1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến tranh nhân dân trên tuyến đường hà nội hải phòng dưới sự lãnh đạo của đảng

140 486 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 10,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những biếu hiện sinh động của cuộc chiến ưanh nhân dân thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xàm lược là cuộc chiến đấu của quân dàn ta dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa

Trang 1

ĐẠI HOC Q U Ố C GIA HÀ NÒI TRƯ Ờ NG ĐẠI HỌC KHO A H O C XÃ HÒI VẢ NH Ả N VĂN

NGUYẺN TIẾN TRƯỞNG

CHIEN TRANH NHAN DAN TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG HÀ NỘI - HẢI PHÒNG

DƯỚI S ự LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Trang 2

MỤC LỤC

I

Chương 1: TUYẾN ĐƯỜNG HÀ NỘI - HÀI PHÒNG VÀ TÌNH HÌNH

KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG TUYẾN ĐƯỜNG ĐI QUA 9.

NỘI-HAIPHÒNG DƯỚI S ự LÃNH ĐẠO CÙA ĐẢNG (12-1946-7-1954) 22.

2.1- Phát động và lãnh đạo quàn dân các địa phưong dọc tuyến đưòng thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, chống địch

bỉnh định và vận tải (1946-1950) .22 2.2- Lãnh dạo quàn dân các địa phương vượt qua khó khăn, tiếp tục

đẩy mạnh chiến tranh nhàn dãn trên tuyến đưòng, góp phán tích cực đưa kháng chiến đến thắng lọi (1950-1954) 58.

Chưong 3: MÓT SỐ BÀI HOC KINH NGHIÊM VỂ LÃNH ĐẠO CHIÊN TRANH

NHẢN DÂN TRÈN TUYẾN ĐƯÒNG HÀ NỘI-HẢI PHONG (1946-1954) 8 7

KÊTLUẬN Ị 09.

THƯMỤC 116.

PHULUC .122

Trang 3

MỞ ĐẦU

/- Ý NGHĨA, A/í/C ĐÍCH CỦA ĐỂ TÀI.

Chiến tranh nhàn dân là cuộc chiến tranh chính nghĩa, do nhàn dân tiến hành, vì lọi ích của nhàn dân, đấu tranh vói địch bằng mọi hình thức và biện pháp phù hợp, có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt ở Việt Nam, trên cơ sở

kế thừa kinh nghiệm lảu đời của dân tộc và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác Lê Nin về chiến tranh và cách mạng, về vai trò của quần chúng ưong lịch sử, chiến Ưanh nhân dân đã được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện, phát triển tói đỉnh cao trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), đó là chiến tranh nhàn dân, toàn dân, toàn diện, toàn dân đánh giặc

Chiến tranh nhân dân là nội dung cơ bản, bao trùm và xuyên suốt trong đường lối quân sự của Đảng ta Đường lối, quan điểm chiến tranh nhân dàn, toàn dán đánh giặc của Đảng đã chi phối mọi mặt đòd sống xã hội của đất nước suốt

30 năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và giải phong dân tộc (1945-1975) Quán

ữ 'ẹt sâu sắc tư tưởng chiến Ưanh toàn dân, toàn diện, vận dụng sáng tạo đường lối chiến ưanh nhân dân trong thực tiẻn của nước nhỏ đánh lại sự xâm lược của nước lớn là thành cóng độc đáo, là nguyên nhân có ý nghĩa quyết đinh đưa tới thắng lợi cửa các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Tư tưởng, đường lối đó vẫn còn nguyên ý nghĩa to lớn trong sư nghiệp xày dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay

Một trong những biếu hiện sinh động của cuộc chiến ưanh nhân dân thời

kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xàm lược là cuộc chiến đấu của quân dàn ta

dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương trẽn tuyến đường Hà Nội-Hải Phòng, tuyến đường giao thông vận tải huyết mach nối liền thành phố càng Hải

p, òng với thành phố Hà Nội, Thủ đô của nước ta, trung tâm chính trị, quàn sự, kinh tế của kẻ địch ở chiến trường chính Bắc Bộ Trên tuyến đường này, thực dân Pháp đã dùng mọi lực lượng, mọi biện pháp đế bảo vệ, biến tuyến đườns thành

2

Trang 4

sự tích "đường 5 nổi sóng", " tiếng sấm đường 5" góp phán quan trọng vào chiến thắng chung của cuộc kháng chiến.

Chọn và giải quvết đề tài Chiến tranh nhản dãn trên tuyến đưòng Hà

Nội-H ải Phòng dưóỉ sự lãnh đạo của Đảng (1946-1954) là nhằm tái hiện một

cách có hộ thống cuộc chiến đấu của quàn dân ta ờ khu vực có tuyến đường đi qua theo đườne lối chiến tranh nhân dân của Đảng, dưới sự lãnh đạo, tổ chức trực tiếp của các Đảng bộ địa phương như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng Từ đó rút ra một số kết luận, bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đ;ing đối với cuộc kháng chiến chống thưc dân Pháp xàm lược ở một khu vực đặc

tranh anh dũng, bất khuất của Đảng bộ và quàn dân các địa phương hai bẽn tuyến đường, tăng thèm niẻm tự hào và ý thức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc nói chung, vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vùng tuyến đường chiến lược này hiện nay nói riêng Đó chính là mục đích, ý nghĩa của đề tài luận án, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn thiết thực

II- LỊCH SỬ NGHIÊN c ú v VAN ĐE.

Chiến ưanh nhân dân, toàn dân đánh giặc là nhu cầu khách quan của chiến tranh chính nghĩa, của nước nhỏ chống lại nước lớn Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đó là chủ trương, đường lối kháng chiến do Đáns

và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra ngav từ những ngày đầu khi cuộc kháng chiến toàn quốc vừa bùng nổ Đường lối đó đă đươc thưc tiẻn cuỏc kháns chiến kièm n^niệm là hoàn toàn đúng đắn, đế lại nhiêu kinh nghiệm có giá trị Chính vì vậy,

Trang 5

đoạn, từng địa phương, từng khu vực, những sách vè lịch sử cấc đảng bộ địa phương Tổng hợp các cồng trình, các góc độ nghiên cứu đó lại, chính là bức tranh chân thực, đa diện của cuộc kháng chiến ờ địa bàn chiến lược nàv Trong

đó do vị trí đặc thù của tuyến đường Hà Nội-Hải Phòng mà các hoạt động kháng chiến trên khu vực tuyến đường của quân dân các địa phương đã trớ thành một

bộ phận cấu thành quan trọng của bức tranh lớn Sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc chiến tranh nhân dân trên tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng những năm 1946­

1954, với đặc điểm như vậy, nên ít, nhiều cũng đã được các nhà nghiên cứu đé cập đến, nhất là ở các công trình lịch sử của các đảng bộ, các cơ quan quàn sự địa phương

Quá trình nghiên cứu đó diễn ra chủ yếu qua hai thời điểm Thời điểm thứ nhất là vào những năm đầu của thập kỷ 60, các Tỉnh uỷ, Tỉnh đội các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An đã tiến hành tổ chức tổng kết chiến tranh ờ địa phương thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Kết quả của đợt nghiên cứu

tổng kết này được thể hiện ở các bản "Dư thảo tổng kết lịch sừ du kích chiến

tranh" của các tỉnh, hiện lưu trữ tại Ban tuvẽn giáo các địa phương Những công trình này là các bản tập họp những tư liệu chính về các sự kiện lịch sử chiến tranh,

do những người trực tiếp lãnh đạo, chi huy ở địa phương thời kháng chiến sưu tầm, biên soạn

Thòi điểm quan trọng thứ hai là vào những năm cuối của thàp ký 80 đầu thập kỷ 90 Vào thời kỳ này, hàng loat công trình lịch sừ địa phương thời kỳ trước 1954 được biên soạn, ấn hành, nhất là lịch sử các Đảng bộ tinh và các huyện, lịch sử các đơn vị, lịch sử Quàn khu III trong đổ có để cập nhiêu đến

