1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên

55 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 640,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi trả bảo hiểm xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH góp phần thực thi chính sách bảo hiểm xã hội của Đảng và Nhà nước đối với người lao động.. Có thể đưa ra khái niệm về BH

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐÀO THẾ KHOA

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế

Mã số: 60 - 34 - 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Chí Thiện

THÁI NGUYÊN - 2012

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên” là công trình

nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Chí Thiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đều

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Thái Nguyên, ngày 23 tháng 7 năm 2012

Tác giả luận văn

Đào Thế Khoa

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi

lời cảm ơn đến PGS.TS Trần Chí Thiện - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp

đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa kinh tế, phòng

Quản lý đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trong và ngoài Trường Đại

học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, đã trực tiếp giảng dạy

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế & QTKD - ĐHTN

đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi theo học và hoàn thiện khóa học này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn

thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên

cứu đề tài

Thái Nguyên, ngày 23 tháng 7 năm 2012

Tác giả luận văn

Đào Thế Khoa

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5 Kết cấu của đề tài 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 4

1.1 Lý luận chung về BHXH 4

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của BHXH là một tất yếu khách quan 4

1.1.2 Khái niệm BHXH 5

1.1.3 Bản chất của BHXH 7

1.1.4 Vai trò của bảo hiểm xã hội 8

1.1.5 Cơ sở tạo lập và sử dụng quỹ BHXH 11

1.2 Hệ thống các chế độ BHXH 17

1.2.1 Khái niệm về chế độ BHXH 17

1.2.2 Cơ sở xây dựng các chế độ BHXH 18

1.3 Những vấn đề tổ chức chi trả các chế độ BHXH 23

1.3.1 Vai trò của công tác chi trả các chế độ BHXH 23

1.3.2 Cơ sở chi trả các chế độ BHXH 24

1.3.3 Nguyên tắc chi trả các chế độ BHXH 25

Trang 3

1.3.4 Quy trình chi trả các chế độ BHXH 26

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI TRẢ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 31

2.1 Khái quát hoạt động BHXH qua các giai đoạn 31

2.1.1 Giai đoạn trước tháng 10 năm 1995 31

2.1.2 Giai đoạn từ tháng 10 năm 1995 đến nay 35

2.2 Quy trình chi trả chế độ BHXH 42

2.2.1 Quản lý đối tượng chi trả BHXH 42

2.2.2 Phân cấp chi trả 44

2.2.3 Lập, xét duyệt dự toán chi BHXH 44

2.2.4 Tổ chức chi trả 45

2.2.5 Lập báo cáo, xét duyệt thanh quyết toán chi bảo hiểm xã hội 48

2.2.6 Thẩm định chi các chế độ bảo hiểm xã hội 48

2.3 Thực trạng công tác chi trả chế độ BHXH ở BHXH tỉnh Thái Nguyên 50

2.3.1 Công tác quản lý đối tượng chi trả 50

2.3.2 Công tác chi trả các chế độ dài hạn 54

2.3.3 Công tác chi trả các chế độ ngắn hạn 59

2.3.4 Đánh giá quản lý công tác chi trả các chế độ BHXH 65

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHI TRẢ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 73

3.1 Chiến lược phát triển ngành BHXH 73

3.2 Quan điểm và định hướng hoàn thiện công tác chi trả các chế độ BHXH 74

3.2.1 Quan điểm 74

3.2.2 Định hướng hoàn thiện 76

3.3 Những giải pháp tăng cường quản lý công tác chi trả chế độ BHXH 78

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy 78

3.3.2 Hoàn thiện quy trình chi trả 83

3.3.3 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát công tác chi trả 90

3.3.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý 92

3.3.5 Cân đối quỹ BHXH ổn định và lâu dài 93

3.3.6 Hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy và đào tạo cán bộ 95

3.3.7 Một số giải pháp khác 96

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHXH : Bảo hiểm xã hội

BHYT : Bảo hiểm y tế

BNN : Bệnh nghề nghiệp

CNTT : Công nghê thông tin

DSPHSK : Dưỡng sức phục hồi sức khỏe

năm 2010 60 Bảng 4: Tổng hợp chi ốm đau theo khối quản lý năm 2006 61

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Khoa học ngày càng phát triển, con người ngày chế ngự và dự báo

được những rủi ro diễn ra trong cuộc sống như thiên tai, dịch bệnh Tuy

nhiên trước diễn biến phức tạp của cuộc sống, con người cũng không thể

lường trước được những rủi ro như bệnh tật, tuổi già, ốm đau, sinh tử Mong

muốn có một khoản bù đắp những rủi ro không chỉ là của mỗi con người mà

còn là sự quan tâm, chăm sóc của Đảng và Nhà nước Ngay từ những ngày

đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành các

sắc lệnh về chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và sau đó là điều lệ tạm thời

quy định các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, những

người làm việc trong các tổ chức đoàn thể, xã hội, các đơn vị sản xuất kinh

doanh của Nhà nước và lực lượng vũ trang Trong quá trình thực hiện, chế độ

chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng

thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước Ngày 26/01/1995, Chính phủ đã có

Nghị định số 12/CP ban hành Điều lệ BHXH và Nghị định số 45/CP ngày

15/7/1995 ban hành Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên

nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân Thực hiện

nghị quyết Đại hội Đảng IX "từng bước mở rộng vững chắc hệ thống BHXH

và an sinh xã hôi, tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động,

mọi tâng lớp nhân dân" và "tiến tới BHYT toàn dân" Ngày 24/01/2002 Thủ

tương Chính phủ ký Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg về việc chuyển Bảo

hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam kèm theo đó là Nghị

định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ

sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo

Chi trả bảo hiểm xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH

góp phần thực thi chính sách bảo hiểm xã hội của Đảng và Nhà nước đối với

người lao động Sau 15 năm hoạt động, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam

đã tổ chức chi trả các chế độ BHXH cho hàng triệu đối tượng dài hạn và ngắn hạn, đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và chi tận tay đối tượng Tuy nhiên hiện nay chính sách BHXH còn có nhiều bất cập, đối tượng hưởng chính sách BHXH thường xuyên biến động gây nhiều khó khăn cho công tác chi trả chế độ BHXH Để đáp ứng một cách tốt nhất quyền lợi của người lao động tham gia BHXH, việc hoàn thiện công tác quản lý chi trả chế độ BHXH

để từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản

lý chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam tôi đã chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên" để

làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Thông qua việc nghiên cứu những lý luận về BHXH và thực trạng công tác chi trả chế độ BHXH ở BHXH tỉnh Thái Nguyên để phân tích, đánh giá những kết quả, những tồn tại và nguyên nhân của công tác chi trả chế độ BHXH Trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường quản lý công tác chi trả chế độ BHXH của BHXH Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Các chế độ BHXH và quản lý công tác chi trả các chế độ BHXH ở tỉnh Thái Nguyên

Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu hoạt động BHXH trong thời gian qua

- Nghiên cứu các chế độ BHXH đang thực hiện chi trả ở tỉnh Thái Nguyên (không bao gồm chế độ bảo hiểm y tế) và thực trạng công tác quản lý chi trả chế độ BHXH ở BHXH tỉnh Thái Nguyên

Trang 6

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về BHXH, hệ thống

các chế độ BHXH và vấn đề tổ chức công tác chi trả chế độ BHXH Đây là

những vấn đề cơ bản về BHXH góp phần làm sáng tỏ những nhận thức về

BHXH

Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác chi trả chế độ BHXH, đánh giá

những kết quả và tồn tại trong công tác chi trả hiện hành, luận văn đã đưa ra

một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường quản lý công tác chi trả chế

độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về BHXH và các chế độ BHXH

Chương 2: Thực trang công tác quản lý chi trả chế độ BHXH ở tỉnh

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của BHXH là một tất yếu khách quan

Nhu cầu của con người rất đa dạng và luôn thay đổi Nhu cầu đơn giản nhất, tối thiếu nhất là ăn, mặc, ở, đi lại Để đáp ứng nhu cầu này con người phải làm việc để tạo ra của cải vật chất phục vụ mình Tuy nhiên con người sống phụ thuộc rất nhiều vào xã hội, vào thiên nhiên và phải tuân theo những quy luật của tự nhiên và xã hội Những quy luật này có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến từng cá nhân và cộng đồng Trong cuộc sống không phải con người lúc nào cũng khoẻ mạnh, có khả năng lao động, gặp may mắn để tạo ra thu nhập nuôi sống mình và gia đình Khi gặp phải những rủi ro, các nhu cầu thiết yếu phục vụ cuộc sống của con người, không vì thế làm mất đi trái lại có nhu cầu còn tăng thêm thậm chí phát sinh mới như ốm đau cần được chữa bệnh, sinh con cần thêm thu nhập để nuôi con Bởi vậy, con người một mặt tìm cách khắc phục "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn" một mặt nhờ sự tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng

Sự phát triển của phân công lao động và trao đổi hàng hoá làm xuất hiện nền kinh tế hàng hoá Nhu cầu mở rộng sản xuất dẫn đến việc thuê mướn lao động Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng về sau đã phải cam kết đảm bảo cho người lao động làm thuê một số thu nhập nhất định

để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị rủi ro như: ốm đau, tai nạn, thai sản Trong thực tế nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra

và người chủ không phải chi ra một đồng nào Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra những khoản tiền lớn cho người lao động mà họ không muốn Vì thề, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng

Trang 7

lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế- xã hội Do vậy Nhà nước

đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn bằng cách buộc giới chủ và

giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán

chặt chẽ dựa trên cơ sở xác xuất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê Sự can

thiệp này đã nâng cao vai trò Nhà nước, số tiền đóng góp của giới chủ và giới

thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Ngoài ra, quỹ

này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm bảo đảm đời

sống cho người lao động khi gặp phải rủi ro, bất lợi Chính nhờ những mối

quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc

sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định

Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ sản, xuất kinh doanh được

diễn ra bình thường Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày

càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày

càng đảm bảo Để quá trình tái sản xuất của xã hội được diễn ra thường

xuyên, liên tục và đời sống của người lao động được đảm bảo an toàn cần

phải có BHXH như một tất yếu khách quan

Như vậy xuất hiện của BHXH là một yếu tố khách quan khi mà mọi

thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống

BHXH và cần thiết được BHXH Một xã hội không có bảo hiểm như "cầu

thang không có tay vịn" Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu phát triển hệ

thống BHXH càng lớn

1.1.2 Khái niệm BHXH

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về BHXH, cho đến nay vẫn chưa có

một khái niệm thống nhất về BHXH Khi đề cập đến vấn đề chung nhất người

ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi

vào cụ thể từng chế độ thì BHXH lại được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL

INSURANCE Tuy nhiên sự hoà nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ

này là một Có thể đưa ra khái niệm về BHXH như sau:

BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Ngoài ra, BHXH có thể được tiếp cận dưới giác độ là an sinh xã hội, đảm bảo xã hội Theo tổ chức lao động quốc tê ILO:

