Hà Nội có vị trí và điều kiện thiên nhiên đặc biệt, có nền văn hóa lâu đời, có nhiều làng nghề sản xuất thủ công truyền thống, mọi người biết tới một Hà Nội xưa với gốm sứ Bát Tràng, mộc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2MỞ ĐẦU
Thành phố Hà Nội sau khi hợp nhất có diện tích là 3.344,7 km2, dân số trên 6,31 triệu người, trong đó có 88,3% diện tích và trên 63,5% dân số sống ở khu vực nông thôn Hà Nội có vị trí và điều kiện thiên nhiên đặc biệt, có nền văn hóa lâu đời,
có nhiều làng nghề sản xuất thủ công truyền thống, mọi người biết tới một Hà Nội xưa với gốm sứ Bát Tràng, mộc mỹ nghệ Vân Hà, đúc đồng Ngũ Xã, dát quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ…thì sau khi Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính mọi người còn biết đến vùng đất được mệnh danh là “đất trăm nghề”, nơi đã và đang hình thành nhiều nghề, nhiều làng nghề thủ công truyền thống, mỹ nghệ truyền thống sản xuất ra nhiều sản phẩm đẹp, mang tính kỹ sảo, nghệ thuật, mỹ thuật cao như: Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc; Dệt kim La Phù; Khảm trai Chuôn Ngọ; Tre đan Ninh Sở: Mây đan Phú Vinh; Nón lá làng Chuông; Sơn mài Duyên Thái; Thêu Quất Động; Tiện Nhị Khê; Mộc Chàng Sơn; Điêu khắc Dư Dụ; Sơn tạc tượng Sơn Đồng; đến nay vẫn tồn tại và ngày càng phát triển, được nhiều người trong và ngoài nước biết đến Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề truyền thống gắn liền với quá trình phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt nam nói chung và Hà Nội nói riêng Trong những năm qua, nghề và làng nghề ở Hà Nội đã có bước phát triển mới và đạt được những thành tựu nhất định Trong quá trình phát triển, mặc dù với đặc điểm như: quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trình độ tay nghề chưa cao, trình độ văn hóa thấp nên tiếp thu kiến thức khoa học còn hạn chế, công cụ lao động giản đơn, năng suất thấp, chất lượng sản phẩm không cao, nguồn vốn đầu tư là vốn tự có của các hộ gia đình Tổ chức sản xuất theo quy mô hộ gia đình là chính, không có sự hợp tác, liên kết, khả năng cạnh trạnh thấp Song các nghề và làng nghề truyền thống cũng
đã có vai trò tích cực trong việc tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp nay không còn đất nông nghiệp, thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc, góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương
Trang 3Cùng với sự phát triển về quy mô, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là mối lo ngại cho toàn xã hội Ở nhiều nơi, tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới mức nghiêm trọng: môi trường vật lý, môi trường sinh thái- cảnh quan bị suy thoái nặng nề Các khu vực dân cư, làng xã vừa là nơi sống, vừa là nơi sản xuất với các nhà xưởng tạm bợ, nguyên vật liệu và các loại chất thải đổ bừa bãi, các nhà ở mới, cũ và nhà xưởng chen nhau tạo nên một quang cảnh hỗn loạn và ô nhiễm; nhiều diện tích mặt nước, sông, kênh mương, đất canh tác, đất dự phòng đang bị các loại chất thải lấn dần và làm ô nhiễm Tình trạng phát thải bừa bãi với khối lượng lớn và thường xuyên đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng ở nhiều làng nghề, các nhà ở phải thường xuyên đóng cửa
để giảm tác động của bụi, tiếng ồn, hơi hoá chất và các khí độc (làng sắt thép, đồ
gỗ, sơn, giấy, nhựa ); các công trình công cộng như trường học, trạm xá, nhà trẻ đều nằm trong khu vực ô nhiễm nặng Rõ ràng, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là yêu cầu cấp bách hiện nay và rất cần có những biện pháp quản lý và
xử lý thích hợp Đây chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường trầm trọng cho hệ thống sông Nhuệ - sông Đáy
Nhằm góp phần giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường đến lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy địa phận Hà Nội, được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của
TS-Nguyễn Việt Hòa, em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài với nội dung: “Đề xuất giải pháp quản lý môi trường cho làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy thành phố Hà Nội”
Trang 4Nội dung đề tài:
- Tổ chức thu thập thông tin làng nghề và môi trường làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy địa bàn Hà Nội
- Đánh giá thực trạng về phát triển làng nghề và môi trường làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy địa bàn Hà Nội trên các lĩnh vực: số lượng, quy mô làng nghề, trình độ thiết bị, công nghệ, hiện trạng về môi trường không khí, môi trường nước, về chất thải rắn Thực trạng và những tồn tại trong quản lý môi trường làng nghề Xu thế phát triển làng nghề và xu thế môi trường làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy địa bàn Hà Nội
- Đề xuất giải pháp quản lý môi trường cho làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy địa bàn Hà Nội
Phạm vi: Luận văn nghiên cứu, mô tả thực trạng môi trường của các làng
nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy địa bàn Hà Nội và nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy Thông qua đó đưa ra các giải pháp quản lý để khắc phục, cải thiện môi trường làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, Sông Đáy địa bàn Hà Nội Các số liệu minh họa trong luận văn có thời gian
từ năm 2006 đến năm 2010 mang tính xác thực và có trích dẫn nguồn số liệu
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được triển khai nghiên cứu với các
phương pháp tra cứu, tổng hợp tài liệu, số liệu và kế thừa sử dụng kết quả nghiên cứu khác của Sở Công thương thành phố Hà Nội
Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Làng nghề và môi trường làng nghề
Chương 2: Thực trạng môi trường và quản lý môi trường ở làng nghề thuộc lưu
vực sông Nhuệ, sông Đáy thành phố Hà Nội
Chương 3: Đề xuất giải pháp quản lý môi trường làng nghề thuộc lưu vực sông
Nhuệ, sông Đáy thành phố Hà Nội
Trang 5CHƯƠNG 1 LÀNG NGHỀ VÀ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
1 Lịch sử phát triển, khái niệm và vai trò làng nghề Việt Nam
1.1 Lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam Những nghề thủ công này được người dân tranh thủ làm lúc nông nhàn Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thực như: các đồ dùng bằng mây, tre, lụa phục vụ sinh hoạt; đồ sắt, đồ đồng phục
vụ sản xuất Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau Các nghề thủ công phát triển theo từng làng và luôn gắn bó với người nông dân, trở thành nghề phụ không thể thiếu được bên cạnh nghề nông Ngành nghề nông thôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam, không chỉ làm tăng thu nhập cho nông dân mà còn tạo nên những sản phẩm độc đáo mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa đặc trưng cho mỗi vùng, miền và được lưu giữ từ đời này sang đời khác Dù nhiều làng nghề đã bị mai một theo thời gian, nhưng hiện nay Việt Nam còn có gần 2.000 làng nghề thuộc các nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá nhiều làng nghề có lịch sử phát triển hàng trăm năm như: làng nghề dệt lụa Vạn Phúc (Hà Nội)
đã có trên 1700 năm lịch sử, làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) có hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) trải qua gần 600 năm tồn tại Các làng nghề thường tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ sông lớn như châu thổ sông Hồng, tại Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định,
1.1.2 Các khái niệm làng nghề
* Làng nghề: Là một hoặc nhiều cụm dân cư ấp, thôn, ấp, bản làng, buôn,
phun sóc, hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
Trang 6Tiêu chí để được công nhận làng nghề dựa theo Quy hoạch phát triển nghề
và làng nghề Hà Nội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 như sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
nghề nông thôn
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận
- Chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước
* Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền thống được hình
thành từ lâu đời Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất 1
nghề truyền thống theo quy định tại thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn ngày 18 tháng 12 năm 2006 Đối với những làng
chưa đạt tối thiểu 30% tổng số hộ và 2 năm sản xuất kinh doanh làng nghề ổn định
nhưng có ít nhất 1 nghề truyền thống được công nhận theo quy định của thông tư
116/2006/ TT - BNN thì cũng được công nhận làng nghề truyền thống
Tiêu chuẩn làng nghề truyền thống ở Hà Nội dựa theo Quyết định số 85/2009
QĐ-UBND ngày 2/7/2009 của UBND Thành phố Hà Nội như sau:
- Về thời gian: Là làng có nghề được hình thành trên 50 năm tính đến ngày
làng được đề nghị xét danh hiệu làng nghề truyền thống
- Về kinh tế: Có giá trị sản xuất từ ngành nghề nông thôn của làng chiếm tỷ
trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng
- Về sử dụng lao động: Có tổi thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt
động ngành nghề nông thôn
- Bảo đảm vệ sinh môi trường và an toàn lao động theo các quy định hiện