Trang 6

các sự kiện chiến tranh nhàn dân vùng dọc tuyến đường Hà Nội - Hải Phòng Tiểu biểu là: Quân khu EQ- lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp (Bộ Tư lệnh Quàn Khu m , Nxb QĐND, Hà Nội, 1990) Trung đoàn 42- Trung Dũng (Bộ Tư lệnh Quàn khu m , Nxb QĐND, 1995) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Hưng (tập I, Nxb Hải Hưng, 1990) Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng (tập 1, Nxb Hải Phòng, 1991) Lịch sử Đảng bộ các huyện Gia Lâm (1989), Mỹ Văn (1993), cẩm Giàng (1993),

(1990)

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu, tổng kết về đấu tranh vũ trang của Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, lưu hành nội bộ và một số bài đăng trên các tạp chí khoa học

Các công trình trên đều đã nhấn rnanh đến hoạt động, thành tích chiến đấu của quân dân các địa phương vùng có tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng đi qua, đã cung cấp được một khối lượng tư liệu quan trọng và nhiều thông tin có giá trị khi nghiên cứu cuộc chiến tranh nhân dân ưên tuyến đường thời kỳ 1946-1954 Tuy nhiên các công trình của Quàn khu, đơn vị, do góc độ nghiên cứu riêng, nặng về mặt quàn sự nén không đi sâu trình bày về sự lãnh đạo của các Đảng bộ Còn các công trình của các Đảng bộ tỉnh, huyện, do giới hạn hành chính lại tập trung quan tâm các vấn đề trong phạm vị riêng của đảng bộ, địa phương mình Chính vì những lý do đó mà sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc chiến tranh nhàn dân chống bình đinh, cán quét, phá hoại giao thông vận tải địch trẽn dọc tuyến đường có lúc chỉ trình bày trên những nét chung, lại có lức bị cắt thành từng khúc, từng phần đế nghiên cứu, trình bày, nên không tránh khỏi những lẫn lộn, trùng lặp hoặc bỏ sót, phiến diện VI vậv, đề tài luận án vẫn còn rất nhiều vấn đề mới cần giái quyết và quá trình thực hiện vừa có thuận lợi là được kế thừa những kết quả của các còng trinh trước, đổng thòi lại phải sưu tầm thèm tư liệu, liên hệ, tổng hợp sự kiên trong tổng thể cả tuyến, với góc độ Lịch sử Đáng, do đó cũng gặp không ít khó khàn

III - GIỚI HẠN CỦA ĐẾ TẢI.

Cuộc kháng chiến chống thực dàn Pháp xàm lược cua quân dân các địa phương vùng có tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng đi qua là rát phong phú, toàn

Trang 7

diện Sự lãnh đạo của các Đảng bộ địa phương đối vói cuộc kháng chiến ờ vùnư này cũng liên quan đến nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, liên quan đến cả nhiều tỉnh, nhiều huyện trong vùng Luận án này không đi sâu vào tất

cà những ván đề và các vùng rộng lớn đó, mà chỉ tập trung nghiên cứu và trình bày sự lãnh đạo, tổ chức của Đảng, trực tiếp là của các đảng bộ địa phương cấp tỉnh, thành phố như Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng và một số huyện, thị như Gia Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào, cẩm Giàng, Thi xã Hải Dương, Nam Sách, Thanh Hà, Kim Thành, An Dương đối với cuộc chiến tranh nhân dân ưẻn tuyến đường

Nội dung đề cập là xung quanh công tác lãnh đạo xây dựng lưc lượng, bám đất, bám dân, chống địch bình đinh, càn quét, chiếm đóng và vận tải trên tuyến đường sắt và đường bộ số 5, như là biẻu hiện cụ thể, sinh động, tiêu biểu của cuộc kháng chiến ở vùng tạm bị chiếm theo đường lối chiến ưanh nhân dàn của Đảng

Về thời gian, kể từ 6-3-1946, thực dân Pháp đã bắt đầu sử dụng tuyến đường này để thưc hiện mưu đồ cướp nước ta và đến 13- 5-1955 chúng mới rút kết lực lượng khỏi Hải Phòng, trong đó có khu vực các nhà ga và đoạn đường sô 5 thuộc phạm vị Hải Phòng, song luận án cũng chi nghiên cứu giai đoạn từ 19-12­

1946 đến 20-7-1954, là thời gian có cuộc kháng chiến của quân dân ta trên tuyến đường

Những vùng phụ cận và thời gian trước cũng như sau khoảng thời gian đó được luận án để cập ở những trường hợp và mức độ cần thiết khi có liên quan

IV - NGUỒN T ư LIỆU, C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

Luận án được thực hiện dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu như: các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam thòi kỳ 1945- 1954, Hồ Chí Minh toàn tập tập

4 (1945-1947), tập 5 (1948-1950), tập 6 (1951-1954), một số tác phẩm có liên quan vé quân sự, kháng chiến của các vị lãnh đạo của Đáng, Nhà nước, quàn đội

ta thời kỳ chống thực dân Pháp cùng những chi thị, nshị quyết của Liên khu uỷ

m , Khu Tả Ngan, các Đảng bộ Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Hải Phòns, Hà Nội, Bắc Ninh

6

Trang 8

Quan trọng là các báo cáo tổng kết chiến tranh của các địa phưong, đơn

vị, các sách lịch sừ Đáng bộ các tính, huyện, các báo, tạp chí ở TW và địa phương

có liên quan Ngoài ra luận án còn sừ dụng những tư liệu thực tế khảo sát của tác giả tại một số xã trẽn tuyén đường như Gia Thuv (gia Làm), Minh Hải (Mỹ Hào), Cẩm Điền Cẩm Định (Cẩm Giàng), Ai Quốc (Nam Sách), An Đổng (An Dương), Lai Vu (Kim Thành) Một số hồi ký, các tài liệu phỏng ván, toạ đàm qua gặp gỡ một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũ của các địa phương, đơn vị đã hoạt động trẽn tuyến đường trứơc đây cũng được sử dụng trong nghiên cứu thực hiện đề tài

Cơ sở lý luận của luận án là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lènin, của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ chí Minh về chiến tranh, cách mạng và quàn đội Trong đó quan trọng là quan điểm lịch sử, quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, tư tưởng chiến tranh nhân dân, quân đội nhàn dân, toàn dân đánh giặc, hậu phương trong lòng dân, tư tường "thà hy sinh tất cá chứ nhất định không chịu mất nước, nhất đinh không chịu làm nô lộ"

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là phương pháp lịch sử và phương pháp lồgich, và kết hợp hai phương pháp đó Ngoài ra luận án còn sử dụng các phương pháp khác có liên quan như thống kê, so sánh, sơ đồ, để phàn tích, giám đinh sừ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu

V - ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Đây là một vấn đề đã được đề cập khá nhiều trong các công trình đã có song đi sâu vào giải quyết như là một vấn đề chuyên biệt, đặc thù của chiến tranh

nhân dân cũng còn rất nhiều điều mói mẻ và phức tạp Đóng góp của luận án là ở

việc cung cấp thêm những tư liệu mới, cu thể, là việc trình bày một cách có hệ thống những sư kiện cũng như toàn bộ quá trình diễn biến cuộc kháng chiến anh dũng, sáng tao của quân dán ta trên tuyến đường Hà Nôi- Hải Phòng dưới sư lãnh đạo, tổ chức của các Đảng bộ địa phương theo đường lối chiến tranh nhàn dàn cua

TW Đáng và Chủ tich Hó Chí Minh ưong những nãm chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)

Trang 9

Từ đó nêu lên nhữna kết luận, đánh giá nhạn xét khoa học, rút ra những bài học kinh nghiệm lịch sử trong việc lãnh đạo kháng chiến của Đảng, nhất là sự vặn dụng đường lối chủ trương chung vào hoàn cảnh vùng tạm bị chiếm, vào hoạt động chống phá giao thông vận tải địch của các Đảng bộ địa phưons.

Thòng qua các sự kiện lịch sử và những đánh giá, nhận đinh, bài học kinh nghiệm, luận án nhằm góp phần vào việc giáo dục truyền thống yèu nước, tinh thán anh dũng, bất khuất, sự hy sinh, sáng tạo trong đánh giặc, giữ làng, phá giao thông địch của cán bộ, đảng viên, quàn dàn vùng dọc tuyến đường Đồng thời qua

đó mà tham gia phổ biến lịch sử và kinh nghiệm lịch sử cho các thế hệ hiện tại, nâng cao niềm tự hào, ý thức kính trọng công lao xương máu của cha ông, để ra sức xâv dựng và bảo vệ tuyến đường, xảy dựng và bảo vệ quẻ hương, đất nước nt;ày một hiện đại, giàu đẹp, vãn minh theo con đường XHCN

Trang 10

Chuông 1:

TUYẾN ĐƯỜNG HÀ NỘI - HẢI PHÒNG

VÀ TÌNH HÌNH KINH TÊ - XÃ HỘI VÙNG TUYÊN ĐƯỜNG ĐI QUA.

