1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long

121 267 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT vào quản lý hành chính nhà nước ở thành phố Hạ Long, đánh giá những ưu nhược điểm trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

*****

ĐẶNG THÁI HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG HÀNH CHÍNH ĐIỆN TỬ VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập Tất cả các trích dẫn, số liệu, phụ lục trong luận văn đều có nguồn gốc

rõ ràng

HV: Đặng Thái Hưng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Học viên trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo Viện đào tạo sau đại học và các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế & Quản lý Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giảng dạy và giúp đỡ trong quá trình học viên học tập tại trường và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Văn Thanh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình học viên học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin Trân trọng cảm ơn!

HV: Đặng Thái Hưng

Trang 4

THUẬT NGỮ VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG TÀI LIỆU

TT Từ viết tắt/thuật ngữ Nghĩa đầy đủ

1 E-gov/CPĐT Electronic-government/Chính phủ điện tử

5 CSDL Cơ sở dữ liệu

6 CNTT Công nghệ thông tin

7 TMĐT Thương mại điện tử

8 CMS Hệ quản trị nội dung

9 CBCC Cán bộ công chức

10 TT-TT Thông tin truyền thông

11 HĐND Hội đồng nhân dân

12 UBND Ủy ban nhân dân

16 GMS Global System for Mobile Communications (Mạng

điện thoại di động phổ biến)

Trang 5

MỤC LỤC

THUẬT NGỮ VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG TÀI LIỆU 1

PHẦN MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ HÀNH CHÍNH ĐIỆN TỬ (E-GOV) 8

1.1 Quản lý nhà nước: 8

1.2 Cải cách hành chính: 13

1.2.1 Khái niệm: 13

1.2.2 Nội dung cải cách hành chính nhà nước 14

1.3 Dịch vụ công: 17

1.3.1 Khái niệm dịch vụ công: 17

1.3.2 Các đặc trưng cơ bản của dịch vụ công: 18

1.3.3 Phân loại dịch vụ công: 19

1.3.4 Hệ thống cung ứng dịch vụ công: 20

1.3.5 Dịch vụ công trực tuyến và các mức độ: 21

1.4 Chính quyền điện tử (e-gov): 23

1.4.1.Tổng quan về E-gov : 23

1.5 Khái niệm internet và world wide web, Hạ tầng ứng dụng internet và E-gov: 26

1.5.1 Khái niệm internet và world wide web: 26

1.5.2 Mạng cục bộ LAN ( tên tiếng Anh: Local Area Network): 28

1.5.3 Mạng đô thị MAN (metropolitan area network) : 28

1.5.4 Mạng diện rộng WAN (wide area network) : 29

1.5.5 Cơ sở dữ liệu (viết tắt CSDL; tiếng Anh là database) : 29

Trang 6

1.5.6 Mô hình và quy trình ứng dụng E-gov: 29

1.6 Các chính sách hỗ trợ ứng dụng E-gov cho thành phố: 42

1.7 Hiệu quả ứng dụng internet và E-gov trong quản lý nhà nước và cải cách hành chính: 42

1.8 Kết luận chương 1 và nhiệm vụ chương 2 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HẠ LONG 46

2.1 Giới thiệu tổng quan về thành phố Hạ long: 46

2.1.1 Vị trí địa lý: 46

2.1.2 Các đơn vị hành chính: 47

2.1.3 Đặc điểm dân số và nguồn nhân lực : 49

2.1.4 Giới thiệu khái quát về cơ cấu, tổ chức của UBND Thành phố: 52

2.2 Phân tích và đánh giá thực trạng về hoạt động quản lý nhà nước về hành chính của thành phố Hạ Long 53

2.2.1 Ứng dụng hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành: 54

2.2.2 Các cơ sở dữ liệu phục vụ ứng dụng CNTT: 57

2.2.3 Tình hình xây dựng hạ tầng CNTT tại các phòng ban chuyên môn và 20 phường trên địa bàn thành phố 57

2.3 Phân tích và đánh giá việc xây dựng về hạ tầng cơ sở cho việc ứng dụng E-gov của thành phố Hạ Long: 58

2.4 Phân tích và đánh giá về các mô hình ứng dụng Internet và E-gov ở mội số địa phương, bài học cho thành phố Hạ Long 62

2.4.1 Phân tích một số điển hình về ứng dụng E-gov ở Việt Nam 62

2.4.2 Bài học cho thành phố Hạ Long: 67

2.5 Phân tích và đánh giá các chính sách hỗ trợ và ứng dụng internet và

Trang 7

E-2.5.1 Phân tích tình hình ứng dụng internet và E-gov của Việt Nam: 68

2.5.2 Bài học đối với ứng dụng E-gov ở thành phố Hạ Long: 71

2.8 Kết luận chương 2 và nhiệm vụ chương 3 73

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ (E-GOV) TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG 75

3.1 Xu hướng ứng dụng CNTT, internet và E-gov trong hội nhập 75

3.1.1 Xu hướng ứng dụng CNTT, internet, E-gov của các nước trên thế giới 75 3.1.2 Xu hướng ứng dụng Internet và E-gov trong chiến lược CCHC ở VN: 76 3.2 Mục tiêu ứng dụng hành chính điện tử (E-gov) đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 ở thành phố Hạ Long: 78

3.3 Các giải pháp ứng dụng E-gov tại thành phố Hạ Long 79

3.3.1 Nhu cầu về ứng dụng E-gov tại thành phố Hạ Long 79

3.3.2 Giải pháp 1: Hoàn thiện hạ tầng cơ sở đáp ứng cho việc ứng dụng hành chính điện tử (E-gov) của thành phố Hạ Long 80

3.3.3 Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình cho việc ứng dụng E-gov của thành phố Hạ Long 92

3.3.4: Giải pháp 3: Xây dựng cơ chế chính sách và chế tài xử phạt trong việc ứng dụng E-gov tại thành phố Hạ Long 99

3.4 Tóm tắt chương 3: 107

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHẦN PHỤ LỤC 118

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay mô hình hành chính điện tử (E-gov) đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội Tại Việt Nam, mô hình "hành chính điện tử" hay còn gọi là “chính phủ điện tử” -

“e-gov.” đã được đưa vào ứng dụng nhằm cải thiện phương thức quản lý hành chính, giúp giới doanh nghiệp và người dân tiếp cận được với các chính sách,

cơ chế của Đảng và Nhà nước một cách nhanh nhất

Tuy việc áp dụng mô hình (đề án 112) có những thất bại, song việc ứng dụng hành chính điện tử vẫn là xu hướng của tương lai không xa, do vậy cần đánh giá tổng kết để đưa mô hình hành chính điện tử vào đời sống nhất là đối với cấp Huyện, Thị xã, Thành phố thuộc Tỉnh (Gọi chung là cấp Huyện) nhằm bắt nhịp với xu hướng ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động quản

lý hành chính nhà nước

Ở thành phố Hạ Long trong vài năm trở lại đây hạ tầng cơ sở CNTT đã được quan tâm đầu tư, trình độ dân trí về CNTT đã được nâng lên, tuy vậy độ sẵn sàng để ứng dụng E-gov nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công vẫn còn chưa được đánh giá cao Với mục đích nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT vào quản lý hành chính nhà nước ở thành phố Hạ Long, đánh giá những ưu nhược điểm trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước và đưa ra một số giải pháp để ứng dụng mô hình chính phủ điện tử (E-gov) (trong chuyên đề này được hiểu là hành chính điện tử) vào hoạt động quản lý nhà nước ở Thành phố nhằm nâng cao chất lượng

và hiệu quả công việc cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn 2012-2015 tiến tới hoàn thiện mô hình hành chính điện tử ở Thành phố và nhân rộng ra trong phạm vi toàn Tỉnh

Trong thời gian học tập ở trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và công tác tại Thành phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh, nhận thấy vai trò hết sức to

Trang 9

lớn của việc xây dựng giải pháp ứng dụng E-gov trong việc phát triển chính quyền điện tử ở Hạ Long vì vậy học viên chọn đề tài:

“Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử vào hoạt động quản lý nhà nước ở

thành phố Hạ Long”

2 Nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích của đề tài nhằm đánh giá thực trạng ứng dụng E-gov của thành phố Hạ Long để có thể đưa ra được một bức tranh toàn cảnh của việc ứng dụng mô hình hành chính điện tử, phân tích môi trường vĩ mô, chiến lược phát triển hành chính điện tử, phân tích nội bộ, tổng hợp các cơ hội và nguy

cơ, điểm mạnh, điểm yếu để từ đó xây dựng chiến lược và giải pháp ứng dụng hành chính điện tử đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 cho thành phố

