1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

kinh tế phát triển bất bình đẳng giới ở việt nam

48 278 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 86,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bất bình đẳng giới ở việt nam trong chính trị, giáo dục, lao động. Những khái niệm về giới, bất bình đẳng giới. thực trạng, nguyên nhân, giải pháp, hệ lụy của bất bình đẳng giới ở Việt nam hiện nam. Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đảng và Nhà nước ta luôn coi vấn đề bình đẳng giới(BĐG) và khuyến khích sự tiến bộ của phụ nữa là một mục tiêu quan trọng.Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là quốc gia có nhiều thành tựu trong nỗ lực hướng tới BĐG.Tuy nhiên,sự khác biệt trên cơ sở giới,đông thời việc còn tồn tại những cách hiểu chưa đúng về BĐG vấn đang là rào cản đối với sự tiến bộ và phát triển của phụ nữa.Trong nhiều liinhx vực của đời song sxax hội vẫn còn thể hiện sự bất BĐG,ngay cả trong cách đối xử của những bậc cha,mẹ đối với các bé trai và bé gái trong gia đình.Trong thời gian gần đây vấn đề bình đẳng giới đang được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm Bởi vì thực tế tình trạng bất bình đẳng giới đã và đang diễn ra phổ biến, đây là một trong những nguyên nhân hạn chế quá trình phát triển kinh tế- xã hội Bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân làm tăng đói nghèo, cản trở việc chăm sóc sức khỏe dân cư, hạn chế các cơ hội tăng thu nhập và gây nên hàng loạt tổn thất khác cho xã hội Những nước tích cực thúc đẩy bình đẳng giới thường đạt được tốc

độ phát triển kinh tế xã hội cao và phát triển bền vững hơn Theo Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID) và cơ quan phát triển quốc tế Canađa thì “Việt nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỉ

lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới, là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á [20, 61] Tuy nhiên không phải vì những thành tựu đó mà Việt Nam đã đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực sự Thực tế cho thấy thực trạng bất bình đẳng giới, khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới ở Việt Nam vẫn đang tồn tại trong đời sống xã hội, tiêu biểu như: định kiến giới, bạo lực gia đình, bất bình đẳng về vị trí, vai trò của phụ

nữ so với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 4

1.2.Bình đẳng giới

-Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 6 Điều 5 của Luật bình đẳng giới thì: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hộiphát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và

hưởng thụ như nhau về thành quả của sự phát triển của cộng đồng về thành quả củaphát triển đó

Bình đẳng giới đề cập tới sự bình đẳng về quyền, trách nhiệm và cơ hội của nam giới và nữ giới, trẻ em gái và trẻ em trai

Theo Luật Bình đẳng giới, thì mọi người, dù là nam giới hay phụ nữ, với tư cách làcác cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sắn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳng trong quá trình phát triển chung như:

+Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơ hội )

+Tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới việc sử dụng nguồn lực

+ Tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

+Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển

- Theo Liên Hiệp Quốc:

Bình đẳng giới là nam giới và nữ giới, trong đó gồm cả cộng đồng người đồng tính luyến ái và người chuyển giới cần nhận được những đối xử công bằng trong

Trang 5

tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội và quyền con người như: giáo dục, y tế, văn hóa, hôn nhân, gia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi

1.3.Bất bình đẳng giới

Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hộibất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người đóng góp và hướng thụ

từ sự phát triển của gia đình của đất nước

- Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ

nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

2 Bất bình đẳng và các thước đo bất bình đẳng giới

Bất bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được đo bằng các chi tiêu khác nhau Trong báo cáo phát triển con người của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã đưa ra 2 chỉ số:

- Chỉ số phát triển giới (GDI) Chỉ số này phản ánh những thành tựu trong các khía cạnh tương tự như HDI (tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu nhập) nhưng lại điều chỉnh các kết quả đó theo bất bình đẳng giới Trong mỗi nước, nếu giá trị của GDI càng gần với HDI thì sự khác biệt theo giới tính càng ít (trường hợp của Na Uy và Singapore-Bảng 4.9) Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân phối không bình đẳng và phát triển con người giữa nam và nữ (Lucxămbua và Ai Cập Xê út) Ngược lại, nếu thứ hạng GDI là cao hơn, cho thấy một sự phân phối bình đẳng hơn về phát triển con người giữa nam và nữ

Bảng 1 So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI Một số nước chon năm 1999

- Thước đo vị thế giới (GEM)

Thước đo này tập trung xem xét cơ hội của phụ nữ chứ không phải là khả năng (năng lực) của họ Nó chỉ ra sự bất bình đẳng giới trên 3 khía cạnh:

Trang 6

+ Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ lệ có ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới.

+Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ lệ các vị trílãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các vị trị trong nghành

kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm

+ Quyền đối với các nguồn kinh tế - đo bằng thu nhập ước tính của phụ nữ và namgiới (PPP-USD)

Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng:

- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào mức thu nhập hoặc giai đoạn phát triển

- Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội cho phụ nữ

- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bặc về sự bất bình đẳnggiới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống và ở các nước trên thế giới

Vì vậy bình đẳng giới được coi là vấn đề trung tâm của phát triển, là mục tiêu của phát triển, đồng thời là một yếu tố để năng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia

và xóa đói giảm nghèo

Bằng chứng thực tế cho thấy, phát triển kinh tế thế giới và phát triển của các nước đang phát triển đang mở ra nhiều hướng đi để nâng cao sự bình đẳng giới trong dàihạn Tuy nhiên, nếu chỉ có sự tăng trưởng thì sẽ không tạo ra được kết quả mong muốn mà còn cần có một môi trường thể chế để mang lại quyền hạn và cơ hội bìnhđẳng cho phụ nữ và nam giới, cần có những giải pháp chính sách cho phụ nữ và nam giới, cần có những giải pháp chính sách liên quan đến bất bình đẳng giới

PHẦN II THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT

NAM

1.Tỷ số giới tính khi sinh

1.1.Khái niệm:

Tỷ số giới tính khi sinh (còn gọi là tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh ) phản ánh

sự cân bằng giới tính của số trẻ em mới sinh trong một thời kỳ (thường là một năm lịch) Chỉ số này được coi là bình thường trong khoảng 103-107 nam/100 nữ và ổnđịnh theo thời gian và không gian Bất kỳ sự thay đổi của tỷ số này chệch khỏi mức

Trang 7

dao động bình thường đều phản ánh sự can thiệp có chủ ý ở một mức độ nào đó và làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng giới tính tự nhiên, đe doạ sự mất ổn định dân

số Và Tỷ số giới tính khi sinh được coi là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ bình đẳng giới

Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là số bé trai tính bình quân trên 100 bé gái mới được sinh ra trong kỳ, thường là một năm lịch

Công thức tính:

Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh = (Tổng số bé trai mới sinh trong kỳ) x 100 (Tổng số số bé gái mới sinh trong kỳ)

Tỷ số giới tính khi sinh hiện tại ở Việt Nam

Bảng 1: Ước lượng tỷ số giới tính theo nguồn số liệu

Bản chất số liệu TSGTKS Giai đoạn Số ca

Điều tra hằng năm:

số sinh trong năm

trước

112 4/2007-3/2008 23.475 Điều tra biến

độngdân số 2008Tổng điều tra dân số

Số liệu mẫu của Tổng điều tra dân số cho phép ước lượng trực tiếp TSGTKS dựa trên số ca sinh trong thời gian 12 tháng trước thời điểm điều tra 1/4/2009 Dựa trêntổng số sinh 247.603 do các bà mẹ báo cáo trong mẫu TĐTDS, TSGTKS của Việt

Trang 8

Nam là 110,6 tính cho giai đoạn 1 năm từ 4/2008 đến 3/2009 Khi xem xét khoảng biến thiên của TSGTKS theo cỡ mẫu cho thấy TSGTKS thực tế dao động trong khoảng từ 109,7 đến 111,5.

Như trình bày trong Bảng 1, TSGTKS này tương tự những ước lượng trước đây được rút ra từ các nguồn số liệu khác Đặc biệt, TSGTKS gần như tương đương với mức 110,8 rút ra từ số liệu của Bộ Y tế dựa trên số sinh tại các cơ sở y tế trên

cả nước năm 2008 Ước lượng này dựa trên cỡ mẫu lớn hơn, nhưng chỉ hạn chế ở

số ca sinh tại các cơ sở y tế, vì vậy kết quả có thể bị sai số do báo cáo thiếu hoặc sai số chọn mẫu Mức 110,6 cũng gần với mức 111 ước lượng cho năm 2007 đã công bố trong một nghiên cứu trước đây (UNFPA 2009) Ước lượng dựa trên số liệu điều tra Biến động dân số hàng năm cũng cho giá trị tương tự, mặc dù số sinh được báo cáo nhỏ hơn nhiều.So với hai nguồn số liệu trên, số liệu mẫu của Tổng điều tra dân số cung cấp ước lượng mang tính đại diện hơn

Rõ ràng, theo Bảng , mức TSGTKS hiện nay của Việt Nam là 110,6 cao hơn đáng

kể so với mức chuẩn sinh học bình thường là 105 Khoảng cách giữa giá trị tính toán được và mức chuẩn sinh học là 5,6 trẻ em trai cho 100 trẻ em gái, tương đương với 2,6% tổng số sinh hay 5,3% tổng số trẻ em trai Điều này hàm ý rằng một sự thay đổi nhỏ của số trẻ em trai sinh ra cũng làm thay đổi đáng kể TSGTKS.Với mức TSGTKS như hiện nay, cơ cấu giới tính của dân số Việt Nam vẫn chưa bịmất cân bằng như ở các quốc gia Châu Á khác Tuy vậy, nếu TSGTKS này giữ nguyên hoặc tiếp tục tăng sau năm 2010, cơ cấu giới tính của dân số sẽ bị ảnh hưởng rõ rệt Đoàn hệ của những bé trai được sinh ra sau năm 2005 và bước vào tuổi lập gia đình vào năm 2030 sẽ dư thừa so với số phụ nữ cùng lứa tuổi Đến năm

2035, mức dư thừa nam giới trưởng thành sẽ chiếm 10% tổng số nam giới và thậm chí còn cao hơn nếu TSGTKS không trở lại mức bình thường trong vòng 20 năm tới

So sánh TSGTKS của Việt Nam với các quốc gia và khu vực khác cho thấy các quốc gia châu Á có TSGTKS cao hơn đáng kể so với Việt Nam, cao nhất là Trung Quốc với TSGTKS ở mức 121 cho năm 2008 theo Tổng cục Thống kê Trung Quốc Kết quả mẫu điều tra 1% dân số năm 2005 của Trung Quốc đã chỉ ra một số tỉnh có TSGTKS trên mức 130 Việt Nam có TSGTKS tương đương với tỷ số ước lượng gần nhất của Ấn Độ dựa trên mẫu điều tra dân cư

Trang 9

1.2.Nguyên nhân

- Phong tục tập quán, tâm lý xã hội truyền thống, tư tưởng nho giáo phải có con trai nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên, do tính chất công việc phải đòi hỏi lao động cơ bắp của con trai, trụ cột về lao động đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Do chế độ an sinh chưa đảm bảo, hiện nay có khoảng 70% dân số sống ở nôngthôn không có lương hưu bảo hiểm tuổi già, họ cần con trai để phụng dưỡng chăm sóc Trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai vì họ sẽ cảm thấy lo lắng và không

an tâm trong tương lai nếu chưa có con trai Do chính sách đối với nữ giới chưa thoả đáng, bình đẳng giới có mặt chưa được quan tâm đầy đủ

- Ảnh hưởng từ việc giảm sinh và tác động của các yếu tố kinh tế, phúc lợi xã hội.Áp lực giảm sinh với khuyến cáo mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 đến 2 con cũng

là nguyên nhân gián tiếp tác động đến thực trạng này Ðể sinh ít con mà vẫn đảm bảo có con trai như mong muốn, các cặp vợ chồng không thể áp dụng "quy luật dừng", mà sinh đến khi nào có con trai mới thôi, nên họ đã sử dụng các dịch vụ lựachọn giới tính trước sinh nhằm đáp ứng được cả hai mục tiêu nói trên

- Sự phát triển của các dịch vụ y tế hiện đại, các điều kiện chẩn đoán giới tính trước sinh và phá thai chọn lọc giới tính thai nhi ngay từ trước lúc mang thai như chế độ ăn uống; ngày phóng noãn, trong thụ thai chọn thời điểm phóng noãn; chọn phương pháp thụ tinh; siêu âm bắt mạch; chọc hút dịch ối, nạo phá thai

1.3.Hệ lụy sâu sắc:

- Việc lựa chọn giới tính trước sinh phản ánh tình trạng bất bình đẳng giới sâu sắc.Việc gia tăng TSGTKS không những không cải thiện được vị thế của người phụ nữ mà thậm chí còn làm gia tăng thêm sự bất bình đẳng giới như: nhiều phụ nữphải kết hôn sớm hơn, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao, tình trạng bạohành giới, mua dâm, mua bán phụ nữ sẽ gia tăng, Vì thế TSGTKS được coi là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ bình đẳng giới

- Theo các nhà khoa học xã hội, tác động chính của hiện tượng mất cân bằng giới tính sẽ liên quan tới quá trình hình thành và cấu trúc gia đình, đặc biệt là hệ thống hôn nhân Nam giới trẻ tuổi sẽ bị dư thừa so với tỷ lệ nữ giới đang giảm dần trong cùng một thế hệ, và kết quả là họ có thể phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng khi tìm kiếm bạn đời.Sẽ diễn ra tình trạng trì hoãn hôn nhân trong nam giới

Trang 10

hoặc gia tăng tỷ lệ sống độc thân Ðiều này sẽ tác động ngược lại truyền thống gia đình phụ hệ (theo họ cha) trong tương lai Một tỷ lệ lớn nam giới độc thân sẽ

không thể duy trì gia đình phụ hệ như trước đây Nếu không có can thiệp hiệu quả

để giảm mất cân bằng giới tính khi sinh thì sau 20 năm nữa Việt Nam sẽ có 4,3 triệu thanh niên ít có cơ hội lấy được vợ trong nước Dù làm tốt can thiệp để giảm mất cân bằng giới tính khi sinh thì con số đó cũng còn tới 2,3 triệu

2 Bất bình đẳng giới trong chính trị

Ngày nay người phụ nữ không chỉ lo việc bếp núc mà phải đi ra ngoài

làm việc, cuộc sống nâng cao thì cả chồng cả vợ mới có thể đủ khả năng

chăm sóc gia đình và nuôi nấng con cái Tạicông sở, người phụ nữ nếu mà

được những chức vụ cao, những chức vụ khá quan trọng, thì vấn đề bình

đẳng giới tự nhiên bị đặt ra như một rào chắn, hay một vấn đề mà người phụ

nữ đó phải phấn đấu để vượt qua Để khẳng định được mình trong vị trí lãnh

đạo và quản lý thì thứ nhất bản thân những phụ nữ đó phải có năng lực, phải

có trình độ, được đồng nghiệp tín nhiệm Thực tế hiện nay nhiều phụ nữ có

năng lực và có trìnhđộ Nam giới họ cũng khẳng định về năng lực và trình

độ đó Tuy nhiên do quan niệm cho rằngphụ nữ lãnhđạo thì hiệu quả sẽkhôngcao bằng nam giới, nên tỷ lệ phụ nữ có chức vụ cao vẫn còn hạn chế

2.1.Khái niệm

*Theo Luật Bình đẳng giới

Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 11 Luật Bình đẳng giới quy định bình đẳng giới tronglĩnh vực chính trị như sau:

1 Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã

hội

2 Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy

ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức

3 Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu

Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơquan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xãhội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

4 Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ

nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức

“Báo cáo phát triển con người năm 2011” cho biết tỷ lệ phụ nữ trong cơ quanlập pháp của Việt Nam là 25,8% Theo Tổ chức Liên minh Nghị viện thế giới

Trang 11

(Inter-Parliamentary Union) thì Việt Nam đứng thứ 40 trong tổng số 188 nước trênthế giới về tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan lập pháp (số liệu tính đến ngày 30/11/2011trên cơ sở báo cáo của cơ quan lập pháp các nước) So với các nước trong khu vựcĐông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 3, sau Timor Leste và Lào.

Trang tin Nhóm Nữ nghị sỹ Việt Nam (thuộc Uỷ ban Các vấn đề xã hội củaQuốc hội) và website Quốc hội cho biết, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội ở nước ta liêntục tăng lên trong thời gian qua và duy trì ở mức cao Tỷ lệ này đã tăng từ 3%(Quốc hội khoá I từ 1946-1960) đến trên 24% Quốc hội khoá XIII (2011-2016) Không chỉ chiếm tỷ lệ cao trong cơ quan lập pháp, phụ nữ Việt Nam còn thamgia, nắm giữ những vị trí quan trọng và đóng góp tích cực trong các cơ quan hànhpháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xãhội nghề nghiệp… Phụ nữ Việt Nam cũng có một tổ chức chính trị riêng của mình

đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được ra đời (ngày 20/10/1930) từ trước cáchmạng Tháng 8 năm 1945 hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lobảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ Tổ chức này với hàng chục triệu hộiviên hoạt động rộng khắp trên cả nước từ trung ương đến địa phương và tận cácthôn, buôn, sóc, bản, làng

5 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù

hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà

nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

*Chiến lược quốc gia

Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướngChính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010, trong đómục tiêu thứ nhất là: “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý,lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị”.Sau 10 năm thực thi luật và 6 năm thực hiện Chiến lược Quốc gia, mục tiêu bìnhđẳng giới trong lĩnh vực chính trị vẫn chưa đạt được

Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới đề ra mục tiêu: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ thamgia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2015 - 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốchội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên vànhiệm kỳ 2016 - 2021 trên 35%; phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm

2020 đạt trên 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân

Trang 12

dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ Theo báo cáo của Chính phủ thì các chỉtiêu trên đây đều chưa đạt

Thực tế cho thấy, thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đang là một vấn

đề khó hiện nay.Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị tạo điều kiện thuận lợi đểthực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác.Khi phụ nữ được giao các chức

vụ chủ chốt trong hệ thống chính trị thì việc xây dựng và thực thi pháp luật cũngnhư việc thực hiện các chủ trương, chính sách liên quan đến bình đẳng giới sẽthuận lợi hơn

Hơn ai hết, phụ nữ hiểu rõ giá trị của bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xãhội và trong cuộc sống gia đình.Bởi vậy, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạtđộng chính trị là tăng sức mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện quyền bình đẳnggiới Tiếng nói của các nhà lãnh đạo nữ trên chính trường cũng như trong hệ thốngchính trị có sức lay chuyển mạnh mẽ đối với nhận thức và hành động của cộngđồng trong thực hiện quyền bình đẳng giới

Sau đại hội khóa XII của Đảng, lần đầu tiên Việt Nam có Chủ tịch Quốc hội là nữ.Bên cạnh một số nữ bộ trưởng đã có một số bí thư, chủ tịch các tỉnh, thành phố là

nữ Đó là những tín hiệu tích cực báo hiệu một thời kỳ mới về thực hiện bình đẳnggiới trong lĩnh vực chính trị Chúng ta hy vọng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội vàđại biểu Hội đồng nhân dân các cấp lần này, số đại biểu là nữ sẽ đạt trên 35% nhưChiến lược Quốc gia về bình đẳng giới đã đề ra

Tuy nhiên, thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị không chỉ đơn thuần làquy định tỷ lệ nữ được cơ cấu trong các cuộc bầu cử của Đảng, Nhà nước và các tổchức đoàn thể khác Bất bình đẳng đối với phụ nữ là căn nguyên sâu xa tạo nênkhoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị

Phụ nữ vẫn đang phải chịu những định kiến nặng nề như: tư duy phụ nữ hạn chế sovới tư duy nam giới, phụ nữ phải dành nhiều thời gian cho gia đình nên ít có điềukiện tham gia hoạt động chính trị, tâm lý tự ti của phụ nữ hạn chế sự phát triểnnăng lực và sở trường… Chừng nào những định kiến đó chưa được gạt bỏ thì điềukiện tham gia hoạt động chính trị của phụ nữ vẫn còn bị hạn chế

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Giải phóng phụ nữ là cuộc cách mạng to lớnnhất, quan trọng nhất” Chỉ có giải phóng hoàn toàn phụ nữ thì khoảng cách giớitrong lĩnh vực chính trị mới được khắc phục

*Theo tổ chức cộng sản

Trang 13

TCCS- Bảo đảm bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng của hầu hết các quốc gia trên thế giới Liên hợp quốc xác định: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ là một trong 8 mục tiêu của thiên niên kỷ Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành công đáng

kể về chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ, nhưngvẫn còn một khoảng cách lớn về bình đẳng giới trên hành trình đến với các vị trí lãnh đạo, quản lý Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung mô tả thực trạng bình đẳng giới trong tham chính và góp phần gợi ý một vài hàm ý chính sách nhằmtừng bước tăng cường hơn nữa vị thế chính trị cho phụ nữ Việt Nam trong bối cảnhhội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay

2.2.Thực trạng về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý.

Báo cáo toàn cầu về khoảng cách giới năm 2011 (GGG) đã xếp hạng 135 quốc gia.Điểm nổi bật là hơn 96% khoảng cách giới liên quan đến kết quả y tế và 93% khoảng cách giới liên quan đến giáo dục được thu hẹp lại Tuy nhiên, trong việc tham gia các hoạt động kinh tế chỉ 59% khoảng cách được thu hẹp và trong trao quyền chính trị tỷ lệ đó chỉ đạt 18%(2) Các nỗ lực của từng quốc gia trong việc khắc phục những bất bình đẳng giới cũng không được duy trì liên tục, và mức độ đại diện của phụ nữ trong các tổ chức chính trị, kinh tế và pháp luật còn thấp

Các nghiên cứu về giới trên phạm vi toàn cầu đã đưa ra nhận định, các đảng chính trị trên khắp thế giới chủ yếu do nam giới chi phối và điều này tác động tới văn hóa, quá trình ra quyết sách và ai sẽ được phép tham gia các cơ quan ra quyết sách chủ chốt

Tại Việt Nam, sự tăng trưởng kinh tế trong những thập niên gần đây, đặc biệt kể

từ khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, đã tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận các cơ hội giáo dục và đào tạo Theo số liệu thống kê, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ lớn về các mục tiêu bình đẳng giới.Việt Nam đã rất thành công trongviệc nâng cao tỷ lệ học sinh nữ cấp tiểu học và trung học cơ sở Hiện tại, tỷ lệ nhậphọc tiểu học đối với trẻ em gái là 91,5% và trẻ em trai là 92,3% Tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đối với trẻ em gái là 82,6% và trẻ em trai là 80,1% Tỷ lệ nhập họctrung học phổ thông đối với trẻ em gái là 63,1% và trẻ em trai là 53,7% Tỷ lệ phụ

nữ tham gia lực lượng lao động là 73% và nam giới là 82% Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đạihọc là 36,24%; thạc sĩ: 33,95%; tiến sĩ: 25,69% Trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà

Trang 14

báo nữ cũng ước tính tới gần 30% tổng số nhà báo.Phụ nữ chiếm ưu thế trong một

số ngành, như giáo dục, y tế, và dịch vụ.Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm

số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tựnhiên và kinh tế.Tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với tổng số giờ làm việc của nam giới

Những nỗ lực của Đảng, Nhà nước góp phần thực hiện tốt chương trình bình đẳng giới trên các lĩnh vực.Trong đó, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là một trongnhững lĩnh vực nỗi bật và được cộng đồng quốc tế ghi nhận Chiến lược quốc gia

về bình đẳng giới đến năm 2020; Luật Bình đẳng giới (năm 2006) và nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng được ban hành là những bằng chứng về cam kết chính trị trong việc trao quyền cho phụ nữ Bình đẳng về cơ hội giữa nam và nữ trong chính trị đã được khẳng định trong Chiến lược cũng đã đề ra các chỉ tiêu cụ thể: chỉtiêu 1: Phấn đấu tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy đảng nhiệm kỳ 2016 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ

2011 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 2020 trên 35%; chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80%, đến năm 2020 đạt trên 95% số bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ; chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 100% ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Đây là cơ sở quan trọng để toàn Đảng và toàn xã hội tạo điều kiện thúc đẩy việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ với vai trò lãnh đạo, quản lý trong tương lai

Quá trình thực hiện mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới cho thấy, Việt Nam là một trong số ít nước ở khu vực châu Á Thái Bình Dương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt 24,3% Trong khối cơ quan đảng, ở cấp Trung ương, nhiệm

kỳ 2005 2011, tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng (kể cả ủy viên

dự khuyết) là 10%, tăng so với nhiệm kỳ 2001 2005 (8,6%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng là 20% (2/10 đồng chí) Ở cấp địa phương, tỷ lệ

nữ là đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh, huyện và xã ở các giai đoạn đều tăng, đặc biệt là ở cấp xã

Phụ nữ Việt Nam đã tham gia tích cực vào lãnh đạo, quản lý và bước đầu được ghi nhận, đánh giá cao Tuy nhiên, nếu so với tiềm năng và nguồn lực cán bộ nữ trong

Trang 15

hệ thống chính trị thì tỷ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ còn hết sức khiêm tốn Tỷ lệ

nữ đại biểu Quốc hội có xu hướng tăng không bền vững và có dấu hiệu giảm trong

2 nhiệm kỳ liên tục (Khóa X đạt 26,2%, khóa XI đạt 27,3%, khóa XII đạt 25,7% vàkhóa XIII chỉ còn 24,4%), chưa đạt chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến 2010 (phấn đấu đạt từ 33% trở lên) Tỷ lệ cán bộ nam và nữ nắm giữ các vị trí ra quyết định vẫn còn một khoảng cách khá xa, quyền quyết định ở các cấp vẫn chủ yếu là cán bộ nam Năm 2008, Việt Nam xếp thứ 89 trên tổng số

93 nước xếp hạng về có các chức danh bộ trưởng là nữ Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo nữ ở cấp xã, thôn là rất thấp Nếu thiếu lực lượng này thì nguồn cán bộ nữ cho những vị trí cấp cao hơn trong những năm tới sẽ gặp khó khăn

Phụ nữ là lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng cũng hết sức khiêm tốn, chỉ có 8,57% trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và 2/16 nữ là ủy viên Bộ Chính trị Xu hướng tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương tăng không ổn định qua các nhiệm kỳ (8,6% nhiệm kỳ 2001 2006; 8,13% nhiệm kỳ 2006 2010; 8,57% nhiệm kỳ 2011 2016) Đối với cấp tỉnh, huyện và xã cũng chưa đạt đến 20% tỷ lệ là nữ trong cấp ủy.Ở cấp đảng bộ cơ sở, tỷ lệ nữ nắm giữ các vị trí chủ chốt còn thấp

3 Bất bình đẳng giới trong giáo dục

3.1.Khái niệm

Ta hãy xác định bất bình đẳng về giáo đục theo hai góc độ:

Thứ nhất, bất bình đẳng về giáo đục là sư phấn phối (phấn chia) những thành tựu giáo đục đạt được cho các thành viên một cách ngẫu nhiên trong xã hội như thế nào Theo góc độ này, bất binh đấng về giấo dục được so gánh tương tụ như bất binh đấng về thu nhấp (hoặc chi tiêu) và ta có thể đo lường nó thông qua hệ số Gini

Thứ hai, bất bình đẳng vềgiáo đục là sư phấn phối những thành tựu giáo đục đạt được cho các thành viên theo những cợ sổ xã hội khác nhau như thế nào Có nghĩarằng, những người có cợ sổ xã hội khác nhau sẽ nhận được nhưng mưc độ giáo dụccũng khác nhau Ta có thể đo lường sự bất bình đẳng về giáo đục theo góc độ này thông qua chỉ số phân hóag(chi sốchênh lệch) giũa các nhóm cợ sổ xã hội khác nhau Theo góc độ này, bất bình đẳng vềgiáo đục còn được gợi là bất bình đẳng về

Trang 16

cợ hội giáo dục(Inequality of Educational Opportunity - IEO) Cả hai góc độ này đều được gợi chung là bất binh đẳng về giáo dục.

3.2.Xu hướng bất bình đẳng về giáo dục ở VN

-Trước hết la theo góc độ thứ nhất,bất bình đẳng về giáo dục được thể hiện qua hệ

số GiNi của những khoản mục chi tiêu về giáo dục của các hộ gia đình cho những trẻ em trong hộ,ta có kết quả tính toán như sau:

Hệ số Gini được tính trên cơ sở trung bình về giáo dục cho mỗi trẻ em trong hộ giađình trong một năm.Trẻ em đó phải thuộc nhóm tuổi đi học(6-24 tuổi),đang đi học

và có khoản chi tiêu về giáo dục trong 12 tháng qua.Các khoản mục chi tiêu về giáo dục được thống nhất giữa VLSS93 và VLSS98.Tông số tiền danh nghĩa của chi tiêu trung bình về giáo đục cho mỗi trẻ em trong hộ gia đình đều đã được điều chính thống nhất theo chỉ số giả vùng và chỉ số giả tháng 1/1998 cho cả VLSS9B

và VLSS98 Theo phương pháp tỉnh toán này (tác giả tư tỉnh toán trên cợ sổ số liệuVLSS93 và VLSS98), thì hệ số Gini chi tiêu về giáo đục đã tăng từ 0,564 năm

1993 lên 0,570 năm 1998 Như vậy, ta thấy bất bình đẳng về giáo đục ở Việt Nam

đã tang lên (nhưng tăng nhẹ) sau 5 năm

Hoặc nói một cách chắc chắn hơn, qua so sánh hệ số Gini sau 5 năm trên

đây,chứng tổ sự bất binh đẳng về giáo dục ở Việt Nam là không giảm, có thểthấy khuynh hướng ngày càng tăng theo thời gian

-Tiếp theo là dưới góc độ thứ hai, bất bình đẳng về giáo đục được thể hiện qua những cợ sổ xã hội khác nhau như thể nào Cơ sổ xã hội được xác định qua năm nhóm chi tiêu của hộ gia đình (các nhóm ngũ phân vị về chi tiêu) và khu vưc cư trúổnông thôn hay đô thị Dưới góc độ này, ta đo lường bất bình đẳng về cợ hội giáo đục theo tỉ lệ đi học đúng tuổi trong năm của toàn bộ dân số trong độ tuổi đi học vàđượcthể hiện trong bảng sau:

Trang 17

Bảng 2: Tỉ lệ đi học đúng tuổi theo các nhóm chỉ tiêu, đô thị và nông thôn

Cơ sở xã hội Tỉ lệ đi học đúng theo độ tuổi cho từng cấp

học 6-10

Trong bảng trên, qua hai năm 1993 và 1998, ta thấy:

-Theo nguồn gốc gia đình, trẻ em sống trong các gia đình thuộc 5 nhóm dân số

(quintile) có mức chi tiêu khác nhau thì có ti lệ đến trường cũng khác nhau Nhóm chi tiêu 5 giàu nhất luôn có ti lệ con em đi học cao nhất trong tất cả các cấp học Trái lại, nhóm chi tiêu 1 nghèo nhất thì luôn có ti lệ con em đi học thấp nhất trong

Trang 18

tất cảcác cấp học.Theo môi trường (hoàn cảnh) xã hội, trẻ em sống ổ hại khu vưc nông thôn và đô thị khác nhau thì cũng có ti lệ đến trường khác nhau Khu vưc đô thị luôn có ti lệ con em đi học cạo nhất trong tất cả các cấp học Trái lại, khu vưc nông thôn thì cũng luôn có ti lệ con em đi học thấp nhất trong tất cả các cấp học.-Xem xét sư chênh lệch giũa nhóm giàu và nhóm nghèo năm 1993, sự bất bình đẳng tăng dấn từ cấp học thấp (cấp 1) đến cấp học cạo (đại học) là 1,3 -> 2,9->11,5(lấn) Xu hướng bất bình đẳng tăng đần cũng diễn ra tương tự cho năm 1998 là1,1 -

> 2,6 -> 12,4 -> 61,2 (lấn) Xu hướng này cũng diễn rạ tương tư nếu tạ xem xét sựchênh lệch giũa nông thôn và đô thị về ti lệ trẻ em đi học đúng tuổi, năm 1993 là:1,12 -› 1,75 -› 4,35 -› 4,30 (lấn) và năm 1998 là: 1,04 -› 1,43 -› 2,51 -› 3,95 (lấn) Bất bình đẳng giáo đục giũa các nhóm hộ có mức chi tiêu khác nhau (giàu - nghèo) thuộc loại bất bình đẳng theo nguồn gốc gia đình Còn bất bình đẳng giũa nông thôn và đô thị thuộc loại bất bình đẳng theo môi trường (hoàn cảnh) xã hội Như vậy, quạ con sốổ dòng phấn hóa giáo đục trên đấy được xét theo cả hại khía cạnh nguồn gốc gia đình và môi trường xã hội tạ thấy nối lên xu hướng vận động của chúng là :Càng học lên cao thì sự bết bình đẳng về giáo dục ở trẻ em càng lớn

d.Nhưng nếu so sánh giữa năm 1993 và 1998 ở cùng độ tuổi đi học theo nguồn gốcgia đình (giàu-nghèo),ta thấy:

+ Ở độ tuổi cấp 1:chênh lệch này là 1,3 lần năm 1993 và đã giảm xuống 1,1 lần năm 1998

+ Ở độ tuổi cấp 2:chênh lệch này là 12,9 lần năm 1993 và đã giảm xuống 12,6 lần năm 1998

Trang 19

+ Ở độ tuổi cấp 3:chênh lệch này là 11,5 lần năm 1993 nhưng tang lên 12,4 lần năm 1998.

+ Ở độ tuổi cao đẳng đại học:năm 1993 không có thong tin cho nhóm nghèo,nhưngđến năm 1998 chênh lệch này lên đến 61,2 lần.Nếu thay nhóm nghèo năm 1993 bằng nhóm chi tiêu 2,thì ta thấy chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm thứ 2 là 7,5 lần(4,56/0,61).Nhưng đến năm 1998,chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm thứ 2 đã tăng lên 37,0 lần(28,13/0,76).Sự chênh lệch này ở Việt Nam là rất lớn

3.3.Thực trạng

Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trung bình của

xã hội.Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế.Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực của tương lai Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi trình độ và nhận thức của phụ

nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng như khả năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho giáo dục đối với con cái Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò quyết định trong việc chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái Về lâudài, các tác động này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trung bình của toàn xã hội sẽ được nâng lên

Tại Việt Nam Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam giới trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục qua các năm không ngừng tăng lên: năm 2002 chiếm 16,7%; năm 2005 chiếm 18%; năm 2008 chiếm 20% so với tổng ngân sách Mức chi cho giáo dục của Việt Nam cao ngang bằng với một số nước phát triển Kết quả của những ưu tiên này đã thu hẹp khoảng cách giới và việc đầu tư vào con người đã góp phần làm cho Việt Nam đạt được chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) khá cao Tỷ lệ phụ nữ so với nam giới trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể Chênh lệch về tỷ lệ học sinh nam - nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp Về cơ bản, Việt Nam có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cách biệt giới

ở các cấp học trước năm 2015

Trang 20

Có bốn loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành cho người lớn, trong đó

có phụ nữ.Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội học tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của người phụ

nữ, đặc biệt là vai trò của giáo dục đối với xã hội, ngành Giáo dục & Đào tạo đã thực hiện tương đối tốt vấn đề bình đẳng giới

Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Đặng Huỳnh Mai đã khẳng định vai trò to lớn của giới nữ: “Chiếm hơn 70% đội ngũ toàn ngành, giới nữ đóng vai trò đáng kể vào sự phát triển của sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo nước nhà” Một số cơ sở đào tạo lớn vốn có truyền thống nam giới lãnh đạo như Đại học Bách khoa Hà Nội nay

đã có nữ giới giữ vị trí Phó hiệu trưởng.Nhiều nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, được công nhận chức danh Phó Giáo sư.Đặc biệt, nhiều học sinh nữ, sinh viên nữ tự khẳng định vai trò của giới mình bằng cách tích cực học tập và rèn luyện, đạt kết quả xuất sắc

Vì vậy, có một nhà giáo dục đã viết: Giáo dục một người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người phụ nữ ta được cả một thế hệ Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát từ việc bình đẳng giới trong giáo dục

Tuy nhiên, thực chất bình đẳng giới trong Giáo dục và Đào tạo còn nhiều vấn

đề cần xem xét Về khách quan, việc nhìn nhận vai trò của nữ giáo viên chưa đúng,nhiều Hiệu trưởng không muốn nhận giáo viên là nữ vì sợ liên quan đến chế độ nghỉ sinh nở, con đau ốm ảnh hưởng đến việc giảng dạy, hoặc khi đề bạt, cử đi họccòn e dè trong việc chọn nữ giáo viên Trẻ em gái ít cơ hội được đến trường so với nam giới Nếu tính trung bình cho tất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ biết chữ thấp hơn 29% so với nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam giới và tỷ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữ thấp hơn tương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tự quan trọng về bình đẳng giới Tuy nhiên,theo kết quả điều tra chọn mẫu của Ngân hành Thế giới1, năm 1997 – 1998, tỉ lệ dân số nữ từ 15 tuổi trở lên chưa đến trường là 13,4%, nhiều hơn hai lần tỉ lệ nam: 5,2% Số năm đi học trung bình của dân số nam từ 6 tuổi trở lên là 6,7 năm, nhiều hơn số năm đi học của nữ: 5,6%

1

Trang 21

Biểu đồ và bảng số liệu:

Số lượng học sinh phổ thông tại thời điểm ngày 31 tháng 12 giai đoạn

2000 – 2009 phân theo giới tính

Trang 22

2000-2001

2002

2001- 2003

2002- 2004

2003- 2005

2004- 2006

2005- 2007

2006- 2008

2007- 2009

4887

4428

4617

4199

4359

3987

4053

3692

3781

3523

3622

3408

3576

3284

3501

3231

THCS

312

3

2741

3300

2959

3368

3063

3436

3134

3423

3194

3277

3094

3415

2965

2973

2830

2808

2661

THPT

115

6

1016

1366

1089

1286

1169

1331

1258

1421

1349

1507

1468

1560

1515

1465

1557

1385

1543

Số học

sinh

(Đơn vị:

nghìn) 17776,1 17875,6 17699,6 17505,4 17122,6 16650,6 16256,6 15685,2 15127,9

(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê, www.gso.gov.vn )

Tuy nhiên, nhìn vào biểu dồ, ta cũng có thể nhận thấy, từ năm 2000 đến 2009,

số nữ đi học cấp III đã tăng lên đáng kể Đây là một dấu hiệu tích cực để đánh giá

sự bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục

Trang 23

Trong giáo dục và đào tạo (GD và ÐT), sự bất bình đẳng bén rễ ngay trong hệ thống giáo dục và biểu hiện ở tỷ lệ học sinh nữ tham gia ở cấp tiểu học và THCS thấp hơn tỷ lệ học sinh nam, nhất là ở các vùng nghèo và vùng dân tộc thiểu số Học sinh nam có nhiều cơ hội quay trở lại học tiếp hơn học sinh nữ.Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnh miền núi đi học còn thấp, chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, trường nội trú ở quá xa nhà và một vài nơi vẫn còn tục lệ lấy chồng sớm Báocáo 'Ðánh giá tình hình giới ở Việt Nam 12-2006' do các tổ chức quốc tế: WB, ADB, DFID và CIDA phối hợp thực hiện cho thấy, trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc lồng ghép giới vào chương trình và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhưng hiện nay vẫncòn có các định kiến giới trong các tài liệu giáo dục và sách giáo khoa trong việc chia sẻ việc nhà, phân biệt đối xử trong lực lượng lao động và các hành vi mang lạirủi ro cho nam và nữ thanh niên (khảo sát sách giáo khoa Giáo dục Công dân lớp 9 mới cho thấy: nữ nhân vật xuất hiện trong 5/20 trường hợp nghiên cứu hoặc câu chuyện kể được xem xét tới, nam nhân vật xuất hiện 11/20 và nhân vật trung tính xuất hiện 4/20).

3.4.Những hệ quả của bất bình đẳng trong giáo dục

Khi có những bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận các nguồn lực cuộc sống thì tất yếu dẫn đến những hệ quả tiêu cực.Thực tế đã cho thấyđiều này diễn ra ở cả trên thế giới và ở Việt Nam

Có rất nhiều bằng chứng cho thấy trẻ em chịu thiệt thòi trực tiếp từ việc mẹ chúng mù chữ hoặc không được đến trường.Không được đi học dẫn đến chất lượngchăm sóc con cái thấp, điều này lại khiến tỉ lệ tử vong và suy dinh dưỡng ở trẻ em

và trẻ sơ sinh cao Những bà mẹ có trình độ học vấn cao thường có hành vi bảo vệ sức khỏe cho con cái phù hợp hơn, chẳng hạn như cho con cái đi tiêm chủng

Trang 24

Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn đóng vai trò quyết định trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng con cái Về lâu dài, các tác động này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trung bình của toàn xã hội sẽ được nâng lên.

Mặt khác, kể cả các nước có nền kinh tế mới phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, khi vấn đề bình đẳng giới không được giáo dục cũng ảnh hưởng rất lớn khi những định kiến “trọng nam” trong xã hội cộng với chính sách chỉ đẻ một con của Trung Quốc đã khiến tỉ lệ tử vong của bé gái cao hơn của bé trai Theo một số ước tính, số phụ nữ đang sống hiện nay ít hơn từ 60 – 100 triệu người so với con số khi không có sự phân biệt đối xử theo giới2

Bất bình đẳng giới trong giáo dục làm giảm chất lượng nguồn nhân lực trung bình của xã hội thực vậy, nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềmnăng thấp hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế

3.5 Một số nguyên nhân của bất bình đẳng giới trong giáo dục

Hiện tượng bất bình đẳng tạo ra những hệ quả xã hội to lớn.Ảnh hưởng từ quá trình tiếp cận nguồn lực của nam giới và phụ nữ đến sự phát triển của xã hội là một thực tế đã được chứng minh Vậy, nguyên nhân tại sao sự phân biệt đó vẫn cứ tồn tại dai dẳng? Một số kiểu bất bình đẳng giới còn khó thủ tiêu hơn cả các hiện tượng xấu khác của xã hội?Dưới đây là một số yếu tố ảnh hưởng đến các quan hệ giới và bất bình đẳng xã hội

Ngày đăng: 09/10/2016, 17:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Ước lượng tỷ số giới tính theo nguồn số liệu - kinh tế phát triển bất bình đẳng giới ở việt nam
Bảng 1 Ước lượng tỷ số giới tính theo nguồn số liệu (Trang 7)
Bảng 2: Tỉ lệ đi học đúng tuổi theo các nhóm chỉ tiêu, đô thị và nông thôn - kinh tế phát triển bất bình đẳng giới ở việt nam
Bảng 2 Tỉ lệ đi học đúng tuổi theo các nhóm chỉ tiêu, đô thị và nông thôn (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w