Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại Phạm là khu căn cứ cách mạng của Chiến khu 10, một trong những căn cứ kháng chiến của Đảng ta.. Sự ra đời của khu căn cứ cách mạng Chiế
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh, giảng viên khoa Sử - Địa đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, thư viện trường Đại học Tây Bắc đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Em cũng xin cảm ơn cô giáo chủ nhiệm, tập thể lớp K52 Đại học sư phạm
Sử – Địa và toàn thể bạn bè đã giúp em trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Để khóa luận thêm hoàn thiện em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 26 tháng 04 năm 2015
Người thực hiện
Võ Thị Ngọc Châu
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ XÃ ĐẠI PHẠM 6
1.1 Vài nét khái quát về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, xã hội và dân cư 6
1.1.1 Vị trí địa lí 6
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.3 Tình hình kinh tế xã hội 9
1.2 Truyền thống lịch sử và văn hóa 12
1.2.1 Truyền thống lịch sử 12
1.2.2 Truyền thống văn hóa 16
CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH KHU CĂN CỨ CÁCH MẠNG CHIẾN KHU 10 – ĐẠI PHẠM (1947 – 1948) 20
2.1 Khái quát về Chiến khu 10 20
2.2 Quá trình hình thành khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 ở xã Đại Phạm 22 2.2.1 Phong trào đấu tranh cách mạng ở Đại Phạm trước năm 1947 22
2.2.2 Nhân dân xã Đại Phạm tham gia xây dựng Chiến khu 10 (1947 – 1948) 29 CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA KHU CĂN CỨ CHIẾN KHU 10 – ĐẠI PHẠM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ VỚI CÁC TỈNH PHÍA BẮC (1949 – 1954) 33
3.1 Quá trình phát triển Chiến khu 10 – Đại Phạm trong giai đoạn 1949 – 1954 33
3.2 Ảnh hưởng của khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm với các tỉnh phía Bắc 36
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đại Phạm là một xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Đại Phạm vốn cần cù trong lao động sản xuất, anh hùng, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, viết nên những trang sử hào hùng của địa phương Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại Phạm là khu căn cứ cách mạng của Chiến khu 10, một trong những căn cứ kháng chiến của Đảng ta
Khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm là chiến khu có đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Sự ra đời của khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm là kết quả của quá trình xây dựng lâu dài, đấu tranh kiên cường của quân dân các tỉnh phía bắc mà đặc biệt phải kể tới chi bộ cộng sản huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú
ta trong giai đoạn sau, đặc biệt hơn đây cũng là nơi trú chân của các đồng chí tù cách mạng, các đồng chí thương binh Cũng chính vì Chiến khu 10 đặt căn cứ cách mạng tại Đại Phạm nên phong trào đấu tranh ở đây sôi nổi hơn và ngày càng lan rộng ra các xã, huyện, tỉnh lân cận; lực lượng cách mạng cũng từng bước trưởng thành hơn Từ khi Chiến khu 10 được chuyển về xã Đại Phạm, việc tiếp nhận các chủ trương, chính sách của Đảng tới khu vực trung du và miền núi phía Bắc trở nên dễ dàng hơn, các chỉ đạo của mặt trận Việt Minh cũng sát sao hơn Nhờ có chiến khu mà công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia ủng hộ cách mạng cũng được xúc tiến mạnh mẽ, lực lượng quần chúng tham gia nay không chỉ còn là bộ phận nông dân nữa mà còn có cả bộ phận tay sai trước
đây của Pháp – Nhật tham gia ủng hộ cách mạng
Trang 4Chiến khu 10 đã góp một phần to lớn trong nhiều chiến thắng lớn của nhân dân ta, nhân dân Đại Phạm đã đóng góp cả tinh thần vật chất xây dựng Chiến khu 10 Nhờ có Chiến khu 10 Đảng ta đã có được chỗ dựa vững chắc về nhân lực, vật lực để có thể mạnh dạn đề ra và thực hiện chiến dịch, trận đánh giành thắng lợi nhanh chóng, to lớn Không những thế Chiến khu 10 còn là nơi gia tăng tình đoàn kết Việt Lào, trong thời gian Chiến khu 10 đóng tại huyện Hạ
Hòa đội vũ trang Lát-xa-vông ra đời Chiến khu 10 – Đại Phạm có ảnh hưởng
không nhỏ tới phong trào đấu tranh của các tỉnh phía Bắc, là nguồn cổ vũ lớn lao
để nhân dân các địa phương dốc lòng cho kháng chiến
Chiến khu 10 – Đại phạm có ý nghĩa rất lớn như vậy thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này một cách hoàn chỉnh và hệ thống, nhiều vấn đề khoa học về khu căn cứ cách mạng này vẫn chưa được làm rõ Vì thế việc lựa chọn “Chiến khu 10 – Đại Phạm (1947 – 1954)” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lí luận và thực tiễn như sau:
Về khoa học
+ Khôi phục lại một các khoa học, hệ thống, hoàn chỉnh, chính xác về quá trình xây dựng và phát triển của khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm
+ Làm rõ vai trò vị trí của khu căn cứ cách mạng trong giai đoạn 1947 –
1954 và ảnh hưởng của nó với các tỉnh phía Bắc
Về thực tiễn
+ Bổ sung thêm tài liệu nghiên cứu về Chiến khu 10
+ Làm tài liệu tham khảo để giảng dạy về lịch sử địa phương trong trường phổ thông đặc biệt là xã Đại Phạm
+ Thiết thực góp phần truyền thống yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc cho con em nhân dân địa phương đặc biệt là trong thời kì đổi mới hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chiến khu 10 – Đại Phạm đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu sau:
Trang 5+ Cuốn “Căn cứ địa Việt Bắc”, Hoàng Quang Khánh (chủ biên), (1976), Nhà xuất bản Việt Bắc đã đề cập đến quá trình ra đời và phát triển của Chiến khu 10
+ Trong các tác phẩm: Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, (NXB Sự Thật, Hà Nội, 1971), Dân quân tự vệ một lực lượng chiến lược (NXB
Sự thật; H 1974) và Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta (NXN Quân đội nhân dân, Hà Nội.1973), Chiến tranh nhân dân Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
2002), Tổng bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày về căn cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề: Khái niệm căn cứ địa, các hình thức phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, cơ sở để xây dựng và vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng
+ Một số tác phẩm của các tác giả: nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: “Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam” (Tạp chí Lịch sử quân
sự, số 3 năm 1993) và của Giáo sư Sử học Văn Tạo: “Căn cứ địa cách mạng - truyền thống và hiện tại” (Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4 năm 1995) Các bài viết
này tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về căn cứ địa như: khái niệm, nguồn gốc, tính chất, đặc điểm nêu bật những đặc trưng của căn cứ địa ở Việt Nam nói chung và trong hai cuộc kháng chiến nói riêng
+ Cuốn “Hạ Hòa tiềm năng và cơ hội đầu tư” của Nguyễn Văn Khỏe chủ biên (2005) cũng đã đề cập đến chiến khu 10 – Đại Phạm trong chương II: Hạ Hòa – mảnh đất giàu truyền thống cách mạng
Có thể nói, tất cả các công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề này dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nhưng sự phản ánh đó còn rất chung chung Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên cũng định hướng và là nguồn tài liệu tham khảo quý giá để tôi đi vào nghiên cứu đề tài này, làm rõ thêm một
số vấn đề khoa học mà các công trình nghiên cứu khác chưa có điều kiện thực hiện
Trang 63 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài
3.1 Đối tượng, nhiệm vụ
Chiến khu 10 – Đại Phạm được đề cập trên tất cả các khía cạnh:
+ Vài nét khái quát về xã Đại Phạm
+ Những khó khăn dẫn tới việc chuyển địa điểm của Chiến khu 10 về xã Đại Phạm
+ Quá trình xây dựng khu căn cứ Chiến khu 10 – Đại Phạm
+ Khu căn cứ Chiến khu 10 – Đại Phạm trong giai đoạn 1947 – 1954 + Ảnh hưởng của khu Chiến khu 10 – Đại Phạm với các tỉnh phía Bắc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát
triển và các hoạt động của căn cứ cách mạng chiến khu 10 – Đại Phạm trong giai đoạn 1947 – 1954
Về không gian: Đề tài giới hạn trong địa bàn xã Đại Phạm, huyện Hạ Hòa,
tỉnh Phú Thọ hiện nay
3.3 Đóng góp của đề tài
- Góp phần khôi phục lại một phần cụ thể, chi tiết, chính xác quá trình hình thành, phát triển của khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm ở huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ (1947 – 1948)
- Ảnh hưởng của Chiến khu 10 – Đại Phạm ở các tỉnh phía Bắc
- Thiết thực góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc cho con em nhân dân địa phương trong công cuộc cách mạng hiện nay của đất nước Có ý thức gìn giữ, bảo vệ, phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
- Các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tri của cấp trên gửi cho Huyện ủy, Ủy
ban kháng chiến hành chính huyện Hạ Hòa trong những năm kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945 – 1954)
Trang 7- Các sách, báo viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sách báo viết về lịch sử đấu tranh cách mạng của các địa phương có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và căn
cứ địa để làm cơ sở nghiên cứu
Về phương pháp chuyên ngành, Khóa luận vận dụng phương pháp lịch
sử là chủ yếu, nhằm trình bày nội dung của đề tài theo tiến trình lịch sử Đồng thời phương pháp lôgic cũng được sử dụng để dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động chức năng của căn cứ cách mạng Chiến khu
10 – Đại Phạm với tất cả những diễn biến, sự kiện điển hình một cách chân thực như nó từng có
Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng các phương pháp khác như: phỏng vấn các nhân chứng lịch sử, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp tổng hợp, trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu để nghiên cứu và trình bày khóa luận
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; đề tài được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Vài nét khái quát về xã Đại Phạm
Chương 2: Sự hình thành khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm (1947 – 1948)
Chương 3: Quá trình phát triển của khu căn cứ cách mạng Chiến khu
10 – Đại Phạm và ảnh hưởng của nó với các tỉnh phía Bắc (1949 – 1954)
Trang 8CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ XÃ ĐẠI PHẠM
1.1 Vài nét khái quát về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế,
xã hội và dân cư
1.1.1 Vị trí địa lí
Chiến khu 10 – Đại Phạm thuộc địa phận xã Đại Phạm huyện Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ) là huyện giáp gianh với tỉnh Yên Bái, có vị trí đặc biệt thuận lợi
để xây dựng khu căn cứ cách mạng
Hạ Hòa là huyện miền núi nằm ở phía bắc tỉnh Phú Thọ, có vị trí chuyển tiếp giữa trung du và miền núi phía bắc, đây đã từng là một trong các trung tâm của quốc gia Văn Lang thời vua Hùng dựng nước, hiện còn lưu danh những tên tuổi mang dấu ấn truyền thuyết với đền Mẫu Âu Cơ, giếng Ngọc, đầm Ao Châu
99 nghách
Huyện Hạ Hòa phân bổ ở đôi bờ sông Thao, phía đông bắc giáp huyện Đoan Hùng trên một đoạn đường dài 32,15 km; phía nam giáp huyện Sông Thao (19,369 km); phía Đông giáp huyện Thanh Ba (19,618 km); phía tây nam giáp huyện Yên Lập (16,475 km), phía tây bắc giáp hai huyện Trấn Yên, Yên Bình (Yên Bái – 37,511 km) huyện có diện tích 339,334 km, thị trấn huyện lị Hạ Hòa cách thành phố Việt Trì 70 km
Đại Phạm là xã miền núi nằm ở phía bắc thuộc huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ Với diện tích là 2182,5 ha Đại Phạm có ranh giới tự nhiên giáp tỉnh Yên Bái ở phía đông (hồ Thác Bà), phía tây giáp xã Văn Lãng (huyện Trấn Yên), phía đông giáp xã Bằng Luân huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáp xã Phụ Khánh và Lệnh Khanh, phía nam giáp xã Hà Lương huyện Hạ Hòa, phía bắc giáp xã Thịnh Hưng (huyện Yên Bình) Đại Phạm là một địa phương có
vị trí địa lí đặc biệt quan trọng là nơi giao điểm giữa Phú Thọ và Yên Bái, có điều kiện thuận lợi để giao lưu với các tỉnh miền núi Tây Bắc; là đầu mối giao lưu quan trọng cách trung tâm huyện theo đường tỉnh lộ 314
Năm 1946, mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp trong phạm vi cả nước, trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Trung ương Đảng, Chính phủ và
Trang 9Bác Hồ đã quyết định thành lập các chiến khu trong đó có Chiến khu 10, nhằm xây dựng căn cứ địa và lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài
Do yêu cầu bố trí địa bàn chiến lược kháng chiến địa giới Chiến khu 10 có