Đường 5, "đường thuộc địa số 5" do chính quyền thực dàn Pháp đặt tên là con đường bộ nối liền thành phố Hà Nội với cáng Hải Phòng Song song với nó còn có một tuyến đường sắt, thường gọi là đường Hà - Hải Nhưng nhiẻu khi danh từ Đường 5 cũng được dùng để chỉ cả tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng, bao

gồm cả đường bộ số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng c ).

Tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng là một hệ thống đường bộ và đường sắt, trong đó đường bộ số 5 được tính từ Cầu Chui đến trung tàm Hải Phòng và đường sắt là từ ga Hàng c ỏ đến ga Hải Phòng Đường bộ Hà Nội- Hải Phòng có từ xưa, được thực dân Pháp cho xây dựng thành đường ô tò trong quá trình xàm chiếm, bình đinh xứ Bắc Kỳ cuối thế kỷ XIX Đường sắt được chúng xây dựng muộn hơn

và khi xày dựng đường sắt thì đường bộ cũng được nâng cấp, hoàn thiện thêm Trước đó, viộc giao lưu giữa Hà Nội và Hải Phòng chủ yếu là bằng đường thuỷ, theo các sông, kênh của hộ thống sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình, ven biển

Ngay sau khi đặt chân đến Đông Dương (2-1897), toàn quyển Pôn Đume (Paul Doumer) đã đi kinh lý, khảo sát nhiều nơi để nắm bắt tinh hình và chỉ sau hơn một tháng đã đệ trình Chính phủ Pháp một kế hoạch 7 điểm lớn, ưong đó điểm thứ 5 để cập đến việc "tạo lập một thiết bị to lớn" đế khai thác thuộc địa Đồng Dương Nội dung chính của kế hoạch tạo lập "một thiết bị to lớn" là lâp tuyến đường sắt xuyên Việt, từ Sài Gòn qua Trung kv ra Hà Nội rồi nối với tuyến

Hà Nội - Đồng Đăng đang hoàn thiện Tuyến thứ hai là từ Hái Phòng đi Hà Nội rồi ngược thung lũng sông Hồng đế xâm nhập vào Vân Nam (Trung Quốc) Tuyến thứ ba từ Quảng Trị đi Xavanakhét, tuyến thừ tư từ Quy Nhơn đi Kontum

9

- Ví dụ "Sám dương 5", "Chiến tranh trên dương 5" là bao hàm cà tuyến sát bộ bời là cụm từ chì phonơ I rào

chung của quan dãn tadoc tuyến dương sổ 5

Trang 11

Để làm được những việc đó trước hết phải có nhiều tiền mà Chính phủ Pháp thì đang khó khăn về tài chính, do đó chính quyền Đông Dương đã tìm cách vay các tập đoàn tư bản tài chính trong nước Pháp Vì vậy sau này tuyến Hải Phòng-Hà Nội-Vân Nam được chính quyền thuộc địa nhượng lại cho các tập đoàn tư bản kinh doanh khai thác, chia lời cho chính phủ Đông Dương, gọi là đường sắt nhượng địa, còn các tuyến khác ở Đông Dương do chính quyền bỏ vốn hoàn toàn, trực tiếp quản lý, gọi là đường sắt bất nhượng.

Đường sắt Hà Nôi-Hải Phòng dài 102 km, được khỏi công xây dựng từ

1901 và đến ngày 16-6-1902 toàn tuyến được đưa vào khai thác với 26 điếm đỗ tầu, gổm 4 ga chính, 16 ga xép, 6 điểm dừng Trước khi có tuyến đường sắt nàv, giưã Hà Nội và Hải Phòng phải đi lại bằng đường sông Hổng, mùa mưa phải mất

18 giờ, mùa cạn mất 24 giờ, có khi tới 48 giờ Khi có đường sắt chi tốn có 4 giờ

mà lại thuận tiện nhiều mặt

Cùng thòi gian đó tuyến đường bộ số 5 Hà Nội-Hải Phòng cũng được hoàn thiện, nàng cấp thêm một bước quan trọng Từ Cấu Chui (Gia Lâm) đến trung tàm thành phố Hải Phòng, đường bộ số 5 dài 103 km

Dọc theo tuyến đường sắt, bộ Hà Nội - Hải Phòng có thể chia làm 3 đoạn:Đoạn 1, từ Hà Nội-Gia Lâm đến Đình Dù, dài khoảng 20km Đoạn này đrơng sắt và đường bộ chạy song song, kề nhau, có chỗ chi cách nhau một rãnh thoát nước nhỏ Đây là khu vực có địa hình bằng phảng, nền đất cao, làng xóm tâp

truns đông đúc ở đoạn này có cầu Ghênh, cáu Bây, đặc biệt là cầu Long Biên-

cây cầu dài nhất, quan trọng nhất miển Bắc nước ta trước ngày giải phóng, nối các

- KÝ kieu 163, 18-191 co y nghĩa như sau: sỏ 63 la chì ten tai liệu tnch dan, đả thong ke ờ Thư mục CUOI iuan un gom tẽn lác giá Lỏn tác phàm (tài liêu), nơi xuất bản nam xuat ban Sô 18-19 là chi sô ưang cò đoan trích dan ơ tai liệu dó Cụ thè ky hiệu |6 3 ,1 8 -1 9 Ị có nghĩa lã: Phùng Hữu Phu Đương Kinh Quoc N go Đăng Tri Lịch sừ Đương Sái việt Nam Nxb Lao Đỏng, Nội, 1994, tr 18-19.

Trang 12

tỉnh miền đông bắc với Hà Nội Trên đưòng sắt, tiếp theo ga Gia Làm là ga cáu Bây, ga Như Quỳnh và ga Đình Dù.

Đoan 2, từ Ngã ba Đình Dù đến gần cầu Phú Lương, khoảng 34 km Từ Đình Dù, đường bộ tách ra, vòng xuống phía nam, qua thị trấn Bần Yên Nhân- một vùng làm tương nổi tiếng, qua Dị Sử- một vùng có truyền thống buôn bán, là trung tâm của huyện Mỹ Hào, qua Mao Điền- lỵ sở cũ của tỉnh Đông rồi chay vé thị xă Hải Dương

Đâv là một đoạn đường mòn vốn được hình thành từ trước thời Pháp thuộc,

là sự tiếp nối, mờ rộng, nâng cao một vệt đường cũ, nối những trung tâm thủ công nghiệp và buôn bán vốn có truyền thống ở khu vực tả ngạn sông Hổng Đoạn đường này chạy qua hơn chục con sóng nhỏ và kênh đào nhờ các cầu như cầu Bần, cầu Lường, cầu Mao Điền và lớn hơn cả là cầu Ghẽ (dài 102m), cách thị xã Hải Dương 12km, về phía Hà Nội

Đường sắt từ Đình Dù, thẳng xuống Hải Dương qua đất Văn Lảm- một vùng đất trũng, thưa dân Đường sắt ở đoạn này có 2 cây cầu là cầu Bà Sinh, cầu Cẩm Giàng và có các ga Nghĩa Lộ, Xuân Đào (Văn Lâm), cẩm Giàng, An Điềm, Đồng Niên (thuộc huyện cẩm Giàng) và ga Hải Dương

Đoạn 3, từ đầu phía tây cầu Phú Lương đến Hải Phòng, dài khoảng 46km

Từ đây, đường sắt và đường bộ chập ưở lại Sau khi vượt qua sông Thái Bình và sông Rạng cả đường sắt và đường bộ bên chạy bên nhau, theo sông Kinh Thầy, sông Văn Dương, sông Cấm thẳng xuống Hải Phòng Đây là đoan đường chịu ảnh hưởng sông nước nhiều hơn cả, bỏi vùng đất cửa sông, nền thấp, bị chia cắt liên tục Sau ga Hải Dương là các ga Tiền Trung (Nam Sách), Lai Khê, Phạm Xá, Phú Thái (Kim Thành), Dụ Nghĩa, Vật Cách, Thượng Lý (An Dương), Hải Phòng

ở đoạn 3 này có cầu Phú Lương và cầu Lai Vu là các cầu giữ vị trí rất hiểm yếu, vì đường bộ và đường sắt cùng chung một cầu Trong chiến tranh, toàn tuvến đường Hà Nội- Hải Phòng sẽ bị ngừng trệ nếu 1 trong 3 cày cầu là cáu Long Biên, cầu Lai Vu và cầu Phú Lương bị ách tắc, bị sập

Theo cách phản chia địa giới hành chính trước năm 1955, tuyến đương Hà Nội- Hải Phòng thuộc 58 xã, với diện tích khoảng 500 km2 và dân số khoảng 30 vạn người Các xã này lại thuộc 11 huyện của các tỉnh, thành Hà Nội, Bắc Ninh,

11

Trang 13

Hưng Yên, Hải Dưcmg, Kiến An, Hải Phòng Các huyện đó có diên rích gần 1.300 km2, dân số (trước 1955) khoảng 60 vạn người.