Hạ Long, đề xuất các giải pháp thực hiện chiến lược đó

vụ tốt nhất người dân và doanh nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về xây dựng chiến lược phát triển chính phủ điện tử tại Hạ Long, luận văn đi vào nghiên cứu và phân tích thực trạng phát triển dịch vụ hành chính công của thành phố Hạ Long, đánh giá và phân tích một số mô hình ứng dụng E-gov thành công trên thế giới cũng như

ở Việt Nam từ đó rút ra bài học cho hành phố Hạ Long

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chiến lược phát triển và ứng dụng E- gov của thành phố Hạ Long đến năm 2015, định hướng đến năm

2020 với các giải pháp thực hiện chiến lược đó bao gồm:

Giải pháp 1: Hoàn thiện hạ tầng cơ sở cho việc ứng dụng hành chính điện tử (E-gov) của thành phố Hạ Long

Trang 10

Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình cho việc ứng dụng E-gov của thành phố

Hạ Long

Giải pháp 3: Xây dựng cơ chế chính sách và chế tài xử phạt trong việc ứng dụng E-gov tại thành phố Hạ Long

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp: Lý thuyết kết hợp với thực tiễn, thông qua phương pháp quan sát, diều tra thống kê, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh

Áp dụng các kiến thức về chiến lược marketing, công tác PR, phân tích SWOT trong Marketting dịch vụ Các phương pháp này được sử dụng linh hoạt, kết hợp hoặc riêng lẻ để nhằm nêu bật những vấn đề cần nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Luận văn được thực hiện với mong muốn đánh giá được thực trạng phát triển, nêu ra những ưu, nhược điểm, những cơ hội, thách thức của việc ứng dụng hành chính điện tử và từ đó đưa vào các lý luận về xây dựng chiến lược ứng dụng hành chính điện tử nhằm thúc đẩy cải cách hành chính ở Thành phố Hạ Long

Luận văn là một công trình nghiên cứu kết hợp lý luận và thực tiễn về vấn

đề phát triển hành chính điện tử của Thành phố Hạ long đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 Học viên hy vọng luận văn sẽ trở thành một tài liệu có ích cho việc hoạch định và ứng dụng hành chính điện tử (E-gov) vào các hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương trong thời gian tới đây

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, các danh mục khác, nội dung luận văn gồm chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý nhà nước và hành chính điện

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ

HÀNH CHÍNH ĐIỆN TỬ (E-GOV) 1.1 Quản lý nhà nước:

1.1.1 Khái niệm[1]:

a Khái niệm Quản lý nhà nước [1]:

Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức và điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định, dựa trên những quy luật khách quan [1;5]

Quản lý nhà nước là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước, thông qua các hoạt động của bộ máy nhà nước, bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội theo đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền[1;5]

Quản lý nhà nước được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp [1;7-8]:

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành

của bộ máy nhà nước, nghĩa là nó bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”

Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước là quá trình tổ chức, điều hành của

hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước Các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn, ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn vị,

tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công

Trang 12

chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Những hoạt động trên cũng là hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong nội bộ các cơ quan nhà nước

b Khái niệm Quản lý hành chính nhà nước[1]:

Quản lý hành chính nhà nước cũng chính là quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa hẹp Quản lý hành chính nhà nước là quá trình tổ chức, điều chỉnh, bằng quyền lực nhà nước, phương thức tác động mang tính chất quyền lực nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước đối với các chủ thể quản lý và các lĩnh vực đời sống xã hội cũng như hành vi hoạt động của con người và các hoạt động có tính chất hành chính nhà nước, nhằm xây dựng tổ chức bộ máy

và củng cố chế độ công tác nội bộ trong các cơ quan tổ chức nhà nước [1;16]

c Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước[1]:

Đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa, quản lý hành chính nhà nước gồm

có những đặc điểm cơ quản sau[1;18-20]:

Một là, quản lý hành chính nhà nước luôn mang tính quyền lực, tính tổ

chức chặt chẽ Đặc điểm pháp lý của quan hệ quản lý là sự không bình đẳng giữa các bên trong quan hệ quản lý, vì vậy, trong quản lý hành chính nhà nước, mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý luôn luôn mang tính đơn phương, một chiều, bắt buộc thực hiện và khi cần thiết các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành Các mệnh lệnh, quyết định quản lý phải được chấp hành một cách nghiêm túc, triệt để, xác định rõ trách nhiệm pháp lý và xử lý nghiêm minh mọi trường hợp vi phạm, hoặc làm trái các qui định đã được đưa ra

Hai là, quản lý hành chính nhà nước là các hoạt động có mục tiêu rõ

ràng, có chiến lược và kế hoạch cụ thể để thực hiện các mục tiêu đưa ra Đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định trên cơ sở chiến lược, kế hoạch của cấp trên và đường lối chính sách của Đảng Như vậy, các cơ quan hành chính nhà nước phải xác định cho mình những mục tiêu và kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm

Trang 13

Bên cạnh việc xác định các mục tiêu, định hướng chủ yếu cần dự báo tình hình, những biến động, những thay đổi có thể xảy ra để dự kiến các biện pháp điều chỉnh, cân đối, nhằm thực hiện được các mục tiêu và định hướng chủ yếu, có tính chiến lược

Ba là, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động dựa trên những quy

định chặt chẽ của pháp luật, đồng thời là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo

và linh hoạt trong thực tiễn điều hành, quản lý Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch đã xác định, các cơ quan quản lý hành chính các cấp phải phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của mình trong quản lý, điều hành, nhằm động viên được mọi tiềm năng, nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật

Bốn là, quản lý hành chính nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc công

khai, dân chủ Nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân Vì thế, trong hoạt động của mình, các cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước phải công khai mọi hoạt động của mình, thể hiện tinh thần tôn trọng nhân dân, để mọi việc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; phải biết lắng nghe ý kiến của dân, có biện pháp thu hút, tổ chức cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội

Mặc dù quản lý hành chính nhà nước luôn có tính đơn phương, mệnh lệnh nhưng một văn bản phải đề cao các biện pháp giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng, chống quan liêu, cửa quyền ức hiếp dân chúng Mặc khác, phải từng bước hiện đại hoá nền hành chính, khắc phục tình trạng tuỳ tiện, xuề xoà, luộm thuộm, xây dựng phong cách làm việc chính quy, bảo đảm hiệu lực của các quyết định, mệnh lệnh quản lý

Trang 14

đó đều phải sử dụng hay thông qua một hình thức quản lý nhất định Vì thế, trước khi tìm hiểu khái niệm về hình thức quản lý hành chính nhà nước cần phải xác định hoạt động quản lý hành chính nhà nước là gì? [1;20]

Quản lý hành chính nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là sự tác động có tổ chức, có định hướng của các loại cơ quan nhà nước đối với hành vi hoạt động của con người và các quá trình xã hội bằng quyền lực nhà nước, làm cho các hoạt động của nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội vận động, phát triển theo một trật tự nhất định, nhằm thực hiện mục đích quản lý nhà nước Quản lý hành chính nhà nước chính là hoạt động quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa hẹp[1;20]

Như vậy, quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tổ chức, có định hướng của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình

xã hội và hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực nhà nước, làm cho các hoạt động của nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội vận động, phát triển theo một trật tự nhất định, nhằm thực hiện mục đích quản lý nhà nước

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được phân loại như sau:

- Quản lý hành chính nhà nước cấp Trung ương và quản lý hành chính nhà nước cấp địa phương

- Quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền chung (do cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền chung là Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện) và quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền riêng (do cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền riêng thực hiện)

- Quản lý hành chính nhà nước cấp vĩ mô

- Quản lý hành chính nhà nước theo ngành và quản lý hành chính nhà nước theo lãnh thổ

Các hoạt động cơ bản của quản lý hành chính nhà nước nêu trên đều sử dụng những hình thức hoạt động quản lý chung Tuy nhiên, hoạt động quản lý hành chính nhà nước của mỗi loại cơ quan tuỳ thuộc vào chức năng nhiệm vụ,

Trang 15

thẩm quyền của mình và ở mỗi phạm vi, lĩnh vực quản lý mà sử dụng những hình thức hoạt động quản lý khác nhau