Bảo đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn

về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thương tật, tuổi già và chết, đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con

Qua khái niệm có thể nêu ra một số đặc trưng cơ bản của BHXH: BHXH bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động Bởi vì khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, người lao động được bảo hiểm cho đến lúc chết Khi còn làm việc người lao động được đảm bảo khi ốm đau, lao động nữ khi sinh con được trợ cấp thai sản; Người lao động bị tai nạn lao động được trợ cấp, khi hết tuổi lao động thì được hưởng lương hưu và khi chết đi thì được hưởng tiền chôn cất và người thân được trợ cấp tuất Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội của người lao động trong BHXH đều liên quan đến thu nhập của họ Vì những sự kiện và rủi ro này mà người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập Vì vậy người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và khoản bù đắp này được BHXH chi trả bằng các khoản trợ cấp Người lao động tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH Tuy nhiên quyền này chỉ được thực hiện khi họ và người thuê mướn họ hoàn thành nghĩa vụ đóng BHXH

Trang 8

Các hoạt động BHXH diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ

BHXH cũng do pháp luật quy định Nhà nước quản lý và bảo hộ hoạt động

BHXH Người lao động, người chủ sử dụng lao động thực hiện giám sát hoạt

động BHXH thông qua các tổ chức công đoàn và các tổ chức của giới chủ

1.1.3 Bản chất của BHXH

BHXH là một bộ phận trong hệ thống an sinh xã hội, có ảnh hưởng đến

sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế xã hội, chính trị của các quốc

gia Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của

người lao động BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá và nó

phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Vì vậy có thể xem xét

bản chất của BHXH với những nội dung sau:

* BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập

Thực chất BHXH là một tổ chức đền bù hậu quả những rủi ro xã hội

Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tạo lập và sử dụng một quỹ

tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và

các nguồn thu nhập hợp pháp khác của BHXH Xét trên phạm vi toàn xã hội

BHXH là một bộ phận của GDP được xã hội phân phối lại cho những thành

viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, già

yếu, chết Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện

theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối

của chính bản thân người lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại

thu nhập của quá trình khoẻ mạnh và quá trình ốm, giữa quá trình lao động và

quá trình không làm việc) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa

những người khoẻ mạnh và người ốm, bệnh tật; giữa những người có thu

nhập cao với những người có thu nhập thấp

* BHXH vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội

BHXH góp phần thực hiện mục tiêu đảm bảo kinh tế cho người lao

động BHXH là quá trình sử dụng thu nhập cá nhân và GDP để thoả mãn nhu

cầu an toàn kinh tế của người lao động và toàn xã hội Xét về mặt kinh tế, nhờ

có sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo khi họ gặp phải những rủi ro như giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì BHXH đa tạo ra một khoản thu nhập thay thế Xét

về mặt xã hội, do có sự "san sẻ rủi ro" giữa những người tham gia BHXH nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải rủi ro ở đây BHXH đã thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông bù cho số ít" và BHXH được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mất đi Thông qua đó bảo vệ

và phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động, ổn định trật

tự xã hội

1.1.4 Vai trò của bảo hiểm xã hội

Trong bản tuyên ngôn nhân quyền được Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 tại điều 22 viết:

Tất cả mọi người với tư cách là thành viên trong xã hội đều có quyền BHXH Quyền BHXH được xây trên cơ sở thoả mãn các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội Tất cả các quyền này là yếu tốt không thể thiếu được đối với nhân phẩm cũng như đối với sự phát triển tự do của nhân cách mỗi cá nhân, nhờ nỗ lực của mỗi quốc gia và nỗ lực hợp tác quốc tế

Thông điệp trên đây của Liên hợp quốc đã khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của chính sách BHXH, khẳng định hệ thống các chế độ, chính sách BHXH là cần thiết và không thể thiếu được trong mỗi quốc gia và trong cộng đồng quốc tế

Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp chung của toàn xã hội, phục

vụ những thành viên trong xã hội, do đó BHXH có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia, cụ thể là:

Trang 9

* BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH và bảo

đảm an sinh xã hội

Trong cuộc sống, dù muốn hay không con người vẫn phải đối mặt với

các rủi ro Có những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con

người như: ốm đau, TNLĐ, BNN có những rủi ro tuân theo quy luật tự

nhiên như: sinh đẻ, tuổi già, chết Những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng

lao động, mất việc làm dẫn tới tình trạng giảm thu nhập hoặc mất hoàn toàn

thu nhập Mặc dù vậy, cuộc sống của họ đòi hỏi phải có thu nhập để thoả mãn

những nhu cầu tối thiếu Do đó, việc làm sao đảm bảo được thu nhập để tồn

tại của con người là tất yếu Nhờ tham gia BHXH, người lao động sẽ được

thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ gặp rủi ro khiến họ không phải

lo lắng về những rủi ro mà mình gặp phải Khoản bù đắp này đã giảm gánh

nặng về tài chính cho người lao động, giúp họ khắc phụ kịp thời những tổn

thất, sớm phục hồi sức khoẻ, ổn định đời sống để có thể tiếp tục tham gia quá

trình lao động, học tập và sinh hoạt

* BHXH góp phần bảo đảm an sinh xã hội

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), an sinh xã hội là một quyền của

con người và được thừa nhận An sinh xã hội là sự bảo vệ các thành viên của

xã hội trước những biến cố dẫn đến làm mất hoặc giảm thu nhập BHXH là

một bộ phận lớn nhất, cơ bản và ổn định trong hệ thống an sinh xã hội Có thể

nói không có BHXH thì không thể có một nền an sinh vững mạnh, bởi lẽ

BHXH có đối tượng lao động tham gia rất lớn, những người trực tiếp tạo ra

của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội Mặt khác nguồn tài chính của BHXH

rất dồi dào được hình thành và sử dụng thông qua quỹ BHXH Đây là một

quỹ tiền tệ tập trung do các bên tham gia BHXH đóng góp và được Nhà nước

bảo hộ để bù đắp khoản thu nhập cho người tham gia BHXH khi họ gặp rủi

ro Hoạt động BHXH càng ổn định, vững chắc thì quỹ BHXH càng tăng

trường và góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống của người lao động, đồng thời sẽ tạo ra sự vững mạnh của nền an sinh quốc gia Cùng với các chính sách xã hội khác, BHXH tạo ra lưới an toàn xã hội đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội

* BHXH góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội

Tham gia BHXH là quyền và nghĩa vụ của người lao động Điều đó có nghĩa là người lao động có nghĩa vụ đóng phí BHXH thì mới được hưởng quyền lợi về BHXH Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH, không phân biệt nam, nữ, nghề nghiệp, tôn giáo, thành phần kinh tế

đã tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động Việc quy định nghĩa vụ và quyền lợi của các đối tượng tham gia BHXH trong các thành phần kinh tế góp phần thực hiện công bằng xã hội Mặt khác BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang Quá trình phân phối này đã làm dịch chuyển tài chính từ những người có thu nhập cao sang những người có thu nhập thấp nhằm giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội

* BHXH tạo mối quan hệ gắn bó giữa người lao động với người sử dụng lao động và Nhà nước

Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được người

sd lao động trả lương hoặc tiền công và đóng phí tham gia BHXH nhằm giúp cho người lao động nhận được trợ cấp khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động Vì thế cuộc sống của người lao động được đảm bảo, người lao động luôn yên tâm, tin tưởng vào người chủ sử dụng lao động Từ đó người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, họ tích cực sáng tạo trong quá trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm tăng giá trị sản phẩm cho người chủ sử dụng lao động và cho xã hội Mặt khác khi BHXH chi trả cho người lao động khắc phục tổn thất đã tạo điều kiện cho người sử dụng lao động nhanh chóng ổn định sản xuất

Trang 10

Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao

động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công,

thời gian lao động Thông qua BHXH các bên tham gia BHXH đều có lợi và

được bảo vệ, do đó những mâu thuẫn sẽ được điều hoà và giải quyết Từ đó

làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích với nhau Đối với Nhà nước và

xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất

nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia

đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế phát triển, chính trị xã

hội được an toàn

* BHXH góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế xã hội

Trong nền kinh tế hàng hoá, vốn là tiền đề của quá trình sản xuất kinh

doanh Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vốn càng lớn Các chủ thể có

thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau: tự tiết kiệm, phát hành chứng

khoán, đi vay Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người lao

động, người chủ sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước; quỹ được sử

dụng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động Việc sử dụng quỹ

BHXH không thực hiện cùng một lúc mà dàn trải theo thời gian vì vậy, trong

khoảng thời gian người lao động tham gia BHXH chưa đến độ tuổi nghỉ hưu,

quỹ BHXH có khoản tiền tạm thời nhãn rỗi Quỹ BHXH sẽ tham gia vào thị

trường tài chính và trở thành nguồn cung ứng vốn lớn, ổn định đem đầu tư

trong các chương trình, dự án lớn phát triển kinh tế - xã hội

1.1.5 Cơ sở tạo lập và sử dụng quỹ BHXH

Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung được tạo lập từ những đóng góp

bằng tiền của những người tham gia BHXH dùng để chi trả cho người lao

động khi gặp rủi ro như giảm, mất khả năng lao động hoặc chết giúp họ và gia

đình họ ổn định cuộc sống

Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu:

- Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước (NSNN) và được Nhà nước bảo hộ Quỹ BHXH có thể bao gồm nhiều quỹ thành phần như quỹ hưu trí và trợ cấp, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ bảo hiểm ốm đau

- Quỹ BHXH được hình từ sự đóng góp theo cơ chế ba bên người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước

- Mục đích hoạt động của Quỹ BHXH không vì lợi nhuận mà vì mục đích đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến

cố rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ người lao động Vì vậy quản lý quỹ BHXH được thực hiện theo nguyên tắc cân bằng thu chi

- Sử dụng quỹ BHXH vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn Tính chất bồi hoàn thể hiện ở chỗ khi người lao động tham gia và đóng BHXH thì họ sẽ được nhận trợ cấp do quỹ BHXH chi trả Cùng một rủi ro gặp phải nhưng thời gian hưởng trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau vì còn phải căn cứ vào mức đóng góp và thời gian tham gia BHXH của họ, ví dụ chế độ hưu trí Tính không bồi hoàn thể hiện ở chỗ, cùng tham gia và đóng BHXH có người lao động được hưởng trợ cấp nhiều lần theo nhiều chế độ khác nhau, nhưng có người được hưởng ít lần hơn, thậm chí không được hưởng ví dục chế độ ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp

- Quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm

an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc Quỹ BHXH là "quỹ tiết kiệm" của người lao động phòng khi ốm đau, tai nạn hoặc tuổi già Người lao động đóng góp một cách đều đặn, liên tục từ thu nhập của mình vào quỹ BHXH trong suốt quá trình lao động Trong khi đó giống như quỹ tiền tệ khác nó cũng bị ảnh hưởng bởi rủi ro lạm phát, lãi

