MỞ BÀI Việt Bắc là tốc phẩm thơ trường thiên, dài 150 dòng, được Tố Hữu viết vào tháng 10 - 1954, khi Đảng và Nhà nước ta sắp rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, một trong những khúc trữ t
Trang 1THÁI QUANG VINH
Trang 2THAI QUANG VINH
(B iê n so ạ n tuyên c h o n V 3 g/O' thiêu)
1 5 5
BÀI LÀM VÂN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Chương trình Văn học 12 gồm Văn học Việt Nam với tác phẩm của Nguyễn Ải Quốc - Hồ Chí Minh và những bài thơ, truyện ngắn ra đời trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ (1945 - 1975) cùng với những tác phẩm Văn học nước ngoài.
Hi vọng cuốn sách sẽ phục vụ tốt dề các em biết chủ động kết hợp và tiếp thu những nội dung tích cực của cuốn sách.
Chúc các em học tốt môn Văn và giành kết quả cao trong các kì thi.
C Á C T Á C GIẢ
Trang 4T U Y Ê N N G Ô N Đ Ộ C L Ậ P
HỐ CHÍ MINH Bài 1: Phân tích giá trị bản Tuyên ngôn Dộc lập của Hổ Chí Minh.
BÀI LÀM
- Về giá trị lịch sử, Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện quan trọng
có tính chát đúc kết nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam về quyển
độc lập tự do Tuyèn ngôn Độc lập cũng là kết quả của quá trình đấu
tranh gần 100 nãm của dân tộc ta chống các loại kẻ thù trong và ngoài nứớc đê có được quyền thiêng liêng ấy Đãng sau những lời văn trang
trọng của Tuyền ngôn Độc lập là sự thật lịch sử, là hình ảnh một đất
nước, một dân tộc trong những năm tháng đen tối đau thương dưới ách thống trị của kẻ thù, là biết bao cuộc đấu tranh khởi nghĩa đầy gian khổ, thất bại, hi sinh để cuối cùng có Cách mạng tháng Tám năm 1945
Có lẽ vì những ý nghĩa đó mà trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch”, Trần Dân Tiên có viết: “Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mạng của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải dào xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu tin tưởng, gắng sức
và hi vọng của hơti 20 triệu nhản dân Việt Nam ”.
Mặt khác, bản Tuyên ngôn Độc lập còn thể hiện tư tường mang tầm
vóc lịch sử Độc lập của dân tộc bao giừ cũng gắn liền với quyền sống của con người và hạnh phúc của đất nước cũng là hạnh phúc của mỗi
cá nhân trong cộng đổng Như vậy, quyẻn của dân tộc, quyền của con người, quyền của cá nhân là những phạm vi gán bó chặt chẽ với nhau;
ban Tuyèn ngôn Độc lập đả tạo ra sự thống nhất của ba phạm vi đó:
từ quyền sống của con người, tác giả nâng cao thành quyền lợi của dân tộc vồ trong quyền lợi của dân tộc đã hàm chứa quyền sốr.g của mỗi
cá nhân
- Về giá trị văn chương: một áng văn chính luận mẫu mực (xét ở
các mặt: dung lượng, kết cấu, ngón ngữ): Dung lượng của Tuyên ngôn
Độc lập rấ t ngắn gọn, cô đọng nhưng giàu sức thuyết phục, gây ấn tượng
mạnh mẽ với người đọa k ết cấu tác phẩm rất chặt chẽ với các phần
đều liên quan với nhau: cách lập luận đanh thép, chứng cứ xác thực;
và tấ t cả đều xoáy vào một điều quan trọng nhất là độc lập chủ quyền
của dân tộc Việt Nam Ngôn ngữ tác phẩm chính xác, giàu sức biểu hiện
Từng câu, từng chữ đều được lựa chọn sao cho đạt được hiệu quả diễn
đạt cao nhất Trong bài “Kinh nghiệm Bác viết như thế nào?", chính Chủ
Trang 5tịch Hồ Chí Minh cũng tự thừa nhận, sau lần đãng bài báo đầu tiên, rồi truyện ngắn đầu tiên, đây là lần thành công thứ ba khiên Người
“cảm thấy thực sự sung sướng” trong cuộc đời làm báo, viết vồn để hoạt
động cách mạng cứu nước đầy kinh nghiệm của mình
B à i 2; Phân tích lời tuyên bố khẳng định chủ quyển độc lập trong bản Tuyên
Đ OẠN V Ă N
Các ý chính:
Việc giành độc lập: Làm sáng tỏ quan hệ Pháp - Việt, ràng buộc Đồng minh vào việc công nhận Việt Nam độc lập - Việc giữ độc lập;
sự quan tăm của cả dân tộc ( )
- Trên cơ sở pháp lí vững chắc và cơ sở thực tế hiển nhiên, phần cuối cùng của bản Tuyên ngôn là những lời tuyên bố trang trọng của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới trước quốc dân đồng bào và trước nhân dân toàn th ế giới Sau gần 100 năm bị đô hộ, đây là lần đầu tiên tiếng nói tự hào vang lên khẳng định mạnh mẽ việc giành độc lập của dân tộc Việt Nam Muốn vậy phải làm sáng rõ mối quan hệ giữa Việt Nam với Pháp bởi vì có thể nhiều người trên thế giới cho rhng Việt Nam là thuộc địa của Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng Đồng minh thì người Pháp có quyền trở lại thuộc địa của họ Do đó, trước hết bản Tuyên ngôn bác bỏ chủ quyền của Pháp đối với Việt Nam
và tuyên bố Việt Nam hoàn toàn độc lập với Pháp, thoát khỏi quan hệ thực dân với Pháp; xóa bỏ mọi hiệp ước mà Pháp đã kí về Việt Nam; xóa bỏ mọi đặc lợi, đặc quyền của người Pháp trên đất nước Việt Nam; kiên quyết chống lại âm mưu đen tối của thực dân Pháp nhằm tước bủ chủ quyền của dân tộc Việt Nam
Đồng thời bản Tuyên ngồn còn ràng buộc các nước Đồng minh vào việc công nhận Việt Nam độc lập Lí do thứ nhất là các nước Đồng minh
đã thừa nhận “nguyên tắc dãn tộc binh đẳng” thì họ không thể không
ccng nhận chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam Lí do thứ hai là dân tộc Việt Nam đã chiến đấu chống thực dân Pháp và đứng về phía
Đống minh chống phát xít N hật cho nên “Dân tộc đó phải dược tự do!
Dân tộc đó phải được độc lập!”.
- Nhưng độc lập chủ quyền chỉ được giữ vững khi toàn dân tộc chung sức chung lòng, quyết tâm bảo vệ đất nước của mình, do đó bản Tuyên
ngôn trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyển
Ìutờìig tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dán tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Như vậy là, băng lí lẽ và sự thật, băng ý chí và quyết tâm, bản Tuyên
ngôn đã khẳng định quyền được hưởng dộc lập, khẳng định thực tế dộc
lạp và khẳng định lời thề giữ vững dộc lập của dân tộc Việt Nam Đấy
6
Trang 6cũng chính là góp phần vào việc bảo vệ “nguvên tác dân tộc bìnli đẳng”
của nhân loại tiến bộ
B à i 3 : Phân tích cơ sở pháp lí mở đẩu bản Tuyên ngôn Độc lập
Đ O ẠN VĂN
Trong lịch sử dân tộc VN, có những áng văn hùng tráng còn lại mãi
mãi với muôn đời; đó là bài thơ Nam quốc scm hà của Lí Thường Kiệt,
Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Tuyên ngôn Dộc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là một áng “thiên
cổ hùng vàn” như thế Bản Tuyên ngôn Độc lập được tuyên bố vào sáng
2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình, mở ra một ki nguyên mới cho dân tộc ta - kỉ nguyên dộc lập tự do, nhân dân lao động làm chủ đất nước, quyết định vận mệnh của mình
C ác ý chín h:
+ Nêu nguyên tác pháp lí của thế giới (Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ
1776, Pháp 1791)
+ Ý nghĩa của cách lập luận (khéo léo, kiên quyết, cái mới, hành
động cách mạng táo bạo, tài tình)
—> Khẳng định quyền được hưởng dộc lập của dân tộc Việt Nam.
- Trong tranh luận, để bác bỏ luận điểm của một đối thủ nào đó không có gi đích đáng hơn là dùng ngay lí lẽ của chính đối thủ ấy Người
ta gọi dây là kiểu lập luận “Lấy gậy ông đập lưng ông” Mở đầu bản
Tuyên ngôn của dân tộc Việt Nam, Bác đă nhắc tới hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thê kí XVIII, hai bản Tuyên ngôn đánh dấu buổi bình minh của Cách mạng Tư sản và nêu lẽn thành nguyên tắc pháp lí của những
quyền sống cơ bản của con người Đó là bản Tuyên ngôn Độc lập năm
1776 của nước Mĩ: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo
hóa cho họ những quvển không ai có thể xăm phạm dược, trong những quyền ẩy có quyền dược sống, quyền tự do và quyển mưu cầu hạnh phúc” Tiếp đó là bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” năm
1791 của Cách mạng Pháp: “Người ta sinh ra tự do và binh dẳng về quyển lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đảng về quyền lợi” Sau khi
đã dẫn xong lời của hai bản Tuyên ngôn, Bác đã nhấn mạnh: “Dó là
lẽ phải, không ai chối cãi được" Như vậy là trên cơ sở xác định những
nguyên tắc, những chuẩn mực mang tính chân lí muôn đời, Bác đă ngầm vạch rô sự sai trái trong mưư toan xâm lược của đế quốc Mĩ và thực dân Pháp đối với nước ta lúc ấy
- Về ý nghía, cách lập luận trên đây của Bác là khéo léo và kiên quyết: Khéo léo bởi vì rất trân trọng những tư tưởng tiến bộ của người
Mĩ, người Pháp, cũng là của nhân loại nói chung; kiên quyết vì nhắc nhở người Mĩ, người Pháp nếu họ nhất định xâm lược Việt Nam thì họ đã phán bội tổ tiên của mình, đã làm vấy bẩn lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại ở nước Mĩ, nước Pháp Đáng chú ý là cái mới của
Trang 7bản Tuyên ngôn này: Nếu Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp xuất phát từ quyền lực của tự nhiên (tạo hóa) để khảng định quyền sống của con người thì Bác lại xuất phát từ quyền lực, chủ quyền của mỗi dân tộc để khảng định
quyền lợi của dân tộc đó “Tất cả các dàn tộc trèn thế giới đều 3inh ra
bìnli đấng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và tự do”
Trong hoàn cảnh đương thời, sự phát triển về lập luận như thế là hành động cách mạng táo bạo, tài tình, bởi vì mở đầu Tuyên ngôn của dân tộc Việt Nam mà nhắc tới nguyên tắc Tuyên ngôn của hai nước lớn là Pháp
và Mĩ đồng thời nêu rõ quan điểm tư tưởng của người Việt Nam thì cũng
có nghĩa là đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau Tóm lại, việc khẳng dinh
chủ quyền của mỗi dân tộc chính là cơ sở pháp lí vững chắc cho Tuyèn
ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ( )
B à i 4: Phân tích cơ sờ thực tế bản Tuyên ngôn Độc lập của Hổ Chí Minh
Đ OẠN V Ă N
Các ý chính:
Cơ sở thực tế: Xác định thời điểm lịch sử; vạch rõ sự phi nghĩa của thực dán Pháp (chính trị: thâm độc; kinh tế: dã man; bản chất: đế tiện); nêu cao chính nghĩa của dân tộc Việt Nam (chiến đấu dũng cảm, bản chất nhăn đạo), S ự thật lịch sử: Kết quả của Cách mạng tháng Tám -
1945 là thực tế dộìc lập của nước Việt Nam khẳng định thực tế dộc lập.
( ) Ở thời điểm lịch sử khi bản Tuyèn ngôn ra đời, chủ quyền độc lập
của dân tộc Việt Nam đang bị đe dọa bởi nguy cơ xâm lược của đế quốc
Mĩ và thực dân Pháp Đẩy lùi nguy cơ ấy phải là một cuộc chiến đấu vũ trang của toàn dân tộc nhưng cuộc chiến đấu ấy cần có thời gian chuẩn
bị lực lượng, cần có sự đồng tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ Do đó chỉ xác lập cơ sở pháp lí chưa đủ, cần phải bằng thực tế hiển nhiên vạch rõ
sự phi nghĩa của thực dân và nêu cao sự chính nghĩa của dân tộc Việt Nam
- Trước hết qua những chứng cứ cụ thể, xác thực, bản Tuyèn ngôn
đã vạch trần những việc làm trái hẳn với nhân đạo và trái với chính nghĩa của thực dân Pháp Chúng đả lợi dụng danh nghĩa của người đi
“khai hóa”, “bảo hộ” và núp dưới lá cờ ‘T ự do - bỉnh đẳng - bác ái”
để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta v ề chính trị, thực dân Pháp dùng những thủ đoạn thâm độc để tiêu diệt ý chí chiến đấu của người Việt Nam: chúng không cho nhân dân ta được hưởng tự do dân chủ, chúng chia cắt ba miền bằng ba chế độ chính trị khác nhau nhằm phá
vỡ tinh thần đoàn kết thống n h ất của nhân dân ta, chúng thi hành chính sách ngu dân, dùng rượu cồn, thuốc phiện để đầu độc nhân dân ta về kinh tế, chúng dùng nhiều biện pháp dã man để tiêu diệt sức mạnh chiến đấu của người Việt Nam, chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu, chúng giữ độc quyền xuất cảng, nhập cảng, độc quyền in giấy bạc, chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí để có thể vơ vét tiền bạc, của cải Tất cả dẫn đến thảm cảnh 2 triệu đồng bào ta chết đói
8
Trang 8về bản chất, thực dân Pháp là những kẻ đê tiện, vô nhân đạo bởi vì
chúng đã không “bảo hộ” được nước ta mà trái lại chỉ trong 5 năm (1940
- 1945), chúng đã hai lẩn dâng nước ta cho Nhật, tồi tệ hơn chúng đã không hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh hợp tác chống Nhật mà chúng còn quay lại khủng bô Việt Minh, giết hại tù chính trị và những người yêu nước cúa nhân dân ta
- Bằng nghệ thuật so sánh tương phản đầy sức thuyết phục, bản Tuyên
ngôn nêu rồ lẽ phải và chính nghĩa hoàn toàn thuộc về dân tộc Việ 'lam
Nếu thực dân Pháp có tội phản bội Đồng minh và đã hai lần dâng Đông Dương cho Nhật, tiếp tay, tiếp sức đế bọn phát xít mở rộng chiến tranh thì dàn tộc Việt Nam, đại diện là Việt Minh đà dũng cảm chiến đấu chống phát xít Nhật và cuối cùng giành được chủ quyền độc lập cho dân tộc Nếu thực dân Pháp tỏ rõ bản chát dã man, vô nhân đạo thì dân tộc Việt Nam
đã thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo ngay với kẻ thù đà bị thất thế
“Sau cuộc biến dộng ngày 9-3, Việt Minh đã giúp cho người Pháp ra khỏi nlừi gicun Nhậỉ, bào vệ tính mạng và tài sản c/w họ”.