Đại thể, đường Hà Nội-Hải Phòng nằm ơẽn vùng phía bắc của đồng bằng Bắc Bộ, chạy theo hướng tây đỏng Đây là vùng đất tương đối bầng phẳng, với độ cao phổ biến từ 3m đến lm so với mặt nước biển Vùng đất này có địa hình hơi ngliièng từ phía tây bắc xuống đông nam, là kết quả lâu dài của quá trình bồi đắp phù sa bởi hệ thống sông Hồng, sông Thái Binh và đặc biệt là thành quả sự chinh phục đồng bằng của nhân dân ta hàng ngàn năm nay Đây là vùng đất khá màu

mỡ, thích hợp với cày lúa nước và nhiều loại cây trồng khác Khu vưc Gia Lâm, Thuận Thành, cẩm Giàng, Nam Sách, Thanh Hà đã từ làu là noi có dân cư đông đúc, làng mạc trù phú, ruộng vườn xanh tốt quanh năm

Tuy vậy, so với các vùng khác thuộc đồng bằng sõng Hồng, vùng đất này còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình, lượng phù sa ít hon, và có nhiều ô trũng

là hộ quả của việc chinh phục đồng bằng sớm của nhân dân ta, nên đất đai có tính chua mặn, nhất là vùng ven biển, đòi hỏi con người ncã đây phải vất vả nhiều hơn

Do ảnh hưởng của khí hậu gío mùa, thuỷ chế sông cũng có hai mùa Mùa mưa nước dâng cao, giao thông đường thuỷ thuận lọi hơn, nhưng giao thông đường bộ lại gặp khó khán vì hầu hết những con đường bộ chưa rải nhựa, dễ bị lầy lội, vườn tược hầm hào thường bị ngập nước, gây khó khăn cho bộ đội, du kích khi cần trú ẩn Mùa khô dài hơn từ tháng 11 đến tháng 5, đất khỏ ráo, xe vận tải di5 dàng cơ động trên các con đường liên xã, liên huyện Đất ưong làng, ngoài đổng đểu có thể đào hầm hào trong tác chiến

Với điều kiện địa hình, khí hậu, thuỷ ván đó mà đời sống kinh tế chủ yếu của cư dân vùng này là sản xuất nòng nghiệp, nghề chính là trổng lúa nước Ngoài

ra, nhản dân còn sáng tạo và tiếp nhận nhiểu nghể truyền thống, tao cho bộ mặt

k in h tế xã hội thêm đa dạng Như nghề đúc đổng ớ cầu Nỏm, đúc sang ờ Nhân

12

Trang 14

Lễ, giát vàng ở Kiêu Kỵ, đục đá ở Kính Chủ, gốm sứ ở Bát Tràng, Chu Đậu, dệt

vải, ươm tơ ở Bắc Cầu, Hạ Dương, làm tương ở Bần, nấu rươu ở Trương Xá, Phú Lộc

Đây là vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời Đã từng tồn tại một trung tâm Phật giáo là Luy Lâu Sau Thuận Thành, đến Gia Lâm, Nam Sách, cẩm Giàng là những nơi đã phát hiện nhiều di tích cư dân sinh sống vào những thế kỷ đầu của thời Bắc thuộc Trong quá trình dựng nước và giữ nước, vùng đất này đã sản sinh

và nuôi dưỡng cho dân tộc lớp lớp các danh nhàn tiêu biểu như Lè Chân, Lý Thường Kiệt, nguyên phi Y Lan, Phạm Ngũ Lão, Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, Đoàn Thi Điểm, Cao Bá Quát, Nguyẻn Thiện Thuật

Cũng như nhân dân ta ở mọi miền đất nước, nhân dân vùng này rất cán cù, dũng cảm, có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm Hiện nay, nên vùng ven sông Kinh Thầy còn truyền tụng nhiều sự tích của thòi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh quàn Đông Hán Năm 550, Triệu Quang Phục lập căn cứ ở đầm Dạ Trạch, từ đó lãnh đạo nhàn dân đánh đuổi giặc Lương Năm 905, Khúc Thừa Du

từ Hổng Châu lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên giành quyền tư chủ, xoá bỏ ách đô hộ nhà Đường, mở đầu kỷ nguyên độc lập của dân tộc Năm 938, trên sòng Bạch Đằng, Ngô Quyền đại thắng quàn Nam Hán Năm 1285, trên vùng Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng nhàn dân ta đại thắng quàn Nguyên Năm 1426, từ dinh Bồ Đề, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã chi đạo bao vây tiến công giặc Minh ở thành Đông Quan, tiến tói giải phóng đất nước

Cuối thế kỷ XIX, trước sự xâm lược của thực dân Pháp nhân dân trong vùng đã đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Nguyẻn Thiện Thuật đã biến vùng Bãi Sậy- Hai Sông thành cán cứ chống Pháp kiên cường Nghĩa quân đá dựa vào làng xóm, đầm lầy, sông nước chia thành từng toán nhỏ, thường xuyên tâp kích, phuc kích quân Pháp, gâv cho chúng nhiều tổn thất Khởi nghĩa Bãi Sậy là cuộc chiến tranh nhân dân chống Pháp tiêu biểu đầu tiên của nhân dân trong vùng đường 5 Sau khi bình định xong vùng đồng bằng, thực dân Pháp xúc tiến việc xày dưng đường sá,

Trang 15

Do sự nhạy cảm về chính trị và giao thông thuận lợi, mỗi biến động xã hội

ở các thành phố lớn, các khu vực khác đều có tác động nhanh chóng đến nhàn dân ưong vùng đường 5

Phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế (cuối thế kỷ XIX), phong nào Đỏng kinh Nghĩa thục (1906-1907), phong trào đấu tranh đòi thả Cụ Phan Bội Chàu, để tang Cụ Phan Chu Trinh (1925-1926), phong trào yêu nước của Việt Nam Quốc dân Đảng đầu năm 1930 đều được nhàn dàn ưong vùng hường ứng, nhất là trong các tầng lớp trí thức, học sinh

Đặc biệt, từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền bá vào nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương phong trào đấu tranh của nhân dân vùng Đường 5 được duy trì và phát triển hên tục

Năm 1927, ở Hải Phòng, Hải Dương, phố Gia Lâm đã có nhiều cơ sở của Việt Nam Thanh niên cách mạng đổng chí hội Sau đó, một số chi bộ Cộng sản được thành lập ở Hải Phòng, Gia Lâm , bước đầu xây dưng các tố chức quần chúng: công hội, nông hội, đã tổ chức một số cuộc đấu tranh của còng nhân xi máng, nhà máy tơ Hải Phòng đòi tăng lương, chống đánh đập

Năm 1937, qua phong trào Mặt trận dàn chủ, ảnh hường của Đảng đã lan rộng đến đông đảo các tầng lớp nhân dân ở thành phố, thị xã và nhièu làng xã ờ

tổ chức hội Thanh niên dân chủ, hội Tương Tế, hội ái hữu, hội Hiếu, Bóng đá

J - Theo s ó liệu chưa dáy đù Gia í-ara có 3 đon đién Hưng Yên, Hái Dương có 35 đổn dién Kiến An có 4 ,«ơn

điên Đ ôn đicu lưn nhai là của Macty, rong 3600 rnảu= I3km0.