sự thay đổi nhiều lần Tháng 10 – 1945, Chính phủ quyết định chia cả nước thành các chiến khu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 11 Theo đó các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang thuộc Chiến khu 1 (chiến khu 1 lúc này gồm 13 tỉnh, ngoài các tỉnh kể trên còn có Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Bắc Giang, Bắc Ninh) Đến tháng 10 – 1946, Xứ
ủy và Ủy ban hành chính giải thể, cả nước chia làm 12 chiến khu, các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang thuộc Chiến khu 10
Di tích khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm bao gồm các khu Hội trường Gò Dứa, Hang Dơi, Quân y vụ, kho bạc, xưởng in, nhà thờ họ Dương, Doanh trại quân đội, xưởng vũ khí Z2 Di tích khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm nằm cách xa quốc lộ 2, gần sông Hồng, cách xa sông
Lô
Với vị trí như vậy cách xa những đầu mối giao thông quan trọng, ít bị ảnh hưởng nếu như địch tấn công, hơn thế nữa đây là khu vực giáp gianh với tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hỗ trợ lẫn nhau trong đánh địch
Thôn Sơn Nhiễu xã Đại Phạm là thung lũng kín nằm hầu như trọn trong núi Sơn Nhiễu Núi Sơn Nhiễu cao 152 m so với mực nước biển, địa hình hiểm trở, đường đi lại tương đối khó khăn, thời kì trước đây, núi Sơn Nhiễu hầu hết là rừng cây nguyên sinh khá lớn, dầy đặc tạo điều kiện cho nuôi giấu quân Hơn nữa Sơn Nhiễu là thôn giáp gianh với làng Hơn, xã Thịnh Hưng (Yên Bình, Yên Bái) nơi đặt trụ sở Ủy ban kháng chiến của Chiến khu 10, tạo điều kiện thống nhất Chiến khu 10 về cả tổ chức và lực lượng
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Huyện Hạ Hòa có địa hình thuộc dạng lòng chảo, thoải dần theo hướng đông nam, được tạo bởi các triền núi cao như núi Văn, núi Ông, núi Tiên Phong,
núi Kìm, núi Trưa,…
Trang 10Toàn huyện có 13882 ha rừng bao gồm 2367 ha rừng tự nhiên và 11455
ha rừng trồng Khí hậu của Hạ Hòa nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa mang nét đặc trưng của khí hậu miền núi phía tây bắc Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24°C Độ ẩm trung bình từ 80 – 85 % /năm
Sông ngòi và hồ đầm phong phú, trữ lượng nước lớn, phục vụ cho sinh hoạt sản xuất, vận chuyển, nuôi trồng thủy sản và du lịch Tài nguyên khoáng sản của Hạ Hòa chủ yếu được khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng
Xã Đại Phạm có diện tích là 2182,5 ha tính đến năm 2000 Trong đó đất nông nghiệp là 329,49 ha chiếm 15,1 %; đất lâm nghiệp là 1521,02 ha chiếm 69,7 % còn lại là đất chuyên dùng và các loại đất khác
Đất nông nghiệp của xã chủ yếu là ruộng rộc bậc thang nằm dọc ven các sườn đồi và hai bên Ngòi Cái, tập trung thành vùng mỗi vùng rộng từ 5 – 7 ha Trong đó có cánh đồng Miển khu 7 là rộng lớn nhất Do độ dốc lớn, dễ bị rửa trôi, độ chua cao, dinh dưỡng thấp Về mùa mưa hay bị ngập úng, nhiều thửa ruộng bùn lá trằm bềnh, bùn sâu, chủ yếu dùng để cấy lúa nhưng cũng chỉ làm được một vụ một mùa, năng suất thấp chỉ được khoảng 70 – 80 kg/sào
Đất đai ở Đại Phạm chủ yếu là đất đồi núi, chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiên toàn xã Đất đồi rừng của xã tập trung ở khu vực có độ dốc lớn, thành phần chủ yếu là đất đỏ, tầng đất dày, dinh dưỡng cao thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp như chè, sơn, cây nguyên liệu giấy Do điều kiện thuộc vùng rừng núi nên đồng ruộng của xã chủ yếu phụ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên
Đại Phạm có Ngòi Cái chảy qua, bắt nguồn từ xã Minh Lương (Đoan Hùng) chảy qua xã Hà Lương đến Đại Phạm, dọc theo chiều dài của xã, sau đó
đổ vào Ngòi Sen thuộc Văn Lãng thuộc huyện Trấn Yên (Yên Bái) với tổng chiều dài 12 km Lúc bình thường lượng nước tuy không nhiều nhưng mùa mưa nước từ các ngọn núi đổ về gây lũ lớn ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân Nước từ trên 3 dòng suối trên núi Can Sanh chảy xuống tạo thành 3 thùng nước lớn trên núi đá, sau đó chảy thành dòng, nhân dân địa phương đặt tên gọi là dõng Huê, dõng Dàm Nước dõng Huê trong và lạnh hơn, nước dõng Dàm đục và nóng hơn Hai dõng nước này đều đổ ra Ngòi Cái tại Đát Cút với
Trang 11chiều dài từ trên núi xuống tới sông Hồng dài khoảng 9,5 km, độ dốc tương đối lớn khiến cho sản xuất nông lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn
Cách đây khoảng gần nửa thế kỉ Đại Phạm còn là nơi có nhiều rừng rậm núi cao Phía bắc có ngọn núi Chum cao trên 109 m (so với mặt nước biển) tiếp giáp với xã Thịnh Hưng huyện Yên Bình (tỉnh Yên Bái) Phía tây có ngọn núi Cao Sanh cao 141,5 m tiếp giáp với 2 xã Phụ Khánh và Lệnh Khanh được mệnh
danh là “Vân ưng Trung Sơn” Trên rừng có nhiều muông thú, lâm thổ sản quý
hiếm, là nguồn sống chính của một bộ phận nhân dân trong xã Với địa hình như vậy thuận lợi cho nuôi giấu quân và hoạt động du kích, chính vì vậy nơi đây đã được Trung ương Đảng, Chính phủ chọn làm căn cứ cách mạng của Chiến khu
10
1.1.3 Tình hình kinh tế xã hội
Theo tài liệu cổ còn lưu lại, khoảng giữa thế kỉ XII trở đi, nhà Lí bắt đầu suy tàn và thực hiện nhiều chính sách bóc lột nặng nề với nhân dân ta đặc biệt là với người nông dân, chính vì thế lúc này đã diễn ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân khắp nơi Trước tình hình đó, nhà Lí cho quân tiến hành đàn áp các phong trào đấu tranh và bắt bớ các thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa Vùng đất này dùng để giam cầm và quy tội chết “Đại tội” Đã có nhiều thủ lĩnh bị bắt và giam cầm tại đây, nơi này được chính quyền đương thời gán cho tội “nổi loạn” nên vùng đất này được gọi là Đại Phạm
Từ thời nhà Trần đến nhà Nguyễn, Đại Phạm thuộc huyện Hạ Hòa (thế kỉ XIII), huyện Hạ Hòa (thế kỉ XV), huyện Thanh Ba (thế kỉ XVIII) Đến cuối thế
kỉ XV, thực dân Pháp cơ bản đặt ách thống trị lên đất nước ta, chúng chia nhỏ những đơn vị hành chính để dễ bề cai trị Năm 1891, tỉnh Hưng Hóa được thành lập, xã Đại Phạm thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Hưng Hóa Ngày 5 – 5 – 1903, tỉnh
lị Hưng Hóa chuyển về làng Phú Thọ và mang tên tỉnh Phú Thọ, Đại Phạm lúc này thuộc huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ Huyện Hạ Hòa được chia làm 9 tổng là: Đại Phạm, Y Sơn, Yên Kì, Vĩnh Chân, Động Lâm, Đan Thượng, Ấm Hạ, Xuân Áng, Văn Lang Trong đó tổng Đại Phạm gồm 5 làng gồm: Đại Phạm, Sơn Nhiễu, Nghĩa Lang, Lăng Bằng, Hà Lương