Trang 11

suất dẫn đến mất cân đối Để đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao

động, quỹ BHXH phải được bảo tồn giá trị và tăng trưởng thông qua hoạt

động đầu tư

- BHXH là một khâu trong hệ thống tài chính quốc gia, vì vậy nó có

quan hệ tác động qua lại giữa các khâu tài chính như: NSNN, tài chính doanh

nghiệp, tín dụng Mỗi khâu tài chính có quỹ tiền tệ được tạo lập, sử dụng cho

một mục đích riêng và gắn liền với chủ thể nhất định do đó chúng luôn độc

lập với nhau trong quản lý và sử dụng Nhưng quỹ BHXH có quan hệ chặt

chẽ với các quỹ tiền tệ tập trung của các khâu tài chính khác như quỹ NSNN,

quỹ tài chính doanh nghiệp, quỹ tín dụng và đều chịu sự chi phối của pháp

luật Nhà nước

- Quy mô, tốc độ phát triển của quỹ BHXH do trình độ phát triển kinh

tế xã hội của quốc gia quyết định Kinh tế xã hội càng phát triển thì quốc gia

đó càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn

về BHXH đối với người lao động càng được nâng cao Đồng thời khi kinh tế

xã hội phát triển, người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập

cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH

* Nguồn tạo lập quỹ BHXH

Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:

- Người sử dụng lao động đóng góp

- Người lao động đóng góp

- Hỗ trợ của Nhà nước

Quỹ BHXH được hỗ trợ từ NSNN là trách nhiệm của Nhà nước Bởi vì,

trước hết các luật lệ về BHXH của Nhà nước sẽ là những chuẩn mực về pháp

lý mà cả giới chủ và giới thợ đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ- thợ

trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết BHXH là một công

cụ quan trọng trong tay Nhà nước nhằm thực hiện chính sách phân phối lại

thu nhập trong xã hội góp phần ổn định xã hội, đảm bảo quyền lợi cho người lao động Mặt khác, Nhà nước hỗ trợ cho quỹ khi BHXH mất cân đối không đáp ứng được khả năng chi trả và làm chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định

Người chủ sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi Chủ sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về những rủi ro xảy ra đối với người lao động mà họ thuê mướn Mặt khác khi người lao động ốm đau, giảm hoặc mất khả năng lao động họ không phải trả lương Những khoản chi trả từ quỹ BHXH sẽ làm giảm một phần gánh nặng tài chính cho họ, do đó họ không phải chi ra một khoản tiền lớn cùng một lúc Đồng thời góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, tạo ra sự bình đẳng trong quan hệ chủ - thợ

Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp một phần thu nhập vào quỹ BHXH như một khoản tiết kiệm để giải quyết những khó khăn về tài chính của mình khi gặp rủi ro Mặt khác theo lẽ công bằng là có đóng, có hưởng người lao động muốn được hưởng quyền lợi về BHXH thì phải tham gia đóng phí BHXH

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên Ngoài ra quỹ còn được hình thành từ:

- Tiền sinh lời từ các hoạt động đầu tư do sử dụng quỹ BHXH tạm thời nhàn rỗi

- Tiền do các cá nhân và các tổ chức từ thiện hỗ trợ

- Tiền phạt do đóng BHXH chậm

Mỗi chế độ BHXH có một loại phí riêng hoặc có thể tổng hợp chung tất

cả các loại chế độ Nếu ở trong hệ thống BHXH do Nhà nước thành lập và sự tham gia là bắt buộc thì phí BHXH toàn phần phải đóng góp sẽ bao gồm phí thuần tuý (là phần phí phải đóng để người lao động được hưởng các chế độ đã

Trang 12

xác định), chi phí quản lý, khoản dự phòng Còn trong hệ thống BHXH do tư

nhân và các tổ chức xã hội thành lập theo pháp luật và có sự bảo trợ của Nhà

nước, để bảo vệ cho những người không ở trong hệ thống bảo hiểm của Nhà

nước với nguyên tắc tự nguyện thì phí BHXH toàn phần sẽ có cả lãi định mức

cho tổ chức BHXH

Mức đóng góp hàng tháng của các bên tham gia BHXH do người lao

động được gọi là phí BHXH Về mức đóng BHXH, một số nước quy định:

người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động,

Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, còn các chế độ khác do người

lao động và người sử dụng lao động cùng chịu Một số nước lại quy định

Chính phủ bù thiếu quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH Số

tiền đóng góp đó được tính vào lương và chi phí sản xuất để người lao động

và mọi người tiêu dùng trong xã hội cùng phải gánh chịu một phần

Cân bằng thu- chi là nguyên tắc hoạt động của quỹ BHXH Để đảm bảo

quỹ BHXH hạch toán độc lập và cân đối thu - chi trong quá trình hoạt động

thì phải xem xét đến yếu tố phí BHXH Trong thực tế, việc tính phí BHXH là

một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các

phương pháp toán học để xác định Khi tính phí BHXH có thể dựa trên căn cứ

khác nhau

- Dựa vào tiền lương và thang bảng lương để xác định mức trợ cấp

BHXH từ đó là cơ sở xác định mức đóng BHXH

- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng sau

- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức

hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí BHXH

Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lại

khá phức tạp vì nó liên quan đến đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, liên

quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiện phát

triển kinh tế xã hội của đất nước Khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc cân bằng thu- chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất

* Quá trình sử dụng quỹ BHXH:

Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho các mục đích sau đây:

- Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH

- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH

Trong hai nội dung nêu trên thì chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH là lớn nhất và quan trọng nhất Khoản chi này được thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH Về nguyên tắc, có thu mới chi, thu trước chi sau Vì vậy quỹ BHXH chỉ chi cho các chế độ trong phạm vi có nguồn thu, thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất để chi trả cho các chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH theo phương thức nào?

Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả cũng phải đảm bảo thống nhất theo các nội dung chi Điều đó có nghĩa là tất

cả các nguồn thu BHXH đều được tập trung vào quỹ BHXH và sử dụng quỹ

để chi trả cho các chế độ BHXH, chi quản lý và đầu tư Phương thức quản lý quỹ BHXH tập trung như vậy nhằm đơn giản, dễ dàng điều tiết giữa các chế

độ BHXH trong quá trình chi trả

Nếu quỹ BHXH được hình thành theo hai loại quỹ: Quỹ BHXH ngắn hạn và quỹ BHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn Quỹ BHXH ngắn hạn được chi cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN Nguồn quỹ này sẽ được cân đối từng năm thậm chí có thể được hình thành ngay trong từng doanh nghiệp để chi trả trực tiếp Quỹ BHXH dài

Trang 13

hạn được sử dụng để chi trả cho các chế độ dài hạn hưu trí, tử tuất Nguồn

quỹ này phải được cân đối trong nhiều năm và dùng tài khoản cá nhân trong

quá trình chi trả là có hiệu quả nhất nhằm đảm bảo cho công tác chi trả sát

thực tế và đúng mục đích hơn Đồng thời, còn tạo điều kiện cho người lao

động thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia các chế độ BHXH dài hạn

1.2 Hệ thống các chế độ BHXH

1.2.1 Khái niệm về chế độ BHXH

Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy

định cụ thể và chi tiết được pháp luật hoá về đối tượng hưởng, điều kiện để

hưởng, mức hưởng, thời hạn hưởng BHXH, nghĩa vụ và mức đóng góp cho

từng trường hợp cụ thể phù hợp với quy luật khách quan của xã hội và phù

hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của quốc gia

Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật

như Luật, Nghị định, Điều lệ, các thông tư Tuy nhiên dù có cụ thể hoá đến

đâu thì các chế độ BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mỗi chế độ

thường nắm vững những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để

đảm bảo tính đúng đắn và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH

Các chế độ BHXH có tính pháp lý cao nhưng để thực thi được phải đặt

trong tổng thể hệ thống BHXH Hệ thống BHXH được hiểu là những nhận

thức, những quan điểm về BHXH, phương thức tiếp cận và phương thức xây

dựng các chế độ BHXH Thông qua hệ thống BHXH có thể đánh giá được

trình độ quản lý, sức mạnh kinh tế và tính ưu việt của một thể chế Trong hệ

thống BHXH, các chế độ BHXH giữ vai trò trung tâm Mọi hoạt động của hệ

thống BHXH phải xoay quanh các hệ thống BHXH

Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Các chế độ được xây dựng theo pháp luật mỗi nước, định kỳ các chế

độ BHXH cần phải được hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội

của đất nước

- Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính Khi tham gia BHXH, nếu người lao động không may gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật sẽ được hưởng trợ cấp BHXH theo các chế độ Như vậy, có người lao động gặp rủi ro, mắc bệnh hiểm nghèo sẽ được hưởng Có người sẽ không gặp rủi ro không mắc bệnh hiểm nghèo, không hưởng Trong khi đó, đã tham gia BHXH thì đều phải đóng góp vào quỹ BHXH, do đó người lao động tham gia BHXH không gặp rủi ro đã giúp đỡ người gặp rủi ro thông qua quỹ BHXH chi trả các chế độ BHXH

- Khi chi trả các chế độ thường căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH, nếu đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít và phần lớn các chế độ chi trả định kỳ Chẳng hạn ở Việt Nam, chế độ hưu trí, được chi trả định kỳ hàng tháng, mức trợ cấp hưu trí hàng tháng được tính dựa trên số năm đóng BHXH và mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH

- Việc chi trả và thanh quyết toán các chế độ BHXH thường được thực hiện bằng tiền mặt, có thể chi trả trực tiếp, có thể chi trả gián tiết tuỳ thuộc vào điều kiện của ngành BHXH

- Chi trả BHXH là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH và mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ BHXH Nếu quỹ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định

1.2.2 Cơ sở xây dựng các chế độ BHXH

Một chế độ BHXH phải được xây dựng chặt chẽ để tránh những lạm dụng nhưng đồng thời cùng không làm tổn hại tới lợi ích vật chất và tinh thần của các bên tham gia BHXH Ngoài ra cũng phải xem xét tới những công ước những quy định quốc tế khi xây dựng chế độ BHXH Nhìn chung một chế độ BHXH được xác định bởi các yếu tố chính sau:

- Đối tượng được hưởng BHXH

- Các trường hợp được BHXH

- Điều kiện hưởng BHXH

- Mức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp BHXH

Trang 14

1.2.2.1 Theo công ước quốc tế

Năm 1952, Nghị viện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông

qua công ước 102 về an toàn xã hội (những tiêu chuẩn tối thiểu) Có thể nói

đây là công ước quốc tế có những nội dung đầy đủ nhất, phát triển hoá những

tiêu chuẩn quốc tế đã có đến thời điểm đó, mở ra một cơ cấu thống nhất và có

sự phối hợp trong lĩnh vực BHXH giữa các thành viên của ILO Công ước

102 có hiệu lực từ ngày 27/4/1952 đã đưa ra 9 chế độ BHXH bao gồm:

9- Trợ cấp tiền tuất (trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình)