hành
- Chấp hành tốt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà
nước, các quy định của Thành phố và địa phương
- Sản phẩm làm ra phải mang bản sắc văn hoá dân tộc, phải gắn với tên tuổi
của làng
Formatted: Vietnamese
Deleted: như sau:(Theo Deleted: )
Trang 7- Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn của môi trường theo quy định tại điểm 4 vẫn được xem xét công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống khi
đã có các đề án, dự án nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề ra các biện pháp xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường
* Làng nghề mới: Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển
* Nghề truyền thống: Là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra sản phẩm
độc đáo có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy
cơ bị mai một, thất truyền Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau:
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm công nhận
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc
- Nghề gắn với tên tuổi của 1 hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi làng nghề
* Làng có nghề: Là làng được hình thành cùng với sự phát triển của nền
kinh tế chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, có những điều kiện thuận lợi để phát triển Trong đó làng có số hộ, số lao động sản xuất công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ít nhất từ 10% trở lên
1.1.3 Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội
a Chủ trương phát triển làng nghề
Thời gian qua, xác định vai trò quan trọng của làng nghề, ngành nghề nông thôn, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách như Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về chính sách phát triển ngành nghề nông thôn, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, tăng cường hoạt động xuất khẩu
Trang 8Ngoài ra, tại Nghị định số 01/2008/NĐ -CP ngày 03/01/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ NN&PTNT, Chính phủ giao bộ NN&PTNT thực hiện chức năng quản lý nhà nước lĩnh vực ngành nghề nông thôn Trên cơ sở đó, Bộ NN&PTNT đã xây dựng, ban hành một số văn bản nhằm chỉ đạo thúc đẩy phát triển làng nghề Có thể kể tới Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP; Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18/4/2007 ngày 18/4/2007 về việc đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2006-2015 của Bộ NN&PTNT là thực hiện “Mỗi làng một nghề”, với mục tiêu khôi phục và phát triển làng nghề nông thôn để tạo việc làm, tạo thu nhập từ phi nông nghiệp với các hoạt động như: hỗ trợ phát triển làng nghề nông thôn, khuyến khích các hộ gia đình, tư nhân, HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đa dạng; Đào tạo nghề hỗ trợ chuyển lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp; Xây dựng cơ chế quản lý chất thải làng nghề
b Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn
Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát triển các làng nghề Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao thông và những yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết đối với sự tăng trưởng và phát triển của các làng nghề Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, tạo việc làm, giảm nghèo ở nông thôn thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đây Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ, nhìn chung phát triển khá tốt do các làng nghề phần lớn được hình thành, phát triển ở những nơi tiếp cận thuận lợi mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ,
Trang 9cùng sự hỗ trợ của các chính sách từ chính quyền tỉnh/thành phố nhằm đẩy mạnh phát triển làng nghề
c Làng nghề và xoá đói giảm nghèo
Sự phát triển làng nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần đáng
kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân làng nghề
Tại các làng nghề, đại bộ phận dân cư làm nghề thủ công nhưng vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định Tại nhiều làng nghề, trong cơ cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60-80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20-40% Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề
ở nông thôn đang ngày một tăng lên với tốc độ tăng bình quân từ 8,8-8,9%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề không ngừng gia tăng Chính vì vậy có thể thấy làng nghề đóng vai trò rất quan trọng đối với việc xoá đói giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động
Trên thực tế, quy mô làng nghề nhìn chung thường nhỏ, chưa thực hiện cơ chế thu hút lao động có tay nghề cao, đối với các làng nghề sản xuất theo thời vụ thì thường chỉ sản xuất vào lúc nông nhàn Tuy nhiên, hiện nay ở những vùng sản xuất lớn, lao động trong các làng nghề làm việc hầu như quanh năm, với quy mô phát triển ngày càng lớn
Hiện nay, tại các làng nghề, trung bình mỗi cơ sở sản xuất tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể tạo nghề cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ Đặc biệt ở làng nghề dệt, thêu ren, mây tre đan thì mỗi cơ sở có thể thu hút 200-250 lao động
Mức thu nhập của người lao động ngành nghề cao cấp cao gấp từ 3 đến 4 lần
so với thu nhập của người lao động thuần nông Điều này cũng khiến số hộ gia đình chuyển từ sản xuất thuần nông sang sản xuất công nghiệp và chuyên làm nghề ngày càng tăng
Trang 10d Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ là ở kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hoá lâu dài Điểm chung của nhiều làng nghề là thường nằm trên trục giao thông đường bộ hay đường sông Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm/tuyến du lịch lữ hành Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc sắc, các làng nghề còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hoá hay một hệ thống di tích lịch sử Bên cạnh đó khách quan còn được tận mắt theo dõi quá trình sản xuất ra các sản phẩm, thậm chí là tham gia thực hành vào một khâu sản xuất nào đó, chính điều này tạo nên sức hấp dẫn của du lịch làng nghề Nhận thức được tiềm năng phát triển du lịch tại làng nghề sẽ góp phần gia tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp/dịch vụ ở địa phương, đồng thời tăng thêm cơ hội cho các cơ sở sản xuất thông qua các hoạt động giới thiệu và bán sản phẩm truyền thống, nâng cao đời sống người dân thông qua các dịch vụ phụ trợ
1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề
Theo nhiều nghiên cứu, sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của các làng nghề trong suốt chiều dài lịch sử đã chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề:
Một là, sự biến động của nhu cầu thị trường Sự tồn tại và phát triển của
các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú thường xuyến biến đổi của thị trường Sự thay đổi của thị trường tạo định hướng phát triển cho làng nghề Sản phẩm của làng nghề muốn tồn tại và phát triển thì nó phải phù hợp với nhu cầu xã hội và có khả năng tiêu thụ lớn
Hai là, chính sách của Nhà nước Hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước
có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển hay suy vong của các làng nghề Thời kỳ trước đổi mới, chúng ta chỉ tập trung vào phát triển kinh tế quốc doanh, do dó các làng nghề theo nghĩa là đơn vị kinh tế độc lập đã chuyển thành các hợp tác xã (HTX) đã không phát triển được Khi chính sách mở cửa và hội nhập diễn ra, các sản phẩm của làng nghề có cơ hội phát triển nhất là hàng thủ công mỹ nghệ Tuy
Trang 11nhiên, đây cũng là dịp các hàng nước ngoài có điều kiện tràn vào thị trường trong nước, khiến cho các sản phẩm của làng nghề khó cạnh tranh, làm hạn chế làng nghề phát triển
Ba là, cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng, trước hết là giao thông, điện, cấp và
thoát nước, bưu chính viễn thông…, có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, tồn tại
và phát triển của làng nghề, trong đó giao thông vận tải là yếu tố quan trọng nhất
Cơ sở hạ tầng có được cải thiện thì năng suất lao động, sức cạnh tranh của sản phẩm mới tăng
Bốn là, trình độ kỹ thuật và công nghệ Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản
xuất có ảnh hưởng rất quan trọng đến bất kỳ ngành nghề, sản phẩm nào Nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động, chất lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực canh tranh của các sản phẩm hàng hóa trên thị trường và cuối cùng quyết định đến sự tồn tại hay suy vong của một cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó
Năm là, vốn cho sản xuất phát triển sản xuất – kinh doanh Vốn là yếu tố,
là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quá trình sản xuất kinh doanh nào Việc phát triển làng nghề không nằm ngoài sự ảnh hưởng này Đặc biệt khi trong điều kiện của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ sản xuất kinh doanh phải có lượng vốn khá lớn để đầu tư vào cải tiến công nghệ và kỹ thuật, nhằm nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Sáu là, yếu tố nguyên vật liệu Cũng giống như bất kỳ quá trình sản xuất