- Từ tấ t cả những diều đó, bản Tuyẽn ngôn di tới những sự thật
lịch sử quan trọng Trước hot, có thể thấy từ mùa thu năm 1940, nước
ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải của Pháp; khi Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân ta đã giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp Điều đó có ý nghĩa bác bò chủ quyển của Pháp với Việt Nam đồng thời cho thấy dân tộc ta đã khẳng định chủ quyền độc lập không chỉ bằng cơ sở pháp lí vững chắc mà còn bằng hành động
cụ thể trong Cách mạng tháng Tám Một sự thật hiển nhiên nữa là bọn thực dân, phát xít, phong kiến đều hết thời, độc lập đã là một thực
tế ở Việt Nam, dân tộc ta đã có một chính thể mới để bảo vệ nền độc
lập của mình: “Pháp chạy, Nhật hàng, viưi Bảo Đại thoái vị Dán ta đã
đánh đổ các xiềng xích gần 100 năm nay để gây dựng nèn nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ trong mấy mươi thế
kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa” ( )
V I Ệ T B Ắ C
TỐ HỮU
B à ỉ 5: Bình giảng đoạn thơ:
Từ câu "Nhú khi giặc đến giặc lủng" ơến câu: "Đèn pha bật sáng như ngày mal lên" trong bài Việt Bắc của Tố Hữu.
BÀI LÀ M
Trong gian khổ, khó khăn, ý chí quật cường và tinh thần đoàn kết của dân tộc ta càng được nhân lên gấp bội Cũng chính nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết dàn tộc, nhân dân ta đã bao lần đánh tan mọi thế lực hung tòn Cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp lần thứ hai của cả dân tộc đã khép lại trong quá khứ song lớp lớp thế hệ
Trang 9hôm nay và mai sau vẫn được nhắc nhở, được hiểu phần nào về quá khứ hào hùng của cha ông Theo dòng hồi tưởng của nhà thơ Tố Hữu
trong bài Việt Bắc, bạn đọc lại một lần chứng kiến cuộc kháng chiến
chống Pháp ấy của đất nước ta với những sức mạnh anh hùng của khối đại đoàn kết, sức mạnh của tình quân dân để tạo nên bao thắng lợi lẫy lừng Khối đoàn kết và những chiến công, sức mạnh của đội quân anh hùng đó được thể hiện rấ t đậm nét trong đoạn thơ:
Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng căy núi đá ta cùng đánh Tây
Nghìn đèm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
Những kỉ niệm thời kháng chiến cứ dần dần hiện lên trong tâm trí nhà thơ Trong nỗi nhớ đó, có nỗi nhớ về những ngày tháng cách mạng còn trong trứng nước, có nỗi nhớ về con người Việt Bắc ân tình, thuy chung và cũng có những nỗi nhớ về những trận đánh
Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cày núi đá ta cùng đánh Tây
Làm sao quên được cái cảnh càn quét, sẴn lùng của kẻ thù một bầy chó săn khát máu Đã bao lần chúng tắm nhân dân trong bể máu, trong tiếng kêu khóc đau thương dậy đất trời Quân giặc muốn tìm mọi cách đàn áp, khủng bố để nhấn chìm đất nước ta Không chỉ trong thơ Tố Hữu mà ở những bài thơ khác, bao tiếng thơ ai oán, căm hờn đà bật lên trước tội ác quân xâm lược:
Giặc kéo lèn ngùn ngụt lửa hung tàn Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ từng đàn Lưỡi dài iè sắc máu
(Bên kia sông Duôhg - Hoàng cám )
Song âm mưu nham hiểm và dã tâm của kẻ thù cũng không thể cản trở được lòng yêu quê hương đất nước của nhân dân ta, cụ thể là nhân dân Việt Bắc Trong giờ khắc quyết định số phận của mình, quân dân
đã vùng lên Không chỉ con người mà cả rừng núi cũng chung sức đánh Tây Thiên nhiên đất trời núi rừng Việt Bắc đã trở thành những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của quân dân ta Vậy núi, rừng góp
gì cho cuộc kháng chiến gian khổ ấy?
Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Những dây núi trùng điệp dàn trải như thành lũy kiên cố mà kẻ
thù không thể nào đột nhập Bên cạnh núi có rhững cánh rừng vừa bao vây quân thù, vừa chở che cho bộ đội Núi, rừng vốn là những vật vô tri, song giờ đây dưới con m ắt của nhà thơ, hay nói đúng hơn trước cuộc kháng chiến gian khổ của người dân Việt Bắc, núi rừng thiên nhiên cũng trở nên có ý chí, có tình người Chúng cùng quân dân tham gia chiến đấu Tư thế hiên ngang kiêu hùng của bao vách núi làm cho kẻ thù bất
10
Trang 10lực Cái dáng ngay thẳng cua tre nứa đầy dũng khí đâm thăng lên trời xanh như luôn khiêu khích quân giặc Với nghệ thuật nhân hóa, Tố Hữu
đã biến núi rừng, thiên nhiên thành những người con Việt Bắc anh dũng
kiên cường Hai từ “che” và “vây”, đối lập nhau, càng làm nổi bật vai
trò cua những cánh rừng Quả thật Việt Bắc là một vùng đất địa linh quý báu Đế từ đó:
Mẽnh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng
Khung cảnh chiến đấu vừa hùng dũng, vừa mơ mộng Đất trời bao
la chim trong sương mù dày đặc Sương như cũng che chở cho ẹuân ta
và cần bước quân thù Cả núi rừng Việt Bắc giờ đây đang cùng chung một nhịp đập trái tim Tất cả đang hướng về cuộc chiến đấu, hướng về
sứ mệnh bảo vệ mảnh đất, bảo vệ quê hương yêu dấu Cụm từ “cả chiến
khu một lòng” đã nhấn mạnh thêm tình đoàn kết quân dân, sự gắn bó
con người và thiên nhiên Mọi cánh vật, con người đan xen vào nhau, tuy nhiều mà thành một Tất cả bừng lên một ngọn lửa căm hờn, một ngọn lứa hừng hực quyết chiến Viết câu thơ này, Tô Hữu như tự hào, hân hoan hết sức trước nhiệt huyết của quân dân, núi rừng Có thể nói trong lòng bạn đọc cũng dậy lên một dùng khí chiến dấu, quyết thắng Phải chàng khi Tô quốc, khi quê hương cần đến, tấ t cả thiên nhiên và con người dều sẵn sàng? Họ sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh vì qué hương, Tổ quốc Trong hòa bình họ yêu thương, quý mến nhau Tinh đoìtn kết, quyết chí trong họ lại càng được nhân lên gấp bội khi họ cùng đấu tranh Sáu câu thơ đã phần nào thể hiện lòng yêu mến, tự hào và cảm phục của nhà thơ trước mảnh đất và con người Việt Bắc nói riêng cũng như nhân dân Việt Nam nói chung
Sức m(ạnh của khối đại đoàn kết cộng đồng cùng ý chí anh hùng
đã tạo nên cho nhân dân Việt Bắc làm nên những chiến công anh hùng Hàng loạt những địa danh vang lên Mỗi nơi đều gắn với một thắng lợi vinh quang Đây Phủ Thông, kia đèo Giàng rồi những trận thủy chiến trên sông Lô Cuộc kháng chiến đà nổ ra ở khắp mọi nơi Nhừng chiến tháng đó không chỉ trải dài theo chiều rộng không gian mà còn trải
cả trong chiều dài nỗi nhớ Nhà thơ đặt câu hỏi, nói đúng hơn là người
ở lại hỏi người ra đi: Ai về ai có nhớ không? Người ra đi làm sao mà
quên được những trận đánh, nhửng chiến công Bởi trong nhừng vinh quang đỏ còn có bao dòng máu của đồng đội, bạn bè Có chiến thắng nào mà không phải trả giá Hơn nữa trong cuộc kháng chiến này, cái giá mà ta phải trả lại quá đắt Càng dau thương, lòng ta lại càng nhớ, nhớ về những chiến công, cũng là tưởng nhớ về những người anh hùng
đã ngã xuống Để hôm nay, đồng đội, bạn bè và con cháu được sống
và được tự hào về thắng lợi, về sức mạnh anh hùng của dân tộc Bằng biện pbáp liệt kê, nhà thơ đã nhắc lại bao chiến công hào hùng của quàn và dân ta Thật tự hào và đáng trân trọng xiết bao
Từ những chiến công, từ nỗi nhớ của người ra di và người ở lại, những đêm hành quân thật hùng dũng đã hiện về:
Những đường Việt Bác của ta
Trang 11Đèm đềm rầm rập như là đất rung
Cả núi rừng, đất trời vang dậy trong bước hành quân: Thiên nhiên chuyên mình hay cũng chính là lúc nước ta chuyển sang giai đoạn mới của cuộc kháng chiến Từng đoàn quân nối nhau ra tiền tuyến Trong trái tim họ, những lời thề vang vọng, măi thúc giục họ đi lên, họ đã
quyết một đi không trở lại: “Ba năm mẹ già cũng đừng mong” (Thâm
Tâm)
Tất cả những lo toan bề bộn của cuộc sống hằng ngày, họ đều dẹp lại sau lưng Từng dòng chữ trong câu thơ như cũng đang rung lôn theo nhịp bước Những người chiến sĩ anh hùng cứ tiến lên phía trước, tiến đến một ngày mai tươi sáng Vê đẹp hùng dũng của đoàn quân được tái hiện rất cụ thể qua câu thơ so sánh:
Trong bài Tây Tiến, hình ảnh người lính hiện lên hào hùng trong
gian khổ ơ thơ Tố Hữu, những khó khăn gian khổ đã phần nào được gác lại, để chi tái hiện lên một đoàn quân dũng mạnh:
Quán đi điệp điệp trùng trùng Ảnh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Từng đoàn binh “điệp điệp, trùng trùng” tiến đi Trong họ là cả một
bầu trời đầy dũng khí Cảnh tượng hành quân dài dặc, đông đảo như những dãy núi kế tiếp trùng lên nhau Miêu tả cảnh hành quân, nhà
thơ sử dụng cụm từ “điệp điệp trùng trùng” Có lẽ chẳng còn từ ngữ
nào có thể diễn đạt được sức mạnh của đoàn binh hơn thê Trong đoàn quân đó có những con người không chỉ biết cầm súng chiến đấu mà họ còn là những thanh niên đầy lãng mạn Họ làm bạn với trăng, sao Trong đêm tối, ánh sao soi đường cho các chiến binh, chia sẻ với họ nhừng tâm tư tình cảm Cảnh thật đẹp và mơ mộng quá Không gian đang sục sôi bỗng như lặng đi trước một cảnh tượng đẹp Nhạc thơ cùng trầm
lắng lại khiến hồn thơ bay bổng diệu kì Hình ảnh “ánh sao đẩu súng”
khồng mới Chính Hữu đã từng viết:
Đẩu sủng trăng treo
(Đổng chí)
Song sự chuyển đổi nhịp nhàng giữa hai câu thơ:
Quăn đi điệp diệp trùng trùng Ảnh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
làm câu thơ và hình ảnh người lính bỗng đẹp thêm Ở họ tiềm tàng hai tâm hồn: Một tâm hộn của người chiến sĩ và một tâm hồn củu người thi sĩ Họ th ật đáng cảm phục biết bao Trong đêm tối hình ảnh đoàn
12
Trang 12binh hiện lén càng rõ nét Họ làm chủ đất trời, vũ trụ bao la Đó là những con người anh hùng của mảnh đất anh hùng.
Cùng với những chiến binh, bao đoàn dân công xung phong ra tiền tuyến:
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chăn nát đá, muôn tàn lửa bay
Ánh đuốc bập bùng sáng lên trong đêm tối Đoàn dân công ra đi cũng hùng dũng, hiên ngang không kém Họ muốn đem tiếng hát của mình, sức lực nhỏ bé của mình góp chung vào cuộc đại chiến của dân tộc Họ không còn yếu đuối nữa mà trờ nên anh dũng, hiên ngang Khắc
họa hình tượng những đoàn dân công, tác giả sử dụng hình ảnh “bước
chân nát đá” Sức mạnh của những con người đó th ật phi thường Qua
biện pháp tu từ thậm xưng sức mạnh của họ được nhân lên gấp bội Muôn tàn lửa bay sau lưng họ như những khó khăn đã bị dẹp lại phía sau Đoàn binh và những người dân công là hình ảnh tượng trưng cho con người Việt Bác anh hùng nói riêng và người dân Việt Nam nói chung Với sức mạnh phi thường, họ là niềm tin, là tương lai của đất
nước Và trong đoàn binh đó chắc chắn có phần của “người ra đi" hay
chính là của Tô Hữu, để cuối cùng sức mạnh anh hùng đã vượt qua:
Nghìn đèm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lèn
Khó khàn gian khổ như những bóng đêm triền miên đã khép lại Trước m ắt đoàn quân, ánh đèn pha bật sáng như ánh nắng của ngày mai Đoàn quân cứ bước đi trong niềm tin và hi vọng Họ hi vọng ở một ngày mai tươi sáng Toàn bộ tâm trí và dũng khí của họ đều vì một ngày mai đó Có thể nói câu thơ thể hiện niềm lạc quan cúa nhà thơ cũng như cả quân dân, núi rừng Việt Bắc, những câu thơ âm vang niềm tin và như một dự cảm về ngày chiến thắng
Chỉ với một đoạn thơ ngắn, Tố Hữu đã tái hiện được vẻ đẹp anh hùng của nhân dân, núi rừng Việt Bắc nói riêng và sức mạnh anh hùng của dân tộc Việt Nam nói chung Sức mạnh của khối đoàn kết cộng đồng chính là sức mạnh làm nên chiến thắng Thể thơ lục bát, nhip điệu trầm hùng, uyển chuyển càng làm bồi thơ thêm trang trọng, giàu chất hồi
tưởng Bài thơ cũng chính là “cái tôi trữ tình”, là tấm lòng thi sĩ hướng
về con người, đất trời Việt Bắc - cái nôi của cách mạng Việt Nam Qua bài thơ này, chúng ta có thể phần nào hiểu được Tố Hữu - một nhà thơ cùa lí tưởng cách mạng Cái tôi của Tố Hữu luôn hài hòa với cái
ta chung của dan tộc Vì thế, đoạn thơ nói riêng, cả bài Việt Bắc nói
chung mang âm hưởng sử thi khá đậm nét Và dây cũng chính là một phần tiêu biểu của một diện mạo thơ riêng - diện mạo thơ Tố Hữu vừa giàu chốt lí tưởng vừa ngọt ngào tha thiết và thấm đẫm chất dân tộc
PHẠM THÚY HỔNG
Trang 13B à i 6: Nối nhớ da diết và sâu nặng đối với quê hương cách mạng dã dệt nẽn bức tranh tứ bình về Việt Bắc đẹp như trong cảnh thẩn tỉẽn:
Bài thơ Việt Bắc đã dược đánh giá là đinh cao của thơ Tố Hữu và
cũng là một tác phẩm xuất sắc của vàn học Việt Nam thời kỉ kháng chiến chống Pháp Bài thơ có nhiều đoạn tuyệt đẹp, “không phải là một cây bút trong tay Tố Hữu nữa mà nhiều ngọn bút cùng nở một lúc: bút
tả tình, bút tả cảnh, bút tả người” Đoạn thơ đang được bình giảng này
là một đoạn thơ hay, thể hiện khá đặc sắc những nội dung dó
Mười dòng thơ này thực chất có thể xem như một bài thơ độc lập
để thể hiện nỗi nhớ của “ta” khi rời Việt Bắc “Ta về”, nhưng lòng ta
có bao vấn vương, thương nhớ cảnh sắc và con người Việt Bắc Bắt đầu
bằng câu hỏi tu từ: “Ta ưề mình có nhớ ta”, Tố Hữu đã gợi liên tưởng
đến câu ca dao rất quen thuộc:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Ve kêu rừng phách đổ vàng Rừng thu trăng rọi hòa bình
Bốn câu thơ đều là câu lục trong cặp lục bát nhưng dược chia ra
để chỉ thể hiện nỗi nhớ cảnh của “ta ” Thiên nhiên Việt Bắc ở mỗi mùa,
mỗi thời điểm lại mang vẻ đẹp riêng Mùa xuân, đó là “mơ nở trắng rừng”, còn mùa hạ, đó là tiếng ve ngân và sắc vàng rực rỡ của rừng phách Cảnh ở đây khi thì tươi xanh, m át dịu, lúc lại bừng lên, rực rỡ với “hoa chuối đỏ tươi” và “rừng phách đổ vàng” Bông hoa chuối đỏ tươi giữa rừng Việt Bắc đang ngày đông giá, người di đường bắt gặp bỗng thấy ấm lòng Câu thơ viết về mùa đông Việt Bắc mà thày toàn màu
“đỏ tươi” và ánh sáng - “nắng ánh dao gài” Thật ấm áp và sống động
14
Trang 14sắc màu và âm thanh của tiếng ve ngân mang đến cho cảnh Việt Bắc một vẻ quyến rũ riêng Đứng ở mùa thu hiện tại với “trăng rọi hòa bình”,
nhà thơ đã có những hoài niệm về một mùa hạ ở Việt Bắc với ấn tượng mạnh mẽ nhất khi “Ve kèu rừng phách đổ vàng” “Phách” là loại cây
riêng có ở núi rừng Việt Bắc, thường nở hoa tháng 6, tháng 7 Trước lúc nở hoa, rừng cây đồng loạt thay lá, chuyển từ màu xanh sang sắc vàng chỉ trong vài ngày Trong câu thơ, chữ “đổ” được sử dụng th ật đắc địa Nó nhằm diễn tả sự chuyến màu đồng loạt, mau lẹ, như ai đổ tràn cốc màu xuống cánh rừng
Nói đến “rừng phách đố vàng” tức là đã thể hiện nét đẹp đặc thù của thiên nhiên Việt Bắc Sự hòa điệu của sắc màu và âm thanh được nói đến một cách tự nhiên Không biết tiếng ve ngân đã làm cho “rừng phách đổ vàng” hay sắc vàng của rừng phách đã làm dậy lên những tiếng ve ngân?
Bút pháp tả cảnh của nhà thơ dã có nhiều đặc sắc, nhưng nỗi nhớ Viột Bắc còn khiến cho bút tả người, tả tình của nhà thơ độc đáo hơn:
Đeo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Nhớ cô em gái hái măng một mình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Đều là những câu thơ tái hiện lại con người Việt Bắc nhưng mỗi câu lại có một nét riêng Có khi đó là hình ảnh cụ thể, chi tiết “chuốt từng sợi giang”, có khi đó chỉ là dấu ấn khó phai mờ Gắn với cảnh Việt Bắc, đó là những con người trong lao động, nhẫn nại, cần cù “chuốt từng sợi giang” Hình ảnh của những con người ấy lồng lộng giữa khung cảnh núi rừng nhưng không bị mờ, nhòa đi mà ánh nắng đèo cao kia chỉ làm đẹp thêm cho họ Những bàn tay cần mẫn chuốt giang đan nón, “hái măng một mình” cùng với “tiếng hát ân tình” nơi núi rừng Việt Bắc chính là những gì còn đọng sâu trong tâm trí và tình cảm của “ta” để
khi “ta về”, “ta” sẽ nhớ mãi “những hoa cùng người” Cảnh ấy và người
ấy, nằm trong sự gắn bó, cứ nhớ cảnh lại nhớ người, nhớ người lại nhớ cảnh Cấu truc thơ lục bát được tác giả sử dụng trong dụng ý không
thể tách rời cảnh và người Cứ nhớ đến “Rừng xanh hoa chuối dò tươi”
lại hiện lên trong tâm khảm ánh dao gài thắt lưng của người đi rừng làm nương Những điệp từ “nhớ” trở đi trở lại nhiều lần càng làm nổi
rõ hơn tình cảm của “ta” khi rời Việt Bắc Người ở lại đã cất lên tiếng hát “ân tình thủy chung” nhưng cũng là nói hộ nỗi lòng của người đi với bao nhiêu ân tình “Ta” hẳn phải có một tình cảm yêu thương sâu sổc với cảnh và người Việt Bắc thì mới được có những dòng thơ mang nét đẹp và nhiều cảm xúc đến như thế
Sử dụng thể thơ lục bát, mỗi câu lục bát lại nhằm diễn tả một mùa, đoạn thơ có một cấu trúc cân đối, hài hòa, trôi chảy Chính điều này góp phồn tạo nên âm điệu ngọt ngào như khúc hát ru quen thuộc, như rót vào lòng bạn dọc Đoạn thơ mười câu thể hiện nỗi niềm nhớ cảnh, nhớ người Việt Bắc Qua nỗi nhớ ấy ta thấy tình cảm cách mạng và tành cảm dân
Trang 15tộc đã quyện hòa vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc dung dị hiền hòa gắn bó với những con người lao động đẹp đẽ, sáng trong Tình cảm giữa “ta” và
“mình” rồi đây sẽ xa cách nhưng mãi mãi vẫn là ân tình, thủy chung
ĐÀO HỒNG XIẾM (THPT Phon Đnh Phùng - Hò Nội)
B à i 7: Bình giảng úoạn đẩu trong bài thơ Việt Bắc của TO' Hữu:
Mình về mình có nhớ ta Mười lãm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chổn bước đi
Áo chàm dưa buổi phân li Cẩm tay nhau biết nói gì hôm nay
Mình di, có nhớ những ngày Mưa nguồn suôi lũ, những mây cùng mù Mình vê, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi dể rụng, mãng mai dể già Mình di, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, dậm dà lòng son Mình vể, có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Minh đi, mình có nhớ mình
Tẳn Trào, Hồng Thái, mái đình cây da?
G Ợ l ỷ l à m b à i
1 MỞ BÀI
Việt Bắc là tốc phẩm thơ trường thiên, dài 150 dòng, được Tố Hữu viết vào tháng 10 - 1954, khi Đảng và Nhà nước ta sắp rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, một trong những khúc trữ tình hay nhất, tha thiết
mà đằm thắm nhất, thể hiện ân tình sâu nặng, thủy chung của nhà thơ đối với căn cứ địa cách mạng của cả nước
Đoạn trích mở đầu chỉ vẻn vẹn có 20 dòng, chỉ băng non 1/7 bài thơ, nhưng đã thể hiện khá đầy đủ diện mạo, phẩm chất nghệ thuật
và tình cảm của tác phẩm
2 T H Â N BÀI
Việt Bắc là bài thơ kết tinh cho khuynh hướng học tập ca dao, học
tập tiếng nói quần chúng rất nổi bật của thơ Việt Bắc Tố Hữư đã làm
rất nhiều bài thơ theo tiếng nói quần chúng, theo lối trừ tình nhập vai
16
Trang 16như Phả dường, Dà ơi, Bầm ơi, tìà mẹ Việt Bác, Dời dời nhớ ông nhưng
không phải bài nào ngọt ngào, thiết tha và điêu luyện như bài thơ này
Tố Hữu học tập ca dao nhưng không hề lặp lại ca dao Cả bài thơ là một khúc hát đối dáp ân tình, bên hỏi, bên trả lời, giãi bày kỉ niệm, ước mơ,
cho đến cuối bài thì đã “Ngược xuôi đôi mặt một lời song song”, cùng gửi
trọn niềm tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng và tương lai đất nước.Bài thơ mở đáu bằng một loạt câu hỏi rất ngọt ngào:
Minh về mình có nhớ ta, Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mới đọc câu thơ lục bát này, ta ngỡ như nghe một câu ca dao tình
yêu, người tình nhắc nhở về kĩ niệm “mười lăm năm ấy” Nhưng đọc
tiếp câu sau:
Minh về mình có nhớ không, Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
thì lại không giống thơ tình yêu nữa, vì nó gợi nhớ đến một cái gì lớn
lao hơn tình yêu đôi lứa, đó là tinh yêu cội nguồn Sự láy đi láy lại “Mình
về mình có nhớ ta", “Mình vế mình có nhớ không” vang lên như một
niềm day dứt khôn nguôi của người ở lại Hai câu hỏi này được nêu ra
rất khéo Một câu hỏi về thời gian, một câu về không gian, gói gọn một
thời cách mạng, một vùng cách mạng
Tiếp theo là tiếng lòng cùa người ra đi Người đi đã nghe câu hỏi, lòng tràn đẩy bâng khuâng, bồn chồn và bối rối Những chữ dùng ở đây
đã gợi lên hết sức chính xác các tâm trạng lúc chia tay “Bâng khuâng
trong dạ, bôn chôn bước d i”, “Cầm tay nhau biết nói gi hôm nay” nhịp
thơ lục bát đều đặn, nhịp nhàng ở bốn dòng đầu, đến đây như cũng vì chút bối rối trong lòng mà thay đổi:
Áo chàm dưa! buổi phân li, Cầm tay nhau ỉ biết nói gi/ hôm nay.
Nhịp thơ diễn tổ thần tình một thoáng ngập ngừng của tình cảm Chút ngập ngừng này tạo ra một chút lặng cho chuỗi câu hỏi tiếp theo được vang lên dồn dập tha thiết hơn
Mười hai dòng lục bát tạo thành sáu câu hỏi như khơi sâu vào kỉ niệm Mỗi câu thơ đều gợi lại một cái gì rất tiêu biểu trong kỉ niệm
về Việt Bắc, mưa nguồn suối lũ, mảy mù, miếng cơm chấm muối, măng
mai, trám bùi, hắt hiu lau xám, mái đình Hổng Thái, cây đa Tân Trào
Nhưng nếu ch| những kỉ niệm như vậy thì rõ ràng không tạo thành cái
ma lực tha thiết, quyến luyến nó tạo thành chất thơ ở từng câu Cái làm thành chất thơ ở đây và ở cả bài thơ là nhạc điệu Chính nhạc điệu
đã làm cho các kỉ niệm trở thành ngân nga, trầm bổng, réo rắt, thấm sâu vào tâm tư Thật vậy, nhìn ki ta thấy những câu lục bát rất chuẩn
về thanh luật, ngắt nhịp đểu đặn, tự nó đã thành trầm bổng, ngân nga Các câu tám, câu nào cũng cản đối khá tương xứng nhau vể cấu trúc, chẳng nhừng nhấn mạnh cho ý, mà còn tạo thành vẻ d ẹ p n h ịp n h à n g :
Mưa nguồn suôi lũ / nhữìịg ì&ây^oủn&ơịiảr nAr •'•V'
TRUNG TÂM VIỆN Ị
Trang 17Miếng cơm chấm m uốn mối thù nặng vai.
Trám bùi để rụng/ măng mai để già.
Hắt hiu lau xá m / đậm đả lòng son.
Nhớ khi kháng N h ậ t/ thuở còn Việt Minh Tân Trào Hồng T há i/ mái đình cây đa
Ngay trong từng vế của câu tám cũng có tiểu đối: mưa nguồn / suối
lũ, những m ây/ cùng mù Câu tám cuối cùng có sự đổi chỗ thú vị: Mái
đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào được viết thành Tân Trào Hồng Thái,
mái đình cây đa Yếu tố đối phát huy tác dụng rất lớn Nếu chỉ nói riêng,
“miếng ccnn chấm muối”, “hắt hiu lau xám" hay “trảm bùi để rụng” chưa
gây được cảm xúc gì, nhưng đặt trong câu đối thì lại trở thành nhịp
nhàng, nổi bật và rất đẹp, Hắt hiu lau xám / đậm đà lòng son Những
vế đối này đã mang một tính chất vãn chương bác học cổ điển của
Truyện Kiều.
Các câu sáu luân phiên nhau, cứ một câu “Mình đi”, lại một câu
“Mình về”, mà cả “đ i” lẫn “về” đều chỉ hướng về xuôi cả Tuy vậy, dối
lập, luân phiên “đi”, “về” lại tạo thành dáng vẻ của điệu ru: đi - về,
về - đi, về - đi hết sức êm ái, nhịp nhàng và du dương.
Những kỉ niệm được gợi nhớ đều là kỉ niệm của cuộc sống chung: tình cán bộ với nhân dân chia ngọt sẻ bùi, chung gian lao, chung mối thù, đậm đà lòng son Tân Trào, Hồng Thái là những địa điểm xuất
phát, khởi đầu của cách mạng Những cách xưng hô “m ìn h ”, “ta” của ca dao rất riêng tư (Mình về ta chẳng cho về, Ta nắm vạt áo ta để câu
thơ ), ở đây, đã mang một ý nghĩa chung của những người đồng chí,
không hề có ý nghĩa nam nữ
Các câu hỏi ở đây cũng không đơn điệu Nói chung các câu đều hỏi người về xuôi Nhưng câu hỏi:
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng nun để già.
thì lại như không hỏi người về, mà hỏi vào sự trống vắng nay mai của lòng mình, hỏi rừng núi, hỏi người ở lại Hay như câu: “Mình đi, minh
có nhớ mình” có một chút khó hiểu, chữ “m ình” lặp lại ba lẩn “Minh
di mình có” là chỉ người về Còn “nhớ m ình” là mình nào? Người nói
tự xưng một cách nũng nịu, thân mật với người đi, hay là nhắc nhở cái
“mình” của người về: Anh đi anh còn nhớ chính bản thân anh không?
Dấu hiệu này cho thấy thơ Tố Hữu nặng nghĩa tình, giàu suy tưởng và những câu thế này vẫn đa nghĩa để cho người đọc tự lựa chọn
3 K Ế T BÀI
Hai mươi dòng đầu của bài Việt Bắc, tuy chỉ mới là phần đầu của
bài thơ 150 dòng, đã đưa ta vào th ế giới của hoài niệm và kỉ niệm, vào một thế giới êm ái, ngọt ngào du dương của tình nghĩa cách mạng Cấu
từ đối đáp tạo thế cho chuỗi câu hỏi dồn dập, láy đi láy lại, xoáy vào tâm tư, gây ấn tượng không phai mờ Ai đà một lần thưởng thửc bài thơ, âm điệu du dương ngọt ngào mãi còn trong tâm trí
18
Trang 18B ả i 8: Có ý kiên cho rằng bài thơ Việt Bắc là bản tình ca vể đất nước,
con người Việt Nam Hãy phân tích bài thơ để làm nối bật điểu đó.
HƯỚNG DẦN LÀM BÀI
1 Trong câu chuyện tâm sự với Mi-rây Găng-xen về văn học, Tô
Hữu có nói: “Tôi “phải lòng” đất nước và nhân dân mình và đã nói về
đất nước và nhản dân như nói với người đàn bà mình yêu” Cho nên
có thê nói thcí Tô Hữu là bản tình ca về đất nước và con người Việt
Nam Trong đó hài thơ Việt Bắc đã ngân lên những âm thanh trong trẻo
và trầm hùng uạt dào tình nghĩa
2 Mở đầu là tám câu diễn tả buổi tiễn đưa Mình với ta, ta với mình, những đại từ quen thuộc của ca dao gợi lên trong ta tình cảm thiết tha
mặn nòng, ơ đây còn phảng phất không khí Chinh phụ ngâm.
Nhủ rồi tay lại cầm tay
** Bước đi một bước giây giây lại dừng
Đoạn thơ dã tái tạo được không khí tiễn đưa vừa chân thành vừa cổ
kính Đặc biệt xúc động là hình ảnh “Áo c/iòm đưa buổi phân li” Mười
lăm nàm trước trong đói nghèo Việt Bắc đã nhận người cán bô cách mạng
về nuôi Mười lăm năm sau cuộc sống có thay đôi được bao nhiêu đâu, những người dân Việt Bắc vẫn chiếc áo chàm ấy tiễn người cán bộ về xuôi Biết bao thương nhớ, biết bao tình nghĩa trong buổi tiễn đưa ấy.2.1 Tám mươi hai câu tiếp theo thấm đẫm nồi nhớ tràn đầy Đoạn
thơ có nhiều càu hỏi “Mình về mình có nhớ không”, “Mình về tninh có
nhớ ta” v.v nhưng thực chất là một màn độc thoại nội tâm về những
kỉ niệm đã qua Thông qua nỗi nhớ ấy mà cuộc kháng chiến và con người trong kháng chiến chín nàm chống Pháp hiện lên như một bức tranh
hùng tráng Bằng lối đối à câu bát, Tố Hữu gợi lên những con người Việt Bắc có trái tim như ngọc sủng ngời.
Hắt hiu lau xám đậm dà lòng son
Nhà thơ nhìn được đúng bản chất con người Những người nghèo khổ nhất là nhừng con người giàu lòng yèu thương, đậm đà lòng chung thủy nhất Tác giả phát hiện được vẻ đẹp bên trong của con người Việt
Bắc sống giữa núi rừng hoang dại hiu hắt
Theo sự tuôn chảy của dòng thơ trữ tình những bức tranh đẹp đẽ hiện
lên Vè dẹp của thiên nhiên muôn hình nghìn vẻ “Trăng lèn dầu núi” có
lẽ chỉ có nhũng người từng sống ở núi rừng Việt Bắc mới đồng cảm được với tác giả Núi rừng đang chìm trong bóng tối bỗng dưng trăng hiện lên đột ngột tỏa ánh sáng trong ngần, cảnh vật trở nên lung linh huyền ảo Nắng chiều đọng lại ở lưng nương, thời gian như ngừng trôi, dìíng lại ở sự tĩnh lặng êm ả vô cùng Tố Hùu vẽ bức tranh bốn mùa với tín hiệu của màu hoa Hoa mơ nở trắng, hoa chuối đỏ tươi báo hiệu mùa xuân Trong tiếng nhạc ve, lá phách trải nệm vàng trong núi rừng Ai bảo Việt Bắc là thế giới bí hiểm Việt Bắc tươi tắn nở nụ cười chào đón con người Giữa cảnh ấy con người miền núi lung linh vẻ đẹp đa dạng Cái đẹp của sự thương
Trang 19yèu Ba hình ảnh: “củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa”, “chăn sui đắp cùng” đi
liền trong một câu lục bát cho ta thấy ngưòi dân miền núi tuy cực khổ nhưng
có một tấm lòng nhân hậu bao la, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo Cái đẹp
của người lao động “người mẹ nắng cháy lưng” là hình ảnh điển hình Tấm
lưng trần ấy là cả một cuộc đời lam lũ, là thời gian dài của đời người, là cái khắc nghiệt của không gian Tuổi thơ bao nhiêu em bé đã trôi trên lưng
mẹ Hình ảnh chắt lọc mà giàu ý nghĩa khái quát biết bao Một hình ánh khác mang tính chất tiêu biểu cho người dân Việt Bắc:
Rừng xanh hoa chuối dỏ tươi Đèo cao nấng ánh dao gài thắt lưng
Ánh sáng của dao cài th ắ t lưng, bước đi của người đàn ông miền núi trèo lên núi giữa màu hoa chuối đỏ tươi gợi lên hình ảnh trang dũng
sĩ trong thần thoại
Bên cạnh vẻ đẹp của người dân là vẻ đẹp của người lính anh hùng
bước đi làm rung động cả núi rừng Tứ thơ “Ánh sao đầu súng bạn cùng
mũ nan” đã miêu tả được phẩm chất đẹp đẽ của anh bộ đội Cụ Hồ
Các anh di trong đêm nhưng đó không phải là những bóng người lậng
lẽ im lìm “Anh sao" lấp lánh “dầu súng” hay chính là ánh sáng của tâm
hồn các anh? Anh sao ấy gợi lên bóng dáng hùng vĩ của an h bộ đội thạm đến trời cao Những vật vô tri vô giác bỗng sống dậy cả lèn Mũ nan, mũi súng cùng hòa hợp với nhau như sự nhất trí trong con người anh Tiếp đó hiện lên hình ảnh người dân công:
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Ngày xưa người nông dân trông cho chân cứng đá mềm Nhưng ngày nay người nông dân đă thực sự đạp tan đá sắc, tiến lên trong ánh hào quang của cách mạng
2.2 Bốn mươi câu thơ tiếp theo là những lời dặn dò chung thuy Thơ
Tố Hũu là thơ dự báo bước đi của đường đời Trong hoàn cảnh rời miền núi
về xuôi, “xa mặt” thường “cách lòng” cho nèn nhà thơ nhắc nhở khuyên nhủ:
Phô đông còn nhớ bản làng Sáng đèn C Ò II nhớ mảnh trăng giữa rừng
Thòng thường có phú quý vinh hoa người ta hay quên thuở hàn vi Câu tho Tố Hữu lặp lại lời dặn của cha ông “Uống nước nhớ nguồn”, “Án quả
nhớ hẻ trồng cây” Những lời dặn đó cho đến nay vẫn còn tươi nguyên giá
trị, phải tìm mọi cách nâng cao đời sống cho người dân miền núi Đạc trưng cho thơ Tố Hữu là tính trừ tình chính trị được thể hiện đậm nót ờ đây.Hình ảnh Bác Hồ là hình ảnh trung tâm của mười sáu câu thơ sau cùng Đúng như Xuân Diệu đã nhận xét đây là một bức d.anh họa Khác
với bài Sáng tháng năm Tố Hữu miêu tả Bác Hồ trong một buổi gặp
gỡ và nói lên suy ngẫm của mình Đoạn thơ này là bức tranh di dộng
bằng lời Nét vẽ thanh thoát, chấm phá, vờn nhẹ của phương Đông
Nguời và cảnh hài hòa với nhau trong một gam màu tươi sáng Bức chán dung của Bác được đặc ta với những nét riêng không th ể trộn lẫn với
ai được “Mắt sáng ngời” - cặp mắt trong đời thực của Bác nhưng mang
20
Trang 20tính ẩn dụ, cập mắt nhìn xa trông rộng Áo nâu, túi vải ấy là vẻ đẹp
giản dị của người nông dân Việt Nam Bác quả là người lãnh tụ kiểu mớ) gắn bó với quần chúng Hình ảnh của Người vừa đôn hậu lại vừa hào hùng, hình ảnh vừa của người dân lại vừa của người chiến sĩ Bức
họa vừa như ngưng đọng nhưng lại vừa bay bổng Hai từ ung dung gợi
lên cách sống b*nh tĩnh không một chút vội vàng của một nhà hiền triết phương Đông Trong đoạn thơ này không những có họa mà còn có nhạc Người đi trong tiếng nhạc tâu trong trẻo, vui tươi của núi rừng Người
đi khuất rồi mà con mắt của núi rừng còn dõi theo Người
Người d i / rừng núi/ trông theo/ bóng Người
Nhịp 2/2/2/2 thanh thản, đều đặn của câu thơ gợi lên được sự nhớ nhung của núi rừng với Bác Hồ thân yêu Thơ, họa, nhạc hài hòa đến mức tuyệt vời, đến nỗi khó mà tách riêng từng yếu tố Điều quan trọng nữa, mạch thơ trữ tình đã gán các yếu tố với nhau tạo nên sự lắng đọng
và ngân vang Đây là lời nói ân tình của người dân Việt Bắc Biết bao
tình cảm khác gói gọn trong chữ thưa Vừa kính trọng vừa thương mến
Nỗi nhớ không nguôi về hình ảnh Bác đã khắc sâu trong tâm khảm người dân Việt Bắc Nỗi nhớ cháy mãi như nước trong nguồn chảy ra Tình, nhac, họa, thơ veri tài thơ của Tô Hĩtu đã làm nên bức hình của Bác trong chín năm kháng chiến chống Pháp thần thánh ở chiến khu Việt Bắc
3 Việt Bác là bài thơ hay của Tô Hữu Hay ở sự hài hòa giữa cổ
điển và hiện đại, hài hòa giữa cảnh và người, tình và lí, hài hòa giữa các loại hình nghệ thuật thi ca, âm nhạc, hội họa
- Việt Bác của Tô Hữu là một trong những bài thơ hay nhất của
thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp Bài thơ được sáng tác vào tháng
10 - 1954 Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội Nhân sự
kiện thời sự có tính lịch *sử ấy, Tô Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc.
- Việt Bác chính là “tiếng hát ăn tình” Tiếng h át ân tình son sắt
ấy biểu hiện ngay ở đoạn thơ đầu của bài thơ, tạo ầm hưởng ngọt ngào, tha thiết của toàn bài
Trang 211 Tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến của kẻ ở người đi, người miền ngược và người đi kháng chiến.
1 1 Bao trùm lên đoạn thơ (và cả bài thơ) là nỗi nhớ da diết, bồn chồn của hai người đã từng gắn bó sâu nặng trong những tháng ngày
kháng chiên “thiết tha mặn nồng” Điện từ “nhở” (4 lần) dồn dập thể
hiện nồng độ tăng dần của nỗi nhớ
1.2 Nỗi nhớ da diết ấy được biểu hiện băng một nghệ thuật đậm
đà bản sắc dân tộc
- Cách xưng hô “m ình”, “ta” gợi âm hưởng ngọt ngào của ca dao.
- Sử dụng nhiều từ láy diễn tả tâm trạng (thiết tha, da diết, bâng khuâng, bồn chồn)
- Sử dụng kết cấu theo lối đối đáp giao duyên nam nữ trong ca dao, dân ca để thể hiện nội dung mới Bốn câu đầu là lời của người ở lại
“Mình về mình có nhớ ta”, lời hỏi cũng là một cách để bày tỏ nỗi lòng,
khởi nguồn cho lời đồng vọng “Tiếng ai tim thiết bèn cồn” Bắt đầu cho tiếng đồng vọng ấy là nỗi nhớ - nỗi nhớ đậm sâu “băng khuâng trong
dạ”, cồn cào “bồn chồn bước đi”.
2 Tình cảm sắt son gắn bó, “tiếng hát ân tình thủy chung”.
2.1 Ta, mình gắn bó trong một mối ân tình sâu nặng “Nhìn cây nhớ
núi, nhìn sông nhớ nguồn”.
2JL Chất giọng ân tình là một nét đặc sắc trong giọng điệu thơ Tố Hũu,
là nét riêng của một hồn thơ đặc biệt nhay cảm với nghĩa tình cách mạng.Đoạn thơ (và cả bài thơ) thể hiện tình cảm thủy chung của nhân dân Việt Bắc với cách mạng đồng thời cũng thể hiện tình cảm của người
kháng chiến với núi rừng và con người Việt Bắc - những “áo chàm” bình
dị, thân thương
Đoạn thơ tiêu biểu cho giọng tâm tình ngọt ngáo tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc là những nét đặc sắc của phong cách thơ Tố Hữu
B ài 10: Tinh cảm đất nước quẽ hương thể hiện trong bài thơ Việt Bắc cùa Tô' Hữu (Làm sáng tỏ ỷ kiến: ‘Bài thơ Việt Bắc của Tô' Hữu là khúc tình ca
và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến” )
Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một thành
tựu quan trọng của thơ ca kháng chiến chống Pháp Bài thơ được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10 năm 1954 nhân một sự kiện lịch sử: Đảng và Chính
22
Trang 22phủ rời chiến khu về thú đô Hà Nội Từ điểm xuất phát ấy bài thơ thể hiện nghía tình gán bó thăm thiết gi ưa người ra di với người ở lại, giữa miền xuôi với miền ngược, giữa người cán bộ với Việt Bắc què hương của cách mạng, với đất nước và nhân dân, với Đảng và Bác Hồ, với cuộc kháng chiến đã thành kỉ niệm sâu năng trong tàm hồn Như thế nghla là trong niềm vui thắng lợi và đón nhận cuộc sống thanh bình nhà thơ vẫn không quên tình nghĩa gắn bó trong nhcmg năm tháng gian khổ đã qua và coi đây là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cho những ngày hiện tại và tương
lai Có thổ nói, bài thơ Việt Bắc là khúc “tình ca” và cũng là “khúc hừng
ca” mà cội nguồn sâu xa của nó là tình cảm quê hương đất nước, là truyền
thống ân nghĩa, đạo lí thủy chung của dân tộc
2 TH ÂN BÀ I
1 Việt Bắc với vẻ đẹp - Nét độc dáo của cảnh Việt Bắccủa cảnh và người - Sự hòa quyện giữa cảnh và ngườiTrước hết với kiểu kết cấu dối đáp rất đậm đà tình nghĩa của ca
dao, bài thơ Việt Bắc là tình yêu với thiên nhiên đất nước được biểu
hiện cụ thổ qua sự gắn bó với núi rừng Việt Bắc Trong nỗi nhớ của người cán bộ sắp về xuôi, cảnh Việt Bắc hiện ra những vẻ đẹp vừa hiện thực vừa thơ mộng, thi vị gợi rõ nét độc đáo của Việt Bắc so với nhiều
miền quê khác của đất nước Việt Bắc đó là hình ảnh “Trăng lẽn dầu
núi, nắng chiều lưng nương”, hình ảnh những bản làng mờ trong sương
sớm, nhừng bếp lửa hồng trong đêm khuya, là những “rừng nứa, bờ tre,
ngòi Thưa, sổng Đảy” là tiếng mõ trâu về trong rừng chiều, tiếng “Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
Nhưng có lẽ nổi bật nhất trong nỗi nhớ của Tố Hữu về Việt Bắc
là sự hòa quyện với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình:
Ta về mình có nhớ ta [ ] Nhớ ai tiếng hát ăn tình thủy chung
Qua đó có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện ra với nhừng vẻ đẹp phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời tiết từng mùa Gắn với từng cảnh tượng ấy là hình ảnh những con người giản dị, người đi làm nương rẫy, người dan nón, người hái măng bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ
bé cùa mình, họ đã góp phần tạo ra sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến Chính tình nghĩa gắn bó và san sẻ cùng nhau chịu đựng mọi gian khổ thiếu thốn, cùng nhau gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn giữa nhân dân với bộ đội và cán bộ tấ t cả càng làm cho hình ảnh Việt Bắc sáng ngời trong hồi tưởng của nhà thơ Việt Bắc - đó là hình ảnh
những mái nhà “Hắt hiu lau xám, dậm dà lòng son”, hình ảnh người
mẹ “Địu con lên rẫy, bẻ từng báp ngô”, là những tháng ngày đổng cam
Trang 23khút ca ngọt ngào, đằm thắm của tình đồng chí với đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời.
2 Việt Bắc hào hùng - Khung cảnh sử thi
trong chiến đấu - Vai trò trong cách mạng và kháng chiến+ Theo dòng hồi tưởng của Tố Hữu hiện lên khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với những hình ảnh hào hùng, những hoạt động sôi nổi, những
âm thanh náo nức, phấn chấn, ơ đây bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca mang dáng vẻ một sử thi hiện đại bởi vì chỉ cần miêu tả khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc Tố Hữu đã nêu bật khí thế chiến đấu
vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc:
Những đường Việt Bắc của ta Đèm đèm rầm rập như là đất rung Quân đi điêp điệp trùng trùng Ảnh sao đầu súng bạn cùng mủ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tản lửa bay
Dân tộc ấy đã vượt qua bao nhiêu gian khổ, hi sinh để lập nên những
kì tích, những chiến công: Phủ Thông, Đèo Giàng, sông Lô, Phố Ràng, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biện.' Nhưng Tố Hữu không chỉ miêu tả diễn biến của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức
mạnh đã dẫn tới chiến thắng Đó là sức mạnh của lòng càm thù: “Miếng
cơm chấm muối, mối thù nặng vai” Sức mạnh của tình nghĩa thủy chung:
“Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi” nhất là sức mạnh của khối đoàn
kết toàn dân, của sự hòa quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên
- tấ t cả tạo thành hình ảnh “Đất nước đứng lèn”-.
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
* Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ dội, rừng vây quân thù Mẽnh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng
Đặc biệt bằng những lối thơ trang trọng mà thiết tha Tố Hữư đã
đi sâu nhấn mạnh, khẳng định vai trò của Việt Bắc như là quê hương của cách mạng căn cứ vững chắc của cuộc kháng chiến Trong nhĩíng năm đen tòi trước cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa
“mưa nguồn suối lũ, những mây cùng m ù” cho đến khi xây dựng chiến
khu kiên cường - nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh nhiều địa danh sẽ di vào lịch sử dân tộc:
Mình về có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Minh đi m ình củ nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đinh, cây đa
Trong những năm tháng kháng ehiêh gian lao Việt Bắc là nơi có
“Cụ Hồ sáng soi” có “Trung ương Chính phủ luận bàn việc công” Để
khẳng định niềm tin yêu của cả nước đối với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng
24
Trang 24những câu tho' mang sắc thái ca dao dạt dào những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dần tộc.
ơ đâu đau đớn gióng nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền Mười lăm năm ấy, ai quên
Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hòa
3 Việt Bắc trong I— Vẽ ra cảnh tươi đẹp
cảm hứng về ngày mai I Dự đoán về sự lãng quên quá khứ
tốt đẹp+ Từ tình cảm yêu mến, gắn bó với cảnh và người Việt Bắc, từ niềm tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Tố Hữu vẽ ra viễn cảnh tươi đẹp của Việt Bắc ngày mai trong khung cảnh xây dựng cuộc sống mới hòa bình phồn vinh
Ngày mai rộn rã sơn khẽ Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng Phố phường như nấm như măng giữa trời
Những hình ảnh ấy là mơ ước, khát vọng và cũng là tình nghĩa mà những người cán bộ kháng chiến muốn đền đáp nơi từng là cội nguồn của cách mạng, nơi đã cưu mang, che chở họ trong những tháng ngày đầy gian khổ, hi sinh
+ Đặc biệt ở những dòng cuối cùng của bài thơ người đọc càng hiểu thêm sự sắc sảo, nhạy bén của hồn thơ Tố Hữu khi hướng về ngày mai, nhà thơ không quên một nét đẹp trong đạo lí truyền thống của dân tộc,
đó là tình nghĩa thủy chung, có mới mà không nới cũ, luôn nghĩ đến nhau và vì nhau giữa miền xuôi với miền ngược, giữa người cán bộ với nhân dân của mình
Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?
Có thể coi đây là lời cảnh báo về sự lảng quên quá khứ tốt đẹp khi có
sự thay đổi môi tníừng sống, khi người ta có thể quên đi tất cả tành nghĩa năm xưa để chỉ nghĩ đến mình và vì mình Cho đến hôm nay những lời thơ
ấy của Tố Hữu vẫn giữ nguyên ý nglũa thời sự chứ khòng hề cũ xua
3 K Ế T LU Ậ N
Nhìn chung Việt Bác là một bài thơ trữ tình thiết thực bởi vì tình
cảm ở đày là tình cảm với căn cứ cách mạng, với truyền thống cách mạng, với Đất Nước và nhân dân Nhưng quan trọng hơn cả chuyện chính trị cái đã làm cho người ta cảm động là bài thơ đã thể hiện truyền thống ân nghĩa của dân tộc Việt Nam thể hiện khát vọng về một cuộc sống chamhòa tình yêu thương, hạnh phúc, thanh bình, vững bền mãi mãi trên đất nước, quê hương
Trang 25Bài 1 1: Nêu những đặc điểm nểi bật trong phong cách thơ Tố Hữu qua: Từ
áy (1937 - 1946), Việt Bắc (1946 - 1954), Gió lộng (1954 - 1964), Ra trận (1964 - 1971), Máu và hoa (1971 - 1975) Nội dung (trữ tình chính trị) Nghệ thuật (tính dân ỉộc)
BÀI LÀM
1 MỞ BÀI
Tố Hữu là lá cờ đầu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam Những
chặng đường thơ của Tố Hữu (Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu
và hoa) là sự phản ảnh tâm tinh chân thật những chặng diíờng cách mạng đầy gian khổ, hi sinh cùng những thắng lợi vinh quang của dân tộc Việt Nam, đồng thời đấy củng là quá trình ghi nhận sự vận động, trưởng thành trong quan điểm tư tưởng, trong trình độ nghệ thuật của chính nhà thơ Trền những chặng đường ấy đặc điểm nổi bật của phong cách thơ Tó Hữu là mang tính chất trữ tình chính trị vể nội dung và mang tính chất dân tộc về nghệ thuật biểu hiện.
2 THÂN BÀI
Về nội dung mang phong cách trữ tình chính trị rất sâu sắc
I— Biểu hiện tâm hồn chủ quan: cái ta chung
tối cái “ta” chung đó là lẽ sống lớn, những tình cảm lớn, niềm vui lớn
của con người cách mạng Ngay từ đầu cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu
đã là cái “tôi” đại diện cho nhiều thanh niên giác ngộ cách mạng, về
sau, cái “¿ôi” ấy đại diện cho Đảng, cho cộng đồng dân tộc ơ đây, sự
vận động thể hiện qua một quá trình Nếu trong tập thơ Từ ấy Tố Hữu
khẳng định lẽ sống của mỗi con người là phải dãn thân vào con đường
đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc thì tập thơ Việt Bắc trở
đi nhà thơ khẳng định vận mệnh của một dân tộc phải gắn liền với vận mệnh chung của cả loài người, của cả cuộc sống
Vì độc lập, tự do, vi núi sông hùng vĩ
Vi thiêng liêng giá trị con ngilời
Vì muôn đời hoa lá xanh tươi
Ta quyết thắng - giành mùa xuân dẹp nhất
Trang 26vô sản (Ern bé Triều Tiên ) Sôi nổi nhất hân hoan nhất trong thơ Tố Hữu là niềm vui chiến thắng (Huế thảng Tám, Hoan hô chiến sĩ Điện
Biên Phủ, Toàn thắng về ta).
- Cảnh xây dựng
Đời sốn g - Cảnh chiến đấu
k h á c h quan - sử th i - Con người chung, phi thường tiêu
biếu cho dân tộcTrong việc miêu tả đời sống khách quan thơ Tố HũU mang âm hưởng
sử thi Nhà thơ đã tập trung miêu tả những khung cảnh xâv dựng Đất Nước
thật vĩ đại, hào hùng (Bài ca mùa xuân 1961) Nhũng khung cảnh chiến đấu thật ác liệt, dữ dội để bảo vệ Tổ quốc, độc lập tự do (Chào xuân 1967, Việt
Nam - Máu và hoa) những cố gắng phi thường của con người để vươn lên
ngang tầm vóc của dân tộc và thời đại (Lèn Tây Bác, Tiếng hát sang xuân)
Tố Hũư không quan tâm miêu tả số phận cá nhân, nếu có thi số phận cá nhân được miêu tả với ý nghĩa tiêu biểu cho vận mệnh cho tính cách của
cả cộng đồng dim tộc: đó là anh Nguyễn Văn Trỗi trong bài thơ “Hãy nhớ
lẩy lời tôi” hay chị Trần Thị Lí trong bài thơ ‘Người con gái Viêt Nam”
Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại Còn một giọt máu tươi, còn độp mãi Không phải cho em, cho lẽ phải trẽn đời Cho quẽ hương em, cho Tổ quốc loài ngiứn
Đáng chú ý là những vấn đề lớn lao của đời sống khách quan, những
cảm xúc, suy nghĩ của tâm hồn chủ quan hướng tới cái “ta” chung đều
được Tố Hữu thể hiện qua những lời thơ mang tính chất tâm tình Nhà thơ đặc biệt rung động trước tình nghĩa cách mạng, trước đời sống cách mạng cho nên thường hướng về đồng bào, đồng chí mà tâm sự, trò chuyện, nhắn nhủ:
Ta về, mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồrig
(Việt Bác)
Nrtưng không chỉ có thế, tình thương mến đặc biệt trong thơ Tố Hữu
còn là sự cảm hóa với người với cảnh một thứ nhạc tâm tình thấm lấy
từng câu thơ (Xuân Diệu) Tính chất tâm tình đó có nguồn gốc sâu xa
từ chất Huế của hồn thơ Tố Hữu, mặt khác còn từ quan niệm của Tố
Hữu về mối giao cảm giữa nhà thơ và người đọc thơ: “Thơ là chuyện
đồng điệu Nó là tiếng nói của một người đối với những người nào đó
có sự cảm thông chung dựa trẽn cơ sở đồng ý, đồng tinh” (Trả lời phỏng
vấn nhà thơ)
— Về nghệ th u ật b iểu h iện thơ I Thể thơ lục bát
Tố Hữu m ang phong cách ca dao cổ điển dàn tộc rất đậm đà I— Ngôn ngữ
+ Về th ể thơ Tố Hữu có tiếp thu tinh hoa của phong trào thơ mới,
của thơ ca th ế giới của cổ điển và hiện đại nhưng thơ ông đặc biệt thành
Trang 27công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc Có những
bài thơ của Tố Hữu được viết theo kiếu lục bát, ca dao (Khi con tu hú,
Bầm cà, Việt Bắc), có bài được viết theo kiểu lục bát cổ điển (Kinh gửi
cụ Nguyễn Du), nhưng tất cả đều dạt dào những âm hưởng nghĩa tình
của hồn thơ dân tộc, dễ dàng đi vào đời sống những con người của dân
tộc Những bài thơ dược viết theo thể thất ngôn trường thiên như “Què
mẹ", “Mẹ Tơrn", “Bác ơi”, “Theo chăn Bác", vừa có khả năng miêu tả
hiện thực rộng lớn của đời sống khách quan, vừa có khả nàng biểu hiện những sắc thái đa dạng phong phú phức tạp của tâm hồn con người
— từ ngữ - quen thuộc + Về ngôn ngữ — cách diễn đạt - dễ hiểu, giàu nhạc điệu
(từ láy, thanh điệu, vần thơ)
Về ngôn ngũ' Tố Hữu không chú ý tạo những từ ngữ mới, những cách nói khó hiểu mà nhà thơ thường sử dụng những từ ngữ quen thuộc, những cách diễn đạt dễ hiểu với tấ t cả mọi người - Đó là những từ
rất cụ thể được dùng trong đời sống hàng ngày “Mát rượi lòng ta, ngân
nga tiếng hát", là cách nói giàu hình ảnh: “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” Đặc biệt thơ Tố Hữu rất giàu nhạc diệu do nhà thơ
sử dụng thành công những từ láy, thanh điệu, vần thơ
Thông reo, bờ suối, rì rào Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?
(Tiếng hỏt đi đày)
Ern cá Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
(Em ƠI Ba Lan)
3 K Ế T LU Ậ N
Thơ Tố Hữu là băng chứng sinh động về sự kết hợp thành công giữa hai yếu tố chính trị và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, trong sáng tạo thơ ca Qua phong cách thơ Tố Hữu có thể thấy một thành tựu xuất sắc của thơ ca cách mạng một nền thơ luôn coi vận mệnh của dân tộc
là lẽ sống lớn nhất
T Â Y T I Ế N
B à i 12: 1 Hoần cảnh ra đời của bài thơ.
2 Nẽu những ý chính về nội dung và nghệ thuật của bài Tẳy Tiến?
HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI
1 Bài thơ được viết rất nhanh và được hoan nghênh nhiệt liệt tại một cuộc hội nghị toàn quốc ở làng Phù Lưu Chanh năm 1948 Quang Dũng có kể lại răng, hồi ấy tấm lòng, cảm xúc của mình ra sao thì viết
28
Trang 28vậy: cũng chẳng có chút lí luận gì về thơ cả Dẫu sao nó có cái hào khí lãng mạn của một thời, gắn với một giai đoạn lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc.
Bài thơ là một nỗi nhớ (bài thơ lúc đầu có tên là Nhớ Tây Tiến) Tây
Tiến là tên một đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn dọc biên giới Thượng Lào, có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Quang Düng từng là chiến sl trong đơn vị đó Lính của đại đội Tây Tiến chù yếu là trí thức ra di từ Hà Nội
Sau này chia tay với đon vị, Quang Dũng đã viết bài thơ Tây Tiến.
2 N êu n h ữ n g ý chính về nội dung và nghệ th u ậ t của bài
T â y T iế n
Bài tho là một nỗi nhớ dài Trước hết là nhớ hình ảnh của đoàn quán thời ây, những nẻo đường họ đã đi qua, đường số 6 rồi Hòa Bình, Suối Rút và cứ thế tiếp tục tiến về phía Tây Những câu thơ giàu chất tạo hình, như vẽ lại được cả chặng đường hành quân đầy gian khổ:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Và cái chết luôn luôn rình rập, đe dọa, bởi mưa ngàn, suối lũ, bởi thú dữ:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm dèm Mường Hịch cọp trèu người
Nhiều câu thơ mà những năm trước đây bị coi là “buồn rớt tiểu tư
sản”, là sự phản ánh sai lệch hình ảnh người chiến sĩ mới, thực ra là
những câu thơ nhìn thẳng vào cái khắc nghiệt của thực tế chiến đấu lúc bấy giờ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Ây là hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn của người lính: thiếu ăn, thiếu thuốc, những cơn sốt rét rừng ác tính hành hạ Bao đồng đội của ông đã ngă xuống và mỗi lần tiễn đưa người về với đất, theo lệ, những tiếng cồng của trạm quân y lại nổi lên nghe nẫu ruột Khi nằm xuống, nhiều người
không có đến manh chiếu để liệm xác (“Áo bao thay chiếu anh về đốt”).
Tây Tiến tuy nhìn thẳng vào sự thật khắc nghiệt, nhưng có bi mà không có lụy Bài thơ mang âm hưởng đặc biệt bi tráng, ơ đây tính chất anh hùng có một màu sắc riêng thê’ hiện đặc điểm con người Quang Dũng và một thế hệ của những người như ông trong đoàn quân Tây Tiến: những chàng trai Hà Nội, phần lớn là những thanh niên học sinh, có tri thức, nguyện dấn thân vào cuộc kháng chiến với tấ t cả nôi đam mê,
ý thức trách nhiệm công dân, không tính toán chi li, không so bì hơn thiệt, nhưng pha vào đấy là chất hào hoa nghệ sĩ, một quan niệm lãng mạn về người anh hùng, tráng sĩ thời xa xưa, một đi không về, coi cái chết nhẹ như lông hồng:
Rải rác biẽn cương mồ viễn xứ
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Trang 29Đó cũng chính là hào khí của cuộc kháng chiến của dân tộc vang vọng vào thơ, đương nhiên qua cách cảm nhận riêng của Quang Dũng.
Tây Tiến không chỉ mang màu sắc dữ dội của rừng thiêng và cuộc
đời chiến binh đầy giam khổ v ẫn thấy ẩn hiện trong toàn bài, những nét tươi mát của núi rừng Tây Bắc trong cuộc sống đời thường trong trẻo, lạc quan và đầy chất thơ:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lèn khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kia em xiêm áo tự bao giờ
Có nhớ dáng người trẽn độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Cái bối cảnh hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng thật mĩ lệ và thơ mộng
ấy rất phù hợp với những “tráng sĩ” Tây Tiến vừa oai phong lầm liệt
vừa rất đỗi lãng mạn và hào hoa
Tây Tiến là cuộc sống, là tấc lòng, là con người rất th ật của Quang
Dũng Cùng với cảm xúc mãnh liệt và chân thực, thơ ông còn có cả nhạc,
cả họa Một ngọn bút đầy tài hoa vừa khắc họa được cái dữ dội, hào hùng vừa diễn tả được cái tươi mát, sâu lắng, đau thương mà không hề bi lụy
B à i 13: Bình giảng đoạn thơ trong bài ỉày Tiến củõ Quang Dũng sau đây:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
( )
Mal Chãu mùa em thơm nếp xôi.
BÀI LÀM
1 M ỏ BÀI
Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Quang Dũng, cứ nói tới
Quang Dũng là người ta nghĩ ngay tới Tây Tiến Nhưng Tây Tiến dược
chú ý vì đó là một trong những bài thơ đặc sắc trong thời kì kháng chiến chống Pháp, từng được hiểu lầm, đánh giá thấp, nhưng với thời gian bài thơ càng được bạn đọc trân trọng, yêu mến
Bài thơ có 34 dòng, chia làm ba đoạn, đây là đoạn đầu thể hiện tập trung khung cảnh, địa bàn rừng núi và tâm hồn người lính Tây Tiến cũng như chủ đề nỗi nhớ của bài thơ
2 THÂN BÀI
Tây Tiến là đơn vị bộ đội đặc biệt thành lập vào đầu năm 1947,
có nhiệm vụ chiến đấu ở vùng biên giới Lào - Việt, Thượng Lào và tây bắc Việt Nam Lính Tây Tiến đã đặt chân qua nhiều nơi, từ Mai Châu,
Mộc Châu sang Sầm Nứa, về phía tây Thanh Hóa Bài thơ Tây Tiến viết vào nãm 1948, sau hơn một năm Quang Dũng hoạt động ở đơn vị trên, với nhan đề Nhớ Tây Tiến (sau đổi thành tên như hiện nay), chứng
tỏ đối với tác giả, Tây Tiến là cả một cuộc đời gian khổ nhưng đầy hào
30
Trang 30hứng không bao giờ quên.
Tùy Tiến là một bài thơ đầy ắp nỗi nhớ Mở đầu, tác giả đưa người
đọc vao một chân trời nhớ nhung mênh mông:
Sông Mã xa rồi Táy Tiến ơi.
Nhớ vể rừng núi, nhớ chơi vơi.
“Chơi vơi” là trạng thái trơ trọi giừa khoảng rộng, không bấu víu
vào đáu cả “Nhớ chơi ươi” có thể hiểu là một minh giữa thế giới hoài
niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời gian, không gian Hoài niệm đầu tiên về Tây Tiến là hoài niệm về sương núi, hơi đá Thời gian như trôi trong màn sương:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Đúng như một nhà thơ đã nhận xét tinh tế: “Sài Khao sương lấp
đoàn quân” là một hình ảnh hùng tráng, mĩ lệ, nhưng nhà thơ lại thêm
chữ “mỏi” - “đoàn quân mỏi”, thì hình ảnh bài thơ trở nên bình dị Đoàn
quân chăng thần thánh chút nào, họ cũng mỏi mệt như ai Nhà thơ như cảm nhận cái hùng vĩ của sương núi cùng một lúc với cái mỏi mệt của
chính mình “Mường Lát hoa ưể” là một hình ânh thơ mộng, nhưng “trong
đêm hơi”, tức hơi đá lại rất man dại, heo hút.
Cùng với mù sương là ki ức về độ cao, một độ cao thăm thẳm, vượt
lên trên cả các tầng mây (cồn mây), nơi heo hút không có sự sống:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẩm Heo hút cồn mây súng ngửi trời.
Nhiều người nhận xét cái dốc khúc khuỷu, thăm thảm có ý vị Thục
đạo nan của Lí Bạch, nhưng không có ý vị trang nghiêm của một đường
lên trời, bởi “súng ngửi trời” là một hình ảnh ngộ nghĩnh, hóm hỉnh Mặt khác, độ cao đổi thay chóng mặt: “Ngàn thước lèn cao, nệàn thước
xuống”, xuống dưới những cồn mây, và đột ngột, nhận ra nơi xa xăm
bóng dáng của sự sống con người:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
“Khơi” là vùng biển xa bờ “Xa khơi” còn xa bờ hơn nữa, ở đây chỉ
khoảng cách rộng Đã thế lại còn “mưa xa khơi”, làm cho nhà ai như
nhòe di trong đợi mong Cả câu thơ dùng toàn thanh băng như một tiếng reo vui, hồi hộp, ngân xa
Bóng dáng người lính xuất hiện đầu tiên trong bài thơ này là một trường hợp hi sinh rất bình dị, đời thường:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa.
Gục lên súng mũ, bỏ quèn đời.
Anh không chết trong cuộc đấu gươm, đọ súng, mà chết vì kiệt sức trên đường hành quân Anh hành quân đến hơi sức cuối cùng Không
bước nữa, nghĩa là gục xuống chết, lặng lẽ như “bỏ quèn đời”.
Rừng núi oai linh hiện ra với tất cả vẻ đe dọa dữ dằn của nó:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đkm đèm Mường Hịch cọp trêu người.
Trang 31Nhưng rừng núi đã mất đi vẻ rùng rợn, vi ba chừ “cọp trêu người” Hình ảnh nhớ nhung nhất của đoạn này là ngọn khói no ấm ở Mai Châu
mùa nếp với các cô thiếu nữ:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Cả ở câu này chất thơ của “cơm lên khói”, “Mai Chầu mùa em thơm” cũng hòa hợp tương phản với chất văn xuôi của “nếp xôi”.
3 K Ế T BÀI
Đoạn thơ mở đầu bằng hoài niệm và khép lại băng hoài niệm Hoài niệm là ý thức về thời đã qua, và thông thường nó nhuốm màu lí tương hóa, lãng mạn hóa Nhưng nỗi nhớ của Quang Dũng ở đây mang một nội dung thấm mĩ cực kì phong phú, đầy tương phản, cao cà và bình
dị, oai linh và ngộ nghĩnh, chất thơ và văn xuôi, hùng tráng và trữ tình Quang Dũng mở rộng tâm hồn đón nhận cuộc sống chiến đấu của Tây Tiến từ mọi phía, không theo khuôn mòn nào và nhà thơ thực sự mở rộng th ế giới cảm xúc của thơ
B à i 14: Bình giảng đoạn thơ sau trong Tảy Tiến của Quang Dũng:
Sông Mã ( ) thơm nếp xôi.
B À I L À M
Có lẽ điều thành công n h ất trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
là đã xây dựng được chân dung người lính đẹp một cách bi tráng và hào hoa lãng mạn trong những năm kháng chiến chống Pháp Đế có được thành công này, đoạn thơ mở đầu đã góp một phần quan trọng khi miêu tả một không gian Tây Bắc đầy hiếm trở dữ dội nhưng cùng hùng vĩ, thơ mộng; mà từ chính nơi đây, người lính hiện ra với tất cả
vẻ đẹp và tầm vóc của mình
Như ta đã biết, cuối năm 1948, khi Quang Dũng đả chuyển sang đơn
vị khác, nhớ về những ngày sống và chiến đấu trong binh đoàn Tây Tiến, ông đã viết bài thơ này Cho nên mở đầu bài thơ, tác giả trực tiếp thốt lên thành lời nỗi nhớ về Tây Tiến, và rộng hơn Tây Tiến là vể cả một vùng Tây Bắc Nhà thơ đã gọi tên con sông Mã, gọi tên binh đoàn Tây Tiến bằng một tiếng gọi tha thiết, thân thương Đây nỗi nhớ mènh mang, mông lung cứ bám riết lấy tâm hồn tác giả, không thể nào dứt
bỏ được Tác giả gọi đó là “nhớ chơi vơi”, hẳn phải là một nỗi nhớ như
bị bỏ bùa Trong nỗi nhớ da diết ấy, dường như có một nhu cầu thôi thúc tự nội tâm: muốn được gọi tên lên những địa danh yêu dấu Cho nên có một Sài Khao bảng lảng hơi sương trùm lên doàn quân im phảng phắc; rồi có một Mường Lát cũng lại nhạt nhòa sương khói mờ tỏ những loài hoa rừng không biết hết tên Những địa danh và hình ảnh vừa rồi hẳn là nhừng ấn.tượng chung nhất, có sức mạnh ám ảnh tâm hỏn thi
sĩ Hẳn thế, như đi qua lớp rây lọc của thời gian, chỉ những gì ám ảnh nhất mới được nhớ lâu Và giờ đây, như một chuỗi hình ảnh hồi nhớ
32
Trang 32nhất loạt đột ngột xuất hiện trong cảm xúc của nhà thơ Bắt đầu là những ấn tượng về đèo dốc (lường rừng Tây Bắc mà bàn chân tác giả
đã từng hành quân qua Các câu thơ chứa những tính từ đặc tả: khúc
khuỷu, thăm thẳm, heo hút, rồi hình ảnh cồn máy, súng ngửi trời Câu
thơ “Ngàn thước lèn cao, ngàn thước xuống” như được bẻ đôi gập lại,
phự họa với hai câu trên đã vẽ ra những con đường hiểm nguy, dữ dội đến nghẹt thở Vì là nhớ lại, cho nên một mặt tác giả sống lại những cảm giác đã qua, mặt khác cũng câm thấy thú vị khi hình dung lại những phút hành quân gian nan đó: những câu chữ hiện ra mang chút dí dỏm,
hóm hỉnh, thấp thoáng nụ cười Hình ảnh “súng ngửi trời” đâu chỉ vẽ
ra địa thế đỉnh đèo cao ngút trời khi bộ đội đi qua, mà còn là một cái nhìn đùa tếu vui nhộn kiểu lính Giữa đèo dốc hiểm nguy như thế, bỗng bất ngờ nhìn thấy phía xa thấp thoáng những nếp nhà sàn mờ tỏ trong biển mưa mênh mang trắng xóa
Không phải ngẫu nhiên câu thơ: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
sử dụng toàn thanh bằng Nhờ vậy, hơi thơ từ dữ dội, mạnh mẽ, bỗng như nhẹ bồng, thênh thang, mở ra một tấm nhìn xa rộng Không gian Tây Bắc hiện ra với những đường nét lớn, bao quát Hành quân trên những con đường như vậy ắt phải gian khổ, và lại càng gian khổ hơn khi mà những người lính thiếu àn, bệnh tậ t hoành hành Cho nên có
những người lính đã “Gục lèn súng mũ bỏ quên đời” - những người lính
,đang trên đường hành quân, đã kiệt sức, lả đi, thiếp đi, rất gần với trạng thái chết chóc (chẳng th ế mà có ý kiến cho rằng câu thơ nói về cái chết!) Câu thơ viết về một hiện thực khốc liệt, ấy thế mà lại được nói
bằng một giọng nhẹ nhàng, thấm thìa: “Không bước nữa”, “bỏ quèn đời”
Nơi hiểm nguy, gian khổ còn được tô đậm nữa bằng những hình ảnh
thác dữ “gầm thét”, “cọp trểu người” - nơi mà cái chết luôn gầm gừ de
dọa, rình rập con người Hai thanh trắc trầm nặng “hịch” (trong Mường
Hịch) và “cọp” đi liền nhau gợi ra một liên tưởng thật thú vị: như những
dấu chân cọp đang bước trong rừng đầy vẻ đe dọa Có thể nói, các câu thơ liên tiếp vẽ ra tấ t cả những nồi hiểm nguy, gian nan tột đĩnh của thiên nhiên Tây Bắc Như một thứ liên tưởng kì lạ đột ngột chợt đến, hai câu thơ kết đoạn hiện ra với một vẻ đẹp không ngờ:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lẽn khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Câu thơ đẹp ngay trong cách hòa phối âm thanh Ở câu thứ hai, chỉ
có một âm thanh trắc, còn lại toàn thanh băng Các hình ảnh hòa điệu với âm thanh, làm cho câu thơ bay bổng, thăng hoa Nhiều người cho câu thơ này nói về tình cảm quân dân thấm thiết, ân tình giữa những người lính và đồng bào Tây Bắc Hiểu như thế có lẽ chưa thấy hết được vẻ đẹp của chúng Ở đây cùng một lúc xuất hiện ba đối tượng: làng bản Mai Châu,
cô gái, xôi nếp tỏa thơm Cả ba hình ảnh này như hòa vào nhau thành một chinh thể đẹp và quyến rũ Một cảm xúc trẻ trung như thế hẳn đây phải là tâm tình của một chàng trai nhiều khao khát trước những bóng hình sơn nữ Đó là những cảm xúc rất con người, rất đáng được cảm thông
và trân trọng Hóa ra trong mỗi người lính gian nan và khắc khổ kia có
Trang 33một quả tim của nhưng chàng trai đang tuổi yêu đương và khao khát yêu đương Chả thế mà những người lính Tây Tiến không mấy ai không có
ít nhất một lần “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều tham".
Có khi đữ dội khốc liệt, có khi vùng vĩ cao rộng, có khi lại êm đềm thanh bình cổ điển, các câu thơ phác họa thành công một thiên nhiên 'Tây Bắc đầy ấn tượng của nhũng nàm kháng Pháp Trên nền thiên nhiên
đó, hiện lên bóng dáng của những người lính trẻ tuổi gian khổ mà đầy
mơ mộng Đoạn thơ mở đầu này đă gây được niềm thích thú đặc biệt ở người đọc, lôi cuốn họ thưởng thức vẻ đẹp toàn vẹn của cả bài thơ
B à i 15: Bình giảng đoạn thơ sau “Tây Tiến dộc hành’’.
BAI I A M
1 MỞ BÀI
2 THÂN BÀI
+ Hai câu đầu:
Giừa khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, bao la, vừa dữ dội hiểm trở, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến đã được khắc họa với nhiều chi tiết gây ấn tượng mạnh mẽ:
Tây Tiến oai hùm.
Trước hết qua nhiều hình ảnh thật khác thường “không mọc tóc”, “quân
xanh màu lá” có thể thấy đoàn quân Tây Tiến không những phải vượt qua
nhiều chặng đường gian khổ, nhiều nỗi vất vả thiếu thốn mà còn phải chịu đựng những cơn sốt rét quái ác khiến cho họ da xanh tóc nạng Điều này
cũng từng được nói đến trong bài thơ Đồng chí của Chính Hũu:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh.
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
* Trong bài thơ Cá nước của Tố Hữu: “Giọt giọt mồ hôi rơi, Trên má
anh vàng nghệ”, và trong bài thơ Lèn Cấm Sơn của Tân Sác: “Họ vẫn gầy vẫn ốm Mắt vẫn lõm da vàng” Nhưng có lẽ ý thơ của Quạng Dũng
có sức gợi tưởng tượng và cảm nghĩ sâu xa hơn: bệnh tậ t khắc nghiệt
đã biến những người lính Tây Tiến thành những anh “vệ trọc”, gầy yếu, xanh xao, nhưng tư thế, dáng vẻ của họ vẫn “dữ oai h ù m ” nghĩa là vẫn
mạnh mẽ, hùng dũng, hiên ngang, biểu hiện một nghị lực th ật kiên cường Đấy chính là sự tương phản giữa ngoại hình và nội tâm, giữa vẻ ngoài tiều tụy vì bệnh tậ t với sức mạnh tinh thần bên trong th ậ t vừng vàng của những người lính Tây Tiến
+ Thủ pháp tương phản còn được Quang Dũng khai thác triệt để trong hai câu thơ:
Mát kiều thơm
Cách nói tương phản như vậy cho thấy đằng sau vẻ ngoài dữ dội
đầy lòng căm thù giặc “Mắt trừng” Người lính Tây Tiến vẫn có tâm
hồn mơ mộng và đằm thắm trong tình cảm yêu thương Thật ra nỗi nhớ
34
Trang 34về hậu phương, về những người thân yêu vốn là tình cảm phổ biến của
nhiêu người lính đi chiến đấu xa nhà Trong bài thơ Đồng chí, Chính
Hữu nói về nỗi nhớ ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa ở làng
quê thân thuộc Trong bài thơ Nhớ, Hồng Nguyên nói về nỗi nhớ người
vự vất vả ở quê nhà, “Mòn chân bẽn cối gạo canh khuya" Đó là nỗi
nhớ cua những người nông dân mặc áo lính bình thường gắn bó với ruộng đồng, thôn xóm, lam lũ, nhọc nhàn Còn nỗi nhớ của nhừng người thanh niên Thủ Đô đi kháng chiên lại gần với hình ảnh, vẻ đẹp thơ mộng
của người con gái thành phô quê hương (dáng kiều tỉiơni).
+ Hai câu thơ tiếp theo tái hiện cả một thế hệ thanh niên thành phố dân thân vào cuộc sống mới đi theo cách mạng, đi theo kháng chiến với ước mộng lãng mạn về người anh hùng, có thể thấy trong đó bóng dáng cùa các tráng sĩ, của các chinh phu thuở trước:
Rải rác đời xanh?
ơ đây Quang Dũng không ngần ngại khi nói về cái chết của người
chiến sl dù đấy là cái chết ở chiến trường biên giới xa xôi, dù cảnh những nấm mồ cô đơn giữa nơi núi rừng hoang vu, heo hút có gợi cảm giác ghé rợn, sầu thảm Chính sự đối lập tương phản về ý nghía giữa hai câu thơ (giữa cái chết bi thảm với ý chí nặng nề của người còn sống),
đã nêu bật cái triết lí sống, cái phương châm sống rất hào hùng cua người lính Tây Tiến vì sự sống muôn đời của Tổ quốc, họ quyết tâm
ra đi chiến đấu và sẵn sàng hi sinh cả tuổi xuân phơi phới của mình.+ Quan niệm sống chết của người lính Tây Tiến được khẳng định sâu sắc trong hai câu thơ cuối:
Áo bào độc hành
Đối với họ, còn sống là còn chiến đấu vì Tổ quốc, chiến đấu quên mình chẳng tiếc đời xanh, cũng vì hiểu rõ ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống như thế nào nên họ chấp nhận một cái chết th ật nhẹ nhàng thanh thản Nếu trong hai câu thơ trên với cảm hứng lãng mạn Quang Dũng đã làm đẹp cuộc đời chiến đấu của người lính Tây Tiến bằng những từ ngữ Hán
Việt mang sắc thái cổ kính (biến cương, viễn xứ, chiến trường) thì ở đây
Quang Dũng vẫn tiếp tục cảm hứng đó: Cái áo bình thường sẽ đưa người
chiến sĩ về nấm mộ của an h bỗng trở nên đẹp hơn, đậm màu chiến trậ n
hơn và tăng thêm vẻ trang trọng thiêng liêng khi được gọi là “áo bào" Còn cái chết của người chiến sĩ được diễn tả bằng hai chữ “về đất” -
cách nói giảm như th ế đã làm giảm bớt sự bi lụy, ghê sợ của cái chết đồng thời làm tảng thêm tính chất hào hùng thanh thản của sự hi sinh, một khác cách nói ấy còn tạo ra một ý nghĩa mới: Người chiến sĩ ngã xuống cũng là trở về với đất mẹ, trở về trong lòng Tổ quốc yêu thương Đáng chú ý là trước cái chết của người đồng đội Quang Dũng không trơc tiếp bày tỏ tình cảm của mình, ở đây chỉ có thiên nhiên chứng kiến
và sòng Mã cũng “gầm lèn” đau đớn như cùng chia sẻ, cảm thông trước nỗi đau xót vô hạn Do đó có thể nói “khúc dộc hành” - tiếng sóng nước
réo gào của sông Mã - là khúc nhạc bi tráng của đất trời, núi sông Tổ quốc tiễn biệt một người chiến sĩ hi sinh
Trang 35bó thiết tha với đoàn quân Tây Tiến, với những ngày Tây Tiến uTây
Tiến người đi không hẹn ước - Đường lên thăm thẳm một chia phôi -
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy - Hồn về sầ m Nứa chẳng về xuôi”.
Bài 16: Phân tích néỉ đẹp độc đáo của hình tượng người chiến sĩ trong bài
G Ợ l Ỷ LÀM BÀI
1 MỞ BÀI
2 THÂN BÀI
+ Tính cách lãng mạn: Cảm nhận thiên nhiên, cảm nhận con người.
Dưới ngòi bút tài hoa của Quang Dũng, tính cách lãng mạn của người lính Tây Tiến đã được thể hiện nổi bật trước hết là qua cách cảm nhận của họ đối với thiên nhiên Địa bàn hoạt động của họ là vùng biên giới Việt - Lào trùng điệp mênh mông Cảnh vật tự nó có những nét giản dị quen thuộc, nhưng tâm hồn lảng mạn của những thanh niên thành phố dễ chú ý và nhấn manh, cường điệu tất cả những gì phi thường dữ dội, bí hiểm của cảnh sắc núi rừng Tây Bắc Trước mặt họ con đường hành quân như
xa hơn, ngày càng cao hơn và núi rừng xung quanh đầy vẻ huyền bí
Dốc lên ngửi trời Chiều chiều trêu người
Như vậy mặt gian khổ của đời chiến đấu đã được tô đậm thêm: có điều những gian khổ ấy không làm cho họ sợ hãi, chùn bước, trái lại
họ vẫn đủ nghị lực, kiên cường để vượt qua thử thách, vẫn có cảm giác nhẹ nhõm ngay trong cảnh hành quân giữa núi rừng hiểm trở:
Ngàn thước mưa xa khen
Tính cách lảng mạn của người lính Tây Tiến còn thể hiện qua cách cảm nhận đối với con người hay cũng chính là việc họ tự biểu hiện những cảm xúc suy tư của đánh mình Nếu trong cuộc đời thật đoàn quân Tây Tiến phải sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt, bệnh tật hoành hành khiến cho họ gầy yếu xanh xao thì qua cảm hứng lãng mạn của Quang Dũng (cũng là một nguĩri lính Tây Tiến), hình ảnh những người chiến binh ấy không hề có vẻ tiều tụy, sầu thảm mà trái lại vẫn mạnh mẽ, hùng dũng và hiên ngang:
Tây Tiến đoàn binh oai hùm
Họ ra đi chiến đấu th ậ t thanh thản, họ chấp nhận cái chết thật nhẹ nhàng và nếu họ có ngã xuống thì cũng là trong âm hưởng tiễn biệt bi tráng của thiên nhiên, Tổ quốc:
Rải rác., khúc độc hành
3 6
Trang 36+ Tính hào hoa hướng tới cái đẹp của thiên nhiên, hướng tới cái đẹp của con người.
Quang Dũng còn tập trung miêu tả tính cách hào hoa của người lính Táy Tiến Điều đó có nghĩa là họ yêu quí và dễ xúc động trước tấ t cả những gì đẹp đẽ, nên thơ của thiên nhiên, của con người chiến sĩ Dù trong những buổi hành quân mệt mỏi trong sương mờ, trong đêm tối,
họ vẫn cảm nhận những bản làng quen thuộc mà họ đang đi qua chủ yêu băng hương thơm của các loài hoa:
Sài Khao đèm hơi
Đằng sau cái vẻ ngoài dữ dội, đầy lòng căm thù giặc, tâm hồn thơ mộng yêu thương của họ vản hướng về vẻ đẹp của người con gái ở thành phố quê hương:
Mắt trừng kiều thơm.
Đặc biệt người lính Tây Tiến đã phát hiện và cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ và ấm áp nghĩa tình đằng sau cái vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên và con người Tây Bắc:
Doanh trại bùng lèn hội đuốc hoa bến bờ
Đcây là một đêm liên hoan của bộ đội Tây Tiến, có đcng bào địa phương đến góp vui - niềm vui từ tiếng khèn, từ điệu nhảy, từ ước mơ giải phóng hai nước Việt - Lào Đấy còn là vẻ đẹp mờ ảo của núi rừng Táy Bắc trong sương chiều, vẻ đẹp thiết tha, quyến luyến của hổn người trong cỏ cây Nhìn chung trong hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh cũng như tính cách lãng mạn, hào hoa vừa là vẻ đẹp độc đáo của người lính Tây Tiến, vừa là phẩm chất tinh thần cần thiết giúp họ thêm sức mạnh vượt qua mọi thử thách, khó khăn
3 K Ế T LU ẬN
Mặc dù có những nét độc đáo riêng, gây được ấn tượng sâu sắc trong
lòng người đọc nhưng hình tượng của người chiến sĩ trong bài thơ Tây
Tiến vẫn mang nhừng nét bản chất chung nhất của anh bộ đội Cụ Hồ:
Yêu nước, căm thù giặc, tự nguyện từ bỏ gia đình, quê hương đi chiến đấu Họ cùng có lí tưởng chiến đấu vì độc lập vì tự do của Tổ quốc,
cùng có nghị lực kiên cường vượt qua mọi gian khổ, hi sinh Điều đó
làm cho họ có những nét gần gũi với tấ t cả những bài thơ viết về người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp
B à i 17: Binh luận vè đẹp lăng mạn và tính chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ cùng tên của Quang Dũng.
GỢl ỷ L à m B à i
1 MỞ BÀI
- Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng Bài
thơ được tác giả viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đả xa đơn vị Tây Tiến một thời gian
Trang 37- Trong bài thơ này, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng tập thổ những người lính Tây Tiến với một vẻ đẹp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.
2 TH ÂN BÀI
a) Vẻ đẹp lăng mạn của người lính Tây Tiến
- Hình tương tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng
một bút pháp* lãng mạn với khuynh hướng tô đậm cái phi thường, sử dụng rộng rai các thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc
- Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến đê tạc nên bức tượng đài tập thể khái quát được gương mặt chung của cả đoàn quân Qua ngòi bút của ông, hình tượng người lính Tây Tiến xuất hiện đầy oai phong và lâm liệt khác thường Quang Dũng không hề che giấu những gian khổ, thiếu thốn ghê gớm của những người lính phải chịu đựng Chỉ có diều, cái nhìn lãng mạn của ông đã
thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều
tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường, chói ngời vơ đẹp lí tưởng Hình tượng người lính Tây Tiến mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thời xưa một đi không trở lại
- Hình tượng người lính Tây Tiến còn có thêm vẻ đẹp của chất hào hoa, mơ mộng, lãng mạn Tâm hồn tươi trẻ của những chàng trai Tây Tiến bị cuốn hút, hấp dẫn bởi cái đẹp, cái hào hoa, mơ mộng, tình tứ của cảnh vật và con người, của vũ trụ và âm nhạc nơi xứ lạ, phương
xa v.v Có thể nói, băng ngòi bút lãng mạn của mình, Quang Dũng đa tạo nên bức tượng đài tập thế những người lính Tây Tiến không chỉ băng những đường nét khắc họa dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được
cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ
- Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến khác hẳn với vẻ đẹp của người
lính trong bài Đồng clú của Chính Hữu Người lính trong bài thơ Đông
chí vốn xuãt thân từ nông dân, sinh ra va lớn lên ở những làng quê
nghèo đói xơ xác Bằng bút pháp hiện thực, Chính Hữu đã miêu tả một cách trần trụi những khó khăn, thiếu thốn, gian khổ của họ Người lính
trong Đồng chí được tập trung khắc họa ở những điểm gần gũi giống
nhau, cái thống nhất được nhấn mạnh hơn cái đặc biệt, cái bình dị dược
tô đậm hơn cái phi thường
- Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến thể hiện được tâm hồn đẹp đẽ, giàu lòng lạc quan, yêu đời của những người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp Trong gian khổ, con người vẫn hướng tới lí tưởng, tương lai Đó là nguồn sức mạnh tinh thần giúp họ có thể vượt qua những khó khăn nghiệt ngã của hiện tại
- Những mơ ước của những người lính Tây Tiến không phải là giấc
mơ “yêng hùng”, một thứ “mộng rớt” như ai đó đã từng phê phán Dó
là một nét tâm lí rất thực, là cách cảm, nếp nghĩ của cả một lớp người trong một thời kì lịch sử đặc biệt một đi không trở lại của dân tộc
b) Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến
- Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng dã nói tới
3 8
Trang 38cái chết, sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy đau thương Cảm hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút của ông nói nhiều tới cSi buồn, cái chết như là những chất liệu thấm mĩ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng.
- Cảm hứng cùa Quang Dũng mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được náng đỡ băng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn Chính
vì vậy ma hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đa bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tô quốc của người lính Tây Tiến Cái sự thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên (lường không có đến cả manh chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại (lược bọc trong những tấm áo bào sang trọng Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã
- Hình tượng ngưừi lính Tây Tiến (trong đoạn thơ thứ ba) thấm đẫm tinh thần bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng Nhà thơ đã phản ánh chân thực hiện thực khốc liệt và gương mặt tinh thần của cả một lớp người Việt Nam trong kháng chiến
- Cái chết của người lính Tây Tiến đã được Quang Dũng "miêu tả thật trang trọng, thê hiện sự trân trọng của nhà thơ trước những hi
sinh cùa dồng đội
- Bài thơ của Quang Dũng là một thành công, có ý nghĩa tiên phong cho khuynh hướng viết về chiến tranh mà không cần né tránh những
hi sinh, mất mát
3 K Ế T LU Ậ N
Cùng với Tây Tiến, những bài thơ tiêu biểu cho thời ki kháng chiến như Đồng chí cua Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên v.v đã miêu tả thồnh công hình ảnh người lính Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi
tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng những người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến độc đáo của mình
Bài 18: Bình giảng bến câu thơ sau đây trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Rải rác biên cương mổ viễn xứ Chiến trường ơi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh vể đất Sông Mã gầm lên khúc dộc hành
DÀN Ỷ
1 Giới th iệu hoàn cảnh xuất xứ của bài thơ, đoạn thơ
- Đơn vị Tây Tiến được thành lập vào năm 1947 và hoạt động chủ yếu ở miền Tây xa xôi của Tổ quốc và nước bạn Lào Nhà thơ Quang Dũng vốn là một thành viên của đơn vị Tây Tiến, ông viết bài thơ năy- vào năm 1948, lúc đã chia tay với đơn vị của mình Từ Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về những người đồng đội cũ, về những miền đất đã
đi qua và cùng với những hồi tưởng, hình ảnh người lính Tây Tiến cứ hiện dần lên khá rõ nét
- Đây là khổ thơ nằm ở phần cuối bài Ở khổ thơ này, Quang Dũng
Trang 39chủ yếu nói về quan niệm của người lính Tây Tiến trước cái chết và
ý chí quyết tâm của họ
2 Bình giảng hai câu thơ đầu
Địa bàn hoạt động chủ yếu của người Tây Tiến là miền rừng núi
xa xôi hiểm trở Thiên nhiên khắc nghiệt với núi cao, đèo sâu hiểm trở
và cả những cái chết nơi rừng núi xa lạ là những thử thách thường xuyên đối với người lính Tây Tiến
- Thế nhưng, mọi khó khăn thử thách ấy vẫn không ngăn cân được
ý chí quyết tâm của người chiến sĩ Tây Tiến “Chiến trường đi chẳng
tiếc đời xanh”.
3 Bình giảng hai câu thơ sau
- Trong những năm chiến tranh, các nhà thơ thường ít khi nói tới
những mất mát hi sinh Nhưng ở bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng không
hề né tránh điều này Hình ảnh “Áo bào thay chiếu anh về đắt” thể
hiện rõ bút pháp lãng mạn của Quang Dũng (học sinh có thể so sánh
thêm với những câu thơ của Chính Hữu trong bài Đồng chí: “Ao anh
rách vai - Quần tôi có vài mảnh vá”)
- Viết về sự hi sinh của người lính Tây Tiêh, Quang Dũng không miêu
tả những giọt nước mắt xót thương như mọi cái chết bình thường khác,
mà ở đây có sự chứng giám, tiếc thương của trời đất: “Sông Mã gầm lèn
khúc độc lừinh” Với hai câu thơ cuối này, Quang Dũng đã thể hiện được
cái chết vừa hào hùng vừa bi tráng của người chiến sĩ Tây Tiến
4 Kết luận
- Qua bốn câu thơ, Quang Dũng đã thể hiện được vẻ đọp tám hồn của người chiến sĩ Tây Tiến (ý chí quyết tâm chiến đấu, quan niệm về cái chết, lòng lạc quan cách mạng ) Đoạn thơ cũng giúp người đọc hiểu
rõ hơn cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và những hi sinh gian khổ của cha anh trong quá khứ
B à i 19: Bình giảng bôn câu thơ sau trong bài Tày Tiến của Quang Dăng:
Dốc lên khúc khuỷu, đốc thãm thẳm Heo hút cổn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
G Ợ l ỷ l à m b à i
Các ý chính:
1 Giới thiệu khái quát về bài thơ và vị trí của bốn câu thơ trích
- Tây Tiến là bài thơ hay nhất của Quang Dũng được viết vào cuối năm 1948 khi ông rời đơn vị Tây Tiến (mà ở đó ông từng là dại đội
trưởng) và nhớ về kỉ niệm gắn bó một thời với Tây Tiến
- Bốn câu thơ được trích trong đoạn đầu của bài thơ Tây Tiến đã
tái hiện lại bức tranh hoành tráng, hùng vĩ và thơ mộng của núi rừng
4 0
Trang 40Tây Bấc với sự hoang sơ, heo hút, khắc nghiệt, hiểm trở, với sự hùng
vĩ, dữ dội mà trữ tình, thơ mộng Cảnh thơ không chỉ nói lên sự vất
vả, khó khăn, gian khổ mà còn diễn tả được vẻ hào hùng, tài hoa và tinh thẩn lãng mạn của người lính Tây Tiến
2, Bức tranh thơ được miêu tả dưới nhiều điểm khác nhau (nhìn lên cao, nhìn xuống thấp, nhìn ra xa) tô đậm chất hoành tráng với dộ cao chót vót, chiều sâu thăm thắm và bề rộng trải dài đến hút tầm mắt Dưới cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn, cảnh vật thiên nhiên như được nhân lên cả về sự hiểm trớ lẫn nên thơ của núi đèo Tây Bắc
3 Bòn câu thơ sử dụng nhiều từ ngữ giàu giá trị tạo hình (khúc khuỷu,
tìưim thẩm, cồn mảy, súng ngủi trời, ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống ), cách ngắt nhịp độc đáo và lối tiểu đối của các câu thơ “Dốc lẽn khúc khuỷu Ị dốc thăm thảm" “Ngàn thước lèn cao/ ngàn thước xuống”,
cùng vór sự phối hợp các thanh trắc ở ba câu đầu làm cho hình ảnh thơ giàu chát hội họa diễn tả thật đắc địa sự trùng diệp, hiểm trở của núi đèo Táy Bắc và nhừng thử thách khắc nghiệt, gian khổ của người lính Tây Bắc
- “Súng ngửi trời” là sự 'áng tạo hình ảnh lạ của nhà thơ - người
lính, là một cách nói vui, tinh nghịch về cách đo chiều cao riêng của
lính Hình ảnh “súng ngửi trời” đã bắc được một nhịp cầu phi lôgíc giữa
hai sự vật cách xa nhau trong không gian, trong thời gian (tạo liên tưởng
về hình ảnh “dầu súng tráng treo” trong thơ Chính Hữu).
- Càu thơ thứ tư toàn thanh bằng tạo âm hưởng, nhịp điệu dàn trải (sau ba câu trên với tiết tấu mạnh, khỏe, gay gắt) làm cho sự hoang vu, heo hút trở nên gần gũi, ấm áp, sự hùng vĩ hiểm trở mang nét trữ tình thơ mộng, đồng thời làm toát lên chất trẻ trung, lạc quan của những chàng trai Tây Tiến
B ài 20: Bình giảng bốn cãu thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Người đl Chẳu Mộc chiều sương ấy
Có thây hổn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa dong dưa.
GỢl ý L à m B à i
C á c ý c h ín h
1 Giới th iệu về tác già và tác phẩm
- Quang Dũng là nghệ sĩ nhiều tài năng nhưng trước hết là nhà thơ, một nhà thơ tràn trề cảm hứng lảng mạn Hồn thơ đôn hậu và rất mực hồn nhiên cùa Quang Dũng có khả năng cảm nhận và diễn tả một cách nhìn tinh tế, tài hoa vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình người Bài
thơ Tâ/ Tiến hết sức tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng.
- Eài thơ ban đầu có nhan đề là Nhớ Tầy Tiến, sau đổi là Tầy Tiến
Như vậy, bài thơ là kí ức của Quang Dũng Nhà thơ nhớ lại và ghi lại