Trang 12Sau cách mạng tháng Tám thành công, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định xóa bỏ cấp tổng, mở rộng phạm vi cấp xã, thay tên gọi làng bằng thôn Thôn Đại Phạm thuộc xã Trần Phú, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Năm 1954, thực hiện cải cách ruộng đất; xã Trần Phú được tách ra làm hai
xã Trần Phú và Tô Hiệu Thôn Đại Phạm và thôn Sơn Nhiễu thuộc xã Trần Phú Đến tháng 8 – 1964, xã Trần Phú đổi tên thành xã Đại Phạm, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, từ năm 1968 tỉnh Phú Thọ, huyện
Hạ Hòa qua nhiều lần sáp nhập, xã Đại Phạm cũng có nhiều thay đổi Năm
1968, sau khi 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc hợp nhất, Đại Phạm thuộc huyện Hạ Hòa tỉnh Vĩnh Phú Năm 1997, hợp nhất huyện xã Đại Phạm thuộc huyện Sông
Lô Sau khi tách Thanh Ba, Hạ Hòa khỏi huyện Sông Lô (1980) xã Đại Phạm thuộc huyện Thanh Hòa Từ năm 1996 đến nay, xã Đại Phạm thuộc huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số Đại Phạm rất thưa thớt, toàn xã chỉ có gần 300 người với chưa đầy 96 hộ Năm 1963, thực hiện chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế miền núi, có 50 hộ dân thuộc xã Thắng Lợi huyện Duy Tiên (Hà Nam) lên xây dựng quê hương mới và 50 hộ xã Đong Lí huyện Yên Bình (Yên Bái) chuyển về Trải qua năm tháng dân số phát triển cùng với một số hộ ở địa phương khác tiếp tục chuyển cư đến Tính đến 31 – 12 – 2000 xã Đại Phạm có 4688 khẩu với 1021 hộ thuộc 18 khu hành chính Thôn Đại Phạm có 11 khu, thôn Đông Sơn có 7 khu Dân cư tập trung đông nhất
ở khu 14
Trước cách mạng tháng Tám, ruộng đất trong xã chủ yếu tập trung trong tay đồn điền Trần Hãng (tức Đội Hãng) và một số địa chủ trong làng Cuộc sống của đại bộ phận nhân dân Đại Phạm rất khó khăn, ruộng đất đã ít, độ dinh dưỡng kém, phần lớn lại nằm trong tay địa chủ, nông dân phải làm thuê, làm mướn cho địa chủ hoặc lên rừng kiếm củi, hái măng về bán để sinh sống Cá biệt có một vài gia đình được gọi là hộ giàu nhưng tài sản cũng không có gì nhiều ngoài mấy mẫu ruộng đất, mấy con trâu bò, dăm gian nhà gỗ
Trang 13Sống trong ách thống trị của thực dân phong kiến, nhân dân phải chịu nhiều thứ thuế Sưu cao thuế nặng cộng với các khoản phụ thu, lạm bổ cho các
kì hào chức sắc đặt ra làm cho nông dân bị bần cùng hóa Ngoài ra nông dân phải chịu thêm nhiều hình thức bóc lột hết sức nặng nề Nạn cho vay nặng lãi
“điền thương” với lãi suất hàng tháng từ 5 đến 10 % trong một tháng đã làm cho nhiều nông dân mất hết ruộng đất Đồng thời, thực dân Pháp còn thực hiện chính sách “chia để trị” với các thủ đoạn tuyên tuyền lừa bịp nhằm chia rẽ dân tộc Chúng khuyến khích gây bè phái tranh giành quyền lực giữa các dòng họ, nhằm làm yếu đi khối đoàn kết toàn dân để dễ bề cai trị Song song với chế độ cai trị
hà khắc, thực dânPháp còn thực hiện chính sách dùng người bản xứ trị người bản xứ, thiết lập bộ máy cai trị ở địa phương như chánh tổng, lí trưởng, phó lí,
Bộ phận này là lực lượng trực tiếp bóc lột nhân dân lao động, làm cho đời sống nhân dân càng thêm điêu đứng Các hình thức sưu cao, thuế nặng, bóc lột tô tức cùng các luật làng hà khắc, các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội đẩy nhân dân tới đói rét, lầm than Thêm vào đó là hương ước lệ làng được bọn chúng đặt ra nhằm trói buộc người nông dân vào lũy tre làng, mảnh ruộng và bổ sung những điều khoản mới có lợi cho chúng
Về văn hóa xã hội không được chính quyền thực dân chú trọng Thực dân thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị, chúng hạn chế việc mở trường lớp Trước cách mạng tháng Tám, cả tổng Đại Phạm chỉ có một lớp sơ lược yếu học (tương đương với lớp 1, 2 ngày nay) cho con em nhà giàu và các chức dịch trong làng, chủ yếu là dạy tiếng Pháp và cả chữ Hán Đa số người nông dân còn ở tình trạng mù chữ, số người biết chữ không nhiều
Về y tế, việc chữa bệnh cho nhân dân không được chăm lo Cả tổng Đại Phạm chỉ có bà Bếp Xuân, thường làm nhiệm vụ đỡ đẻ cho chị em khi sinh nở Còn nhân dân ốm đau thì không có thuốc thang, không có nơi chạy chữa Chủ yếu dùng bằng thuốc nam, thậm chí còn trông chờ vào cầu cúng nên nhiều trường hợp bị chết oan, dịch bệnh xảy ra thường xuyên, tuổi thọ bình quân của nhân dân thấp
Trang 14Bên cạnh việc không chăm lo đến giáo dục, y tế, chúng lại khuyến khích
cờ bạc, nghiện hút và tệ nạn xã hội làm cho đời sống nhiều gia đình lâm vào tình cảnh bần cùng cực khổ
Mặc dù sống cuộc đời nô lệ, nhưng người dân Đại Phạm với lòng yêu quê hương đất nước sâu sắc, không cam chịu thân phận trâu ngựa đã sớm đứng lên đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của địa chủ phong kiến đòi quyền sống Khi có cán bộ Đảng đến tuyên truyền và giác ngộ, nhân dân Đại Phạm một lòng
đi theo Đảng, tích cực tham gia phong trào cách mạng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền về tay mình và xây dựng cuộc sống mới
1.2 Truyền thống lịch sử và văn hóa
1.2.1 Truyền thống lịch sử
Anh dũng đấu tranh chống giặc ngoại xâm cũng là một truyền thống quý báu của nhân dân Hạ Hòa trong suốt tiến trình lịch sử của mình Do vị trí địa lý, huyện thường ít nằm trong hướng xâm lược chính của kẻ thù nhưng mỗi khi có điều kiện, mọi người đã không ngần ngại vùng lên cầm gươm, ôm súng chiến đấu với bè lũ cướp nước
Vào đầu công nguyên, đất nước ta nằm dưới ách thống trị nhà Đông Hán Chúng ngày đêm ra sức cướp đoạt của cải và ruộng đất, thi hành chính sách đồng hóa “sát phu hiếp phụ” một cách tàn nhẫn Năm 34, Tô Định sang thay Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, càng gian tham hơn và nổi tiếng là kẻ “thấy tiền thì giương mắt lên” Để thỏa mãn lòng tham, Tô Định sai bọn đốc bưu tăng cường đốc thúc đồ tiến cống, thu thuế muối, sắt cùng sản vật thủ công, đánh thuế cá đầm ao rất nặng Các lạc tướng bị đè nén khống chế, ngày đêm oán hận chờ thời nổi lên
