Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
PHÙNG THẾ TUYẾN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHÂT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH TỈNH PHÚ THỌ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VIỆT HÒA
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Phú Thọ (BIDV Phú Thọ)
Tác giả luận văn
Phùng Thế Tuyến
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8
2.1 Mục tiêu chung 8
2.2 Mục tiêu cụ thể 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Đối tượng nghiên cứu 8
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
4.1 Về mặt lý luận 8
4.2 Về mặt thực tiễn 9
5 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10
1.1 Tổng quan về tín dụng NHTM 10
1.1.1 Khái niệm tín dụng 10
1.1.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng 11
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng NHTM 11
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng 12
1.1.5 Các hình thức tín dụng của NHTM 15
1.2 Chất lượng tín dụng NHTM 17
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng 17
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng 19
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng 20
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng 24
1.2.5 Quản lý chất lượng tín dụng của NHTM 31
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao chất lượng tín dụng tại một số NHTM 35
Trang 4Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI BIDV PHÚ THỌ 38
2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ 38
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 38
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 38
2.2 Khái quát về BIDV Phú Thọ 39
2.2.1 Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực 40
2.2.2 Mạng lưới hoạt động và cơ sở vật chất 44
2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Phú Thọ 46
2.4 Thực trạng chất lượng tín dụng tại BIDV Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2012 51
2.4.1 Chính sách, quy trình tín dụng tại BIDV Phú Thọ 51
2.4.2 Đánh giá định lượng chất lượng tín dụng của BIDV Phú Thọ 56
2.4.3 Các chỉ tiêu hoạt động tín dụng khác tại BIDV Phú Thọ 64
2.4.4 Đánh giá định tính chất lượng tín dụng tại BIDV Phú Thọ 65
2.4.5 Đánh giá chung về chất lượng tín dụng tại BIDV Phú Thọ 72
2.4.6 Nguyên nhân tác động đến chất lượng tín dụng 74
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI BIDV PHÚ THỌ 78
3.1 Định hướng phát triển của BIDV và Chi nhánh Phú Thọ 78
3.1.1.Định hướng phát triển của BIDV 78
3.1.2 Định hướng phát triển của BIDV Phú Thọ 79
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại BIDV Phú Thọ 81
3.2.1 Nhóm giải pháp về quy trình nghiệp vụ 81
3.2.2 Nhóm giải pháp về nâng cao công nghệ ngân hàng 89
3.2.3 Giải pháp về nhân lực 92
3.2.4 Nhóm giải pháp liên quan đến khách hàng 96
3.3 Một số kiến nghị 99
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 99
3.3.2 Kiến nghị với Nhà nước 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 106
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV Phú Thọ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh
MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
MHB Ngân hàng TMCP phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
TDXK Tín dụng xuất khẩu
VIBBank Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam VPBank Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn tại BIDV Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2012 Bảng 2.2 Tình hình sử dụng vốn tại BIDV Phú Thọ giai đoạn 2010 - 2012 Bảng 2.3 Thu phí dịch vụ ròng giai đoạn 2010 - 2012 của BIDV Phú Thọ Bảng 2.4 Kết quả kinh doanh giao đoạn 2010 - 2012 của BIDV Phú Thọ Bảng 2.5 Tốc độ tăng trưởng tín dụng tại BIDV Phú Thọ giai đoạn 2010 -
Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả khảo sát và ý nghĩa theo đánh giá của người trả
lời về chất lượng tín dụng theo nhóm tiêu chí mức độ hài lòng
Bảng 2.11 Tổng hợp kết quả khảo sát và ý nghĩa theo đánh giá của người trả
lời về chất lượng tín dụng theo Nhóm tiêu chí mức độ đáp ứng
Bảng 2.12 Tổng hợp kết quả khảo sát và ý nghĩa theo đánh giá của người trả
lời về chất lượng tín dụng theo Nhóm tiêu chí năng lực phục vụ
Bảng 2.13 Tổng hợp kết quả khảo sát và ý nghĩa theo đánh giá của người trả
lời về chất lượng tín dụng theo Nhóm tiêu chí mức độ đồng cảm
Bảng 2.14 Tổng hợp kết quả khảo sát và ý nghĩa theo đánh giá của người trả
lời về chất lượng tín dụng theo Nhóm tiêu chí về cơ sở vật chất
Bảng 2.15 Tổng hợp đánh giá của người trả lời về chất lượng tín dụng
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 2.1 So sánh qui mô lao động của các NHTM trên địa bàn năm 2012 Biểu đồ 2.2 So sánh qui mô mạng lưới các NHTM trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
năm 2012
Biểu đồ 2.3 Thị phần tín dụng của các NHTM trên địa bàn năm 2012
Biểu đồ 2.4 Tăng trưởng tín dụng của BIDV Phú Thọ giai đoạn 20490 - 2012 Biểu đồ 2.5 Cơ cấu nợ theo nhóm tại BIDV Phú Thọ
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế tại BIDV Phú Thọ năm 2012 Biểu đồ 2.7 Cơ cấu nợ nhóm 2 trong tổng nợ nhóm 2 cho vay theo ngành
kinh tế năm 2012 tại BIDV Phú Thọ
Biểu đồ 2.8 Cơ cấu nợ xấu theo ngành kinh tế năm 2012 tại BIDV Phú Thọ Biểu đồ 3.1 Vốn điều lệ và lợi nhuận của BIDV giai đoạn 2010 - 2012
Hình 2.1 Mô hình tổ chức của BIDV Phú Thọ năm 2012
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 2 thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đã làm thay đổi cơ bản nền kinh tế Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện Trong suốt quá trình đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam luôn đóng một vai trò quan trọng Tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục
Tính đến nay, hệ thống ngân hàng nước ta có 5 NHTM nhà nước, 1 ngân hàng CSXH, 37 NHTMCP, 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NHTM 100% vốn nước ngoài và nhiều văn phòng đại diện ngân hàng
nước ngoài (Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt nam năm 2012) Hệ thống ngân hàng
đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng trong nhiều năm qua tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ đối với tăng trưởng kinh tế
Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Nước ta đã đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 - 8%/năm Với mục tiêu như vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng giữ vai trò cực kỳ quan trọng Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nói chung và Chi nhánh Phú Thọ nói riêng trong thời gian qua đã có nhiều thành tựu khả quan, chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao BIDV Phú Thọ là một chi nhánh của BIDV kinh doanh trên địa bàn là một tỉnh trung du, miền núi với điều kiện kinh tế
xã hội có nhiều khó khăn Do đó, việc tăng trưởng dư nợ còn có những mặt hạn chế nhất định, chưa phát huy được lợi thế cạnh tranh, thị phần tín dụng chiếm tỷ trọng thấp và có dấu hiệu tiếp tục suy giảm Do vậy, để phát triển dư nợ và mở rông thị phần nhằm tăng trưởng tín dụng bền vững theo định hướng của BIDV và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, Chi nhánh cần có những giải pháp đồng bộ và phù hợp
Trang 9Xuất phát từ thực tế trên, hướng tiếp cận của đề tài trên ba góc độ: người cho vay (ngân hàng), người đi vay (khách hàng) và góc độ xã hội nói chung, tôi chọn đề tài
nghiên cứu là: "Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Phú Thọ".