Trang 16

Khi chiến tranh thế giói lần thứ hai nổ ra, Đảng chủ trương chuyển hưóng chỉ đạo chiến lược Vùng nông thôn đường 5: Văn Lâm, Nam Sách, Thuận Thành, Gia Làm được Trung ương và Xứ uỷ Bắc kỳ chú ý củng cố mở rộng cơ sở Tháng 10-1939, Liên tỉnh B được thành lập bao gồm các tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên, Hòn Gai Tiếp đó, Đảng bộ các tinh

Hưng Yên (7-1941), củng cố Thành uỷ Hải Phòng (1940-1941)

Bất chấp sự khủng bố, đàn áp của bọn đế quốc, phong trào cách mạng trong vùng ngày càng vững chắc, nhất là sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3­1945) Một cao trào kháng Nhật, cứu nước đã dâng cao với các căn cứ du kích Bãi Sậy, Đông Triều, Kim Sơn Ngày 12-3-1945, quàn du kích cách mạng đã đánh chiếm đồn Bần Yên Nhân, "một trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc bộ" thòi tiền khởi nghĩa Tiếp đó là hàng loạt cuộc "phá kho thóc" của nhật để giải quyết nạn đói do Đảng và Mặt trận Viẹt Minh phát động đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia, lôi cuốn tuyệt đại quần chúng ngả vé phía cách mạng

Từ giữa tháng 8-1945, tất cả cácl địa phương trong vùng đã giành được chính quvền bằng tinh thần quật khởi của nhàn dân, trong đó Hải Dương là một trong những địa phương đã đi đầu trong việc giành chính quvền cấp tỉnh (18-8­1945)

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự lãnh đạo của TWĐảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nước của nhàn dân các địa phương trên tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng lại được phát huy cao độ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới, bất chấp những khó khăn, thử thách (4 )

Thực hiện chủ trương "kháng chiến kiến quốc" cùa Đảng và khẩu hiệu chống "giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm", nhân dân Đường 5 đã háng hái tham gia các hoạt động xã hội, tích cực thực hiện các phong Ưào tương trợ giúp đỡ lẫn

J - Trong oan đói 1945, gan 40 vạn ngươi cùa Hưng Yèn- Hài Dương, Kicn An Hai Phong bị chét đoi; Sau ngay 13-91945 hơn 2 van quan Tướng dóng ờ Hái Phong, Hái Dương; 3 vạn quan Nhặl don ve Hai Phong c h ơ y e ^

ntioc' chích quvèn mơi thành lập, cả 4 tính mơi có hon 60 dáng vièn: bon phan dộng viẹt quồc, viẹt cach ơ Hai

Phòng-Hài Dương-Kiên An hoạỉ dọng ráo lièt

Trang 17

Thông qua các phong trào cách mạng cụ thể, thiết thực, hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân, tổ chức của mặt ưận Việt minh, tổ chức Đảng được từng bước kiện toàn, phát triển ngày càng rộng rãi từ tỉnh đến các xã Đến tháng 4­

1946, UBHC các cấp đã được bầu cử thay cho Ưỷ ban lâm thời sau cách mạng

Vé Đảng, tháng 11-1945, các tỉnh uỳ Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng được củng cố, kiện toàn Cuối năm 1946, tất cả các hu vện đều có ban Huvện uỷ và có nhiều chi bộ liên xã Số lượng đảng viên được phát triển nhanh trén cơ sơ lựa chọn những người xuất sắc, hăng hái tham gia cách mạng Lúc tổng khởi nghĩa cả 4 tỉnh có 62 Đảng viên, đến tháng 12 năm 1945 đã có 334 Đảng viên, tháng 12 năm 1946 có 2510 Đảng vièn, với gần 300 chi bộ

Sau Hiệp định 6-3-1946, 15.000 quàn Pháp được đóng ờ một số nơi trèn miền Bắc nước ta Trong đó, ở khu vưc Hà Nội-Hải Dương-Hải Phòng chiếm gần 50%( Hà Nội: 5.000 quân, Hải Phòng: 1.750 quàn, Hải Dương-Phú Lương-Lai Vu: 650 quân.) Ngày 18-3-1946, khoảng 3.000 quân Pháp với nhiêu xe tâng, pháo lớn hành quân theo đường bộ từ Hải Phòng đi Hà Nội Hành động dieu võ dương oai của chúng đã bị hàng vạn nhàn dân ta ở hai bén đường từ An Dương đến Gia Làm đổ ra biểu tình, cản lối với lý do "chưa có lệnh trèri', "phải xuất trình giấy tờ", ở nhiéu đoan đường, nhàn dân còn vứt bàn ghế hạ đổ cây làm vật chướng ngại tỏ thái độ bất hợp tác Phía sau đồng đáo nhân dân là các lưc lương

tự vệ sẵn sàng bào vệ đồng bào nếu chúng có hành đỏng khiêu khích Quàn Pháp phải trình giấy phép và lặng lẽ dọn đường đế đi qua

Trang 18

Đảy là cuộc biểu dương lực lượng to lớn đầu tiên cùa quàn dân Đường 5, là

sự cảnh cáo những mưu đổ quay trờ lại xàm lược nước ta cùa bon thực dân, khẳng đinh chù quyền của nhàn dân ta trẽn địa phương mình

Đối với thực dàn Pháp, ngay khi được phép đi lại ưèn tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng theo quy đinh của Hiệp đinh sơ bộ 6-3-1946, lấv cớ bảo đảm an toàn giao thông, bảo đảm an toàn chạy tầu, quàn Pháp đã rải lực lượng kiếm soát các vị trí dọc đường, cho sửa chữa lại các ga và 7 cày cầu lớn, nhò Thưc chất, đây

là những việc làm chuẩn bị cho những kế hoạch đen tối vé sau của chúng

Ngày 20-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh vé đến Hải Phòng sau chuyến đi thám nước Pháp Khi trở vé Hà Nội, suốt dọc đường xe lửa, hàng chục vạn nhân dản ta đã hân hoan chào đón Người Khi tàu dừng ở ga Lai Khẽ, Hải Dương, Đinh

Dù, Bác đã ân cần thăm hỏi, nói chuyện với nhân dân Bác căn dăn nhân dàn đoàn kết, ủng hộ Chính phủ, đẩy mạnh tăng gia sản xuất Sau khi vé đến Thủ đô Hà Nội, dự cảm được tình hình thời cuộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của thực dân Pháp đã đến gần, Người liên chỉ thị cho quân dân ta phải gấp rút để phòng, không đê bị động trước ảm mưu của địch Ngày 5-11-1946, Người đã ra bản chi thị "Công việc khẩn cấp lúc bây giờ", nhấn mạnh quân dân ta phải đê cao hơn nữa tinh thẩn cảnh giác sẵn sàng đối phó với àm mưu gây chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, phải khẩn trương chuẩn

bị vé mọi mặt Đường lối kháng chiến cũng đã được Người dự kiến trên những nét chính ngay trong bản Chỉ thị này, là tiến hành cuộc chiến tranh nhân dàn, toàn dàn đánh giặc, thực hiện đánh lâu dài chống quân xàm lược Pháp, nếu chúng liéu lĩnh gây ra chiến tranh

Với dã tâm xàm lược nước ta một lần nữa, từ tháng 11-1946, thực dân Pháp

đã liên tue tiến hành các hành động tạo cớ để gây chiến, trong đó tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng là một trọng điểm khiêu khích để chúng đánh chiếm đầu tiên Chúng đã gảy ra hàng loạt vụ phóng xe cán chết người ưèn đường 5, bắn súng bừa bãi bất người, đóng quân trái phép nhiêu vị trí dọc đường Trước những âm mưu

và thủ đoạn đó, quân dân ta ở các địa phương trên tuyến đường sắt, bò Hà Nội- Hai Phòng đã được lệnh phải hết sức kiềm chế, tránh mác mưu địch, tuân thủ

Trang 19

mệnh lệnh của Chính phủ, đồng thời ra sức tích cực chuẩn bị lực lượns, sẩn sàng chiến đấu khi không còn con đường nào khác.