Đúng vào thời điểm mùa Xuân năm 40 sau công nguyên, nữ tướng Trưng Trắc, con gái lạc tướng Mê Linh, mang mối thù do chồng là Thi Sách – con trai lạc tướng Chu Diên bị Tô Định giết hại, đã cùng em gái là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, lập tức nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của các lạc tướng và lạc dân Trong đội ngũ đông đảo tướng lĩnh ấy, Hạ Hòa vô cùng tự hào vì đã đóng
Trang 15góp vào sự nghiệp chung những gương mặt ngời sáng: Lê Ả Lan, Lê Anh Tuấn (Văn Lang), Hải Long (Mai Tùng)
Ngọc phả lưu lại tại đình Văn Lang kể lại có hai vợ chồng ông bà họ Lê từ vùng Đường Lâm thuộc đất Phong Châu đã ngược dòng sông Thao đến trang Văn Lang thuộc đất Thao Giang để cầu tự Thời gian trôi qua, ông bà đã sinh được một gái và trai, đặt tên là Ả Lan và Anh Tuấn Hai chị em lớn lên đều khôi ngô tuấn tú, thông minh và khỏe mạnh lạ thường Ông bà đã cho con đi học chữ
và đón thầy về dạy võ nghệ, kiếm cung Năm hai chị em 17 – 18 tuổi, trời làm đại hạn, ruộng đất nứt nẻ, lúa khoai đều mất mùa, nhân dân khắp nơi đều đói kém Trong hoàn cảnh ấy, bố mẹ lại bị quan quân đánh đập, ốm nặng mà chết Hai chị em đi giao du khắp nơi trong thiên hạ để liên kết với các anh hùng hào kiệt
Được tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa, hai chị em đã cùng mọi người kéo về Hát Môn, Phúc Thọ – Sơn Tây được giao làm tướng tiên phong, đem quân đánh giặc ở xứ Thao Giang Bằng hai cánh quân thủy bộ, đội quân của Lê Ả Lan – Lê Anh Tuấn đi đến đâu, quan quân Đông Hán tan tác đến đó Khi tới trang Văn Lang, kẻ thù cũng cuống cuồng rút chạy Lê Ả Lan đem quân đóng giữ vùng Ao Trời còn Lê Anh Tuấn được giao làm phó tướng, đóng quân ở thung lũng chân núi Ngoài ra, hai chị em còn cho lập đồn trại ở bến đò và bốn bên doanh trại; tổ chức khai phá bình lầy rộc rậm để cấy lúa, trồng khoai, mở mang thành Đồng Thóc và Phì Nhiêu Tháng Giêng năm ấy, Lê Ả Lan cho dân giã gạo nếp, thổi xôi, làm bánh dầy, bánh út, mổ trâu, mở hội múa kiếm khao quân Sau đó, hai chị em được lệnh tiến xuống giải phóng Lụy Lâu (Bắc Ninh) Trong khi chiến đấu, Lê Anh Tuấn đã bị thương nặng ở chốn trận tiền Sau chiến thắng, hai chị
em được phong ấp ở đất Đường Lâm và được trở lại đóng ở Văn Lang Mấy năm sau, vào ngày 25 tháng 8 Âm Lịch, cả hai chị em đều mất ở núi Ao Trời Nhân dân Văn Lang đời nay hương khói để tưởng nhớ công lao của hai chị em
họ Lê đã hết lòng xả thân vì độc lập của dân tộc
Trong cuộc xâm lược Bắc kỳ lần thứ hai, thực dân Pháp tìm cách đánh chiếm bằng được vùng Sơn – Hưng – Tuyên rộng lớn Ngày 16 – 12 – 1983,
Trang 16chúng tấn công vào tỉnh thành Sơn Tây, quân đội do Nguyễn Văn Giáp chỉ huy cầm cự suốt ba ngày đêm rồi rút về lập căn cứ ở Lâm Thao Ngày 12 – 4 – 1984, quân Pháp lại đánh chiếm tỉnh thành Hưng Hóa Sau khi lui quân, Nguyễn Quang Bích rút lên Tiên Động Khu vực núi rừng hiểm trở giáp với 3 huyện Cẩm Khê, Hạ Hòa, Yên Lập; lại có đồng ruộng và ao đầm lớn rộng rồi theo Ngòi Rành ra sông Hồng sang Thanh Ba, xuôi về Cẩm Khê, ngược lên Hạ Hòa
để có thể dễ dàng rút vào Yên Lập hoặc đi Nghĩa Lộ Dần dần khu vực này trở thành trung tâm kháng chiến của vùng thượng du Bắc Kỳ
Mãi đến 18 – 6 – 1886, thiếu tướng Giamê mới đích thân chỉ huy cuộc tiến công vào Tiên Động nhưng không thu được kết quả gì đáng kể Ngày 1 – 11 – 1886, viên quan tư Bécgăng lại tấn công vào đây Trước tình hình đó, Nguyễn Quang Bích đã cho rút quân theo dọc sông Thao, vào Ngòi Vần đi Nghĩa Lộ Nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra, nghĩa quân đã tổ chức tấn công vào huyện lỵ Sơn Vi, phá đồn Cẩm Khê và Thanh Ba Ngày 25 – 11 – 1889, hàng trăm nghĩa quân với 70 tay súng đã cùng một lúc tấn công Ngòi Vần và huyện lỵ Hạ Hòa, bắn bị thương viên tri huyện Khi ấy, trong địa bàn huyện Hạ Hòa đã hình thành các trung tâm kháng chiến của Đề Ngần ở Ấm Thượng; Lãnh Đa, Đề Mạc, Lãnh Hạc ở Xuân Áng, Lãnh Vĩnh ở Vĩnh Chân; Lãnh Chấp ở Bảo Toàn; Tán Dật, Đốc Đen, Đốc Ao, Đề Kiều rào làng đắp lũy ở Lang Sơn nhiều lần đánh vào cứ điểm Ngòi Vần của địch Quân Pháp phải tăng cường lực lượng cho đồn Ngòi Lao và đồn khố xanh Lang Sơn Nhiều trận đánh ác liệt của nghĩa quân vùng Lang Sơn với cánh quân do đại úy Bécmăng Môngtuy đã diễn ra vào tháng 11 –
1892 và tháng 3 – 1893 Ngoài ra Đề Thân, Đề Mạc còn chỉ huy nhiều trận đánh
ở Ấm Thượng, Lang Sơn, Mai Ổ, Đại Phạm
Nghĩa quân của Đốc Ngữ cũng hoạt động trên giải sông Thao thuộc đất
Hạ Hòa Ở phía bắc huyện có nghĩa quân của Đốc Thực, Đốc Hy Sau khi Đốc Ngữ hy sinh ở Khả Cửu (1893), Lãnh Vặc ở Mai Tùng cũng bị Pháp bắt và giết hại ở đình làng Tán Dật bị bức đến đường cùng, giả vờ hàng rùi uống thuốc độc
tử tự; trước lúc mất ông đã nói: “Ta hàng vì triều đình đã hàng chứ nhất định không chịu nhìn mặt thằng Tây” Lãnh Đa khi vượt sông Thao cũng hy sinh anh
Trang 17dũng Đến đây, thực dân Pháp dần dần chiếm được toàn bộ Hạ Hòa Chúng cho đóng thêm đồn khố xanh trên đất Hiền Lương
Trong tiến trình xây dựng lực lượng cách mạng, Hạ Hòa nổi tiếng với căn
cứ Vần – Hiền Lương, khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 – Đại Phạm Cuộc kháng chiến thần thánh 9 năm chống Pháp xâm lược của dân tộc đã tạo nên những âm hưởng không bao giờ mờ phai trong tâm khảm những người con rời
xa thành phố về đây tiến hành một cuộc kháng chiến trường kỳ Đất nước và con người Hạ Hòa vì thế mà đã hòa quyện với núi sông và dân tộc Việt Nam
Phát huy truyền thống yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Hạ Hòa trong việc chống thiên tai địch họa, nhân dân xã Đại Phạm sớm ý thức được tinh thần yêu nước nên đã tích cực tham gia các phong trào đấu tranh trước khi có sự lãnh đạo của Đảng
Hưởng ứng phong trào Cần Vương, Nguyễn Quang Bích (1832 – 1891) Chánh sứ Sơn phòng kiêm tuần phủ Hưng Hóa đã đem quân lui về Cẩm Khê tổ chức kháng chiến chống Pháp Là một vị tướng có tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Quang Bích đã xây dựng căn cứ kháng chiến dựa vào núi rừng Tây Bắc rộng lớn
từ Phú Thọ, Yên Bái đến Sơn La Thực dân Pháp đã nhiều lần tiêu diệt nghĩa quân nhưng đều thất bại Trước tình hình đó, Nguyễn Quang Bích đã cử Nguyễn Văn Giáp đem một đạo quân theo đường Hiền Lương, Vần, Dọc vào xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài ở Thượng Bằng La; theo đường Hà Lương, Đại Phạm, Ngòi Sen lên Trấn Yên xây dựng căn cứ Khi nghĩa quân qua Đại Phạm, một số nhân sĩ yêu nước và nhân dân đem lương thực, thực phẩm ra đón tiếp ủng hộ