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Làm rõ thực trạng, chất lượng tín dụng nhằm đưa ra các giải pháp hạn chế rủi
ro, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của BIDV Phú Thọ
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng tín dụng
- Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của BIDV Phú Thọ
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM tại BIDV Phú Thọ Tín dụng ngân hàng trong khuôn khổ luận văn này được hiểu theo nghĩa là các hoạt động gắn liền với việc cho vay, phát hành bảo lãnh, thu lãi, thu phí
do các NHTM thực hiện thông qua việc phục vụ các nhu cầu của các doanh nghiệp,
tổ chức và cá nhân, không bao gồm các hoạt động dịch vụ ngân hàng
Trang 104.2 Về mặt thực tiễn
Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng Tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm cho hoạt động tín dụng, qua đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của BIDV Phú Thọ
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Lý luận chung về chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Chương 2: Đặc điểm và thực trạng chất lượng tín dụng tại BIDV Phú Thọ Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại BIDV Phú Thọ
Trang 11cơ sở cam kết có hoàn trả cả gốc và lãi
Theo quan điểm của Mác: Tín dụng là sự vay mượn một lượng giá trị giữa người sở hữu và người sử dụng để sau một thời gian người sở hữu (người cho vay)
sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, các nhà kinh tế học sau Mác đã đi sâu luận giải nhằm hoàn chỉnh khái niệm tín dụng
Khái niệm tín dụng: Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá)
giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên vay Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán
Theo Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 quốc hội khóa XII ngày
16/06/2010 thì “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một
khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất
Trang 12ngân hàng đã góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế, các thương nhân giúp họ có thêm vốn để bổ sung vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tận dụng được cơ hội làm ăn tăng lợi nhuận cho chính mình
1.1.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của tín dụng, vì tín dụng ngân hàng là một hình thức của tín dụng Để thấy rõ bản chất của tín dụng ta hãy xem xét quá trình vận động và mối quan hệ của nó trong quá trình tái sản xuất, thể hiện qua các giai đoạn:
- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay: giai đoạn này vốn tiền tệ từ
trung gian tài chính là các ngân hàng được chuyển sang người đi vay
- Sử dụng vốn: người đi vay sau khi nhận được quyền sử dụng lượng giá trị
đó sẽ sử dụng cho các mục đích khác nhau như tiêu dùng hay sản xuất
- Hoàn trả tín dụng: đây là giai đoạn kết thúc để hoàn thành một chu trình
quay vòng vốn, vốn tín dụng lại quay trở lại hình thức tín dụng ban đầu có thêm phần giá trị tăng thêm, người vay phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng
Như vậy, hoàn trả là bản chất của tín dụng nói chung cũng như của tín dụng ngân hàng nói riêng Hoàn trả tín dụng là sự quay trở về của giá trị Hoàn trả phải luôn được bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng NHTM
1.1.3.1 Tín dụng là quan hệ được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín
Một trong những điều kiện quan trọng của khách hàng để ngân hàng cung cấp tín dụng là sự “tín nhiệm” Ngân hàng trên cơ sở kinh nghiệm, kỹ năng và khả năng đánh giá khách hàng của mình để xác định mức độ tín nhiệm của khách hàng vay vốn trước khi xét đến các điều kiện khác
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng ngày nay, “Uy tín” đang ngày càng có tầm quan trọng cao hơn Các hình thức bảo đảm tiền vay như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ ba là cần thiết, nhưng sự “tín nhiệm” giữa các bên vẫn cần là yếu
tố chính để thiết lập quan hệ tín dụng
1.1.3.2 Tín dụng là hoạt động mang tính rủi ro đa chiều
Trang 13Rủi ro trong hoạt động tín dụng xuất phát từ nhiều chiều: từ phía khách hàng,
từ phía ngân hàng, từ nền kinh tế, xã hội, chính trị và nhiều yếu tố khác
Rủi ro từ phía khách hàng có thể kể đến như: rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán của khách hàng (năng lực tài chính, năng lực sản xuất, quản lý kinh doanh của khách hàng kém, rủi ro do nguyên nhân thiên tai, hoả hoạn, ảnh hưởng), rủi ro đạo đức (khách hàng sử dụng sai mục đích, không thực hiện cam kết trả nợ)
Rủi ro từ phía ngân hàng: rủi ro trong quản lý tín dụng, kiểm tra giám sát của ngân hàng kém, rủi ro do quản trị tín dụng của ngân hàng kém, rủi ro do đạo đức cán bộ,
Các rủi ro do thay đổi của nền kinh tế, xã hội, thay đổi của chính sách quản
lý, bất ổn chính trị cũng tác động đến hoạt động tín dụng
Qua đó, có thể thấy hoạt động tín dụng ẩn chứa nhiều rủi ro, nên vấn đề quản
lý chất lượng tín dụng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
1.1.4 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Trong quá trình phát triển kinh tế tín dụng ngân hàng đã phát huy được tính
ưu việt của mình thể hiện qua các vai trò sau:
Vai trò của tín dụng
Sản xuất phát triển mạnh sẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển ở mỗi quốc gia trên thế giới Song để cho quá trình sản xuất được mở rộng và ngày càng hoàn thiện phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn
Ngân hàng ra đời gắn liền với sự vận động trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Nền sản xuất hàng hoá phát triển nhanh chóng đã thúc đẩy hàng hoá - tiền tệ ngày càng sâu sắc, phức tạp và bao trùm lên mọi sinh hoạt kinh tế xã hội Mặt khác, chính sản xuất và lưu thông hàng hoá ra đời và được mở rộng đã kéo theo sự vận động vốn và là nền tảng tạo nên những tổ chức kinh doanh tiền tệ đầu
Trang 14Vì vậy, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng hoá tiền tệ thì hoạt động tín dụng không thể mất đi mà trái lại ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ Bởi trong nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là người thừa vốn cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinh doanh Hai loại nhu cầu này ngược nhau nhưng cũng chung một đối tượng đó là tiền, chung nhau về tính tạm thời và cả hai bên đều thoả mãn nhu cầu và đều có lợi Ngân hàng ra đời với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất về tình hình cân đối giữa cung
và cầu vốn trên thị trường như thế nào.Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh
Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất
Hoạt động tín dụng ngân hàng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng nguồn vật tư, lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục tránh tình trạng ứ tắc, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế
độ hoạch toán kinh tế
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức Ngân hàng huy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn để bổ sung cho sản xuất kinh doanh Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay
Trang 15đúng hạn cả gốc và lãi Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là hạch toán kinh tế
Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lý đồng vốn sao cho có hiệu quả Để quản lý đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán kinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn để nó được sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanh nghiệp Điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn quá trình hạch toán của đơn vị mình
Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại
Ngày nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn luôn gắn quan hệ kinh