Tổ chức lao động Quốc tế cũng quy định các thành viên tham gia Công

ước quốc tế có thể tuỳ theo điều kiện của mỗi nước mà thực hiện một số hoặc

mở rộng thêm các chế độ BHXH, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 trong

chế độ nêu trên mới được gọi là hệ thống chế độ BHXH, nhưng nhất thiết

phải có một trong 5 chế độ sau đây:

1- Trợ cấp tuổi già (chế độ hưu)

2- Trợ cấp thất nghiệp

3- Trợ cấp trong trường hợp TNLĐ-BNN

4- Trợ cấp tàn tật

5- Trợ cấp tiền tuất (trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình)

1.2.2.2 Đối tượng, điều kiện hưởng và mức hưởng các chế độ BHXH

* Đối tượng hưởng BHXH

Đối tượng hưởng BHXH được quy định từng nước và tuỳ từng chế độ BHXH Thông thường đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thường là những người có quan hệ lao động, làm công ăn lương Nhưng ở mỗi nước tuỳ thuộc vào điều kiện của hệ thống BHXH mà có quy định cụ thể riêng Nói chung, các đối tượng hưởng BHXH cũng đồng thời là đối tượng tham gia BHXH (trừ trường hợp chế độ tử tuất) Một chế độ trong một hệ thống có thể có đối tượng hưởng nhưng đối tượng khác lại không được hưởng Ví dụ: trong chế

độ thất nghiệp thì công chức không thuộc đối tượng hưởng

* Các trường hợp được BHXH

Các trường hợp được BHXH thường liên quan đến những sự kiện gọi là

"rủi ro xã hội" Những " rủi ro xã hội" này có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến hậu quả làm suy giảm (tạm thời hay vĩnh viễn) khả năng lao động của người lao động hoặc khả năng lao động của họ không được sử dụng (thất nghiệp) và cuối cùng là thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp của người lao động bị suy giảm hoặc mất hẳn Những rủi ro nêu trên có thể phát sinh trong quá trình lao động hoặc trong cuộc sống của người lao động Tuy nhiên, không phải bắt cứ "rủi ro xã hội" nào cũng được bảo hiểm Điều này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tài chính của quỹ BHXH Các sự kiện xảy ra đối với các cá nhân có thể xảy ra bất kì khi nào trong cuộc sống của họ với các mức độ khác nhau Vì vậy, dưới giác độ cả tập đoàn người tham gia BHXH, các sự kiện BHXH vừa có tính thời điểm, vừa có tính quá trình, vừa có tính thời gian vừa có tính không gian Điều này cho thấy tính khách quan của các trường hợp BHXH

* Các điều kiện hưởng

Để được hưởng các chế độ BHXH, người lao động phải có đủ những điều kiện nhất định như: Phải tham gia BHXH, phải đóng BHXH và phải có

Trang 15

những rủi ro xảy ra Tuỳ theo từng loại chế độ mà có những điều kiện riêng

kèm theo

Hệ thống các điều kiện BHXH là những ràng buộc nhất định trong từng

trường hợp BHXH cụ thể, phù hợp với những yếu tố chủ quan và khác quan

của hệ thống BHXH Để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH, các

điều kiện cụ thể này lại dựa trên hệ thống các cơ sở như: điều kiện sinh học

của người lao động, điều kiện lao động và môi trường lao động, điều kiện

kinh tế - xã hội và quan hệ tài chính BHXH

- Điều kiện sinh học được coi là điều kiện mang tính khách quan khi

xây dựng chế độ BHXH Một trong những yếu tố quan trọng của yếu tố sinh

học đó là tuổi già Theo quy định của Liên hợp quốc, người đạt tuổi 60 được

coi là người già Tuổi già để hưởng hưu trí của các nước không giống nhau,

có vùng 50-60 tuổi đã là già, nhưng lại có nước, có vùng thì tuổi già là 60-70

tuổi Chính vì vậy, không thể áp dụng độ tuổi nghỉ hưu của nước này cho

nước khác, vùng này cho vùng khác Cơ sở sinh học còn liên quan tới điều

kiện về giới tính của người lao động Do có sự khác biệt về cấu tạo cơ thể của

nam và nữ nên sự suy giảm tự nhiên khả năng lao động của nam giới và nữ

giới khác nhau và thường tuổi thọ lao động của nam giới cao hơn nữ giới Ví

dụ nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi hoặc nam 65 tuổi, nữ 60 tuổi Ngoài ra sự kiện

sinh đẻ ở nữ giới, hiện tượng ốm đau xảy ra bất thường đối với người lao

động là nguyên nhân làm suy giảm tự nhiên khả năng lao động của con người

và làm ảnh hưởng đến "tuổi thọ lao động"

- Điều kiện lao động và môi trường lao động: Song song với cơ sở sinh

học, điều kiện lao động và môi trường lao động là một căn cứ rất quan trọng

để xác lập điều kiện nghỉ hưởng BHXH Điểm chung nhất là điều kiện lao

động ảnh hưởng đến người lao động làm suy giảm khả năng lao động của họ

Điều kiện lao động khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác tới khả năng lao động

của người lao động Cùng một độ tuổi sinh học nhưng làm việc trong những

điều kiện và môi trường lao động khác nhau thì mức độ "trẻ lao động" là khác nhau Đây là yếu tố có liên quan tới "tuổi thọ lao động" của người lao động, trong điều kiện làm việc này thì đã đủ già phải nghỉ việc hoặc chuyển việc, nhưng trong điều kiện làm việc khác thì vẫn được coi là trẻ, vẫn tiếp tục làm việc được Khi xây dựng các chế độ BHXH, nhất là chế độ TNLĐ-BNN việc xác định các yếu tố lao động nặng nhọc, độc hại là vô cùng quan trọng

- Điều kiện kinh tế- xã hội: Đây không phải là căn cứ quan trọng để xây dựng các chế độ BHXH nhưng lại là điều kiện để thực hiện chế độ BHXH Các điều kiện kinh tế- xã hội có thể là:

+ Khả năng hoặc tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước + Trình độ quản lý lao động, quản lý xã hội

+ Các chính sách dân số của quốc gia + Các chính sách lao động việc làm

- Điều kiện tài chính BHXH Trong hệ thống các điều kiện BHXH, điều kiện về tài chính BHXH giữ

gị trí đặc biệt quan trọng BHXH hiện đại, tài chính BHXH là điều kiện tiên quyết để xác lập các điều kiện của một chế độ BHXH Một trong những nguyên tắc cơ bản của BHXH trong nền kinh tế thị trường là phải cân bằng thu- chi Vì vậy, khi tính toán giữa mức đóng góp và mức hưởng; thời gian đóng góp và thời gian hưởng, luôn phải thể hiện nguyên tắc cân bằng này Từ

đó, phải quy định thời hạn đóng BHXH (Nhất là đối với các chế độ BHXH) tối thiểu để quỹ BHXH có thể trang trai được Tuy nhiên để tính toán được phải dựa trên một loạt các thông số khác nhau và các phương hướng khác nhau của kỹ thuật tài chính BHXH

* Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp

Tương tự như khi xác lập điều kiện hưởng, khi đề ra mức hưởng trợ cấp

và thời gian hưởng trợ cấp phải dựa trên cơ sở một loạt các căn cứ như nhu

Trang 16

cầu về BHXH (nhu cầu cá nhân và nhu cầu chung, có tính xã hội của hệ thống

bảo hiểm)

Mức trợ cấp và thời gian hưởng BHXH tuỳ thuộc vào từng chế độ

BHXH Tuy nhiên cơ sở để tính mức trợ cấp BHXH là căn cứ vào thu nhập

của người lao động trước khi nhận được trợ cấp hoặc dựa vào mức thu nhập

cơ bản chung nào đó của xã hội Nhưng mức trợ cấp đó phải đảm bảo yêu cầu

là bù đắp được sự thiếu hụt thu nhập ở mức tối thiểu cho người lao động

hưởng BHXH có tính đến thời gian tham gia và mức đóng BHXH Một số cơ

sở dùng làm căn cứ xác định các mức trợ cấp là:

- Những chi phí cần thiết để đáp ứng những nhu cầu BHXH trong từng

trường hợp cụ thể

- Mức độ giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao động

- Điều kiện lao động và môi trường sống

- Mức sống của dân cư

- Mức và thời gian đóng phí BHXH

1.3 Những vấn đề tổ chức chi trả các chế độ BHXH

1.3.1 Vai trò của công tác chi trả các chế độ BHXH

Chi trả trợ cấp BHXH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đóng

một vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH nói riêng và

trong việc thực hiện chính sách BHXH nói chung Công tác chi trả BHXH

được thực hiện sau khi người tham gia BHXH đã hoàn thành nghĩa vụ nộp

BHXH cho cơ quan BHXH Vì vậy công tác chi trả BHXH người tham gia

BHXH vừa để thực thi quyền lợi của họ vừa góp phần ổn định đời sống, đảm

bảo an sinh xã hội Vai trò của công tác này thể hiện ở những điểm sau đây:

- Chi trả đầy đủ, kịp thời, chính xác tới từng đối tượng hưởng BHXH

góp phần tạo ra nguồn thu nhập kịp thời, giúp người lao động có thu nhập để

chữa bệnh, nuôi con, phục hồi sức khoẻ, ổn định cuộc sống

- Thông qua công tác chi trả các chế độ BHXH kiểm tra tính đúng đắn, hợp lý cũng như những tồn tại bất cập của chính sách BHXH để kịp thời sửa đổi, bổ sung đảm bảo quyền lợi cho người lao động; hạn chế tối đa tình trạng khiếu kiện, đảm bảo công bằng giữa các thành viên tham gia BHXH

- Thông qua công tác chi trả giúp cơ quan BHXH phát hiện những sai sót trong quá trình xét duyệt hưởng trợ cấp BHXH, phát hiện những đối tượng hưởng sai trợ cấp từ đó có những biện pháp ngăn chặn, giảm hành vi giả mạo

hồ sơ, chứng từ để hưởng trợ cấp BHXH

- Từ thực trạng chi trả có thể đánh giá được nguyên nhân tăng giảm chi

để có giải pháp kịp thời trong việc tính phí BHXH, tiết kiệm chi và bảo toàn quỹ BHXH

- Thông qua công tác chi trả để tuyên truyền về chính sách BHXH tới mọi người trong xã hội nhằm thực hiện tốt chính sách, chế độ BHXH theo pháp luật, đồng thời nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người lao động thụ hưởng chính sách BHXH Từ đó nâng cao hiệu quả của công tác chi trả, góp phần hoàn thiện các chế độ BHXH

- Thực hiện tốt công tác chi trả tạo được niềm tin của người lao động đối với Đảng, Nhà nước về chính sách BHXH

1.3.2 Cơ sở chi trả các chế độ BHXH

Cơ sở chi trả các chế độ BHXH là hệ thống các văn bản quy định của Nhà nước cho phép xác định phạm vi đối tượng hưởng, loại trợ cấp, mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp Do đó, ở hầu hết các nước khi tiến hành chi trả các chế độ BHXH đều dựa vào luật, các văn bản, quy định của Nhà nước và các văn bản do cơ quan BHXH Trung ương hướng dẫn

