1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách hội đồng nhân dân thành phố hà nội

104 277 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế trong những năm qua chất lượng của đại biểu chuyên trách HĐND thành phố Hà Nôi cùng với các đại biểu HĐND khác của thành phố đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ như các đại

Trang 1

VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA ĐẠI BIỂU CHUYÊN TRÁCH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi những lời cảm ơn chân thành nhất đến:

- Thầy giáo hướng dẫn TS Lê Hồng Hải – cán bộ trường Đai học Bách Khoa, Hà Nội, người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, hướng dẫn, góp ý và giải đáp những thắc mắc để tôi có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

- Các thầy, cô giáo trong Viện Kinh tế và Quản lý đã giúp đỡ và có những nhận xét, góp ý để tôi hoàn thiện bản luận văn

- Ban lãnh đạo, các phòng ban và các cán bộ trong Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã giúp tôi có được các số liệu, báo cáo cũng như sự chỉ bảo rất nhiệt tình trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh

Người thực hiện

Vũ Thị Phương Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 7

1.1 Tổng quan về năng lực đại biểu hội đồng nhân dân 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại biểu hội đồng nhân dân 7

1.1.2 Khái niệm về năng lực 14

1.2 Các yếu tố cấu thành năng lực 17

1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực 22

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực 34

1.4.1 Các yếu tố công việc và môi trường làm việc 34

1.4.2 Các yếu tố quản lý 37

Chương 2 – PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39

2.1 Tổng quan về hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 39

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 39

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của HĐND thành phố Hà Nội 40

2.1.3 Chức năng nhiệm vụ 42

2.1.4 Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND thành phố Hà Nội 48

2.1.5 Mối quan hệ phối hợp công tác của HĐND với các cơ quan 49

2.1.6 Các quy định về hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội 51

2.2 Thực trạng năng lực của đại biểu chuyên trách HĐND thành phố Hà Nội 51

2.2.1 Chất lượng trình độ của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 51

2.2.2 Thực trạng chất lượng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 61

2.3 Đánh giá chung về năng lực đại biểu chuyên trách HĐND thành phố Hà Nội 66 2.3.1 Những ưu điểm và hạn chế 66

Trang 4

2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 72

Chương 3 – QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC NÂNG CAO NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA ĐẠI BIỂU CHUYÊN TRÁCH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 77

3.1 Định hướng đổi mới hoạt động của HĐND Thành phố Hà Nội 77

3.2 Một số quan điểm chủ đạo về nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội 78

3.3 Các giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách của HĐND thành phố Hà Nội 80

3.3.1 Xây dựng và hoàn thiện chương trình bồi dưỡng phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng công tác cho đại biểu chuyên trách HĐND thành phố Hà Nội 80

3.4 Các giải pháp nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội 87

3.4.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp 87

3.4.2 Tăng cường phối hợp hoạt động đối với các ban Đảng Thành ủy, với UBND, Ủy ban MTTQ, các thành viên của MTTQ và HĐND Thành phố 88

3.4.3 Phối hợp và tranh thủ sự chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan chuyên môn của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội 91

3.5 Kiến nghị và đề xuất 92

3.5.1 Kiến nghị với Trung ương 92

3.5.2 Kiến nghị với Thành ủy Hà Nội 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Trình độ đào tạo chuyên môn 52

Bảng 2.2: Trình độ lý luận chính trị 52

Bảng 2.3: Trình độ quản lý nhà nước 53

Bảng 2.4: Trình độ ngoại ngữ 53

Bảng 2.5: Trình độ tin học 54

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống chính quyền thành phố Hà Nội 41

Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 42

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MTTQ : Mặt trận tổ quốc

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bộ máy Nhà nước ta, Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho nhân dân địa phương trong việc thực thi quyền lực Nhà nước ở địa phương Với tính chất đó, HĐND nước ta có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Vì vậy, nâng cao năng lực hoạt động của HĐND và các đại biểu HĐND là một trong những nhiệm vụ rất cơ bản của quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước nói riêng, của sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay nói chung Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: Nâng cao chất lượng của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo

Triển khai tinh thần đó, Nghị quyết Trung ương 5, khoá X đã đề xướng chủ trương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồmg nhân dân huyện, quận, phường Qua thí điểm, sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét thực hiện chính thức chủ trương này, cùng với việc xem xét sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Ngày 14/11/2008 Quốc hội khoá XII đã thông qua 02 nghị quyết liên quan đến yêu cầu củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của HĐND như: Nghị quyết số 25/2008/QH 12 ngày 14/11/2008 về việc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của HĐND các cấp Tại điều 1 của nghị quyết quy định kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của HĐND và Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp cho đến kỳ họp thứ nhất của HĐND các cấp khoá sau vào năm 2011 và Nghị quyết số 26/2008/QH 12 ngày 14/11/2008 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường Đó chính là những động thái mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước nhằm hiện thực hoá các quan điểm tổ chức và hoàn thiện chính quyền địa phương Những động thái này vừa là tiền đề chính trị quan trọng, vừa dự báo trước những thành công của quá trình đổi mới

Trang 7

Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp có thể được triển khai từ nhiều khâu, với nhiều cấp độ Một trong những hướng của sự đổi mới chính là yêu cầu không ngừng nâng cao năng lực của đại biểu HĐND mà trong đó có đại biểu chuyên trách Cơ sở lý giải cho yêu cầu này xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ đại biểu chuyên trách HĐND là những người chuyên tâm cho công việc của HĐND đồng thời là cấp gần dân nhất, là cấp mà mỗi động thái của đại biểu HĐND đều tác động trực tiếp tới người dân, đều có khả năng gây ra những hệ quả hoặc tích cực hoặc tiêu cực tới thái độ và lòng tin của nhân dân vào chế độ xã hội, chế độ nhà nước

Nhu cầu nâng cao chất lượng của đại biểu chuyên trách HĐND thành phố lại càng trở nên cấp bách nếu đặt trong bối cảnh thực trạng chất lượng của đại biểu HĐND trên phạm vi cả nước nói chung, ở từng địa bàn cụ thể nói riêng Có thể lấy thành phố Hà Nội là một ví dụ điển hình Thực tế trong những năm qua chất lượng của đại biểu chuyên trách HĐND thành phố Hà Nôi cùng với các đại biểu HĐND khác của thành phố đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ như các đại biểu HĐND

đã được nâng cao về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, đặc biệt là về kỹ năng công tác trong hoạt động đại biểu Tuy nhiên, bên cạnh đó, năng lực của đại biểu chuyên trách HĐND thành phố Hà Nội vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém như chưa thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo luật định, vai trò đại diện nhân dân của từng đại biểu còn hạn chế Do vậy, nâng cao năng lực đại biểu HĐND thành phố

Hà Nội là một yêu cầu cần thiết

Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu lại chưa được triển khai đúng mức khiến cho nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về năng hoạt động của đại biểu chuyên

trách HĐND còn bị bỏ ngỏ Đề tài luận văn“Giải pháp nâng cao năng lực làm việc

của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội” được lựa chọn

chính là nhằm góp phần khắc phục khoảng trống trong hoạt động nghiên cứu, góp thêm căn cứ để xây dựng các luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng của đại biểu chuyên trách HĐND ở nước ta hiện nay

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây đã có nhiều cuốn sách, bài viết và một số đề tài khoa học đề cập thực trạng và các giải pháp liên quan đến chất lượng, năng lực của

đại biểu HĐND Có thể nêu một số công trình điển hình sau:

- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam”

do PGS.TS Lê Minh Thông, PGS TS Nguyễn Như Phát đồng chủ biên, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Trong công trình này, các tác giả đã đề cập nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn về chính quyền ở Việt Nam trong đó có chương IV bàn tập trung về tổ chức chính quyền cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay

- “Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam”do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Tư pháp Hà Nội,

2004.Trong tác phẩm này tác giả tập trung phân tích và kiến nghị về mô hình

tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong đó đặc biệt chú ý đến mô hình của Hội đồng nhân dân cấp xã

- “Phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân trong

chương trình tập huấn đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 1999 – 2004” do PGS.TS Bùi Thế Vĩnh chủ biên, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội

2000 Với công trình này lần đầu tiên, những vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận về phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân đã được đặt ra nghiên cứu một cách tương đối sâu sắc

- “ Hệ thống chính trị cơ sở Thực trạng và một số giải pháp đổi mới” do

TS.Chu Văn Thành chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004 Các tác giả đã nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của

Hệ thống chính trị địa phương trên phạm vi cả nước và đi tới nhận định rằng Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã luôn giữ vị trí vai trò trọng tâm trong nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời

kỳ đổi mới Từ đó các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiết thực để củng cố về tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở

Trang 9

- Trong Tạp chí Quản lý Nhà nước số 2 năm 2005, TS Vũ Đức Đán có bài

viết “vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Hội đồng

nhân dân” Tại đây, tác giả đã lý giải một cách biện chứng về vai trò, vị trí

của Hội đồng nhân dân nói chung và đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng ở

đã đề cập yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân ở nước ta hiện nay

- Luận án tiến sĩ “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng sông cửu long hiện nay”, của Phạm Công Khâm Đây là công trình đầu tiên

nghiên cứu có hệ thống về thực trạng trình độ, năng lực, đặc thù của cán bộ chủ chốt cấp xã ở một số tỉnh phía nam nước ta

- Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức tỉnh Thái Nguyên”, do tác giả Lương Thanh Nghị thực

hiện và bảo vệ năm 2004 Tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lý luận

và thực trạng trình độ, năng lực của cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Thái Nguyên, qua đó chỉ rõ những bất cập, hạn chế trong thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã ở các tỉnh vùng dân tộc, vùng sâu ở nước

ta hiện nay, đồng thời nêu ra một số giải pháp thiết thực để đổi mới hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã trong thời kỳ mới

Sự thống kê một cách sơ lược về các công trình khoa học nói trên cho thấy vấn đề đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở đã được các nhà khoa học đề cập ở các khía cạnh và với các mức độ khác nhau Đặc biệt, liên quan trực tiếp tới chủ đề của luận văn này là vấn đề về năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ đại biểu chuyên trách đã được soi sáng ở mức độ nhất định.Với kết quả nghiên cứu đạt được, các công trình nghiên cứu nói trên đã cung cấp những tư liệu vật chất

Trang 10

rất cần thiết cho việc triển khai các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này theo hướng đẩy sâu hơn những nội dung đã được đề cập

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cho đến nay vẫn tồn tại một khoảng trống trong nghiên cứu về năng của chính đội ngũ đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân Đặc biệt, từ góc độ của khoa học pháp lý, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và xuất phát từ thực tiễn về yêu cầu và giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân Đó cũng chính là một trong

những lý do để học viên xác định chủ đề của luận văn thạc sĩ “Giải pháp nâng cao

năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội” nhằm cung cấp tư liệu thực tế cho hoạt động nghiên cứu về năng lực đại biểu

chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố nói chung, đồng thời trực tiếp nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân thành phố Hà Nội nói riêng

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về năng lực làm việc đại biểu Hội đồng nhân dân và thực trạng chất năng lực của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân cấp thành phố Hà Nội, luận văn hướng tới đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực làm việc của đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội

3.3 Phạm vi nghiên cứu luận văn

Về phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực làm việc đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua việc thu thập các báo cáo hoạt động và quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân; Quy chế phối hợp giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội; báo cáo tổng hợp tiếp xúc cử tri, các nghị quyết đã được Hội đồng nhân dân thành phố và HĐND các quận, huyện tại thành phố Hà Nội thông qua

Trang 11

Về phạm vi thời gian: luận văn khảo sát, phân tích làm rõ năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2004 đến nay, trong đó tập trung chủ yếu vào nhiệm kỳ 2004-2011 và hai năm 2011 - 2013

4 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Thông qua các nội dung nghiên cứu, luận văn góp phần làm rõ về mặt lý luận

và thực tiễn quy định của pháp luật về vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ, chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố

Luận văn góp phần tổng kết, đánh giá thực trạng năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực làm việc đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong giai đoạn hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể như phương pháp lịch sử, phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê…

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực đại biểu Hội đồng nhân dân

- Chương 2: Phân tích thực trạng năng lực làm việc của đại biểu chuyên

trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội

- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại

biểu chuyên trách Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội

Trang 12

Chương 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

1.1 Tổng quan về năng lực đại biểu hội đồng nhân dân

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại biểu hội đồng nhân dân

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đại biểu hội đồng nhân dân

Trong bộ máy nhà nước ta hiện nay, chính quyền cơ sở góp một vai trò quan trọng, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và nhà nước, trực tiếp tổ chức thi hành đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, đảm bảo hiệu quả triển khai nghị quyết của Đảng và những quy định của nhà nước tại địa bàn cơ sở Bộ máy nhà nước ở Trung ương muốn vững mạnh thì phải thường xuyên củng cố và kiện toàn chính quyền cơ sở Đó cũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của Đảng và nhà nước ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay

Hiến pháp năm 1992 quy định Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp

và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước

Điều 121 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Đại biểu hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Cụ thể hoá nội dung hiến định của Hiến pháp 1992, Luật quy định:

Trang 13

Đại biểu HĐND là công dân nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ, văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu HĐND theo quy định của pháp luật [23, tr.6] Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước [24, tr.31]

Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương [33, tr.65]

Từ cách nhìn nhận đó, có thể thấy đại biểu HĐND cấp xã có một số đặc điểm sau:

* Đại biểu HĐND là nhân tố cấu thành cơ quan duy nhất ở địa phương do cử

tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Do đó, đại biểu HĐND là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân ở địa phương, đại diện cho trí tuệ tập thể của cử tri

Tính đại diện nhân dân của đại biểu HĐND được thể hiện ở những điểm sau:

- Được nhân dân trao quyền thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân thông qua các quyết định củ cơ quan quyền lực nhà nước

- Sự yêu cầu về lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân là cơ sở căn cứ xác định nội dung hoạt động của đại biểu HĐND; đại biểu HĐND phải phản ánh trung thực và bảo vệ mọi quyền, lợi ích chính đáng của cử tri nơi bầu ra mình Cần quan tâm đến mọi nguồn thông tin đại chúng để hiểu rõ cái gì cử tri đang đòi hỏi, để hình thành chương trình hoạt động của đại biểu HĐND

- Đại biểu HĐND có quyền thay mặt nhân dân ở địa phương Đó là quyền thảo luận, quyền quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương trong các kỳ họp HĐND; quyền thay mặt nhân dân khi quan hệ với các cơ quan, tổ chức ở địa

Trang 14

phương để yêu cầu giải quyết đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân Trong hoạt động, mỗi đại biểu HĐND cần quan tâm trước hết là lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân địa phương, của cộng đồng xã hội trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội địa phương, trong bảo vệ lợi ích chung của dân tộc

* Đại biểu HĐND là người trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của HĐND

Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của từng đại biểu HĐND được phản ánh ở hai khía cạnh sau:

- Mỗi đại biểu HĐND đều trực tiếp tham gia thực hiện quyền lực nhà nước tại địa phương Đại biểu là người quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương trong phạm vi thẩm quyền của HĐND, thực hiện quyền giám sát của HĐND thông qua hoạt động chất vấn, nghe và xem xét báo cáo của các cơ quan nhà nước trước HĐND trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND Điều đó được đảm bảo thông qua việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đại biểu HĐND trong thực tế

- Đại biểu HĐND là người đại diện cho cơ quan quyền lực trong quan hệ với các cơ quan nhà nước khác và các viên chức nhà nước, với các tổ chức xã hội và nhân dân Đại biểu có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, về những vấn đề thuộc lợi ích chung, Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu

cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội kịp thời chấm dứt việc làm trái pháp luật Các cơ quan, tổ chức được đại biểu HĐND cấp xã yêu cầu thì phải bố trí tiếp đại biểu theo đúng quy định Đồng thời phải có nghĩa vụ trả lời đại biểu HĐND khi có kiến nghị của đại biểu

Đây là hoạt động gắn liền với chức trách đại biểu của đại biểu HĐND Để hoạt động của đại biểu có hiệu quả, pháp luật đưa ra những quy định cần thiết, tạo khả năng thực tế cho đại biểu thực hiện đầy đủ tính đại diện nhân dân, thực thi quyền lực nhà nước trong hoạt động HĐND ở đơn vị bầu cử Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm khoá IX Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn, đã nhấn mạnh: Đổi mới cơ chế bầu

cử, bảo đảm cho dân đề cử, ứng cử, lựa chọn các đại biểu HĐND thực sự là người đại diện cho dân, tăng thêm số lượng đại biểu HĐND so với hiện nay, tăng tỷ lệ

Trang 15

thích đáng đại biểu HĐND là người ngoài Đảng; tăng số kỳ họp và nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND [6]

* Đại biểu HĐND thực hiện hoạt động đại biểu trong khuôn khổ những quyền

và nghĩa vụ do pháp luật quy định

Đại biểu HĐND có các quyền hạn và trách nhiệm sau:

Một là, quyền và nghĩa vụ trong tổ chức và hoạt động của HĐND

- Đại biểu HĐND có quyền và nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp, HĐND