công nghiệp nào, yếu tố nguyên vật liệu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của làng nghề Khối lượng, chủng loại, phẩm cấp và khoảng cách từ cơ sở sản xuất tới nơi có nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá cả thành phẩm của đơn vị sản xuất
Bảy là yếu tố truyền thống Yếu tố truyền thống vừa có tác dụng hai mặt,
vừa tích cực vừa tiêu cực đối với sự phát triển của làng nghề Đối với các sản phẩm của làng nghề truyền thống đòi hỏi phải duy trì yếu tố truyền thống với những quy ước và ràng buộc trong luật nghề Song, đôi khi yếu tố truyền thống lại làm cản trở
Trang 12sự phát triển của nền kinh tế nói chung, và các làng nghề nói riêng Cái khó nhất là làm sao vừa đưa vào được những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại vừa duy trì được yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc
Mặc dù ngành nghề thủ công Việt Nam trong những năm qua đã chuyển biến tích cực rõ rệt đặc biệt sau khi Quyết định 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chích sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được ban hành, song để sản phẩm của ngành nghề có khả năng thâm nhập vào một số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật và EU, việc chấn hưng phát triển làng nghề còn có nhiều tồn tại nhất định
Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển làng nghề Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân bao gồm cả chủ quan và khách quan, các làng nghề chưa được phục hồi đẩy đủ, còn nhiều hạn chế trong hoạt động
vì vậy chưa phát huy hết được vai trò của làng nghề trong việc nâng cao đời sống của nhân dân, trong việc thúc đẩy quá trình hình thành kinh tế thị trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn
Dự án “phương pháp điều tra lập bản đồ ngành nghề thủ công” do JICA và
Bộ NN &PTNT năm 2006 tiến hành đã xác định các vấn đề nghiêm trọng tồn tại trong làng nghề nông thôn hiện nay: vốn, thông tin thị trường, và công nghệ Chính vì các yếu tố hạn chế đó mà chất lượng sản phẩm còn kém, không đồng đều Muốn sản phẩm được xuất khẩu thì sản phẩm cần phải có thương hiệu, thiết kế và chất lượng của sản phẩm phải được coi trọng Hiện giờ, năng lực thiết kế mẫu của đội ngũ thợ còn hạn chế, hiểu biết về bản sắc văn hóa truyền thống chưa sâu Hạn chế về công nghệ sản xuất và phát triển tự phát của nhiều làng nghề đã làm nhiều làng nghề ô nhiễm môi trường nặng nề Việc xuất hiện nhóm nghề tái chế chất thải ở các địa phương đã làm tăng mức độ gây ô nhiễm môi trường
1.1.5 Kinh nghiệm phát triển làng nghề tại một số nước châu Á
Hiện nay, tại một số nước Châu Á, việc phát triển bền vững làng nghề đang được xem như là một trong những giải pháp phát triển bền vững kinh tế-xã hội Bởi
lẽ, đây chính là nơi tạo thêm việc làm phi nông nghiệp cho người lao động trên địa
Trang 13bàn, đặc biệt là người nghèo thiếu hoặc không có đất Từ đó, họ có thể nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, giúp xoá đói giảm nghèo trong khu vực nông thôn Tuy nhiên, quá trình thực hiện của mỗi nước khác nhau theo đặc điểm kinh tế của từng nước
a Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nhiều nghề truyền thống phát triển Từ xa xưa, quốc gia này đã thực sự nổi tiếng với các sản phẩm của nghề dệt, nghề gốm, nghề giấy…, song giá trị sản xuất không đạt hiệu quả cao Đến năm 1978, Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa, mở ra thời kỳ mới với những chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc CNH nông thôn Chính từ đây, việc phát triển nghề thủ công truyền thống và làng nghề truyền thống được quan tâm hơn dưới hình thức phát triển các xí nghiệp hương trấn (XNHT) Các XNHT không chỉ tập trung sản xuất thủ công nghiệp và chế biến nông sản như trước đây, mà đã phát triển thành các ngành: chế biến nông sản, công nghiệp và thủ công nghiệp, các nghề thủ công truyền thống, giao thông vận tải và dịch vụ thương nghiệp Đây là một hình thức mới của CN hóa nông thôn,
nó chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, thay đổi bộ mặt nông thôn, thúc đẩy cải cách kinh tế Trung Quốc tiến lên thị trường hóa
Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách và giải pháp mà đã thực hiện thành công nhằm hỗ trợ cho làng nghề truyền thống duy trì và phát triển: chính sách thuế, chính sách cho vay đối với các XNHT, chính sách xuất khẩu, chính sách kích cầu, chính sách bảo hộ hàng nội địa, hạn chế việc di chuyển lao động giữa các vùng cũng như từ nông thôn ra thành thị, thực hiện đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến
Với việc giải quyết 12 triệu lao động dư thừa từ nông thôn mỗi năm, tốc độ tăng trưởng 22-30% năm, XNHT đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc
b Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan cũng có một nét chung là có nhiều ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống được hình thành và phát triển từ lâu Cũng như Trung Quốc, chính phủ
Trang 14Thái Lan cũng đã ban hành các chính sách và biện pháp cụ thể về tín dụng nhằm bảo đảm phát triển các nghề phi nông nghiệp và nghề truyền thống ở nông thôn Đặc biệt, năm 1999, sau khi đi thăm quan tại Nhật Bản, chính phủ Thái Lan đã học tập kinh nghiệm và phát động chương trình “One Tambon, One Product” (Tiếng Thái Tambon nghĩa là “làng”), tạm dịch là “Mỗi làng, một sản phẩm” Chương trình này chính thức được hoạt động vào tháng 10 năm 2001 Trong chương trình này, chính phủ Thái Lan hỗ trợ mỗi làng làm một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao, chủ yếu hỗ trợ ở khâu tiếp thị, xúc tiến bán hàng, tập huấn và chuyển giao công nghệ cho nông dân Chính phủ Thái Lan cho biết, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2002, chương trình này đã đem lại 3,66 tỷ Baht (84,2 triệu USD) lợi nhuận cho nông dân Năm 2003, các làng tham gia chương trình “ mỗi làng một sản phẩm” đã đạt mức 30,8 tỷ Baht, tăng 13% so với năm 2002 Nhờ phong trào này mà giờ đây nhiều sản phẩm của Thái Lan được nhiều người biết đến
c Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những nước có nền công nghiệp phát triển vào loại bậc nhất thế giới Nhật Bản cũng là nước đầu tiên ở Châu Á từ một nước nông nghiệp lạc hậu thực hiện quá trình công nghiệp hoá thành công Cho đến nay ở Nhật Bản có 867 nghề thủ công truyền thống được duy trì và phát triển Người Nhật coi đây là một kho tàng quý báu của dân tộc Để duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, Nghị viện Nhật Bản năm 1974 đã ban hành Luật phát triển làng nghề thủ công truyền thống Được sự hỗ trợ của chính phủ, phong trào “mỗi làng một sản phẩm” được khai sinh tại quận Oita vào năm 1979 với ý tưởng làm sống lại các ngành nghề thủ công truyền thống, Có hai khẩu hiệu nổi tiếng là: “Nghĩ về tổng thể, hành động ở địa phương” và “Độc lập và sáng tạo” Nhờ phong trào, một số sản phẩm truyền thống của Oita trở thành nổi tiếng không chỉ trong Nhật Bản, mà còn
cả trên thị trường nhiều nước
Một giải pháp rất quan trọng khác đã được thực hiện là thành lập Hiệp hội khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống (gọi tắt là Hiệp hội Nghề truyền thống) Nhiệm vụ của Hiệp hội là khôi phục và chấn hưng ngành sản xuất hàng thủ
Trang 15công mỹ nghệ truyền thống trong cả nước, đồng thời làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng và rõ về hàng công nghệ truyền thống
1.2 Môi trường làng nghề Việt Nam
1.2.1 Phân loại làng nghề
Có nhiều cách phân loại làng nghề như: Phân loại theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới; Phân loại theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ; Phân loại theo ngành nghề sản xuất, theo loại hình sản phẩm; Mỗi cách phân loại khác nhau có đặc thù riêng, phục vụ cho mục đích riêng khác nhau Khi quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề và tìm giải pháp để khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề, thì nên sử dụng cách phân loại làng nghề theo ngành nghề sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả Thực tế cho thấy, mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên liệu, nhiên liệu, quy trình sản xuất, chất thải và đặc trưng nguồn chất thải khác nhau, nên tác động đến môi trường cũng khác nhau Dựa trên yếu tố tương đồng về ngành nghề sản xuất, đặc trưng sản phẩm có thể phân chia hoạt động làng nghề ở Việt Nam ra làm 6 nhóm ngành chính với những đặc điểm riêng như sau:
- Làng nghề ươm tơ, dệt vải, may đồ da: Nhóm nghề này bao gồm: dệt
nhuộm, may, tơ tằm, may đồ da, với các sản phẩm như tơ tằm, vải dệt nhuộm, thêu ren trên vải, giày dép da, túi da,…Có những sản phẩm không những chỉ có giá trị kinh tế mà còn mang cả giá trị nghệ thuật cao Nhóm này tập trung chủ yếu là dệt nhuộm, nhiều làng có từ lâu đời với sản phẩm mang đậm nét địa phương như dệt lụa Vạn Phúc Quy trình sản xuất sản phẩm truyền thống chất lượng cao không thay
Trang 16đổi nhiều, có nhiều lao động tay nghề cao, lao động nghề đã trở thành lao động chính
- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Làng nghề thuộc
nhóm này cũng được hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng Lao động gần như thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, không có sự thay đổi lớn
- Làng nghề tái chế phế liệu: Chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số
lượng ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình, gắn chặt với các hoạt động tái chế chất thải kim loại, giấy, nhựa Các làng nghề chế tạo cơ khí và đúc kim loại cũng được xếp vào nhóm này vì các làng nghề này chủ yếu sản xuất từ nguyên liệu là sắt vụn tái chế Đa số các làng nghề loại này phân bố khu vực phía Bắc, công nghệ sản xuất đã từng bước được cơ khí hóa
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren: Nhóm này chiếm tỷ trọng lớn
đến hơn 40% trong tổng số các làng nghề ở Việt Nam, có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét đặc điểm văn hóa của vùng miền địa phương, dân tộc Quy trình sản xuất hầu như không thay đổi, lao động thủ công đòi hỏi tay nghề cao, chuyên môn hóa, tỉ mỉ và sáng tạo Nhóm làng nghề này bao gồm các làng nghề: gốm, sành sứ thủy tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, chạm mạ bạc, sản xuất may tre đan, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren,…
- Nhóm làng nghề khác: Bao gồm các làng nghề còn lại không thuộc các
nhóm làng nghề nêu trên Nhóm này bao gồm các làng nghề như: chế tạo nông cụ thô sơ (như cày, bừa, cuốc, xẻng, liềm), mộc gia dụng, đóng thuyền, đan vó lưới, làm quạt giấy, dây thừng, làm lưỡi câu,…Các làng nghề thuộc loại này cũng thường xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương Lao động phần lớn là thủ công với số lượng và chất lượng tương đối ổn
định
Trang 171.2.2 Đặc điểm của ô nhiễm môi trường tại làng nghề
Bên cạnh mặt tích cực, sự phát triển hoạt động sản xuất tại các làng nghề cũng đã gây ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường, làm suy thoái môi trường và tác động trực tiếp đến sức khỏe người dân Với những đặc thù riêng và những tồn tại trong phát triển làng nghề, hiện trạng môi trường làng nghề mang một số đặc điểm sau:
- Ô nhiễm môi trường làng nghề là hình thái ô nhiễm tập trung trên phạm vi một khu vực như: thôn, làng, xã ở nông thôn Khu vực này lại là tập hợp của nhiều hình thái ô nhiễm dạng điểm được tạo ra từ những cơ sở sản xuất nhỏ Ô nhiễm này ảnh hưởng trực tiếp đến không gian liền kề là khu sinh hoạt dân cư
- Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp tới môi trường nước, không khí, đất trong khu vực dân sinh Tùy theo tính chất của từng loại làng nghề mà loại chất thải gây ô nhiễm môi trường cũng khác nhau
- Ô nhiễm môi trường làng nghề ảnh hưởng rõ rệt tới sức khỏe người lao động, dân cư làng nghề và một số khu vực xung quanh
- Ô nhiễm môi trường làng nghề đã ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái
và đã dẫn tới những xung đột môi trường tại địa phương có làng nghề
- Môi trường không khí tại làng nghề
Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề có nguồn gốc chủ yếu từ các nguồn sau:
- Sử dụng nhiên liệu để cấp nhiệt
- Sử dụng hóa chất, vật tư trong công nghệ gây phát sinh ô nhiễm
- Các chất khí, hơi và bụi ô nhiễm phát sinh trong quá trình sản xuất
Than là nhiên liệu chính được sử dụng phổ biến làm nguồn nhiên liệu ở các làng nghề Khí thải do đốt than chứa nhiều thành phần gây ô nhiễm môi trường không khí như: CO2, CO, SO2, NOx, bụi, chất hữu cơ bay hơi Theo quy định chung của thế giới, hệ số ô nhiễm khi đốt nhiên liệu được thể hiện trong bảng 1.1
Trang 18Bảng 1.1 Hệ số ô nhiễm do đốt nhiên liệu (kg/tấn)
Sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm sứ, chế biến nông sản thực phẩm
và dệt nhuộm là những nhóm ngành sản xuất có đòi hỏi nhu cầu nhiều liệu cao Do vậy ô nhiễm không khí chủ yếu tập trung ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm, sứ, chế biến nông sản thực phẩm
Tiêu chuẩn sử dụng để so sánh, đánh giá chất lượng không khí của làng nghề
là TCVN 5937-2005 - Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh
- Đặc trưng nước thải ở các làng nghề:
Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ và nguyên liệu dùng trong sản xuất Ô nhiễm hữu cơ thường nặng nề nhất ở các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm và sản xuất chế biến
gỗ, mây tre đan bởi nước thải của các làng nghề này thường có hàm lượng chất hữu
cơ rất cao, dễ bị phân hủy Nước thải không được xử lý chảy trực tiếp vào cống rãnh
ao hồ, hàm lượng các chất hữu cơ trong nước thải quá lớn vượt khả năng phân hủy, đồng hóa của các vi sinh vật cũng như các loài động thực vật thủy sinh gây hiện tượng phú dưỡng, ô nhiễm môi trường nước đã tác động xấu tới các thủy vực Nước thải dệt nhuộm có độ màu lớn Một số ngành tái chế như tái chế kim loại, đúc đồng, nhôm, cơ khí, mạ,… nhu cầu nước không cao, nhưng thành phần nước thải rất phức tạp vì bị ô nhiễm bởi các hóa chất, axit, muối kim loại, xianua, các kim loại nặng
Trang 19như Hg, Pb, Cr, Zn, Cu,…Các chỉ tiêu đặc trưng chung trong dòng thải đối với một
số loại hình làng nghề được thể hiện trong bảng 1.2
Bảng 1.2 Các chỉ tiêu đặc trưng trong nước thải một số làng nghề
1 Chế biến nông sản thực phẩm SS, BOD5, COD, N, Coliform
2 Ươm tơ, dệt vải, đồ da pH, COD, độ màu, N, kim loại nặng,
Cr6+ (đối với da)
3 Tái chế giấy pH, SS, BOD5, COD, N, P, độ màu
4 Tái chế kim loại màu SS, COD, dầu mỡ, CN-, kim loại nặng
(Cr6+, Zn2+,…)
5 Tái chế nhựa SS, BOD5, COD, N, P, NH4+, độ
màu, dầu mỡ
6 Sơn mài, gỗ mỹ nghệ SS, BOD5, COD, N, độ màu, dầu mỡ
7 SX vật liệu xây dựng SS, COD
(Nguồn: - Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp, năm 2007) Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, lượng nước dùng trung bình để sản xuất một số sản phẩm của làng nghề như bảng1.3
Bảng 1.3.Nhu cầu nước trung bình để sản xuất một số sản phẩm làng nghề Sản
Bánh bún Da Vải lụa
Tái chế giấy
Tái chế chất dẻo
1.2.3 Trình độ công nghệ các làng nghề
Đối với lĩnh vực sản xuất của các nghề trong làng nghề, có nhiều đặc trưng riêng trong công nghệ sản xuất hàng hoá Có thể chia ra làm 2 loại sau:
Trang 20- Đối với ngành nghề thủ công truyền thống như: mây tre đan, làm nón, gỗ
mỹ nghệ, công đoạn sản xuất chính vẫn phải làm bằng tay, không thể áp dụng máy móc cơ giới toàn bộ cho quy trình sản xuất, nhất là những sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, nhiều công đoạn được trực tiếp hình thành từ bàn tay khéo léo của các thợ Đó là những chi tiết quyết định giá trị của sản phẩm và nó kết tinh trong sản phẩm những tinh hoa của người thợ thủ công và sắc thái riêng của từng làng nghề truyền thống và đây chính là yếu tố phân biệt giữa sản phẩm thủ công và các sản phẩm sản xuất theo kiểu công nghiệp Các sản phẩm thủ công vì thế mang những nét riêng biệt, không giống với bất cứ sản phẩm nào cùng loại
- Đối với những công đoạn sản xuất có sự tham gia của máy móc: Trong quy trình sản xuất của các làng nghề, nhiều công đoạn không phụ thuộc nhiều vào độ kỹ xảo của hai bàn tay nên đã dùng máy móc thay cho sức người Các công đoạn sản xuất vốn sử dụng lao động cơ bắp trước đây như xay nghiền bột ở làng nghề chế biến nông sản thực phẩm ; khoan, bào, cưa, xẻ ở làng nghề chế biến lâm sản ; kéo
bễ quạt lò ở các làng nghề cơ kim khí nay đã thay thế bằng máy móc chạy điện, năng suất lao động được nâng cao
Trong những năm qua, nhiều cơ sở nghề và làng nghề đã tập trung đầu tư vào đổi mới quy trình công nghệ, thay thế nhiều công đoạn sản xuất thủ công bằng sản xuất máy, tốc độ công nghiệp hoá diễn ra rất nhanh tại các cơ sở sản xuất trên quy mô lớn Năng suất lao động, chất lượng một số sản phẩm của làng nghề đã nâng cao đáng kể Tại làng may Cổ Nhuế, các máy móc hiện đại đã chiếm đến 80% tổng
số máy móc trong làng nghề
Nguồn gốc máy móc của các cơ sở thủ công rất đa dạng, có loại của nước ngoài, có loại sản xuất trong nước, có loại do thợ ở địa phương tự trang, tự chế Điều tra cho thấy các loại máy móc đơn giản, sản xuất kiểu thủ công chiếm một số lượng lớn đáng kể (trên 70% tổng số máy móc, trang thiết bị) Con số khiêm tốn 3,2% số máy móc hiện đại tập trung chủ yếu tại các làng có nghề dệt, may, gốm sứ Nhiều làng nghề rất có nhu cầu đổi mới thiết bị công nghệ, nhưng do hầu hết là các
hộ sản xuất nhỏ lẻ nên không thể tự mình đầu tư một số lượng lớn vốn cho cải thiện
Trang 21máy móc Mặt khác, các cơ sở sản xuất nghề và làng nghề đều rất kém về trong việc tiếp xúc thông tin về hàng hoá, máy móc Do vậy họ rất khó khăn trong việc tìm các đối tác bán hàng tin cậy và mua các máy móc phù hợp với điều kiện sản xuất Đa số máy móc được nhập về các làng nghề đều không rõ nguồn gốc nơi sản xuất, phải mua qua tay nhiều lần
Việc đầu tư vốn cho đổi mới công nghệ sản xuất của các làng nghề còn bất cập Các ngân hàng hầu hết không duyệt cho vay để nghiên cứu đổi mới công nghệ