tế với thị trường thế giới, nền kinh tế “đóng” tự cung tự cấp trước đây nay đã nhường chỗ cho nền kinh tế “mở” phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới
Một quốc gia được gọi là phát triển thì trước hết phải có một nền kinh tế chính trị ổn định, có vị thế trên thị trường quốc tế, có một lượng vốn lớn trong đó vốn dự trữ ngoại tệ là rất quan trọng Tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như các hình thức tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với chính phủ, giữa các cá nhân với cá nhân Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt động ngoại thương
và số thành viên tham dự hoạt động ngày càng lớn làm cho nhu cầu về hoạt động tài chính càng trở nên cần thiết Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi về tài chính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các yếu tố cạnh tranh khác như giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thương mại đã vượt ra khỏi phạm vi của một nước ra phạm vi của thế giới có tác dụng thúc đẩy nền sản xuất mang tính quốc tế hoá, hình thành thị trường khu vực và thị trường thế giới, tạo ra bước phát triển mới trong quan
hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các nước với nhau Như vậy các hình thực thanh toán
Trang 16cũng sẽ đa dạng hơn như thanh toán qua mạng SWIFT, thanh toán L/C mỗi hình thức thanh toán đòi hỏi hình thức tín dụng phù hợp và đảm bảo cho nó an toàn và hiệu quả Chất lượng của hoạt động tín dụng ngoại thương là cơ sở để tạo lòng tin cho bạn hàng trong thương mại, tạo điều kiện cho quá trình lưu thông hàng hoá, thắng trong cạnh tranh về thanh toán sẽ dẫn tới thắng lợi của mọi cạnh tranh khác trọng hoạt động ngoại thương
Chiết khấu: là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của giấy tờ có giá trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng Về mặt pháp lý thì Ngân hàng không phải đã cho vay đối với chủ giấy tờ có giá Đây chỉ là hình thức trao đổi trái quyền Tuy nhiên đối với Ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi như một hoạt động tín dụng
Bảo lãnh: là cam kết của Ngân hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa
vụ đã cam kết Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho Ngân hàng số tiền đã được trả thay và phí bảo lãnh
Cho thuê: là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là Ngân hàng với khách hàng thuê Tài sản vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng nên ngân hàng có thể thu hồi để bán hoặc cho người khác thuê khi người thuê không trả được nợ
1.1.5.2 Theo thời hạn sử dụng vốn vay
Trang 17Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng Bao gồm:
Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
Tín dụng trung hạn: Thời hạn của tín dụng trung hạn thường là không cố
định Trước đây thời hạn mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra đối với tín dụng trung hạn là từ một đến ba năm Tuy nhiên hiện nay, để đáp ứng yêu cầu vay của doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định thời hạn của tín dụng trung hạn là từ trên 1 năm đến 5 năm Trên thế giới, có những nước quy định thời hạn này lên tới 7 năm.Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tạo hoặc thay đổi thiết bị, công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô vừa và nhỏ phục vụ đời sống, sản xuất… Trong nông nghiệp, tín dụng trung hạn chủ yếu để đầu tư vào các đối tượng như máy nông nghiệp, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều, cao su
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng mà thời hạn của nó dài hơn đối với tín dụng
trung hạn Loại tín dụng này được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, nhà máy lớn, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng…
1.1.5.3 Theo mức độ bảo đảm tiền vay
Tín dụng không có tài sản bảo đảm là loại tín dụng không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba
Tín dụng có tài sản bảo đảm là loại cho vay mà ngân hàng chỉ cho vay khi
khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc có bên thứ ba đứng ra bảo lãnh
1.1.5.4 Các cách phân loại khác
Ngoài các cách phân loại trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu của ngân hàng có thể phân loại tín dụng theo đối tượng cấp tín dụng: khách hàng cá nhân, khách hàng tổ chức kinh tế; theo mục đích sử dụng: cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất kinh
doanh,
Trang 18Việc phân loại tín dụng theo nhiều cách khác nhau giúp ngân hàng dễ dàng trong việc quản lý hoạtđộng tín dụng và các hoạt động có liên quan như quản lý thanh khoản, quản lý rủi ro, đồng thời có các chiến lược để phát triển hoạt động tín dụng
1.2 Chất lượng tín dụng NHTM
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội Do tính phức tạp của nó nên hiện nay có rất nhiều các quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm Mỗi khái niệm đều có những cơ sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế
Cho đến nay, định nghĩa về chất lượng tín dụng còn nhiều tranh cãi Bởi đây là khái niệm hết sức trừu tượng và những chuẩn mực của nó luôn luôn thay đổi ở nơi này hay nơi khác, tại thời điểm này hay thời điểm khác Nhưng có thể hiểu: “Chất lượng tín dụng là chất lượng của các khoản cho vay của Ngân hàng”.Trên cơ sở các quan niệm chất lượng ở trên ta có thể hiểu chất lượng tín dụng ngân hàng như sau:
Chất lượng tín dụng ngân hàng là tiêu chí phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu của
khách hàng trong quan hệ tín dụng, mức độ đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội
Bên cạnh đó, về phía khách hàng ta có thể hiểu: Tín dụng có chất lượng là
vốn vay ngân hàng đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp và vốn đó được
sử dụng kinh doanh đúng mục đích, có hiệu quả nhằm tạo ra khoản tiền lớn hơn có
đủ khả năng trang trải chi phí, đủ khả năng trả gốc và lãi cho Ngân hàng thương mại và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
Để tìm hiểu về chất lượng tín dụng, chúng ta cần hiểu một khoản tín dụng được coi là có chất lượng khi thỏa mãn một số yêu cầu cơ bản sau:
- Ngân hàng có khả năng thu hồi khoản tiền cho vay hay không
- Ngân hàng không những thu hồi được số tiền gốc cho vay mà còn thu hồi được cả số tiền lãi kèm theo đúng hạn đã kí kết hợp đồng tín dụng
Trang 19- Khả năng tín dụng ấy không chỉ mang lại thu nhập cho ngân hàng, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người đi vay thực hiện được kế hoạch đặt ra Tiếp tục phát triển duy trì mối quan hệ với ngân hàng - khách hàng lâu dài
Ngoài ra còn có những yêu cầu khác ở mức cao hơn, ví dụ như khoản tín dụng đó tạo điều kiện phát triển một ngành, một lĩnh vực mà nhà nước đang khuyến khích phát triển Là ngành trọng điểm của nền kinh tế, đồng thời có khả năng tránh được những rủi ro khác có thể xảy ra… Tuy nhiên do những hạn chế nhất định, không thể đòi hỏi quá cao đối với chất lượng tín dụng trong điều kiện thị trường Nước ta còn nước kém phát triển nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhiều rủi ro bất khả kháng có thể xảy ra
Tóm lại việc nâng cao chất lượng tín dụng là các hoạt động nhằm đạt được những yêu cầu cơ bản trên một số yêu cầu cụ thể khác Tất cả đều nhằm vào mục tiêu mà bất cứ ngân hàng thương mại nào cũng phải đặt ra, đó là đảm bảo khả năng sinh lời, vừa đảm bảo tính an toàn của đồng vốn đầu tư cũng như khả năng hoàn thành kế hoạch của khách hàng
Như vậy, chất lượng tín dụng cần được xem xét dưới ba giác độ chính sau:
- Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì chất lượng tín
dụng là khoản tín dụng được bảo đảm an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển của ngân hàng
- Xét trên góc độ lợi ích của khách hàng thì khoản tín dụng có chất lượng là
phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục tín dụng đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng
- Đối với nền kinh tế khoản tín dụng có chất lượng phải hỗ trợ cho hoạt động
kinh doanh, tiêu dùng hợp pháp, góp phần phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho
Trang 20sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh
tế
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, có ý nghĩa quan trọng đối với cả quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô
Trên phương diện vĩ mô, chất lượng tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và lưu thông hàng hoá dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, khai thác các nguồn lực của nền kinh tế,… Các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan điều hành hệ thống tài chính ngân hàng căn cứ các mục tiêu chung của nền kinh tế theo từng thời kỳ nhất định, đặt ra các mục tiêu khác nhau cho hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng, trong đó quản lý tốt chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc giải quyết tốt bài toán về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế
Trên phương diện vi mô, ngân hàng đặt ra nhiều mục tiêu đảm bảo yêu cầu quản lý chất lượng tín dụng, trong đó phải quan tâm tới hai mục tiêu cơ bản:
- Một là, giảm thiểu các rủi ro tín dụng dựa trên cơ sở xác định được và kiểm soát các rủi ro
Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường có tỷ trọng từ 65 - 80%/tổng tài sản tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập tín dụng đem lại cũng ở mức tương ứng từ 45 - 60% tổng thu nhập ngân hàng Tuy nhiên, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng tập trung chủ yếu vào các danh mục tín dụng Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân chủ yếu thường phát sinh từ hoạt động tín dụng Vì vậy, giảm thiểu các rủi ro tín dụng dựa trên cơ sở xác định được và kiểm soát được các rủi ro khi cung cấp tín dụng hiển nhiên trở thành mục tiêu chính và không thể thiếu của quản lý chất lượng tín dụng Mục tiêu
tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ theo chuẩn mực quốc tế của các NHTM Việt Nam là giảm xuống dưới mức 2% trong vòng 10 năm tới
- Hai là cung cấp sản phẩm tín dụng tốt cho khách hàng
Trang 21Đối với khách hàng, một sản phẩm tín dụng tốt là khoản tín dụng thoả mãn kịp thời, đúng lúc các nhu cầu về vốn của khách hàng cả về quy mô, về kỳ hạn, về lãi suất,…
Sản phẩm tín dụng tốt không hoàn toàn đồng nghĩa với lãi thấp hay việc đạt được khoản vay dễ dàng Trong nghiệp vụ ngân hàng hiện đại theo các thông lệ tốt nhất, các quy trình cung cấp khoản vay được xây dựng mang tính khoa học cao, các thủ tục đơn giản nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc kiểm soát rủi ro, đặc biệt là trong việc ra quyết định tín dụng Ra quyết định tín dụng như thế nào, chấp thuận hay không chấp thuận, xử lý kịp thời hay không kịp thời là công việc cực kỳ quan trọng Nó không những ảnh hưởng đến tiến trình hoạt động của khách hàng, mà còn ảnh hưởng đến cả uy tín của ngân hàng và chất lượng của khoản tín dụng Ngoài ta, các sản phẩm tín dụng tốt thể hiện ở các cơ chế, chính sách hỗ trợ khách hàng của ngân hàng đi kèm theo khoản tín dụng như các dịch vụ thanh toán, tư vấn tài chính,
hỗ trợ quản lý,… Trên thực tế, khách hàng sẵn sàng chấp nhận các khoản tín dụng với lãi suất cao nhưng có các dịch vụ hỗ trợ tốt
Thông qua việc cung cấp hệ thống chất lượng sản phẩm tín dụng hoàn hảo sẽ tạo được lòng tin của khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng
Thực hiện được hai mục tiêu lớn trên, về cơ bản đã giải quyết được bài toán mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng
Chất lượng tín dụng của mỗi ngân hàng được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau, mỗi chỉ tiêu sẽ phản ánh một khía cạnh nhất định Hơn nữa, đứng ở những
vị trí khác nhau với quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau sẽ có những hệ thống chỉ tiêu khác nhau để đánh giá Trong phạm vi của luận văn này, tôi chỉ xin phép đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại, các chỉ tiêu này được đánh giá trên ba góc độ: người cho vay (ngân hàng), người đi vay (khách hàng) và góc độ xã hội nói chung
1.2.3.1 Đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng từ phía người đi vay
- Chi phí vốn vay (lãi suất tiền vay)
Trang 22Chi phí hay giá của sản phẩm, dịch vụ là tiêu chí được khách hàng quan tâm hàng đầu khi tiếp cận với bất kỳ một sản phẩm, dịch vụ nào Lý do đơn giản là: giá
cả thường gắn liền và tỷ lệ thuận với chất lượng sản phẩm, dịch vụ, từ đó giá cả ảnh hưởng tới tính hiệu quả của mỗi phương án kinh doanh Đối với dịch vụ tín dụng ngân hàng, giá cả ở đây chính là lãi suất cho vay và các loại phí (nếu có) của khoản vay
Xét trong một ngân hàng cụ thể thì giá (lãi suất) của các khoản vay khác nhau là không hoàn toàn giống nhau, nó phụ thuộc vào mức độ rủi ro tiềm ẩn (theo đánh giá của ngân hàng) của mỗi khoản vay Còn xét trong tổng thể của ngành ngân hàng trên cơ sở cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại thì lãi suất dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thường không giống nhau, nó phụ thuộc vào hai yếu tố:
+ Lãi suất huy động tiền gửi đầu vào: Ngân hàng nào có chi phí đầu vào thấp (lãi suất huy động thấp) thì lãi suất cho vay thường sẽ thấp hơn Trong khi đó lãi suất huy động đầu vào lại phụ thuộc vào mạng lưới chi nhánh cũng như uy tín, hình ảnh của mỗi ngân hàng trên thị trường, thông thường những ngân hàng có quy mô lớn, có bề dày hoạt động và uy tín thường có lợi thế trong việc thu hút vốn đầu vào
+ Đối tượng khách hàng chính của ngân hàng: các ngân hàng lớn có lợi thế trong việc lựa chọn khách hàng, và khi đã chọn lựa được các đối tượng khách hàng tốt, độ rủi ro thấp thì đương nhiên lãi suất cho vay cũng thấp tương ứng Trong khi
đó, các ngân hàng nhỏ hoặc mới ra đời thường phải chấp nhận các dự án vay vốn có
độ rủi ro cao hơn, và khi chi phí đầu vào đã cao đồng thời cho vay các dự án có rủi
ro cao thì lãi suất mà ngân hàng cho vay chắc chắn cũng sẽ cao hơn
Do vậy để giảm lãi suất cho vay, thu hút được nhiều khách hàng, nhiều phương án và dự án khả thi, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng thì các ngân hàng cần phải giảm thiểu chi phí đầu vào (lãi suất huy động) Để làm được điều đó, các ngân hàng cần không ngừng xây dựng hình ảnh, uy tín của mình trong mắt khách hàng
- Thời gian bình quân để xét duyệt một khoản vay
Ngoài yếu tố chi phí (lãi vay) thì thời gian để được đáp ứng nhu cầu cũng là một tiêu chí mà khách hàng rất quan tâm, bởi trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, tiêu chí này đôi khi quyết định sự thành bại của một
Trang 23phương án kinh doanh Vì vậy tiêu chí này ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa chọn Ngân hàng để vay vốn của khách hàng Do vậy, để tránh việc mất đi những khách hàng tốt, nâng cao chất lượng tín dụng, các ngân hàng cần phải rất chú ý đến chỉ tiêu này, cần nỗ lực tìm mọi giải pháp để đơn giản hoá các thủ tục vay vốn, giảm thiểu thời gian xét duyệt khoản vay trên cơ sở vẫn đảm bảo sự an toàn tín dụng cho ngân hàng
- Sự đa dạng của loại hình tín dụng của Ngân hàng
Trên quan điểm thống nhất về khái niệm tín dụng ngân hàng: Chất lượng tín
dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng Điều này đồng nghĩa với việc để nâing cao chất lượng tín dụng,
ngoài những yếu tố khác, Ngân hàng cần đặc biệt chú trọng tới sự đa dạng trong chủng loại sản phẩm tín dụng Với sự phát triển của nền kinh tế như hiện nay, nhu cầu tín dụng của khách hàng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú, do vậy, để nâng cao chất lượng tín dụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, các ngân hàng cần liên tục nghiên cứu để tạo nên một bộ sản phẩm tín dụng đa dạng, đáp ứng tất cả các nhu cầu tín dụng hợp lý của khách hàng