Để dập tắt đi phong trào chống Pháp của nghĩa quân Nguyễn Quang Bích, Pháp đặt nhiều đồn binh để kiểm soát đường lên Thượng Bằng La, Nghĩa Lộ và đường thủy bộ đi Yên Bái, Phú Thọ Nhân dân Đại Phạm liên tục ủng hộ lương thực, thực phẩm và tham gia cùng nghĩa quân chống Pháp
Năm 1925, cả nước dấy lên phong trào lấy chữ kí đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở Huế Phong trào đã lan rộng tới Đại Phạm
và các xã lân cận Ngoài việc kháng nghị đòi thả Phan Bội Châu, nhân dân trong
Trang 18xã còn đấu tranh đòi cải cách luật lệ hà khắc của thực dân, phong kiến, đòi quyền dân chủ, dân sinh Từ những phong trào này, tinh thần yêu nước của nhân dân ngày càng được giác ngộ Đó cũng là điều kiện thuận lợi để phong trào cách mạng khi có ánh sáng của Đảng
1.2.2 Truyền thống văn hóa
Phong tục tập quán và truyền thống hiếu học của nhân dân Hạ Hòa được
sử sách ghi nhận và ca ngợi Lê Quý Đôn trong sách Kiến văn tiểu lục viết rằng:
“Một dải sông Thao, dân tục thuần hậu, biết lễ phép văn tự”[9, tr.57] Từ thời
Trần ở làng Vụ Cầu đã sinh ra Nguyễn Thuyên (còn gọi là Hàn Thuyên) – người đầu tiên của nước ta dùng đường luật vào thơ Nôm, ông tổ của thể thơ Hàn luật Theo nhiều tài liệu, ông đỗ Thái học sinh – tức học vị tiến sĩ dưới thời Trần Thái Tông (1225 – 1258), niên hiệu Thiên ứng chính bình thứ 16 (1247), làm đến công bộ thượng thư Năm 1282, đời Trần Nhân, tục truyền có cá sấu vào sông
Lô, vua sai ông làm bài văn tế cá sấu ném xuống sông, cá bỏ đi Theo Đại Việt
sử kí toàn thư “Vua cho là việc này giống như việc của Hàn Dũ nên cho Nguyễn Thuyên đổi thành họ Hàn”.[12, tr.47]
Thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, huyện Hạ Hòa có Nguyễn Văn Đạt người làng Giáp Ất giành học vị cử nhân tại trường thi Hà Nội năm 1831, làm quan tới chức Bố chánh
Tưởng nhớ công ơn người xưa có công mở đất, tôn thờ đạo gia tiên vừa là một mĩ tục vừa là một tín ngưỡng của nhân dân Hạ Hòa Đền Âu Cơ – còn được gọi là đền Quốc Mẫu, được xây dựng lâu đời trên đất Hiền Lương, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong giáo dục con người ý thức nguồn cội Bên cạnh đó còn có đền
Gò Chén tại Đan Thượng được xây dựng để thờ Hà Viết Đạo – người có công đánh giặc phương bắc, đền Chu Hưng (Ấm Hạ),…
Nhân dân Đại Phạm dù còn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng cũng đã xây dựng cho mình đời sống tinh thần tương đối phong phú Ngoài việc duy trì các tục lệ có tính truyền thống trong các ngày lễ, Tết, thờ cúng tổ tiên Đại Phạm còn có nét văn hóa tốt đẹp, đã xây dựng cho mình làn điệu dân gian như: hát xoan, hát ví đồi chè, hát chèo,… Kho tàng tục ngữ,
Trang 19phương ngôn và văn nghệ dân gian của nhân dân Đại Phạm cũng hết sức phong phú Những xóm làng trù phú, nên thơ, những đặc sản nổi tiếng khắp mọi miền; những dòng sông gắn bó với cuộc đời từ lúc trẻ thơ cho đến khi khuất bóng, những rừng cọ ánh lên màu xanh non tơ và những đồi chè bát ngát hiện lên
Nhân dân Đại Phạm rất yêu ca hát, họ đã sáng tạo và phát triển loại hình hát ví đồi chè khá độc đáo Trên các nương chè bát ngát ở vùng Đại Phạm, các
cô thôn nữ vừa hái chè vừa hát:
Lạ lùng ta mới tới đây Thấy chè thì hái biết cây ai giồng Chè đâu thơm lạ thơm lùng
Thơm cả người hái người giồng cũng thơm
Sang chơi anh nhớ hẹn ngày
Để em bắt ngọn chè đây bắc cầu…
Trong quá trình lao động sản xuất, nhân dân Đại Phạm còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm từ thiên nhiên, khí hậu để có thể có biện pháp dự phòng hoặc tận dụng những lợi thế đó Khi quan sát các cơn mưa kéo từ thượng lưu sông Thao, mạn Ấm Thượng trở lên, người dân nơi đây khẳng định rằng:
Cơn mưu đằng ngược Chẳng có nước rửa chân
Cũng như bao vùng quê khác, nhân dân Đại Phạm quần tụ với nhau trong các chòm xóm, thôn làng theo quan hệ huyết thống, hoặc những nhu cầu khác của xã hội Khi dựng lên khu vực tụ cư, thế hệ nào cũng quan tâm đến yếu tố tiện canh, tiện cư, gần nguồn nước, thuận đi lại, cao ráo để tránh lụt lội giông bão, thoáng mát trong mùa hè nhưng kín đáo về mùa đông, thuận tiện cho phòng
vệ tiến lui khi có giặc dã
Xã Đại Phạm tổ chức tập hợp theo nghề nghiệp được gọi là phường mà tiêu biểu ở Đại Phạm là phường chèo, phường nón Các thành viên trong phường tự động góp tiền giúp nhau thường xuyên gọi là họ, họ ở đây có thể là
họ tiền, họ gạo Bên cạnh đó tập hợp những người có học vấn gọi là hội ở Đại Phạm có cả hội tư văn và hội tư võ
Trang 20Về mặt thiết chế xã hội còn phân thứ bậc khác nhau theo phẩm hàm, bằng cấp, chức tước, tải sản và theo tuổi tác với những nghĩa vụ và quyền lợi khác nhau (tiêu chuẩn để có nghĩa vụ và quyền lợi chỉ áp dụng với thành viên là dân đinh chính cư) Hội đồng kì mục là bộ máy quản lí làng xã gồm tân cựu chánh phó tổng, chức sắc cùng quan lại về hưu, các cựu phó lí trưởng… đứng đầu là Tiên chỉ và một hoặc hai Thứ chỉ, toàn quyền quyết định công việc trong làng như: phân bổ thuế khóa, sưu dịch, binh tráng, bầu cử tổng lí, phân cấp công điền, xây dựng và tu bổ đình chùa, tổ chức hội hè đình đám) Hội đồng lí dịch đứng đầu là lí trưởng được dân làng bầu ra và được nhà nước công nhận, đại diện cho bộ máy nhà nước ở nông thôn, chịu trách nhiệm nộp sưu thuế và phu lính cho nhà nước
Đại Phạm được quản lí bằng hương ước và khoán lệ đã được ghi thành văn bản với nhiều điều mục khác nhau nhằm quản lí con người, quản lí xã hội chặt chẽ hơn với nội dung khá toàn diện, đề cập tới hầu hết các mặt của làng xã (kinh tế, bảo vệ môi trường, ngôi thứ, hương ẩm, an ninh, hôn nhân) Nó đã góp phần tích cực giữ gìn thuần phong mĩ tục, củng cố khối đoàn kết và cố kết làng
xã, giải quyết tốt đời sống tâm linh, góp phần làm phong phú đời sống cộng đồng Tuy nhiên, hương ước đã phần nào làm cho sự đối lập giữa làng với nước (lệ làng – phép nước) tăng lên, con người chỉ biết sống theo lề thói cục bộ, ít quan tâm tới lợi ích của toàn xã hội
Vai trò của đình làng cũng hết sức quan trọng vừa là nơi thờ tự Đức thành hoàng, vừa là nơi hội họp khi có công việc và cử hành các cuộc tế lễ chung, hội
hè đình đám Đại Phạm có 6 đình là các đình: đình Cả, đình Phúc, đình làng Trên, đình làng Giữa, đình làng Dưới Đây là những công trình có tính nghệ thuật sâu sắc, đậm đà tính dân tộc Trước đây hàng năm vào ngày rằm tháng giêng, 8 – 4 âm lịch nhân dân làng Đại Phạm, Sơn Nhiễu có tục lệ vào đình, chùa cầu khấn, mong vạn sự tốt lành, vạn điều bình an, nhưng do thời gian xây dựng lâu, không có sự tu sửa nên đình bị đổ sập Từ năm 1999, được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương và sự đóng góp của nhân dân trong và ngoài xã, đình làng Giữa đã được khôi phục lại, đáp ứng lòng mong mỏi và tín
Trang 21ngưỡng của nhân dân địa phương Bên cạnh đó, ở Đại Phạm còn có đền hoặc nghè, thờ các vị phúc thần Ngoài ra còn có miếu thờ sơn thần, há bá hoặc cô hồn đặt ở đầu làng, sườn núi, bãi sông hoặc gò đồi xa cách
Phật giáo có mặt ở Đại Phạm vào khoảng đầu thời Trần Chùa ở Đại Phạm kết cấu theo kiểu chuôi vồ, thờ tam thù thế tôn, thích ca, văn thù, phổ hiền, đức thế chí, ca điệt, tôn giả, tòa cửu long Ngoài ra còn có tứ kim cương, tứ pháp giới, Thị Kính, đức ông, thái thượng lão quân Hàng tháng vào hai kì sóc, vọng (mồng 1 và ngày rằm), các cụ bà lại lên chùa lễ Phật, tối 14 – 7 âm lịch làm lễ Vu Lan,…
Những truyền thống văn hóa tốt đẹp đã góp phần làm nên tình yêu quê hương, đất nước của con người Đại Phạm Con người nơi đây đều có chung đức tính cần cù, chịu khó trong lao động và rất mến khách,… Với truyền thống đoàn kết gắn bó, tương trợ lẫn nhau, tinh thần đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, cùng chung sức chung lòng xây dựng quê hương, đất nước Và với tất cả nét văn hóa tốt đẹp trên, Đại Phạm đã và đang góp phần nhỏ bé của mình vào bề dày truyền thống của dân tộc Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 2:
SỰ HÌNH THÀNH KHU CĂN CỨ CÁCH MẠNG CHIẾN KHU 10 – ĐẠI
PHẠM (1947 – 1948) 2.1 Khái quát về Chiến khu 10
Tháng 8 – 1945 dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc Tây Bắc cùng với nhân dân cả nước đã dũng cảm đứng lên tổng khởi nghĩa đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến giành lại toàn bộ chính quyền, lập nên chính quyền cách mạng
Với dã tâm xâm lược nước ta nên mặc dù hiệp ước Sơ bộ được kí kết ngày 6 – 3 – 1946, Pháp không thi hành hiệp định, chúng đưa toàn bộ cánh quân của A-lếch-xăng Gô-ri từ biên giới Trung Quốc về đánh chiếm Lai Châu – Sơn
La Trước tình hình đó thấy rõ được tầm quan trọng, vị trí chiến lược của chiến trường miền Tây đối với toàn bộ Tây Bắc, Trung ương Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo tổ chức mặt trận Tây Bắc và chuẩn bị kế hoạch ứng phó để giữ vững vùng căn cứ địa Vì vậy, ngay trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Trung ương Đảng Chính phủ và Bác Hồ đã quyết định thành lập các chiến khu trong đó có Chiến khu 10, xây dựng căn cứ địa và lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài
Do yêu cầu bố trí địa bàn chiến lược kháng chiến, địa giới Liên khu 10 có
sự thay đổi nhiều lần Tháng 10 – 1945, Chính phủ quyết định chia cả nước thành các chiến khu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 11 Theo đó các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang thuộc Chiến khu 1 (Chiến khu 1 lúc này gồm có 13 tỉnh, ngoài các tỉnh kể trên còn có Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Bắc Giang, Bắc Ninh) Đến tháng 10 –
1946, Xứ ủy và Ủy ban hành chính Bắc Bộ giải thể; cả nước được chia thành 12 chiến khu Các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang thuộc Chiến khu 10
Trước yêu cầu phát triển của tình hình mới, Trung ương Đảng quyết định xây dựng Khu Tây Bắc thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, tạo điều kiện tiến tới giải phóng nhân dân các dân tộc thoát khỏi ách thống trị của giặc Thực
Trang 23hiện Chủ trương này, ngày 25 – 1 – 1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 120/SL và 124/SL chính thức sáp nhập Khu 10 và Khu 14 làm một, gọi tắt là Liên khu 10
Từ đây chiến trường Liên khu 10 bao gồm các tỉnh của Quân khu 2 ngày nay (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La)
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, trực tiếp là dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Khu ủy và luôn biết dựa vào dân nên được dân che chở, đùm bọc, lực lượng phát triển nhanh chóng, vững mạnh, từng bước chính quy, trang bị vũ khí hiện đại Quá trình đóng tại Thịnh Hưng – Đại Phạm lực lượng vũ trang Liên khu 10
đã chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng tập trung mọi nguồn lực xây dựng, củng cố lực lượng chiến khu lớn mạnh, quyết cùng nhân dân Tây Bắc tiến hành cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược bảo vệ biên cương Tổ quốc
Liên khu 10 là một trong những liên khu nằm trong chiến lược quân sự của Trung ương Đảng, Bác Hồ trong cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1947 – 1949, bao gồm 9 tỉnh hiện nay: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ chính vì vậy Liên khu 10 có
vị trí rất quan trọng, là tấm lá chắn cho căn cứ địa Việt Bắc
Thời kỳ 1947 – 1949 lãnh đạo của Ủy ban hành chính kháng chiến do đồng chí Quang Tạo làm chủ tịch, đồng chí Tô Quang Đẩu làm Phó chủ tịch Cơ quan Khu bộ gồm có các phòng như: Văn phòng, phòng Tham mưu, phòng Chính trị, phòng Quân khu, phòng Quân pháp, phòng Công binh, phòng Quân chính, Trường Thiếu sinh quân Liên khu 10 và Ban pháo binh Lực lượng tham gia bao gồm bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ và bộ đội chủ lực
Sau vài tháng được thành lập Liên khu 10 về tình hình chính trị, quân sự chiến trường miền Tây của Tây Bắc luôn thay đổi từng ngày, từng giờ Đây vừa
là thời cơ, vừa là thách thức đối với cơ quan Khu ủy và Bộ tư lệnh Chiến khu để bảo toàn cơ quan đầu não Ủy ban hành chính kháng chiến, bảo toàn được lực lượng chủ lực, đồng thời củng cố xây dựng và phát triển thêm lực lượng địa phương bổ sung quân số cho chiến khu
Trang 24Ngày đầu mới thành lập cơ quan Khu bộ tập trung đóng tại thị xã Việt Trì Đến tháng 1 – 1947, cơ quan Khu ủy và Khu bộ chuyển đến Minh Nông – HàGiáp (Phù Ninh – Phú Thọ) nhưng chỉ được mấy ngày, xét thấy tình hình hoàn toàn bất lợi cho nên lại phải di chuyển đến địa điểm khác như Bôi Keo, Nghĩa Long, Đức Ký, Đế Kiều Ngày 1 – 3 – 1947, toàn bộ cơ quan Khu bộ Chiến khu 10 chuyển về Thịnh Hưng – Đại Phạm Đây là địa điểm phù hợp, thuận lợi với yêu cầu nhiệm vụ của Chiến khu trong chặng đường đánh lên giải phóng Tây Bắc (tháng 9 – 1947) Cơ quan đầu não, trụ sở Ủy ban hành chính kháng chiến Chiến khu 10 đóng tại nhà ông Lê Đức Huy thuộc Làng Hơn, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Trụ sở Liên khu 10 ổn định tại đây và hoạt động từ năm 1947 đến năm
1949 bao gồm các phòng, ban: Cơ quan Khu bộ, Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị, Phòng Quân pháp, Phòng Công binh, Phòng Quân chính, Ban Pháo binh, các xưởng quân khí, Quân y vụ, Trung đoàn 112, 115, 171, Trường Thiếu sinh quân Liên khu 10… Các đơn vị quân sự đóng trên địa bàn xã Đại Phạm, còn các cơ quan hoạt động mang tính văn phòng và trụ sở Liên khu 10 đóng tại làng Hơn, xã Thịnh Hưng
Ngày 25 – 1 – 1948, Chính phủ ký Sắc lệnh số 120/SL chính thức sáp nhập Khu 10 và Khu 14 thành Liên khu 10 Từ đây chiến trường Liên khu 10 bao gồm 9 tỉnh của Quân khu 2 sau này (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La) Vùng căn cứ địa Thịnh Hưng – Đại Phạm sẽ là nơi an toàn của Liên khu vì nó ở gần sông Hồng, cách xa địch ở sông Lô, Việt Trì, Nghĩa Lộ, nên lực lượng của ta sẽ được bảo toàn và có điều kiện để củng cố thêm sức mạnh chủ động đánh chặn địch
2.2 Quá trình hình thành khu căn cứ cách mạng Chiến khu 10 ở xã Đại Phạm
2.2.1 Phong trào đấu tranh cách mạng ở Đại Phạm trước năm 1947
Ngày 3 – 2 – 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt thời kì khủng hoảng và bế tắc về đường lối lãnh đạo trong sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta Song thời
Trang 25kì đầu mới thành lập, số lượng đảng viên còn ít, lại hoạt động dưới sự kiểm soát gắt gao của chính quyền thực dân, phong kiến do đó sự lãnh đạo của Đảng không thể vươn tới các địa phương trong cả nước được
Tháng 9 – 1939, khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp ra lệnh giải tán các tổ chức quần chúng công khai, giải tán các báo chí tiến
bộ, thủ tiêu một số quyền tự do dân chủ tối thiểu mà nhân dân giành được trong thời kì mặt trận dân chủ, đồng thời tiến hành lùng sục bắt bớ hàng loạt đảng viên cộng sản và quần chúng yêu nước
Trước diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, Đảng ta chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, lấy nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, đồng thời ra chỉ thị cho cấp ủy, cán bộ và đảng viên đang hoạt động công khai hợp pháp lui về hoạt động bí mật chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, biến nông thôn thành căn cứ địa rộng lớn của cách mạng Thi hành chỉ thị của Trung ương từ tháng 8 – 1939 đến năm 1941, Trung ương Đảng cử nhiều cán bộ
về tỉnh Phú Thọ hoạt động tuyên truyền gây dựng cơ sở cách mạng Đầu năm
1940, chiến khu D được thành lập (gồm các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai) Tháng 3 – 1940, Ban cán sự Đảng tỉnh Phú Thọ được thành lập và đã xây dựng được mặt trận phản đế ở nhiều nơi trong đó có một số xã ở huyện Hạ Hòa
Tháng 9 – 1940, phát xít Nhật nhảy vào xâm lược Đông Dương, thẳng tay đàn áp các phong trào cách mạng và vơ vét tài nguyên, lương thực phục vụ chiến tranh Nhân dân ta phải chịu hai tầng áp bức bóc lột Trước tình hình đó đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước, triệu tập hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng, xác định mục tiêu trước mắt là đánh Pháp, đuổi Nhật
để giải phóng dân tộc và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh (19 – 5 – 1941) chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân khi thời cơ đến
Thời gian này một số cán bộ đảng viên của khu ủy khu Đ như đồng chí Trần Thị Minh Châu (Thục Trinh) – Ủy viên ban cán sự Đảng khu D, Nguyễn Văn Trạch, Đào Duy Kì đến hoạt động để gây cơ sở cách mạng ở vùng Hiền
Trang 26Lương (Hạ Hòa) Các đồng chí đã tuyên truyền giác ngộ được một số người có
tư tưởng tiến bộ, thành lập nhóm thanh niên phản đế Nhóm này hoạt động khá tích cực với các hoạt động như bí mật rải truyền đơn, tuyên truyền các xã quanh vùng về cuộc sống khổ cực của nhân dân ta dưới ách thống trị của phát xít Nhật
và tay sai, những thủ đoạn thâm độc của kẻ thù và kêu gọi quần chúng đoàn kết lại để đấu tranh chống đế quốc, chống phong kiến Phong trào cách mạng từ Hiền Lương đã ảnh hưởng tới các địa phương lân cận trong đó có xã Đại Phạm
Ở Đại Phạm có một số đồng chí như đồng chí Phạm Văn Tuyên, Trần Duy Tấn
là những thanh niên sớm được giác ngộ, tham gia học chính trị tại Hiền Lương sau đó về xã tuyên truyền và xây dựng phong trào Trong thời gian ngắn các đồng chí đã tập hợp được một số người có tư tưởng tiến bộ và lập ra nhóm thanh niên phản đế Đại Phạm gồm 5 người (Ma Văn Minh, Phạm Văn Tràng, Phạm Văn Mẫn, Cù Văn Xuân, Nguyễn Văn Vang) do ông Ma Văn Minh phụ trách Giữa lúc phong trào xây dựng thành lập Mặt trận Việt Minh đang lan rộng trong
cả nước thì bọn đế quốc tiến hành đàn áp phong trào cách mạng một cách dã man, bắt giam nhiều cán bộ cách mạng, kể cả vùng Hiền Lương cũng bị khủng
bố mạnh mẽ Những đợt vây ráp, bắt bớ của địch đã gây tổn thất lớn cho phong trào cách mạng ở tỉnh Phú Thọ Nhiều cán bộ đảng viên bị bắt, nhiều cơ sở cách mạng bị địch phá, phong trào đấu tranh sa sút Nhà tù Phú Thọ giam chật ních các đảng viên và quần chúng cách mạng của tỉnh,Ban cán sự Đảng tỉnh Phú Thọ
bị đứt liên lạc với cấp trên, Khu ủy khu D phải sơ tán Nhiều cán bộ, đảng viên phải lui về các vùng rừng núi để tránh sa vào tay địch Thời gian này thôn Sơn Nhiễu xã Đại Phạm đã đón một số đồng chí cán bộ của Khu ủy khu D lui về địa phương hoạt động, bắt mối liên lạc với cấp trên do đồng chí Lê Xoay ủy viên Khu ủy khu D trực tiếp phụ trách
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, tháng 6 năm 1944 đồng chí Bình Phương (Nguyễn Đức Vũ) lên vùng Nang Sa – Hiền Lương (tổng Động Lâm – Hạ Hòa) liên lạc với đồng chí Trần Quang Bình để xây dựng cơ sở đón cán bộ Đảng vượt ngục từ Sơn La về xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng này Được sự phân công của tổ chức, đồng chí Trịnh Xuân Tiến, cán bộ Xứ ủy Bắc