trong từng phương thức TTQT, do vậy mức độ rủi ro kỹ thuật cũng khác nhau
Trong phương thức tín dụng chứng từ, NHTM có thể giữ vai trò là ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo, ngân hàng chiết khấu và ngân hàng xác nhận Mỗi ngân hàng liên quan có những trách nhiệm nhất định và do vậy cũng có thể gặp phải những rủi ro nhất định
Các loại rủi ro tác nghiệp thường phát sinh ở những trường hợp sau:
Đối với ngân hàng phát hành L/C
Phát hành L/C đồng nghĩa với việc cam kết thanh toán cho người thụ hưởng khi họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản, điều kiện của L/C Ngân hàng phát hành có những nghĩa vụ như sau:
Mặc dù L/C được hình thành từ hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu
và nhà nhập khẩu nhưng khi đã được phát hành thì L/C hoàn toàn độc lập với chính hợp đồng đó Hệ quả là điều khoản nào của hợp đồng không được quy định trong L/C sẽ không có giá trị điều chỉnh đối với các bên liên quan Trách nhiệm của ngân
Trang 39hàng phát hành là truyền tải chính xác yêu cầu của khách hàng vào nội dung L/C Tuy nhiên, nếu ngân hàng không kịp thời phát hiện ra những điểm sơ hở, gây bất lợi cho khách hàng thì quyền lợi của khách hàng không được đảm bảo và ngân hàng cũng sẽ bị rủi ro liên đới
Khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tới ngân hàng phát hành, ngân hàng phát hành có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ để quyết định trả tiền nếu bộ chứng từ hoàn hảo hay từ chối nếu bộ chứng từ có bất đồng Vì vậy ngân hàng phát hành phải đánh giá thật chính xác tình trạng bộ chứng từ Nếu xác định sai lỗi bất đồng, sẽ bị ngân hàng nước ngoài kiện, bị phạt tiền và ảnh hưởng đến uy tín trong lĩnh vực TTQT Nếu không phát hiện ra lỗi bất đồng, khách hàng trong nước sẽ bị rủi ro khi vẫn phải thanh toán bộ chứng từ khi mà hàng hóa nhập về có thể không đúng như hợp đồng đã ký kết
Sau khi đã xác định được tình trạng bộ chứng từ xuất trình, ngân hàng phát hành phải tiến hành thanh toán hoặc thông báo từ chối do bất đồng Rủi ro cũng có thể xảy ra trong bước này, nếu ngân hàng phát hành không thực hiện đúng quy định
Ví dụ cụ thể là UCP600 quy định việc thanh toán hoặc thông báo từ chối chứng từ phải thực hiện trong vòng 5 ngày làm việc sau ngày nhận được chứng từ Nếu quá thời hạn trên ngân hàng phát hành mất quyền từ chối chứng từ Ngoài ra, ngân hàng phát hành còn phải chịu rủi ro nếu việc thanh toán không được thực hiện đúng theo chỉ dẫn trên bộ chứng từ, dẫn đến tiền bị thất lạc hay chậm trễ
Thông báo L/C khi chưa xác định được tính xác thực (L/C giả mạo)
Không phát hiện và tư vấn khách hàng những điều khoản bất lợi
Trang 40 Không phát hiện các bất đồng của bộ chứng từ khi chiết khấu hoặc gửi đi đòi tiền
Trong thực tế thường xuất hiện 3 hình thức giả mạo thư tín dụng: (i) ngân hàng phát hành không có thực, (ii) Ngân hàng phát hành có thực nhưng thư tín dụng giả mạo, (iii) Thư tín dụng là có thực nhưng bị sửa đổi hoặc giả mạo thông tin
Trong bất kỳ hình thức giả mạo nào, cam kết của ngân hàng phát hành đều không có hiệu lực Nếu ngân hàng không kiểm tra tính xác thực của L/C đã thông báo cho nhà xuất khẩu để nhà xuất khẩu giao hàng nhưng không đòi được tiền do L/C bị giả mạo, nhà xuất khẩu có quyền yêu cầu ngân hàng thông báo phải bồi thường Rủi ro của ngân hàng thông báo lúc này không chỉ cho chính lô hàng bị mất
mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng trong hoạt động TTQT
Ngân hàng chiết khấu/thương lượng có trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình Để đảm bảo cao nhất khả năng đòi tiền từ ngân hàng phát hành, điều kiện tiên quyết là bộ chứng từ phải hoàn toàn phù hợp với quy định của L/C Việc chiết khấu một bộ chứng từ có bất đồng là cực kỳ rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu vì họ có thể bị từ chối hoàn trả tiền từ ngân hàng phát hành trong khi đã thanh toán cho người thụ hưởng Cho dù là chiết khấu có truy đòi thì việc đòi lại tiền từ người thụ hưởng cũng rất khó khăn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng
Ngân hàng thương lượng không phải ứng trước tiền cho người thụ hưởng nhưng việc ngân hàng không phát hiện ra bất đồng của chứng từ và thông báo cho người thụ hưởng chỉnh sửa kịp thời khiến bộ chứng từ bị từ chối thanh toán cũng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng Các nhà xuất khẩu sẽ không lựa chọn ngân hàng để thương lượng hoặc chiết khấu chứng từ trong các giao dịch tiếp theo
Nếu ngân hàng chiết khấu/thương lượng không cẩn thận trong việc gửi chứng từ đòi tiền cho khách hàng, gửi sai địa chỉ hoặc chỉ dẫn của L/C, dẫn đến làm thất lạc chứng từ hoặc chậm trễ thì có thể phải bồi thường toàn bộ tổn thất xảy ra đối với nhà xuất khẩu