1.2.3.2 Đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng từ phía người cho vay
- Tỷ trọng dư nợ tín dụng
Trang 24Tỷ trọng dư nợ tín dụng
Dư nợ tín dụng ngành Tổng dư nợ tín dụng Chỉ tiêu này cho biết vị trí và vai trò của từng loại tín dụng trong tổng thể hoạt động tín dụng của Ngân hàng Qua đó đánh giá được hoạt động tín dụng của Ngân hàng
có quá tập trung hoặc chưa xét đến một loại hình nào không
Đây là một trong các chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tín dụng của một Ngân hàng Rõ ràng không ngân hàng nào muốn có các khoản vay bị gia hạn
nợ, vì vậy chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng xấu và ngược lại
- Tỷ lệ nợ bị quá hạn trên tổng số dư nợ tín dụng
Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ đã đến hạn thanh toán nhưng không được thanh toán đúng hạn và khách hàng không có công văn đề nghị gia hạn nợ hoặc có công văn đề nghị gia hạn nợ nhưng không được Ngân hàng chấp thuận
Tỷ lệ dư nợ tín dụng bị
quá hạn
= Dư nợ tín dụng bị quá hạn
Tổng dư nợ tín dụng Đây là chỉ tiêu biểu hiện cho những rủi ro tiềm ẩn về khả năng thu hồi gốc và lãi vay của Ngân hàng đang phải đối mặt Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng xấu và ngược lại
Hiện nay theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, nợ quá hạn được chia thành 4 nhóm:
+ Nợ cần chú ý: Là các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại và các khoản nợ khác theo quy định
+ Nợ dưới tiêu chuẩn: là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
và các khoản nợ khác theo quy định
Trang 25+ Nợ nghi ngờ: là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ từ 90 đến 180 ngày thèo thời hạn đã cơ cấu lại, các khoản nợ khác theo quy định
+ Nợ có khả năng mất vốn: là khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại, các khoản nợ khác theo quy định
- Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng ngân hàng đang phát triển tốt Chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ tỷ lệ thuận với chỉ tiêu này Thật vậy, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ dư nợ của ngân hàng tăng trưởng tốt, khách hàng trả nợ
gốc, lãi vay và các khoản phí đầy đủ, đúng hạn
Cũng từ chỉ tiêu cho phép ta tính toán thêm một chỉ tiêu khác, đó là:
Đóng góp của hoạt động
Lợi nhuận từ tín dụng Tổng lợi nhuận
Rõ ràng, chất lượng tín dụng và quy mô tăng trưởng tín dụng ngày càng cao thì lợi nhuận thu được càng lớn và ngược lại
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng ngân hàng, nhưng gộp chung lại có thể phân thành nhóm nhân tố chính sau: về phía Ngân hàng; Khách hàng; môi trường khách quan
1.2.4.1 Nhóm nhân tố thuộc về phía ngân hàng
Đây là những nhân tố thuộc về bản thân, nội tại ngân hàng liên quan đến sự phát triển của ngân hàng trên tất cả các mặt ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng, gồm: chính sách, quy trình nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát; công tác tổ chức, công tác cán
bộ, trang thiết bị, công nghệ thông tin
a Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng quy định các yếu tố như: khách hàng, qui mô, lãi suất,
kỳ hạn, bảo đảm, phạm vi, các khoản tín dụng có vấn đề, Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của NHTM phù hợp hay không, bất cứ
Trang 26NHTM nào muốn có chất lượng tín dụng tốt đều phải có chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp
Xét ở giác độ vi mô trong thời gian qua cho thấy chính sách tín dụng có tính chất quyết định tới sự thành công hay thất bại của NHTM Một chính sách tín dụng hợp lý, đúng đắn rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng thực hiện các bước đúng phạm vi, trách nhiệm của mình Nó giúp NHTM hướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt được nhiều mục tiêu như: tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng những đòi hỏi của các cơ quan quản lý
b Quy trình tín dụng
Đây là những trình tự, những giai đoạn, những bước công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất định trong việc cho vay, thu nợ, bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của khách hàng đến khi thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc lập ra một quy trình tín dụng đảm bảo tính logic khoa học và việc thực hiện tốt các bước trong quy trình tín dụng cũng như sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa các bước Quy trình tín dụng gồm ba giai đoạn chính:
- Xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện cho vay: Trong giai đoạn này chất lượng tín dụng phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định khách hàng và việc chấp hành các quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của ngân hàng
- Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro: Việc thiết lập hệ thống kiểm tra hữu hiệu, áp dụng có hiệu quả các hình thức, biện pháp kiểm tra sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng
- Thu nợ và thanh lý: sự linh hoạt của ngân hàng trong khâu thu nợ sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu được những rủi ro, hạn chế những khoản nợ quá hạn, bảo toàn vốn, nâng cao chất lượng tín dụng
c Công tác tổ chức của ngân hàng
Khả năng tổ chức của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng
Tổ chức ở đây bao gồm tổ chức các phòng ban, nhân sự và tổ chức các hoạt động trong ngân hàng Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong
Trang 27ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệ thống cũng như với các cơ quan khác liên quan đảm bảo cho ngân hàng hoạt động nhịp nhàng, thống nhất có hiệu quả, qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng, theo dõi quản lý chặt chẽ sát sao các khoản vốn huy động cũng như các khoản cho vay, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng
d Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng
Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là yêu cầu hàng đầu đối với mỗi ngân hàng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và khả năng tạo lợi nhuận của ngân hàng Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản
lý vốn tín dụng nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung Kinh tế càng phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi trình
độ của người lao động càng cao Đội ngũ cán bộ ngân hàng có chuyên môn nghiệp
vụ giỏi, có đạo đức, có năng lực, có kinh nghiệm sẽ là điều kiện tiền đề để ngân hàng tồn tại và phát triển Nếu chất lượng con người tốt thì họ sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ trong việc thẩm định dự án, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền vay
và có các biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi nợ vay, hay xử lý các tình huống phát sinh trong quan hệ tín dụng của ngân hàng giúp ngân hàng có thể ngăn ngừa, hoặc giảm nhẹ thiệt hại khi những rủi ro xảy ra trong khi thực hiện một khoản tín dụng
e Khả năng thu thập và xử lý thông tin
Thông tin là yếu tố sống còn đối với mỗi doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt Trong cạnh tranh ai nắm được thông tin trước là người
có khả năng dành chiến thắng lớn hơn, với ngân hàng thông tin tín dụng hết sức cần thiết là cơ sở để xem xét, quyết định cho vay hay không cho vay và theo dõi, quản
lý khoản cho vay với mục đích đảm bảo an toàn và hiệu quả đối với khoản vốn cho vay Thông tin tín dụng có thể được thu được từ nhiều nguồn khác nhau như mua thông tin từ các nguồn cung cấp thông tin, đến cơ sở của khách hàng trực tiếp xem xét, thông tin từ hồ sơ xin vay vốn Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời, toàn diện thì khả năng ngăn ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao
f Kiểm soát nội bộ
Trang 28Thông qua kiểm soát giúp lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra, những thuận lợi, khó khăn việc chấp hành những quy định pháp luật, nội quy, quy chế, chính sách kinh doanh , thủ tục tín dụng từ đó giúp lãnh đạo ngân hàng có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp giải quyết những khó khăn vướng mắc, phát huy những nhân tố thuận lợi, nâng cao hiệu quả kinh doanh Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chính sách và mức độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như nguyên nhân dẫn đến sai sót lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng
g Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng
Trang thiết bị tuy không phải là yếu tố cơ bản nhưng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức, quản lý ngân hàng kiểm soát nội bộ, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay, thực hiện các nghiệp vụ giao dịch với khách hàng Đặc biệt, với sự phát triển như vũ bão về công nghệ thông tin hiện nay các trang thiết bị tin học đã giúp cho ngân hàng có được thông tin và xử lý thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác, trên cơ sở đó có quyết định tín dụng đúng đắn, không bỏ lỡ thời cơ trong kinh doanh giúp cho quá trình quản lý tiền vay và thanh toán được thuận tiện nhanh chóng và chính xác
1.2.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về phía khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng sử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ích cho ngân hàng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan trọng Một khách hàng có tư cách đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay của Ngân hàng khi đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng và tín dụng Những nhân tố này bao gồm:
a Trình độ khả năng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ chuyên môn, đạo đức tốt
sẽ có khả năng đưa ra chiến lược kinh doanh, cạnh tranh phù hợp giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển Doanh nghiệp làm ăn tốt là điều kiện để họ bù đắp chi phí kinh doanh và và trả nợ ngân hàng cả gốc và lãi đúng hạn, qua đó giảm rủi ro và
Trang 29nâng cao chất lượng tín dụng Trình độ năng lực cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp
là điều kiện quan trọng và được ngân hàng xem xét kỹ trước khi cấp tín dụng
b Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trên cơ sở nhận định một cách khách quan, chính xác khả năng phát triển sản xuất của doanh nghiệp, thị hiếu của người tiêu dùng vơi sản phẩm của doanh nghiệp mình cùng với những yếu tố thuận lợi, khó khăn của môi trường, doanh nghiệp sẽ quyết định kế hoạch chiến lược mở rộng thu hẹp hay ổn định sản xuất, từ
đó xây dựng các kế hoạch cụ thể về sản xuất, thiêu thụ Việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh đúng đắn quyết định đến sự thành công hay thất bại của của một doanh nghiệp
c Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Hiện nay, các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh bó hẹp trong một phạm vi nhỏ, số lượng mặt hàng ít mà họ thường kinh doanh đa dạng các mặt hàng, mở rộng mạng lưới tiêu thụ ra nhiều khu vực lãnh thổ, từ các tỉnh thành phố trong nước ra các nước trong khu vực và thế giới Sự hình thành mạng lưới hoạt động phức tạp như thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự tổ chức sản xuất và tiêu thụ hợp lý Tổ chức tốt việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là yếu tố giúp quá trình tái sản xuất diễn
ra được thông suốt, nhanh chóng, tăng khả năng quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là sự đảm bảo cho ngân hàng nâng cao chất lựơng tín dụng
d Vốn - khả năng tài chính của doanh nghiệp
Có nhiều nhóm chỉ tiêu khác nhau biểu hiện tình hình tài chính, khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp như nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu cơ cấu vốn, nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận Ngoài ra khi xem xét về tình hình tài chính ngân hàng còn quan tâm đến luồng tiền vào, luồng tiền ra, dự trữ ngân quỹ, Khả năng tài chính tốt là điều kiện để doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm thiết bị tiên tiến, sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, chiếm lĩnh thị trường và đem laị lợi nhuận lớn, hoạt động tốt là điều kiện để doanh nghiệp trả nợ cho ngân hàng
Trang 30e Tư cách, đạo đức của người vay
Tư cách đạo đức xét trên phương diện ý muốn hoàn trả khoản nợ vay, trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếm đoạt vốn, không hoàn trả nợ vay mặc
dù có khả năng trả nợ, điều này đã gây ra những rủi ro không nhỏ cho ngân hàng
Tóm lại qua việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ta thấy tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện về pháp lý của từng nước mà những nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng tín dụng Vấn đề là phải nắm vững những nhân tố ảnh hưởng và vận dụng sáng tạo trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể thì sẽ nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng
1.2.4.3 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàng phát triển Nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp không có khủng hoảng, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành tốt, có hiệu quả mang lại lợi nhuận cao, doanh nghiệp hoàn trả được vốn vay ngân hàng cả gốc và lãi thì hoạt động tín dụng của ngân hàng phát triển, chất lượng tín dụng được nâng cao Ngược lại trong thời
kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng
có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Hoạt động tín dụng ngân hàng giảm sút về quy mô và chất lượng
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, lợi tức của ngân hàng thu được bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân hàng, nên với mức lãi suất cao các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng không có khả năng trả nợ ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và tới toàn bộ nền kinh tế nói chung Hoạt động tín dụng ngân hàng lúc này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và chất lượng tín dụng cũng giảm sút
Ngoài ra những sự biến động về lãi suất thị trường, tỷ giá thị trường cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất của ngân hàng Bài học từ cuộc khủng hoảng tài
Trang 31chính toàn cầu giai đoạn 2008-2012 đã cho thấy sự mất giá của đồng nội tệ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng ngân hàng
1.2.4.4 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là một hệ thống luật và văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
Trong nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước, pháp luật có vai trò quan trọng, là một hàng rào pháp lý tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng thuận lợi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, nhà nước, cá nhân công dân, bắt buộc các chủ thể phải tuân theo
Nhân tố pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đó là sự đồng bộ thống nhất của hệ thống pháp luật, ý thức tôn trọng chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật và cơ chế đảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh triệt để
Quan hệ tín dụng phải được pháp luật thừa nhận, pháp luật quy định cơ chế hoạt động tín dụng, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng lành mạnh, phát huy vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời duy trì hoạt động tín dụng được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ tín dụng Những quy định pháp luật về tín dụng phải phù hợp với điều kiện và trình
độ phát triển kinh tế xã hội, trên cơ sở đó kích thích hoạt động tín dụng có hiệu quả hơn
