1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học một số vấn đề về PHƯƠNG PHÁP LUẬN hồ CHÍ MINH và ý NGHĨA TRONG NGHIÊN cứu tư TƯỞNG TRIẾT học hồ CHÍ MINH

30 637 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 253 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hoá thế giới. Người đã cống hiến trọn đời mình cho nước cho dân. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là những chuẩn mực giá trị đạo đức lối sống. Người là hiện thân của những giá trị chuẩn mực đạo đức cao đẹp của người Việt Nam. Những tư tưởng và chuẩn mực giá trị đạo đức của Người cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị vĩnh hằng; vẫn mãi là cẩm nang thần kỳ cho mọi thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng. Cả cuộc đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, mặc dù với Người chưa hề có một bài viết hay một công trình nghiên cứu riêng về triết học, song tất cả những quan điểm, tư tưởng, việc làm và những chuẩn mực giá trị của Người lại chứa đựng một nội dung phương pháp luận, một thế giới quan, nhân sinh quan và một triết lý hành động sâu sắc.

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH VÀ ÝNGHĨA TRONG NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam – Anhhùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hoá thế giới Người đã cống hiến trọnđời mình cho nước cho dân Cuộc đời và sự nghiệp của Người là những chuẩnmực giá trị đạo đức lối sống Người là hiện thân của những giá trị chuẩn mực đạođức cao đẹp của người Việt Nam Những tư tưởng và chuẩn mực giá trị đạo đứccủa Người cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị vĩnh hằng; vẫn mãi là cẩm nangthần kỳ cho mọi thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ chiến sĩ trong lựclượng vũ trang nhân dân nói riêng Cả cuộc đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhândân, mặc dù với Người chưa hề có một bài viết hay một công trình nghiên cứuriêng về triết học, song tất cả những quan điểm, tư tưởng, việc làm và nhữngchuẩn mực giá trị của Người lại chứa đựng một nội dung phương pháp luận, mộtthế giới quan, nhân sinh quan và một triết lý hành động sâu sắc

Bất kỳ một tư tưởng, một học thuyết nào cũng đều là sự kết hợp biệnchứng của những điều kiện khách quan với nhân tố chủ quan trong những điềukiện lịch sử nhất định Đây là một vấn đề có tính quy luật Do đó, tư tưởng triếthọc Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Tư tưởng triết học

Hồ Chí Minh được hình thành từ những cơ sở lý luận và thực tiễn cùng với phẩmchất nhân cách, tố chất đặc biệt của chính Hồ Chí Minh, trong bối cảnh thời đại

Hồ Chí Minh

Trước hết là bối cảnh quốc tế và trong nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX Khi mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và

đã đặt ách đô hộ ở nhiều nước thuộc địa trên thế giới, làm cho mâu thuẫn thờiđại lúc này trở nên gay gắt và chiến tranh thế giới đã nổ ra làm cho chủ nghĩa tư

Trang 2

bản lâm vào khủng hoảng Tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạngcủa giai cấp công nhân phát triển trong những năm đầu của thế kỷ XX Lúc nàychủ nghĩa Mác đã trở thành hệ tư tưởng chính thống của phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế – thời kỳ bão táp cách mạng đã bắt đầu Nhất là khi cáchmạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triểncủa lịch sử xã hội loài người.

Ở Việt Nam giai đoạn này thực dân Pháp thực hiện chế độ cai trị hà khắc,đời sống của nhân dân lầm than cơ cực, các phong trào chống Pháp nổ ra đều bịthất bại Cách mạng Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng

về đường lối chính trị, con đường cứu nước rơi bế tắc, tiền đồ của dân tộc đen tối

“tưởng chừng như không có đường ra” Vận mệnh lịch sử của dân tộc đã lựa

chọn và giao phó cho Nguyễn Ái Quốc Vượt qua những hạn chế của các sĩ phuyêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra xu thế phát triển tất yếu củathời đại mới do cách mạng Tháng Mười mở ra và Người đã tìm thấy con đườngcứu nước đúng đắn cho dân tộc - đó là “con đường cách mạng vô sản”

Hồ Chí Minh – vị kiến trúc sư hàng đầu, tiêu biểu nhất của cách mạng ViệtNam trong thế kỷ XX Người đã đặt nền móng cho con đường phát triển của xãhội Việt Nam trong thế kỷ này – con đường từ độc lập dân tộc tới chủ nghĩa xãhội, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội Không chỉ là nhà tư tưởng, nhà mácxít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh còn là nhà chính trị lỗi lạccủa dân tộc với đường lối độc lập tự chủ và chiến lược đại đoàn kết nổi tiếng, kếthợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc

tế đã làm nên sức mạnh và thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh là

sự kết hợp và toả sáng những tinh hoa tốt đẹp, cao quý nhất của trí tuệ, tâm hồn,đạo đức và tình cảm của con người Việt Nam

Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và của dân tộc Việt Nam, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào

Trang 3

cách mạng và công nhân quốc tế Tư tưởng của Người là niềm tin, là ngọn cờthắng lợi của cách mạng Việt Nam, là di sản tinh thần vô cùng quý báu củaĐảng, dân tộc Việt Nam Nội dung tư tưởng của Người khá toàn diện và phongphú từ đường lối cách mạng đến các lĩnh vực cụ thể, từ tư tưởng đến đạo đức tácphong, từ lời nói đến việc làm Trong những di sản mà Người để lại cho chúng

ta, vấn đề phương pháp luận Hồ Chí Minh có một vị trí rất quan trọng Phươngpháp Hồ Chí Minh và cùng với đó là phong cách của Người đã làm cho tư tưởng

và triết lý của Người vốn đã vô cùng sâu sắc, tinh tuý lại càng trở nên sâu sắc,sống động, hấp dẫn hơn Phương pháp luận Hồ Chí Minh đã làm lấp lánh thêm

vẻ đẹp tư tưởng Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng mác xít hiện đại mang cốt cáchhiền triết Á Đông và Việt Nam

Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin trình bày vấn đề phương phápluận Hồ Chí Minh và ý nghĩa trong nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

1 Hướng tiếp cận phương pháp luận Hồ Chí Minh

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta xác định: Chủ nghĩa Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạtđộng Từ đây tư tưởng Hồ Chí Minh mới được đặt ra và nghiên cứu một cách cơbản có hệ thống Tuy nhiên đây là công việc không hề đơn giản, bởi lẽ Ngườikhông bao giờ có chủ đích lập ngôn, không bao giờ có ý định xây dựng mặt triếtthuyết, mà mọi hoạt động của Người đều giành cho một mục đích cao cả, mộtham muốn tột bậc là làm cho nước nhà độc lập, nhân dân tự do, ai cũng có cơm

ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, tiến bộ và hạnh phúc - đó là lẽ sống củaNgười

Tiếp cận phương pháp luận Hồ Chí Minh còn khó khăn, phức tạp hơn,bởi phương pháp cũng như phong cách của Người thầm sâu trong hành động,trong suy nghĩ và trong cách ứng xử của Người, với con người và trong côngviệc Trên bình diện lý luận, nhiều luận điểm của Người vừa thể hiện quan điểm,

Trang 4

tư tưởng, lại vừa hàm chứa ý chỉ dẫn về phương pháp Văn của Người bao giờcũng cụ thể, thiết thực, gợi cảm một cách trực tiếp mà vẫn giàu sức khái quát,liên tưởng, ở đó tư tưởng thấm vào trong phương pháp và phong cách của Người

và phương pháp thể hiện phong cách và hàm chứa sự phong phú, sâu sắc, tinh tếcủa tư tưởng Trên bình diện hoạt động thực tiễn, mỗi hành động của Người ởmọi phương diện, Hồ Chí Minh bao giờ cũng hướng tới lợi ích thiết thân hàngngày của quần chúng nhân dân, và hoàn toàn xa lạ với tất cả những gì phùphiếm, khoa trương, hình thức, xa dân Cả cuộc đời Người là sự thực hành bền

bỉ và nêu gương sáng về điều đó Tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ ChíMinh không chỉ thể hiện ở lời nói mà còn thể hiện ra trong việc làm, trong hànhđộng Do đó, nghiên cứu phương pháp luận Hồ Chí Minh không thể chỉ dừng lại

ở những tác phẩm của Người để tìm trong đó những kiến giải về phương pháp,

mà còn phải tìm phương pháp của Người trong cuộc sống, trong thực tiễn đấutranh cách mạng Hồ Chí Minh không chỉ thực hành phép biện chứng trong cuộcsống, trong đấu tranh cách mạng một cách thuần thục, và ở Người không chỉnhận thức rằng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất, thểhiện bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà Người cònthực hành quan niệm đó một cách nhất quán, nhuần nhuyễn

Với Hồ Chí Minh, lý luận được thấm sâu vào trong thực tiễn, biến thànhphương pháp, trở thành tư tưởng thông qua tư duy khoa học, độc lập, sáng tạo củaNgười Người đề cập tới lý luận, trình bày các vấn đề lý luận một cách thực tiễn,linh hoạt, uyển chuyển, tự nhiên, bởi Người nắm lấy thực chất lý luận đó ở tinhthần và phương pháp của nó để soi sáng thực tiễn chứ không bó buộc bởi nhữngkhái niệm, phạm trù một cách hình thức cứng nhắc

Nhận thức được vai trò của thực tiễn, Hồ Chí Minh luôn bám sát thực tiễn,phân tích thực tiễn với sự sâu sắc và làm chủ lý luận, nhờ đó đưa lý luận vào thựctiễn, kết hợp lý luận với thực tiễn và thống nhất lý luận và thực tiễn một cách nhịpnhàng uyển chuyển và tự nhiên Như vậy, phong cách Hồ Chí Minh mà trước hết

Trang 5

là phương pháp tư duy sáng tạo, là nhà biện chứng mà sự nổi trội ở Người là sựthực hành phép biện chứng Người luôn nhấn mạnh: lý luận phải đi đôi với thựctiễn, phải khắc phục tình trạng lý luận suông, thực tiễn mù quáng Đồng thờiNgười cũng chỉ rõ: Học tập, nghiên cứu lý luận Mác – Lênin là phải nắm vữngtinh thần và phương pháp của nó để ứng xử với con người và công việc, dùng lýluận làm kim chỉ nam cho công việc, chứ không phải thuộc lòng câu chữ.

Về phương pháp của mình, Hồ Chí Minh có một tổng kết rất tiêu biểu,trong đó lý luận và thực tiễn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau, là đều kiện tiền đềcho nhau, trong đó lý luận và tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận mới có vai trò

và tác dụng quan trọng không thể thiếu để làm nên phương pháp khoa học Người

viết: “Thực hành sinh ra hiểu biết

Hiểu biết tiến lên lý luận

Lý luận lãnh đạo thực hành”1.

Từ những vấn đề đã trình bày ở trên có thể thấy rằng: Phương pháp luận

Hồ Chí Minh là một hệ thống chỉnh thể, thống nhất hữu cơ giữa phương phápnhận thức, phương pháp tư duy và phương pháp hành động

Trong phương pháp luận Hồ Chí Minh các yếu tố trên gắn bó mật thiết vớinhau tạo một chỉnh thể toàn vẹn, cái này bao chứa cái kia và ngược lại Điều đóphản ánh và in đậm dấu ấn độc đáo riêng biệt của nhân cách Hồ Chí Minh.Phương pháp luận Hồ Chí Minh là sản phẩm của dân tộc và thời đại, là sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại trong tiến trình phát triển cách mạng

mà Hồ Chí Minh là người thể hiện

Đối với Hồ Chí Minh, Người rất chú trọng phương pháp, người có chínhkiến, tư tưởng và có phương pháp riêng của mình, nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờxem mình là một nhà tư tưởng, nhà phương pháp Đó chính là sự vĩ đại của tư

1 Hồ Chí Minh, to n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 5, tr 247.

Trang 6

tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh, một vị lãnh tụ suốt đời thân dân, gần dân, vìdân Ở Người tư tưởng – phương pháp, tác phong không thể tách rời, đặc biệtkhông thể tách rời đạo đức, lối sống, nhân cách của Người, bởi vì, phương phápluận Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị và ý nghĩa của phương pháp cách mạngViệt Nam mà còn là phương pháp sống ở đời và làm người được bạn bè các tộctrên thế giới ngưỡng mộ và noi theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt, bền vững, bởi tư tưởng ấyđược xây dựng trên một nền tảng triết lý sống, một tư tưởng nhân văn, nhân đạo cao

cả và một phương pháp luận khoa học – cách mạng Xung quanh vấn đề phươngpháp luận Hồ Chí Minh có nhiều cách tiếp cận khác nhau, vạch ra những khía cạnh

cụ thể khác nhau, song đều tựu chung lại ở những triết lý, hành động của Người

Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu cho rằng: “Cụ chưa hề nói tới phương pháp luận, nhưng trong hoạt động chính trị – văn hoá của Cụ, người nghiên cứu dường như trông thấy một số lề lối có thể gọi là phương pháp luận, phương pháp tư tưởng”2 Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm thì cho rằng: “Trong hệ thống

tư tưởng Hồ Chí Minh, một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, một cống hiến đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phương pháp luận đã đạt đến trình độ mới trong xem xét và giải quyết thực tiễn, vượt lên trên nhiều người đương thời trong thế hệ chúng ta để trở thành người kế tục hiếm hoi những nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật trong thời đại mới”3

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp giữa truyềnthống văn hoá Việt Nam với tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây, với chủnghĩa Mác – Lênin, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở thế giới quan phươngpháp luận, khái quát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới từ những nămcuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX Phương pháp luận của Hồ Chí Minh, về cơbản là phương pháp luận Mác – Lê nin, là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

2 Trần Văn Gi u, Nghiên c àn t ứu tư tưởng Hồ Chí Minh , Viện Hồ Chí Minh , HN, 1993, tập 2, tr 47

Trang 7

nghĩa duy vật lịch sử Nhưng, phương pháp luận Mác – Lê nin được Hồ Chí Minhtiếp thu có sự bổ xung phát triển mang những sắc thái, đặc trưng mới độc đáo của

Hồ Chí Minh Sự độc đáo mang dấu ấn riêng của Người chính là sự “chế biến” tàitình những tinh hoa của dân tộc và thế giới để tạo nên nét đặc sắc của Người

2 Một số quan điểm, nguyên tắc cơ bản trong phương pháp luận

Hồ Chí Minh

2.1 Quan điểm thực tiễn và nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn

Đây là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản xuyên suốt có ý nghĩa cơ sởxuất phát và quyết định mọi nhận thức, tư duy của Hồ Chí Minh

Là một con người của thực tiễn, Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn

và hết sức coi trọng thực tiễn Chính xuất phát từ yêu cầu thực tiễn Việt Nam cuốithế kỷ XIX mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết định đi sang phươngTây để tìm đường cứu nước, và chính từ thực tiễn của quá trình bôn ba khắp nămchâu bốn biển, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lê nin, tìm ra con đường cứunước Từ thực tiễn và tồn tại phát triển của xã hội Việt Nam, Người đã vận dụngsáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin, tìm ra bản chất, quy luật vận động đặc thù của

xã hội Việt Nam, đề ra đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo cho cáchmạng Việt Nam Tổng kết cách mạng Việt Nam, Người đã rút ra kết luận: Nếu kếthợp đúng đắn những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễnnước ta thì sẽ giành thắng lợi Ngược lại, sẽ dẫn đến sai lầm

Với tư duy biện chứng, mặc dù rất coi trọng thực tiễn, song Hồ Chí Minh cũng

đã nhận thức và đánh giá đúng vai trò, ví trí của lý luận đối với thực tiễn Ngay từ tác

phẩm “Đường cách mệnh”, Người đã nhấn mạnh: “Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam” 4 Nhưng lý luận phảigắn với thực tiễn, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Người khẳng định: Sự thống nhất

4 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 2, tr 268.

Trang 8

giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin Học tậpchủ nghĩa Mác – Lênin là học tập tinh thần, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,học lập trường, phương pháp cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin để mà giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo chứkhông phải là dừng lại ở câu chữ, không phải học tập, vận dụng một cách giáo điều,máy móc.

Theo Hồ Chí Minh, lý luận chính là sự khái quát từ thực tiễn và quay trở lạichỉ đạo thực tiễn Do đó, Người rất coi trọng tổng kết kinh nghiệm, xem tổng kết

kinh nghiệm là một biện pháp để thực hiện “thống nhất lý luận với thực tiễn”,

vừa nâng cao trình độ lý luận vừa nâng cao trình độ hoạt động thực tiễn Ngườichỉ rõ nguyên nhân của bệnh chủ quan, duy ý chí là do kém lý luận, coi thường lýluận, hoặc lý luận suông Người yêu cầu phải gắn lý luận với thực tiễn, tránh lýluận suông, tránh thực tiễn mù quáng; coi trọng thực tiễn nhưng không đồng nghĩavới thực dụng, thiển cận, kinh nghiệm chủ nghĩa; coi trọng học tập lý luận nhưngkhông giáo điều, không tầm chương trích cú, phải học tập lấy cái tinh thần,phương pháp của lý luận để vận dụng vào thực tiễn

Kết hợp lý luận với thực tiễn, giữa biết với làm, lời nói đi đôi với việc làm …

là một đặc trưng sâu sắc trong phong cách, tác phong và phương pháp Hồ Chí Minh

2.2 Nguyên tắc toàn diện, hệ thống, trọng điểm và thiết thực

Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển nguyên tắc toàn diện trên cơ sở thực tiễn.Phát triển nguyên tắc toàn diện trong tính chỉnh thể hệ thống có trọng điểm vàthiết thực Đây là nguyên tắc cơ bản phản ánh phong cách, phương pháp Hồ ChíMinh trong xem xét đánh giá và giải quyết công việc

Trong xem xét, đánh giá xã hội, Hồ Chí Minh luôn phân tích toàn diện tất

cả các mặt của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; cả quákhứ, hiện tại và tương lai, cả truyền thống và hiện đại Quan điểm này đã được

Trang 9

Người vận dụng trong việc lựa chọn con đường cứu nước, trong chỉ đạo cuộckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong việc giành chính quyền về taygiai cấp cách mạng.

Khi xem xét, đánh giá con người, Hồ Chí Minh luôn chú ý toàn diện cảnhận thức, ý thức, tình cảm và cả khả năng hoạt động thực tiễn; cả đức và tài, cảmặt mạnh lẫn mặt yếu; cả cá nhân, tập thể và cộng đồng

Trong đánh giá sức mạnh, trong so sánh lực lượng, Người coi trọng tất cảcác yếu tố, đánh giá toàn diện, hệ thống các yếu tố tạo thành sức mạnh tổng hợp:kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự … cả sức mạnh vật chất lẫn sức mạnh tinhthần, cả sức mạnh truyền thống-hiện tại-tương lai, cả sức mạnh dân tộc và sứcmạnh thời đại, cả thế và lực, cả thiên thời, địa lợi và nhân hoà

Quan điểm và phương pháp toàn diện của Hồ Chí Minh là cơ sở để Đảng

ta định ra đường lối chiến lược, sách lược trong chỉ đạo và tiến hành cách mạnggiành thắng lợi

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm toàn diện mác xít, Hồ Chí Minhcũng đã đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng yếu tố và sự tác động biện chứng củacác yếu tố đó trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất Để từ đó xác địnhtính thiết thực, tính trọng điểm trong hệ thống toàn diện ấy

Do đó, theo Hồ Chí Minh, cần nắm vững toàn diện, hệ thống, nhìn xa,trông rộng, đồng thời phải chú ý trọng điểm, cụ thể, thiết thực Người chỉ rõ: Làmviệc gì cũng phải có trọng tâm, trọng điểm, cụ thể, thiết thực Nói được, làm được,đến được với mọi người; kế hoạch một, biện pháp mười, chiến lược thì phải nhìn

xa trông rộng, kế hoạch thì phải cụ thể, chu đáo

Nguyên tắc toàn diện, kết hợp với trọng điểm, nhìn xa trông rộng với cụ thể,thiết thực, trở thành phong cách, phương pháp của Hồ Chí Minh trong xem xét và

Trang 10

giải quyết công việc Một biểu hiện sinh động, chân thực cho phương pháp toàndiện cụ thể, trọng điểm trong phương pháp luận Hồ Chí Minh đó là: Sau cách mạngTháng Tám, trước muôn ngàn công việc, khó khăn phức tạp phải làm, phải đối phó,trong buổi họp đầu tiên của chính phủ, Người đã đề ra sáu nhiệm vụ cụ thể, thiết

thực, sau đó lại khái quát lại thành ba nhiệm vụ lớn: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” 5, mà mọi người, mọi cấp đều phải nhớ và quyết tâm thựchiện

Lúc còn sống, Người và Bộ Chính trị thường xuyên có những buổi họp thân

mật để trao đổi ý kiến, những buổi họp mà Người thường nói vui là để “nhìn quanh chân trời”, ý nói nhìn toàn cục tình hình thế giới va trong nước, xem nổi lên những

vấn đề gì cấp bách cần phải giải quyết Cũng trong những buổi họp đó, Ngườithường nhắc nhở phải nhìn toàn cục, chớ có địa phương cục bộ, phiến diện Nhữngvấn đề giao cho đồng chí, hay bộ phận có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét, chuẩn

bị, đưa ra Bộ Chính trị thảo luận và giải quyết Chính trong một cuộc họp như vậy,

Bộ Chính trị đã phát hiện ra sai lầm trong cải cách ruộng đất và cũng đã đưa rađược những quyết sách để giải quyết, khắc phục, sửa sai những sai lầm khuyết điểmđó

2.3 Phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn với phương thức, phương pháp phù hợp có hiệu quả nhất

Trong quá trình hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc, giai cấp, xây dựng xãhội mới là quá trình phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Chính trong quátrình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng của chủ nghĩaMác – Lênin để phân tích hình thái kinh tế - xã hội của Việt Nam và cục diện thế giớinhằm xác định những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở

đó đề ra con đường cách mạng giải quyết mâu thuẫn, đưa sự nghiệp cách mạng đếnthắng lợi Ngay từ những năm 1930, trên cơ sở phân tích, nhận thức được điều kiện

5 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 6, tr 163.

Trang 11

lịch sử đặc thù của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử thế giới, trong “Chính cương vắn tắt” do Người soạn thảo đã vạch ra hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt

Nam lúc đó là: Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫngiữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến Việt Nam Từ đó, Người chỉ ra nhiệm

vụ của cách mạng Việt Nam là phải làm cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạngthổ địa, sau đó bỏ qua chủ nghĩa tư bản và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn là phải đi sâu phân tích,nắm thật vững tính chất, đặc điểm, xu thế của từng mặt đối lập và quy luật vận độngcủa mâu thuẫn mà tác động vào các mặt đối lập bằng phương thức, phương pháp phùhợp có hiệu quả nhất

Thừa nhận mâu thuẫn tồn tại trong mọi sự vật, tồn tại trong mọi sự việc,nhưng mỗi loại mâu thuẫn lại cần có phương thức, phương pháp giải quyết khácnhau sao cho có hiệu quả Trong giải quyết những mâu thuẫn xã hội, Hồ ChíMinh hết sức coi trọng phân hoá, thu hẹp, cô lập tới mức cao nhất kẻ thù của cáchmạng, đồng thời hết sức coi trọng đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết được,tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, kể cả những lực lượng, cá nhân từ phíamặt đối lập, từ phía kẻ thù; tạo nên sự so sánh lực lượng có lợi nhất cho cách

mạng, tạo điều kiện tiêu diệt triệt để mặt đối kháng theo tinh thần: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch chúng đi”6

Trong những năm tháng đầu tiên sau khi cách mạng Tháng Tám thànhcông, tình thế đất nước lâm vào cảnh thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh đã khéoléo lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù giữa Anh-Pháp-Tưởng tìm cách phânhoá nội bộ của chúng để tìm ra cách giải quyết thích hợp; từ đó tập trung mũinhọn vào kẻ thù chính của dân tộc là thực dân Pháp, nhờ đó mà giữ vững đượcchính quyền cách mạng trong điều kiện ngàn cân treo sợi tóc Đảng ta đã từng

6 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 12, tr 407.

Trang 12

tổng kết và coi đó là một mẫu mực thành công về phát hiện mâu thuẫn và giảiquyết mâu thuẫn.

Với nhãn quan chính trị nhạy bén và sâu sắc, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện

ra mâu thuẫn khi nó mới xuất hiện, đặc biệt trong những bước ngoặt lịch sử Khiquân Đồng minh thắng Nhật, Người đã nhận thấy thực dân Pháp sẽ quay trở lạixâm lược nước ta, hoặc ngay sau chiến thắng Điện biên phủ, Người đã sớm thấy rõ

Mỹ sẽ thay chân Pháp xâm lược nước ta và dân tộc ta còn phải tiếp tục đánh Mỹ

Trong quan hệ nội bộ, khi xuất hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, cáchgiải quyết của Người là phát huy mặt tích cực, nêu cao tinh thần đồng chí, yêuthương nhau; đề cao phê bình và tự phê bình, đặc biệt là tự phê bình, biến đại sựthành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự, có lý có tình, bảo đảm sự đoàn kết thốngnhất vì sự nghiệp chung

Trên cơ sở nắm vững tư tưởng bản chất của phép biện chứng, là “tự thân vận động”, “tự thân phát triển”, thông qua đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên

trong Trong xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng cho ngang tầm với nhiệm vụ cách

mạng, Người luôn nêu cao tinh thần “tự chỉnh đốn”, “tự đổi mới” để chiến thắng giặc “nội xâm”, chiến thắng giặc “ngoại xâm” Vận dụng quy luật phê

bình và tự phê bình, Người luôn nhắc nhở là phải coi trọng cả phê bình và tự phê

bình, nhưng trước hết là phải đề cao “tự phê bình”, tự phê bình thường xuyên,

hằng ngày như soi gương rửa mặt Trong kháng chiến và kiến quốc, Hồ Chí

Minh và Đảng ta luôn nêu cao tinh thần “độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường”, và

đề ra phương châm “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ sự chi viện quốc tế”.

2.4 Quan điểm phát triển, đổi mới, hướng về cái mới

Trang 13

Trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, nguyên tắc phát triển được quántriệt, vận dụng hết sức phong phú, gắn với sự đổi mới, phát triển của cách mạng,của xã hội và của mỗi con người.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng là đổi mới, xã hội và con người cũngluôn đổi mới Do vậy, cần nắm vững quy luật, xu hướng phát triển của cách mạng,của xã hội, của con người; nhạy bén phát hiện cái mới, tin tưởng ở cái mới, bồidưỡng và phát huy cái mới để mà tiến lên Đồng thời, phải phê phán cái bảo thủ, lạchậu

Nắm vững quy luật, xu hướng phát triển của cách mạng, của cuộc khángchiến, kết hợp với những tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh đã cónhững dự báo hết sức đúng đắn, thần kỳ Ngay khi cách mạng còn trong bóng tối,

từ những năm 1940 -1942, khi cách mạng mới chuyển lên cao trào, trong diễn ca

“Lịch sử nước nhà”, Người đã dự đoán: “1945 – cách mạng thành công” Ngay

trong lúc khó khăn phức tạp nhất của cuộc kháng chiến chống Pháp, Người vẫnrất lạc quan, tin tưởng vào sự thành công của cuộc kháng chiến ấy, Người đã nói:

“Ngày nay tuy châu chấu đá voi Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”7

Trong những ngày vô cùng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu

nước của nhân dân ta, Người đã chỉ rõ: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân ta dù phải kinh qua gian khổ, phải hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn”8; và Người cũng khẳng định: “Còn non, còn nước, còn người; Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”9

Trong xem xét và hành động, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc phát hiện cáimới, tin ở cái mới, thực hiện cái mới, luôn chú ý ủng hộ vun đắp cái mới, Người chỉ

rõ: “Xã hội, con người đều đổi mới, không đổi mới là lạc hậu” Người đã trực tiếp

7 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995,tập 6, tr 164.

8 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995,tập 12, tr 509

9 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995,tập 12, tr 511

Trang 14

“Đời sống mới”, “Người tốt, việc tốt”… lấy thi đua yêu nước làm động lực, khuyến

khích sáng tạo, xây dựng điển hình tiên tiến, thúc đẩy nhân tố mới phát triển

Trong “Di chúc” của mình để lại, Người căn dặn: Phải xoá bỏ cái cũ, đem

lại cái mới; xoá bỏ cái xấu xa, đem lại cái tốt tươi Đó là một công việc khổng lồ,phải động viên toàn Đảng, toàn dân mới làm được

2.5 Quan điểm về con người, quan điểm về nhân dân

Tư tưởng về con người, về nhân dân được Hồ Chí Minh kế thừa từ những tinh

hoa của dân tộc, đó là tư tưởng: “Nước lấy dân làm gốc”, “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”… Đồng

thời, Người cũng quán triệt quan điểm mác xít: Cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng nhân dân Từ những kinh nghiệm hoạt động cách mạng của mình, Hồ ChíMinh đã nêu cao quan điểm về con người, về nhân dân: Tất cả vì con người và docon người, tất cả vì dân và do dân; con người là vốn quý nhất, to lớn nhất Tư tưởngnhân văn đó của Hồ Chí Minh được thể hiện trên nhiều phương diện:

Trước hết, đó là triết lý sống, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh: Sống vìnước, vì dân, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xã hội, con người

Không chỉ là triết lý sống, mà nó còn trở thành mục tiêu chiến lược pháttriển con người – con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, mọi sự phát triển

đều hướng vào con người, vì con người, do con người và cho con người “Phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui hạnh phúc” 10 Phải dựa vào sức mạnh, trí tuệ của nhân dân Do đó, phải hết sứcquan tâm đến giáo dục, đào tạo, đến chính sách khoa học, công nghệ, đến sựnghiệp trồng người và chính sách bồi dưỡng nhân lực, phát triển nhân tài cho đấtnước

10 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 8, tr 494

Trang 15

Với Hồ Chí Minh, quan điểm về con người, về nhân dân còn được thể hiện

ở tư tưởng chính trị – xã hội, khẳng định vai trò của nhân dân: “dân làm chủ”,

“dân làm gốc” Bao nhiêu lợi ích đều thuộc về dân, bao nhiêu quyền lực đều của

dân; mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi nhân dân Trong công cuộc kháng

chiến phải “động viên toàn dân, vũ trang toàn dân” Trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước cũng phải “động viên nhân dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Quan điểm về nhân dân, về con người của Hồ Chí Minh đã trở thành tácphong, phương pháp công tác và là lẽ sống của Người: Tin ở dân, dựa vào dân,

học hỏi dân, có dân là có tất cả “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”11 Trong tư tưởng của Người về nhân dân, về con người vớinhững nét đắc sắc riêng có: Vì dân nhưng không phải theo kiểu ban ơn, quý dânnhưng không phải là sự thương sót của kẻ bề trên, trồng người phải quan tâm pháthuy sức mạnh của dân, lấy sức dân để giải phóng cho dân

2.6 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai cấp

Đây là một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản trong giải quyết nhữngvấn đề xã hội của Hồ Chí Minh, Người đã giả quyết mối quan hệ này rất phù hợp

và sát với tư tưởng của người phương Đông

Trong xem xét động lực phát triển xã hội, người không chỉ dừng lại ở

nguyên lý chung của chủ nghĩa duy vật lịch sử coi “đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng” và “quan hệ giai cấp là quan hệ

xã hội cơ bản chi phối toàn bộ những quan hệ khác trong xã hội có giai cấp”.

Xuất phát từ thực tiễn lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộcViệt Nam, từ tính chất xã hội Việt Nam từ khi thực dân Pháp xâm lược, thống trị.Trên cơ sở kế thừa quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh

11 Hồ Chí Minh, To n t àn t ập, Nxb CTQG, HN, 1995, tập 12, tr 212.

Ngày đăng: 08/10/2016, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w