- Đại biểu HĐND có quyền bầu cử và ứng cử trong các cơ quan của HĐND

- Đại biểu HĐND có quyền đề nghị đưa vào chương trình của kỳ họp những vấn đề mà đại biểu HĐND xem xét thấy cần thiết để HĐND xem xét quyết định Ý kiến của đại biểu phải được ghi vào biên bản kỳ họp

- Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, và các thành viên của UBND và Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn khác thuộc UBND Người bị chất vấn phải có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu HĐND chất vấn theo thủ tục pháp luật quy định;

- Đại biểu HĐND được bầu vào các cơ quan tổ chức của HĐND Đại biểu HĐND phải tôn trọng và chấp hành quy chế về tổ chức và hoạt động do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Hai là, quyền và nghĩa vụ trong mối liên hệ với cử tri ở đơn vị bầu cử của đại

biểu:

- Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp xúc cử tri theo lịch, lấy ý

kiến của cử tri về các vấn đề sẽ đưa vào nội dung trong kỳ họp HĐND

- Đại biểu HĐND phải báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và HĐND

Đồng thời chịu sự giám sát của cử tri về các hoạt động đó

- Đại biểu HĐND tham gia tổ chức thực hiện pháp luật và các quyết định của

HĐND và UBND

- Đại biểu HĐND tiếp dân theo lịch được phân công hoặc theo yêu cầu của nhân dân; khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất ý kiến trực tiếp hoặc thông qua tổ chức hoạt động của HĐND để giám sát, chất vấn các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét giải

quyết những khiếu nại, tố cáo đó

Trang 16

Ba là, quyền của đại biểu HĐND trong quan hệ với các cơ quan nhà nước, tổ

chức xã hội và các đơn vị trên phạm vi đơn vị hành chính và nghĩa vụ của các cơ quan,

tổ chức trong xem xét, yêu cầu của đại biểu và tiếp đại biểu

- Theo uỷ quyền của HĐND, đại biểu của HĐND có quyền xem xét hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội… về những vấn đề thuộc

thẩm quyền của HĐND

- Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu được cung cấp tài liệu, được đảm bảo thông tin cần thiết cho hoạt động đại biểu Các cơ quan có thẩm quyền phải đảm

bảo các yêu cầu đó cho đại biểu HĐND

- Đại biểu HĐND có quyền đề nghị để hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đề nghị các biện pháp ngăn chặn tiêu cực trong cơ quan, tổ chức, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm đối với những cán bộ,

công chức nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật

- Đại biểu HĐND có quyền theo dõi, giám sát, đôn đốc hoạt động giải quyết

khiếu nại, tố cáo của các công dân trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu gặp lãnh đạo các cơ quan, tổ chức Người

có thẩm quyền phụ trách cơ quan phải có trách nhiệm tiếp và giải quyết các yêu cầu

đó

Các cơ quan Hành chính nhà nước và các cán bộ nhà nước trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp tư liệu, thông tin, địa điểm tiếp xúc cử

tri, phương tiện giao thông cho hoạt động đại biểu HĐND

- Đại biểu HĐND có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và

các đoàn thể trong hoạt động đại biểu HĐND

Bốn là, quyền của đại biểu HĐND trong tăng cường pháp chế

Đảm bảo tăng cường và pháp chế là đòi hỏi đối với mọi tổ chức, cơ quan, cán

bộ, công chức và mọi công dân Vì vậy, đại biểu vừa phải trực tiếp tiến hành mọi hoạt động thuộc phạm vi chức năng, quyền hạn của HĐND theo đúng quy định của pháp luật, vừa có nghĩa vụ tham gia phát hiện đấu tranh mọi hành vi vi phạm pháp

luật, cụ thể:

Trang 17

- Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về việc thi hành chính sách, pháp luật và những vấn đề thuộc lợi ích chung của cộng đồng dân

cư tại cơ sở

- Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu tổ chức, cơ quan nhà nước chấm dứt những việc

làm sai trái, vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân

1.1.1.2 Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân

Hiến pháp năm 1992 quy định bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được chia thành 4 cấp:

sở và là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân địa phương

Vị trí, vai trò của đại biểu HĐND được minh chứng rõ nét qua vị trí là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương Đại biểu HĐND là người

do nhân dân trực tiếp bầu ra, mỗi đại biểu HĐND đại diện cho một khu vực dân cư,

tổ chức đoàn thể, thành phần dân tộc, tôn giáo hoặc một tổ chức nghề nghiệp trong địa phương Từng đại biểu HĐND đều có quyền và nghĩa vụ chuyển tải đầy đủ yêu cầu, kiến nghị của chính tổ chức, thành phần do mình đại diện vào chương trình hành động của HĐND, đồng thời xem xét, phân tích, đánh giá thể chế hoá những nội dung cần thiết thành nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước tại cơ sở Thông qua vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương của đại biểu HĐND, HĐND đã mang tính chất quyền lực Như vậy từ khía cạnh này đại

Trang 18

biểu HĐND giữ một vai trò quan trọng trong việc là người thay mặt nhân dân địa phương thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, trong chức trách là người thực hiện chức năng quyền lực trực tiếp giám sát mọi hoạt động của UBND và các cơ quan, đơn vị chuyên môn trực thuộc UBND cùng cấp, bảo vệ mọi quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân trên địa bàn dân cư của người đại biểu Đại biểu HĐND là người vừa quyết định những biện pháp cụ thể, vừa phải trực tiếp xử lý những vấn đề nẩy sinh từ thực tiễn quá trình thực hiện chính sách, pháp luật tại địa phương, kiểm nghiệm tính đúng đắn, phù hợp trong những quyết định của cơ quan cấp trên cũng như kịp thời phát hiện những vấn đề mới nẩy sinh tại cơ sở

Trong cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, xây dựng nhà nước Việt Nam thật sự

là nhà nước của dân, do dân và vì dân Tư tưởng xuyên suốt của Người luôn yêu cầu các cơ quan nhà nước phải lấy dân làm gốc, xem nhân dân là người chủ thực sự của đất nước và đảm bảo để nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp Từ cuộc bầu cử HĐND cấp xã khoá đầu tiên vào tháng

4 năm 1946 cho đến nay, tổ chức và hoạt động của HĐND xã luôn được củng cố, hoàn thiện theo hướng ngày càng phát triển để đảm bảo đúng đặc trưng là một cơ quan quyền lực, đại diện chân chính cho nguyện vọng, ý chí của tất cả nhân dân trên địa bàn xã Thực tiễn trong từng giai đoạn cách mạng Việt Nam đã chứng minh: nếu đảm bảo vị trí, vai trò của đại biểu HĐND trong chính quyền thì sẽ hạn chế được rất nhiều những tiêu cực phát sinh trong đời sống xã hội và trong quản lý nhà nước, giảm bớt những vụ việc khiếu kiện lên cấp trên và sẽ tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, công sức của nhân dân

Hơn 7 thập kỷ qua, từ khi nhà nước dân chủ cộng hoà Việt Nam ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng vị trí, vai trò của HĐND là nền tảng cấu trúc chiến lược trong xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở Do vậy, cho đến nay vị trí, vai trò của đại biểu HĐND luôn được tăng cường thông qua quá trình hoàn thiện và nâng cao vị thế thực quyền của cơ quan quyền lực nhà nước cấp cơ sở Trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước, đại biểu HĐND đã và đang phát huy vai trò của mình trong thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà

Trang 19

nước ở từng địa bàn dân cư Điều đó cho thấy đã có sự lớn mạnh và biến đổi sâu sắc

về số lượng và nâng lên chất lượng cả phẩm chất, năng lực, nhận thức của người đại biểu theo yêu cầu, nhiệm vụ ở cấp cơ sở

1.1.2 Khái niệm về năng lực

* Khái niệm năng lực:

Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có

Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn:

- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tưởng tượng…

- Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của

xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học

Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng

ở con người Năng lực của một người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả

Trang 20

năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi người

Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng đó với nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng

Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động như nghệ thuật, khoa học, thể thao là những hình thức mà chỉ những người có một số năng lực nhất đinh mới

- Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo

đã được hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn

- Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự

tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực như: Có người có năng lực

về điện, có người có năng lực về lái máy bay, có người có năng lực về thể thao

Năng lực của người lãnh đạo quản lý chính là năng lực tổ chức, Lê-nin đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết đối

Trang 21

với người cán bộ tổ chức là bất cứ người lãnh đạo nào cũng cần phải có: “Sự minh mẫn và tài sắp xếp công việc”, “sự hiểu biết mọi người`”, “tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người”, “sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn”,

“các phẩm chất ý chí`”, “khả năng hiểu biết mọi người và kỹ năng tiếp xúc với con người”

Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân

đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào chính năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt

Cần phân biệt năng lực với trí thức, kỹ năng, kỹ xảo:

- Trí thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình

- Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm từ thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó

- Kỹ xảo là những kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm

Còn năng lực là một tổ hợp phẩm chất tương đối ổn định, tương đối cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động, do đó người có trình

độ học vấn cao đại học, trên đại học hoặc có nhiều kinh nghiệm sống do công tác lâu năm và kinh qua nhiều cương vị khác nhau nhưng vẫn có thể hiểu năng lực cần thiết của người lãnh đạo quản lý như năng lực tổ chức, năng lực trí tuệ ) Nếu chỉ căn cứ vào bằng cấp hay quá trình công tác mà đề bạt một cán bộ là chưa đủ, phải

có căn cứ và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao để đánh giá năng lực cán bộ đảng viên thì mới đúng đắn, điều đó đã được Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định, tuy nhiên cũng cần thấy rằng giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có quan hệ mật thiết với nhau, năng lực tư duy không thể phát triển cao ở người có trình độ học vấn thấp

Năng lực tổ chức không thể có được ở người chưa hề quản lý, điều hành một một tổ chức, một đơn vị sản xuất, kinh doanh cụ thể do vậy khi đánh giá năng lực

Trang 22

của một cán bộ cần phải căn cứ vào hiệu quả hoàn thành công việc là chính, đồng

thời cũng cần biết được trình độ học vấn và quá trình công tác của người đó nữa

Năng lực được định nghĩa theo Bernard Wynne là: “một tập hợp các kỹ

năng, kiến thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích luỹ và sử dụng để đạt được kết

quả theo yêu cầu công việc ”

Năng lực = Kỹ năng + Kiến thức + Hành vi + Thái độ

Theo Raymond A.Noe, “năng lực muốn chỉ đến khả năng cá nhân giúp người

nhân viên thực hiện thành công công việc của họ bằng cách đạt được kết quả công

việc mong muốn Năng lực có thể là hiểu biết, kỹ năng, thái độ hay giá trị của tính

cách cá nhân”

Năng lực = Hiểu biết + Kỹ năng + Thái độ + Giá trị của tính cách cá nhân

Tóm lại, khái niệm năng lực được hiểu là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái

độ của cán bộ, chuyên viên nhằm thực hiện tốt công việc được giao

1.2 Các yếu tố cấu thành năng lực

Hình 1.1: Các yếu tố cấu thành năng lực

Năng lực trong một con người được cấu thành bởi các nhân tố kiến thức, kỹ

năng thực hiện công việc và thái độ trong công việc (có thể coi thái độ là phẩm chất

đạo đức như một số quan điểm khác)

• Kiến thức:

“Kiến thức là những điều hiểu biết có được do từng trải, hoặc do học tập (nói

tổng quát).” (theo Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt 2006) hay theo Christian

Batal thì “Kiến thức là những hiểu biết chung hoặc chuyên ngành của một cá nhân

cần thiết để đảm nhiệm một vị trí lao động nào đó.”

Trang 23

Kiến thức bao gồm kiến thức nghề nghiệp (kiến thức chuyên môn, kiến thức của lĩnh vực làm việc, kiến thức quản lý) và những kiến thức khác có ắch cho công việc Kiến thức là quá trình tắch luỹ từ học tập, đào tạo, công việc và sự quan sát, học hỏi của cá nhân Kiến thức chịu ảnh hưởng của yếu tố học vấn, kinh nghiệm, định hướng cá nhân Kiến thức nghề nghiệp có thể xác định và định thành tiêu chuẩn được Những kiến thức liên quan khác khó xác định và khó đưa ra tiêu chuẩn

để đánh giá

Ớ Kỹ năng:

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ nãng Những định nghĩa này thýờng bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của ngýời viết Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ nãng đýợc hình thành khi chúng

ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ nãng học đýợc do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ nãng luôn có chủ đắch và định hýớng rõ ràng

Kỹ năng thực hiện công việc có thể hiểu ỘKỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.Ợ (theo Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt 2006) hay ỘKỹ năng là sự nắm vững cách sử dụng các công cụ, các kỹ thuật hay các phương pháp cần thiết để thực hiện một hoạt động cụ thể nào đó.Ợ (theo Christian Batal)

Kỹ năng thực hiện công việc quyết định sự thành công nghề nghiệp, hay độ hiệu quả công việc Kiến thức và kỹ năng có thể cùng chiều hay ngược chiều nhau Tức là, người có kiến thức rộng có thể có kỹ năng thành thạo, hoặc người có kiến thức rộng nhưng không có kỹ năng thành thạo hoặc ngược lại Kỹ năng mang yếu tố thực hành Kỹ năng mang tắnh đặc thù nghề nghiệp, khác nhau với lĩnh vực, vị trắ, công việc

Vậy, Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục

một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi.

Cần thiết phải phân biệt kỹ năng với một số thứ có vẻ giống kỹ năng

Trang 24

1) Sự khác nhau giữa kỹ năng và phản xạ: Phản xạ là phản ứng của cơ thể với môi trường Phản xạ mang tính thụ động Kỹ năng ngược lại là phản ứng có ý thức và hoàn toàn mang tính chủ động Ví dụ: Cùng là đám cháy, nếu theo phản xạ thì con người có xu hướng bỏ chạy khỏi đám cháy, nhưng nếu là lính chữa cháy, đã được rèn luyện kỹ năng đấu tranh với lửa thì anh ta lại chạy lại đám cháy và dùng các kỹ năng để dập lửa

2) Sự khác nhau giữa kỹ năng và thói quen: Hầu hết các thói quen hình thành một cách vô thức và khó kiểm soát Trong khi đó kỹ năng được hình thành một cách

có ý thức do quá trình luyện tập

3) Thói quen rất khác với kiến thức Thậm chí có một số người còn nhầm lẫn kiến thức là kỹ năng cứng Vậy đâu là khác biệt Kiến thức là biết, là hiểu nhưng chưa bao giờ làm, thậm chí không bao giờ làm Trong khi đó kỹ năng lại là hành động thuần thục trên nền tảng kiến thức Vì không tác động vào thực tại khách quan nên kiến thức thường ít tạo ra những thành quả cụ thể cho cuộc đời Có thể thấy rất nhiều những giáo viên suốt đời dậy về lý thuyết kinh tế và không tham gia làm kinh doanh nên cho dù họ có hiểu rõ về nguyên lý của thị trường đến mấy nhưng bản thân họ cũng không làm ra nhiều tiền

Nhiều học giả cho rằng chỉ có kiến thức suông thì chưa mạnh sử dụng kiến thức mới là sức mạnh Nói một cách khác kỹ năng chính là sức mạnh

Phân loại kỹ năng ra sao?

Có nhiều cách phân loại kỹ năng khác nhau Ở đây xin nêu ra một số cách điển hình

- Nếu xét theo tổng quan thì kỹ năng phân ra làm 3 loại: Kỹ năng chuyên môn, kỹ năng sống và kỹ năng làm việc

- Nếu xét theo liên đới chuyên môn: kỹ năng cứng, kỹ năng mềm và kỹ năng hỗn hợp

Theo tính hữu ích cộng đồng: hữu ích và phản lợi ích xã hội Cần nói thêm rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống cũng chỉ là một nhóm kỹ năng với tên gọi

khác nhau Chúng ta cũng nhận thấy rằng kỹ năng mềm hay kỹ năng sống là những

Trang 25

nhóm kỹ năng thiết yếu giúp cho chủ thể tồn tại và thăng hoa trong cuộc sống Đã

nhiều lần chúng tôi thử lý giải tại sao lại gọi kỹ năng sống là kỹ năng “mềm” Trước hết cũng có thể đây là nhóm kỹ năng mang tính linh hoạt, cơ động và một số quốc gia không bắt buộc mọi người phải học những kỹ năng này Cũng có thể đây là góc nhìn và thuật ngữ của những người quản trị sản xuất trước đây, họ cho rằng chỉ có cái gì liên quan đến máy móc thiết bị mới là “cứng” còn phần còn lại là “mềm” Một giả thiết khác là cách gọi của dân công nghệ thông tin khi mà mọi chuyện

thường được qui ra “phần cứng” và “phần mềm” Cá nhân tôi thì cho rằng cách gọi

như trên đã gây nhiều thất thiệt cho một nhóm kỹ năng quan trọng như “kỹ năng sống” Nếu gọi đó là kỹ năng “mềm” thì nhiều người sẽ cho rằng đó những thứ

không cần thiết, có cũng được mà không cũng không sao Với một khoảng thời gian dài thì quan niệm này sẽ tác động lên cả hệ thống giáo dục chứ không còn là chuyện nhỏ của mỗi cá nhân nữa Một khi không coi trọng, không dành sự quan tâm đúng mức, không đầu tư thích đáng, không tìm tòi thực sự, không nghiên cứu và học hỏi đến nơi đến chốn thì không thể sở hữu “kỹ năng sống” một cách đầy đủ Và hậu quả của nó là mỗi cá nhân dễ trở thành những con người lệch lạc, thiếu hoàn thiện và cuộc sống bị bấp bênh và chất lượng sống không cao

Kỹ năng được hình thành ra sao?