Vậy hình thức quản lý hành chính nhà nước là gì? Hình thức quản lý hành chính nhà nước được hiểu là sự biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, hoặc công chức hành chính trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình đối với các quan hệ xã hội

Hình thức quản lý hành chính nhà nước là hình thức thể hiện mối quan

hệ giữa chủ thể quản lý đối với đối tượng bị quản lý Mỗi chủ thể quản lý (cơ quan hay công chức hành chính) trong hoạt động

e Vai trò của quản lý hành chính nhà nước[1]:

Quản lý hành chính nhà nước có quan hệ mật thiết với nền hành chính nhà nước, nên vai trò của quản lý hành chính nhà nước được thể hiện thông qua vai trò của nền hành chính nhà nước[1;22]

Thứ nhất, nền hành chính nhà nước là bộ phận lớn nhất trong hệ thống

các cơ quan của bộ máy nhà nước, được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ theo nghành và cấp từ Trung ương đến cơ sở Vậy quản lý hành chính tốt sẽ giúp

hệ thống có thể hoạt động thông suốt và hiệu quả

Thứ hai, nền hành chính nhà nước có vai trò là hệ thống chuyển tải

đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn nhưng nếu không có nền hành chính nhà nước tổ chức khoa học, đủ năng lực, quyền lực, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì đường lối, chính sách pháp luật không thể đi vào cuộc sống hoặc không được thực hiện tốt trong thực tiễn

Mặt khác, trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối, chính sách,

pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nước còn góp phần cụ thể hoá và sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách và pháp luật

Thứ ba, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có vai trò trực tiếp

xử lý công việc hang ngày của nhà nước, thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với

Trang 16

nhân dân, giải quyết các yêu cầu chính đáng, hợp pháp của nhân dân, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Do tiếp xúc trực tiếp với cán

bộ, nhân dân hang ngày nên hệ thống cơ quan hành chính nhà nước là “bộ mặt” của Nhà nước Nhân dân sẽ đánh giá nhà nước qua hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và qua cử chỉ, hành vi, thái độ và cung cách làm việc của các cơ quan này, cũng như của các cán bộ, công chức tiếp dân

Thứ tư, nền hành chính nhà nước bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà

nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội được thực hiện theo chương trình,

kế hoạch đã được dự kiến, xử lý các tình huống, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

1.2 Cải cách hành chính[18;23-26]:

1.2.1 Khái niệm:

Cải cách hành chính là một khái niệm đã được nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính trên thế giới đưa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau Tuy nhiên, qua xem xét, phân tích dưới nhiều góc độ định nghĩa của khái niệm, có thể thấy các khái niệm về cải cách hành chính được nêu ra có một số điểm thống nhất sau[18;23]:

- Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Cải cách hành chính không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính,

mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành cải cách hành chính đạt hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc gia

Trang 17

- Cải cách hành chính tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, có thể được đặt

ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, thể chế pháp lý, hoặc tài chính công v.v

Ở Việt Nam hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chính thức định nghĩa khái niệm cải cách hành chính là gì Tuy nhiên, nhiều văn bản quan trọng của Đảng đã đề cập đến thuật ngữ này, như Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết TW 8 - khoá VII, Nghị quyết Đại hội VIII v.v đã nêu ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho công cuộc cải cách hành chính nhà nước

Đồng thời, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -2010 của Chính phủ được ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã nêu 4 nội dung cơ bản của cải cách hành chính Việt Nam, đó là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức và cải cách tài chính công Mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước đến 2010 theo Chương trình tổng thể là “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Cải cách hành chính nhà nước trở thành yêu cầu khách quan, cấp bách,

và là tất yếu xuất phát từ những căn cứ luận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới của đất nước:

1.2.2 Nội dung cải cách hành chính nhà nước[12]:

- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể ché về tổ chức hoạt

Trang 18

động của hệ thống hành chính nhà nước cần chú trọng một số thể chế then chốt sau đây [12;8-9]:

+ Thể chế về thị trường vốn và tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ, thị trường lao động, thị trường dịch vụ

+ Thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính, trước hết

là tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp

+ Thể chế về quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân như: thu thập ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng, trưng cầu dân ý, xử lý các hành vi trái pháp luật của cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ; thẩm quàn và trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước và Tòa án trong việc giải quyết khiếu kiện của nhân dân

+ Thể chế về thẩm quyền quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng; phân biệt rõ quyền của chủ sở hữu, quyền quản lý hành chính nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp

- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật: + Rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực, loại bỏ những quy định pháp luật không còn hiệu lực hoạc chồng chéo, trùng lắp Phát huy hiệu quả của cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật

+ Tăng cường năng lực của các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Khắc phục tình trạng Luật, pháp luật chờ nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành

+ Để nâng cao chất lượng và tránh tình trạng thiếu khách quan, cục bộ trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cần thiết phải nghiên cứu

Trang 19

đổi mới phương thức, quy trình xây dựng pháp luật từ khâu đầu cho đến khâu thông qua trình Quốc hội

+ Các văn bản quy phạm pháp luật phải được đong công báo hoặc yết thị, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ngay sau khi ký ban hành

để công dân và các tổ chức có điều kiện tìm hiểu và thực hiện

- Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức

+ Cung cấp cho cán bộ công chức đầy đủ thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước để vận dụng, giải quyết công việc theo chức trách

và thẩm quyền

+ Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, chế độ thông tin công khai cho dân về chủ trương, chính sách của Nhà nước, của chính quyền địa phương; chế độ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các ngành ở Trung ương và địa phương định kỳ trực tiếp gặp gỡ, đối thoại giải quyết các vấn đề do doanh nghiệp và nhân dân đặt ra

+ Phát huy hiệu lực của các thiết chế thanh tra, kiểm sát và tài phán để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước, giữ gìn kỷ cương xã hội Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan thanh tra và Tòa hành chính trong việc giải quyết các khiếu kiện của dân đối với các cơ quan và cán bộ, công chức

+ Mở rộng dịch vụ tư vấn pháp luật cho nhân dân, cho người nghèo thuộc diện chính sách và đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa Tạo điều kiện cho các luật sư hoạt động tư vấn có hiệu quả theo pháp luật

Trang 20

+ Mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp làm khi có yêu cầu giải quyết công việc để sản xuất, kinh doanh

và đời sống

+ Ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công việc của dân; xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

+ Mở rộng thực hiện cơ chế một cửa trong việc giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức ở các cơ quan hành chính nhà nước các cấp Cơ quan hành chính nhà nước các cấp có trách nhiệm giải quyết công việc của cá nhân đầy đủ mọi thủ tục, trình tự, lệ phí, lịch công tác tại trụ sở làm việc

+ Quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong khi thi hành công vụ Việc xác định quyền hạn và trách nhiệm phải đi liền với việc đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ công chức

1.3 Dịch vụ công:

1.3.1 Khái niệm dịch vụ công[19]:

Hiện nay, khái niệm cũng như nội hàm của thuật ngữ dịch vụ công ở nước ta vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã quy định vấn đề dịch vụ công trong chức năng, nhiệm vụ của các

cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước, như Luật Tổ chức Chính phủ

2001, Điều 8 ghi các nhiệm vụ của Chính phủ mục 4 viết “Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển kinh tế quốc dân, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, các dịch vụ công ”; hoặc Điều 22 viết “Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực…”[19]

Nghị định 86/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan ngang bộ quy định tại Điều 9 về quản lý nhà nước các tổ chức thực hiện dịch vụ công thuộc ngành lĩnh vực

Trang 21

Như vậy có thể khẳng định, dịch vụ công là một hoạt động thuộc phạm

vi chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước Nói chung, mặc dù

có nhiều cách tiếp cận khái niệm, thuật ngữ dịch vụ công dưới các góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất tương đối ở các đặc điểm sau của dịch vụ công[19]:

- Là một loại dịch vụ do Nhà nước (cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các tổ chức, đơn

vị ngoài Nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước;

- Nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, nhân dân (những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu);

- Nhà nước là người chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân, xã hội

về chất lượng dịch vụ cũng như số lượng dịch vụ Trách nhiệm ở đây thể hiện qua việc hoạch định chính sách, thể chế pháp luật, quy định tiêu chuẩn chất lượng, thanh tra kiểm tra giám sát việc thực hiện v.v…;

- Không nhằm mục tiêu lợi nhuận;