Từ giữa tháng 11-1946, Uỷ ban bảo vệ các tinh, các huyện trên dọc tuyến đường được thành lập Các địa phương đều tổ chức Ban phá hoại, Ban tán cư, Ban cứu thương Nhàn dân đã hăng hái sắm sửa vũ khí, luyện tập quàn sự, tập họp trong các đoàn thể cứu quốc, các lực lượng dân quàn tư vệ Bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng báo hiệu sắp có chiến sự ngày một tăng lên theo thòi sian vơi các vu khiêu khích ngày càng ưắng trợn, thường xuyên của bọn xàm lược Xe, tầu quàn sự của Pháp đi lại nhộn nhip, quân Pháp vũ trang đầy đủ, hiện đại di chuyển suốt ngày đêm trên tuyến đường với thái độ ngàv càng tỏ ra hung hăng ngạo mạn

Bộ đội, tự vệ nhân dân ta hai bên đường cũng không còn ỏn hoà, nén chịu như trước, nhiều người đã có thái độ muốn xông ra quyết một phen sống mái với chúng

Trên thực tế, cuộc chuẩn bị chiến đấu của quàn dân ta dọc tuyến đường cũng ngày một khẩn trương, từng bước hình thành thế trận của chiến tranh nhân dân đánh giao thông vận tải của địch, manh nha hình thành Măt trận Đường 5 sau này Tuy vé Đảng, chính quyền, đoàn thế các địa phương thuộc hệ thốns riêng, song về mặt quàn sự, các tỉnh thuộc đường 5 chủ yếu nằm ưong phạm vi chỉ huy chiến đấu của Bộ Tư lệnh chiến khu m Lực lượng vũ tTang thuộc Khu có các Trung đoàn 50 (E50) bảo vệ khu Quảng Yên- Hòn Gai, Trưng đoàng 41 (E41), bảo vệ khu Hải Phòng- Kiến An-Thái Bình, Trung đoàn 44 (E44) bảo vệ khu Hải Dương- Hưng Yên Ngoài ra còn có các đơn vị bộ đội của các huyện, thị và hàng vạn dân quân tự vệ các làng xã hai bên đường

Ngày 20-11-1946, quàn Pháp gày chiến ờ Hải Phòng Đảng bộ và quân dán Hải Phòng đã chiến đấu ngoan cường, giữ vững thành phố đến ngày 26-11-1946 Trong trận chiến đấu chống quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng ngày 20-11-1946, cầu xe lửa nong thành phố đã bị bộ đội, tự vệ còng nhàn ta đánh sập Đây là hoạt đỏ!ig đánh giao thòng đầu tiên trên tuyến đường Hà Nội-Hái Phòng cùa quân dàn

ta, đã có tác dung không cho quân địch dùng đường sắt cơ động sang vùng Ha Lý

Sau sự kiện Hải Phòng, việc chuẩn bị chiến đấu càng khán trưong hơn Ngày 26-11-1946, Trung ương và Chính phu quvết định hợp nhát Hải Phòns với

18

Trang 20

Kiến An, gọi tỉnh Hải Kiến Dưới sự chỉ huy của chiến khu in, các Ban chỉ huv mặt trận khu vực được thành lập Phía tây Hải Phòng, mặt tràn Cam Lộ được tổ chức nhằm ngăn chặn quàn Pháp tràn ra huyện An Dương và đường 5.

Ở Hải Dương, Hưng Yên, các uỷ ban bảo vệ xúc tiến thành lập các truna đội quyết tử, ráo riết huấn luyện quàn sự, diẻn tập cdc nội dung: phá hoại, trinh sát, tải thương Nhân dân sục sôi không khí kháng chiến, chuẩn bị tản cư gói bánh, cất dấu tài sản Ngày 10-12-1946, tại thị xã Hải Dương, hơn 6.000 bộ đội, cảnh vệ, tự vệ Tỉnh và các huyện tổ chức tuần hành, biểu dương lực lượng, phản đối các hoạt động xâm lược của thực dân Pháp Toàn quàn, toàn dân ta dọc tuyến

cảnh giác săn sàng đứng lẻn kháng chiến chống quàn xàm lược Lực lương vũ trang được lệnh tăng cường chuẩn bị chiến đấu, nhàn dân, nhất là các cụ già, trẻ nhỏ ở một số nơi gần vị trí quân Pháp đều được chuẩn bị tản cư, phòng tránh, thực hiện vườn không nhà trống khi có lệnh

Nhìn chung, tuyến đường Hà Nội -Hải Phòng trải dài ưên một vùng đất thuộc nhiều địa phương, có bể dày lịch sử lâu đòi, có vị trí quan ưọng ở đồng bằng Bắc bộ Đây là hệ thống giao thông sắt-bộ và có đoạn là cả đường thuỷ rất thuận tiện, nối liền hai trung tâm chính trị, quàn sự, kinh tế, vãn hoá lớn ờ miền Bắc Việt Nam là Thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng, băng qua một miền đất trù phú, đông dân, nhiều của rất lợi hại về kinh tế, quốc phòng trong chiến tranh

Nhân dân ta dọc tuyến đường có truyền thống yêu nước, chống ngoại xàm kiên cường, bất khuất từ ngàn xưa Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến cuối

1946, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đáng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp đó của quân dân các địa phương đã được nhản lén gấp bội và biểu hiện một cách sinh động ở công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới

vị trí của tuyến đường và trước các ảm mưu, hành động cúa quân Pháp, quàn dân

ta dọc tuyến đường đã tích cưc chuẩn bị lực ]ượng và thế trận chiến tranh nhân

Trang 21

nề, hậu quả nạn vỡ đê năm 1945 chưa khắc phục xong, lưc lượng vũ trang mới thành lập, vũ khí trang bị thiếu thốn lạc hậu, trình độ tác chiến non yếu, địa hĩnh chiến đấu chống địch, nhất là đánh giao thông vận tải trẻn tuyến đường sắt-bộ có nhiều khó khăn.

Trái lại, quân địch ở khu vực Hà Nội - Hải Phòng và các địa phương có tuyến đường đi qua lại quá manh, hơn hẳn ta về nhiều mặt Chúng đã có âm mưu đánh chiếm con đường huyết manh này từ ngay khi đặt chân ra miển Bắc, nèn đã

ra sức tăng cường lực lượng bố phòng, lập các vị trí bảo vộ ưên các nơi xung yếu, tung tay chân trà trộn nắm tình hình ta, Vả lại chúng có quân sô đông, có phương tiện, trang bị vũ khí hiện đại, trình độ thiện chiến, nhà nghề

Do đó, ở thời điểm cuối 1946, xét trên các mặt, nhất là về quàn sư, tương quan lực lượng giữa ta và địch dọc tuyến đường là nghiêng về phía quàn xàm lược, không có lọi cho ta

Vị trí chiến lược huyết mạch của tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng, những đặc điểm địa hình, dân cư, tình hình kinh tế-xã hội, tương quan lực lượng nói trên chính là sự báo hiệu một cuộc đung độ hết sức căng thẳng, quyết liệt, ác liệt

và toàn diện giữa ta và địch khi chiến sự bùng nổ và trong suốt cuộc chiến của đôi bẽn Kẻ thù rõ ràng không thể không tim mọi cách, kể cả hành động tàn bạo nhất, với lực lượng hùng mạnh nhất, thường xuyên, kịp thời nhất để kiểm soát tuvến đường Đối vói chúng, mất tuyến đường có thể nói là đồng nghĩa với sư thất bại tren chiến trường chính Bắc Bộ và toàn bộ cuộc chiến tranh xàm lược Việt Nam Sau này, trong Hiệp định Giơnevơ, yêu cầu mà chúng đăt ra gay gắt nhất cũng là giữ cho được tuyến đường này cho tới phút chót là vậy

Trang 22

Về phía ta, đây là một địa bàn chiến lược trọng yếu của đất nước, một vùng

có nguồn nhân, tài, vật lực dổi dào, là chiến trường trọng điếm của cuộc kháng chiến Chính noi đây, ta có thể thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân có vai trò, tác dụng to lớn ữong việc đánh bại các hành động bình đinh, càn quét, vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Đổng thời là nơi đánh phá giao thòng vận tải gây thiệt hại lớn cho địch, kìm giữ lực lượng chúng,

chiến đến thắng lợi

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: "Nhìn thế bố trí quàn sự của Pháp trẽn chiến trường Bắc Bộ thì trục đường 5 là một chiến trường cực kỳ quan ưọng Đối với địch, đây là con đường huyết mạch nối liền căn cứ đầu não và căn cứ hậu cần chủ yếu của quàn Pháp trẽn miền Bắc là Hà Nội và cảng Hải Phòng Đối với

ta, phần lớn nguồn nhân lực, vật lực từ đồng bằng Bắc Bộ và một phần từ Thanh Nghệ chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc và toả đi các nơi đều phải vượt qua hành lang này" {55,236}