Bất cứ một kỹ năng nào được hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kỹ năng đó Dù hình thành nhanh hay chậm thì kỹ năng cũng đều trải qua những bước sau đây:

- Hình thành mục đích Lúc này thường thì chủ thể tự mình trả lời câu hỏi

“Tại sao tôi phải sở hữu kỹ năng đó?”; “Sở hữu kỹ năng đó tôi có lợi gì?”…

- Lên kế hoạch để có kỹ năng đó Thường cũng là tự làm Cũng có những kế hoạch chi tiết và cũng có những kế hoạch đơn giản như là “ngày mai tôi bắt đầu luyện kỹ năng đó”

Trang 26

- Cập nhật kiến thức / lý thuyết liên quan đến kỹ năng đó Thông qua tài liệu, báo chí hoặc buổi thuyết trình nào đó Phần lớn thì những kiến thức này chúng ta được học từ trường và từ thày của mình

- Luyện tập kỹ năng Bạn có thể luyện tập ngay trong công việc, luyện với thày hoặc tự mình luyện tập

- Ứng dụng và hiệu chỉnh Để sở hữu thực sự một kỹ năng chúng ta phải ứng dụng nó trong cuộc sống và công việc Công việc và cuộc sống thì biến động không ngừng nên việc hiệu chỉnh là quá trình diễn ra thường xuyên nhằm hướng tới việc hoàn thiện kỹ năng của chúng ta Một khi bạn hoàn thiện kỹ năng thì cũng có nghĩa

là bạn đang hoàn thiện bản thân mình

Kỹ năng riêng với đại biểu hội đồng nhân dân, năng lực đại biểu có thể thể hiện qua:

Một là, khả năng xác lập tri thức Đó là khả năng tiếp thu lý luận, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước một cách đúng đắn; khả năng phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề mới; khả năng tổng kết thực tiễn; khả năng vận dụng sáng tạo lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách để xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, kế sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thực tiễn địa phương

Hai là, khả năng xác lập quan hệ giữa các tri thức Đó là khả năng liên kết tri thức ở các lĩnh vực, các ngành nghề chuyên môn đa dạng, phong phú thành một tổng thể ở mức độ khái quát cao Đồng thời cũng phân định được tính đặc thù giữa các loại tri thức, thông tin để khi vận dụng vào thực tiễn vừa phải đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể ở tầm quốc gia, vừa phải đảm bảo tính đặc thù phù hợp với địa phương

Ba là, khả năng hiện thực hoá tri thức Đó là khả năng biến những tri thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương, kế hoạch hành động làm biến đổi hiện thực trực tiếp Biểu hiện ở khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn; vận dụng cái chung một cách đúng đắn vào từng tình huống cụ thể Đó cũng là khả năng tổng hợp để có cái nhìn hệ thống, nắm được cái chủ yếu, cái bản chất của

Trang 27

sự vật, hiện tượng trong sự vận động của chúng, trên cơ sở đó đưa ra quyết định đúng đắn, sát hợp với thực tế địa phương

Như vậy, chất lượng tư duy lý luận của người đại biểu HĐND có giá trị định hướng đúng đắn hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ Chất liệu trực tiếp tạo nên năng lực đó là những tri thức lý luận tiếp thu từ chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, từ kho tàng tri thức của nhân loại, từ đường lối chủ trương của Đảng, chính sách , pháp luật của Nhà nước và từ sự trải nghiệm trong phong trào cách mạng sâu rộng của địa phương

- Chất lượng tổ chức thực tiễn: Là khả năng hình thành một cơ cấu chỉnh thể như một bộ máy với những bộ phận có chức năng ổn định hay những con người cụ thể có nhiệm vụ xác định, hoạt động có trật tự, có nề nếp, nhịp nhàng cân đối, có hiệu lực, hiệu quả nhằm hiện thực hoá mục tiêu đề ra

• Thái độ:

Thái độ là: “Tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó” hay “Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình” Trong công việc, thái độ hành vi là cách hành động phù hợp để thực hiện một cấp độ việc làm

cụ thể”

Thái độ trong công việc: thái độ là cách suy nghĩ (nhận thức), cách ứng xử (ý thức) trong công việc Thái độ làm việc ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá trình làm việc

1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực

Chuyên môn nghiệp vụ tương ứng với việc nhân viên nắm vững các năng lực nghề nghiệp cần thiết để có thể thực hiện công việc một cách tốt nhất và trong một thời gian dài Không thể thực hiện đánh giá năng lực nếu trước đó không xác định một khung năng lực tiêu chuẩn của nghề nghiệp hay của công việc có liên quan Chính vì vậy, đánh giá năng lực của một cá nhân là thống kê những kiến thức, kỹ năng và thái độ hành vi mà cá nhân đó có được trên cơ sở khung năng lực tiêu chuẩn, sau đó đánh giá mức độ nắm vững những năng lực đó để xác định:

- Những năng lực mà cá nhân đó nắm vững

Trang 28

- Những năng lực cần thiết mà cá nhân đó không có

- Những năng lực mà cá nhân đó có, nhưng không nắm vững so với yêu cầu của nghề nghiệp hay yêu cầu của công việc

Đánh giá năng lực là hoạt động đánh giá phức tạp Năng lực tương ứng với kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ cho phép chúng ta thực hiện các hoạt động công việc nào đó Đánh giá năng lực và chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên trong

vị trí làm việc cũng được thực hiện trên cơ sở tiêu chí và chỉ số cụ thể Tuy nhiên, đây không còn là những tiêu chí kết quả mà là tiêu chí nắm vững năng lực Tiêu chí năng lực xác định điều cần đánh giá để nhận định chính xác mức độ nắm vững năng lực và chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên Trên thực tế, năng lực của một nhân viên phát triển thông qua những hoạt động hoặc công việc mà nhân viên đó đã thực hiện thành công Khi một nhân viên chứng tỏ mình có khả năng thực hiện hoàn hảo một hoạt động hay một công việc nào đó, người ta có thể cho rằng anh ta làm chủ được tất cả những năng lực cần thiết cho việc thực hiện một cách đúng đắn hoạt động hoặc công việc này

Khi nhân viên hoàn thành xuất sắc việc soạn thảo một bản báo cáo kiểm soát, người ta có thể nhận xét rằng ngoài những năng lực kỹ thuật liên quan đến kiểm soát, anh ta còn nắm vững những năng lực khác như: biết các quy tắc trình bày một bản báo cáo; biết sử dụng các phương pháp tổng hợp; biết các kỹ thuật báo cáo; có khả năng nhìn nhận tình hình một cách khách quan;

Vì vậy, các tiêu chí đánh giá năng lực tương ứng với các hoạt động hoặc công việc do nhân viên thực hiện Công việc hoặc hoạt động được dùng để xác định năng lực và để đánh giá những năng lực đó Điều này có nghĩa là việc phân tích một tiêu chí duy nhất có thể cho phép đánh giá đồng thời mức độ nắm vững nhiều năng lực khác nhau, bởi những năng lực thường hoạt động theo “cụm”, có nghĩa là nhiều năng lực khác loại được phối hợp với nhau để thực hiện một hoạt động hay một công việc

Trên thực tế, năng lực tập trung vào những gì bạn thực hiện để làm tốt công việc của mình, chứ không đơn thuần chỉ là những công cụ mà bạn cần (như Kiến

Trang 29

thức, Kỹ năng và Thái độ) để có thể làm tốt công việc Các năng lực tập trung vào đầu ra chứ không phải đầu vào (ví dụ như bằng cấp, kiến thức, tay nghề) nhưng không thể đạt được kết quả công việc như mong đợi thì không thể được coi là có năng lực Nói cách khác, năng lực đòi hỏi người nắm giữ nó phải tập hợp đuợc tất

cả các yếu tố cần thiết như kiến thức, kỹ năng cộng với thái độ hành vi và khéo léo kết hợp chúng để đạt được các kết quả đầu ra

Theo quy định tại điều 3, Luật Bầu cử đại biểu HĐND, đại biểu HĐND phải đáp ứng đầy đủ 5 tiêu chuẩn sau:

Một là, trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng, phát triển địa phương;

Hai là, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

Ba là, có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu HĐND, có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật, am hiểu tình hình kinh tế - xã hội để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương;

Bốn là, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;

Năm là, có điều kiện tham gia các hoạt động của HĐND [23, tr.6]

Về cơ bản, năng lực đại biểu HĐND thể hiện thông qua hiệu quả hoạt động của họ Liên quan đến hiệu quả hoạt động của người đại biểu HĐND hiện nay có những quan niệm khác nhau, trong đó có quan niệm cho rằng hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND đồng nghĩa với những chi phí ít nhất (bao gồm những chi phí

về vật chất, thời gian và tinh thần…) Quan niệm như vậy phải chăng chỉ mới đánh giá được về mặt định lượng, mà hoạt động của đại biểu HĐND ở đây có những mặt không thể định lượng được, mà phải vừa có tính định tính, vừa có tính định lượng Trong thực tiễn, hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND là kết quả thực tế do việc thực hiện các quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của người đại biểu đem lại Kết quả đó càng cao thì hiệu quả càng lớn và ngược lại

Trang 30

Trên cơ sở các tiêu chuẩn của người đại biểu HĐND theo quy định của pháp luật hiện hành, có thể nêu ra một số tiêu chí đánh giá chất lượng của đại biểu HĐND, căn cứ vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu thể hiện thông qua hiệu quả hoạt động của họ trên các phương diện sau:

Một là, mức độ chính xác và kết quả của việc phản ánh ý kiến của cử tri, những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong xã đến HĐND và các cơ quan nhà nước khác Để làm tốt công việc này đòi hỏi người đại biểu phải thực hiện nghiêm túc chế độ tiếp xúc với cử tri, trả lời có tinh thần trách nhiệm trước những yêu cầu

và kiến nghị của cử tri, của nhân dân địa phương Người đại biểu phải luôn gần dân, sát dân, biết lắng nghe và tôn trọng các ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đồng thời phải truyền tải thật chính xác, khách quan, trung thực ý kiến của cử tri tới HĐND và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Hai là, khả năng bảo vệ nhân dân của người đại biểu Biểu hiện cụ thể của vấn

đề này là người đại biểu có tinh thần đấu tranh và có đấu tranh kiên quyết với những hành vi vi phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp, tự do, danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khoẻ, tài sản của công dân hay không; người đại biểu có sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân để bảo vệ quyền lợi của nhân dân hay không; họ có giám đấu tranh chống lại các quyết định của các cơ quan nhà nước khi các quyết định đó không đạt tính khả thi trên thực tế, thậm chí làm phương hại đến đời sống của nhân dân hay không Trước khi đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến việc phát triển kinh tế, xã hội…của địa phương, người đại biểu có thẳng thắn tranh luận để đi đến các phương án tối ưu nhất, người đại biểu có thể hiện được khả năng quyết đoán, giám làm, giám chịu trước nhân dân hay không…

Thứ ba, khả năng tiến hành tốt các hoạt động chuẩn bị trước khi tham gia kỳ họp của các đại biểu phải thật sự công phu, chu đáo, có tinh thần trách nhiệm cao Trước khi tham dự kỳ họp, người đại biểu phải tiến hành tiếp xúc cử tri, chuẩn bị tài liệu, nghiên cứu các tài liệu được cung cấp liên quan đến chương trình nghị sự của

kỳ họp, tiến hành thảo luận tổ, tham gia các cuộc họp chuyên đề…để có được các thông tin và sự hiểu biết thấu đáo các vấn đề liên quan đến kỳ họp Trước khi tham gia thảo luận xây dựng một nghị quyết, người đại biểu phải nắm bắt một cách chính xác, sâu sắc vấn đề cần được quyết định

Trang 31

Bốn là, khả năng giải quyết nhanh nhạy các vấn đề của cử tri đặt ra và có uy tín với cử tri Muốn vậy, người đại biểu phải có trình độ hiểu biết về mọi mặt nhất

là hiểu biết về pháp luật và phải có tinh thần phấn đấu cao Đồng thời người đại biểu phải thường xuyên duy trì mối quan hệ với cử tri và nhân dân địa phương, luôn bám sát thực tiễn, nắm vững tâm tư, nguyện vọng, yêu cầu và luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân

Năng lực của đại biểu HĐND trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ đại biểu cần đảm bảo các yêu cầu cụ thể trên các phương diện sau: Phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình độ, kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND

Thứ nhất, về phẩm chất chính trị

Phẩm chất chính trị là yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng của người đại biểu HĐND Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần thúc đẩy người đại biểu HĐND vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được nhân dân giao phó Phẩm chất

chính trị là yêu cầu cơ bản đối với người đại biểu HĐND

Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tuỵ với công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của nhân dân; là bản lĩnh chính

trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội

Phẩm chất chính trị đòi hỏi người đại biểu HĐND phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đấu tranh chống lại các hiện tượng lệch lạc, những biểu hiện mơ hồ, sai trái đường lối, chủ trương,

chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước

Người đại biểu HĐND có phẩm chất chính trị tốt là người luôn trăn trở, băn khoăn trước những tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của nhân dân, luôn tìm cách để giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân; trăn trở trước những vấn đề phát triển đi lên của địa phương, cùng nhân dân tìm cách tháo gỡ những khó khăn, phát huy những tiềm năng sẵn có của địa phương để phát triển đi lên, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; tích cực tuyên truyền, vận động gia đình, nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp

luật của Nhà nước

Trang 32

Thứ hai, về đạo đức cách mạng

Đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnh của người đại biểu HĐND Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây chết; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy

cũng không lãnh đạo được nhân dân" [20, tr.252]

Người đại biểu HĐND là người gần dân nhất, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân Bởi vậy đạo đức cách mạng của họ sẽ có tác động rất lớn đối với người dân, có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả công tác của họ Nếu người đại biểu HĐND có đầy đủ các phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” thì sẽ được nhân dân tin tưởng và gửi gắm những tâm tư nguyện vọng Ngược lại, nếu người đại biểu HĐND không có đủ các phẩm chất đạo đức trên thì họ sẽ bị mất niềm tin của nhân dân, mọi quyết định của họ chỉ là võ đoán, xa rời thực tế, không phù hợp với lợi ích

của nhân dân

Người đại biểu HĐND phải là người gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nói đi đôi với

làm, là tấm gương sáng để nhân dân noi theo

Người đại biểu HĐND có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấu tranh chống lại các tiêu cực xã hội như: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa sút

về đạo đức lối sống, chạy theo địa vị, danh lợi, tranh giành, kèn cựa lẫn nhau, mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý

chuyên môn nghiệp vụ)

- Trình độ học vấn (trình độ văn hoá) không phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, nhưng đây là tiêu chí quan trọng ảnh

Trang 33

hưởng đến hoạt động của người đại biểu Nó là nền tảng cho việc nhận thức, tiếp thu chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như đánh giá được tình hình cụ thể của địa phương Hạn chế về trình độ học vấn sẽ hạn

chế về khả năng nhận thức cũng như năng lực hoạt động của người đại biểu HĐND

- Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định quan điểm, lập trường giai cấp công nhân của người đại biểu HĐND Thực tế cho thấy nếu người đại biểu HĐND có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân, tin yêu và sẽ vận động được nhân dân thực hiện tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Ngược lại, nếu lập trường chính trị của người đại biểu HĐND không vững vàng, hoạt động vì lợi ích cá nhân, thoái hoá, biến chất sẽ đánh mất lòng tin ở nhân dân, dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp, thậm chí còn làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, ảnh hưởng tới uy tín của cơ quan nhà nước, ảnh hưởng đến tính chất ưu việt vốn có của

chế độ nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học Đây là những kiến thức mà một người đại biểu HĐND buộc phải có khi tham gia hoạt động của người đại biểu Nếu thiếu kiến thức chuyên môn sẽ rất khó khăn khi giải quyết công việc, đặc biệt khi tham gia quyết định một vấn đề nào đó của địa

phương trong lĩnh vực chuyên môn nhất định

Tuy nhiên, một người đại biểu HĐND ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định còn phải là người có hiểu biết rộng rãi các vấn đề cơ bản về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đủ để họ vận dụng vào hoạt động của người đại biểu khi cần thiết Hoạt động của đại biểu HĐND là những hoạt động đòi hỏi gắn kết giữa hoạt động của đại biểu với tư cách là đại biểu và hoạt động của họ với tư cách

là một nhà chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể của từng đơn vị, cơ quan nơi đại

biểu công tác

Thứ tư, về kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND

Để có kỹ năng hoạt động tốt, người đại biểu HĐND phải luôn rèn luyện phong cách tư duy khoa học và xây dựng cho mình một phương pháp làm việc khoa học Phong cách tư duy khoa học đối lập với phong cách tư duy kiểu kinh viện, giáo

Trang 34

điều, duy ý chí Đại biểu HĐND phải không ngừng tự học tập, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt, phải gắn lý luận với thực tiễn, đồng thời phải rèn luyện phong cách làm việc có kế hoạch, có chuẩn bị, có quan điểm thực tiễn và phải học cách nói của quần chúng, học cách làm của quần chúng… Người đại biểu HĐND có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực mới hoàn thành tốt được các nhiệm

vụ được giao, mới được quần chúng nhân dân tín nhiệm Bởi vì người đại biểu HĐND nếu có tri thức khoa học, có lý luận cách mạng và luôn tâm huyết với nhiệm

vụ, nhưng lại không có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, xa rời thực tiễn,

thậm chí chuyên quyền, quan liêu, độc đoán…

Kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND là khả năng vận dụng khéo léo, thành thạo những kiến thức và kinh nghiệm vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu Kỹ năng hoạt động của người đại biểu HĐND được biểu hiện cụ thể trên các mặt sau: Kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động của đại biểu HĐND, kỹ năng tiếp xúc với cử tri, kỹ năng tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, kỹ

năng chất vấn, kỹ năng giám sát, cụ thể:

+ Kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động của đại biểu HĐND

Xây dựng kế hoạch hoạt động của đại biểu HĐND phải dựa trên một số nội

dung cụ thể sau:

Phải kết hợp chặt chẽ với hoạt động mang tính chất chuyên môn của đại biểu HĐND Đây là một vấn đề quan trọng, do hầu hết các đại biểu HĐND không phải là đại biểu chuyên trách; vừa thực hiện nhiệm vụ đại biểu vừa đảm nhiệm công tác chuyên môn khác nên thời gian giành cho hoạt động với tư cách là đại biểu phải hết

sức được chú ý

Kế hoạch, chương trình hoạt động của đại biểu HĐND phải được xây dựng trên chương trình hoạt động của HĐND cả nhiệm kỳ, từng năm và sáu tháng Do kỳ họp của HĐND các cấp nói chung, chỉ có hai kỳ trong một năm (không kể các kỳ họp chuyên đề và bất thường vì vậy đại biểu HĐND cần dựa vào chương trình sáu tháng, một năm và cả nhiệm kỳ của HĐND để xây dựng chi tiết cụ thể các nội dung

công việc cần làm để thực hiện được nhiệm vụ của một đại biểu HĐND

Trang 35

Chương trình hoạt động của mỗi đại biểu HĐND phải được thông báo cho HĐND, cử tri khu vực nơi đại biểu HĐND được bầu để theo dõi, giám sát và tạo

điều kiện hỗ trợ của cử tri

+ Kỹ năng sử dụng và tiếp xúc với cử tri

Đây là vấn đề quan trọng và có tính thường xuyên của đại biểu HĐND, việc giữ mối liên hệ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri là một trong những nhiệm vụ của đại biểu HĐND Cụ thể đại biểu HĐND phải liên hệ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu kiến nghị của cử tri Sau mỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động gia đình và cùng nhân dân

thực hiện các nghị quyết mà HĐND đã thông qua

Ngoài việc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp theo quy định, đại biểu có trách nhiệm gặp gỡ cử tri, tìm hiểu vấn đề cử tri quan tâm Kỹ năng tiếp xúc cử tri bao gồm: chọn địa bàn, đối tượng và thời điểm, chuẩn bị nội dung phát biểu, cách ghi

chép, tổng hợp và xử lý các kiến nghị của cử tri

Đại biểu HĐND phải lựa chọn địa bàn trong các địa bàn thuộc đơn vị bầu cử của mình cho phù hợp với nội dung cần tiếp xúc…Có thể mỗi lần tiếp xúc nên tổ chức ở các địa bàn khác nhau Ví dụ khi bàn về nội dung xoá đói, giảm nghèo thì tiếp xúc cử tri ở những nơi có nhiều hộ nghèo HĐND họp ra nghị quyết về công tác phòng chống ma tuý thì tổ chức tiếp xúc ở những nơi có nhiều tụ điểm diễn biến phức tạp về vấn đề này Về địa bàn tiếp xúc cử tri không nên hạn chế, mỗi kỳ họp càng tổ chức ở nhiều điểm tiếp xúc cử tri thì đại biểu càng có điều kiện thu thập đầy

đủ ý kiến của cử tri, nắm được đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của cử tri

Mỗi đợt tiếp xúc cử tri phải phù hợp Căn cứ vào nội dung kỳ họp mà lựa chọn tiếp xúc cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất Đại biểu có thể lựa chọn cách tiếp xúc với mọi thành phần hoặc chỉ tiếp xúc với những người trực tiếp công tác tại lĩnh vực ngành nghề mà HĐND bàn và ra nghị quyết tại kỳ họp Số lượng cử tri ở các buổi tiếp xúc không hạn chế, càng nhiều càng tốt, thông qua các ý kiến của cử tri

Trang 36

giúp cho đại biểu HĐNDnắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của số đông cử tri, hiểu

rõ được các vấn đề đang đặt ra cho địa phương, đồng thời cử tri cũng tham gia đóng góp nhiều ý kiến quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội và những tồn tại yếu kém

cần được khắc phục

Cách chuẩn bị và trình bày nội dung phát biểu trước cử tri đòi hỏi đại biểu phải thu thập đầy đủ tài liệu liên quan đến nội dung tiếp xúc cử tri, chuẩn bị đề cương những vấn đề cần phát biểu tại buổi tiếp xúc Tại các buổi tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thì chủ yếu là đại biểu nghe cử tri phát biểu ý kiến Nhưng trước khi phát biểu ý kiến thì đại biểu phải nêu lên những nội dung trong kỳ họp sắp tới, yêu cầu những

chỉ trên địa bàn thuộc đơn vị bầu cử mà có thể cả đơn vị hành chính

Tiếp xúc với phương tiện thông tin đại chúng có thể thông qua báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình và được thực hiện dưới hình thức trả lời phỏng vấn hoặc

phát biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng

Để một cuộc phỏng vấn HĐND có kết quả tốt cần xác định và thoả thuận về thời gian và nội dung chính của cuộc phỏng vấn Xác định địa điểm tiến hành phỏng vấn, mục đích của cuộc phỏng vấn, giải thích một vấn đề hay biết quan điểm, ý định của đại biểu về một vấn đề Dung lượng thời gian phỏng vấn nếu dài quá sẽ khó giữ được sự tập trung hoặc nếu kéo dài mà không chuẩn bị sẽ bị hạn chế ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn Cách thức cung cấp thông tin cuộc phỏng vấn lên các phương tiện thông tin đại chúng: trực tiếp, đưa tin, truyền hình… Ngôn ngữ sử dụng khi trả lời phỏng vấn mang tính phổ thông Không sử dụng ngôn từ địa phương nếu như cuộc phỏng vấn chung cho cả địa phương rộng Đại biểu HĐND khi trả lời trực tiếp các câu hỏi phỏng vấn không diễn đạt dài dòng và lệch chủ đề Khi trả lời phỏng vấn không để người nghe hiểu sai hay hiểu nhiều nghĩa câu trả lời Điều quan trọng hơn

Trang 37

là đại biểu HĐND phải tự tin chính mình khi trả lời, không rụt rè hay lưỡng lự cả

khi trả lời biết hay không biết

Đại biểu HĐND phát biểu trước kỳ họp, trước cử tri và trên các phương tiện thông tin đại chúng có thể thực hiện thông qua hai hình thức:

1/ Phát biểu trực tiếp không có bài chuẩn bị sẵn;

2/Phát biểu dưới hình thức phát biểu một số nội dung đã được chuẩn bị trước

Cả hai hình thức phát biểu nêu trên đều đòi hỏi phải có sự chuẩn bị Tuỳ theo từng cuộc họp hay nội dung phát biểu mà đại biểu phải xác định rõ những nội dung phát biểu Thiếu sự chuẩn bị đó, có thể làm cho bài phát biểu không có đích và thông tin

cung cấp không có giá trị cho người nghe

Tiếp xúc với phương tiện thông tin đại chúng đối với đại biểu HĐND cũng được xem xét trên khía cạnh thứ hai Đó là cơ hội để đại biểu HĐND có thêm nhiều

thông tin cần thiết nhằm phục vụ cho hoạt động của mình

trực HĐND đưa ra thảo luận tại kỳ họp

Thứ ba, cách thức phân biệt chất vấn với câu hỏi thường.Trong thực tế, chất vấn cũng có thể được thể hiện dưới dạng một câu hỏi, nhưng chất vấn khác câu hỏi

thường về cơ sở pháp lý, về mục đích về phạm vi quan hệ và về hậu quả pháp lý

Về cơ sở pháp lý: Chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu HĐND được pháp

luật quy định

Trang 38

Đại biểu HĐND ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Thường trực HĐND Thường trực HĐND chuyển chất vấn đến người bị chất vấn và tổng hợp các vấn đề của Đại biểu HĐND để báo cáo HĐND… Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu HĐND không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị HĐND tiếp tục thảo luận kỳ họp đó, đưa ra thảo luận tại kỳ họp khác của HĐND hoặc kiến nghị HĐND xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn HĐND đưa ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị

chất vấn khi xét thấy cần thiết [24, tr.49]