- Đối tượng thụ hưởng Dịch vụ công không trực tiếp trả tiền (đã trả qua hình thức thuế), tuy nhiên có những trường hợp phải trả lệ phí theo quy định chặt chẽ của pháp luật

Vậy có thể hiểu một cách khái quát Dịch vụ công là những dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm, phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân không vì mục tiêu lợi nhuận

1.3.2 Các đặc trưng cơ bản của dịch vụ công [19] :

Dịch vụ công có một số những đặc trưng cơ bản sau: [19]

- Thứ nhất, đây là những hoạt động phục vụ nhu cầu và lợi ích chung

thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân

- Thứ hai, những hoạt động này do các cơ quan công quyền hay những

chủ thể chính quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện

- Thứ ba, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội Ngay cả khi Nhà

nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn có vai

Trang 22

trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các khiểm khuyết của thị trường

- Thứ tư, khi thực hiện cung ứng dịch vụ công nhằm đáp ứng nhu cầu,

quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân

- Thứ năm, khi thực hiện cung ứng dịch vụ công, các cơ quan Nhà nước

và các tổ chức được ủy nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với khách hàng

và các tổ chức và công dân

- Thứ sáu, việc nhà nước cung ứng dịch vụ công thường không thông

qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ này không trực tiếp trả tiền mà trả dưới hình thức đóng thuế, cũng có những dịch

vụ mà người sử dụng phải trả một phần kinh phí hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên Nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các loại dịch vụ này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận Dịch vụ công có tính xã hội, phục vụ lợi ích cộng đồng của toàn xã hội là chính, tính kinh tế - lợi nhuận không phải là mục tiêu chi phối hoạt động dịch vụ công Dịch vụ công mang tính chính trị - kinh tế - xã hội vì lợi ích của toàn xã hội nhiều hơn

Dịch vụ công phục vụ yêu cầu của tất cả các công dân không phân biệt giai cấp, địa vị, nó mang tính nhân dân rộng rãi

“Dịch vụ công cung ứng loại” hàng hóa “không phải là thông thường

mà là hàng hóa đặc biệt do chính phủ cung ứng hoặc ủy nhiệm cho các tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu cho xã hội, cho nhân dân”

1.3.3 Phân loại dịch vụ công [19] :

Dịch vụ công được chia thành 3 loại: [19]

+ Dịch vụ hành chính công: Các hoạt động nhân danh công quyền nhà nước đáp ứng yêu cầu của người dân, trật tự trị an tới các thủ tục giấy tờ hành chính như cấp phép, giấy chứng nhận đăng ký, công chứng, hộ tịch, hộ khẩu, v.v…, bảo đảm cho công dân trong học tập, làm ăn, sinh song

+ Dịch vụ sự nghiệp công: Các hoạt động nhân danh các cơ quan chức năng của nhà nước đảm bảo cho người dân như: giáo dục, y tế, văn hóa,

Trang 23

nghiên cứu khoa học…,đáp ứng yêu cầu về học tập, chăm sóc sức khỏe, hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân và sự phát triển chung của xã hội Hoạt động này phần lớn do các tổ chức, cơ quan và nhà nước đảm nhận hoặc một phần đã được xã hội hóa

+ Dịch vụ công cộng: cung ứng các loại hàng hóa công cộng như điện, nước sinh hoạt, giao thông, bưu điện, vệ sinh môi trường…, các loại dịch vụ này phần lớn do các doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm, hiện nay một số cơ

sở, có các tổ chức hoặc cá nhân đứng ra đảm nhận cung ứng các loại dịch vụ này như: vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác, cung ứng nước sạch…các loại hoạt động này do các cơ quan nhà nước chuyển giao hoặc thực hiện theo hợp đồng với các yêu cầu về chất lượng cụ thể

1.3.4 Hệ thống cung ứng dịch vụ công[7]:

Hệ thống cung ứng dịch vụ công cũng như tương tự các mô hình các dịch vụ khác bao gồm các yếu tố về vật chất và con người, được tổ chức chặt chẽ theo hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng, nhằm đảm bảo thực hiện dịch vụ một cách có hiệu quả [7;18]

Điểm khác biệt rõ ràng nhất với cách làm cũ là ở chỗ: tất cả các khâu như nắm bắt yêu cầu, nhận và trả hồ sơ của khách hàng đều tập trung vào một khu vực hành chính tập trung Người dân có yêu cầu về bất kỳ dịch vụ hành chính công nào khi đến giao dịch chỉ làm việc với duy nhất một bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ mà không phải đi đến các phòng ban chuyên môn

Không nhìn thấy Nhìn thấy

Môi trường vật chất Mô hình lý thuyết [7 20]

Hình 1.1: Mô hình hệ thống cung ứng các dịch vụ công [ Nguồn 7]

Cơ sở vật chất

NV giao tiếp dịch vụ

Tổ chức

Trang 24

Mô hình bao gồm cả yếu tố vô hình và hữu hình, các yếu tố liên quan hữu cơ với nhau đó là một quá trình hoạt động có định hướng, vận động đạt đến một sự cân bằng nhất định

Các yếu tố của hệ thống:

+ Khách hàng là người tiêu dùng dịch vụ trực tiếp tiêu dùng từ nhân viên cung ứng

+ Cơ sở vật chất: giúp thúc đẩy dịch vụ tiến triển thuận lợi

+ Môi trường vật chất: Gồm các yếu tố vất chất xung quanh nơi diễn ra hoạt động dịch vụ Là một phần của sản phẩm dịch vụ, tác động cảm nhận dịch vụ của khách hàng

+ Nhân viên cung ứng dịch vụ là những người trực tiếp giao tiếp với khách hàng trong quá trình chuyển giao dịch vụ, (có 2 loại đó là nhân viên giao tiếp dịch vụ và nhân viên dịch vụ cấp dưới)

+ Dịch vụ: Là mục tiêu và kết quả của hệ thống, quyết định sự hình thành hệ thống của quá trình cung ứng sản phẩm

+ Hệ thống nội bộ: Bộ phận chủ chốt tác động vào hệ thống cung ứng dịch vụ nhưng không để lại sự hiện hữu

1.3.5 Dịch vụ công trực tuyến và các mức độ [10] :

- Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng [10; 4-5]

- Theo Bộ thông tin và Truyền thông dịch vụ công trực tuyến được chia thành 4 mức độ

Trang 25

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy

đủ các thông tin về quy trình, thủ tục, hồ sơ, thời hạn, phí và lệ phí thực hiện dịch vụ

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ

1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ

2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ

3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng

Mức độ 1 là mức độ đơn giản nhất của dịch vụ hành chính công trực tuyến Mức độ 4 là mức độ hoàn chỉnh nhất của dịch vụ hành chính công trực tuyến, ở mức độ này người sử dụng được cung cấp dịch vụ hoàn chỉnh mà không cần giao tiếp trực tiếp (gặp mặt) cơ quan cung cấp dịch vụ Việc cung cấp các dịch vụ hành chính công trực tuyến là một trong những giải pháp quan trọng của cải cách hành chính, góp phần giảm các thủ tục giấy tờ phiền

hà, rút ngắn thời gian giải quyết công việc cho nhân dân, góp phần xây dựng chính quyền vững mạnh, công khai, hiệu quả, minh bạch

Trang 26

Hình 1.2: Mô hình phát triển của dịch vụ công trực tuyến [Nguồn 39]

1.4 Chính quyền điện tử (e-gov):

1.4.1.Tổng quan về E-gov [14]:

Cuộc cách mạng toàn cầu về công nghệ thông tin, truyền thông, Internet đang diễn ra mạnh mẽ, làm thay đổi cách thức sống, học tập, làm việc, vui chơi, giải trí và ngay cả việc quản lý quốc gia Khái niệm Chính phủ Điện tử đã ra đời trên cơ sở những tiến bộ công nghệ này Ngay từ đầu những năm 1990, rất nhiều quốc gia đã tiến hành thực hiện cuộc cách mạng Chính phủ điện tử Nội dung chương này nêu lên những vấn đề về khái niệm

về Chính phủ điện tử, những quan điểm và tầm nhìn về Chính phủ điện tử, cũng như tìm hiểu những mô hình Chính phủ điện tử của các nước trên thế giới, đánh giá những mặt được và chưa được của việc triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam [14]

a Khái niệm về E-gov [19] :

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về Chính phủ điện tử (E-gov) một phần là do thuật ngữ Chính phủ điện tử là một thuật ngữ còn mới mẻ nên khó có thể đưa ra một định nghĩa đúng đắn đáp ứng được các các điều kiện

Dưới thời tổng thống Bil Clinton, Sally katzen phó giám đốc điều hành công ty quản lý ngân sách của Mỹ định nghĩa: Chính phủ điện tử được hiểu là

Trang web

Cổng thông tin điệntử

Tăng thêm dịch vụ xã hội

Xã hội điện tử, Thành phố số

Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 Mức độ 4 Khó

Dễ

Trang 27

việc mọi công dân và doanh nghiệp có thể truy cập thông tin và sử dụng dịch

vụ của Chính phủ 24/24 giờ và 7 ngày mỗi tuần Chính phủ điện tử chủ yếu dựa vào cơ quan Chính phủ sử dụng internet và công nghệ tiên tiến khác để nhận và cung cấp thông tin, dịch vụ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và

rẻ hơn [19;5]

Dưới thời tổng thống Bush xuất hiện một khái niệm mới về Chính phủ điện tử: Bằng việc cung cấp cho các cá nhân khả năng tham gia vào bộ máy hành chính liên bang để truy cập thông tin và giao dịch kinh doanh, internet hứa hẹn việc giao bớt quyền lực từ tay các nhà lãnh đạo trong chính quyền washington và tay các công dân mỹ

Theo Rogers WO Okotuma, tác giả cuốn “E-democracy: Re inventing Good Govermance” cho rằng “Theo nghĩa rộng, nền dân chủ điện tử đề cập đến tất cả các thông tin bằng điện tử và công dân Theo nghĩa hẹp nền dân chủ điện tử bao gồm tất cả các phương tiện thông tin điện tử giữa cử tri và người đắc cử” [19;6]

Một số khái niệm về CPĐT bao gồm từ “việc sử dụng ICT để giải phóng các luồng di chuyển thông tin nhằm khắc phục những rào cản về mặt vật lý của các hệ thống vật lý dựa trên giấy tờ truyền thống” cho tới “sử dụng ICT để cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ chính phủ nhằm đem lại lợi ích cho người dân, các đối tác kinh doanh và người lao động”

Tuy nhiên có thể hiểu về khái niệm Chính phủ điện tử một cách đầy đủ

Trang 28

định chiến lược, giao dịch kinh doanh, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin CPĐT nhằm mục đích cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ chính phủ nhằm đem lại lợi ích cho người dân Quan trọng hơn nữa, CPĐT còn nhằm mục tiêu tăng cường năng lực của chính phủ theo hướng quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế và xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển Chính phủ điện tử cũng góp phần tạo ra các

cơ hội sau:

Giúp tiếp cận dễ dàng hơn với các thông tin của nhà nước

- Tăng cường các cơ hội trao đổi tương hỗ giữa các cơ quan nhà nước

Hiện nay nhiệm vụ xây dựng và thực hiện CPĐT ở Việt Nam được giao cho Bộ Thông Tin và Truyền Thông Phụ trách, ở các địa phương nhiệm vụ trên được giao cho các Sở Thông Tin và Truyền thông đảm nhiệm [41]

b Các đặc trưng cơ bản của E-gov:

Các đặc trưng của E-gov được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây: [41]

Thứ nhất: E-gov đã đưa chính phủ tới gần dân và đưa dân tới gần chính phủ Thứ hai: E-gov làm minh bạch hóa hoạt động của chính phủ, chống

tham nhũng, quan liêu, độc quyền

Trang 29

Thứ ba: E-gov giúp chính phủ hoạt động có hiệu quả trong quản lý và

phục vụ dân (cải cách hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công)

1.5 Khái niệm internet và world wide web, Hạ tầng ứng dụng internet và E-gov:

1.5.1 Khái niệm internet và world wide web[8]:

a Khái niệm internet:

Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia thì Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dự liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa ( giao thưc IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân , và các chính phủ trên toàn cầu [8]

Về ý nghĩa chung, internet ( chữ “i” viết thường, viết tắt cho inter – network) là một mạng được tạo ra bởi rất nhiều mạng khác Nhưng danh từ riêng, Internet là một hệ thống quốc tế nối nhiều máy tính với nhau (cùng với những thông tin phục vụ cho những người dùng nó) thông qua giao thức TCP/IP (bộ giao thức chuyển gói dữ liệu) Như vậy, mạng máy tính lớn nhất

có tên là Internet[8]

Ngày nay “Internet thường được hiểu là World Wide Web do sự phổ biến và tính tiện dụng của dịch vụ này

Một số dịch vụ phổ biến hiện nay của Internet[8]:

1 Công cụ tìm kiếm (search engine)

2 Báo điện tử (online newspaper)

3 Nhật ký trực tuyến (weblog)

4 Thư điện tử (e-mail)

5 Mạng xã hội ảo (social network)

6 Trò chuyện trực tuyến (chat)

7 Diễn đàn trực tuyến (online forum)

Trang 30

8 Các dịch vụ thương mại và giáo dục điện tử

9 Các dịch vụ công trực tuyến cung cấp bởi các cơ quan nhà nước Mạng Internet mang lại nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong những tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), máy truy tìm dữ liệu (search engine), các dịch vụ thương mãi, chuyển nhân và cách dịch vụ hành chính công của các cơ quan công quyền Chúng cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet[8]

Nguồn thông tin khổng lồ kèm theo các dịch vụ tương ứng chính là hệ thống các trang Web liên kết với nhau và các tài liệu khác trong WWW (World Wide Web).Trái với một số cách sử dụng hàng ngày, Internet và WWW không đồng nghĩa Internet là một tập hợp các mạng máy tính kết nối với nhau bằng dây đồng, cáp quang,v.v…; còn WWW, hay Web, là một tập hợp các tài liệu liên kết với nhau bằng các siêu liên kết (hyperlink) và các địa chỉ Website, và nó có thể được truy nhập bằng cách sử dụng Internet Các cách thức thông thường để truy cập Internet là quay số, băng rộng, không dây,

vệ tinh và qua điện thoại cầm tay[8]

b Khái niệm world wide web[8]:

World Wide Web, gọi tắt là Web hoặc WWW, mạng lưới toàn cầu là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy cập (đọc và viết) qua các máy tính nối với mạng Internet Thuật ngữ này thường được hiểu nhầm là từ đồng nghĩa với chính thuật ngữ Internet Nhưng Web thực ra chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên Internet, chẳng hạn như dịch vụ thư điện tử Web được phát minh và đưa vào sử dụng vào khoảng năm 1990, 1991 bởi viện sĩ Viện Hàn Lâm Anh Tim Berners-Lee và Robert Cailliau (Bỉ) tại CERN, Geneva, Switzerland[8]

Các tài liệu trên World Wide Web được lưu trữ trong một hệ thống siêu văn bản (hypertext), đặt tại các máy tính trong mạng Internet Người dùng phải sử dụng một chương trình được gọi là chương trình duyệt web (web

Trang 31

browser) để xem siêu văn bản Chương trình này sẽ nhận thông tin (documents) tại ô địa chỉ (address) do người sử dụng yêu cầu (thông tin trong

ô điện tử gọi là tên miền (domain name), rồi sau đó chương trình sẽ tự động gửi thông tin đến máy chủ (web server) và hiển thị trên màn hình máy tính của người xem Người dùng có thể theo các liên kết siêu văn bản (hyperlinh) trên mỗi trang Web để nối với các tài liệu khác hoặc gửi thông tin phản hồi theo máy chủ trong một quá trình tương tác Hoạt động truy tìm theo các siêu liên kết thường được gọi là duyệt Web[8]

Quá trình này cho phép người dùng có thể lướt các trang web để lấy thông tin và khai thác các dịch vụ trên internet

1.5.2 Mạng cục bộ LAN ( tên tiếng Anh: Local Area Network) [8] :

Là mạng máy tính trong nội bộ một văn phòng, một tòa nhà được kết nối với nhau thông qua hệ thống cáp nối (wiring system) hoặc vô tuyến (wireless) nhằm mục đích chia sẻ thông tin và các tài nguyên dùng chung khác như : máy in, đĩa cứng, kết nối internet…một cách nhanh chóng, hiệu quả và an toàn [8]

Một mạng LAN tối thiểu cần có máy chủ (server), các thiết bị ghép nối (Repeater, Hub, Switch, Bridge), máy tính con (client), card mạng (Network Interface Card - NIC) và dây cáp (cable) để kết nối các máy tính lại với nhau

Một hình thức khác nữa của mạng LAN, mới xuất hiện trong những năm gần đây là WLAN (Wireless LAN) - mạng LAN không dây

1.5.3 Mạng đô thị MAN (metropolitan area network) [8] :

Là mạng dữ liệu băng rộng được thiết kế cho phạm vi trong thành phố, thị xã Khoảng cách thường nhỏ hơn 50 km Xét về quy mô địa lý, MAN lớn hơn mạng LAN nhưng nhỏ hơn mạng WAN, nó đóng vai trò kết nối 2 mạng LAN và WAN với nhau hoặc kết nối giữa các mạng LAN[8]:

Kết nối giữa các phần tử của mạng MAN thường sử dụng không dây (Wireless) hoặc sử dụng cáp quang (Optical Fiber)

Trang 32

1.5.4 Mạng diện rộng WAN (wide area network) [8] :

Là mạng dữ liệu được thiết kế để kết nối giữa các mạng đô thị (mạng MAN) giữa các khu vực địa lý cách xa nhau Xét về quy mô địa lý,

mạng WAN( global area network) có quy mô lớn nhất, sau đó đến mạng

WAN và mạng LAN[8]

Các thiết bị sử dụng cho mạng WAN gồm có: router, switch, modem

1.5.5 Cơ sở dữ liệu (viết tắt CSDL; tiếng Anh là database) [8] :

Cơ sở dữ liệu (viết tắt CSDL; tiếng Anh là database) được hiểu theo cách định nghĩa kiểu kĩ thuật thì nó là một tập hợp thông tin có cấu trúc Tuy nhiên, thuật ngữ này thường dùng trong công nghệ thông tin và nó thường được hiểu rõ hơn dưới dạng một tập hợp liên kết các dữ liệu, thường đủ lớn

để lưu trên một thiết bị lưu trữ như đĩa hay băng Dữ liệu này được duy trì dưới dạng một tập hợp các tập tin trong hệ điều hành hay được lưu trữ trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu

1.5.6 Mô hình và quy trình ứng dụng E-gov [19] :

a Các mô hình ứng dụng E-gov:

Trong các năm gần đây, khi trào lưu Chính Phủ Điện Tử (CPĐT) bắt đầu, thì Internet đã mang đến cho Chính Phủ (CP) các nước trên thế giới một loạt khả năng về mặt lý thuyết để tạo ra các dịch vụ mới Rất nhiều CP cố gắng hướng tới một cuộc cách mạng trong mối quan hệ CP-Công Dân bằng công nghệ Web Các nhà quản trị, nhà khoa học, nhà công nghệ đã đầu tư rất nhiều công sức để nghiên cứu và phát triển CPĐT Kết quả là những sáng kiến khác nhau dẫn đến những thuật ngữ (và do đó những cách hiểu) ít nhiều khác nhau: CP Số, CP làm việc trên Internet, CP Trực Tuyến, CPĐT [19]

Việc xây dựng CPĐT là con đường rất dài! Vì CNTT-VT phát triển vô cùng nhanh, để “sử dụng một cách có hệ thống CNTT và viễn thông”, CP đó phải luôn cập nhật những công nghệ mới và do đó những dịch vụ mới Cách định nghĩa bóng bẩy thì nói rằng CPĐT là CP phục vụ người dân 24/24, 7/7,

và bất kỳ người dân đang ở đâu.[19]

Trang 33

Các nước tiên tiến về CNTT như Mỹ, Canada là những nước nói sớm nhất về CPĐT Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 Họ đưa ra ý niệm CPĐT với

mô hình 2 thành phần và chủ yếu là hướng đến người dân

* Mô hình 2 thành phần của CPĐT [19]

Các nước này thường sử dụng ngay định nghĩa “bóng bảy” nêu trên về CPĐT (CP phục vụ người dân 24/24, 7/7, và bất kỳ người dân đang ở đâu) Nói cách khác, họ quan niệm CPĐT là vấn đề G2C và G2B trên mạng

G2C (Government to Citizen - Chính Phủ với người dân) là việc giải quyết thông qua mạng các quan hệ của người dân với các cơ quan CP Người dân đóng thuế thu nhập, đăng ký kết hôn, làm khai sinh qua mạng Chúng ta hãy tưởng tượng sơ bộ việc đăng ký kết hôn qua mạng để thấy đằng sau nó là những cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia vĩ đại đến chừng nào Dịch vụ này không đơn thuần là nhận tờ khai đăng ký kết hôn qua mạng mà là một hệ thống thông tin tự động hóa dựa căn bản trên hệ CSDL quốc gia về dân số

G2B (Government to Business - Chính Phủ với doanh nghiệp) là việc giải quyết thông qua mạng các quan hệ của doanh nghiệp (DN) với các cơ quan CP DN đóng thuế, tham gia đấu thầu các dự án của CP, xin các loại giấy phép (chẳng hạn giấy phép nhập khẩu) qua mạng Hãy tưởng tượng các

dự án của CP đều được tổ chức đấu thầu qua mạng thì trình độ CNTT-VT trong các cơ quan CP phải cao đến cỡ nào Đúng như vậy, các quốc gia này khi khởi xướng vấn đề CPĐT đã tin học hóa cao độ các cơ quan CP, xây dựng

hạ tầng thông tin quốc gia bao gồm hàng loạt CSDL quốc gia (như trường hợp CSDL dân số nói trên) làm nền tảng cho các dịch vụ trực tuyến tự động,

họ đã làm việc trên mạng ngay cả khi Internet chưa phổ biến Dĩ nhiên họ cũng còn nhiều việc cần làm để hoàn thiện công việc tin học hóa cao độ các

cơ quan CP, liên kết các cơ quan CP trong thời đại Internet Tuy nhiên họ đã hoàn tất về căn bản cái mà sau này các lý thuyết về CPĐT đã bổ sung vào, đó

là thành phần G2G (Government to Government - Chính Phủ với Chính Phủ), tạo nên mô hình CPĐT 3 thành phần

Trang 34

* Mô hình 3 thành phần của CPĐT[19]:

Các nước trung bình như Hàn Quốc, Đài Loan bắt đầu bước vào tiến trình xây dựng CPĐT vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 Nói đến CPĐT người ta nói đến 3 việc chính: sử dụng ICT mà chủ yếu là Internet để

tổ chức mối quan hệ giữa các cơ quan CP (gọi là G2G), giữa các cơ quan hành chính với công dân (G2C) và với các DN (G2B), như đã nêu trên Vào những năm cuối thập kỷ 90, Internet đã tạo ra một môi trường hết sức thuận lợi để các quốc gia mới phát triển xây dựng các CSDL quốc gia Lịch sử CSDL quốc gia về dân số ở Thái Lan là một minh chứng rất sinh động về những khó khăn to lớn, đầu tư tốn kém như thế nào trước khi có Internet và thoát khỏi khó khăn như thế nào sau khi có Internet

Nghĩa là cùng với Internet, các quốc gia mới công nghiệp hóa đã có cơ hội nêu lên và giải quyết khá gọn gàng các vấn đề lớn của bài toán G2G mà kết quả chính là các CSDL quốc gia, làm nền tảng cho dịch vụ G2C, G2B khởi xướng từ các nước phát triển Cùng với thành phần G2G, họ đang đẩy nhanh các tiến trình G2C và G2B Trong thực tế, nếu thành phần G2G chưa thật tốt thì không thể triển khai tốt các yếu tố G2C và G2B Lý do cơ bản là vì

để thực hiện một dịch vụ trực tuyến nào đó trong các thành phần G2C hoặc G2B thì thường phải có sự liên kết nhiều cơ quan quản lý nhà nước và dựa trên một hệ thống các CSDL được liên kết rất hoàn chỉnh

Nói cách khác, G2G thường là yếu tố hậu trường (Back-End) của G2C

và G2B Dĩ nhiên cũng có thể thực hiện một vài dịch vụ đơn giản nào đó, hoặc những phân đoạn thủ tục hành chính on-line trong khi chưa tổ chức tốt G2G Mặt khác, cũng cần thấy rằng các quốc gia này đã qua 2 giai đoạn sử dụng máy tính trong từng cơ quan hành chính

Đó là giai đoạn sử dụng đơn lẻ từng người và sử dụng mạng cục bộ trong từng cơ quan Họ đã đạt đến trình độ các nhân viên trong từng cơ quan làm việc với nhau thông qua mạng máy tính và cùng xây dựng, chia sẻ nguồn lực thông tin chung Việc này họ hoàn tất vào các năm 80 và đầu thập kỷ 90

Trang 35

của thế kỷ 20 Chúng ta thì chưa có những thành tựu này Không qua giai đoạn này thì không thể làm được cái gọi là G2G thực sự Từ đây ta phải nói đến thành phần thứ 4 của CPĐT

* Mô hình 4 thành phần của CPĐT[19]

Với những quốc gia có trình độ ứng dụng CNTT thấp thì còn một giai đọan khó khăn nhất phải làm là đưa CNTT, bao gồm chủ yếu MTĐT và mạng máy tính vào các hoạt động hành chính của từng cơ quan ở mức độ khá cao so với những gì ta quan sát thấy ở nước ta Công việc này gọi là G2E (Government to Employee - Chính Phủ với công chức) gồm 3 nội dung chính:

Một là: Máy tính trở thành công cụ làm việc như giấy bút cho công chức Hai là: Mỗi công chức với máy tính của mình tạo dần nên các CSDL

nghiệp vụ tích hợp các loại thông tin thuộc trách nhiệm

Ba là: Các công chức trong một cơ quan được kết nối máy tính với

nhau để nhờ công cụ mạng thực thi một phần các giao tiếp với đồng nghiệp, với cấp trên và đặc biệt là thực hiện việc chia sẻ thông tin trong các CSDL nghiệp vụ

Do quá trình chia sẻ này, một công việc cực kỳ quan trọng là làm cho các CSDL của riêng kết nối lại với nhau, loại bỏ các trùng lặp và mâu thuẫn

Từ đây tạo ra các CSDL, các nguồn thông tin nghiệp vụ chung của toàn cơ quan, một thực thể mới của công nghệ quản lý với CNTT (máy tính và mạng cục bộ) ra đời

b Quy trình thực hiện các giải pháp ứng dụng E-gov [19]:

Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, ứng dụng công nghệ E-gov đòi hỏi phải có sự nhanh nhạy với sự thay đổi của trình độ quản lý Nhưng những hoạt động mang tính tác nghiệp đó nếu không dựa vào mục tiêu và phương hướng phát triển dài hạn sẽ dẫn đến sự phát triển chắp vá và kém hiệu quả Chính vì vậy nhiều nước trên thế giới đang sử dụng quy trình ứng dụng chính phủ điện tử E-Gov (CPĐT)

gồm 4 bước:

Trang 36

Bước 1: Đưa thông tin lên các trang điện tử của các cơ quan CP

Bước 2: Mở rộng khả năng cho người dân truy cập thông tin trực tuyến,

tiếp xúc với các cơ quan CP bằng thư điện tử và các phương tiện giao dịch điện tử khác

Bước 3: Trao đổi hai chiều và giao dịch trên mạng 24/24 và 7/7 ngày

trong tuần thông qua các ứng dụng tự động phục vụ

Bước 4: Các dịch vụ trực tuyến được tích hợp mạnh mẽ ở một cổng

dịch vụ, phát huy tối đa cơ chế một cửa, tạo nên hiệu quả trong giao dịch giữa

CP và người dân, doanh nghiệp

Để hoạch định ra các giải pháp ta tiến hành theo quy trình sau:

Hình 1.3 Nội dung hoạch định giải pháp ứng dụng E-gov [Nguồn: tác giả tổng hợp]

Xét về quy trình, xác định các giải pháp của ứng dụng E-gov thường bao gồm những vấn đề chủ yếu sau đây:

* Phân tích tình hình bên ngoài (môi trường vĩ mô)

Các nội dung chính trong phân tích môi trường vĩ mô bao gồm phân tích tình hình ứng dụng E-gov của đất nước trong các giai đoạn, một số điển

Vị trí hiện tại của địa phương

Tiềm lực của địa phương

Trang 37

hình về ứng dụng E-gov trong nước có hiệu quả, các cơ chế chính sách thúc đẩy việc ứng dụng E-gov của Đảng và Chính phủ, trình độ ứng dụng khoa học công nghệ, tình hình cải cách hành chính, hạ tầng công nghệ thông tin

* Phân tích tính ứng dụng CPĐT tại địa phương (môi trường nội tại)

Các nội dung chính cần được làm rõ trong đánh giá tình hính ứng dụng E-gov của địa phương gồm: Các hoạt động hành chính, nguồn lực CNTT, về cơ sở

hạ tầng thông tin, về tình hình cải cách hành chính tại địa phương

Bảng 1.1 Các nội dung phân tích hoạt động hành chính tại địa phương

+ Các đặc trưng về tình hình cải tiến các thủ tục hành chính để

có thể ứng dụng E-gov tại địa phương

+ Hiện trạng sử dụng hệ thống thư điện tử của CBCC

+ Hiện trạng ứng dụng hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành

+ Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân

và doanh nghiệp

Trang 38

+ Hiện trạng triển khai quy hoạch

+ Tình hình triển khai các văn bản về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước

+ Công tác hợp lý hóa, cải tiến các quy trình công việc, thủ tục hành chính để có thể ứng dụng CNTT

+ Quy mô và tốc độ tăng trưởng của ngành công nghệ thông tin

và Truyền thông tại địa phương trong khoảng thời gian gần đây

+ Đánh giá quá trình ứng dụng so với cách làm truyền thống + Đánh giá quá trình phát triển của lĩnh vực viễn thông + Đánh giá quá trình phát triển của lĩnh vực CNTT

[Nguồn: tác giả tổng hợp]

* Phân tích tình hình ứng dụng E-gov tại địa phương

Để hoạch định các giải pháp ứng dụng E-gov tại địa phương thì đặc biệt quan trọng là phải xác định và hiểu được hiện trạng và trình độ ứng dụng E-gov và các hoạt động hành chính của địa phương ấy, bao gồm phân tích các kết quả đạt được, hàm lượng E-gov vào các dịch vụ hành chính cung cấp cho người dân và doanh nghiệp, hạ tầng thông tin, nguồn nhân lực CNTT và năng lực tài chính phục vụ ứng dụng E-gov

Trang 39

Bảng 1.2 Nội dung phân tích ứng dụng E-gov tại địa phương

Hạ tầng thông tin - Tỷ lệ máy tính/ cán bộ, công chức toàn thành phố,

- Tỷ lệ đơn vị đã có mạng cục bộ (LAN)

- Tỷ lệ các đơn vị được kết nối internet băng thông rộng (ADSL)

- Tình hình xây dựng quy chế làm việc trên môi trường mạng

Hàm lượng E-gov trong

các hoạt động hành chính

+ Số lượng các DVHCC đã ứng dụng E-gov, + Các cơ sở dữ liệu phục vụ ứng dụng CNTT, + Kết quả xây dựng Cổng thông tin điện tử phục vụ người dân và doanh nghiệp

+ Kết quả của công tác hợp lý hóa, cải tiến các quy trình công việc, thủ tục hành chính để có thể ứng dụng CNTT

Nguồn nhân lực CNTT Phần này cần trình bày hiện trạng nguồn nhân lực:

- Tỷ lệ % số cán bộ, công chức có thể sử dụng máy tính trong công việc

- Tổng số cán bộ CNTT hiện có trong các cơ quan nhà nước

- Tỷ lệ % dân số kết nối internet trong công việc

- Công tác đào tạo, phổ biến kiến thức về CNTT

Năng lực tài chính + Vốn đầu tư cho việc xây dựng các DVHCCTT;

+ Vốn đầu tư cho việc xây dựng CSDL chuyên ngành;

+ Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng;

+ Các chính sách ưu đãi hỗ trợ nhân lực CNTT

[Nguồn: tác giả tổng hợp]

* Mục tiêu ứng dụng E-gov

+ Xác định quan điểm mục tiêu

Xác định hệ thống các quan điểm cơ bản làm nền tảng định hướng cho việc ứng dụng E-gov tại địa phương Hệ thống quan điểm này được xác định trên cơ sở các quan điểm định hướng phát triển kinh tế - xã hội và cải cách hành chính của đất nước và của địa phương Đây là một nội dung trọng yếu của chiến lược ứng dụng E-Gov Bởi lẽ, nếu xác định sai các quan điểm và các chỉ tiêu sẽ không thể xác định đúng được các nội dung về định hướng các

Trang 40

+ Xác định hệ thống các mục tiêu giải pháp tổng quát

Hệ thống các mục tiêu giải pháp cần phải đạt được trong định hạn thời gian cụ thể Những mục tiêu phát triển ngành công nghệ thông tin và truyền thông được thể hiện qua một số chỉ tiêu định lượng như:

- Tỷ lệ số khu phố đã có điểm nhà văn hóa có máy tính được kết nối mạng internet;

- Mật độ điện thoại

- Tỷ lệ dân biết sử dụng internet

- Số lượng các dịch vụ công trực tuyến được cung cấp trên mạng

- Số lượng các CSDL chuyên ngành được xây dựng

Mục tiêu ứng dụng E-gov được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau (còn gọi là hệ mục tiêu), trong đó có những mục tiêu có thể định lượng bằng những chỉ tiêu cụ thể, có những mục tiêu chỉ có thể định tính như một định hướng tới việc ứng dụng Xác định mục tiêu dài hạn là một trong những nội dung của xây dựng giải pháp ứng dụng E-gov Mục tiêu đó là cơ sở để xác định định hướng phát triển các bộ phận con của hệ thống và các giải pháp cơ bản cần thực hiện Với vị trí quan trọng đó, việc xác định các mục tiêu của lộ trình ứng dụng E-Gov phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản như sau:

- Phù hợp với mục tiêu, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương trong mỗi thời kỳ

- Phù hợp với mục tiêu của công tác cải cách hành chính của đất nước

và địa phương trong mỗi thời kỳ

- Khai thác có hiệu quả các nguồn nhân lực và lợi thế của địa phương, tham gia có hiệu quả vào các quan hệ kinh tế quốc tế

- Phát huy ngày càng đầy đủ vai trò của việc ứng dụng E-gov trong kế hoạch cải cách hành chính tổng thể

- Giới hạn hợp lý số lượng các mục tiêu trong hệ đa mục tiêu của việc ứng dụng E-gov

Ngày đăng: 09/10/2016, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[36]. GS. Đỗ Quốc Sam "Vài vấn đề về chương trình CCHC trong giai đoạn mới" - http://www.vnep.org.vn/Modules/CMS/Upload/6/Ve%20CTCCHC%20-%20B%20Sam%201.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài vấn đề về chương trình CCHC trong giai đoạn mới
[51]. Quyết định số 4184/QĐ-UB ngày 09/11/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh “V/v ban hành Quy chế làm việc của Ban Điều hình Đề án Tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước tỉnh Quảng Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: V/v ban hành Quy chế làm việc của Ban Điều hình Đề án Tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước tỉnh Quảng Ninh
[8]. Bách khoa toàn thư mở (http://vi.wikipedia.org/wiki) Link
[9]. Khái niệm chính phủ điện tử, ngân hàng thế giới (http://wep.worldbank.org/website/external/topics/extinformationnandcommunicationandtchnologies/extegovernment/o,,contentmdk:21389129) Link
[12]. Trang thông tin điện tử Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh http://halongcity.gov.vn/pages/cacphongbandonvi.aspx Link
[14]. Khái niệm về cải cách hành chính, vụ cải cách hành chính bộ nội vụ http://www.caicachhanhchinh.gov.vn/portalplus.aspx/vi/n/news/102/10100046/0/3 Link
[16]. Khái niệm về Dịch vụ công, Ban chỉ đạo CCHC thành phố HCM http://www.cchctp.hochiminhcity.gov.vn/detailnews.aps?id=557 Link
[17]. Tiêu chuẩn ISO và ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ qua HCNN, thành phố HCM http://www.cchctp.hochiminhcity.gov.vn/detailnews.aps?id=792 Link
[18]. Bốn bài học về thực hiện cải cách hành chính ở thành phố HCM http://www.cchctp.hochiminhcity.gov.vn/detailnews.aps?id=545 Link
[19]. Triển khai CPĐT tại Việt Nam và vai trò của nhà lãnh đạo thông tin, tạp chí thế giới vi tính http://www.pcworld.com.vn/pcworld/magazine_b.aps Link
[20]. Chặng đường mới của chính phủ điện tử ở Việt Nam (báo vietnamnet) http://www.vietnamnet.vn/cntt/2008/04/778327 Link
[22]. Đánh giá CPĐT theo phương pháp của đại học waseda của nhật bản http://www.diap.gov.vn/portalid/52/tabid/108/catid/394/distid/1953_Danh_gia_Chinh_phu_dien_tu_theo_phuong_phap_cua_Dai_hoc_Waseda__Nhat_Ban_nam_2010.html) Link
[23]. Xây dựng chính phủ điện tử gắn với cải cách thủ tục hành chính nhà nước http://cuocsongso.vtv.vn/titucsukien/200811/19/196085 Link
[24]. Xếp hạng chính phủ điện tử năm 2008 tăng 14 bậc theo báo cáo của LHQ, Bộ TT&TT http://mic.gov.vn/vn/newsdetail/_tinhoatdongcuabo/7543/index.mic Link
[33]. Chính phủ điện tử phải bắt đầu từ con người: http://vietnamnet.vn/cntt/2007/11/753760/ Link
[34]. Công dân là khách hàng: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=190760&ChannelID=3 Link
[35]. Ứng dụng và phát triển CNTT trong quản lý nhà nước: http://www.sggp.org.vn/thuongmai_dautu/2007/2/85342/ Link
[1]. GS. TS Hoàng văn Hảo, Giáo trình Nhà nước và pháp luật quản lý hành chính tập 3, NXB Lý luận Chính trị Khác
[2]. PGS. TS nguyễn Hữu Hải, Giáo trình hành chính công, NXB khoa học kỹ thuật Khác
[3]. Quyết định số 2805/QĐ-UBND ngày 29/8/2008 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ứng dụng công nghệ công nghệ thông tin tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mô hình hệ thống cung ứng các dịch vụ công [ Nguồn  7] - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Hình 1.1 Mô hình hệ thống cung ứng các dịch vụ công [ Nguồn 7] (Trang 23)
Hình 1.2: Mô hình phát triển của dịch vụ công trực tuyến [Nguồn 39] - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Hình 1.2 Mô hình phát triển của dịch vụ công trực tuyến [Nguồn 39] (Trang 26)
Hình 1.3. Nội dung hoạch định giải pháp ứng dụng E-gov [Nguồn: tác giả tổng hợp] - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Hình 1.3. Nội dung hoạch định giải pháp ứng dụng E-gov [Nguồn: tác giả tổng hợp] (Trang 36)
Hình  về  ứng dụng E-gov trong  nước có hiệu quả, các cơ chế chính sách thúc  đẩy việc ứng dụng E-gov của Đảng và Chính phủ, trình độ ứng dụng khoa học  công nghệ, tình hình cải cách hành chính, hạ tầng công nghệ thông tin - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
nh về ứng dụng E-gov trong nước có hiệu quả, các cơ chế chính sách thúc đẩy việc ứng dụng E-gov của Đảng và Chính phủ, trình độ ứng dụng khoa học công nghệ, tình hình cải cách hành chính, hạ tầng công nghệ thông tin (Trang 37)
Bảng 1.2. Nội dung phân tích ứng dụng E-gov tại địa phương - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Bảng 1.2. Nội dung phân tích ứng dụng E-gov tại địa phương (Trang 39)
Hình 2.1: Sơ đồ hành chính thành phố Hạ Long - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Hình 2.1 Sơ đồ hành chính thành phố Hạ Long (Trang 51)
Hình số 2.2: Sơ đồ mạng của thành phố - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Hình s ố 2.2: Sơ đồ mạng của thành phố (Trang 87)
Bảng 3.6. Dự kiến kế hoạch thực hiện giải pháp - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Bảng 3.6. Dự kiến kế hoạch thực hiện giải pháp (Trang 92)
Bảng 3.7. Dự toán chi tiết chi phí thực hiện giải pháp - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Bảng 3.7. Dự toán chi tiết chi phí thực hiện giải pháp (Trang 93)
Bảng 3.8: Danh mục các DVHCCTT đến năm 2015 - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Bảng 3.8 Danh mục các DVHCCTT đến năm 2015 (Trang 100)
Bảng 3.9: Dự kiến kế hoạch thực hiện và dự tính chi phí đến năm 2020 - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Bảng 3.9 Dự kiến kế hoạch thực hiện và dự tính chi phí đến năm 2020 (Trang 100)
Bảng 3.10. Dự kiến kế hoạch thực hiện giải pháp - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Bảng 3.10. Dự kiến kế hoạch thực hiện giải pháp (Trang 107)
Bảng 3.11. Dự toán chi phí thực hiện giải pháp - Giải pháp ứng dụng hành chính điện tử và hoạt động quản lý nhà nước ở thành phố hạ long
Bảng 3.11. Dự toán chi phí thực hiện giải pháp (Trang 108)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w