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ và thường xuyên thay đổi gây khó khăn cho ngân hàng khi kí kết thực hiện hợp đồng tín dụng Luật ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ với các văn bản luật khác Điều này ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng tín dụng của ngân hàng
Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu, do thay đổi đột ngột, gây xáo động trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không tiêu thụ
Trang 32được sản phẩm, hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh mới dẫn đến nợ quá hạn,
nợ khó đòi, chất lượng tín dụng giảm sút
1.2.5 Quản lý chất lượng tín dụng của NHTM
1.2.5.1 Các yêu cầu cơ bản trong quản lý và nâng cao chất lượng tín dụng
Một là, xây dựng các mục tiêu về chất lượng tín dụng cho các giai đoạn phát
triển của ngân hàng Trong đó, các mục tiêu ngắn hạn làm tiền đề để thực hiện các mục tiêu dài hạn Các mục tiêu này phải liên kết và thống nhất với nhau đảm bảo tính thống nhất trong quản lý và giám sát chất lượng tín dụng
Hai là, xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng của
ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế Các chỉ tiêu đo lường có thể là những chỉ tiêu định lượng hoặc các chỉ tiêu định tính Việc xây dựng các chỉ tiêu đo lường bao hàm trong đó các phương pháp và các chỉ dẫn cách thức thực hiện để đo lương chính xác chất lương tín dụng của ngân hàng qua từng thời kỳ
Ba là, để thực hiện các mục tiêu đó ngân hàng phải xác định, chuẩn bị các
nguồn lực và hệ thống các cộng cụ để sử dụng trong quản lý chất lượng tín dụng Các công cụ này chính là sự cụ thể hoá công tác quản lý chất lượng tín dụng, trong
đó chỉ rõ các bước thực hiện, người thực hiên, các nguồn lực phải sử dụng và kết quả phải đạt được
Bốn là, bộ máy giám sát chất lượng tín dụng của ngân hàng Đây lừ nội dung
quan trọng trong quản lý chất lượng tín dụng của ngân hàng, đề cập đến khía cạnh mô hình tổ chức và quy định trách nhiệm của các thành viên tham gia để đảm bảo ràng các mục tiêu, kế hoạch đã đặt ra đang và sẽ được hoàn thành
1.2.5.2 Các công cụ quản lý chất lượng tín dụng
a Quy trình cho vay
Một trong những biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng đó là thiết lập một quy trình cho vay chặt chẽ để hướng dẫn các nhân viên tín dụng và các bộ phận có liên quan thực hành việc cho vay nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.Theo thông lệ của các ngân hàng tiên tiến hiện nay, trong qui trình cho vay có sự tham gia, phối
Trang 33hợp đồng bộ của nhiều bộ phận nghiệp vụ và quy trình cho vay được đặc trưng bởi
sự phân tách giữa các chức năng: khởi tạo tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng và tác nghiệp trong toàn bộ quá trình
Trong quy trình cho vay phải quy định rõ các bước thực hiện và trách nhiệm của các thành viên tham gia, tuân thủ triệt để các nguyên tắc hoặc các vấn đề có tính nguyên tắc trong khởi tạo, phán quyết tín dụng và QLRR Để thực hiện quản lý chất lượng tín dụng tốt nhất, quy trình cho vay cũng phải tách biệt rõ ràng giữa các chức năng khởi tạo tín dụng, phán quyết tín dụng, QLRR và tác nghiệp
b Hệ thống xếp hạng tín dụng
Hệ thống xếp hạng tín dụng là hệ thống bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, các thông tin định lượng và định tính liên quan tới khách hàng Thông qua việc chấm điểm theo hệ thống này TCTD sẽ xếp hạng các khách hàng có quan hệ tín dụng với mình
Hệ thống xếp hạng tín dụng có ưu điểm là có thể sử dụng hỗ trợ của kỹ thuật
và công nghệ, theo đó giải quyết nhanh chóng việc đánh giá khách hàng vay vốn với số lượng lớn Với những ư điểm đó, hệ thống xếp hạng tín dụng được sử dụng trong nhiều giai đoạn khác nhau của quy trình cho vay
Hệ thống xếp hạng tín dụng sử dụng phương pháp chấm điểm các nhóm chỉ tiêu tài chính và phi tài chính cho từng khách hàngl kết hợp với phương pháp chuyên gia và phương pháp thống kê để xếp hạng khách hàng Tương ứng với mỗi loại khách hàng là doanh nghiệp, là các cá nhân, hay các định chế tài chính thì phương pháp chấm điểm tín dụng có nhưng điểm khác nhau phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của mỗi loại hình Tuy vậy, phương pháp chấm điểm tín dụng
cơ bản được thực hiện như sau:
Các chỉ tiêu được sử dụng cho điểm gồm:
Các chỉ tiêu tài chính:
Nhóm chỉ tiêu thanh khoản
Nhóm chỉ tiêu hoạt động
Nhóm chỉ tiêu cân nợ
Trang 34Nhóm chỉ tiêu thu nhập
Các chỉ tiêu phi tài chính
Khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ
Trình độ quản lý và môi trường nội bộ
Quan hệ với ngân hàng
Các nhân tố bên ngoài
Các đặc điểm hoạt động khác
Trong mỗi chỉ tiêu tài chính và phi tài chính trên bao gồm các chỉ tiêu nhỏ
Số lượng chỉ tiêu nhỏ, thang điểm và trong số của mỗi chỉ tiêu khác nhau đối với mỗi loại khách hàng hay ngành kinh tế
Nguyên tắc chấm điểm
Thông thường một chỉ tiêu tài chính hoặc phi tài chính sẽ có 5 khoảng giá trị chuẩn tương ứng 5 mức điểm 20, 40, 60, 80 và 100 Như vậy ứng với mỗi chỉ tiêu, điểm ban đầu của khách hàng là một trong 5 mức kể trên, tuỳ thuộc vào mức thực tế khách hàng đạt được nằm trong khoảng giá trị chuẩn nào trong 5 khoảng giá trị chuẩn đã được xác định
Tuỳ theo mức độ quan trọng, giữa các chỉ tiêu và nhóm các chỉ tiêu sẽ có trọng số khác nhau Trọng số của mỗi chỉ tiêu phụ thuộc vào đặc thù riêng có của mỗi ngành kinh tế và loại hình sở hữu doanh nghiệp Do đó, điểm dùng để tổng hợp xếp hạng khách hàng sẽ là tích số giữa điểm ban đầu và trọng số
Với nguyên tắc như vậy, các trường hợp khách hàng luôn trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng nhưng có tình hình tài chính yếu kém vẫn không được xếp vào nhóm khách hàng tốt nhất
x
Trọng số phần tài chính
+ Điểm phi tài chính
x
Trọng số phần phi tài chính
Trang 35Căn cứ vào tổng số điểm đạt được, khách hàng sẽđược phân loại vào một trong các mức xếp hàng như AAA, AA, A, BBB, BB, B, CC, C, D trong đó theo thứ tự khách hàng xếp hạng AAA được đánh giá có khả năng hoàn trả khoản vay đặc biệt tốt, khách hàng xếp hạng D được đánh giá là mất khả năng trả nợ, các tổn thất đã thực sự xảy ra
1.2.5.3 Phân loại nợ
Phân loại nợ là một trong những công cụ hữu hiệu trong quản lý chất lượng tín dụng Phân loại nợ là việc xác định và phân nhóm các khoản nợ vay của khách hàng (cả gốc và lãi) vào các nhóm nợ từng mức chất lượng tín dụng khác nhau.Việc phân loại nợ chính xác là cơ sở để xác định chất lượng tín dụng của toàn bộ danh mục các khoản cho vay của ngân hàng Bên cạnh đó sẽ giúp cho ngân hàng xác định chính xác DPRR phải trích lậptheođó sẽ phản ánh chính xác kết quả và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Kết quả của phân loại nợ được ví như một bức tranh tổng thể về chất lượng tín dụng của ngân hàng và hỗ trợ đắc lực cho ban lãnh đạo trong việc hoạch định, xây dựng chính sách tín dụng phù hợp
1.2.5.4 Xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu là việc ngân hàng sử dụngđồng thời các biện pháp để thu hồi hoặc làm giảm số lượng các khoản nợ xấu Xử lý nợ xấu cũng được coi là một trong những công cụ quản lý chất lượng tín dụng, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.Ngoài ra, xử lý nợ xấu còn giúp giải phóng các khoản nợ đọng góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, làm lành mạnh môi trường tín dụng và nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng
Ngân hàng sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để xử lý nợ xấu tuỷ theo tính chất, đặc điểm, mứcđộ xấu của từng khoản vay, từng trường hợp của hồ sơ tín dụng (qui mô, tài sản thế chấp, nguyên nhân nợ xấu,…) Các biện pháp gồm có: cơ cấu lại khoản nợ, yêu cầu trả nợ, phát mại tài sản, chuyển đối khoản nợ của khách hàng thành vốn cổ phần, bán nợ, xử lý bằng quỹ dự phòng