Thông thường các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật của từng nước quy định Loại trợ cấp, mức trợ cấp và thời gian trợ cấp cho các đối tượng cũng tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội và phương thức quản lý của mỗi quốc gia

Trang 17

Chi trả các chế độ BHXH phải được thực hiện theo quy trình thống

nhất qua các khâu được quy định bằng văn bản do cơ quan BHXH Trung

ương quyết định Việc ban hành một quy trình chi trả sẽ đảm bảo tính thống

nhất, liên hoàn và khả năng kiểm tra trong công tác chi trả

1.3.3 Nguyên tắc chi trả các chế độ BHXH

Khi thực hiện chi trả các chế độ BHXH phải theo đúng chế độ chính

sách của Nhà nước và đảm bảo thực hiện chi trả theo nguyên tắc chi đúng, chi

đủ, chi kịp thời, bảo đảm an toàn, tiết kiệm và hiệu quả

- Chi đúng đối tượng: Vừa bảo đảm nguyên tắc tài chính vừa đảm

bảo nguyên tắc tham gia BHXH có đóng, có hưởng Thực hiện việc chi

đúng cho đối tượng là sự đảm bảo công bằng trong hưởng thụ các chế độ

BHXH, loại bỏ các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ để được hưởng thụ

các chế độ BHXH

- Chi đủ: Chi đủ khoản trợ cấp cho các đối tượng cũng là nguyên tắc

của công tác quản lý chi trả Nội dung chính của nguyên tắc này là đối tượng

tham gia BHXH khi được hưởng trợ cấp BHXH thì cơ quan BHXH phải chi

trả đầy đủ các khoản trợ cấp Mặt khác, nguyên tắc này cũng yêu cầu đối

tượng tham gia BHXH đóng BHXH nhiều thì được hưởng trợ cấp mức cao,

đóng ít thì được hưởng trợ cấp mức thấp, tỉ lệ thương tật cao thì được hưởng

trợ cấp mức cao và ngược lại Khi đã xác định đúng tỉ lệ trợ cấp phải tổ chức

chi trả đủ số lượng không để thiếu một đồng của đối tượng Để thực hiện

được yêu cầu này cần thiết phải quản lý đồng bộ từ khâu xác định tỉ lệ thương

tật, bệnh tật đến khâu xét duyệt hồ sơ xác định đối tượng được hưởng, mức

hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng là khâu chi trả

- Chi kịp thời: Nguyên tắc này đặt ra thể hiện vai trò của BHXH trong

việc ổn định cuộc sống cho đối tượng Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải

quy định rõ ràng thời gian chi trả và tổ chức thực hiện chi trả đúng thời gian

đó Ví dụ: đối với các chế độ chi trả hàng tháng thì thời gian để chi trả đến tay đối tượng hợp lý nhất vào đầu tháng Còn các chế độ ốm đau, thai sản nên quy định thời gian cụ thể kể từ khi nhận đủ giấy tờ, hồ sơ hợp lệ đến khi chi trả đến tay đối tượng

- An toàn và hiệu quả: Cũng là một trong những nguyên tắc cần thiết được đặt ra đối với công tác chi trả nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thất thoát, mất mát, nhưng đồng thời cũng giảm được các chi phí, tiết kiệm cho quỹ BHXH

1.3.4 Quy trình chi trả các chế độ BHXH

Tổ chức bộ máy BHXH được thành lập từ Trung ương xuống địa phương Cơ quan BHXH trung ương có trách nhiệm ban hành, hướng dẫn quy trình chi trả, đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí để thực hiện chi trả các chế độ BHXH, kiểm tra quá trình thực hiện công tác chi trả của cơ quan BHXH địa phương và quản lý chặt chẽ đối tượng được hưởng BHXH, nguồn kinh phí chi trả Cơ quan BHXH địa phương trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chi trả chế độ BHXH theo đúng quy trình chi trả, chế độ kế toán, báo cáo thống

kê theo quy định của Nhà nước và quy định của cơ quan BHXH Trung ương Trong quá trình chi trả, BHXH các cấp có quyền tạm ngừng hoặc từ chối chi trả cho đối tượng hưởng BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu để hưởng chế

độ BHXH, thông thường đơn vị sử dụng lao động hoặc đại diện chi trả được

cơ quan BHXH uỷ quyền chi trả các chế độ BHXH cho người lao động phải đảm bảo chi trả kịp, thời đây đủ

Quy trình chi trả các chế độ BHXH được thực hiện như sau:

Một là, quản lý đối tượng: Đối tượng hưởng các chế độ BHXH

thường được chia ra đối tượng hưởng chế độ dài hạn và đối tượng hưởng trợ cấp ngắn hạn

Trang 18

Đối tượng hưởng chế độ dài hạn bao gồm những người hưởng các chế

độ hưu trí, TNLĐ-BNN, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tuất Đối tượng hưởng trợ cấp

ngắn hạn bao gồm những người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp

mai táng phí và trợ cấp 01 lần Việc quản lý đối tượng bao gồm các nội dung:

Quản lý lí lịch đối tượng, loại chế độ được hưởng, mức hưởng, thời gian

hưởng và địa điểm thực hiện chi trả Quản lý đối tượng là khâu đầu tiên trong

quy trình chi trả nhằm đảm bảo cho công tác chi trả được thực hiện đúng, đủ

Hai là, phân cấp chi trả: Thông thường hệ thống BHXH được tổ chức

theo nhiều cấp từ Trung ương xuống địa phương Trong đó mỗi cấp vừa chịu

sự ràng buộc bởi các chế độ, thể lệ chung, vừa có tính chất tự chủ Phân cấp

chi trả được hiểu là sự phân định phạm vị, trách nhiệm, quyền hạn và các chế

độ BHXH của các cấp cơ quan BHXH trong việc tổ chức thực hiện công tác

chi trả chế độ BHXH Cơ quan BHXH Trung ương là cơ quan quản lý sẽ quy

định rõ ràng nhiệm vụ, trách nhiệm, loại chế độ, đối tượng quản lý cho

BHXH các cấp địa phương cũng như đơn vị có liên quan Cơ quan BHXH địa

phương có trách nhiệm tổ chức chi trả trợ cấp các chế độ BHXH theo phân

cấp của cơ quan BHXH Trung ương

Ba là, lập, xét duyệt dự toán chi BHXH: Việc lập dự toán chi đúng đắn

dựa trên các báo cáo về số đối tượng tăng, giảm và có mặt thường xuyên

trong kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí kinh phí đầy đủ, kịp thời

cho quá trình chi trả Bởi vì quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất tại

cơ quan BHXH cấp Trung ương, trong thời gian tạm thời nhàn rỗi, quỹ

BHXH được thực hiện các biện pháp đầu tư Do đó để có nguồn kinh phí thực

hiện chi trả, cơ quan BHXH địa phương phải lập dự toán kinh phí chi trả các

chế độ để chuyển lên cơ quan BHXH Trung ương xét duyệt, làm cơ sở cho

việc phân phối các nguồn kinh phí và cấp phát kinh phí

Bốn là, tổ chức chi trả BHXH: Đây là nội dung rất quan trọng của công

tác chi trả giúp cho khoản trợ cấp BHXH đến được tay người thụ hưởng Tuỳ

thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa bàn chi trả, số tiền chi trả và biên chế

mà cơ quan BHXH lựa chọn cách thức tổ chức chi trả phù hợp sao cho thuận tiện với mức chi phí thấp nhất, an toàn nhất nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc chi trả là kịp thời, đầy đủ đến tay đối tượng được hưởng Thông thường, tại BHXH Thái Nguyên áp dụng một trong hai phương thức chi trả là phương thức chi trả gián tiếp và phương thức chỉ trả trực tiếp

* Phương thức chi trả gián tiếp:

Là phương thức chi trả cho đối tượng hưởng trợ cấp BHXH thông qua đại lý chi trả Theo phương thức này, cơ quan BHXH ký kết hợp đồng trách nhiệm với một số cá nhân làm đại lý chi trả thông qua chính quyền địa phương Những cá nhân này thường là những người đang hưởng chế độ BHXH, có trách nhiệm, uy tín ở địa phương và được cơ quan chính quyên địa phương giới thiệu Hàng tháng, đại lý chi trả nhận danh sách đối tượng và tiền từ cơ quan BHXH cấp địa phương hoặc giao nhận tay ba tại Kho bạc, ngân hàng để tiến hành chi trả cho các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH Sau mỗi kỳ chi trả, đại lý chi trả có trách nhiệm lập báo cáo, quyết toán với cơ quan BHXH

* Phương thức chi trả trực tiếp:

Là phương thức trả trợ cấp BHXH trực tiếp cho đối tượng hưởng BHXH không qua các đại lý trung gian Việc chi trả do cán bộ của ngành BHXH trực tiếp thực hiện Thông thường, mỗi cán bộ làm công tác chi trả của

cơ quan BHXH chịu trách nhiệm chi trả cho đối tượng hưởng BHXH ở một

số địa bàn hoặc một số đơn vị sử dụng lao động Công tác chi trả trực tiếp tuỳ thuộc vào số cán bộ làm công tác chi trả của cơ quan BHXH, số đối tượng hưởng trợ cấp và địa bàn chi trả Cán bộ chi trả phải thực hiện tất cả các khâu trong quá trình chi trả: lên kế hoạch, thông báo thời gian chi trả cho từng địa bàn, đơn vị được phân công phụ trách, chuẩn bị tiền chi trả và lập báo cáo, quyết toán với cơ quan BHXH sau khi chi trả

Trang 19

Năm là, lập báo cáo, xét duyệt quyết toán chi các chế độ BHXH: Báo

cáo quyết toán phản ánh toàn diện kết quả thực hiện công tác chi trả BHXH ở

cơ quan BHXH Vì vậy sau khi tổ chức chi trả, cơ quan BHXH phải tập hợp

chứng từ, lập báo cáo về quá trình tổ chức chi trả bao gồm: Báo cáo về số đối

tượng tăng, giảm trong kỳ, báo cáo về số tiền thực hiện chi trả trong kỳ và báo

cáo về số đối tượng, số tiền chưa chi trả trong kỳ và vấn đề phát sinh trong

quá trình chi trả gửi cơ quan BHXH cấp trên tổng hợp và làm căn cứ để

thẩm định quyết toán

Sáu là, thẩm định chi các chế độ BHXH: Đây là nội dung cuối cùng

trong quy trình tổ chức nhiệm vụ chi trả Cơ quan BHXH cấp trên đánh giá,

công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ chi trả của cơ quan BHXH cấp dưới,