Còn câu hỏi thường của đại biểu HĐND không được quy định trong các văn

bản pháp luật

Về mục đích: Câu hỏi chất vấn không giống như câu hỏi thường là để nhằm thu thập thông tin, mà cùng với việc thu thập thông tin còn để làm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn Vì vậy trước khi nêu câu hỏi chất vấn, đại biểu HĐND phải

chú ý tìm hiểu rất kỹ, nắm nhiều thông tin về vấn đề mà mình chất vấn

Về phạm vi quan hệ: Câu hỏi thường được đặt ra trong quan hệ cá nhân giữa người hỏi và người được hỏi Còn chất vấn khi đã được nêu lên phải đúng thể thức được pháp luật quy định Như vậy chất vấn và trả lời chất vấn không phải là quan

hệ cá nhân mà là quan hệ thực thi quyền lực nhà nước giữa đại biểu HĐND và

người bị chất vấn

+Kỹ năng giám sát

Đại biểu HĐND có chức năng, giám sát các lĩnh vực về tình hình phát triển

kinh tế ở địa phương

Để thực hiện tốt chức năng giám sát đại biểu HĐND cần nghiên cứu kỹ nghị quyết của HĐND, nắm bắt các thông tin kịp thời Thông tin được thể hiện trên các văn bản chỉ đạo điều hành của UBND, qua các cuộc họp, các báo cáo, phản ánh của đại biểu HĐND, dư luận, đơn thư khiếu nại, tố cáo và các vấn đề được phản ánh

trên các phương tiện thông tin đại chúng

Các đại biểu HĐND cần xác định nội dung giám sát với thời gian thích hợp, tránh tổ chức dàn trải, không xác định được trọng tâm, đến việc cần kiểm tra giám sát lại không làm, như vậy sẽ mất thời gian và hiệu quả giám sát thấp Cần xác định

Trang 39

rõ phương pháp giám sát, bám sát vào từng nội dung công việc cụ thể và ấn định

phương pháp giám sát cho phù hợp là yếu tố quyết định hiệu quả giám sát;

Đại biểu HĐND cần lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và ý kiến phản ánh của cử tri, căn cứ với chính sách, pháp luật, nghị quyết của HĐND và thực tiễn chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện ở cơ sở nơi đại biểu HĐND cấp xã công tác mà chọn

hợp đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết

Thứ hai, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng và sự phản ánh chính đáng của cử tri,

gặp gỡ các cơ quan chức năng để chất vấn, giám sát những điều mà cử tri phản ánh Đơn vị chịu sự giám sát phải có trách nhiệm:

1/Trả lời trực tiếp (hoặc trả lời bằng văn bản) các chất vấn, yêu cầu, kiến nghị

của đại biểu HĐND;

2/Tạo mọi điều kiện thuận lợi để đại biểu HĐND cấp xã tiến hành giám sát Cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đến nội dung giám sát và giải trình các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình khi được yêu cầu; 3/Chịu trách nhiệm trước pháp luật trong trường hợp có hành vi cản trở hoặc

không thực hiện những yêu cầu qua hoạt động giám sát của đại biểu HĐND

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực

1.4.1 Các yếu tố công việc và môi trường làm việc

Những câu hỏi được đặt ra: Để làm công việc nhất định, người thực hiện cần những hiểu biết, kỹ năng, thái độ gì? Để đánh giá năng lực một cán bộ chuyên viên, cần xem xét những phương tiện gì?

Trang 40

Các yếu tố tác động đến năng lực làm việc của cán bộ bao gồm: học vấn, kinh nghiệm, đặc thù công việc, hiểu biết về kinh tế - xã hội, trang thiết bị, văn hóa công sở, môi trường chung…

• Học vấn:

Học vấn nói lên nền tảng kiến thức được đào tạo bài bản trong các trường đại học, cao đẳng, học viện Học vấn đóng vai trò tiên quyết trong việc lựa chọn nghề nghiệp, ảnh hưởng quan trọng đến việc tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp sau này Tuy nhiên, học vấn đóng vai trò rất nhỏ trong kiến thức tổng hợp mà người cán bộ chuyên viên phải hội tụ để thực hiện công việc sau này

• Kinh nghiệm:

Kinh nghiệm phản ánh lĩnh vực, kiến thức mà một người đã trải qua, đã từng tiếp xúc Đây là cơ sở để rút ngắn thời gian học hỏi công việc khi làm việc với lĩnh vực đã từng trải qua Đây có thể là yếu tố quyết định sự thành công của một số nghề nghiệp ví dụ quản lý cấp cao, lĩnh vực tài chính,… Kinh nghiệm không đồng nhất với khoảng thời gian tiếp xúc, làm việc Kinh nghiệm chỉ được đánh giá chính xác khi thực hiện công việc Bởi vậy, thực tế rất khó đưa ra tiêu chí để đánh giá chính xác kinh nghiệm có ích

Trong luận văn này, tiêu chí chỉ dừng lại mức độ lĩnh vực đã từng tiếp xúc - làm việc - công việc đã từng đảm nhiệm, độ dài thời gian tiếp xúc - làm việc

• Đặc thù công việc:

Mỗi nghề, mỗi công việc đòi hỏi hiểu biết, kỹ năng khác nhau Đặc thù công việc làm lãnh đạo quản lý: Đây là loại lãnh đạo quản lý: lao động trí óc; công cụ làm việc: là máy tính, internet, thông tin; văn bản của Đảng, của Nhà nước, cơ quan, văn phòng phẩm; đối tượng lao động là các hệ thống các văn bản soạn thảo, báo cáo, trình, quyết định Điều này ảnh hưởng đến năng lực cán bộ quản lý: Kiến thức liên quan đến chỉ đạo của cấp trên, kiến thức tổ chức, điều hành, thường xuyên cập nhật, thay đổi; kiến thức của hệ thống tổ chức của cơ quan cũng là một phần của kiến thức nghề nghiệp

Ngày đăng: 09/10/2016, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2002), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Cẩm nang pháp luật cần thiết dành cho lãnh đạo HĐND, UBND các cấp (2009), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang pháp luật cần thiết dành cho lãnh đạo HĐND, UBND các cấp
Tác giả: Cẩm nang pháp luật cần thiết dành cho lãnh đạo HĐND, UBND các cấp
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009
3. Mai Thị Chung (2001), Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, trong sách 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, trong sách 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Mai Thị Chung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 17- NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khoá IX ngày 18-3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 17- NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khoá IX ngày 18-3
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị 3 BCHTW khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị 3 BCHTW khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Động (2003), “Suy nghĩ về cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 2003
15. Nguyễn Văn Mạnh (1999), “Thực trạng và giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính”, Tạp chí nghiên cứu lý luận, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính”, "Tạp chí nghiên cứu lý luận
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 1999
17. Hồ Chí Minh (1984), Toàn tập, tập 4,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1984
18. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
19. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
20. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
21. Hoàng Phê (2000), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
22. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
23. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
24. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Tổ chức HĐND và UBND, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức HĐND và UBND
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống chính quyền thành phố Hà Nội - Giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách hội đồng nhân dân thành phố hà nội
Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống chính quyền thành phố Hà Nội (Trang 46)
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội - Giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách hội đồng nhân dân thành phố hà nội
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội (Trang 47)
Bảng 2.2: Trình độ lý luận chính trị - Giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách hội đồng nhân dân thành phố hà nội
Bảng 2.2 Trình độ lý luận chính trị (Trang 57)
Bảng 2.1: Trình độ đào tạo chuyên môn - Giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách hội đồng nhân dân thành phố hà nội
Bảng 2.1 Trình độ đào tạo chuyên môn (Trang 57)
Bảng 2.4: Trình độ ngoại ngữ - Giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách hội đồng nhân dân thành phố hà nội
Bảng 2.4 Trình độ ngoại ngữ (Trang 58)
Bảng 2.3: Trình độ quản lý nhà nước - Giải pháp nâng cao năng lực làm việc của đại biểu chuyên trách hội đồng nhân dân thành phố hà nội
Bảng 2.3 Trình độ quản lý nhà nước (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w