Trang 361.3 Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao chất lượng tín dụng tại một số NHTM
Đối với NHTM trên thế giới, việc sử dụng đồng bộ các công cụ, các biện pháp và chính sách để đo lường, phân loại chính xác chất lượng tín dung, kiểm soát
và nâng cao chất lượng tín dụng theo giá trị tuyệt đối và giá trị tương đối, giải quyết bài toán mối quan hệ giữa rủi ro/lợi nhuận trong hoạt động tín dụng và đạt được các mục tiêu chất lượng tín dụng đã đặt ra
Thái Lan là một nước có bề dày hoạt động trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, nhưng năm 1997-1998, Ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo trước cơn khủng hoảng tài chính - tiền tệ Trước tình hình đó, các Ngân hàng Thái Lan đã có một số thay đổi căn bản trong mô hình giám sát chất lượng tín dụng
Ví dụ về những thay đổi của Ngân hàng Siam Commercial Bank (SCB) tại Thái Lan
Thứ nhất, họ tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các
khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay, tách bạch rõ chức năng nhiệm vụ của
bộ phận kinh doanh, bộ phận quản lý tín dung, và quản lý rủi ro
Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng
Nếu như trước đây SCB chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp, không quan tâm đến các chỉ tiêu tín dụng như: vòng quay vốn lưu động, tính khớp đúng của kế hoạch trả nợ với các luồng tiền tương lai (doanh thu), chỉ số về khả năng thanh toán, chỉ số về hiệu quả sử dụng tài sản, … Các nguyên tắc tín dụng như: bảo đảm tính độc lập và phân định rõ trách nhiêm giữa các bộ phân, phân cấp trong phán quyết tín dụng, tính bắt buộc của các thủ tục kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro… thường xuyên bị vi phạm Vì thế, hậu quả có lúc nợ xấu lên đến 40% tổng dư nợ vay Do đó, ngân hàng không những triệt để chấp hành nguyên tắc tín dụng mà còn quan tâm nhiều đến thông tin của khách hàng như: tư cách, mục đích vay, hiệu quả kinh doanh, dòng tiền, khả năng kiểm soát công nợ, năng lực quản trị và điều hành của khách hàng
Thứ ba, tiến hành cho điểm khách hàng theo hệ thống chỉ tiêu định sẵn để
quyết định cho vay
Thứ tư, tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng Theo đó, họ quy định việc
quyết định tín dụng theo mức tăng dần: mức phán quyết của một người, một nhóm người, Hội đồng tín dụng hay Hội đồng quản trị
Trang 37Thứ năm, giám sát khoản vay: trước, trong và sau khi cho vay Ngân hàng rất
coi trọng việc kiểm tra, giám sát các khoản vay bằng cách liên tục thu thập thông tin
về khách hàng, thường xuyên giám sát và đánh giá xếp loại khách hàng để có biện pháp kịp thời các tình huống rủi ro
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Nâng cao chất lượng tín dụng được xem là trọng tâm trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trước tình hình hội nhập kinh tế tài chính trên thế giới Trên phương diện vĩ mô, chất lượng tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và lưu thông hàng hoá dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, khai thác các nguồn lực của nền kinh tế,… Các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan điều hành hệ thống tài chính ngân hàng căn cứ các mục tiêu chung của nền kinh tế theo từng thời kỳ nhất định, đặt ra các mục tiêu khác nhau cho hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng, trong đó quản lý tốt chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc giải quyết tốt bài toán về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng
- Xây dựng quy trình cấp tín dụng phù hợp, đảm bảo kiểm soát chất lượng tín dụng, tạo ra một bộ máy về mặt tổ chức tập hợp tất cả các bộ phận cấu thành trong quy trình tín dụng chịu trách nhiệm thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến khách hàng tín dụng, giám sát việc thực hiện quy trình tín dụng và đảm bảo chất lượng của khoản vay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Chương 1 của Luận văn đã khái quát những vấn đề cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng, phân tích sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng tại các
Trang 38ngân hàng thương mại ở Việt Nam Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của NHTM để làm tiền đề cho việc đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng tại BIDV Phú Thọ Đồng thời trong chương 1 em cũng đưa
ra được những bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực về kiểm soát chất lượng tín dụng của ngân hàng và đã rút ra được bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng
Các nội dung trình bày ở Chương 1 là cơ sở lý luận, tiền đề cho việc đưa ra những Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng BIDV Phú Thọ
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI BIDV PHÚ THỌ
2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi; có vị trí địa lý cách thủ đô Hà Nội 85 km
về phía Bắc, có quốc lộ 2 đi qua, tiếp giáp với các tỉnh: Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Nội, Sơn La, Hoà Bình, Vĩnh Phúc Tỉnh Phú Thọ có tổng diện tích đất đai 3.519,6
km2 với dân số 1,4 triệu dân Thu nhập bình quân GDP/người đạt 16.400.000 đ/người (năm 2012)
Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chính cấp xã gồm 14 phường,
10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn
Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản Khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt, may
vì ở Phú Thọ có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động tại chỗ; đã xây dựng được một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đầu tư với tốc độ nhanh
Trang 40Tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ tính đến nay có 11 ngân hàng thương mại: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Ngân hàng TMCP Công thương (Vietinbank), Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long (MHB); Ngân hàng TMCP quân đội (MB), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPbank), Ngân hàng TMCP kỹ thương (Techcombank), Ngân hàng TMCP quốc tế (VIB); Ngân hàng TMCP ngoại thương (Vietcombank); Ngân hàng TMCP hàng hải (Martimebank); Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank); ngoài
ra còn có Ngân hàng phát triển (VDB), Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP), Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (CCF), Tiết kiệm Bưu điện (thuộc Lienviet Post Bank) Do
đó, có sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng, nhất là trong lĩnh vực huy động vốn từ dân cư Bên cạnh đó, sự biến động của thị trường tiền tệ trong giai đoạn 2010 -
2012 đã ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của các NHTM nói chung và của BIDV Phú Thọ nói riêng
2.2 Khái quát về BIDV Phú Thọ
Là một trong 114 chi nhánh BIDV Việt Nam, BIDV Phú Thọ được thành lập ngày 27/05/1957 có trụ sở tại địa chỉ số 1167, Đại lộ Hùng Vương, Phường Tiên Cát, Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ Lịch sử hình thành và phát triển của BIDV Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Phú Thọ cũng gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của BIDV Trong quá trình hoạt động và phát triển, BIDV Phú Thọ đã qua hai lần chia tách với những tên gọi:
- Năm 1995 tách mảng cấp phát vốn NSNN chuyển sang Cục Đầu tư (nay là Ngân hàng Phát triển) theo Quyết định số 654/TTg ngày 8/11/1994 do Chính phủ ban hành về việc chuyển giao phần nhiệm vụ cấp phát vốn ngân sách từ BIDV sang Tổng cục Đầu tư Phát triển - Bộ Tài chính
- Năm 1997, tỉnh Vĩnh Phú tách ra thành tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ, theo đó BIDV Vĩnh Phú (cũ) được tách ra thành BIDV Phú Thọ và BIDV Vĩnh Phúc
BIDV Phú Thọ chính thức hoạt động kinh doanh như một ngân hàng thương mại đa năng kể từ ngày 01/01/1995 theo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà