Bảng tóm tắt các lĩnh vực và định hướng đàm phán tương ứng theo Bản khung sơ bộ đàm phán TPP tháng 11/2011 1 Cạnh tranh Tạo lập và duy trì pháp luật và các cơ quan cạnh tranh, đảm bảo
Trang 1HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI
BÌNH DƯƠNG (TPP) – GÓC
NHÌN TỪ NGÀNH NÔNG
NGHIỆP Văn đức mười – tổng giám đốc công ty VISSAN Văn đức mười – tổng giám đốc công ty VISSAN
Trang 2THAM LUẬN
“HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) –
GÓC NHÌN TỪ NGÀNH NÔNG NGHIỆP”
Văn Đức Mười – Tổng Giám đốc Công ty Vissan, Chủ tịch Hội Lương Thực Thực Phẩm TP.HCM
I TỔNG QUAN VỀ TPP
1 TPP là gì?
Đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP – Trans-Pacific Parrtnership) – một Hiệp định thương mại tự do giữa 11 nước hai bờ Thái Bình Dương, bao gồm Việt Nam, Brunei, Singapore, Malaysia, Chile, Úc, New Zealand, Peru, Mexico, Canada và Mỹ - đến nay đã trải qua 17 vòng đàm phán
2 Lịch sử hình thành và diễn biến đàm phán TPP
a Lịch sử hình thành
Đàm phán Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện nay có nguồn gốc từ Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là P4) - một Hiệp định thương mại tự do được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa
4 nước Singapore, Chile, New Zealand và Brunei
Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm phán của Hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ tài chính và đầu tư và trao đổi với Mỹ về khả năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng của P4 Phía Mỹ cũng bắt đầu tiến hành nghiên cứu vấn đề, tham vấn nội bộ với các nhóm lợi ích và Nghị viện về vấn đề này
Tháng 9/2008, USTR thông báo quyết định của Mỹ tham gia đàm phán P4 mở rộng và chính thức tham gia một số cuộc thảo luận về mở cửa thị trường dịch
vụ tài chính với các nước P4 Tháng 11 cùng năm, các nước Úc, Peru và Việt Nam cũng bày tỏ sự quan tâm và tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số thành viên tham gia lên 8 nước (trừ Việt Nam đến 13/11/2010 mới tuyên bố tham gia đàm phán với tư cách thành viên đầy đủ, các nước khác quyết định tham gia chính thức ngay từ đầu) Cũng từ thời điểm này, đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Tuy nhiên đàm phán TPP mới đã bị trì hoãn đến tận cuối 2009 do phải chờ đợi
Mỹ hoàn thành kỳ bầu cử Tổng thống và Chính quyền mới của Tổng thống
Trang 3Obama tham vấn và xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP Tháng 12/2009 USTR mới thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Mỹ tiếp tục tham gia TPP Chỉ lúc này đàm phán TPP mới được chính thức khởi động
b Diễn biến đàm phán TPP
Vòng đàm phán Nơi tổ chức Thời gian Số nước
tham gia Ghi chú
Thứ nhất Melbourne, Úc 15-19/3/2010 8 nước Úc, Mỹ, New
Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Peru
và Việt Nam
Thứ 2 San Francisco, Mỹ 14-18/6/2010 8 nước
Thứ 3 Brunei 4-9/10/2010 9 nước Thành viên mới là
Malaysia Ngày 13/11/2010, Việt Nam tuyên bố tham gia vào TPP với tư cách thành viên đầy đủ, trước đó Việt Nam vẫn tham gia nhưng chỉ với vai trò là thành viên liên kết duy nhất
Thứ 4 Auckland, New
Zealand 6-10/12/2010 9 nước Thứ 5 Santiago, Chile 14-18/2/2011 9 nước
Thứ 6 Singapore 24/3-1/4/2011 9 nước
Thứ 7 Tp Hồ Chí Minh, Việt
Nam 20–21/06/2011 9 nước Thứ 8 Chicago, Mỹ 6-15/9/2011 9 nước
Thứ 9 Lima, Peru 18-28/10/2011 9 nước
Thứ 10 Kuala Lumpur,
Malaysia 5-9/12/2011 9 nước Thứ 11 Melbourne, Úc 1-9/3/2012 9 nước
Thứ 12 Dallas, Texas, Mỹ 8-18/5/2012 9 nước
Thứ 13 San Diego, California,
Trang 4Thứ 14 Leesburg, Virginia, Mỹ 6-15/9/2012 9 nước
Thứ 15 Aucland, New Zealand 3-12/12/2012 11 nước
2 thành viên mới là Mexico và Canada Thứ 16 Singapore 4-13/3/2013 11 nước
Thứ 17 Lima, Peru 15-24/5/2013 12 nước
Thêm thành viên mới là Nhật
Thứ 18 Kota Kinabalu,
Malaysia 14-25/7/2013 12 nước
3 Các vấn đề được đàm phán trong TPP
Tháng 11/2011, một Bản khung sơ bộ (Broad Outline) của đàm phán TPP được các nguyên thủ 09 nước thành viên công bố Theo Bản khung sơ bộ này thì Hiệp định TPP sẽ bao gồm các cam kết trong cả các lĩnh vực thương mại và phi thương mại
Bảng tóm tắt các lĩnh vực và định hướng đàm phán tương ứng theo Bản
khung sơ bộ đàm phán TPP tháng 11/2011
1 Cạnh tranh
Tạo lập và duy trì pháp luật và các cơ quan cạnh tranh, đảm bảo công bằng trong thủ tục thực thi luật cạnh tranh, minh bạch, bảo vệ người tiêu dùng và quyền hành động của khu vực tư nhân
2 Hợp tác và Xây
dựng năng lực
Cơ chế hợp tác và hỗ trợ xây dựng mang tính thiết chế
- Linh hoạt
- Theo cơ chế “yêu cầu - đáp ứng”
3 Dịch vụ xuyên
biên giới
Các nguyên tắc chính điều chỉnh lĩnh vực này:
- Công bằng
- Mở
- Minh bạch
4 Hải quan
- Thủ tục hải quan có thể dự đoán trước, minh bạch, nhanh chóng và thuận lợi cho hoạt động thương mại (hướng tới việc liên kết các doanh nghiệp TPP trong chuỗi cung cấp và sản xuất khu
Trang 5vực);
- Hợp tác hải quan
5 Thương mại
điện tử
- Hướng tới nền kinh tế “số”
- Hướng tới các vấn đề về thuế quan trong môi trường số, chứng thực giao dịch điện tử và bảo vệ người tiêu dùng
6 Môi trường
- Thương mại và môi trường cần phát triển tương hỗ
- Nhấn mạnh việc bảo vệ môi trường và cơ chế giám sát việc thực thi cũng như hợp tác hỗ trợ
Đang thảo luận về một số vấn đề mới như:
- Đánh cá trên biển
- Bảo tồn đa dạng sinh học
- Chống sinh vật ngoại lai
- Biến đổi khí hậu
- Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ môi trường
7 Dịch vụ tài
chính
- Minh bạch, không phân biệt đối xử;
- Đối xử công bằng đối với các dịch vụ tài chính mới
- Bảo hộ đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp
- Đảm bảo chủ quyền của các nước, đặc biệt trong trường hợp có khủng hoảng tài chính
8 Mua sắm chính
phủ
Những nguyên tắc cơ bản và thủ tục đấu thầu công:
- Công bằng
- Minh bạch
- Không phân biệt đối xử
9 Sở hữu trí tuệ
- Dựa trên và phát triển từ TRIPS
- Phản ánh các cam kết đă nêu trong Tuyên bố Doha về TRIPS và
Y tế cộng đồng (Ghi nhận sự cần thiết của việc áp dụng linh hoạt các quy định của TRIPS trong vấn đề quyền tiếp cận thuốc của cộng đồng; nhưng chưa có cơ chế cụ thể cho việc này)
10 Đầu tư
Phạm vi vấn đề đàm phán:
- Không phân biệt đối xử;
- Chuẩn đối xử tối thiểu;
- Quy tắc về tịch thu tài sản;
- Các quy định cấm các yêu cầu cụ thể về hoạt động kinh doanh
Trang 6của nhà đầu tư;
- Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước - nhà đầu tư nhanh chóng, hiệu quả và minh bạch;
- Quyền của nước nhận đầu tư trong việc bảo vệ lợi ích công cộng
11 Lao động
Phạm vi đàm phán:
- Bảo vệ các quyền của người lao động
- Cơ chế đảm bảo hợp tác, phối hợp và đối thoại về các vấn đề lao động
12 Các vấn đề
pháp lý
Các nguyên tắc đảm bảo thực thi Hiệp định:
- Quy tắc giải quyết tranh chấp;
- Các ngoại lệ về vấn đề minh bạch trong quá trình ban hành pháp luật nội địa
13 Thương mại
hàng hóa
Phạm vi đàm phán
- Lộ trình cắt bỏ thuế quan của tất cả các dòng thuế (khoảng 11.000 dòng);
- Quy tắc xuất xứ
- TBT, SPS và Phòng vệ thương mại: Dựa trên nền của WTO (phát triển theo hướng minh bạch hơn và hợp tác hơn)
- Dệt may: Một loạt các quy định liên quan, bao gồm cơ chế hợp tác hải quan, thủ tục thực thi, quy tắc xuất xứ, cơ chế đàm phán đặc biệt
14 Thương mại
dịch vụ
Các nguyên tắc cơ bản:
- Mở cửa tất cả các ngành dịch vụ (không đề cập đến cấp độ “phân ngành”);
- Phương pháp đàm phán: Chọn bỏ + Cho phép đàm phán các ngoại
lệ trong một số lĩnh vực
***TBT (Technical Barriers to Trade): Hàng rào kỹ thuật đối với Thương mại
SPS (Sanitary and Phytosanitary Measures): Biện pháp kiểm dịch động thực vật
II NHỮNG LỢI ÍCH KHI THAM GIA TPP
Trong bối cảnh DN Việt Nam vẫn đang bươn chải để vượt qua khó khăn cả ở trong nước lẫn thị trường nước ngoài, việc chúng ta trông đợi vào một Hiệp định Thương mại
Tự do (FTA – Free Trade Area) với mức độ tự do hóa cao và khả năng tiếp cận dễ dàng
Trang 7hơn vào các thị trường quan trọng cũng là điều dễ lý giải Một số lợi ích mà DN Việt Nam
kỳ vọng vào TPP này:
1 Thứ nhất:
Một hiệp định với mục tiêu xóa bỏ phần lớn thuế quan cho hàng hóa giữa 12 nước TPP sẽ là con đường không thể tốt hơn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tăng sức cạnh tranh về giá khi tiếp cận thị trường các nước đối tác TPP
Là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, lợi thế về thuế quan là rất quan trọng với hàng hóa Việt Nam, đặc biệt ở thị trường Mỹ và khu vực Bắc Mỹ Đây là một thị trường đặc biệt lớn của thế giới, nơi hàng hóa Việt Nam đang phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa đến từ nhiều nước khác trong đó có những đối tác
đã được các nước này cho hưởng ưu đãi thuế quan
Với các nước khác trong TPP (Australia, New Zealand, các nước ASEAN – Association of Southeast Asian Nations – Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, Chile, Peru), lợi thế này từ TPP có thể ít quan trọng hơn, do hàng hóa của chúng
ta đã có thể tiếp cận thị trường các nước này với thuế quan ưu đãi theo các hiệp định đã có (ASEAN-Australia, New Zealand, AFTA – ASEAN Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN…)
2 Thứ hai:
Với việc mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước TPP (thông qua việc cắt giảm thuế quan và các điều kiện khác), có thể kỳ vọng
về một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, với hàng hóa và dịch vụ giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng, với công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phong phú hơn và giá thấp hơn cho sản xuất trong nước, và cả những mô hình, phương thức quản lý mới, hiện đại và hiệu quả hơn cho DN Việt Nam Cùng với đó là kỳ vọng về những lợi ích hữu hình và vô hình từ việc
mở rộng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trong đó có gia tăng sản xuất, công
ăn việc làm, tăng nguồn thu từ thuế…
Tuy nhiên, cùng với các thuận lợi chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức là vấn đề đương nhiên Mở cửa theo một FTA tham vọng như TPP, thách thức càng lớn hơn, dưới hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việt Nam vốn nhỏ bé và ít kinh nghiệm với những “người khổng lồ” đến từ các nước TPP ngay ở thị trường trong nước
Dù vậy, chúng ta đều hiểu rằng cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu trong một nền kinh tế thị trường, ít nhất với tính chất là động lực, là sức ép để các doanh nghiệp, các ngành và cả nền kinh tế phải tự điều chỉnh, tự cải thiện, tiến tới tự hoàn thiện mình Điều này không phải lý thuyết xa xôi mà là thực tế đã được
Trang 8chứng minh sau gần hai thập kỷ nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường, cạnh tranh, mở cửa Cạnh tranh từ các nền kinh tế phát triển, với các quy luật thị trường ổn định và hiện đại như các đối tác TPP càng là cơ hội học hỏi và tiến
bộ tốt hơn
3 Thứ ba:
Từ góc độ quản lý nhà nước, tiếp nối những gì mà WTO – World Trade Organization – Tổ chức Thương mại Thế giới đã mang lại, TPP có thể sẽ lại là cho một làn sóng cải cách về thể chế và hành chính mới, hiệu quả cho Việt Nam Các quy tắc pháp luật, quy trình hành chính và cả cách thức quản lý được chờ mong sẽ minh bạch hơn, công bằng và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế cũng như của doanh nghiệp và người dân
Tất nhiên, nếu so với những thay đổi cơ bản về thể chế và điều hành đã được chúng ta thực hiện một cách hệ thống và trên diện rộng trong giai đoạn trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO, những cải thiện mà TPP hứa hẹn đem lại có thể là nhỏ hơn, hẹp hơn và ở mức độ hạn chế hơn nhiều Mặc dù vậy, những thay đổi có thể mang lại cũng sẽ không kém phần ý nghĩa trong bối cảnh chúng
ta cần có thêm động lực để việc cải cách đi vào chiều sâu, triệt để và thực tiễn hơn
III NHỮNG THÁCH THỨC CẦN ĐỐI MẶT
Bên cạnh những lợi ích mang tính lý thuyết về xuất khẩu của một hiệp định thương mại tự do, ngay từ thời điểm bắt đầu đàm phán, cũng đã có nhiều quan ngại về những nguy
cơ có thực từ các cam kết TPP
1 Nguy cơ mất khả năng cạnh tranh:
Việc giảm thuế quan chắc chắn sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng trong luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam với giá cả cạnh tranh Hệ quả tất yếu là doanh nghiệp đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, thị phần hàng hóa của Việt Nam sẽ bị thu hẹp lại, thậm chí là nguy cơ mất thị phần nội địa Nguy cơ này đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản, vốn là nhóm gắn liền với đối tượng dễ bị tổn thương trong hội nhập là nông dân Ngoài ra, điều này cũng dẫn đến việc doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với nhau và doanh nghiệp nào yếu kém sẽ bị đào thải khỏi thị trường Chỉ doanh nghiệp nào tự thích nghi,
tự điều chỉnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình mới tồn tại được
Ngoài ra, tham gia TPP đồng nghĩa với việc mở cửa thị trường dịch vụ, là mảng hoạt động thương mại mà mức độ mở cửa của Việt Nam là hạn chế và dè dặt
Trang 9nhất từ trước đến nay Việc mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến cho các nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm và danh tiếng lâu năm, có ưu thế về cung cấp dịch vụ trên thế giới "đổ bộ" vào thị trường Việt Nam, khiến cho các đơn vị cung cấp dịch vụ của Việt Nam gặp khó khăn nghiêm trọng và việc mất thị phần
là nguy cơ có thể dự báo trước được
Không những thế, so với các hiệp định khác, TPP hướng tới một sân chơi bình đẳng, không phân biệt quốc gia phát triển hay đang phát triển trong khi WTO vẫn có chính sách ưu tien cho các quốc gia đang phát triển Như vậy, rõ ràng đây là bất lợi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi không có đủ năng lực để cạnh tranh bình đẳng, sòng phẳng với các DN của Mỹ hay Australia
2 Điều kiện xuất xứ trong xuất khẩu hàng hóa phi nông nghiệp:
Đối với việc xuất khẩu hàng hóa phi nông nghiệp mà chúng ta có thế mạnh (dệt may, da giầy, đồ gỗ, điện tử, công cụ, hàng thủ công mỹ nghệ…), để được hưởng thuế 0% hoặc thuế thấp trong TPP, doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện về xuất xứ hàng hóa trong Phụ lục của Hiệp định này Như vậy, đàm phán
về các quy tắc về xuất xứ trong TPP phải đạt được cam kết sao đó để phù hợp với với thực tế thu mua nguyên liệu, phương thức sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam
Trong bối cảnh phần lớn nguyên liệu sản xuất (chiếm tỷ lệ khá cao trong trị giá sản phẩm) của nhiều ngành xuất khẩu của chúng ta đang được nhập từ Trung Quốc, Lào, Hàn Quốc (các nước nằm ngoài TPP) Ví dụ, ngành dệt may của Việt Nam là ngành xuất khẩu chủ lực nhưng 75% nguyên vật liệu phải nhập từ Trung Quốc trong khi Trung Quốc không tham gia TPP Nếu kết quả đàm phán
về xuất xứ trong TPP đòi hỏi trị giá nội địa hoặc nội khối TPP quá cao thì hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ không đáp ứng được điều kiện hưởng ưu đãi thuế trong TPP khi xuất khẩu sang các nước TPP
Thêm nữa, có lẽ không có doanh nghiệp xuất khẩu nào không biết rằng thuế quan chỉ là một phần của câu chuyện xuất khẩu Thuế giảm hoặc được loại bỏ hoàn toàn nhưng các quy định kỹ thuật (còn gọi là các biện pháp “TBT”) khắt khe về bao gói, nhãn mác, về mức độ/dư lượng hóa chất tối đa trong sản phẩm,
về tính hợp pháp của nguyên liệu sử dụng… có thể là những rào cản khiến hàng hóa Việt Nam, thậm chí là không có đường vào thị trường các nước TPP Lợi ích thuế quan trong TPP vì vậy cũng sẽ chỉ là “lợi ích trên giấy”
3 Sản xuất nông nghiệp và nông thôn:
a Đối với thị trường trong nước
Trang 10 Việt Nam phải mở cửa thị trường, tức phải loại bỏ 100% dòng thuế (thuế quan nhập khẩu) đối với các sản phẩm nông nghiệp, trong khi rào cản kỹ thuật chưa
có hoặc không cao, nên thị trường nội địa cũng gặp bất lợi
Đối với Việt Nam, với tính chất là một nước có khu vực sản xuất nông nghiệp khá lớn, Việt Nam có nhu cầu cao trong việc yêu cầu các đối tác mở cửa thị trường nông nghiệp cho nông sản Việt Nam Vấn đề khó khăn là ở chỗ các nước TPP đều có xu hướng đàm phán hạn chế, giữ bảo hộ đối với nông sản nội địa (không mở cửa)
Trong khi đó, vì nền nông nghiệp của Việt Nam chưa được bền vững, thu nhập không cao và nhóm nông dân đồng thời là nhóm dễ bị tổn thương trong hội nhập nên Việt Nam cần bảo hộ một số lĩnh vực nhất định trước sức ép cạnh tranh từ bên ngoài (giữ mức thuế cao trong một số dòng thuế, đặc biệt là với những sản phẩm mà các nước TPP có thế mạnh )
b Đối với thị trường xuất khẩu
Rào cản kỹ thuật của các nước sẽ khắt khe hơn, trong khi năng lực cạnh của Việt Nam không cao dẫn đến khó tận dụng lợi ích từ việc giảm thuế quan
Điều này gây bất lợi cho nông sản Việt Nam dù thuế suất có là 0%, đó là một
số nước thuộc TPP đang ra sức bảo hộ, hạn chế nhập khẩu nông sản để bảo vệ nền nông nghiệp trong nước Nông sản là vấn đề rất khó đàm phán vì từ xưa đến nay trong khuôn khổ đàm phán các hiệp định tự do thương mại hay gia nhập WTO nông sản luôn là lĩnh vực được các nước bảo hộ mạnh mẽ
Vấn đề TBT (hàng rào kỹ thuật thương mại) và SPS (biện pháp vệ sinh dịch tễ) rất quan trọng đối với khả năng tiếp cận thị trường các nước của nông sản Việt Nam bởi dù thuế quan (nhập khẩu vào các nước) có được cắt bỏ hết nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao gói của các nước vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí
là còn rủi ro hơn nhiều so với thuế quan
Đàm phán TPP trong vấn đề này hiện hầu như không giải quyết được vướng mắc này của Việt Nam vì các nội dung đàm phán không đề cập tới vấn đề hạn chế quyền ban hành các điều kiện SPS, TBT mới của các nước TPP (và vì vậy các nước này vẫn được đơn phương đưa ra các điều kiện SPS, TBT mới hoặc điều chỉnh, từ đó ngăn chặn việc nhập khẩu của nông sản Việt Nam vào các nước này) Thực tế, đàm phán chỉ xoay quanh vấn đề hợp tác để xử lý vướng mắc, một vấn đề chỉ liên quan tới rút ngắn thời gian xử lý khiếu nại, còn các điều kiện kiểm dịch thì vẫn giữ nguyên