đồng thời phát hiện những sai sót, gian lận trong quá trình chi trả để kịp thời

chấn chỉnh, điều chỉnh quy trình chi trả cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao

trong công tác chi trả các chế độ BHXH và góp phần đảm bảo an toàn cho

quỹ BHXH

Tóm lại, BHXH ra đời từ rất sớm và đến nay được thực hiện ở nhiều

quốc gia trên thế giới Với tính tất yếu khách quan cũng như vai trò của mình

trong đời sống xã hội, BHXH đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ

thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia Hệ thống các chế độ BHXH, đối tượng

tham gia BHXH và cơ chế tạo lập, sử dụng quỹ BHXH tuỳ thuộc ở mỗi quốc

gia Chi trả chế độ BHXH là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động sự

nghiệp BHXH và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực thi chính

sách BHXH Để công tác chi trả mang lại hiệu quả cao cần thiết phải xây

dựng quy trình chi trả cho phù hợp

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp thu thập số liệu tài chính các năm, ứng dụng thực tiễn với lý luận ngành, việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luận

Trên cơ sở xử lý các nghiệp vụ giải quyết các chế độ chính sách cho người hưởng để phân tích, đánh giá những vấn đề bất cập và đề xuất hướng

xử lý, kiến nghị để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác quản lý và chi trả các chế độ BHXH tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 20

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI TRẢ

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ rất sớm, việc thực thi các chế độ

BHXH đã đem lại những hiệu quả xã hội to lớn Trải qua nhiều giai đoạn lịch

sử, các chế độ BHXH ngày càng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều

kiện kinh tế xã hội của đất nước

2.1 Khái quát hoạt động BHXH qua các giai đoạn

2.1.1 Giai đoạn trước tháng 10 năm 1995

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta được làm chủ

đất nước Ngay sau khi dành chính quyền, Đảng và Nhà nước ta quan tâm giải

quyết chính sách cho người lao động Sắc lệnh số 54 ngày 03/11/1945 quy

định những căn cứ, điều kiện để các công chức Nhà nước được hưởng chế độ

hưu trí Sắc lệnh số 105 ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công

chức nhà nước Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 quy định cụ thể các chế độ

thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp hưu trí và tiền tuất đối với

công chứ Nhà nước Sắc lệnh số 29 ngày 13/3/1947 và sắc lệnh số 77/SL ngày

22/5/1950 quy định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu

trí, tử tuất đối với công nhân Nhìn chung các chế độ BHXH vì ban hành

trong hoàn cảnh kháng chiến, kinh tế thiếu thốn nên các chế độ trợ cấp lúc đó

mang tính chất cung cấp và bình quân với tinh thần đồng cam cộng khổ và chỉ

có tính chất tạm thời, trước mắt Nội dung các chế độ chưa xây dựng theo

những nguyên tắc thống nhất, các chế độ cũng chưa được đầy đủ, toàn diện,

lâu dài

Năm 1960 Hội đồng Chính phủ đã quyết định: Đi đôi với việc cải tiền

chế độ tiền lương, cần phải cải tiến và ban hành các chính sách cụ thể về

BHXH và phúc lợi cho công nhân viên chức cán bộ Cuối năm 1961 cùng với

việc cải tiền, bổ sung chế độ tiền lương, các chế độ BHXH, Quốc hội đã phê chuẩn và Hội đồng chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH kèm theo nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 Đối tượng áp dụng là công nhân viên chức nhà nước Các chế độ trợ cấp gồm có ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất Quỹ BHXH được hình thành

từ sự đóng góp của người chủ sử dụng lao động bằng 4,7% trên tổng quỹ lương Bộ Nội vụ quản lý 1% để giải quyết và chi trả cho chế độ hưu, mất sức lao động, TNLĐ-BNN và tử tuất Tổng công đoàn quản lý 3,7% để chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức, an dưỡng

Để khắc phụ những mặt hạn chế và đảm bảo những yêu cầu của quá trình đổi mới, từ năm 1989 Chính phủ đã nghiên cứu cải cách chính sách BHXH và ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hành nghị định số 43/CP quy định tạm thời chế độ BHXH bắt buộc đối với cán bộ công chức, viên chức nhà nước thuộc khối hành chính sự nghiệp, các tổ chức Đảng, đoàn thể, người lao động trong các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên; Người lao động làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Ngày 30/9/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 66/CP quy định tạm thời chế độ BHXH đối với lực lượng vũ trang

Trang 21

liên đoàn lao động Việt Nam), Bộ Nội vụ (nay là Bộ lao động - Thương binh

và xã hội) quản lý

- Tổng Công đoàn Việt Nam tổ chức thành 3 cấp là Tổng Công đoàn

Việt Nam; Liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên

đoàn lao động ngành nghề: đường sắt, bưu chính viễn thông, dầu khí, ngân

hàng ; Liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và ngoài

ra còn có công đoàn cơ sở ở các đơn vị có người lao động tham gia BHXH

- Bộ nội vụ sau đó chuyển cho Bộ LĐTB&XH cũng hình thành 3 cấp

quản lý: Bộ LĐTB&XH; Sở LĐTB&XH (trực thuộc UBND tỉnh, thành phố);

Phòng LĐTB&XH (trực thuộc UBND huyện)

* Giải quyết chính sách, chi trả các chế độ BHXH:

- Tổng Công đoàn Việt Nam quản lý quỹ đối với 3 chế độ ngắn hạn:

Chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp Quỹ BHXH

không tập trung mà được chi tại các đơn vị sử dụng lao động, toạ chi từ nguồn

kinh phí phải trích nộp Nếu số phải nộp lớn hơn số thực chi thì cuối tháng

đơn vị phải nộp lại cho Tổng Công đoàn Việt Nam, còn nếu số thực chi lớn

hơn số phải nộp thì được Tổng công đoàn Việt Nam cấp bù

- Bộ LĐTB&XH phân cấp cho cấp huyện được giải quyết chế độ hưu

và tử tuất Người sử dụng lao động ra quyết định cho người lao động được

hưởng các chế độ BHXH và Bộ LĐTB&XH có trách nhiệm chuyển tiền căn

cứ vào bộ chứng từ do cơ quan, đơn vị có người đóng BHXH chuyển cho

Đối với 3 chế độ dài hạn, Bộ Tài chính đảm nhận phần thu đóng của

người tham gia BHXH sau đó cấp kinh phí cho Bộ LĐTB&XH thực hiện chi

các chế độ Để khắc phục tình trạng chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho

đối tượng không kịp thời, từ năm 1993 trở đi Bộ tài chính và Bộ LĐTB&XH

đã thống nhất phương thức cấp phát kinh phí chi trả các chế độ BHXH thông

qua Sở Tài chính vật giá ở địa phương Hàng năm, trên cơ sở dự toán kinh phí

chi BHXH của Bộ LĐTB&XH, Bộ tài chính cấp thẳng kinh phí cho Sở Tài chính vật giá địa phương, Sở tài chính vật giá sẽ cấp kinh phí cho Sở LĐTB&XH để Sở lại cấp kinh phí cho Phòng LĐTB&XH chi trả các chế đọ BHXH cho các đối tượng Quá trình quyết toán được thực hiện theo quy trình ngược lại

Nhận xét về hoạt động BHXH giai đoạn này:

Nghị định số 43/CP ngày 21/6/1993 và số 66/CP ngày 30/9/1993 của Chính phủ ra đời đã đáp ứng nhu cầu về BHXH trong công cuộc đổi mới nền kinh tế

Mở rộng được đối tượng tham gia BHXH đến người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế và áp dụng hình thức BHXH tự nguyện đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hoặc người Việt Nam làm việc tại nước ngoài

Các chế độ BHXH được xây dựng điều chỉnh và bổ sung tương đối kịp thời phù hợp với hoàn cảnh kinh tế chính trị xã hội của nước ta góp phần ổn định cuộc sống cho hàng triệu lao động khi họ gặp những rủi ro ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, thực hiện BHXH vẫn còn những tồn tại: Các chế độ BHXH xây dựng nhưng qua nhiều lần sửa đổi trở nên chắp vá Việc quy định tính thời gian quy đổi, số năm công tác về hưu chưa hợp lý Mức trợ cấp tính trên lương nhưng không đảm bảo cuộc sống ổn định cho công nhân, viên chức

Tổ chức bộ máy thực hiện chế độ BHXH do hai cơ quan đảm nhiệm, chưa phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH, do đó hiệu quả quản lý hoạt động BHXH thấp Việc giải quyết chế độ BHXH trong giai đoạn này còn nhiều bất hợp lý người ban hành chế độ chính sách cũng đồng thời là người giải quyết chế độ

Trang 22

chính sách do đó tình trạng gian lận trong hồ sơ, có nhiều sai sót dẫn đến hiện

tượng chiếm đoạt tiền của quỹ BHXH Chi trả chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn

lao động theo hình thức toạ thu, toạ chi, quỹ BHXH không phải là cân đối

hàng năm do đó luôn trong tình trạng không cân bằng

Không hình thành được quy BHXH tập trung độc lập với NSNN Hoạt

động của quỹ BHXH vẫn thực hiện theo kiểu dự toán và cấp phát NSNN theo

thực tế phát sinh Quỹ BHXH luôn trong tình trạng bội chi và NSNN phải cấp

bù Việc chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH thường xuyên bị chậm ảnh

hưởng đến đời sống của người hưởng chế độ BHXH

Chính sách và các chế độ BHXH lại đan xen giữa nhiều chính sách, chế

độ khác như ưu đãi xã hội, kế hoạch hoá gia đình

2.1.2 Giai đoạn từ tháng 10 năm 1995 đến nay

Thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với sự phát triển

của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, cơ

chế quản lý BHXH cũng có sự thay đổi NGày 26/01/1995, Chính phủ đã có

Nghị định số 12/CP về việc ban hành điều lệ BHXH áp dụng đối với cán bộ,

công nhân viên chức Nhà nước, người lao động theo loại hình BHXH bắt

buộc Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc

thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có nhiệm vụ thực hiện các chế độ bảo

hiểm xã hội cho người lao động, BHXH trở thành một ngành độc lập, quỹ

BHXH được tách khỏi NSNN Ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị

định số 19/CP về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có nhiệm vụ thực

hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động, BHXH trở thành một

ngành độc lập, quỹ BHXH được tách khỏi NSNN Ngày 15/7/1995, Chính

phủ đã ban hành Nghị định số 45/CP kèm theo điều lệ BHXH đối với lực

lượng vũ trang Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách nền hành chính quốc

gia của Chính phủ, ngày 24/01/2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số

01/2003/Nđ-CP về việc chuyển đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995

* Tổ chức bộ máy thực hiện:

BHXH Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương do ngành Lao động - Thương binh & xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đang quản lý, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật của Nhà nước

Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các cơ quan Nhà nước về các lĩnh vực có liên quan Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam

Bảo hiểm xã hội Việt Nám được tổ chức thành ngành dọc 3 cấp từ Trung ương đến cấp huyện

+ Ở Trung ương là BHXH Việt Nam, + Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) là BHXH tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam

+ Ở các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh

* Quỹ BHXH

Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong cơ quan, đơn vị Người lao động đóng 5% tiền lương tháng Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư tài chính; thu từ nguồn tài trợ, viện trợ quốc tế và trong nước; NSNN hỗ trợ, các khoản thu khác

* Các chế độ BHXH

Chế độ trợ cấp ốm đau:

Trang 23

- Đối tượng được hưởng: Người lao động có đóng BHXH nghỉ việc vì

ốm đau, tai nạn rủi ro mà có xác nhận cảu tổ chức y tế do Bộ Y tế quy định

thì được hưởng chế độ trợ cấp ốm đau

- Mức trợ cấp ốm đau, khi nghỉ việc chăm sóc con nhỏ ốm đau hoặc

thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá dân số bằng 75% mức lương làm căn cứ

đóng BHXH trước khi nghỉ việc Trường hợp người lao động bị mắc bệnh cần

điều trị dài ngày theo quy định, nhưng sau thời hạn 180 ngày phải điều trị

thêm thì thời gian điều trị thêm trường hợp trợ cấp bằng 75% mức lương làm

căn cứ đóng BHXH nếu trước khi nghỉ ốm đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên,

bằng 65% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH nếu trước khi nghỉ ốm

đóng BHXH dưới 30 năm

Chế độ trợ cấp thai sản:

- Đối tượng hưởng: Lao động nữ có thai, sinh con và những người nuôi

con sơ sinh theo quy định tại Luật hôn nhân được trợ cấp thai sản

- Thời gian tính hưởng chế độ:

Trong thời gian có thai được nghỉ việc để đi khám thai 3 lần, mỗi lần 1

ngày Nếu người lao động có thai làm việc ở xa tổ chức y tế hoặc người mang

thai có bệnh lý, thai không bình thường thì được nghỉ việc 2 ngày mỗi lần

khám thai Thời gian nghỉ việc trước và sau khi sinh con quy định là 4 tháng

đối với người làm việc trong điều kiện bình thường hoặc 5, 6 tháng trong điều

kiện đặc biệt

- Mức trợ cấp thai sản bằng 100% mức lương đóng BHXH trước khi

nghỉ Ngoài ra được trợ cấp 1 lần bằng 1 tháng tiền lương đóng BHXH

Chế độ trợ cấp TNLĐ - BNN:

- Đối tượng hưởng: Người lao động bị tai nạn lao động trong giờ làm

việc, tại nơi làm việc; ngoài nơi làm việc (kể cả ngoài giờ do yêu cầu của

người lao động); bi tai nạn ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo

yêu cầu của người sử dụng lao động; bi tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc

- Mức trợ cấp: Tuỳ thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động và được tính theo mức tiền lương tối thiểu chung do Chính phủ công bố

Bị suy giảm từ 31% khả năng lao động trở lên, được hưởng trợ cấp hàng tháng kể từ ngày ra viện và được chia làm 7 mức từ 0,4 đến 1,6 tháng tiền lương tối thiểu

Bị suy giảm từ 31% khả năng lao động trở lên, được hưởng trợ cấp hàng tháng kể từ ngày ra viện và được chia làm 7 mức từ 0,4 đến 1,6 tháng tiền lương tối thiểu

Người lao động làm suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai chi tâm thần nặng, hàng tháng được phụ cấp phục vụ bằng 80% mức tiền lương tối thiểu

Người lao động bị tai nạn lao động làm tổn thương các chức năng hoạt động của chân, tay, tai mắt, răng, cột sống vv được trang cấp phương tiện giúp cho sinh hoạt

Người lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu) thì gia đình được trợ cấp một lần hoặc hàng tháng bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng chế độ tử tuất

Chế độ trợ cấp hưu trí:

- Đối tượng được hưởng: Người lao động khi nghỉ việc nam đủ 60 tuổi,

nữ 55 tuổi và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên Nam đủ

55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên trong đó có đủ 15 năm làm công việc nặng ngọc, độc hại, làm việc ở nơi có phụ khu vực hệ số

từ 0,7 trở lên, đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/4/1975,

ở Campuchia trước ngày 31/8/1989

Trang 24

- Mức trợ cấp:

+ Lương hưu hàng tháng tính theo số năm công tác đóng BHXH và

bình quân tiền lương 5 năm cuối trước khi nghỉ Đóng BHXH đủ 15 năm thù

được hưởng 45% Sau đó cứ mỗi năm đóng BHXH tính thêm 3% đối với lao

động nữ và 2% đối với lao động nam, nhưng tối đa bằng 75% mức bình

quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH Còn đối với những người đủ

số năm đóng BHXH nhưng nghỉ việc hưởng lương hưu trước tuổi thì mỗi

năm nghỉ trước giảm đi 1% mức Mức lương thấp nhất cũng bằng mức

lương tối thiểu

+ Người lao động nam đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ đủ 50 tuổi đến

dưới 55 tuổi có thời gian đóng BHXH đủ 30 năm mà có nguyện vọng về hưu

thì được hưởng lương hưu như cách tính trên nhưng mỗi năm nghỉ việc hưởng

lương hưu trước tuổi không bị giảm 1%

+ Ngoài lương hưu hàng tháng, đối với lao động nữ có thời gian đóng

trên 25 năm, lao động nam có thời gian đóng trên 30 năm khi nghỉ hưu được

trợ cấp một lần, mức trợ cấp được tính từ năm thứ 26 (đối với nữ) năm 31

(đối với nam) thì mỗi năm đóng thêm được nhận bằng một nửa tháng lương

bình quân, nhưng mức trợ cấp tối đa không qua 5 tháng

Chế độ tử tuất:

- Đối tượng hưởng: Người lao động đang làm việc, người lao động nghỉ

việc chờ giải quyết chế độ hưu trí, người lao động đang hưởng lương hưu

hoặc trợ cấp TNLĐ - BNN hàng tháng chết

- Mức trợ cấp:

+ Trợ cấp mai táng phí: Bằng 8 tháng tiền lương tối thiểu Từ khi có

luật BHXH thì trợ cấp mai táng phí tăng lên 10 tháng lương tối thiểu

+ Trợ cấp tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 40% mức tiền

lương tối thiểu, khi có luật BHXH được quy định bằng 50% của tháng lương

tối thiểu Nếu thân nhân không có nguồn thu nhập nào khác và không còn người thân trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp bằng 70% mức tiền lương tối thiểu Số thân nhân được hưởng tiền tuất hàng tháng không qua 4 người + Nếu không có thân nhân thuộc diện hưởng tiền tuất hàng tháng thì gia đình được nhận tiền tuất một lần Mức tiền tuất một lần đối với gia đình người lao động đang làm việc hoặc người lao động nghỉ việc chờ giải quyết chế độ hưu trí chết, tính theo thời gian đã đóng BHXH nhưng tối đa không quá 12 tháng Mức tiền tuất một lần đối với gia đình người lao động đang hưởng hưu trú, trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng chết thì tính theo thời gian đã hưởng hưu trí hoặc trợ cấp đang hưởng, nếu chết năm thứ hai trở đi thì mỗi năm giảm đi một tháng nhưng tối thiểu bằng 3 tháng lương hưu trợ cấp

Kể từ khi có luật BHXH thì các chế độ trên là:

Chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ

- Đối tượng hưởng: Người lao động tham gia BHXH bắt buộc được hưởng chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ trong các trường hợp sau: + Có đủ 3 năm đóng BHXH trở lên tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức

mà bị suy giảm sức khoẻ

+ Sau khi điều trị do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà chưa phục hồi sức khoẻ

+ Lao động nữ yếu sức khoẻ sau khi nghỉ thai sản

- Thời gian nghỉ dưỡng sức là 5 đến 10 ngày trong một năm tuỳ thuộc vào mức độ suy giảm sức khoẻ của người lao động

- Mức chi phí nghỉ DSPHSK là 50.000đ/ngày (nếu nghỉ tại gia đình) và 80.000đ/ngày (nếu nghỉ tại các cơ sở tập trung)

Nhận xét về hoạt động BHXH giai đoạn này:

* Kết quả đạt được:

Sự ra đời của hệ thống BHXH Việt Nam đã đánh dấu một bước trưởng thành, một sự thay đổi cả về chất và lượng trong việc tổ chức thực thi chính sách BHXH ở Việt Nam

Trang 25

- Đã hình thành được hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa

phương để quản lý quỹ BHXH tập trung thống nhất

- Đối tượng tham gia BHXH ngày càng được mở rộng đến người lao

động thuộc mọi thành phần kinh tế và đang dần dần từng bước mở rộng đến tất

cả người lao động, đến các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội như Nghị định

09/1998/Nđ-CP của Chính phủ BHXH đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH

tới cán bộ xã phường Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính

phủ đã mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới người lao động trong các cơ sở

ngoài công lập với ngành văn hoá, thể dục thể thao, y tế, giáo dục

- Đề cập đến vấn đề BHXH tự nguyện và sự tham gia đóng góp vào quỹ

BHXH theo cơ chế ba bên: người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước

- Thực hiện nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các quyền lợi

về BHXH, xoá bỏ tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước như trước đây Các mức đóng

góp và mức hưởng BHXH thường gắn với mức thu nhập hoặc thu nhập trước

đó của người được hưởng trên cơ sở có điều tiết, chia sẻ rủi ro

- Các chế độ BHXH được xây dựng tương đối đầy đủ, rõ ràng, mỗi chế

độ đều quy định đối tượng được hưởng, thời gian tính hưởng và mức hưởng

và phù hợp với Công ước 102 Mức trợ cấp được xây dựng theo nguyên tắc

có đóng, có hưởng thể hiện sự bình đăng giữa những người tham gia BHXH;

mức trợ cấp thấp hơn mức tiền lương, tiền công khi người lao động đang đi

làm thể hiện sự công bằng giữa những người đang cống hiến với người hưởng

thụ và mức trợ cấp đảm bảo mức sống tối thiểu cho người hưởng chế độ

BHXH thể hiện ý nghĩa đảm bảo, ổn định cuộc sống cho người tham gia

BHXH khi họ gặp rủi ro

- Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý thu, chi BHXH từ phân tán hành

chính bao cấp sang cơ chế tập trung thống nhất, phấn biệt rõ chức năng quản

lý Nhà nước về BHXH và chức năng sự nghiệp BHXH, đã hạn chế tình trạng

quản lý trùng lắp, lỏng lẻo gây nên những thiếu sót sai phạm

- Hình thành được quỹ BHXH độc lập, tách khỏi NSNN Quỹ BHXH được cân đối hàng năm, đảm bảo có kết dư Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ

có hiệu quả đảm bảo hàng năm có lãi để bảo toàn quỹ

- Chi trả BHXH đảm bảo đủ số, đúng đối tượng và kịp thời đảm bảo thuận lợi chi đối tượng khi giải quyết chế độ chính sách và nhận trợ cấp

* Những tồn tại trong hoạt động BHXH giai đoạn này:

- Chính sách BHXH đã thay đổi qua nhiều lần nhưng vẫn còn nhiều nội dung chưa phù hợp

- Công ước 102 quy định có 9 chế độ BHXH nhưng hiện nay nước ta mới có 6 chế độ (kể cả chế độ bảo hiểm y tế) Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần nghiên cứu bổ sung thêm các chế độ khác Việc bổ sung thêm các chế độ cần tính toán đến mức đóng gíp của người tham gia BHXH để đảm bảo đủ nguồn chi trả

- Những quy định về điều kiện được hưởng chưa chặt chẽ dẫn đến người lao động và người sử dụng lao động lợi dụng để thanh toán tiền BHXH

- Mặc dù đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng nhưng số đối tượng tham gia BHXH mới chỉ chiếm trên 10% số người lao động bắt buộc phải đóng BHXH Người lao động làm việc ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng đơn vị sử dụng lao động lại cố tình tím cách trốn đóng BHXH bắt buộc nhưng đơn vị sử dụng lao động lại cố tình tìm cách trốn đóng BHXH ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động

- Chính sách BHXH vẫn còn đan xen với các chính sách xã hội khác như chính sách sắp xếp tổ chức, tinh giảm biên chế

2.2 Quy trình chi trả chế độ BHXH

2.2.1 Quản lý đối tượng chi trả BHXH

Để đảm bảo nguyên tắc chi đúng, chi đủ của công tác chi trả thì việc quản lý đối tượng chi trả là điều cần thiết trước tiên Đối tượng hưởng chế độ

Trang 26

BHXH rất đa dạng, biến động hàng năm do nhiều nguyên nhân Vì vậy việc

phân loại đối tượng, kiểm tra đối chiếu giữa danh ách chi trả và hồ sơ hưởng

BHXH lưu về các chỉ tiêu: họ tên, địa chỉ, mức trợ cấp của đối tượng là công

việc thường xuyên trong tác nghiệp quản lý đối tượng

Những đối tượng hết hạn hưởng hoặc chết, hoặc không lĩnh trong ba

tháng liên tiếp, BHXH huyện lập danh sách gửi phòng Chế độ chính sách

BHXH tỉnh tổng hợp chuyển phòng Công nghệ thông tin (CNTT) cắt khỏi

danh sách chi trả

Hàng tháng căn cứ vào danh sách chi trả tháng trước, số duyệt mới do

phòng Chế độ chính sách chuyển sang và số báo giảm tổng hợp từ BHXH các

huyện báo cáo, phòng CNTT nhập dữ liệu vào máy để quản lý và in danh

sách chi trả cho đối tượng

Đối tượng di chuyển từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành chính

khác phải có đơn xin chuyển trong thời gian tạm vắng gửi cơ quan BHXH

tỉnh, cơ quan BHXH tỉnh sẽ cấp cho đối tượng: Giấy giới thiệu trả lương hưu

và giấy xác nhận thôi trả lương hưu cho đối tượng để mang đến cơ quan

BHXH nơi đối tượng tạm trú Khi đó cơ quan BHXH nơi đối tượng chuyển đi

sẽ giảm danh sách chi trả, cơ quan BHXH chuyển đến sẽ đưa đối tượng tạm

trú này vào danh sách cho trả tháng này

Khi đối tượng nhận lương hưu và trợ cấp, đối tượng phải ký nhận vào

danh sách chi trả cho BHXH tỉnh lập Nếu đối tượng uỷ quyền cho người

khác lĩnh thay thì phải có giấy uỷ quyền có xác nhận cảu ỷ ban nhân dân nơi

đối tượng cư trú và chỉ có giá trị trong vòng ba tháng Nếu đối tượng không

lĩnh trợ cấp trong ba tháng liên tục thì số tiền trên tạm thời được thu hồi,

BHXH huyện sẽ lập danh sách gửi BHXH tỉnh và đối tượng đó sẽ không có

tên trong danh sách chi trả của tháng liền kề Đối tượng này muốn nhận lại trợ

cấp thì phải làm đơn có xác nhận của UBND xã và đại lý chi trả tại nơi cư trú

gửi BHXH huyện, BHXH huyện báo cáo BHXH tỉnh để giải quyết

* BHXH huyện:

+ Tổ chức xét duyệt và chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản , nghỉ DSPHSK cho người lao động làm việc trong các đơn vị do BHXH huyện quản lý thu và ghi sổ BHXH và những đơn vị do BHXH tỉnh uỷ quyền

+ Thực hiện chi trả các chế độ trợ cấp một lần cho người lao động do BHXH huyện quản lý thu và ghi sổ BHXH và những đơn vị do BHXH tỉnh, thành phố uỷ quyền

+ Thực hiện chi trả các chế độ BHXH hàng tháng cho các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH trên địa bàn quản lý

2.2.3 Lập, xét duyệt dự toán chi BHXH

- Hàng năm BHXH huyện lập dự toán kinh phí các chế độ BHXH gửi BHXH tỉnh Trong năm có biến động phát sinh chi ngoài kế hoạch được duyệt, BHXH huyện phải báo cáo, giải trình để BHXH tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh phí, đảm bảo đủ nguồn chi trả cho đối tượng

- Trên cơ sở tổng hợp dự toán chi được duyệt của BHXH huyện và số chi trực tiếp do BHXH tỉnh đảm nhận BHXH tỉnh lập dự toán chi các chế độ BHXH trên địa bàn quản lý gửi BHXH Việt Nam Trong năm thực hiện nếu

có biến động phát sinh ngoài kế hoạch được duyệt, BHXH tỉnh phải báo cáo,

Trang 27

giải trình để BHXH Việt Nam xem xét, cấp bổ sung kinh phí đảm bảo đủ

nguồn chi trả cho đối tượng

- BHXH Việt Nam hướng dẫn, tổ chức xét duyệt và thông báo dự toán

kinh phí chi các chế độ BHXH cho BHXH tỉnh Dự toán kinh phí chi các chế

độ BHXH hàng năm của hệ thống BHXH lập trên cơ sở tổng hợp dự toán chi

BHXH đã được duyệt của BHXH các tỉnh và trình Hội đồng quản lý BHXH

Việt Nam thông qua và gửi Bộ Tài chính Trong năm thực hiện, trên cơ sở dự

toán được Bộ Tài chính duyệt và đề nghị điều chỉnh của BHXH tỉnh (nếu có),

BHXH Việt Nam sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể để điều chỉnh

2.2.4 Tổ chức chi trả

2.2.4.1 Chi trả các chế độ dài hạn

* Tại BHXH tỉnh

Hàng tháng, căn cứ số đối tượng hưởng BHXH thường xuyên đang

quản lý; danh sách của đối tượng tăng, giảm mới do xét duyệt trong tháng;

danh sách điều chỉnh, giảm lương hưu và trợ cấp hàng tháng; danh sách thôi

trả lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; danh sách đối tượng chưa nhận

lương hưu và trợ cấp BHXH để in danh sách chi trả

* Tại BHXH huyện

+ Nếu thực hiện chi trả gián tiếp qua đại lý chi trả: BHXH huyện phải

ký hợp đồng trách nhiệm giữa cơ quan BHXH và Uỷ ban nhân dân xã,

phường Đại lý chi trả nhận danh sách chi trả, tạm ứng tiền để chi trả Chậm

nhất là sau 5 ngày kể từ ngày nhận tiền của cơ quan BHXH, đại lý chi trả phải

cùng cơ quan BHXH đối chiếu, lập bảng thanh quyết toán chi trả lương hưu

và trợ cấp và danh sách chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng có ký nhận

của người lĩnh tiền và số tiền chưa lĩnh (nếu có) về BHXH huyện

+ Nếu chi trả trực tiếp: Căn cứ vào danh sách cho trả lương hưu và trợ

cấp BHXH do BHXH tỉnh chuyển đến thực hiện chi trả trực tiếp cho các đối

tượng Cán bộ BHXH huyện nhận danh sách chi trả, tạm ứng tiền để chi trả cho những đối tượng ở những địa điểm được phân công Sau khi chi trả lập bảng thanh toán lương hưu và trợ cấp; nộp lại số tiền chưa chi hết vào quỹ ngay trong ngày Việc chi trả trực tiếp phải được thực hiện bởi ít nhất là hai cán bộ của BHXH huyện Tại BHXH tỉnh Thái Nguyên, ngay từ ngày thành lập đến nay đã thực hiện phương thức chi trả trực tiếp này trên toàn bộ 9 huyên, thành phố, thị xã và chỉ có một số xã thuộc các huyện ở những địa bàn nhỏ lẻ do xá cử đại lý chi

Để đảm bảo an toàn tuyệt đối tiền chi trả, BHXH tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp tích cực và chặt chẽ với chính quyền địa phương, và đặc biệt với lực lượng công an khu vực trong việc bảo vệ tiền từ khâu vận chuyển đến khâu chi trực tiếp tại các bàn chi, do đó luôn đảm bảo an toàn tuyệt đối, không để xảy ra trường hợp nào bị mất tiền

Cả hai trường hợp trên, sau khi thực hiện chi trả lập danh sách đối tượng chưa nhận lương hưu và trợ cấp BHXH (căn cứ vào số người số tiền chưa nhận trợ cấp trên danh sách chi trả); lập danh sách báo giảm hưởng BHXH (những đối tượng chết, hết hạn hưởng; đối tượng liên tục 3 tháng không đến nhận tiền, đối tượng vi phạm pháp luật bị kết án tù giam), gửi BHXH huyện, BHXH huyện tổng hợp gửi BHXH tỉnh

2.2.4.2 Chi trả các chế độ trợ cấp 1 lần

Tại BHXH tỉnh: thực hiện chi trả trợ cấp cho người lao động làm việc ở những đơn vị do BHXH tỉnh trực tiếp thu và gi sổ BHXH và những đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần sau khi nghỉ việc về nơi cư trú theo khoản a, điểm 7, mục II Thông tư số 07/2003/TT-BLĐTBXH ngày 12/3/2003 Căn cứ vào Quyết định và danh sách đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần để gửi giấy báo lĩnh tiền cho đối tượng và trực tiếp chi trả cho đối tượng Uỷ quyền cho BHXH huyện chi trả trợ cấp BHXH một lần cho người lao động làm việc trong những đơn vị có trụ sở xa trung tâm tỉnh

Ngày đăng: 08/10/2016, 12:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: quy trình chi trả các chế độ BHXH - Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 2.1 quy trình chi trả các chế độ BHXH (Trang 29)
Bảng 1: Tổng hợp đối tượng hưởng BHXH thường xuyên - Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1 Tổng hợp đối tượng hưởng BHXH thường xuyên (Trang 30)
Bảng 3: Bảng tổng hợp chi ốm đau, thai sản, nghỉ DSPHSK - Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3 Bảng tổng hợp chi ốm đau, thai sản, nghỉ DSPHSK (Trang 34)
Bảng 4: Tổng hợp chi ốm đau theo khối quản lý năm 2006 - Thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý chi bảo hiểm xã hội tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4 Tổng hợp chi ốm đau theo khối quản lý năm 2006 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w