Khi nghiên cứu về hộ nghèo, các cuộc nghiên cứu thường tập trung phản ánh tình hình chung về nghèo của địa phương mà chưa quan tâm tới đặc thù các trường hợp hộ có chủ hộ là nữ đơn thân. Những nữ chủ hộ này có điều kiện kinh tế khó khăn, lực lượng lao động và trình độ chuyên môn phục vụ cho lao động có nhiều hạn chế, phải thay nam giới làm trụ cột gia đình, phải thích nghi trở thành lao động chính, phải gánh vác, chóng chọi, giải quyết những khó khăn, chịu nhiều áp lực nhưng chưa được quan tâm chăm sóc, hỗ trợ đúng mực. Không chỉ có áp lực trong công việc, nữ chủ hộ còn phải chịu áp lực từ các định kiến xã hội, những quan niệm “không thành văn”, khiến họ bị hạn chế cơ hội trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội.
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG PHÂN HIỆU KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài:
ĐỜI SỐNG CỦA GIA ĐÌNH CÓ NƯ
ĐƠN THÂN LÀ CHỦ HỘ
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, nhóm nghiên cứu cảm ơn trường Đại Học Bình Dương đã tạo điều kiện và cơ hội để nhóm thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này Cám ơn Phòng nghiên cứu khoa học trường Đại Học Bình Dương cùng các quý thầy cô các phòng ban đã giúp đỡ trong thời gian qua.
Cảm ơn Ban quản lý dự án “ Dự án Thủy Lợi Phước Hòa” đã cho nhóm có cơ hội tham gia nghiên cứu, quan sát thực tế và học hỏi kinh nghiệm
Cám ơn các cơ quan tại địa bàn nghiên cứu huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã hô trợ cho nhóm nghiên cứu Đồng thời cảm ơn bà con, cô bác tại huyện Đức Hòa đã cung cấp thông tin cho đề tài nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu cảm ơn đến các quý thầy cô trong khoa Xã hội học Cảm ơn cô Nguyễn Thị Lệ Thủy _ trợ lý khoa Xã hội học (tại thời điểm nghiên cứu) đã hết lòng chỉ bảo, điều phối cho nhóm Đặc biệt, cảm ơn cô Trần Thị Kim Xuyến đã tận tâm hướng dẫn, góp ý trong suốt quá trình tham gia và hoàn thành đề tài.
Trân trọng!
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6PHẦN 1: DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài:
Mặc dù đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế – xã hội, ở Việt Nam vẫn còn một bộ phận những hộ nghèo Đã có nhiều các chính sách kinh tế, chính sách xã hội, các cuộc nghiên cứu khoa học đang cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa giàu và nghèo Cũng vì lý do đó mà con người môi ngày nổ lực học tập và làm việc để cố gắng nâng cao chất lượng cuộc sống, thu hẹp khoảng cách thì vẫn có những yếu tố, điều kiện làm họ không thể vượt qua nghèo khó Họ bắt đầu nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo, cố gắng lý giải và đưa ra các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển Nghèo là chủ đề quen thuộc của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều ngành nghiên cứu như kinh tế học, xã hội học,… Khi nghiên cứu về hộ nghèo, các cuộc nghiên cứu thường tập trung phản ánh tình hình chung về nghèo của địa phương mà chưa quan tâm tới đặc thù các trường hợp hộ có chủ hộ là nữ đơn thân Những nữ chủ hộ này có điều kiện kinh tế khó khăn, lực lượng lao động và trình độ chuyên môn phục vụ cho lao động có nhiều hạn chế, phải thay nam giới làm trụ cột gia đình, phải thích nghi trở thành lao động chính, phải gánh vác, chóng chọi, giải quyết những khó khăn, chịu nhiều áp lực nhưng chưa được quan tâm chăm sóc, hô trợ đúng mực Không chỉ có áp lực trong công việc, nữ chủ hộ còn phải chịu áp lực từ các định kiến xã hội, những quan niệm “không thành văn”, khiến họ bị hạn chế cơ hội trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội Có nhiều sự khác biệt trong đời sống gia đình có nam hoặc nữ làm chủ hộ, sự khác biệt đó chưa được quan tâm sâu sắc, nghiên cứu sâu sắc nhằm đưa ra những biện pháp và áp dụng đúng trong từng hoàn cảnh gia đình cụ thể Các hoạt động sinh kế, các kế hoạch trong lao động sản xuất, nhu cầu, chăm sóc gia đình con cái, đều do chủ hộ chi phối, điều tiết Mức sống dân cư hay các báo cáo hàng năm không trình bày rõ các nhóm nghèo đặc thù, có thể nhận thấy các nghiên cứu của phi chính phủ có một số cái chỉ ra được như “dự án Thủy Lợi Phước Hòa” và bản thân nhóm nghiên cứu cũng có tham gia vào đề tài Nhìn thấy được thực trạng nên mong muốn có một cuộc nghiên cứu khác về đời sống của
Trang 7những gia đình có đặc thù riêng Nghiên cứu sâu hơn về các hoạt động sống, các điều kiện sống, các hoạt động sinh kế, hoạt động sinh hoạt trong gia đình,…Vì vậy đó là lý do nhóm nghiên cứu chọn đề tài “Đời sống của gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ”.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là đời sống của gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ
3. Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu là gia đình có phụ nữ đơn thân là chủ hộ
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Thời gian: 6 tháng
- Nội dung: nghiên cứu tập trung vào hoạt động sinh kế của gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ trong các lĩnh vực lao động sản xuất, thu chi, sức khỏe, giáo dục.
5. Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: tìm hiểu sâu hơn về đời sống của nữ đơn thân là chủ hộ gia đình.
- Mục tiêu cụ thể:
• Tìm hiểu điều kiện sống, cách thức sinh sống, thuận lợi, khó khăn trong đời sống của các nữ chủ hộ.
• Nhu cầu sinh kế của họ
6. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu sẵn có liên quan tới đề tài.
- Làm rõ vấn đề nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu.
- Nêu lên được tình trạng gia đình của nữ chủ hộ trong lao động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày,…
- Tiến hành đi phỏng vấn sâu
- Hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
- Đưa ra được giải pháp, kiến nghị để giúp đỡ nữ chủ hộ.
7. Ý nghĩa:
- Về mặt lý luận: đề tài áp dụng những lý thuyết của xã hội học, đòi hỏi tư duy và lập luận chặt chẽ Góp phần mở rộng lý thuyết và là tài liệu tham khảo cho sinh viên hoặc những người quan tâm tới vấn đề nghiên cứu.
Trang 8- Về mặt thực tiễn: là nguồn tham khảo cho ban quản lý, các cá nhân có trách nhiệm chăm lo đời sống nữ chủ hộ đơn thân Góp phần cải thiện đời sống cho họ.
8. Khó khăn và thuận lợi:
- Khó khăn:
Quá trình xử lý dữ liệu gặp trở ngại do các môn học chưa hoàn thành kịp thời gian Nhóm nghiên cứu chưa đủ kinh nghiệm để xử lý triệt để các dữ liệu.
- Thuận lợi:
Được sự góp ý của các thầy cô trong khoa Xã hội học, được sự cho phép của trường cũng như sự hô trợ hết mình của các thầy cô phòng Nghiên cứu khoa học.
Được sử dụng một phần dữ liệu của dự án “Thủy lợi Phước Hòa”, bản thân nhóm cùng tham gia thực hiện, đã tiếp xúc thực tế, trực tiếp và quan sát được đời sống của nữ chủ hộ.
Trang 9PHẦN 2: NỘI DUNG
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Đời sống là một đề tài được nhiều nghiên cứu khoa học chọn lựa, đời sống của người dân nghèo càng được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn Đối với chủ đề đời sống của nữ chủ hộ cũng đã có nhiều nghiên cứu trước đó như “ Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình” (tạp chí khoa học số 4 năm
2002 trong tạp chí Xã hội học) của Nguyễn Linh Khiếu, “Phân tích vai trò giới và ảnh hưởng của nó tới sự ra quyết định” của Trương Phúc Hưng (trong tạp chí xã hội học) Trong đó tác giả chỉ ra mối liên kết của sự đóng góp và quyền quyết định trong sản xuất kinh doanh của người phụ nữ Người phụ nữ có vai trò làm chính trong sản xuất kinh doanh nhưng người chồng vẫn là người quyết định chính những công việc này Quyền quyết định của người phụ nữ càng giảm từ thành phố xuống đồng bằng và đến các tỉnh trung du miền núi Đối với quyền quyết định các khoản chi tiêu quan trọng trong gia đình thì tác giả đã tìm thấy sự ngang bằng của cả vợ và chồng, nghĩa là cả hai cùng quyết định chiếm tỉ lệ cao nhất trong mua sắm nhà cửa, xây sửa nhà cửa, đóng tiền học cho con, hiếu hỷ tiệc tùng,…Tác giả còn đề cập tới quyền quyết định số con của vợ và chồng, theo khảo sát thì cao nhất thuộc về hai vợ chồng Trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn tới việc quyết định số con Đề tài ngắn gọn và giúp ta hình dung phần nào mối liên hệ và quyền lực của vợ chồng trong gia đình, nhưng nó vẫn còn trong phạm vi mag nhiều nhà nghiên cứu chọn, chưa có sự mới mẻ
Hay “Ảnh hưởng của học vấn đến sự tham gia và quyền quyết định của phụ nữ nông thôn tỉnh Quảng Ngãi trong thiết chế gia đình” của Trần Thị Kim (tạp chí khoa học trong tạp chí xã hội học số 1, 2003) Bài nghiên cứu chỉ yếu tố học vấn có những ảnh hưởng lớn trong việc ra quyết định của phụ nữ, chỉ ra một số yếu tố khác của thiết chế xã hội đã gây những ảnh hưởng nhất định Trong đó, bài viết có đề cập tới các dạng hoạt động sinh kế của phụ nữ và những kết quả
Trang 10đạt được từ quyết định của họ Bài viết chưa có sự nghiên cứu sâu các yếu tố ảnh hưởng khác, chưa chỉ rõ các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống được quyết định đem lại hiệu quả kinh tế như thế nào?, chỉ tập trung nói về yếu tố học vấn trong khi vẫn có nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng lớn trong đời sống gia đình cần được quan tâm và nghiên cứu.
Có những nghiên cứu khác như “Phân công lao động nội trợ trong gia đình” (tạp chí khoa học số 4 năm 2000 trong tạp chí xã hội học) của Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr Tác giả đã có những nghiên cứu sâu hơn về sự phân công
“ngầm” về vai trò của vợ và chồng trong gia đình, người vợ luôn nắm giữ các công việc đi chợ, nấu cơm, giặt giũ và những công việc trong nhà Trong kết luận tác giả chỉ ra sự khác biệt của phụ nữ Việt Nam so với nước khác, dù người phụ nữ đã có những thay đổi theo xu hướng hiện đại, cũng ra ngoài làm kinh tế, kiếm tiền nhưng vẫn không san sẻ bớt công việc gia đình Ngược lại, học gánh thêm khối việc và mong chờ sự phân công lao động lại từ người chồng.
Hay “Phân công lao động theo giới trong cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều” là luận án tiến sĩ của Lê Thị Kim Lan (tạp chí khoa học Xã hội học) Tương tự như hai nghiên cứu trên, tác giả đã chỉ ra sự nổi bật của vai trò người phụ nữ trong gia đình, cũng phát hiện những vấn đề về sự đóng góp và quyền quyết định của người vợ so với người chồng có sự khác biệt Nhưng điểm khác biệt là địa bàn nghiên cứu của tác giả thuộc về nơi ở của nhóm dân tộc ít người.
Trong “Bản tin lãnh đạo/phần 2” của trang tin Xúc tiến thương mại, Bộ NN VA PTNT SỐ 04-2012 có đè cập tới nôi khó khăn của người phụ nữ đúng ra làm trụ cột, phải chịu nhiều thiệt thòi và áp lực từ gia đình, lao động sản xuất Nhưng là một dạng báo cáo nên chưa chi tiết và sâu hơn.
Tất cả các bài viết trên đều có điểm chung là trình bày những áp lực và định kiến xã hội lên những người phụ nữ đóng vai trò trụ cột trong gia đình, dù họ còn chồng hay đơn thân đều có những khắc khe của xã hội tác động Khi chính
Trang 11bản thân đang còn phải chịu đựng những khó khăn trong sinh kế, lao động sản xuất để nuôi gia đình, họ còn chịu sự dèm pha từ chính người chồng và người thân trong gia đình Chịu những định khuôn, định kiến xã hội áp đặt, khiến họ mất đi nhiều cơ hội và gánh chịu những rủi ro trong hôn nhân, như phải đối mặt với sự rạn nứt mối quan hệ vợ chồng, thậm chí là ly hôn.
2. Cách tiếp cận:
- Cách tiếp cận lối sống là cách tiếp cận chủ yếu, dựa và các đặc điểm của văn hóa nông nghiệp, cách làm việc và sinh hoạt truyền thống của nông hộ
- Cách tiếp cận lối sống giúp nhóm nghiên cứu dễ hình dung và mô tả đối tượng nghiên cứu, tiếp cận nhanh chóng và quan sát tỉ mỉ hơn Bởi thông qua cách sống, con người dễ dàng bộc lộ bản thân về quan niệm sống, quan niệm trong lao động sản xuất, quản lý gia đình, nuôi dạy con cái Ngoài ra, họ còn thể hiện hoàn cảnh hiện đang sinh sống, những thuận lợi khó khăn họ trải qua và rút làm kinh nghiệm trong sinh hoạt gia đình, trong làm việc.
3. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin, phân tích tài liệu sẵn có thông qua tư liệu ở địa phương, trên sách, trong các tạp chí khoa học, của tổng cục thống kê,…
- Phân tích thông tin từ biên bản phỏng vấn sâu (sáu cuộc phỏng vấn sâu của nữ chủ hộ)
- Sử dụng công cụ bảng hỏi bổ sung (dữ liệu của “dự án Thủy lợi Phước Hòa”) gồm 480 bảng hỏi.
- Sử dụng phương pháp quan sát: thông qua những ghi chép, quan sát được trong quá trình tham gia “dự án Thủy lợi Phước Hòa”, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Chọn mẫu phỏng vấn sâu: trong đề tài sử dụng mẫu chỉ tiêu.
4. Lý thuyết áp dụng:
• Lý thuyết sinh kế:
Thuyết sinh kế: được đề cập đến trong các tác phẩm nghiên cứu của R Champer những năm 1980, sau đó được đề cập nhiều hơn bởi F Ellis, Barrett và Reardon, Morion, Dorward…Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về sinh kế Sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của môi cá nhân hay hộ gia đình.
Trang 12Có thể nói các hoạt động sinh kế là do các thành viên trong gia đình hay chính nông hộ tự quyết định.
Theo F Ellis thì sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó Các nông hộ tự nhận thấy tiềm lực tài chính và các nguồn lực mình ( bao gồm đất đai, mối quan hệ họ hàng bạn bè, kinh nghiệm, nhân lực…) có để tìm phương thức sinh kế phù hợp, nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Dựa vào hoàn cảnh thực tế, lý thuyết sinh kế có đủ khả năng chỉ ra các nguồn lực và điều kiện của đối tượng nghiên cứu, cụ thể là các hộ gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ Các đặc điểm về nguồn lực và vốn của họ sẽ được mô tả và làm rõ như là một nét riêng biệt nổi trội Khung sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống, thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế nào, vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà nó còn phân tích và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế Khi được điều chỉnh và ứng dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với các bối cảnh văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tộc người của môi nghiên cứu cụ thể, khung phân tích này sẽ là một cách tiếp cận hữu ích và lý thú cho các nghiên cứu và can thiệp chính sách trong lĩnh vực phát triển và giảm nghèo
5. Câu hỏi nghiên cứu:
- Bối cảnh kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu là như thế nào?
- Các nguồn vốn sinh kế của nữ chủ hộ
- Các chính sách ở địa phương hô trợ được thực hiện như thế nào?
6. Nội dung nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về nghèo
- Bối cảnh sống của các hộ phụ nữ đơn thân về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội,…trên địa bàn nghiên cứu.
Trang 13- Cách thức tổ chức sản xuất, tổ chức cuộc sống, cách sử dụng các nguồn vốn của chiến lược sinh kế trong đời sống.
- Tình trạng sức khỏe, giáo dục trong gia đình
Trang 147. Sơ đồ khung phân tích
(Tham khảo từ “Khung sinh kế bền vững” của Báo cáo Thủy Lợi Phước Hòa của PGS TS TRần Thị Kim Xuyến)
Bối cảnh kinh tế xã hội
Đời sống (các lĩnh vực)
Lao động sản xuất Thu nhập
Chi tiêu Sức khỏe Vay nợ
Giáo dục
Tự nhiên
Chiến lược sinh kế
của nữ chủ hộ
Vốn sinh
kế
Phương tiện vật chất Xã hội
Tài chính Con người
Các chính sách hô trợ
cho nữ chủ hộ
Trang 15PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Mô tả mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu trong đề tài này bao gồm 6 mẫu phỏng vấn sâu cho nghiên cứu định tính, sử dụng 84 mẫu trong 480 mẫu trong dự án “Thủy lợi Phước Hòa” cho nghiên cứu định lượng.
Đối tượng phỏng vấn sâu và mẫu nghiên cứu bằng bảng hỏi chủ yếu là nữ đơn thân làm chủ hộ Nữ chủ hộ đơn thân trong nghiên cứu này bao gồm chủ hộ là phụ nữ đơn thân, góa chồng, chồng mất sức lao động (bệnh tật, đau ốm), phụ nữ đã ly hôn hoặc ly thân; là người có quyền quyết định về mọi mặt trong lao động sản xuất, các hoạt động của sinh hoạt đời sống gia đình Qui mô hộ gia đình rất nhỏ, thậm chí một hộ chỉ có một người, vừa là chủ hộ, vừa là thành viên, vừa là lực lượng lao động chính trong gia đình Đây là gia đình đơn thân, một dạng gia đình khuyết đặc biệt, đặc điểm chủ hộ cũng là đặc điểm của chính gia đình đó.
Trong đó, số người ở độ tuổi lao động từ 18 đến 35 chiếm khoảng 6%, từ 35 đến
55 tuổi chiếm khoảng 42,9% Số người quá tuổi lao động từ 55 đến 70 chiếm khoảng 40,5%, trên 70 chiếm khoảng 7%.
2. Các khái niệm có liên quan
Đời sống: Tình trạng tồn tại của sinh vật: Đời sống của cây cỏ; Đời sống của súc
vật; Đời sống của con người 2 Sự hoạt động của người ta trong từng lĩnh vực: Đời sống vật chất; Đời sống tinh thần; Đời sống văn hoá; Đời sống nghệ thuật 3 Phương tiện để sống: Phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân (HCM) 4 Lối sống của cá nhân hay tập thể: Đời sống xa hoa; Đời sống cần kiệm; Đời sống chan hoà; Đời sống cũng cần thơ ca (Phạm Văn Đồng) (trích từ Từ điển Tiếng Việt điện tử).
Trang 16Hộ gia đình: Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa khái niệm hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên trong một gia đình có tài sản chung, cùng có quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt và cùng có trách nhiệm dân sự đối với khối tài sản đó Như vậy, hộ gia đình nhất thiết phải có mối quan hệ về huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ về nuôi dưỡng (quan hệ về cha mẹ nuôi và con nuôi) (trích báo Thanh Niên).
Hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Theo quy định tại Điều
106 Bộ luật dân sự thì “hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này”.
Chủ thể hộ gia đình: người chính thức thay mặt cho một hộ (trích Từ Điển trực
tuyến http://tratu.soha.vn/ ).
Khái niệm “chủ hộ” ở Việt Nam thường được hiểu là những người đứng tên trong sổ hộ khẩu của gia đình, cũng là người có “uy tín và quyền lực” nhất trong gia đình Trong một thời gian rất dài, danh hiệu “chủ hộ” đa số là nam giới hoặc là người cao tuổi nhất trong gia đình (mà những người cao tuổi này, đa số cũng là nam giới)” (theo báo điện tử Megafun thuộc quản lý của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam).
Nghiên cứu của viện Khoa học Xã hội Việt Nam cho thấy, có tới 2/3 người được hỏi cho rằng “chủ hộ là người ra các quyết định quan trọng trong hộ gia đình” Phương án thứ hai có tỷ lệ trả lời chiếm tới 46% là “chủ hộ là người đăng ký là chủ hộ trong sổ hộ tịch”.
Ngoài hai ý kiến chiếm tỷ lệ cao nổi trội trên, còn có những quan điểm về chủ hộ khác: “Chủ hộ là người đại diện cho hộ gia đình trong giao dịch với người ngoài” chiếm 31% ý kiến, “Chủ hộ là nam giới lớn tuổi nhất” với 27% ý kiến Điều này, theo nhóm nghiên cứu, chứng tỏ “tinh thần trọng xỉ (đề cao người cao tuổi) và trọng nam” của truyền thống văn hóa Việt Nam vẫn còn đóng vai trò quan trọng với người Việt (Trích Báo Mới).
Trang 17- Có các đặc điểm sau:
Các thành viên của hộ gia đình phải có quan hệ gia đình với nhau.
Đây là đặc điểm mang tính đặc trưng của chủ thể hộ gia đình để phân biệt với các chủ thể khác được quy định trong Bộ luật dân sự Cần lưu ý là ngoài hộ gia đình, Bộ luật dân sự còn quy định về tổ hợp tác và pháp nhân Cũng là những người
“cùng đóng góp tài sản, công sức”, nhưng thiếu yếu tố gia đình, nhóm người này không thể trở thành chủ thể hộ gia đình mà có thể là “Tổ hợp tác”, hoặc “Pháp nhân”.
Nữ chủ hộ: Có ý kiến cho rằng, số nữ chủ hộ tăng lên mang ý nghĩa “tích cực”.
Khi xã hội đổi thay, phát triển, cùng với sự trợ giúp của hệ thống luật pháp kéo theo sự thay đổi nhận thức về bình đẳng giới Vai trò, cơ hội của phụ nữ trong gia đình đã được bảo vệ, nâng lên Có một bộ phận phụ nữ được khẳng định mình, có sự tự chủ về kinh tế, có quyền trong việc ra các quyết định chính trong gia đình cũng như có quyền ngang bằng với nam giới trong việc được hoán đổi, được ghi tên là chủ hộ (theo báo điện tử Megafun thuộc quản lý của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam).
Vậy, gia đình là gì? Do không được Bộ luật dân sự quy định, nên khái niệm gia
đình sẽ được tìm kiếm trong những luật liên quan đến gia đình, mà một trong
những luật đầu tiên phải được nghĩ đến là Luật hôn nhân và gia đình Theo quy
định tại Điều 8 khoản 10 Luật hôn nhân và gia đình thì “Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định” của Luật hôn nhân và gia đình.(trích tạp chí khoa học của TS Lê Thu Hà)
Phân công lao động là sự phân chia lao động để sản xuất ra một hay nhiều sản
phẩm nào đó mà phải qua nhiều chi tiết, nhiều công đoạn cần nhiều người thực hiện Có hai loại phân công lao động, đó là: Thứ nhất, phân công lao động cá biệt là chuyên môn hóa từng công đoạn của quá trình sản xuất trong từng công ty, xí
Trang 18đục Sản phẩm của họ làm ra chỉ nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất Vì vậy, kiểu sản xuất này được gọi là sản xuất tự cấp tự túc, do đó sản phẩm của họ làm ra không có tính trao đổi hoặc mua bán trên thị trường nên chưa được gọi là hàng hóa Thứ hai, Phân công lao động xã hội là chuyên môn hóa từng ngành nghề trong xã hội để tạo ra sản phẩm ví dụ như sản xuất một chiếc xe máy, các chi tiết như lốp xe, sườn, đèn, điện môi chi tiết phải qua từng công ty chuyên sản xuất chi tiết đó cung cấp, sau đó mới lắp ráp thành chiếc xe máy Các sản phẩm này không còn giới hạn ở nhu cầu sử dụng của người sản xuất mà nó được trao đổi, mua bán, được lưu thông đến người sử dụng trong xã hội, lúc này sản phẩm đó được gọi là hàng hóa.
Các từ viết tắt
BBGB PVS: biên bản gỡ băng phỏng vấn sâu
CNH – HĐH: công nghiệp hóa – hiện đại hóa
II. Bối cảnh kinh tế xã hội và các chính sách cho phụ nữ đơn thân
1. Bối cảnh kinh tế xã hội:
- Trong nước:
Việt Nam có diện tích 331 212 km2 với dân số hơn 90 triệu người Nước ta hiện nay đang trong quá trình CNH – HĐH, là nước đang phát triển so với khu vực và thế giới Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư với trên 224 quốc gia vàvùng lãnh thổ, là thành viên Liên Hợp Quốc, ASEAN, ASEM, APEC, WTO, Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Phong trào không liên kết và nhiều tổ chức quốc tế, khu vực khác Kể từ năm 2000 Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới và theo Citigroup, mức tăng trưởng cao này sẽ còn tiếp tục phát triển Theo BBC (BBC là thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Sản phẩm của BBC là bao gồm các chương trình và thông tin trên TV, trên đài phát thanh và trên Internet), năm 2004, Việt Nam đứng thứ 11 trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng chậm lại
Trang 19trong một số năm sau, năm 2013 tăng trưởng 5,42%, xếp thứ 6 trong 11 nước khu vực Đông Nam Á Việc đổi mới kinh tế thành công đã dẫn đường cho Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề như tỷ lệ lạm phát cao, bất bình đẳng về thu nhập cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe kém và tình trạng bất bình đẳng giới tính còn nhiều (theo Bách khoa toàn thư mở).
- Tại địa bàn nghiên cứu:
Đức Hòa là một huyện thuộc tỉnh Long An Huyện có vị trí khá thuận lợi khi nằm liền kề Thành phố Hồ Chí Minh, từ trung tâm huyện đến trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km gần hơn rất nhiều so với đến trung tâm tỉnh Long An, Đức Hòa là thị xã trong tương lai với Trung tâm là Hậu Nghĩa, Hòa Khánh, Đức Hòa.
Tính đến năm 2012 huyện Đức Hoà có 227.563 người, gồm dân tộc kinh là chính, trong đó nữ 116.660 người chiếm khoảng 51.2% dân số toàn huyện Số người trong độ tuổi lao động là 80.258 người, chiếm khoảng 45% dân số Là vùng đất tương đối bằng phẳng, độ cao bình quân 1- 2m, cao nhất là khu vực Lộc Giang +8m, thấp nhất là kênh Xáng Lớn + 0,6 m, độ cao dốc thoai thoải theo hướng Đông Bắc đến Tây Nam.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 42.169 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 80,42%, đất lâm nghiệp chiếm 2,68%, đất ở 3,03%, đất chuyên dùng 7,88%, đất chưa sử dụng 10,59%.
Huyện Đức Hoà chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa, mưa nhiều, với lượng mưa trung bình hàng năm là 1.805 mmm, nhiệt độ trung bình là 27,7 0 C Nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sông Vàm Cỏ Đông và nhờ vào nguồn nước xả của hồ Dầu Tiếng.
Trang 20Khí hậu của huyện Đức Hoà có những thuận lợi cơ bản so với nhiều địa phương khác, độ chiếu sáng, độ ẩm cao, thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, ít bị ảnh hưởng của thiên tại Nguồn nước ngầm chủ yếu cung cấp cho sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt là dân cư các khu vực đô thị.
Nhìn chung, tài nguyên đất của huyện Đức Hoà có nhiều điều kiện cho phát triển công nghiệp, nguồn đất chưa sử dụng còn nhiều, địa hình tương đối bằng phẳng, thuận tiện cho việc san lấp mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng
Tính đến cuối năm 2008, trên địa bàn huyện Đức Hòa có 4 khu công nghiệp (KCN) bao gồm:
• KCN Đức Hòa 1-Hạnh Phúc.
• KCN Đức Hòa II (Xuyên Á).
• KCN Đức Hòa III.
• KCN dân cư dịch vụ Tân Đức và nhiều cụm công nghiệp.
Hầu hết các khu, cụm công nghiệp của huyện đều tập trung ở vùng trọng điểm bao gồm 11 xã, thị trấn với tổng diện tích khoảng 18.000 ha Là địa bàn tiếp giáp với
TP HCM, điều kiện đất đai rất thuận lợi cho phát triển trang trại và trong tương lai có thể hội tụ đủ điều kiện là thành phố vệ tinh cho thành phố Hồ Chí Minh.
2. Các chính sách hỗ trợ
- Trong nước: có nhiều chính sách hô trợ do nhà nước ban hành nhằm nâng cao đời sống cho người dân, trong đó các chính sách hô trợ chủ hộ là nữ khá nhiều Tùy điền kiện và khả năng của từng địa phương mà các chính sách có tính thích hợp và kết quả khác nhau Bao gồm chính sách xóa đói giảm nghèo, khuyến nông khuyến ngư, xây dựng nhà ở, vay vốn sản xuất tiêu dùng, vay vốn xây nhà vệ sinh và hô trợ cấp nước sạch,…
- Tại địa bàn nghiên cứu: các chính sách hô trợ được nữ chủ hộ tiếp cận và tham gia không nhiều, do bị hạn chế trong triển khai thực hiện chính sách
Trang 21hay các điều kiện kèm theo không phù hợp với đối tượng Những chính sách người đân đã tiếp cận được bao gồm:
• Vay vốn hộ nghèo tại địa phương thông qua các chương trình như Quỹ Séc, vay vốn cấp nước sạch, vay vốn xây nhà vệ sinh, vay vốn học đường,…
• Trợ cấp cho người nghèo, người cao tuổi: tiền, gạo, dầu ăn, nước tương,…
• Hô trợ sách vở cho trẻ em nghèo, phát thuốc miễn phí
• Cấp thẻ bảo hiểm y tế, tiêm phòng miễn phí.
Trong đó các chương trình vay vốn được đẩy mạnh theo nhu cầu của người dân, các trợ cấp từ thiện xã hội được coi là phổ biến và là sự trong chờ của nhiều đối tượng gặp khó khăn về đời sống.
III. Nguồn vốn sinh kế của nữ chủ hộ
1. Vốn tự nhiên:
Nguồn vốn tự nhiên được nông hộ xem trọng nhất trong các điều kiện để sinh sống và tạo ra thu nhập cho gia đình Theo kết quả nghiên cứu trong tổng số 84 mẫu định lượng có 77 hộ có đất chiếm khoảng 91,66% Đang trong tình trạng canh tác là 65 hộ chiếm khoảng 77,38%, số còn lại bỏ hoang hoặc cho thuê Tuy nhiên diện tích đất không lớn, có đến 69% dưới 10 công (sào), còn lại không quá 20 công (sào) Điều kiện canh tác thực tế của các hộ còn khó khăn về vốn, nước tưới và kỹ thuật Riêng các mẫu định tính chỉ có 1 hộ có đất canh tác nhưng không nhiều: “ ruộng thui hả , thì 40 cao , là 4 công” (Trích BBGB PVS số 4).
2. Phương tiện vật chất:
Theo kết quả quan sát của nhóm nghiên cứu tại thực địa, nhà ở không phải là vấn đề đáng lo ngại nhưng có sự chênh lệch về hình thức, điều này phụ thuộc vào thu nhập gia đình và kinh tế hộ.
Nguồn nước chủ yếu phục vụ cho tưới tiêu, tắm giặt, ăn uống là từ giếng kể cả mùa khô và mùa mưa (khoảng 95% đến 97%).
Lưới điện quốc gia cung cấp đầy đủ cho thắp sáng và phục vụ sản xuất: bơm nước tưới vào ruộng, nước sinh hoạt…
Trang 22Theo kết quả nghiên cứu, nhà vệ sinh dưới hình thức tự hoại và bán tự hoại chiếm khoảng 88,1%, khoảng 4,8% vẫn còn bắt trên sông, ao, kênh mương Tuy nhiên người dân vẫn chưa có thói quen đi vệ sinh trong nhà.
Nước sinh hoạt vẫn được thải ra sông, kênh mương và không qua xử lý.
Đồ dùng trong gia đình đáp ứng được cho sinh hoạt và sản xuất nhưng chưa đầy đủ tiện nghi, chưa trang bị đủ các máy móc phương tiện kỹ thuật phục vụ cho trồng trọt như: máy cày, máy gặt Đa số chỉ có máy bơm nước vừa phục vụ tưới tiêu vừa bơm nước sinh hoạt.
3. Vốn con người
Đối với gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ, vốn con người bị hạn chế bởi số lượng và chất lượng Qui mô hộ gia đình nhỏ, thậm chí là 1 người vừa là chủ hộ vừa là thành viên, đồng thời cũng là lao động chính trong gia đình Trung bình 1 hộ có khoảng từ 3 đến 4 người, nam giới chiếm 38,1%, nữ giới chiếm khoảng 61,9% Học vấn không cao chỉ từ THCS trở xuống, một số không đi học và thậm chí không biết chữ (những người già).
Đối với vấn đề sức khỏe, có 5/6 hộ phỏng vấn sâu có ít nhất 1 người bị bệnh kinh niên trong gia đình, có khoảng 38,1% bị bệnh kinh niên trong tổng số 84 mẫu nghiên cứu Bảo hiểm y tế được chú trọng, được cấp miễn phí cho một số đối tượng như người nghèo, người già; ngoài ra còn được cấp thuốc miễn phí hàng tháng tại cơ sở y tế.
4. Vốn tài chính:
Thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp như trồng lúa, rau màu, chăn nuôi, ngoài ra còn có các nguồn thu khác như từ lương, tiền trợ cấp Nhưng những nguồn vốn này có giới hạn, chỉ có khoảng 70% lực lượng lao động tạo ra thu nhập, còn lại là 30% không tạo ra thu nhập (bao gồm người già, trẻ em dưới 6 tuổi, người đau ốm bệnh tật, người mất sức lao động,…)
Trang 23Chi tiêu bình quân đầu người/tháng trong khoảng 12 tháng: 1 triệu 1 trăm nghìn (theo Báo cáo Dựu án Thủy Lợi Phước Hòa của PSG TS Trần Thị Kim Xuyến).
5. Vốn xã hội
Đối với các nữ chủ hộ, vốn xã hội được coi là thế mạnh khi các nguồn vốn khác bị hạn hẹp Các mối quan hệ gia đình trở nên chặt chẽ hơn so với các mối quan hệ bên ngoài như hàng xóm, bạn bè, chính quyền địa phương.
Theo kết quả nghiên cứu, khi gặp khó khăn gia đình nhờ vào anh em chiếm khoảng 38,1%, con cái chiếm khoảng 15,5%, các mối quan hệ khác chiếm dưới 10%.
Tại địa phương có các hoạt động Đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên, Hội Người cao tuổi,…Hội phụ nữ được các nữ chủ hộ tiếp cận và tham gia nhiều, chủ yếu để vay vốn sản xuất, vay vốn cho con đi học.
IV. Chiến lược sinh kế
1. Việc làm:
Các chiến lược sinh kế được đề ra dựa trên các nguồn lực có sẵn bao gồm vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính Các nhóm nghề nghiệp tạo thu nhập vẫ dựa vào nông nghiệp là chính.
Bảng1 Nhóm nghề nghiệp
Nhóm nghề của chủ hộ
Nông nghiệp (trồng trọt, chăn
Lâm nghiệp (trồng/chăm
Trang 24Cán bộ, công nhân viên chức 1.2 Về hưu/già yếu không
Tổng: 100.0%
(Nguồn: xử lý lại dữ liệu của dự án Thủy Lợi Phước Hòa)
Theo kết quả nghiên cứu, trong số 84 chủ hộ nữ đơn thân, nhóm nghề “nông nghiệp (trồng trọt chăn nuôi)” có tỉ lệ phần trăm cao nhất chiếm khoảng 48,8%, thấp nhất là nhóm nghề “lâm nghiệp (trồng/chăm sóc/bảo vệ/khai thác rừng)” và nhóm “cán bộ, công nhân viên chức” chiếm 1,2% Có nhiều hộ chọn một số nghề khác để sinh sống nhưng không đáng kể.
2. Nhu cầu sinh kế:
Theo kết quả nghiên cứu, các hộ phỏng vấn sâu có những kế hoạch khá giống nhau trong định hướng sinh kế của gia đình, tâp trung phát triển nông nghiệp, chủ yếu chăn nuôi gia súc, gia cầm (bò, gà vịt) hoặc tiếp tục phát triển công việc đang làm như làm thuê mướn, buôn bán nhỏ,…Chẳng hạn ý kiến của chủ hộ phỏng vấn sâu sau: “Giờ muốn nuôi bò”, “ Thì tới đây cũng đi làm mướn vậy thôi, không có ruộng cũng làm mướn ăn, ai giờ mướn, như nhà người ta có lúa mướn xạ lúa, làm ruộng người ta mướn mình nhổ cỏ, hay dặm lúa, thì tới lúa lên., lúa mùa lên rồi người ta trỉa đậu, trồng bắp thì người ta kêu mình đi làm mướn, làm mướn hàng ngày” (trích BBGB PVS số 1) Hay của nữ chủ hộ khác: “ Như hồi xưa thui cũng không làm gì khác hơn được hết , kiếm nuôi bò kiếm thêm chút đỉnh vậy thôi” (trích BBGB PVS số 4)
Đa số các chủ hộ đều muốn được cấp vốn, vay vốn là cách có thêm tiền nhưng đều ngại phải trả lại Với hoàn cảnh hiện tại, chi tiêu cho ăn uống, sinh hoạt và tiền khám chữa bệnh hiếm hoi khiến người dân sợ các khoản nợ, đa số không có nhiều đất canh tác hiệu quả nên việc phát triển nông nghiệp không mang lại nhiều khoản
dư trong chi tiêu.
Trang 25Bảng 2 Nhu cầu sinh kế
Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người bị bệnh kinh niên, người già, trẻ em
(Nguồn: xử lý lại dữ liệu của dự án Thủy Lợi Phước Hòa)
Theo kết quả nghiên cứu, nhu cầu được vay vốn có tỷ lệ cao nhất, khoảng 27,1%, đây là nhu cầu cấp thiết và quan trọng đối với môi hộ gia đình Xếp thứ hai là nhu cầu được cấp thẻ bảo hiểm y tế người bị bệnh kinh niên, người già, trẻ em trên 6 tuổi chiếm khoảng 24,3%
V. Đời sống và các hoạt động
1. Lao động sản xuất và phân công lao động trong gia đình:
Nghề nghiệp chủ yếu của các mẫu nghiên cứu là nông nghiệp, gia đình có đất đai canh tác hoặc không có đất canh tác thì làm nông nghiệp vẫn là lựa chọn của nhiều hộ gia đình Người dân tự trồng trọt, chăn nuôi trên đất của mình hoặc trên đất thuê, ngay cả đi làm thuê làm mướn cho các hoạt động khác của sản xuất nông nghiệp như làm ruộng, làm lúa, nhổ cỏ, nhổ đậu, tỉa bắp, chăn nuôi gà vịt,… Có 4 trong 6 chủ hộ phỏng vấn sâu làm mướn để sinh sống, còn lại 1 trong 6 chủ hộ phỏng vấn sâu đi bán vé số, 1 chủ hộ buôn bán nhỏ lẻ Công việc làm mướn của họ xoay quanh trồng trọt và chăn nuôi Trong đó chỉ có 1 nữ chủ hộ (BBGB PVS số
Trang 264) có ruộng để canh tác: “ruộng thui hả , thì 40 cao , là 4 công”, “còn chẻ đậu , 3 mươi mấy cao , 35 cao”, “thì cũng ruộng , từ nhỏ đến lớn cũng làm ruộng , làm ruộng , hồi đó cô cày , bừa , đập lúa gần chết !!”, “ ừ , thì hồi đó có trồng bắp , làm bắp hợp đồng” ( trích BBGB PVS số 4).
Theo kết quả nghiên cứu trong tổng số 84 mẫu định lượng có 77 hộ có đất chiếm khoảng 91,66% Đang trong tình trạng canh tác là 65 hộ chiếm khoảng 77,38%, số còn lại bỏ hoang hoặc cho thuê Tuy nhiên diện tích đất không lớn, có đến 69% dưới 10 công (sào), còn lại không quá 20 công (sào) Điều kiện canh tác thực tế của các hộ còn khó khăn về vốn, nước tưới và kỹ thuật.
Phân công lao động trong các gia đình này rất đặc biệt, chủ hộ làm tất cả các công việc sản xuất và tái sản xuất, công việc nội trợ, chăm sóc con cái Họ không có chọn lựa vì không có đủ nguồn lực lượng để phân công, thay phiên nhau gánh vác các công việc Theo kết quả nghiên cứu, số người ở độ tuổi lao động từ 18 đến 35 chiếm khoảng 6%, từ 35 đến 55 tuổi chiếm khoảng 42,9% Số người quá tuổi lao động từ 55 đến 70 chiếm khoảng 40,5%, trên 70 tuổi chiếm khoảng 7% Sự phân bố tuổi tác và cơ cấu nghề nghiệp có sự không phù hợp, lực lượng lao động khỏe mạnh từ 18 đến 35 chỉ khoảng 1/7 nhóm tuổi trung niên Ngoài ra số người ngoài tuổi lao động và gia yếu lại gấp gần 8 lần Khi sức khỏe nữ giới không bằng nam giới, lại làm những công việc nặng nhọc (do đặc thù của nghề nông) điều này trở thành áp lực lớn cho những người nữ là chủ hộ.
Tóm lại, nghề nông truyền thống vẫn là lựa chọn trong hàng nghìn nghề đối với người dân tại địa bàn nghiên cứu, phù hợp với đời sống ở nông thôn gắn liền mảnh ruộng, đất đai, kinh nghiệm, phù hợp với thực tế quan sát của nhóm nghiên cứu Ngoài ra, sự phân công lao động trong gia đình khá đặt biệt khi bị giới hạn nguồn nhân lực.
2. Thu nhập, chi tiêu
Trang 27Đối với các hộ gia đình ở nông thôn, ngoài thu nhập chính từ làm nông nghiệp, người ta còn nhờ vào các nguồn khác như làm thuê, buôn bán dịch vụ với qui mô nhỏ Ngoài ra còn làm tiểu thủ công như đan lát, đan giỏ để tăng thêm thu nhập, cách này đơn giản, không đòi hỏi nhiều vốn, có thể làm tại nhà, vào những khoảng thời gian rảnh rôi Nhiều phụ nữ nông thôn tận dụng nguyên liệu từ tre nứa, trúc Như hình thức của 1 nữ chủ hộ khi nói về thu nhập bằng nghề đan lát (BBGB PVS số 2): “đương thúng đương lát á.(Đương với làm mướn là bằng nhau á,con muốn gi cái gì thì ghi).Hai cái đó bằng nhau à”, “thì cũng phải làm có mấy món đó không á, đâu có gì đâu khó Đi làm về trưa cái rồi đương,đương thúng”, “ ngày nào cũng đương hết”, “đương thúng,một ngày mua trúc về đương”, “một ngày chắc kiếm được 30 ngàn đi,tính 30 ngàn đi”.
Đối với cuộc sống của người dân vùng nông thôn, thu nhập kiếm được từ tiền thủ công nghiệp góp phần không ít trong ổn định cuộc sống Bên cạnh đó, người nữ chủ hộ cũng linh động làm thêm các công việc khác như buôn bán nhỏ, hình thức sinh kế không cần nhiều vốn và đòi hỏi trình độ, hình thức sinh kế của 1 nữ chủ hộ (BBGB PVS số 5): “nấu đậu, rang đậu bán trên Hậu Nghĩa ngày bán được trăm mấy vậy á Mấy hôm rày bệnh hoài mấy tháng nay đâu đi bán được”, “ từ lúc về đây luôn Không làm chuyện này cũng làm chuyện kia, buôn bán vậy chứ mình không có ruộng mà Bán đậu, bán bắp rồi cái gì làm bán được thì mình cứ làm bán vậy đó Không có ruộng mà”.
Trong 84 mẫu bảng hỏi thu nhập của hộ gia đình có từ nhiều nguồn ở nhiều mức khác nhau.
Biểu đồ 1 Các nguồn thu nhập của hô
(Nguồn: xử lý lại dữ liệu của dự án Thủy Lợi Phước Hòa)
Theo kết quả nghiên cứu, tổng nguồn thu nhập trung bình hộ gia đình thu được từ nông nghiệp đạt cao nhất khoảng 2 triệu/tháng Điều này phù hợp với cơ cấu nghề
Trang 28nghiệp của các hộ gia đình (nghề nông chiếm 48,8%) Bởi Long An được biết đến với các loại gạo và nông sản nổi tiếng Tuy nhiên với tình hình thu nhập như vậy sẽ không đảm bảo đời sống và chất lượng sống cho người dân, cho những hộ gia đình gắn bó lâu đời với nông nghiệp Một ngành nghề còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm vì phần lớn các hộ nuôi trồng theo phương thức truyền thống, nhỏ lẻ Theo kết quả quan sát của nhóm nghiên cứu, các yếu tố về áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất vẫn chưa được các hộ gia đình chú trọng.
Theo kết quả nghiên cứu phân tích dựa trên số liệu thu thập, thông qua quá trình quan sát khi tham gia dự án, chi tiêu chủ yếu trong gia đình dựa vào nguồn thu nhập của chủ hộ là chính Với số thu nhập trên, gia đình phải chi cho các khoảng
cơ bản như ăn uống, thuốc khám chữa bệnh, học phí, tái sản xuất,…Có 29,3% tỷ lệ người phụ thuộc là thành viên trong gia đình (đa số là trẻ dưới 6 tuổi, học sinh sinh viên, già yếu), chưa kể đến trong 84 chủ hộ đã có khoảng 51,2% đã quá tuổi lao động Với thu nhập của chủ hộ từ nghề nông (48,8% chủ hộ làm nông nghiệp), quản lý các khoảng chi tiêu là áp lực nặng nề, nan giải.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy nghề chủ yếu của đa số nữ chủ hộ là làm nông nghiệp nhất là trồng lúa và rau màu Thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp và một số nghề phụ trợ cho thu nhập gia đình Thu nhập chưa đảm bảo cho cuộc sống bản thân và thêm người phụ thuộc Địa phương cần có những hô trợ để phát triển nông nghiệp, cũng như hô trợ các biện pháp tập huấn chăn nuôi trồng trọt, chú trọng chăm lo đời sống của các gia đình có nữ làm chủ hộ Đối với họ, việc gánh vác sinh kế của gia đình một mình vất vả hơn nhiều.
3. Vấn đề sức khỏe trong gia đình
Theo kết quả nghiên cứu, 5/6 nữ chủ hộ phỏng vấn sâu đều bị bệnh hoặc có thêm người thân bệnh Vấn đề sức khỏe rất quan trọng, bên cạnh đó việc khám sức khỏe định kỳ và chữa bệnh kinh niên dường như bị lãng quên bởi những người dân nghèo khổ, khi cái ăn còn chưa ổn định Điển hình như của nữ chủ hộ đã nói về hoàn cảnh gia đình như sau: “khó khăn thì mình mần mướn ngày nào mình ăn ngần
Trang 29đấy thôi chứ mình cũng không có thu nhập gì vô nữa hết, mần ngày nào ăn ngày ấy nuôi có đứa con nó bệnh á Nuôi từ nhỏ tới giờ hồi nó bệnh hồi 5 tuổi năm nay nó 17 tuổi rồi Nắng nắng lạnh lạnh là nó giật dữ lắm (BBGB PVS số 1) Hay của mọt họ khác: “thì mình cũng đi bán rồi bệnh đau nuôi con, cũng khổ Có nhà ở cũng bán luôn rồi”, “bán chữa bệnh, giờ ở cái chòi của ông già Ông bà ngoại về ở với anh chị hai, mới bán năm rồi mua thuốc với đi khám bệnh, bây giờ nguyên sấp hồ sơ bệnh” Hoặc “do không có lao động, không có ruộng đất rồi ốm đau, bệnh mãn tính kinh niên xã hội (BBGB PVS số 3)”.
Đối mặt với hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, vấn đề sức khỏe trở thành nan giải Người nữ phải gánh vác mọi công việc sinh kế chính của gia đình, lo lắng chăm sóc cho người thân bị bệnh, ngay bản thân họ cũng mắc những bệnh kinh niên, nhưng chữa trị đơn giản Như ý kiến của nữ chủ hộ sau: “cũng khó khăn, vì cô có nói là hôm rày cô bị bệnh bị viên khớp không đi mần được 3-4 tháng nay rồi Ráng tranh thủ uống thuốc bớt rồi đi (BBGB PVS số 5)” Hay ý kiến tương tự: “ loãng xương, loãng xương bữa đi khám miễn phí bên Hậu Nghĩa đó, ví dụ như người ta đứng 1 bình thường, 2 nhẹ còn tui bị thứ 3” (BBGB PVS số 6).
Bệnh tật khiến họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn càng khó khăn hơn, bán hết ruộng đất để chữa trị, đối với những hộ nghèo thì đành chịu đựng.
Các dịch vụ y tế của địa phương hoạt động khá tốt, phần nào giúp đỡ các hộ gia đình Bao gồm khám chữa bệnh miến phí, cấp thuốc, dịch vụ bảo hiểm y tế, sự quan tâm của hàng xóm, các cơ quan địa phương như Hội phụ nữ
4. Vay nợ
Theo kết quả nghiên cứu và kết quả quan sát, đa số người dân đều có những nguồn vốn nhất định Theo thuyết sinh kế, nguồn nhân lực trở thành vốn chủ đạo của các hộ gia đình làm nông nghiệp, phù hợp với đặc điểm của đời sống nông thôn Đối với gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ, nguồn nhân lực chủ yếu dựa vào nữ giới Nữ giới ngoài công việc nội trợ trong gia đình, chăm sóc con cái, còn gánh vác việc
Trang 30sinh kế chính là làm nông (48,8% thuộc nhóm nghề làm nông nghiệp) Tuy nhiên nguồn vốn nhân lực của các hộ gia đình này rất hạn chế, đa số là gia đình khuyết, không có nhiều nam giới tham gia sản xuất và công việc trong gia đình Bù lại, các chủ hộ biết tranh thủ bằng nguồn vốn xã hội của mình, khi khó khăn hoặc cần giúp đỡ họ nhờ đến hàng xóm, bạn bè, Hội Phụ nữ
Các thành viên khác trong gia đình làm các nghề khác nhau để cùng đóng góp chăm lo cuộc sống như ý kiến của nữ chủ hộ: “thằng có vợ 31 tuổi , cô con dâu với thằng con trai , còn đứa con gái nhỏ đi làm dưới thành phố”, “lái xe , cô con dâu thì làm xí nghiệp”, “con cô thì học điều dưỡng ra trường làm ở phòng khám tư dưới thành phố” (BBGB PVS số 4).
Đa số là phụ nữ đơn thân, sống 1 mình hoặc phải chăm sóc con bị bệnh bẩm sinh, bị tai nạn, bản thân người phụ nữ không đảm bảo sức khỏe làm việc đồng án, chăn nuôi sản xuất Nguồn vốn nhân lực thiếu thốn về số lượng lẫn chất lượng.
Ngoài ra, vốn tài chính rất quan trọng, tạo điều kiện cho hộ gia đình tổ chức, tham gia lao động sản xuất, làm vốn kinh doanh tiểu thủ công, chăn nuôi trồng trọt Để có nguồn vốn tài chính phục vụ cho các hoạt động trên, vay vốn là lựa chọn của nhiều hộ gia đình.
Bảng 1 Vay vốn
(Nguồn: xử lý lại dữ liệu của dự án Thủy Lợi Phước Hòa)
Trang 31Theo kết quả nghiên cứu, có đến 39,3% hộ có vay vốn, mức vay nhiều nhất trong khoảng từ 10 triệu đến 30 triệu và trên 50 triệu, chiếm đồng tỷ lệ 13,1% Nơi được vay nhiều nhất là “Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (ngân hàng Agribank)”, từ các chương trình hô trợ như cho vay đối với hộ nghèo, quỹ tiết kiệm Séc, chương trình cho vay đối với nữ chủ hộ Đơn giản nhất là vay mượn từ người quen, hàng xóm Và nguồn vốn này được vay để chi cho các mục đích khác nhau.
Bảng 2 Lý do vay
(Nguồn: xử lý lại dữ liệu của dự án Thủy Lợi Phước Hòa)
Theo kết quả nghiên cứu, nguồn vốn vay dùng cho sản xuất lúa, rau màu có tỷ lệ cao nhất chiếm 44%, dùng cho chăn nuôi xếp thứ 2 chiếm 20,6%, thấp nhất gồm dùng cho các việc hoạt động phi nông nghiệp, mua sắm đồ dùng lâu bền, học hành, xây dựng, sửa chữa nhà cửa đều đạt 2,9% Tuy nhiên, nguồn vốn vay không được sử dụng đúng vào mục đích khi vay, không sử dụng cho hoạt động tổ chức sản xuất, thêm vốn để mở rộng qui mô sản xuất hoặc mua con giống mới, mà tùy hoàn cảnh dùng vào các trường hợp khác nhau Người nữ chủ hộ biết linh hoạt trong chi
Trang 32dùng các khoản vay nhằm giải quyết những nhu cầu cấp thiết trước Chẳn hạn ý kiến sau: “vay vốn nghèo được 10 triệu”, “vay để chăn nuôi nhưng mà kẹt bệnh mua thuốc xài hết” (BBGB PVS số 3).
Các nguồn vốn vay chủ yếu từ chính sách hô trợ việc làm cho người dân, do chính quyền địa phương phối hợp với các cơ quan đơn vị chức khác thực hiện, hô trợ như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội khuyến học, các chương trình vay vốn của quỹ Séc, thông qua ngân hàng nhà nước và tư nhân như “ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn” Ngoài ra, họ còn không quên tận dựng vốn xã hội của mình từ các mối quan hệ họ hàng, bạn bè hàng xóm, quan hệ vói các tổ chức xã hội để vay vốn.
Các nữ chủ hộ ít vay vốn do lo sợ lãi suất và khả năng chi trả sau đó Theo thông tin nhóm nghiên cứu thu thập trong quá trình tham gia dự án, nhiều nguyên nhân khách quan khiến người vay không thể hoàn trả lại vốn như mất mùa vì thiếu nước, biến động giá cả làm thua lô, vật nuôi bị bệnh,…
Tóm lại, các hộ nữ đơn thân có phần thua kém về vốn Vốn nguồn lực hạn chế nhiều so với các hộ gia đình bình thường khác, nhân lực chủ yếu là nữ giới trung niên Đối với vốn tài chính, họ biết tranh thủ từ nhiều hướng nhưng ở mức nhỏ lẻ và khó có khả năng trả khi vay Riêng về vốn đất đai không nhiều đồng thời phương pháp canh tác truyền thống vẫn duy trì khiến nguồn vốn này không thể phát huy tối đa tiềm lực, không thể giúp nông hộ đáp ứng nhu cầu có thu nhập cao hơn.
5 Giáo dục
Vấn đề giáo dục tại địa bàn nghiên cứu cần được quan tâm nhiều hơn, khi trình độ học vấn không đủ để người dân nhất là nữ chủ hộ có cơ hội có các việc làm đem lại cuộc sống ổn định
Biểu đồ 2 Trình đô học vấn ( nguồn: Báo cáo Dự án Thủy Lợi Phước Hòa của PGS TS Trần Thị Kim Xuyến).
Trang 33Theo kết quả nghiên cứu, không chỉ riêng các gia đình trong mẫu nghiên cứu có trình độ học vấn không cao, đối với toàn số mẫu nghiên cứu trên địa bàn, trình độ học vấn của người dân có sự chênh lệch giữa những hộ có đất và không đất.
Đối với những hộ có đất, trình độ học vấn được duy trì từ bậc trung học phổ thông đến cao đẳng trở lên Ở trình độ tiểu học và trung học cơ sở, giữa những hộ này có sự chênh lệch không cao.
Lý do nghỉ học do gia đình thiếu người lao động, tốn kém chi phí và học kém, một số muốn nghỉ sớm để đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình Theo kết quả thu được trong phỏng vấn sâu, con cái không thể đến trường còn vì bệnh tật, làm mất đi cơ hội và khả năng học tập.
Trang 34Phần 4: KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu, đa số các gia đình chủ yếu làm nghề nông, cụ thể là trồng lúa, rau màu (đậu phộng, bắp, các loại rau, ), chăn nuôi bò, heo và một số gia cầm như gà, vịt Còn lại là các ngành nghề khác như tiểu thủ công, làm thuê, buôn bán nhỏ lẻ Thu nhập chủ yếu dựa trên sức lao động của nữ chủ hộ và từ nông nghiệp là chính.
Mẫu nghiên cứu là gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ nên phần lớn có qui mô gia đình nhỏ, mọi công việc dựa trên sự quyết định của nữ chủ hộ từ lao động sản xuất, chi tiêu nhiều cho vấn đề sức khỏe Nữ chủ hộ vừa là trụ cột vừa là người thực sự tạo ra thu nhập chính của gia đình Ngoài nuôi sống bản thân, họ còn gánh thêm các khoản chi khác của người phụ thuộc bao gồm người không việc, không tạo ra thu nhập và thu nhập rất ít và người bị bệnh.
Các định hướng cho sinh kế chủ yếu phát triển nông nghiệp, tuy nhiên họ chưa có kế hoạch cụ thể để quản lý, sử dụng tốt nguồn vốn như mục đích ban đầu Họ có các nguồn vốn tiềm lực nhưng chưa được phát huy tối đa, đặc biệt là vốn xã hội và vốn đất đai chưa được sử dụng triệt để Ngoài mục đích vay vốn để sản xuất, vay vốn còn dùng để khám chữa bệnh, mua đồ dùng trong gia đình.
Tóm lại, đối với gia đình có nữ đơn thân là chủ hộ, đời sống của họ tương đối đảm bảo thông qua thu nhập chi tiêu và các hoạt động khác Tuy họ phải chịu những thiệt thòi nhất định về nguồn nhân lực, vốn, điều kiện đất đai kể cả những áp lực, nhưng họ thể hiện tốt vai trò là chủ hộ, biết tranh thủ các nguồn lực để đảm bảo cuộc sống của gia đình ở mức có thể.
2. Khuyến nghi
Địa phương cần nhận biết các thế mạnh về nguồn vốn của các gia đình nữ đơn thân, nên tạo cơ hội để các nữ chủ hộ phát triển tối đa các nguồn vốn đang có như
Trang 35hướng dẫn kỹ thuật nâng cao năng suất sản xuất tại nhà, hô trợ các chương trình vay vốn cho nữ chủ hộ đơn thân Thúc đẩy nhiều hơn các cơ quan hô trợ đặc biệt là Hội Phụ nữ Hướng dẫn cách quản lý tốt nguồn vốn có kế hoạch, có khoa học Nên xây dựng các buổi nói chuyện trao đổi kinh nghiệm thân thiện tại các địa điểm nông hộ làm việc.
Trang 36TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH
Bùi Quang Dũng, “Xã hội học nông thôn” (NXB KHXH Hà Nội 2007)
Tống Văn Chung, “Xã hội học nông thôn” (NXB ĐHQG Hà Nội 2000)
Từ điển Xã hội học Oxford (NXB ĐHQG Hà Nội)
TẠP CHÍ KHOA HỌC
Lê Thị Thu Hà, “ Bàn về chủ thể hộ gia đình”
Nguyễn Linh Khiếu,“ Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình” (tạp chí khoa học số 4 năm 2002 trong tạp chí Xã hội học)
Nguyễn Hữu Minh, “Khía cạnh giới trong phân công lao động gia đình” (tạp chí khoa học số 4 năm 2008 trong tạp chí Xã hội học)
Nguyễn Thế Hiếu, “Vai trò của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình” (tạp chí khoa học)
Trần Thị Kim, “Ảnh hưởng của học vấn đến sự tham gia và quyền quyết định của phụ nữ nông thôn tỉnh Quảng Ngãi trong thiết chế gia đình” (tạp chí khoa học trong tạp chí xã hội học số 1, 2003)
Trương Phúc Hưng, “Phân tích vai trò giới và ảnh hưởng của nó tới sự ra quyết định” (tạp chí khoa học)
Vũ Mạnh Lợi, “Một số lý thuyết về giới trong nghiên cứu gia đình” (tạp chí khoa học số 4 năm 2000 trong tạp chí xã hội học), “Chủ hộ gia đình Việt Nam là ai”( (tạp chí khoa học số 4 năm 2009 trong tạp chí Xã hội học)
Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr, “Phân công lao động nội trợ trong gia đình” (tạp chí khoa học số 4 năm 2000 trong tạp chí xã hội học)
Trang 37Lê Thị Kim Lan, “Phân công lao động theo giới trong cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều” (tạp chí khoa học Xã hội học)
BÁO ĐIỆN TỬ – TRANG TIN – CỔNG THÔNG TIN
Bộ NN VA PTNT SỐ 04-2012, “Xúc tiến thương mại”
“Phụ nữ làm trụ cột gia đình: sướng hay khổ?”(AloBacsi.vn)
Quỳnh Mai, “Văn hóa gia đình-Người trụ cột trong gia đình”
Huyền Anh “Phụ nữ làm trụ cột gia đình được không?” (Theo MCTheo
dantri.com.vn)
“Vợ làm "trụ cột", gia đình rạn nứt” (web Adam-Eva)
Minh Thùy “Khi chồng không là trụ cột gia đình” (web Adam-Eva)
Trang 38PHỤ LỤCBIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SÂU SỐ 1
H: tụi con là bên nhóm khảo sát về khu tưới Phước Hòa đó cô thì cũng muốn gặp cô đề về cái điều kiện trước khi cái thủy lợi Phước Hòa được thực hiện ở ấp mình
Đ: thủy lợi gì?
H: thì con hỏi một số thông tin thì cô trả lời giùm con
Đ: thông tin phài không?
H:dạ, cô tên gì cô?
Đ: tên Lây
H:ấp mình là ấp?
Đ: Bàu Trai Thượng
H: cô tên gì?
Đ: tên Lây, có họ không?
H: họ tên luôn
Đ:Trương Trâm Lây
H: năm nay cô nhiêu tuổi cô?
Đ: 55 tuổi
H: hồi đó cô học tới lớp mấy cô nghỉ cô?
Đ: mới có lớp 3 à
H: giờ cô làm gì để kiếm sống?
Đ: làm mướn
Trang 39H: dạ, làm mướn là làm gì cô?
Đ:làm mướn kiể như đi làm ruộng nè, ai mướn nhổ cỏ thì nhổ cỏ, trồng lúa trỉa bắp trỉa đậu, nhổ đậu, vậy á Chứ không có làm gì nữa, làm mướn
H: gia đình mình có mấy người cô?
Đ: có 2 mẹ con à
H: dạ, 2 mẹ con, còn chú?
Đ: thôi rồi
H: dạ, con cô năm nay bao nhiêu tuổi rồi cô?
Đ: năm nay 17 tuổi
H: trai hay gái cô?
Đ: gái
H: đang đi học hay sao cô?
Đ: không có nó bệnh từ nhỏ, nó bị bệnh hồi 5 tuổi, nay nó 17 tuổi, bệnh thần kinh á Nó bệnh thần kinh không có học hành gì hết á Nay còn mần nuôi nó đó
H: dạ, cô sống ở đây lâu chưa cô?
Đ: sống nay mười mấy năm rồi
H:vậy cô bắt đầu về sống ở đây là năm bao nhiêu cô?
Đ: sinh ở đây, sống từ nhỏ tới lớn ở đây luôn
H: dạ, sống từ nhỏ tới lớn ở đây luôn?
Đ: ờ ở tại đây luôn
H: trước giờ cô cũng đi làm mướn?
Đ: cũng đi làm mướn vậy thôi, từ nhỏ tới giờ chứ không có làm gì hết Còn nhỏ con nó bệnh từ 5 tuổi nay nó 17 tuổi rồi năm nay mười mấy năm rồi cứ bệnh hoài, đi bác sĩ nó
Trang 40khám bệnh thần kinh á, 2 dây thần kinh nó yếu tối ngủ bệnh là nó giật dữ lắm đi bác sĩ tùm lum hết Mình mần mướn nhuôi nó từ nhỏ tới lớn.
H: cô chú thôi nhau lâu chưa cô?
Đ: thôi nay 13 năm rồi Hồi nó sinh ra mới 4 tuổi, nay nó 17 tuổi á
H: dạ, vậy từ trươc mình làm vậy chứ không có thay đổi nghề?
Đ: không, không có đổi nghề
H:nhà mình có đổi nghề gì khong cô?
Đ: không, không có đất
H: vậy có những thuận lợi khó khăn nào trong công việc làm thì mình thấy khó khăn gì không?
Đ: khó khăn thì mình mần mướn ngày nào mình ăn ngần đấy thôi chứ mình cũng không có thu nhập gì vô nữa hết, mần ngày nào ăn ngày ấy nuôi có đứa con nó bệnh á Nuôi từ nhỏ tới giờ hồi nó bệnh hồi 5 tuổi năm nay nó 17 tuổ rồi Nắng nắng lạnh lạnh là nó giật dữ lắm
H: là chủ yếu mình đi làm thuê chứ gia đình mình cũng không có đất sản xuất hả cô?Đ: không, không có đất sản xuất, không có gì vô hết Nghèo mà ai mướn thì mình đi mầnmướn nuôi có đứa con
H: cô có nghe gì về cái dự án thủy lợi Phước Hòa ở đây không cô? Có nghe gì không cô?Đ: không, không nghe gì hết
H: cô có nghe gần đây sắp có cái dự án thủy lợi gì không cô? ở đây nè, thủy lợi Phước Hòa á?
Đ: thủy lợi Phước Hòa? Không biết gì hết ráo
H: co thấy cái nhà cô so với những nhà xung quanh thì cô thấy mức sống sao cô?
Đ: thì sống thì cũng người ta có ruộng người ta mần sống được mình thì khó khăn mìnhmần mướn ngày nào mình ăn ngày đấy chứ mình cũng không biết