mà chủ yếu cho vay vốn lưu động Trong khi đó, các hộ sản xuất lại không tự huy động được nguồn vốn lớn cho đổi mới công nghệ, do đó các cơ sở còn đầu tư theo kiểu chắp vá, khi có tiền dôi ra họ lại mua hoặc thay thế may móc đối với từng công đoạn sản xuất Việc mua các dây truyền sản xuất hiện đại chỉ có ở những đơn vị sản xuất lớn
1.3 Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề
1.3.1 Một số vấn đề đang đặt ra đối với làng nghề
Thực tế cũng cho thấy, hiện vẫn còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra để làng nghề thực sự phát triển, cụ thể là:
a Công tác quy hoạch làng nghề
Theo đánh giá của nhiều bộ, ngành và nhiều địa phương, các làng nghề của nước ta hiện còn phát triển mang nặng tính tự phát, manh mún Nhiều địa phương chưa xây dựng được chiến lược phát triển làng nghề Công tác quy hoạch (bao gồm
cả quy hoạch tổng thể có tính định hướng và quy hoạch cụ thể các cụm công nghiệp làng nghề) còn thiếu và chưa phù hợp với điều kiện và tiềm năng phát triển của từng vùng, địa phương Có nơi tuy đã xây dựng được quy hoạch nhưng chưa triển khai thực hiện đồng bộ, không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành liên quan Việc đầu tư cho xây dựng cụm công nghiệp làng nghề còn nhiều yếu kém, nhất là trong các khâu về giao thông, cấp thoát nước, thông tin, xử lý chất thải Ngoài ra, các chính sách ưu đãi cho cụm công nghiệp làng nghề cũng chưa hình thành rõ ràng, nhất quán
Trang 22b Trình độ công nghệ của làng nghề
Điều tra cho thấy, 70% số làng nghề hoạt động thiếu công nghệ hoặc đang sử dụng những công nghệ lạc hậu, chủ yếu là thủ công truyền thống Việc đổi mới công nghệ trong các làng nghề hiện đang rất chậm làm hạn chế nhiều đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm vì năng suất thấp, chi phí sản xuất cao, khó tạo ra được những mẫu mã đòi hỏi sự tinh vi và kỹ xảo Để làm được điều này, cần tăng cường đầu tư vào đổi mới công nghệ, nhưng nếu để từng nhóm gia đình làm sẽ là điều khó khăn, nên Nhà nước cần đứng ra chỉ đạo thông qua việc định hướng những hoạt động nghiên cứu của các trung tâm khoa học, trường đại học và hỗ trợ đầu tư cho hoạt động này
c Công tác đào tạo nghề cho lao động làng nghề
Cùng với việc nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của làng nghề, vấn đề đào tạo nghề cũng được đặt ra vì việc truyền nghề hiện nay mới chủ yếu theo cách thức truyền nghề trực tiếp, ít có đào tạo cơ bản theo trường lớp, chất lượng đào tạo cũng chưa cao Để sử dụng được công nghệ hiện đại, lại kế thừa được những kinh nghiệm quý báu của các nghệ nhân thì rất cần có sự đào tạo có tổ chức Điều này nên được thực hiện phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, ngành giáo dục và chính quyền của các địa phương, kết hợp với các viện, trường Trong đó, trước hết lựa chọn những ngành nghề phù hợp với nhu cầu, xây dựng chương trình đào tạo toàn diện và chuyên sâu đối với từng nghề cụ thể Trong các chương trình đào tạo, nên gắn nội dung môn học với việc để người học được đi tham quan các làng nghề của địa phương khác
d Thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề
Đây là một công việc rất khó khăn phức tạp mà từng hộ gia đình khó thể tự làm một cách hiệu quả Thực tế hiện nay tiêu thụ sản phẩm của làng nghề chủ yếu chỉ thông qua các tổ chức trung gian và tư thương, làm giảm thu nhập cuối cùng của người sản xuất Đó mới chỉ nói đến tiêu thụ trong nước, còn bán hàng xuất khẩu thì nhiệm vụ này càng trở lên khó khăn hơn vì phải tìm được đối tác thích hợp, phải am hiểu các kỹ thuật ký kết hợp đồng, tuân thủ nghiêm túc những điều đã cam kết giữa
Trang 23các bên Một tình trạng rất phổ biến trong các làng nghề là nhiều khi người sản xuất không xác định rõ sẽ bán cho ai, với giá nào là phù hợp vì họ hoàn toàn không tiếp cận được với thị trường, thiếu các thông tin, nên rất dễ bị gặp phải tình trạng ép cấp, ép giá hoặc cạnh tranh không lành mạnh , làm ảnh hưởng đến hoạt động tiếp tục đầu tư cho các chu kỳ sản xuất sau của họ
e Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề
Đây là yêu cầu cấp thiết hiện nay cần được giải quyết kịp thời để đảm bảo cho làng nghề phát triển bền vững Muốn thế, cần tiếp tục nâng cao hơn nữa nhận thức của các hộ gia đình sản xuất trong làng nghề, nhận thức của các ngành, các cấp, đặc biệt cán bộ chủ chốt ở cấp huyện, xã về vấn đề này Đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn nhằm tăng cường năng lực quản lý, cũng như hiểu biết về luật pháp, các tiêu chuẩn môi trường và cách thức bảo vệ môi trường Đề ra các chính sách liên quan đến môi trường một cách hợp lý và phải có tính hiệu lực cao Nhà nước và chính quyền địa phương còn nên giúp đỡ, tạo điều kiện để các làng nghề làm tốt công tác này Đối với các cụm công nghiệp làng nghề, các hoạt động xử lý chất thải môi trường nên thực hiện một cách tập trung để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm hơn chi phí
1.3.2 Một số chính sách Nhà nước về phát triển và quản lý làng nghề
Một số chính sách của Nhà nước đã định hướng rõ nét về việc phát triển làng nghề cụ thể là:
+ Quyết định 68/2002/QĐ-TTg ngày 4/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng Khoá IX đã nêu: “Về phát triển công nghiệp ở nông thôn và công nghiệp phục vụ nông nghiệp, bao gồm: phát triển ngành nghề nông thôn; phát triển các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ hoặc cần nhiều lao động (sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác mỏ, chế biến nông lâm thuỷ sản, dệt may, da giày, cơ khí lắp ráp sửa chữa ); sắp xếp, bố trí nâng cao năng lực công nghiệp cơ khí, hoá chất phục vụ nông nghiệp”
Trang 24+ Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Ban chấp hành TW Đảng khoá
IX về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 đã nêu :
“Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh
tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”
+ Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 về việc khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn với những nội dung chủ yếu là hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức, cá nhân khởi sự doanh nghiệp, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, xin
ưu đãi đầu tư, nâng cao năng lực quản lý, hợp lý hoá sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới
và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, quản lý chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, đào tạo nghề, truyền nghề, cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, tham gia triển lãm, hội chợ, giới thiệu sản phẩm, tham gia các hiệp hội ngành nghề
và xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật
+ Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn đã nêu: “Ủy ban nhân dân các cấp căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch tổng thể, định hướng phát triển ngành nghề nông thôn đã được phê duyệt, lập quy hoạch xây dựng làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề phù hợp yêu cầu phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, gắn sản xuất với tiêu thụ, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt”
+ Chỉ thị 24/2005/CT-TTg ngày 28/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc
“tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết TW 5 (Khoá IX) về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” đã nêu: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với các Bộ, ngành rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, điện, đường, trường học, trạm y tế, chợ,
Trang 25bưu chính, viễn thông ) phù hợp với quy hoạch ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của địa phương để có sự quản
lý thống nhất đồng bộ trên địa bàn Coi trọng việc hình thành trung tâm tư vấn hỗ trợ nông nghiệp (thị trường, giá cả, thành lập doanh nghiệp nông nghiệp, xúc tiến thương mại, ) Rà soát, bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là đất nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ nông thôn, cụm công nghiệp và làng nghề nông thôn” + Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18/4/2007 của Bộ NN& PTNT về đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề đã nêu: “Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ, cần nhiều lao động như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác mỏ, dệt may, da giày, cơ khí lắp ráp, sửa chữa để thu hút và thực hiện phân công lao động ngay trên địa bàn Hình thành các khu công nghiệp ở nông thôn, gắn kết ngay từ đầu lợi ích kinh tế giữa người sản xuất nguyên liệu với các nhà máy chế biến công nghiệp
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong việc cấp đất, hướng dẫn, khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn sử dụng máy móc, công cụ cải tiến, thực hiện cơ khí hoá các khâu sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường; hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển nhiều loại hình dịch vụ ở nông thôn, trước hết là các dịch vụ
kỹ thuật, tín dụng, thương mại, đời sống để tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nông dân.”
+ Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 là cơ sở pháp lý cao nhất Luật đã dành hẳn một điều quy định cụ thể về vấn đề này (Điều 38)
Trong bối cảnh biến động của nền kinh tế toàn cầu nói chung, khi giá cả các yếu tố đầu vào (vật tư, nguyên liệu, lao động, lãi suất tiền vay ) rất khó kiểm soát thì sự hỗ trợ của Chính phủ là hết sức cần thiết Hiện tại, bên cạnh quyết định 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành từ năm 2000, bên cạnh đó là các chính sách khuyến công, chương trình bảo tồn nghề,
Trang 26chương trình hỗ trợ cơ sở hạ tầng với lượng ngân sách rất lớn được sử dụng hàng năm Tuy nhiên, còn nghiều chồng chéo trong quản lý ngành nghề nông thôn và làng nghề dẫn đến hiệu quả hỗ trợ còn chưa được như mong đợi Cùng một nội dung hoạt động nhưng còn tình trạng chưa rõ chức năng quản lý giữa các Sở liên quan, cùng một hoạt động nhưng có nhiều cơ quan triển khai khác nhau, đặc biệt giữa Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công Thương và trong nhiều trường hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Thống kê trên cả nước cho thấy có 24 tỉnh giao việc quản lý làng nghề cho Sở Công Thương phụ trách và 39 tỉnh giao Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Bên cạnh đó, các chương trình do các địa phương đề xuất thường phân tán trên diện rộng mà chưa định hướng các vấn đề chuyên sâu để đưa ra các giải pháp xử lý Với tư cách là cơ quan tham mưu, tuy nhiên các Tỉnh, các Sở ban ngành cũng thiếu các cán bộ chuyên trách ở tầm chuyên gia có khả năng bao quát được các vấn
đề trọng tâm của ngành, chính vì vậy hiệu quả tư vấn cũng chưa cao Chưa có một
cơ quan chịu trách nhiệm chính, hay một Hội đồng Quốc gia như nhiều quốc gia khác đứng ra để thống nhất chiến lược phát triển ngành một cách lâu dài nhằm tối
ưu hoá nguồn lực hiện có để hỗ trợ ngành
Phát triển xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam là một trong những lĩnh vực được Chính phủ hết sức quan tâm nhằm cố gắng đạt được kim ngạch xuất khẩu 1,5 tỷ USD đến năm 2010 Chính phủ coi việc phát triển ngành nghề thủ công là một biện pháp chính sách hữu hiệu giúp chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động, phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa và giải quyết tệ nạn xã hội,
Nghị quyết đại hội lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2011-2010 nhấn mạnh “ nhà nước hỗ trợ khuyến khích phát triển mạnh các nhành công nghiệp
ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ, cần nhiều lao động Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong
Trang 27việc cấp đất, hướng dẫn, khuyến khích và hỗ trợ các ngành nghề nông thôn sử dụng máy móc, công cụ cải tiến, thực hiện cơ khí hóa các khâu sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường; hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển nhiều loại hình dịch vụ ở nông thôn, trước hết là các dịch vụ kỹ thuật, tín dụng, thương mại, đời sống để tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nông dân”
Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày 5/8/2008 cũng đã một lần nữa đề cao vai trò phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề, đề ra một trong những mục tiêu đến năm
2020 là “ Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay” Để đạt được mục tiêu này cần phải” phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn theo quy hoạch, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, tinh, chế biến sâu gắn với vùng nguyên liệu và thị trường, đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, triển khai chương trình bảo tồn và phát triển nghề”
Nhận thức rõ vai trò và tiềm năng kinh tế từ phát triển làng nghề, Chính phủ, các Bộ, ngành đều đã có những chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó nhấn mạnh khuyến khích và hỗ trợ chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề, bao gồm bảo tồn phát triển làng nghề truyền thống; phát triển làng nghề gắn với du lịch và phát triển làng nghề mới Năm 2006 Bộ Công nghiệp đã xây dựng xong và trình Chính phủ chiến lược phát triển tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006-2015, trong đó đặt mục tiêu giải quyết việc làm thường xuyên cho 1,5 triệu lao động từ 3-5 triệu nông nhàn, xây dựng hệ thống sản xuất cạnh tranh và bền vững, phát triển các sản phẩm thủ công và tăng cường năng lực cho làng nghề
1.3.3 Quản lý của chính quyền địa phương đối với làng nghề
Các làng nghề hiện nay đều nằm trong tình trạng chung là công tác quản lý, bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức Hầu hết các xã không có cán bộ
Trang 28có chuyên môn về môi trường, chỉ có cán bộ kiêm nhiệm Vì vậy thời gian giành cho công tác quản lý môi trường của các cán bộ này không nhiều, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc Tất cả các xã đều không có kế hoạch bảo vệ môi trường riêng cho địa phương mình Vì thiếu cán bộ, không giành nhiều thời gian cho công tác này nên chính quyền chưa thể nắm bắt hết những bất cập về môi trường tại địa phương, nhiều khi chính quyền chỉ biết các thông tin về ô nhiễm môi trường khi có
sự kiện cáo giữa các hộ sản xuất và hộ không sản xuất, nhà dân và còn nhiều lúng túng trong việc xử lý những tranh chấp này Hầu hết các cấp chính quyền chưa ý thức được tầm quan trọng của việc tuyên truyền, chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường đến nhân dân
Các cán bộ làm kiêm nhiệm công tác quản lý môi trường tại địa phương chưa được đào tạo cơ bản về chuyên ngành quản lý môi trường, cũng chưa được tham gia khoá tập huấn nào về chuyên môn, nên làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý môi trường của địa phương
Nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề rất khan hiếm Nguồn kinh phí của địa phương phục vụ công tác này hàng năm hầu như không có, trong khi đó do chưa có bắt buộc của các cơ quan chức năng nên các
cơ sở sản xuất hầu như không chi phí gì cho công tác này Cũng do đặc thù sản xuất nhỏ, vốn không nhiều nên các chủ hộ không muốn và nhiều khi không thể chi phí cho công tác bảo vệ môi trường tại cơ sở mình Trong khi đó, việc vay vốn hay tìm nguồn hỗ trợ để cải thiện môi trường cho các hộ sản xuất không khả thi vì hầu như không có tổ chức tài chính nào trên địa bàn cho vay vốn vào công việc này
1.3.4 Những tồn tại và bất cập trong quản lý môi trường làng nghề
Luật Bảo vệ Môi trường là văn bản pháp luật cao nhất, đã dành hẳn một Điều luật riêng về bảo vệ môi trường làng nghề (Điều 38) Tuy nhiên cho đến nay chưa
có một văn bản dưới luật nào quy định riêng đối với các nội dung về bảo vệ môi trường làng nghề, phân cấp quản lý và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đối tượng Nghị định số 66/2006/NĐ-CP cũng không phải là văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ Môi trường, vì vậy nội dung về bảo vệ môi trường chỉ được đề
Trang 29cập đến ở mức độ coi bảo vệ môi trường nông thôn là một nội dung cần quan tâm trong quá trình phát triển ngành nghề nông thôn
Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23/5/2007 của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước có hiệu lực, bộ máy quản lý môi trường các ngành được tăng cường rõ rệt Tuy nhiên các đơn vị chuyên môn về bảo vệ môi trường của các ngành hầu như chưa được quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể liên quan đến bảo vệ môi trường làng nghề Chức năng bảo vệ môi trường làng nghề của các cấp địa phương còn mờ nhạt, chủ yếu mới dừng lại ở việc quy định trách nhiệm chủ yếu thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Nghị định 81/2006/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nếu như áp dụng cho đối tượng hoạt động là sản xuất của làng nghề thì chưa phù hợp Thực tế là không có hộ sản xuất nào của làng nghề mà không gây ô nhiễm môi trường, tuy ở mức độ khác nhau Như vậy nếu áp dụng theo quy định của Nghị định này thì hầu hết các cơ sở sản xuất của làng nghề đều bị xử phạt, kèm theo đó là nhiều cơ sở sẽ không được tiếp tục hoạt động do chủ
cơ sở không đủ khả năng nộp phạt hoặc không có khả năng tự xử lý được ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất của mình gây ra
Tóm lại, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết việc thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề chưa đầy đủ và chi tiết, gây ra nhiều lúng túng cho các đơn vị, cá nhân thi hành luật Điều này đã gây ra hiện tượng tiêu cực, làm ngơ trước phát luật của một bộ phận người dân trong làng nghề cũng như cán bộ quản lý Tại các địa phương, việc quản lý và xử phạt hành chính các vi phạm về môi trường ở làng nghề chưa được quan tâm Khi giải quyết các mâu thuẫn về môi trường thường không kiên quyết, còn nặng về tình làng nghĩa xóm mà không theo pháp luật
1.3.5 Quy hoạch của Nhà nước về phát triển làng nghề
Hội nghị TƯ 5 khóa IX đã xác định: Ngành tiểu thủ công nghiệp là thành phần quan trọng và cơ bản của công nghiệp nông thôn, đóng vai trò quan trọng
Trang 30trong nền kinh tế quốc dân và góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống Nó là nguồn tài nguyên, nguồn thu ngoại tệ của đất nước Phát triển các nghề thủ công sẽ giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận nông dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo, phát triển du lịch, ổn định tình hình trật tự, an ninh xã hội trên địa bàn phát triển nông thôn mới, gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Cho đến nay, nhà nước đang trong giai đoạn xây dựng dự thảo chiến lược và quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp đến năm 2020 Theo dự thảo, mục tiêu và định hướng phát triển như sau:
- Mục tiêu chung
Mục tiêu 1: Thiết lập hệ thống sản xuất cạnh tranh và bền vững
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, sự phát triển của công nghiệp và kỹ thuật mới, sự phát triển của thị trường và hội nhập quốc tế, sự phát triển của đời sống xã hội mới đã cùng lúc tác động trực tiếp và mạnh mẽ vào các nghề thủ công Một mặt,
nó tạo ra điều kiện phát triển mới cho các nghề thủ công, như nguyên liệu mới, công
cụ lao động mới, giải pháp kỹ thuật mới, thị trường mới, phương thức bán hàng mới, nhu cầu tiêu thụ mới v.v… Mặt khác nó cũng đặt ra những thách thức mới như
sự cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp với nhiều ưu thế hơn hẳn, sự cạnh tranh của các sản phẩm thủ công của các nước, sức ép thu hẹp thị phần, các đòi hỏi ngày càng cao của nhu cầu xã hội v.v… Vì vậy, phát triển các nghề thủ công trong thời kỳ công nghiệp hóa không dễ dàng Nếu không tạo ra được mặt hệ thống sản xuất có tính cạnh tranh và bền vững, các nghề thủ công tự nó sẽ mai một dần trước
sự phát triển của công nghiệp và thị trường quốc tế
Mục tiêu 2: Cải tiến hệ thống phát triển sản phẩm thủ công
Hệ thống sản xuất phải được hợp lý hoá bằng cách không chỉ chú trọng đến các vấn đề kỹ thuật như cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng, mà còn phải bằng sự bảo hộ hợp lý cho những sản phẩm mới và tiến hành nghiên cứu thị trường để tăng khả năng thâm nhập của các sản phẩm thủ công vào các thị trường tiềm năng
Trang 31Mục tiêu 3: Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống
Các nghề thủ công từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được của truyền thống văn hóa dân tộc Truyền thống đó không chỉ thể hiện trên sản phẩm mà còn là cách sử dụng nguyên liệu thiên nhiên, cách chế tác và sử dụng công cụ lao động, các bí quyết hành nghề v.v… Bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc thể hiện trên sản phẩm thông qua màu sắc, hoa văn, hình dáng, cách dùng v.v…, góp phần nâng cao giá trị và tạo sự khác biệt của sản phẩm thủ công và đó lý do cơ bản để khách hàng lựa chọn và quyết định mua Vì thế phát triển nghề thủ công không chỉ quan tâm đến các yếu tố kinh tế, kỹ thuật mà còn phải quan tâm đến các yếu tố văn hóa, nghệ thuật của sản phẩm nữa
Mục tiêu 4: Tăng cường năng lực cho các làng nghề và xã
Để nâng cao mức sống và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, các làng và xã nghề cần xây dựng năng lực thông qua việc phân tích một cách toàn diện những hạn chế, khó khăn mà họ đang gặp phải và xem xét ngành nghề thủ công có thể giúp gì
để khắc phục những khó khăn đó Điểm mấu chốt để thành công là người dân cũng như chính quyền địa phương phải tham gia tích cực vào toàn bộ quá trình trên, nó không chỉ giúp họ có được năng lực mà còn khuyến khích các hoạt động phát triển hơn nữa và sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành phần liên quan ở địa phương
Mục tiêu 5: Kiện toàn và phát triển khung thể chế ngành tiểu thủ công nghiệp
Có nhiều cách để nâng cao tính cạnh tranh của các nghề thủ công và tạo động lực cho sự phát triển đó Hiện nay Đảng và Nhà nước đã và đang nỗ lực xây dựng các cơ chế, chính sách, chương trình và biện pháp hỗ trợ nhằm phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp Tuy nhiên việc điều chỉnh và xây dựng mới những cơ chế, chính sách phù hợp với hoàn cảnh mới, tạo động lực cho sự phát triển các nghề thủ công là công việc quan trọng và rất cần thiết
Mục tiêu 6: Mục tiêu định lượng
- Tăng trưởng bình quân của toàn ngành tiểu thủ công nghiệp là 15 %
- Doanh thu về xuất khẩu đạt 990 triệu USD đến năm 2015
Trang 32- Tạo công ăn việc làm cho khoảng 40% lực lượng lao động tại nông thôn
- Đào tạo cho khoảng 1 triệu lao động, cả lao động mới và lao động có tay nghề cao
- Tăng thu nhập bình quân cho người lao động từ 20-40 % góp phần ổn định kinh tế nông thôn, an ninh chính trị, hạn chế tình trạng di dân
Tóm tắt Chương 1
Chương 1 luận văn cho thấy lịch sử phát triển và vai trò quan trọng của Làng nghề Việt Nam, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế xã hội và những kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số nước trong khu vực
Cùng với những thay đổi tích cực để thích nghi trong giai đoạn hội nhập của đất nước với nền kinh tế thế giới, các làng nghề cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững, các chất thải phát sinh từ nhiều làng nghề đang gây ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp tới sức khỏe cộng đồng Mức độ ô nhiễm của làng nghề có xu hướng gia tăng, nhất là ô nhiễm bụi, nước thải tại các làng nghề gốm, sứ, vật liệu xây dựng, cơ khí, đồ gỗ mỹ nghệ và các làng nghề tái chế, các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ…
Chương 1 cung cấp về các nhóm làng nghề tại Việt Nam, các đặc trưng về ô nhiễm môi trường làng nghề, chính sách của Nhà nước về phát triển nghề và quản
lý làng nghề hiện nay
Tiếp theo Chương 2 của luận văn sẽ mô tả về đặc trưng của làng nghề Hà Nội, thực trạng môi trường và quản lý môi trường ở làng nghề Hà Nội nói chung và làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy địa bàn Hà Nội nói riêng
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Ở LÀNG NGHỀ THUỘC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ, SÔNG ĐÁY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Làng nghề Hà Nội
2.1.1 Khái quát làng nghề Hà Nội
Nghề và làng nghề ở Hà Nội rất phong phú đa dạng Lịch sử đã chứng minh được rằng các làng nghề, phường nghề ở Thăng long có từ trước đầu thế kỷ thứ XIV Sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi viết dâng vua Lê thái Tông năm 1435 có đoạn viết về làng nghề, phường nghề ở Hà nội "Phường Yên Thái làm giấy, phường Thụy Chương, phường Nghi Tàm dệt vải nhỏ và lụa, phường Hà Tân nung đá vôi " Điều đó chứng tỏ Thủ Đô Hà Nội ngày nay - kinh đô từ đời xưa - là nơi đã có nhiều nghề thủ công truyền thống lâu đời và nó cũng trải qua chặng đường dài hàng ngàn năm lịch sử của đất nước
Hà Nội là Kinh đô từ đời xưa, vì vậy qua các triều đại, nhân tài từ khắp mọi miền đất nước hội tụ về với mọi tinh hoa, mọi nghề nghiệp “khéo tay hay nghề” Trải qua thời gian năm tháng, cùng với những thăng trầm của lịch sử, một số nghề thủ công vẫn tồn tại, duy trì và phát triển, truyền tiếp nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác, rồi dần dần quanh Thăng Long hình thành các làng nghề Có những nghề đã trở thành nghề truyền thống của một vùng dân cư, thậm trí gắn liền với tên làng, tên
xã của nông thôn ngoại thành như: gốm Bát Tràng, dát vàng Kiêu Kỵ, bánh cuốn Thanh Trì, đúc đồng Ngũ Xã, bún Phú Đô, cốm Vòng Và các làng nghề này cũng dần dần được nổi danh, trở thành di sản văn hoá thủ công nghiệp vô giá của Hà Nội Hiện nay, Thành phố Hà Nội có 1.350 làng có nghề, trong đó có 274 làng nghề đã được UBND thành phố cấp bằng công nhận danh hiệu làng nghề, trong đó
có 182 làng nghề truyền thống được công nhận với 99 “Nghệ nhân Hà Nội” và hàng nghìn thợ giỏi Các làng nghề được công nhận phân bố ở 15/20 quận, huyện: Thanh Oai 51 làng, Thường Tín 43 làng, Phú Xuyên 37 làng, Chương Mỹ 31 làng; Ứng Hoà
19 làng; Ba Vì 14 làng; Hoài Đức 15 làng , Quốc Oai 14 làng, Thạch Thất 9 làng, Mỹ
Trang 34Đức 6 làng, Phúc Thọ 5 làng, Thành phố Hà Đông 2 làng, Thành phố Sơn Tây 2
làng, Đan Phượng 7 làng và Mê Linh 1 làng, Gia Lâm có 28 làng nghề, Thanh Trì
có 19 làng nghề, Từ Liêm có 18 làng nghề, Đông Anh có 16 làng nghề và Sóc Sơn
có 2 làng nghề
Ngành nghề tại các làng nghề phát triển khác nhau nhưng tập trung chủ yếu
một số ngành nghề sau: gốm sứ, dệt lụa, dệt may, mộc, chạm khắc gỗ, mây tre đan,
cơ - kim khí, dược liệu, dát quỳ vàng, quỳ bạc, đúc đồng, kim hoàn, chế biến lương
thực - thực phẩm - bánh mứt kẹo - đồ uống… Sản phẩm của làng nghề chủ yếu là
sản phẩm thủ công nghiệp, vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị văn hóa truyền
thống Sự phát triển của các làng nghề tại các huyện đem lại diện mạo mới cho
ngoại thành Hà Nội, hình thành nên khu vực công nghiệp nông thôn, giải quyết
đáng kể việc làm cho nông dân ngoại thành, cải thiện đời sống của nhân dân và hạn
chế di dân, đóng góp vào ngân sách địa phương, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, đồng thời góp phần
duy trì và bảo tồn di sản văn hóa của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung
Nghề và làng nghề đã đem lại việc làm cho gần 1 vạn lao động, bình quân mỗi cơ
sở sản xuất ở các làng nghề đã tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên,
8 - 10 lao động thời vụ, thu hút 60 - 90% lao động địa phương và các vùng lân cận
Một số ngành nghề khác thì tỷ lệ thu hút còn cao hơn như nghề may, đồ gỗ, gốm
sứ…bình quân 50 lao động/cơ sở
2.1.2 Đặc trưng của làng nghề Hà Nội
Một số căn cứ pháp lý để Hà Nội đầu tư phát triển làng nghề :
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
- Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 18/7/2002 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng IX về đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ
2001 - 2020
- Nghị định số 134/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/6/2004 về khuyến
khích phát triển công nghiệp nông thôn
- Nghị định 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/7/2006 về phát triển
ngành nghề nông thôn
Deleted: Một số căn cứ pháp lý để
Hà Nội đầu tư phát triển làng nghề nói chung và lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy nói riêng¶
- Chỉ thị số 28/2007/CT- BNN ngày 18/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc “Đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề”¶
- Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND ngày 02/5/2008 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề Hà Nội.¶
- Quy hoạch phát triển nghề và làng nghề
Hà Nội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.¶
- Quyết định số 554/QĐ-UBND Ngày 27/01/2011 phê duyệt đề án “Bảo tồn phát triển nghề và làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020”.¶
- Quyết định số 1893/QĐ-UBND ngày
25 tháng 4 năm 2011 về quy định mức chi phí đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo quyết định 1956/QĐ-TTg giai đoạn
2011 – 2015(đợt 1).¶
Trang 35- Chỉ thị số 28/2007/CT- BNN ngày 18/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc “Đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề”
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điểm của Luật Bảo vệ môi trường Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ xung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006
- Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
- Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc
bộ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
- Quyết định số 1878/QĐ/TTg ngày 22/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020
- Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND ngày 02/5/2008 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề Hà Nội
- Quy hoạch làng nghề gắn với vùng nguyên liệu phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Quy hoạch phát triển công nghiệp Thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm
Trang 36- Quyết định số 554/QĐ-UBND Ngày 27/01/2011 phê duyệt đề án “Bảo tồn phát triển nghề và làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020”
- Quyết định số 1893/QĐ-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2011 về quy định mức chi phí đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo quyết định 1956/QĐ-TTg giai đoạn 2011 – 2015(đợt 1)
- Về mặt bằng sản xuất: Đặc trưng của các làng nghề là các hộ đều tận
dụng diện tích đất ở để làm cơ sở sản xuất, việc sản xuất xen lẫn với sinh hoạt gia đình
- Về nguồn vốn: Nguồn vốn chủ yếu là của các hộ gia đình sản xuất với quy
mô nhỏ, nguồn vốn của các hộ chủ yếu là vốn tự có chiếm trên 70% số vốn sản xuất Quy mô vốn từ 15 - 50 triệu đồng/hộ Chỉ có một số ít các doanh nghiệp tại làng nghề có quy mô vốn tương đối lớn, tập trung chủ yếu tại làng nghề gốm sứ Bát Tràng và làng may Cổ Nhuế, làng nghề sắt thép Phùng Xá, Thạch Thất
- Về trình độ công nghệ: Trình độ công nghệ tại các làng nghề đang ở nhiều
mức độ khác nhau, nhưng chủ yếu đang chuyển từ giai đoạn sản xuất thủ công sang sản xuất cơ giới Có thể chia ra làm 2 loại sau:
+ Một số công đoạn, sản phẩm sản xuất vẫn dựa trên lao động thủ công Những chi tiết làm bằng tay thể hiện được tinh hoa của người thợ thủ công và mang sắc thái riêng của làng nghề, là yếu tố phân biệt giữa sản phẩm thủ công và sản phẩm công nghiệp Đó là những sản phẩm mang tính mỹ thuật cao như gốm sứ Bát Tràng, gỗ Vân Hà, dệt lụa Hà Đông, sơn mài, khảm trai… hoặc một số sản phẩm đơn giản như tre trúc…
+ Một số công đoạn sản xuất sản phẩm có sự tham gia của máy móc như dệt, may, sắt thép, gốm sứ…các doanh nghiệp, HTX, hộ sản xuất đã đầu tư đổi mới quy trình công nghệ, thay thế nhiều công đoạn sản xuất thủ công bằng máy móc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường
Trang 37- Về cơ sở hạ tầng của làng nghề: Hệ thống cấp và thoát nước chưa đồng
bộ đặc biệt là hệ thống thoát nước thải, nhiều làng còn chưa xây dựng hệ thống cống hộp gây ô nhiễm môi trường
- Môi trường làng nghề: ô nhiễm môi trường tại làng nghề là tình trạng
chung, là vấn đề nổi cộm của hầu hết các làng nghề ngoại thành Hà Nội, và ngày càng có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống cũng như
việc phát triển sản xuất Tình trạng ô nhiễm môi trường đã có những ảnh hưởng
ngày càng rõ rệt đối với người dân trong những năm gần đây
- Trình độ lao động: đặc điểm nổi bật của lao động tại các làng nghề là có
đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi được hình thành, kế tiếp từ đời này qua đời khác dưới hình thức “cha truyền con nối” với kỹ thuật truyền thống và kinh nghiệm lâu đời đã tạo nên chất lượng và bản sắc độc đáo của sản phẩm làng nghề Tuy nhiên trình độ quản lý của các chủ cơ sở nói chung còn yếu, chưa qua đào tạo nên hầu như chỉ giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng quản lý
2.2 Làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy thành phố Hà Nội
2.2.1 Đặc trưng các làng nghề
Sông Đáy có chiều dài khoảng 237 km, chảy qua các tỉnh thành Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định và đổ ra biển qua cửa Đáy Sông Đáy nguyên là một phân lưu tự nhiên của sông Hồng, sông Đáy nhận nước của sông Hồng ở địa phận
Hà Nội giữa huyện Phúc Thọ và huyện Đan Phượng Quãng sông này còn có tên là sông Hát hay Hát Giang Chỗ sông Hồng tiếp nước là Hát Môn Từ năm 1937, sau khi xây dựng xong đập Đáy, nước sông Hồng không thường xuyên chảy vào sông Đáy, và nó trở thành con sông tiêu làm nhiệm vụ phân lũ khi có lũ xảy ra trên sông Hồng
Lưu lượng của sông bất thường, kết hợp dòng sông quanh co uốn khúc nên mùa mưa dễ tạo ra những ghềnh nước lớn Đến mùa khô thì lòng sông có chỗ cạn lội qua được nhất là vùng thượng lưu sông
Xuôi đến Vân Đình thì lòng sông rộng ra, lưu lượng chậm lại nên có thể đi thuyền được Khúc sông đây men đến vùng chân núi nên phong cảnh hữu tình Đến
Trang 38địa phận huyện Mỹ Đức, sông Đáy tiếp nhận dòng suối Yến (thủy lộ vào chùa Hương) Vượt đến tỉnh Hà Nam khi sông chảy vào thành phố Phủ Lý thì dòng sông Nhuệ góp nước từ phía tả ngạn Sông Đáy tiếp tục hành trình xuôi nam đón sông Bôi (sông Hoàng Long) bên hữu ngạn từ miền núi tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình dồn
về tại ngã ba Gián Khẩu, cách thành phố Ninh Bình khoảng 10 km về phía Bắc Đoạn này sông được gọi sông Gián Khẩu Qua khỏi Ninh Bình khoảng 20 km thì bên tả ngạn có phụ lưu là sông Đào (sông Nam Định) thêm nước Gần đến biển, sông Đáy chuyển hướng từ Tây Bắc-Đông Nam sang Đông Bắc-Tây Nam rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở Cửa Đáy, xưa gọi là cửa Đại An hay Đại Ác thuộc huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình
Sông Nhuệ có tổng chiều dài là 74km, bề rộng trung bình từ 30 - 40m Sông
Nhuệ bắt nguồn từ sông Hồng ở đập Liên Mạc và chảy qua các quận, huyện của thành phố Hà Nội như: quận Cầu Giấy, huyện Từ Liêm, huyện Thanh Trì, quận Hà Đông, huyện Hoài Đức, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Diện tích của toàn bộ lưu vực là 107.530 ha, trong đó: Hà Nội (cũ) chiếm 20.030 ha, Hà Tây (cũ) chiếm 67.727 ha
và Hà Nam chiếm 19.710 ha Chiều rộng của lưu vực khoảng 20 km Nhìn chung, lưu vực sông Nhuệ có hướng dốc từ Bắc xuống Nam Trên thực tế, sông Nhuệ là nguồn chứa và chuyển tải nước thải quan trọng nhất của thành phố Hà Nội Hầu hết toàn bộ hệ thống sông ở Hà Nội, bao gồm các sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu đều đổ vào sông Nhuệ qua đập Thanh Liệt với lưu lượng khoảng 300.000 - 350.000 m3/ngày đêm
2.2.2 Phân bố làng nghề
Căn cứ địa giới hành chính của Hà Nội mở rộng, sông Nhuệ, sông Đáy thuộc địa bàn Hà Nội chảy qua 14 quận, huyện với 131 phường, xã, thị trấn Trong đó sông Nhuệ chảy qua 6 quận, huyện với 47 phường, xã, thị trấn Sông Đáy chảy qua
9 quận, huyện với 84 phường, xã, thị trấn (có hai quận, huyện là Hà Đông và Thanh Oai đều có sông Nhuệ và sông Đáy chảy qua)
Trang 39Trên tổng số 14 quận, huyện với 131 phường, xã, thị trấn dọc sông Nhuệ,
sông Đáy có tới 85 làng nghề (đã được công nhận), phân bố chủ yếu thuộc các
quận, huyện của tỉnh Hà Tây(cũ) Trong đó, có 50 làng nghề thuộc lưu vực sông
Nhuệ và 35 làng nghề thuộc lưu vực sông Đáy Điều đặc biệt là có những xã có tới
7 làng nghề như xã Phương Trung - Thanh Oai, xã Chuyên Mỹ - Phú Xuyên Sự
phân bố thể hiện tại bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố làng nghề lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy
1)sông Nhuệ, sông Đáy chảy qua
địa bàn các quận, huyện, phường,
xã thuộc địa bàn Hà Nội
06 quận, huyện; 47 phường, xã
09 quận, huyện; 84 phường, xã
2) Số làng nghề Hà Nội thuộc lưu
vực sông Nhuệ, Sông Đáy
50 làng nghề 35 làng nghề
Phân bố chi tiết các làng nghề thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy địa bàn
Hà Nội (kèm theo phụ lục 1)
2.2.3- Số lượng, phân loại làng nghề
Tổng số 50 làng nghề Hà Nội thuộc lưu vực sông Nhuệ được phân thành 10
nhóm ngành nghề khác nhau và phân bố trên 06 quận, huyện bao gồm huyện: Từ
Liêm, Hà Đông, Thường Tín, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên Trong đó có 10
làng nghề thuộc nhóm ngành cơ kim khí, 08 làng nghề thuộc nhóm ngành sơn khảm
trai, 07 làng nghề thuộc nhóm ngành dệt may, 06 làng nghề thuộc nhóm ngành thêu
ren, 05 làng nghề thuộc nhóm ngành chế biến nông sản, 04 làng nghề thuộc nhóm
ngành mây tre giang đan và cỏ tế, 04 làng nghề thuộc nhóm ngành điêu khắc mộc,
03 làng nghề thuộc nhóm ngành da giầy, 02 làng nghề chế biến lâm sản, 01 làng
nghề thuộc nhóm ngành nhựa
Tổng số 35 làng nghề Hà Nội thuộc lưu vực sông Đáy được phân chia làm 5
nhóm ngành nghề trong đó nhóm ngành nghề mây tre giang đan có 6 làng, nhóm
ngành nghề chế biến nông sản có 13 làng nghề, nhóm ngành nghề dệt may, nhuộm
Formatted Table
Trang 40có 03 làng nghề, nhóm ngành nghề nón lá có 12 làng, nhóm ngành nghề chế biến lâm sản có 01 làng Được thể hiện trong bảng 2.2
Bảng 2.2- Số lượng, phân loại làng nghề: