Trong bối cảnh đó, ActionAid Quốc tế tại Việt Nam AAV và Oxfam, những tổ chức làm việc lâu năm hỗ trợ người nghèo và thiệt thòi nhất ở Việt Nam đã cùng với các đối tác địa phương tiến hà
Trang 1VAI TRÒ CỦA THIẾT CHẾ THÔN BẢN TRONG GIẢM NGHÈO TẠI MỘT SỐ CỘNG ĐỒNG
DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐIỂN HÌNH Ở VIỆT NAM
Nghiên cứu trường hợp tại Điện Biên, Quảng Trị, Đăk Lăk và Trà Vinh
Trang 3VAI TRÒ CỦA THIẾT CHẾ THÔN BẢN TRONG GIẢM NGHÈO TẠI MỘT SỐ CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐIỂN HÌNH Ở VIỆT NAM Nghiên cứu trường hợp tại Điện Biên, Quảng Trị, Đăk Lăk và Trà Vinh
xã Thanh Xương (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên)
xã Xy (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị)
xã Cư Huê (huyện Eakar, tỉnh Đăk Lăk)
Trang 52.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội - văn hóa của các
2.2 Hiện trạng các thiết chế thôn bản trong các
Phần 3 Vai trò của các thiết chế thôn bản đối với giảm nghèo 21
Trang 7LỜI TỰA1
Cùng với các nỗ lực cải cách quản trị nhà nước ở cấp vĩ mô, cải cách quản trị ở cấp cơ sở
đóng vai trò rất quan trọng đối với công cuộc giảm nghèo Các thiết chế thôn bản là nền tảng của quản trị ở cấp cơ sở Các thiết chế thôn bản mạnh, bao gồm thiết chế chính thức
và phi chính thức, thiết chế mới và truyền thống, có thể giúp phát huy nội lực cộng đồng và tăng hiệu quả các hỗ trợ từ bên ngoài, từ đó đóng góp cho việc cải thiện đời sống và giảm nghèo
Trong bối cảnh đó, ActionAid Quốc tế tại Việt Nam (AAV) và Oxfam, những tổ chức làm việc lâu năm hỗ trợ người nghèo và thiệt thòi nhất ở Việt Nam đã cùng với các đối tác địa phương tiến hành một nghiên cứu về vai trò của các thiết chế thôn bản trong giảm nghèo tại các cộng đồng dân tộc thiểu số
Nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ của dự án “Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng
tham gia” do AAV và Oxfam tổ chức thực hiện từ năm 2007 đến năm 2013
Thông qua nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn đóng góp một số khuyến nghị cho thảo luận chính sách ở cấp quốc gia và cấp địa phương nhằm phát huy vai trò tích cực của các thiết chế thôn bản trong giảm nghèo tại các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Chúng tôi hy vọng Quý vị sẽ tìm thấy những điều bổ ích và thú vị trong báo cáo “Vai trò củathiết chế thôn bản trong giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở ViệtNam” này
Thay mặt Oxfam Thay mặt ActionAid Quốc tế tại Việt Nam
Andy Baker Hoàng Phương Thảo
Giám đốc Trưởng Đại diện
Trang 9LỜI CẢM ƠN
Báo cáo “Vai trò của thiết chế thôn bản trong giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam” này là nỗ lực tập thể, và không thể hoàn thành nếu thiếu sự đóng góp quan trọng của nhiều người
Chúng tôi xin cảm ơn lãnh đạo và cán bộ của các tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam (AAV) và Oxfam đã đóng góp những ý kiến quí báu trong suốt các bước thiết kế, triển khai thực địa và viết báo cáo Một số cán bộ của AAV và Oxfam đã trực tiếp tham gia các chuyến thực địa, chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm hữu ích về phương pháp và nội dung nghiên cứu
Chúng tôi xin cảm ơn sự cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu này của UBND, các Sở ban ngành liên quan ở cấp tỉnh và cấp huyện tại các tỉnh Điện Biên, Quảng Trị, Đăk Lăk và Trà Vinh Chúng tôi xin cảm ơn các cán bộ điều phối thuộc Trung tâm Phát triển Cộng đồng (CCD) tỉnh Điện Biên, Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị, Ban Quản lý Chương trình hỗ trợ phát triển AAV huyện Eakar (Trà Vinh) và huyện Cầu Ngang (Trà Vinh) đã phối hợp chặt chẽ, dành nhiều thời gian và nỗ lực để hỗ trợ các chuyến thực địa Chúng tôi xin đặc biệt cảm ơn các cán bộ xã và thôn bản đã tích cực tham gia trong các chuyến thực địa
Cuối cùng, chúng tôi xin bày tỏ những lời cảm ơn chân thành nhất tới những người dân nam
và nữ tại các thôn bản đã dành thời gian chia sẻ những suy nghĩ, trải nghiệm về vai trò của các thiết chế thôn bản đối với cải thiện đời sống và giảm nghèo tại địa phương Nếu không
có sự tham gia tích cực của họ, đợt nghiên cứu này đã không thể thực hiện được
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người quan tâm2 Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Nhóm tư vấn công ty Trường Xuân (Ageless)
Hoàng Xuân Thành (trưởng nhóm), cùng với
Nguyễn Thị Hoa
Trương Tuấn Anh
Lưu Trọng Quang
Đinh Thị Giang
Trang 11TỪ VIẾT TẮT
ABCD Cách tiếp cận phát triển cộng đồng dựa trên nội lực (tiềm năng, thế
mạnh) của cộng đồng
Chương trình 135 Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó
khăn (theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ
Chương trình 30a Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61
huyện nghèo (theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ), hiện nay là 62 huyện do chia tách địa giới hành chính
Nghị quyết 80 Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định
hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
NMPRP Dự án Giảm nghèo miền núi phía Bắc (do WB tài trợ)
PS-ARD Chương trình Cải thiện cung cấp dịch vụ công trong nông nghiệp và
Trang 12và giảm nghèo trong các cộng đồng DTTS ở Việt Nam
Các thiết chế thôn bản mạnh tại các cộng đồng DTTS có những vai trò chính sau đây: thúc đẩy tiên phong và lan tỏa; thúc đẩy liên kết và hợp tác; thúc đẩy tiếng nói và trách nhiệm giải trình; thúc đẩy tham gia và trao quyền; gìn giữ và phát huy bản sắc, văn hóa dân tộc; thúc đẩy an sinh dựa vào cộng đồng Với tất cả các vai trò nêu trên, các thiết chế thôn bản giúp phát huy nội lực cộng đồng và tăng hiệu quả các hỗ trợ từ bên ngoài, từ đó giúp cải thiện đời sống người dân và giảm nghèo
Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu này nêu một số đề xuất phục vụ thảo luận chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển và giảm nghèo bền vững ở các cộng đồng DTTS tại Việt Nam, như sau:
1 Xây dựng và củng cố các thiết chế thôn bản cần là một nhiệm vụ trọng tâm của chương trình cải cách quản trị địa phương nhằm đẩy mạnh phát triển và giảm nghèo bền vững
ở các cộng đồng DTTS trong thời gian tới Phát triển các thiết chế thôn bản cần đồng
bộ với những cải cách về thể chế ở cấp xã trở lên, nhằm thực sự nâng cao tiếng nói của người dân và nâng cao trách nhiệm giải trình với cộng đồng của các cấp chính quyền và các cơ quan dịch vụ công
2 Rà soát lại toàn bộ thiết chế chính thức và phi chính thức, truyền thống ở cấp thôn bản tại các cộng đồng DTTS Tinh giản các thiết chế chính thức hoạt động hình thức và kém hiệu quả Kết hợp linh hoạt giữa luật pháp và phong tục, tập quán trong việc xây dựng hương ước, quy ước thôn bản nhằm phối hợp tốt hơn vai trò của các thiết chế chính thức
và các thiết chế phi chính thức, truyền thống đối với cải thiện đời sống và giảm nghèo Chú trọng chính sách hợp nhất các chức năng tự quản về xã hội, văn hóa và chức năng điều hành, tổ chức các hoạt động kinh tế trong vị trí trưởng thôn bản Nên thay hình thức
“bầu chọn” cố định một người có uy tín (như trong Quyết định 18/2011/QĐ-TTg) bằng việc tôn vinh, khen thưởng, thăm hỏi những người có uy tín được cộng đồng bầu chọn hàng năm
3 Sửa đổi các qui định pháp lý (trong Luật Đất đai, Luật Dân sự và các văn bản pháp luật
có liên quan) nhằm thúc đẩy vai trò của các thiết chế thôn bản trong quản lý và sử dụng các nguồn lực tự nhiên theo tập quán truyền thống của đồng bào DTTS, góp phần duy trì không gian sinh tồn, bản sắc văn hóa và thực hành tâm linh lành mạnh của các cộng đồng DTTS Thực hiện các chương trình, dự án (trong đó có chương trình Nông thôn mới)
ở từng thôn bản cần có qui hoạch, lộ trình và biện pháp cụ thể trong việc đảm bảo diện tích đất sản xuất tối thiểu, dành đất cho các lợi ích công cộng, giao rừng cho cộng đồng, đảm bảo nguồn nước và duy trì bãi chăn thả gia súc chung
Trang 134 Áp dụng rộng rãi cách tiếp cận “phát triển cộng đồng dựa trên nội lực (tiềm năng, thế mạnh) của cộng đồng” (cách tiếp cận “ABCD”) trong các chương trình phát triển và giảm nghèo hướng đến các thôn bản DTTS, nhằm thúc đẩy người dân cùng nhau làm việc và
hỗ trợ lẫn nhau, kết nối các hoạt động địa phương với các hỗ trợ từ bên ngoài Xây dựng chính sách đổi mới đồng bộ về phát triển các thiết chế liên kết kinh tế có lợi cho đồng bào DTTS nghèo, trong đó có thiết chế HTX kiểu mới, thiết chế liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp theo chuỗi ngành hàng, thiết chế doanh nghiệp có mục đích xã hội
5 Thể chế hóa và triển khai trên diện rộng mô hình đầu tư chiều sâu theo phương thức trọn gói cho cấp xã và thôn bản (mô hình quỹ phát triển xã/quỹ phát triển cộng đồng - CDF) trong các chương trình phát triển và giảm nghèo ở vùng DTTS, gắn liền với các hỗ trợ mạnh và liên tục về nâng cao năng lực lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội có sự tham gia, năng lực quản lý tài chính và năng lực giám sát cộng đồng
6 Tăng nguồn lực và đổi mới cơ cấu đầu tư trong công tác khuyến nông tại các cộng đồng DTTS Chú trọng xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ khuyến nông đủ năng lực và bám sát cơ sở, triển khai rộng rãi các phương pháp khuyến nông “lớp học hiện trường - FFS” và
“từ nông dân đến nông dân” Phân bổ kinh phí đủ lớn cho giai đoạn “sau mô hình” trong thời gian ít nhất 2-3 năm khi thực hiện các “mô hình khuyến nông” và “mô hình sinh kế” tại các cộng đồng DTTS, nhằm hỗ trợ việc duy trì và lan tỏa các thực hành tiến bộ, các tri thức bản địa hiệu quả từ những người tiên phong đến người nghèo thông qua các thiết chế thôn bản
7 Xây dựng chính sách khuyến khích và nhân rộng các mô hình an sinh xã hội dựa vào cộng đồng hiện có ở các thôn bản DTTS, trong đó chú trọng đến vai trò của các thiết chế phi chính thức (quỹ thôn bản, quỹ cộng đồng, các liên kết gia đình mở rộng, dòng họ, các
tổ nhóm có chức năng cộng đồng, kinh tế, văn hóa và tâm linh…) trong việc tự an sinh và phòng chống rủi ro Nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS ở vùng miền núi đặc biệt khó khăn khi đi làm ăn xa trong nước, di cư đến các khu vực đô thị và khu công nghiệp (cách đặt vấn đề giống như chính sách hỗ trợ XKLĐ ra nước ngoài), trong
đó chú trọng vai trò tích cực của mạng lưới xã hội của đồng bào DTTS khi đi làm ăn xa
Trang 15Phần 1
GIỚI THIỆU
Trang 171 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Công cuộc giảm nghèo tại các cộng đồng DTTSi ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thời gian qua Tuy nhiên, đời sống đồng bào DTTS còn rất nhiều khó khăn và thách thức Tỷ lệ nghèo trong đồng bào DTTS giảm chậm và còn ở mức cao Nghèo tại Việt Nam ngày càng tập trung ở đồng bào DTTS Cụ thể, đồng bào DTTS chiếm dưới 15% tổng dân số cả nước nhưng lại chiếm 47% trong tổng số người nghèo vào năm 2010 (theo chuẩn nghèo chi tiêu mới do WB/TCTK đề xuất) Trên toàn quốc, có 66% đồng bào DTTS sống ở mức dưới chuẩn nghèo vào năm 2010, trong khi đó chỉ có 13% đồng bào dân tộc đa số (người Kinh) sống ở mức dưới chuẩn nghèo (WB 2012) Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã yêu cầu các cơ quan quản lý khẩn trương nghiên cứu, đề xuất các chính sách hiệu quả hơn nhằm đẩy mạnh giảm nghèo bền vững trong đồng bào DTTS
Cùng với các nỗ lực cải cách quản trị nhà nước ở cấp vĩ mô, cải cách quản trị ở cấp cơ sở đóng vai trò rất quan trọng đối với công cuộc giảm nghèo Các thiết chế thôn bản là nền tảng của quản trị ở cấp cơ sở Từ khi thực hiện Đổi mới, nhà nước Việt Nam đã ban hành các chính sách khôi phục vai trò, kiện toàn qui chế tổ chức và hoạt động của thôn bản (từng bị coi nhẹ dưới thời phát triển HTX và tập đoàn sản xuất)ii Mặc dù không được coi là một cấp hành chính, thôn bản hiện nay đã được trao một số chức năng tự quản, là nơi người dân thực hành một
số quyền dân chủ trực tiếp Bên cạnh đó là các chính sách nâng cao năng lực cán bộ thôn bản; hình thành và củng cố các chi hội đoàn thể; thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở; bảo tồn
và phát triển các giá trị tích cực của văn hóa truyền thống; xây dựng các hương ước, quy ước thôn bản; phát huy vai trò của già làng, người có uy tín, trưởng bản, dòng họ và cộng đồng dân cư trong các phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, và gần đây là phong trào xây dựng “nông thôn mới”
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình khảo cứu của các nhà xã hội học, dân tộc học, văn hóa học về các thiết chế thôn bản tại các vùng nông thôn Việt Namiii Gần đây, đã có một
số nghiên cứu từ góc độ trải nghiệm (ý kiến và nhận thức) của người dân về quản trị địa phươngiv Tuy nhiên, còn thiếu các nghiên cứu, đánh giá về vai trò tích cực của thiết chế thôn bản tại các vùng DTTS trong quá trình thực hiện các chính sách, chương trình, dự án và sáng kiến cộng đồng hướng đến giảm nghèo Đây là một nhu cầu bức thiết của các cơ quan quản
lý, đặc biệt là của Ủy ban Dân tộc trong quá trình xây dựng các chính sách thúc đẩy giảm nghèo nhanh và bền vững ở các vùng DTTS trong thời gian tới
Trang 18Để tiếp nối chuyên đề nghiên cứu “mô hình giảm nghèo” nêu trên, chuyên đề nghiên cứu
Vai trò của thiết chế thôn bản trong giảm nghèo tại một số cộng đồng DTTS điển hình
ở Việt Nam này được Oxfam và AAV tiến hành vào cuối năm 2012, nhằm phân tích kỹ hơn
một bước nữa trải nghiệm của người dân về các vai trò tích cực của thiết chế thôn bản, phục
vụ thảo luận chính sách đẩy mạnh giảm nghèo bền vững trong các cộng đồng DTTS
1.2 Khái niệm “thiết chế thôn bản”
Nghiên cứu này tập trung vào các thiết chế thôn bản – có thể hiểu là các thiết chế xã hội ở
cấp cơ sở tại Việt Namvi Thiết chế xã hội là một khái niệm cơ bản trong xã hội học, tuy nhiên
bản thân khái niệm “thiết chế xã hội” khá phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau
Trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm thiết chế xã hội được thừa nhận rộng rãi (theo nhà
xã hội học J.Fichter): “Thiết chế xã hội chính là một đoạn của văn hóa đã được khuôn mẫu hóa Những khuôn mẫu tác phong của nền văn hóa đó được xã hội đồng tình, khuyến khích sẽ có xu hướng trở thành các chuẩn mực hành vi được mong đợi - các vai trò Do đó, thiết chế xã hội là một tập hợp các khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận (các vai trò) nhằm thỏa mãn một
chức) xã hội và kiểm soát (giám sát) xã hội Thiết chế xã hội là yếu tố phối hợp và ổn định cho toàn thể nền văn hóa, bao gồm cả những mong đợi của xã hội (Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng, 2002)
Có nhiều cách phân loại thiết chế thôn bản, và luôn có sự đan xen giữa các cách phân loại Trong nghiên cứu này đề cập đến các cách phân loại sau đây
Phân loại thiết chế thôn bản theo mức độ chính thức, gồm:
• Các thiết chế chính thức, gồm các chuẩn mực hành vi dựa trên qui định chính thức của
Nhà nước (các văn bản pháp luật hiện hành), gắn với hoạt động của trưởng thôn, chi bộ, mặt trận, các đoàn thể quần chúng như chi hội Nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Cựu chiến binh, ban giám sát đầu tư cộng đồng…
• Các thiết chế phi chính thức, gồm các chuẩn mực hành vi không được qui định chính
thức nhưng vẫn được thừa nhận trong cộng đồng, gắn với vai trò của già làng, người có
uy tín, thầy cúng, dòng họ … và các chuẩn mực khác gắn với các giá trị, dư luận, khuôn mẫu (bao gồm cả khuôn mẫu giới) tại cộng đồng thôn bản
• Ngoài ra, còn có những thiết chế bán chính thức, dựa trên sự kết hợp giữa các qui định
chính thức và qui định phi chính thức trong cộng đồng, ví dụ như hương ước thôn bản.Phân loại thiết chế thôn bản theo thời gian (tương đối), gồm:
• Các thiết chế mới (mới hình thành gần đây) Các thiết chế chính thức đều thuộc loại thiết
chế mới Một số thiết chế phi chính thức cũng thuộc loại thiết chế mới, ví dụ mối ràng buộc giữa người dân và hàng quán, đại lý
• Các thiết chế truyền thống (có từ lâu đời), ví dụ vai trò của già làng, dòng họ hoặc chế
độ mẫu hệ/phụ hệ theo luật tục Hầu hết thiết chế truyền thống thuộc loại thiết chế phi chính thức, theo môi trường luật pháp hiện nay
Phân loại thiết chế thôn bản theo chức năng, nhằm thực hiện các vai trò/đáp ứng các nhu cầu khác nhau trong cộng đồng Cách phân loại này rất đa dạng, ví dụ:
• Các thiết chế kinh tế, gồm các chuẩn mực hành vi gắn với các hình thức ràng buộc và
Trang 19liên kết về kinh tế, ví dụ tập quán đổi công, hợp tác theo nhóm sở thích, nhóm tự quản tại cộng đồng, HTX, quan hệ ràng buộc với hàng quán, đại lý, doanh nghiệp, các tổ chức cộng đồng có mục đích quản lý, sử dụng chung tài nguyên thiên nhiên…
• Các thiết chế văn hóa, giáo dục, gia đình, tâm linh/tín ngưỡng…
1.3 Mục tiêu và Phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là “Tìm hiểu vai trò của các thiết chế thôn bản đối với giảm nghèo
trong 5 năm qua tại một số cộng đồng DTTS điển hình, nhằm cung cấp các phân tích và đề xuất cho thảo luận các chính sách về phát huy vai trò tích cực của các thiết chế thôn bản trong giảm nghèo bền vững đối với đồng bào DTTS ở Việt Nam”.
Các câu hỏi nghiên cứu chính:
1 Tại các thôn bản khảo sát đang tồn tại, vận hành những loại thiết chế chủ yếu nào? Đặc điểm, mối tương tác với người dân nhất là người nghèo, xu hướng phát triển của các thiết chế đó?
2 Vai trò của các thiết chế thôn bản trong giảm nghèo tại các điểm khảo sát?
3 Các thực hành tốt và bài học kinh nghiệm trong việc phát huy vai trò tích cực của các thiết chế thôn bản trong công cuộc giảm nghèo tại các điểm khảo sát?
4 Các đề xuất, khuyến nghị cho thảo luận chính sách giảm nghèo, cho thiết kế và thực hiện các chương trình, dự án phát triển nhằm phát huy vai trò tích cực của các thiết chế thôn bản trong giảm nghèo bền vững ở các vùng DTTS?
Cách tiếp cận Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận điểm sáng (“positive deviance”) trong
phân tích các vai trò của thiết chế thôn bản Thay vì đặt câu hỏi “tại sao các thiết chế thôn bản không phát huy được vai trò đối với giảm nghèo?”, nghiên cứu này đặt câu hỏi ngược lại “tại sao một số thiết chế thôn bản, tại một số địa bàn nhất định, lại phát huy được vai trò đối với giảm
nghèo?” Bản chất của cách tiếp cận “điểm sáng” là chú trọng tìm hiểu những thực hành tốt
và những yếu tố làm nên thành công, từ đó có thể gợi ý cho việc thiết kế và thực hiện hiệu
quả các chính sách, chương trình giảm nghèo Cách tiếp cận “điểm sáng” giúp tăng sự tự tin
và tương tác xã hội của đối tượng nghiên cứu – với tư cách là các chủ thể tích cực, tự làm chủ quá trình vươn lên của mình (Andrew Wells-Dang, 2012)
Khung phân tích vai trò của thiết chế thôn bản dựa trên sự tương tác giữa các tác nhân
hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo ở các thôn bản DTTS, trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ hiện nay (Hình 1)
Trang 20Các cơ quan chính quyền và cơ quan cung cấp dịch vụ công (vai trò “người cung ứng dịch vụ”) là người tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo với các cơ chế, quá trình, thủ tục, định mức cụ thể Các cơ quan chính quyền và cung cấp dịch vụ công luôn có tương tác hai chiều với người dân và các thiết chế thôn bản trong quá trình triển khai các chính sách, chương trình, dự án
Người dân, trong đó có người nghèo và người yếu thế (vai trò “người sử dụng” hay “khách hàng”) là đối tượng hưởng lợi hoặc chịu tác động từ các chính sách, chương trình, dự án Người dân trải nghiệm về sự tiếp cận và minh bạch thông tin, hòa nhập và tham gia, giám sát và đảm bảo trách nhiệm giải trình theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thiết chế thôn bản Các thiết chế thôn bản đóng vai trò điều hòa và kiểm soát, có thể giúp tăng cường vốn xã hội của người nghèo và người yếu thế, có thể giúp thẩm thấu, thúc đẩy, phát huy hiệu quả thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo tốt hơn
Địa bàn nghiên cứu được lựa chọn có mục đích, gồm 6 thôn bản điển hình có đông đồng
bào DTTS tại 4 xã thuộc ba vùng Bắc (Điện Biên), Trung (Quảng Trị, Đăk Lăk) và Nam (Trà Vinh) (Bảng 1) Đây là những địa bàn thuộc mạng lưới quan trắc của Dự án “Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia” do Oxfam và AAV tổ chức thực hiện
Thời gian khảo sát thực địa từ tháng 11/2012 đến tháng 1/2013, mỗi xã tiến hành khảo sát
trong vòng 3 ngày, trong đó có 1 ngày khảo sát ở cấp xã, 2 ngày ở cấp thôn bản
Phương pháp tham gia được áp dụng tại thực địa với 3 nguyên tắc cơ bản: (i) Tôn trọng sự
đa dạng và khác biệt; (ii) Đề cao tiếng nói của người dân/người trong cuộc; và (iii) Coi người dân là chủ thể sáng tạo, tích cực Vai trò của các thiết chế thôn bản đối với giảm nghèo sẽ
được so sánh, đối chứng giữa các địa bàn khảo sát theo phương pháp “nghiên cứu trường hợp điển hình” dựa trên thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu với người dân và các bên liên quan,
và dựa trên quan sát, đánh giá khách quan của nhóm nghiên cứu
Tiếp cận, Minh bạch thông
tin Hòa nhập, Tham gia
Chính quyền
Cơ quan dịch
vụ công
Người nghèo Thiết chế thôn bản
Phát triển KT-XH Giảm nghèo
Bối cảnh (chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ)
Chính sách, chương
trình, dự án
Tiếng nói, nhận thức, vốn xã hội
Giá trị, khuôn mẫu, chuẩn mực, hành vi, dư luận
Cơ chế, quá trình,
thủ tục, định mức
Giám sát Trách nhiệm giải trình
Hình 1 Khung phân tích vai trò của thiết chế thôn bản
Trang 21Các nguồn thông tin chính của nghiên cứu này là:
• Thảo luận nhóm với cán bộ xã và thôn, người dân nam và nữ, sử dụng các công cụ trực quan (liệt kê và xếp hạng, đường thời gian, phân tích tổ chức…)
• Phỏng vấn sâu một số đại diện thiết chế tại xã và thôn (già làng, thầy cúng, HTX…) Phỏng vấn sâu cả hộ khá và hộ nghèo trong các thôn bản để tìm hiểu vai trò của các thiết chế trong đời sống của họ
• Quan sát và chụp ảnh tại cộng đồng DTTS liên quan đến chủ đề nghiên cứu
• Thông tin thứ cấp: tham khảo báo cáo phát triển KT-XH và các thông tin thống kê cơ bản của xã và thôn khảo sát, các nghiên cứu liên quan về DTTS
Tổng cộng, đã tiến hành 22 cuộc thảo luận nhóm tại cấp xã và thôn bản với sự tham gia của
134 người; thực hiện phỏng vấn sâu 76 người, trong đó có 57 nam và 19 nữ, hầu hết là đồng
bào DTTS
Hạn chế của nghiên cứu chủ yếu liên quan đến qui mô và thời gian khảo sát Khảo sát thực
địa được tiến hành trong vòng 2 tháng tại một số ít cộng đồng DTTS điển hình (6 thôn bản) Các thiết chế thôn bản trong các nhóm DTTS rất phong phú và đa dạng, do vậy một cuộc nghiên cứu trong thời gian ngắn không thể bao quát hết Để khắc phục hạn chế về qui mô
và thời gian khảo sát, báo cáo này đã sử dụng thêm một số điển cứu trong các cộng đồng DTTS khác thuộc mạng lưới quan trắc của dự án “Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia” và tham khảo các tài liệu thứ cấp có liên quanviii Để tiếp tục làm rõ và khẳng định các phát hiện của nghiên cứu này cần có thêm các các nghiên cứu thực chứng ở các cộng đồng DTTS khác
Trang 23Phần 2
HIỆN TRẠNG
CÁC THIẾT CHẾ THÔN BẢN
Trang 252 HIỆN TRẠNG CÁC THIẾT CHẾ THÔN BẢN
2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội - văn hóa của các cộng đồng DTTS
Không gian sinh tồn của các cộng đồng DTTS được khảo sát đã biến đổi mạnh mẽ vào nửa
sau thế kỷ XX Cả 6 thôn bản DTTS khảo sát đều đã thay đổi rất nhiều trong vài chục năm
qua 4/6 thôn bản đã trải qua quá trình tái định cư Buôn M’Hăng, xã Cư Huê (Đăk Lăk) hiện
nay là nơi tái định cư tập trung gần đường cái của đồng bào Ê Đê sau nhiều lần chuyển cư từ
những năm 1960 và sau năm 1975 Đồng bào Thái hiện sinh sống tại bản Pá Đông, xã Thanh
Xương (Điện Biên) ở khu vực rìa lòng chảo Điện Biên, vốn di chuyển từ bản cũ Noong Nhai ở
trung tâm lòng chảo Điện Biên lên từ những năm 1979-1980 trong phong trào “kinh tế mới”
Đồng bào Vân Kiều ở hai thôn Troan Ô và Xy La, xã Xy (Quảng Trị) trước kia ở rải rác ven sông
Xê Pôn, mới chuyển về định cư tại chỗ ở hiện tại từ năm 1995 Hai ấp đồng bào Khmer tại xã
Thuận Hòa (Trà Vinh) tuy không tái định cư nhưng ấp Thủy Hòa được chia tách ra từ ấp cũ từ
năm 1996, còn ấp Sóc Chùa dân số tăng rất mạnh; cả hai ấp này đều có tỷ lệ người Kinh đến
lập nghiệp sinh sống khá cao
Tập quán truyền thống về sở hữu và sử dụng đất ở, đất canh tác, đất rừng, rừng thiêng, nghĩa
địa… của các cộng đồng DTTS đã thay đổi cơ bản Mai Thanh Sơn (2008) cho rằng, chính
sách mới về quản lý đất đai và việc sắp xếp lại lao động với quy mô lớn của Nhà nước nửa
sau thế kỷ 20 đã không chỉ khiến cho không gian sinh tồn của người dân các dân tộc thiểu
số bị thu hẹp mà còn đẩy họ ra khỏi môi trường tự nhiên quen thuộc Hình thức sở hữu cộng
đồng và chế độ sử dụng tập thể đất đai theo luật tục bị bãi bỏ Các thôn bản không còn là
chủ sở hữu của đất đai; phần lớn đất rừng, ngay cả những khu rừng thiêng cũng đã được
giao cho các hộ gia đình
Do quá trình chuyển cư và xen cư, đời sống văn hóa và tinh thần của các cộng đồng DTTS bị
xáo trộn mạnh Tính cộng đồng thôn làng truyền thống cũng bị suy giảm nhiều Các thôn
bản DTTS cổ truyền thuần nhất về mặt tộc người, mỗi thôn bản thường chỉ có một dân tộc
sinh sống Bên cạnh ý thức tộc người, trong các thôn bản cổ truyền luôn có các quan hệ đan
xen như quan hệ dòng họ/gia đình mở rộng, quan hệ hôn nhân Quá trình cộng cư lâu dài
giúp nuôi dưỡng tính cộng đồng chặt chẽ giữa các thành viên trong thôn bản và giữa các
thôn bản với nhau Tuy nhiên, làn sóng di cư đến của người Kinh, sự xen cư của nhiều tộc
người và người thuộc nhiều địa phương khác nhau trên cùng một đơn vị thôn bản mới đã
phá vỡ tính thuần nhất tộc người của nhiều thôn bản Khi nhiều tộc người cùng chia sẻ một
không gian sống, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa là điểm tích cực có thể nhận thấy, nhưng
cũng tạo ra nguy cơ nảy sinh những xung đột về lợi ích kinh tế, văn hóa và xã hội, hoặc kỳ
Trang 26văn hóa của người dân đến từ nhiều vùng miền gây xáo trộn không nhỏ trong đời sống tinh thần của bà con
Các cộng đồng DTTS đang chịu tác động mạnh của kinh tế thị trường và những luồng văn hóa mới Thôn bản truyền thống của các tộc người thiểu số tương đối khép kín, kinh tế
mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu Nhưng từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, đặc biệt
là sự cải thiện CSHT và thông tin liên lạc trong những năm gần đây, không còn cộng đồng DTTS nào thuần nhất tự cung tự cấp, ít nhất họ cũng tham gia vào một hoặc một vài chuỗi giá trị Khái niệm “vùng sâu vùng xa” đã không còn đúng với hầu hết cộng đồng DTTS xét về mặt tiếp cận thông tin và tham gia thị trường
Cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi đã có thay đổi do tác động của cơ chế thị trường Theo Linh Nga Niê KDam (2007), việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao gia nhập vào kinh tế thị trường, cũng như áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, tăng sản lượng… đã làm lung lay tận gốc rễ, không chỉ đời sống vật chất, mà cả đời sống tinh thần của đồng bào các DTTS ở Tây Nguyên Bữa ăn, trang phục, nhà ở, tài sản… của đồng bào đã thay đổi, ví dụ như nhiều phụ nữ Ê Đê không còn mặc váy dài phủ quá mắt cá chân do không tiện trong quá trình canh tác lúa nước hoặc trong nhiều công đoạn chăm sóc cà phê Những phong tục, nghi lễ truyền thống gắn với vòng đời cây trồng ngày càng mai một do không còn môi trường để tồn tại Nếp nghĩ, lối sống của đồng bào cũng thay đổi nhằm phù hợp với nhịp độ canh tác mới
Những luồng văn hóa mới (các giá trị mới, quan hệ mới, văn hóa tiêu dùng mới…) cách khá
xa với văn hóa truyền thống của đồng bào cũng được du nhập Nhiều thanh niên DTTS hiện nay có xu hướng “Kinh hóa” – lấy người Kinh làm chuẩn, và tâm lý “tự kỳ thị” - cho rằng nhiều phong tục, tập quán “cũ” của dân tộc mình không phù hợp với đời sống “mới”
- “Người Doan (Kinh) nó hơn mình rồi vì nó được học hành, mong con sau này được như người Doan Mình muốn giống như người Doan, mặc quần áo Doan không thấy ngại gì, còn thấy thích chớ Không thích quần áo truyền thống mình vì vướng, khó chịu.” (Nhóm
hộ trung bình và khá người Ê Đê buôn M’Hăng, xã Cư Huê, Đắk Lắk)
Cùng với sự cải thiện đời sống, đồng bào DTTS đã có sự thay đổi nhất định trong nhận thức Nhu cầu của họ đã mở rộng hơn, hướng đến chất lượng cuộc sống tốt hơn Với sự đầu
tư của Nhà nước và nỗ lực của người dân, đời sống vật chất và tinh thần tại các cộng đồng DTTS khảo sát đã được nâng cao trong thời gian qua An ninh lương thực được cải thiện đáng kể, còn rất ít hộ thiếu đói thường xuyên Trường lớp được xây dựng kiên cố, trẻ em đến trường nhiều hơn và học lên các bậc học cao hơn Người dân đến khám chữa bệnh tại các
cơ sở y tế nhiều hơn Nhà cửa của các hộ gia đình DTTS cũng khang trang hơn, nhiều hộ gia đình đã sắm được những tài sản có giá trị (Oxfam và AAV, 2012a) Hiện nay, đồng bào DTTS không còn chỉ lo đến thu nhập nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản (đủ ăn, quần áo, nhà ở và tài sản cơ bản), mà đã quan tâm nhiều hơn đến các khía cạnh văn hóa, xã hội (giáo dục, y
tế, thông tin, bình đẳng giới, thực hành các phong tục, lễ hội, tâm linh) và các khía cạnh thị trường (dòng tiền, việc làm phi nông nghiệp) Nhiều tiêu chí thoát nghèo do người dân nêu lên vừa là kết quả của sự phát triển, vừa là động lực cho sự phát triển (Oxfam và AAV, 2013).Những năm gần đây, vai trò của thông tin trở nên rất quan trọng Trình độ học vấn tăng lên,
cơ hội giao lưu với bên ngoài mở rộng làm gia tăng nhu cầu tiếp cận thông tin của đồng bào DTTS Tại các thôn bản khảo sát, sở hữu các phương tiện nghe nhìn được người dân coi là một tiêu chí quan trọng để phân loại kinh tế hộ Theo quan niệm của đồng bào Vân Kiều tại
xã Xy (Quảng Trị), nhà có ti vi, có điện thoại di động là không nghèo Tại các cộng đồng DTTS
Trang 27có đời sống tương đối khá và sản xuất hàng hóa phát triển, như đồng bào Ê Đê tại xã Cư Huê
(Đăk Lăk), Khmer tại xã Thuận Hòa (Trà Vinh) và Thái tại xã Thanh Xương (Điện Biên), sở hữu
ti vi và điện thoại chất lượng cao được coi là biểu hiện của cuộc sống khá giả
- “Giờ thì cái gì cũng cần thông tin, giá cà, giá bắp, sâu bệnh qua ti vi, điện thoại biết
được nhanh hơn Nhà mà có ti vi phẳng, điện thoại đẹp chụp hình được là nhà khá đấy.”
(Nhóm nghèo người Ê Đê buôn M’Hăng, xã Cư Huê, Đăk Lăk)
Những rủi ro liên tiếp trong thời gian qua (thiên tai, dịch bệnh, giá cả tăng…) ảnh hưởng lớn
đến nỗ lực giảm nghèo của đồng bào DTTS tại các điểm khảo sát Năng lực phòng chống rủi
ro của người dân và cộng đồng còn yếu Sự tương trợ trong họ hàng, láng giềng không còn
đủ sức giúp người dân chống đỡ rủi ro Mối quan hệ “vay trước trả sau” với các hàng quán, đại
lý (chủ yếu của người Kinh) trở nên rất quan trọng đối với nhiều đồng bào DTTS
- “Ốm đau thiếu tiền vay quán, thất tôm cũng vay quán, không có gì để tự lo cả Nhà khá
khá còn có tiền đậy vào, nhà nào khó thì thất 1-2 vụ là sạt nghiệp luôn vậy.” (Nhóm nòng
cốt người Khmer ấp Thủy Hòa, xã Thuận Hòa, Trà Vinh)
Đồng bào DTTS đã ý thức rõ hơn về việc tham gia, về tiếng nói của mình đối với các vấn đề
của địa phương Trong những năm qua, các cộng đồng DTTS khảo sát được hưởng lợi từ
nhiều chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ của Nhà nước và các nhà tài trợ Đối với nhiều
người dân và cán bộ cơ sở, “sự tham gia”, ví dụ như cùng đóng góp và giám sát xây dựng các
công trình CSHT tại thôn bản, đã trở thành một nhu cầu và một tiêu chí đánh giá sự tiến bộ
về nhận thức của cộng đồng
- “Nhà nước cho đường, việc của mình là đóng góp, trông coi người ta làm Dân tích cực,
chủ động thì chứng tỏ mình nhận thức tốt, ngồi im hưởng thụ là kém rồi.” (Nhóm trung
bình và khá người Khmer ấp Sóc Chùa, xã Thuận Hòa, Trà Vinh)
2.2 Hiện trạng các thiết chế thôn bản trong các cộng đồng DTTS
Thiết chế truyền thống đã có nhiều biến đổi Trong quá khứ, các thiết chế truyền thống đã
chứng minh được tính hiệu quả trong việc điều hòa các hoạt động kinh tế hoặc duy trì trật
tự thôn làng Theo qui định pháp luật hiện hành, hầu hết thiết chế truyền thống trở thành
thiết chế phi chính thức Bối cảnh mới đã khiến cho các thiết chế truyền thống không còn
giữ được nguyên vẹn Tại các cộng đồng DTTS được khảo sát, hiện tại chỉ một số ít thiết chế
truyền thống còn hoạt động mạnh, một số đã biến mất, số còn lại đã giảm vai trò và biến đổi
linh hoạt (Bảng 2)
Trang 28Thực tế, những thay đổi về bối cảnh kinh tế - xã hội – văn hóa và không gian sinh tồn của các cộng đồng DTTS đã khiến cho đa số thiết chế thôn bản truyền thống bị thu hẹp vai trò Điển hình nhất là sự suy giảm vai trò của già làng – vốn là thủ lĩnh tinh thần và là “chủ đất” trong các cộng đồng DTTS truyền thống Linh Nga Niê KDam (2007) cho rằng, già làng ở Tây Nguyên đã mất dần vai trò quyết định thời điểm và địa điểm sản xuất do phương thức sản xuất thay đổi Những vùng có sự chuyển đổi tín ngưỡng sang các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Tin Lành, trọng trách giao lưu với thần linh (chỉ đạo thực hành các tín ngưỡng) của già làng cũng mất hẳn
Ngay tại các địa bàn thiết chế truyền thống còn mạnh như cộng đồng người Vân Kiều tại xã
Xy (Quảng Trị), già làng cũng chỉ còn vai trò điều chỉnh hành vi liên quan đến một số khía cạnh nhất định của đời sống như hôn nhân – gia đình, sinh đẻ, tang ma, quan hệ cộng đồng,
và một phần nào đó liên quan đến sở hữu tài nguyên thiên nhiên Với sự biến đổi của thôn làng, nhiều vấn đề hiện nay đã nằm ngoài tri thức và khả năng của già làng
- “Ông già làng biết nhiều chuyện ngày xưa, chuyện giờ ông ít biết Ông khuyên mình
đi học nhưng ông đâu biết mình học gì Giờ làm ăn cũng khác ngày xưa, như thời ông có làm sắn bán đâu.” (H.V.K, thanh niên người Vân Kiều thôn Troan Ô, xã Xy, Quảng Trị)
Cách các thiết chế truyền thống thể hiện vai trò của mình đã không còn quyết liệt,
vì vậy tính ràng buộc với các thành viên trong cộng đồng không còn mạnh Già làng,
trưởng họ hiện chỉ dùng biện pháp nhắc nhở, khuyên răn, các khung hình phạt theo luật tục xưa hầu như không còn được áp dụng Việc chấp hành quy định luật tục truyền thống phụ thuộc nhiều vào sự tự nguyện của cá nhân
- “Ngày xưa con trai họ P’roan Ô thì lấy gái họ Rơ Man nhưng gái P’roan Ô không lấy trai
Rơ Man được Nếu lấy thì bị làng cười cho, dòng họ với già làng bắt phạt heo, phạt trâu, phải tìm chỗ ở riêng không cho ai nhìn thấy Giờ thì nói nó thôi, không phạt gì hết Có đứa nghe, có đứa nó không nghe nữa.” (H.V.L, người cao tuổi Vân Kiều thôn Troan Ô, xã Xy,
Quảng Trị)
Xy – Quảng Trị Đổi công
Quyền uy của già làng Dòng họ/gia đình mở rộng
Quan hệ láng giềng
Vai trò của người hành nghề tôn giáo/thầy cúng Quan hệ hôn nhân thuận chiều
Quy định về sở hữu, khai thác nguồn lực tự nhiên
T ập quán chia đều
Vai trò của bà mụ (người hành nghề đỡ đẻ)
Cư Huê – Đăk
rộng
Quyền uy của già làng Chế độ mẫu hệ và hình thức cư trú bên vợ sau hôn nhân
Quy định về sở hữu, khai thác nguồn lực tự nhiên Vai trò của người hành nghề tôn giáo/thầy cúng Hôn nhân “nối dây”
Thuận Hòa –
Hội Sằn Khụm Vai trò của người có uy tín trong cộng đồng
Dòng họ/gia đình mở rộng
Thanh Xương
Quyền uy của già làng Hôn nhân ở rể
i Trong tiếng Khmer, “phum” có nghĩa là “vườn” Trong mỗi mảnh vườn như vậy thường có 4 - 5 hộ gia đình có quan hệ với nhau về mặt huyết thống tính theo dòng mẹ cùng chung sống “Mê phum” thường là người con rể lớn tuổi nhất thuộc ngành trên trong nhóm thân tộc Ông ta cũng là người có nhiều kinh nghiệm sản xuất và có
uy tín đối với họ hà ng “Mê phum” là người đứng ra chủ trì cá c công việc chung của mỗi phum
ii Mỗi “sóc ” Khmer bao gồm nhiều phum hợp thành, là điểm định cư truyền thống, thuộc loại hình công xã nông thôn, dựa trên quan hệ láng giềng là chính, được hình thành tự nhiên và có tính tự trị cao “Mê sóc” được bầu lên từ một trong số các “mê phum” Ông ta cũng phải là người có tuổi, có kinh nghiệm sản xuất và có uy t ín được mọi người thừa nhận Mê sóc cũng là người chịu trách nhiệm chính trong việc đ iều hành hoạt động của sóc
Bảng 2 Các thiết chế truyền thống tại các điểm khảo sát
Trang 29Đội ngũ trí thức, cựu chiến binh, cán bộ về hưu trở về sống tại cộng đồng đang trở
thành những người kết nối giữa thiết chế truyền thống với thiết chế mới Trong các
cộng đồng DTTS, những người có học vấn, đi ra ngoài làm việc được bà con rất nể trọng Họ
là người trao truyền những tri thức bản địa, đồng thời dạy bảo, giúp đỡ con cháu chấp hành
pháp luật và hòa nhập với xã hội mới Tại khu vực Tây Nguyên, Linh Nga Niê KDam (2007) gọi
đây là những “già làng mới”, đóng vai trò quan trọng trong công tác vận động quần chúng
cơ sở, góp tiếng nói không nhỏ trong việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội
- “Cả ấp Sóc Chùa ai cũng nể ba tôi, ông là một trong những người đi học cao nhất
làng, ngày xưa biết mấy ngoại ngữ, đi làm trên thành phố như ông là hiếm lắm Mà ông
nói người ta nghe lắm nha, trong nhà ông cho con cái đi thoát ly hết, đứa làm thầy giáo,
đứa làm bác sĩ, gia đình thảo hiền nên nói họ mới nghe Nào thì con cái đi thi trường gì,
định làm cái gì cũng hỏi ba tôi Cưới hỏi gì cũng bảo ba tôi đi làm chủ cho, vì ông biết lễ
nghi ngày xưa, lại hiểu luật pháp bây giờ.” (K.V, giáo viên người Khmer ấp Sóc Chùa, xã
Thuận Hòa, Trà Vinh)
Uy tín và sự tâm huyết với các công việc cộng đồng của những “cán bộ về hưu” này xuất phát
từ năng lực và đạo đức của họ, không phụ thuộc vào sự công nhận hay những hỗ trợ của
Nhà nước Hai năm trở lại đây, thực hiện Quyết định 18/2011/QĐ-TTg, mỗi thôn bản DTTS
thực hiện bầu chọn một người có uy tín trong cộng đồng Tuy nhiên, việc “bầu chọn” chính
thức chưa chắc đã giúp tăng hiệu quả hoạt động của người có uy tín, nhất là tại những nơi
người dân cho rằng còn có nhiều người có uy tín khác trong cộng đồng mà không được “bầu
chọn”
- “Người có uy tín thì vẫn có uy tín rồi, bầu thì được có một ông thôi mà trong buôn nhiều
người có uy tín chứ Người này hỏi sao ông này được, sao ông già tôi thế mà lại không
được.” (Y.N., người Ê Đê, BQL buôn M’hăng, xã Cư Huê, Đăk Lăk)
- “Theo tôi, người có uy tín thì để tự dân họ biết, đến thăm rồi tặng quà người ta xong
đây lại còn bầu Bản mình chả hiểu, cứ thế là bầu ông H., trước là trưởng bản làm người
có uy tín, chứ trong bản có nhiều người uy tín mà.” (L.V.T., người Thái, trưởng bản Pá
Đông, xã Thanh Xương, Điện Biên)
Hiện nay, ở cấp cơ sở có quá nhiều thiết chế chính thức khiến bộ máy “cán bộ” tại cơ sở trở
nên cồng kềnh Thông thường, một thôn bản DTTS được khảo sát có khoảng 15 – 20 thiết
chế chính thức, mỗi thiết chế có 1-3 người điều hành, nhiều thiết chế và nhiều đại diện thiết
chế thực chất không hoạt động Không phải tất cả các chức danh đều nhận được phụ cấp
của Nhà nước, vì vậy các thôn bản thường để một người kiêm nhiệm nhiều chức danh, thậm
chí có trưởng thôn kiêm đến 5-6 chức danh (Hộp 1)
Trang 30Một số người kiêm nhiều chức danh, ví dụ như trưởng ban nhân dân kiêm bí thư chi bộ, chi hội trưởng khuyến học, trưởng ban chỉ đạo vệ sinh môi trường và cũng là thành viên tổ hòa giải Một số thiết chế hoạt động rất thưa thớt, ví dụ như ban Thanh tra nhân dân, chi hội CCB, chi hội Chữ thập đỏ, đại diện vel (đặc biệt là phó vel)… Nhiều người dân trong ấp được phỏng vấn cho biết, họ không nhớ hết trong ấp có những “cán bộ” nào, có vai trò gì
- “Ấp này nhiều cán bộ, những tên người dán trên trụ sở chưa hết được đâu Ngay vel này cũng trưởng, phó đấy mà chả biết họ làm cái gì Cứ vào cán bộ là để hưởng được quyền lợi thôi, gì chớ hộ nghèo là có chân là được xét trước.” (N.T.N.P, người Khmer ấp Thủy Hòa,
xã Thuận Hòa, Trà Vinh)
Trong đời sống của đồng bào DTTS và trong điều hành hoạt động của thôn bản, luôn có sự song hành của hai loại thiết chế, gồm thiết chế truyền thống/phi chính thức và thiết chế chính thức Luật pháp chung của Nhà nước đã được triển khai từ xã xuống đến thôn, nhưng
các thiết chế truyền thống riêng vẫn được duy trì và có ảnh hưởng nhất định tới nhận thức
và hành vi của người dân Điển hình là tại cộng đồng người Ê Đê buôn M’Hăng, xã Cư Huê (Đăk Lăk), quan hệ hôn nhân, gia đình vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của các quy định truyền thống theo chế độ mẫu hệ Khi lấy vợ, người đàn ông thường về sống bên vợ Khi người vợ qua đời, người chồng phải trở về nhà mình và chỉ được mang theo những tài sản riêng mà
bố mẹ đẻ đã chia cho từ ngày về nhà vợxii , hoặc một phần tài sản hai vợ chồng tích lũy thêm sau khi kết hôn Quy định trên không đúng với với pháp luật Nhà nước nhưng vẫn được duy trì tại các cộng đồng người Ê Đê
- “Nếu vợ mất thì đành về với hai bàn tay không, nếu khá thì được cầm theo dưới 10 triệu Con cái mà thương thì nó bảo ở lại, nhưng không có mấy đâu, hầu hết vẫn cứ về Thằng con rể nó không hợp với mình là phải đi Mình mà ở lại cũng sợ bà con người ta
Hộp 1 Các thiết chế chính thức tại thôn bản
Theo thống kê của nhóm nòng cốt ấp Thủy Hòa (xã Thuận Hòa, Trà Vinh), hiện nay, tại
ấp có khoảng 17 thiết chế chính thức , với hơn 30 người điều hành
Các thiết chế chính thức Số người đại diện
Chi bộ 3 (bí thư, phó bí thư, thư ký)
Ban Công tác Mặt trận
Đại diện vel xi 6 (mỗi vel 2 người: trưởng và phó Vel)
Chi hội Phụ nữ 2 (chi hội trưởng và chi hội phó)
Chi hội Cựu chiến binh (CCB) 1
Ban chỉ đạo Vệ sinh môi trường 3 (trưởng ban và 2 thành viên)
Tổng số thiết chế: 17 Tổng số người đại diện: 32
hoạt động rất thưa thớt,
ấp Thủy Hòa, xã Thuận Hòa, Trà Vinh)
Trang 31bàn tán Mình làm lụng vất vả cho con cái, cho nó đi học hành, nhưng sau vợ mất là mất
hết, cũng bực chứ Luật nó thế, phong tục thế.” (Nhóm hộ trung bình và khá người Ê Đê
buôn M’Hăng, xã Cư Huê, Đăk Lăk)
Thiết chế chính thức cồng kềnh, hiệu quả hoạt động còn chưa cao Trong khi đó, thiết chế
truyền thống/phi chính thức không còn giữ được nguyên vẹn trong bối cảnh mới, tính ràng
buộc đã không còn mạnh Điều này tạo ra khoảng trống và độ vênh nhất định giữa hai hệ
thống thiết chế ở các cộng đồng DTTS, có thể gây nên những bất lợi đối với đời sống người
dân Tại cộng đồng người Vân Kiều ở xã Xy (Quảng Trị), phương pháp chữa bệnh hiện đại
“đi bệnh viện” chưa thắng thế so với phương pháp truyền thống “cúng bái” nên khi bị bệnh
bà con thường “vừa đi bệnh viện vừa cúng bái” gây tốn kém Trường hợp gia đình H.T.L, là
trưởng Ban công tác Mặt trận thôn Troan Ô là một điển hình Vợ bị bệnh phổi phải đi chữa
tại bệnh viện huyện Xét tình hình bệnh, bệnh viện cho vợ ông về chữa trị lâu dài tại nhà,
lấy thuốc tại Trạm Y tế xã, hàng tháng đi bệnh viện huyện khám lại Tuy nhiên, do thấy bệnh
không khỏi ngay gia đình đã 3 lần tổ chức cúng (đồ cúng là dê, gà, lợn, bò), tổng thiệt hại
khoảng 30 triệu Kinh tế gia đình kiệt quệ, tiền thu từ sắn không đủ chi phí, ông bà phải bán
đi cả chiếc xe máy duy nhất của gia đình, con gái của gia đình tuy có học lực khá cũng phải
nghỉ học do không có tiền và gia đình thiếu lao động
- “Bệnh viện bảo chữa lâu dài nhưng bố sợ trời, sợ đau, sợ chết nên cúng Họ hàng cũng
bảo cúng không thì vợ chết mất Giờ thì bố trắng tay, gà không có, heo không có, không
có con gì cả.” (H.T.L, người Vân Kiều thôn Troan Ô, xã Xy, Quảng Trị)
Mai Thanh Sơn (2008) cũng cho rằng, khoảng trống giữa thiết chế chính thức và thiết chế
phi chính thức là một trong những nguyên nhân gây nên sự bất ổn trong đời sống cộng
đồng (trộm cắp, bạo hành gia đình, sống bê tha…) Nó cũng là một trong những nguyên
nhân khiến cho các quá trình kinh tế của thôn làng bị ngăn trở (có thể thấy rõ ở việc không
tìm được sự đồng thuận trong nhiều vấn đề như việc bảo vệ cây trồng, vật nuôi, bảo vệ các
nguồn lợi tự nhiên, các cơ sở hạ tầng đã được nhà nước đầu tư…) Một vài cá nhân còn tận
dụng các khoảng trống này để làm những điều không hay phục vụ lợi ích cá nhân
Trang 33Phần 3
VAI TRÒ
CỦA THIẾT CHẾ THÔN BẢN
ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO
Trang 353 VAI TRÒ CỦA CÁC THIẾT CHẾ THÔN BẢN
ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thiết chế thôn bản mạnh (bao gồm cả thiết chế phi chính
thức/truyền thống và thiết chế chính thức/mới) tại các cộng đồng DTTS có những vai trò
chính sau đây: thúc đẩy tiên phong và lan tỏa; thúc đẩy liên kết và hợp tác; thúc đẩy tiếng
nói và trách nhiệm giải trình; thúc đẩy tham gia và trao quyền; gìn giữ và phát huy bản sắc,
văn hóa dân tộc; thúc đẩy an sinh dựa vào cộng đồng
Theo khung phân tích “vai trò quyền lực”xiii, các thiết chế thôn bản giúp nâng cao năng lực
hành động, cải thiện cách thức cùng hành động, nâng cao sự tự tin và tự tôn tộc người, nâng
cao năng lực kiểm soát và điều chỉnh của cộng đồng DTTS
Với tất cả các vai trò nêu trên, các thiết chế thôn bản giúp phát huy nội lực cộng đồng và
tăng hiệu quả các hỗ trợ từ bên ngoài, từ đó giúp cải thiện đời sống người dân và giảm
Đại lý, hàng quán
Tổ nhóm, HTX Doanh nghiệp Mạng lưới xã hội Liên làng, siêu làng
Quản lý tài nguyên thiên nhiên Phong tục, tập quán
Kiến thức bản địa Tâm linh, tín ngưỡng Quỹ cộng đồng/thôn bản
Tương trợ hộ nghèo, giúp
đỡ lẫn nhau Phòng chống rủi ro
Xã hội hóa
Thúc đẩy Liên kết
và Hợp tác
Thúc đẩy An sinh dựa vào cộng đồng
Gìn giữ và phát huy Bản sắc, Văn hóa dân tộc
Nâng cao Năng lực hành động
Cải thiện cách thức Cùng hành động
Thiết chế Chính thức &
Phi chính thức
Trang 363.1 Thúc đẩy Tiên phong và Lan tỏa
Tiên phong
Người tiên phong có vai trò quan trọng với giảm nghèo và cải thiện đời sống trong các cộng đồng DTTS Đó thường là người nhạy bén, muốn tìm tòi thử nghiệm cái mới, đồng thời là người có tính cộng đồng, biết chia sẻ và có khả năng dẫn dắt mọi người làm theo Có 2 dạng tiên phong chính là: (i) người đi đầu trong sản xuất và phát triển kinh tế hộ, thông qua việc
áp dụng giống mới, kỹ thuật mới nhằm nâng cao hiệu quả mô hình sinh kế; và (ii) người đi đầu xây dựng các mô hình liên kết, hợp tác và vận động người dân tham gia; nhiều người bằng tâm huyết, nội lực và sức lan tỏa của mình đã hình thành các thiết chế kinh tế (ví dụ các HTX ngành nghề truyền thống), tạo việc làm cho nhiều người dân tại chỗ (Oxfam và AAV, 2013)
Các thiết chế truyền thống hoạt động mạnh trong cộng đồng có thể hỗ trợ đắc lực những người tiên phong trong quá trình học hỏi, thử nghiệm cái mới và chống đỡ rủi ro Những
ưu việt trong cách thức tổ chức sản xuất truyền thống của gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng và dòng họ được người tiên phong vận dụng để đem lại thành công Tại buôn M’Hăng,
xã Cư Huê (Đăk Lăk), anh Y.L.K người Ê Đê, được bà con công nhận là nhà trồng cà phê giỏi nhất buôn do tự mày mò học hỏi từ người Kinh Gia đình anh hầu như không nhận được hỗ trợ nào từ bên ngoài để phát triển cà phê; thành công anh có được là kết quả của việc phân công lao động hợp lý dựa trên thế mạnh của các thành viên trong gia đình Những lúc khó khăn, sự đồng lòng của anh em giúp gia đình anh vượt qua Ví dụ như những năm 2000 khi
cà phê xuống giá, anh em nhà Y.L.K đã từng phải thỏa thuận cùng nhau bán bớt đất bố mẹ
để lại để duy trì vườn cà phê
Vai trò “bà đỡ” thông qua cách hỗ trợ thực tế, kịp thời, liên tục của hệ thống khuyến nông, viện nghiên cứu và các CT-DA ảnh hưởng lớn đến việc hình thành những người tiên phong
Tại các địa bàn khảo sát, một số người tiên phong đã tận dụng tốt sự hỗ trợ trực tiếp từ bên ngoài (về kỹ thuật, giống, vốn, máy móc…), mặc dù những hỗ trợ đó cũng chỉ là một phần nhỏ so với công sức, trí tuệ và tiền bạc mà họ đã bỏ ra Điển hình là ông Y.H.K người Ê Đê
ở buôn M’Hăng, xã Cư Huê (Đăk Lăk) Ông là CTV khuyến nông của buôn, trở thành người tiên phong trong việc cải tạo đàn bò và làm phân vi sinh nhờ những hỗ trợ của Trạm Khuyến nông huyện và chương trình AAV Trạm Khuyến nông Eakar (Đăk Lăk) đã có sáng kiến hay
là khuyến khích các CTV khuyến nông thôn buôn làm mô hình bằng cách cho ứng trước 10 tháng phụ cấp, đồng thời các cán bộ của Trạm đã hỗ trợ sát sao các CTV trong quá trình thực hiện và nhân rộng mô hình ở cộng đồng
Giữa thiết chế thôn bản (bao gồm cả thiết chế chính thức và phi chính thức) và người tiên phong luôn có sự tương tác hai chiều Thiết chế thôn bản đóng vai trò thúc đẩy tiên phong
Khi đã thành công đến mức độ nhất định, người tiên phong lại tác động trở lại, giúp xây dựng và vận hành các thiết chế thôn bản có ý nghĩa tích cực đối với giảm nghèo Tại một
số địa bàn, người tiên phong về kinh tế trong giai đoạn trước nay chuyển sang tiên phong trong công tác xã hội, bằng cách góp phần xây dựng và vận hành các thiết chế cộng đồng hướng đến mục tiêu xã hội Ông T.C người Khmer tại xã Thuận Hòa (Trà Vinh) là một trường hợp điển hình Những năm trước đây, ông là người đi đầu tại địa phương trong việc thử nghiệm, nhân rộng các mô hình canh tác mới với sự hỗ trợ của dòng họ, gia đình mở rộng, các Viện nghiên cứu và CT-DA Đến nay, ông lại đi tiên phong trong công tác xã hội qua việc thành lập CLB Bài trừ tệ nạn xã hội của xã (Hộp 2)
Trang 37Lan tỏa
Đoàn kết là yếu tố truyền thống lâu đời trong các cộng đồng DTTS Thông qua những hoạt
động chung của cộng đồng, các thực hành tín ngưỡng, tâm linh, các thiết chế gia đình mở
rộng, dòng họ, hôn nhân (thân thích tộc), mối liên hệ tộc người và xen ghép tộc người…
giúp cho những thực hành mới và hiệu quả được lan tỏa, từ đó giúp giảm nghèo
Các thiết chế chính thức và phi chính thức là kênh lan tỏa chính từ người tiên phong đến
các thành viên khác trong cộng đồng Sức lan tỏa của người tiên phong phụ thuộc nhiều
vào vai trò của người tiên phong trong các thiết chế đó Tại các điểm khảo sát, sức lan tỏa
sẽ lớn hơn nếu người tiên phong là trưởng họ, già làng, người có uy tín, người phụ trách
đoàn thể Hơn nữa, người tiên phong có gia đình hòa thuận, bảo ban được con cái trong
Hộp 2 Từ tiên phong trong làm ăn kinh tế chuyển sang tiên phong về công tác
xã hội
Ông T.C (1943) là một nông dân giỏi người Khmer ở ấp Sóc Chùa, xã Thuận Hòa (Trà
Vinh) Với sự hỗ trợ của gia đình mở rộng, ông là người đi đầu tại địa phương trong việc
thử nghiệm giống và làm mô hình canh tác mới Ông được nhiều Viện nghiên cứu,
CT-DA chọn làm mô hình khảo nghiệm, ví dụ: mô hình lúa sạ hàng, lúa-đậu phộng; đậu
phộng sớm; dưa hấu nghịch mùa; bắp giống… Ông đã nhận được nhiều bằng khen
của UBND tỉnh Trà Vinh và nhiều cơ quan, dự án về thành tích sản xuất giỏi và những
đóng góp cho hoạt động khuyến nông
Đến nay, đa số người dân trong ấp, trong xã đã biết và áp dụng các kỹ thuật tiến bộ
trong sản xuất mà ông T.C đã làm tiên phong Khi đời sống được cải thiện đáng kể,
ông T.C lại là người đi đầu trong công tác xã hội Năm 2012, ông vận động thành lập và
đảm nhiệm chức Chủ nhiệm CLB Bài trừ tệ nạn xã hội của xã Vai trò của CLB là kết hợp
với chính quyền, công an địa phương để giáo dục và cảm hóa những người vướng vào
tệ nạn xã hội
Từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, CLB đã tận dụng những buổi sinh hoạt
tại chùa, hội Sằn Khụm, họp ấp để tuyên truyền Ông T.C còn đến tận nhà các em
thanh niên người Khmer để khuyên nhủ Hoạt động của ông T.C và CLB đã góp phần
giảm hẳn tình trạng trộm cắp, quậy phá và chạy xe ẩu của thanh niên Khmer tại địa
phương Cả năm 2012, trên địa bàn ấp không có trường hợp nào vi phạm cần tới sự
can thiệp của chính quyền