Vai trò, giá trị kinh tế, quàn sự, chính trị, văn hoá xã hội của tuyến đường

Hà Nội - Hải Phòng khiến cả ta và địch đều ra sức tìm cách nắm giữ Song do tương quan lực lượng tại chỗ, nhất là vé quân sự ta yếu hơn địch, nèn cuộc kháng chiến của quân dân ta trên tuyến đường sớm ở vào thế bất lợi, trở thành cuộc chiến tranh nhân dân trong vùng địch tạm chiếm cực kv gian khổ, anh dũng, phong phú, sáng tạo ở đây, do ngay từ lúc chiến sự xẩy ra đã nhanh chóng bị địch đánh chiếm, nên vai trò lãnh đạo của các Đảng bộ địa phương ỉà có tính quyết đinh thẳng lợi đối vói việc phát động, tổ chức cuộc kháng chiến của toàn dân Và phương châm, biện pháp, hình thức kháng chiến không có gì thích hơp và đúng đen hơn là thực hiện chiến tranh nhàn dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dưa vào sức mình là chính như đường lối kháns chiến mà Trung ương Đảng

và Chủ tịch Hổ Chí Minh đã chi ra

Trang 23

Chưong 2:

CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG

HÀ NỘI - HẢI PHÒNG DƯỚI s ự LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

( 1 2 -1 9 4 6 - 7 -1 9 5 4 )

2.1 PHÁT ĐỘNG VÀ LÃNH ĐẠO QUÂN DÂN CÁC ĐỊA PHƯƠNG DỌC TUYÊN

ĐƯỜNG THỰC HIỆN c u ộ c KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIÊN, CHỐNG ĐỊCH BÌNH ĐỊNH VÀ VẬN TẢI ( 1946-1950 ).

2.1.1 Kịp thòi lãnh đạo quàn dân các địa phưong đứng lên kháng chiến theo đường lối chiến tranh nhàn dân của Đảng, thực hiện tiêu th ổ kháng chiến

trẻn tuyến đưòng (12-1946 - đầu 1947).

Sau khi đánh chiếm thành phố Hải Phòng, để củng cố và mở rộng cho bàn

Sơn Đồng thòi, chúng khẩn trương táng cường binh lưc đê khống chế toàn bộ

tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng vừa đê tránh nguy cơ bị bao vàv cô lập ờ Hà Nội

vừa thuận lợi cho việc tăng viện binh, cơ động lực lượng đánh chiếm vùng Bấc bộ

nước ta Ngày 8-12-1946 chúng tăng quân trái phép ở Hải Dương, đặt tại đây cơ

quan chi huy và lực lượng manh, làm vị trí trung đoạn, chuẩn bị đánh chiếm toàn

tuyến Hà Nội-Hải Phòng Khống chế và sử dụng được con đường sắt bộ Hải

Phòng- Hà Nội, địch đã có thêm viện binh và tiến tới gây các vụ khiêu khích

nghiêm trọng ở nhiều nơi Trắng trợn nhất là trong các ngàv 15,16,17 tháng 12­

1946, chúng đã gây ra các vụ tàn sát nhản dân ta ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh,

rồi vu cáo ta, gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí của tự vệ Hà Nội

Sự nhân nhượng của Chính phủ và nhân dân ta đã tới điếm tột cùng, nhàn

nhượng nữa là mất chủ quyền, mất độc lập tự do Vì vậy, ngàv 18 và 19-12-1946,

tại Vạn Phúc (Hà Đóng), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp quvết định

phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xàm lươc trẽn qui mò cd nước

Hội nghị đã xác đinh những nội dung cơ bán của đường lối kháng chiến, thế hiện

Trang 24

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhàn nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tói, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa Không Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất đinh không chịu làm nô lệ Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc Ai cũng phải ra sức chống thực

Theo mộnh lệnh của Chính phủ, hưởng ứng Lòi kêu gọi của Chủ tịch Hố Chí Minh, đêm 19 rạng 20-12-1946, quân dân ta đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc, tiến công đổng loạt vào các vị trí quàn Pháp từ vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng) trở ra Cuộc tiến còng của ta đã phá tan âm mưu địch đinh đánh úp các cơ quan đầu não, tiêu diệt lực lượng vũ trang ta hòng nhanh chóng đánh chiếm cả Việt Nam trong thời gian ngắn nhất, ít tốn kém nhất Chẳng những

ta không để cho chúng đánh úp mà còn triển khai một cách chủ động việc tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân địch, cỏ lâp địch ờ Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng, giam chân chúng một thòi gian ở Hà Nội và một số thành phố, thị xã, tạo điểu kiện đê cả nước chuvển vào thời kỳ chiến tranh, bảo toàn và phát triển lực lượng kháng chiến lâu dài

Đối với khu vực có tuyến đưòng Hà Nội- Hải Phòng đi qua, căn cứ vào kế hoạch tác chiến chung, Trung ương, Bỏ Quốc phòng- Tổng chi huy đã giao cho các địa phương nhiệm vu là: "Tiến công địch ỡ thị xã Hải Dương, cầu Phú Lương,

Trang 25

cáu Lai Vu, phá cầu , phá đường số 5, bao vày khu vực Hải Phòng, cắt đứt liên lạc đường bộ Hải Phòng-Hà Nội" (80,11-12} Trung ương cũng giao cho Mặt trận Hà Nội tiến công địch trong thành phó, thị ưâín Gia Lâm, phá các công trình mà địch

có thể lợi dụng để tiến hành chiến tranh, trong đó có cả cầu Long Biên

Đêm 19 rạng sáng ngày 20-12-1946, cùng với tiếng súng tiến còng của quân dân Thủ đô Hà Nội, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xàm lược cúa quàn dân ta ưèn tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng dưới sự lãnh đạo của các Đảng

bộ địa phương cũng đã bắt đầu diễn ra Ngay từ đầu, tính chất của một cuộc chiến tranh nhàn dân, toàn dân, toàn diện đã được các Đảng bộ địa phương quán triệt và chỉ đạo triển khai trên thực tế Xen lẫn tiếng súng, tiếng mìn đánh địch của bộ đội, là tiếng cuốc, xẻng, phá hoại giao thông của tự vệ, dân quàn du kích và nhân dản đồng loạt vang lên ở nhiều nơi ưên tuyến đường, như ờ Gia Lâm, thj xã Hải Dương, cầu Phú Lương, cầu Lai Vu

Ở Gia Lâm, dưói sự lãnh đạo của Đảng bộ và Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội, bộ đội, tự vệ, các trung đội quyết tử đã đồng loạt tiến công vào các vị trí đóng quàn của địch ở đầu cầu Long Biên, sân bay Gia Lâm, cầu Đuống Tại trụ cầu giưã bãi sồng, quả bom 250kg do chiến sĩ Phạm Lẽ Ninh châm ngòi đã nổ, phá hỏng hơn 100m một bẽn mặt cẩu Bộ đội ta từ phía Hà Nội đinh tiến lèn phá tiếp, nhưng bọn địch đã dựa vào vũ khí, công sự cản phá quyết hệt

Ở Hải Dương, trước khi chiến sự xảy ra, Tỉnh uỷ đã cùng Bộ Chi huy Chiến khu m chỉ đạo thành lập Ban chỉ huy mặt trận Hải Dương gổm đại diện Trung đoàn 44, ƯBKC, UBHC, do Trung đoàn trướng trung đoàn 44 làm chi huy trưởng Lực lượng nòng cốt của Mặt trận Hải Dương là Trung đoàn 44, đại đội cảnh vệ của tỉnh, các trung đội quyết từ , tự vệ của Thi xã và các huyện xung quanh Thi xã, dân quân các xã ven đường Ngoài bộ phận chủ yếu tác chiến ớ thị

xã Hải Dương, Trung đoàn 44 còn rải nhiêu đại đội ờ các huyện Kim Thành, Nam Sách, Thanh Hà Ban chi huv mặt trận Hải Dương hạ quyết tâm: "Tiêu diệt toàn

bộ sinh lực địch trong thành phố trước khi chúng tăng viện tiến đánh Hải Dương" {46,88}

Trang 26

Khoảng 20 giờ ngày 19-12-1946, tự vệ đã nổ min phá huỷ trạm điện cống

Ba cửa; đồng thời các chiến sĩ Trung đoàn 44, Tiểu đoàn 89 cùng các đơn vị cảnh

vệ, tự vệ chiến đấu, công an xung phong đã đồng loạt tiến công tất cả các vị trí

của địch ở thị xã, ở khu vực cầu Phú Lương và cầu Lai Vu.

Tại cầu Lai Vu, địch có 1 trung đội đóng ở đầu cầu phía đôns Theo kế hoạch, súng trung liên bắn vào quàn địch để bộ đội và tư vệ tiến lên đốt cáu và diệt vị trí địch Nhưng mới bắn được mấy viên, súng bị hóc, địch tập trung hoả lực bắn ác liệt Bộ đội chất rơm lên xe goòng đốt rồi đẩy vào cầu Rơm cháy hết mà cầu không cháy, ở cầu Phú Lương, địch có 1 trung đội, được pháo binh từ thị xã Hải Dương chi viện đã chống trả ta quyết liệt Đến đêm thứ 3 (21-12-1946), bộ đội và tự vệ Nam Sách mới chiếm được khu vực cầu Nhưng sans 22, địch đưa quân từ vị trí Nhà máy chai ra chiếm lại Đêm 22, bộ đội ta xung phong quyết liệt giành quyển kiểm soát cầu, nhưng chưa kịp phá thì bị địch tiến công, phải rút lui,

Tại thị xã Hải Dương, ngay đêm 19-12-1946, ta tổ chức tấn công địch ờ cả

3 vị trí: Nhà máy Chai, nhà Nông phố và trường Nữ sinh Dưa vào vũ khí và công

sự, địch đã chống trả tất cả các cuộc tấn công của quân ta Chiến sự giằng co suốt đêm 19 và 20-12-1946 Đến đêm 21-12-1946, quân ta thav đổi chiến thuật, ưánh chỗ địch manh, mà tập trung lực lượng đánh vào vị trí địch yếu nhất là khu vưc trường Nữ Sinh Sau khi chiến sĩ cảm tử Đặng Quốc Chinh đốt nổ mìn, sập tường bao, bộ đội ta tràn vào diệt và bắt sống trung đội địch ơ đây Đêm 22-12-1946, ta tập trung lực lượng đánh tiếp vị trí nhà máy Chai nhưng không thành cóng

Trong khi bọn lính Pháp bị vây đánh ở Hải Dương, bộ chi huy địch đã điều một lực lượng lớn từ Hải Phòng có cả thuỷ, lục, không quân, dùng chiến thuật bước nhảy đế cứu nguy cho đồng bọn Ngày 20-12-1946, khoảng 1 trung đoàn địch bằng tàu chiến, ca nô đã ngược dòng sông Cấm đổ quân lên Cống Mỹ, phía sau phòng tuyến Cam Lộ, đánh vào trận địa phòng ngự của bộ đội ta Với lực lượng áp đảo, chúng nhanh chóng tiến vào trận địa chốt Chiên sĩ ta chiến đấu dùng cảm, khi hết đan đã đánh giáp lá cà với địch 70 tên địch bị diệt nhưng phòng tuyến Cam Lộ bị vỡ Địch nhanh chóng củng cố vị trí, rồi tuns quàn sửa đường, tién vé phía Hải Dương bằng cả đường thuỷ và đường bỏ Dans uv và Ban chí huy Mặt trận đã phán đoán đúng kế hoạch tiến quân cúa địch, nên đã chi

Trang 27

đạo khẩn trương phá hoại đường 5 ờ đoạn qua huyện An Hải, Kim Thành Song vì

thực hiện quá gấp, dụng cụ thô sơ, đường mới hư hại nhẹ, lại chưa có kinh nghiệm, đất đá để thành từng đống cạnh các hố đào nẽn địch san lấp khá nhanh Ngày 21-1-1946, chúng chiếm được Phú Thái sau khi bị diệt một số tên Ngày 22­

12, chúng đánh đến Phạm Xá, Lai Khê Sáng ngày 23-12-1946, cả hai cánh quân thuỷ và bộ của địch đã hợp điểm được tại cầu Phú Lương, chuẩn bị tán công vào thị xã

Do không nắm chắc diễn biến tình hình, nên khi thấy quàn tiếp viện của địch từ Hải Phòng lên, Tỉnh uỷ, Ban chỉ huy mặt trận Hải Dương mói thay đổi kế hoạch từ tiến công sang phòng ngự, và xác định:"Quyết tâm giữ vững thành phố

từ 10 đến 15 ngày" Đến 14 giờ ngày 23-12-1946, quàn địch phối hợp tấn công trong đánh ra, ngoài đánh vào, có không quân và hải quàn yểm trợ, quyết đánh bật lực lượng ta ra khỏi Thị xã Bộ đội ta chiến đấu dũng cảm, diệt hàng chục tên địch, nhưng không chặn được sức mạnh áp đảo của chúng Đêm 23-12-1946, Ban chỉ huy mặt trận quyết định rút lực lượng vũ trang ra khỏi Thi xã để bảo toàn lực lượng Địch phát hiện chủ lực ta đã rút khỏi Thi xã liền chuyển sang phàn kích trẽn toàn khu vực Các lực lượng còn lại của ta trong Thi xã gặp khó khăn, bị động, lúng túng hơn trước Ta vừa đánh trả địch vừa lui dần ra ngoai vi, không kịp phá các còng thự, bỏ lại 15 tấn gạo, thậm chí sở Công chính còn bỏ lai cả tài liệu

Sau khi chiếm được thị xã Hải Dương, địch bị chững lại một thời gian vì chúng phải lo củng cố lực lượng, phải đối phó với các hoạt động bao vây quấy rối, phá hoại của các lực lượng bộ đội, tự vệ ta Liên tục nhiểu đêm, Tỉnh uỷ và Ban Chỉ huy Mặt Trận đã chi đạo các đơn vị bộ đội, các lực lượng tự vệ, dân quân chia thành các toán nhỏ, phối hợp cùng đột nhập vào nội thị đánh quáy rối địch, thu gom tài liệu, vận chuyển các vật liệu, dụng cụ cần thiết ra ngoài, diệt thêm

nhiều xe cộ, sinh lực địch Quân địch Ưong thị xã phải à trong tư thế báo đỏng,

không được nghi ngơi, không dám tự do đi lại, luôn nơm nớp lo sợ bị quàn ta độtnhập tiêu diệt Ở các địa phương như An Dương, Kim Thành, Kim Môn, Nam Sách, Thanh Hà các Huyện uỷ cũng lãnh đạo quàn dân chuyến sang thưc hiện phương châm đánh lâu dài, tổ chức cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn

Trang 28

diện, thực hiện lối đánh du kích, quấy rối, tiẻu hao sinh lực địch Trong các hoat động đó, các Đảng bộ, đơn vị đã đặc biệt chú trọng bám trụ, củng cố, xày dưng lực lượng và đẩy manh tác chiến ở khu vực dọc theo tuyến đường Hải Dương - Hải Phòng Cuộc chiến đấu phá hoại giao thông vận tải địch trẽn tuyến đườns sắt,

bộ Hà Nội- Hải Phòng bắt đầu trở nên thường xuyên và quyết liệt hơn

Ngày 22-12-1946, Huyện uỷ An Dương đã chỉ đạo tự vệ xã Đại Bản cùns;

bộ đội huyện đánh mìn làm nổ 1 xe chở đan diêt hơn chục tên ở vị trí cách ga Du Nghĩa 200 m vé phía tây, mở đầu truyền thống du kích đánh mìn trẽn đường 5 Ngày 27-12-1946, còng binh của Trung đoàn 41 đánh mìn tại đoạn đường Cố Phục-Kim Thành, phá huỷ 2 xe tăng, 1 xe bọc thép, 1 xe vận tải diệt 28 tên địch,

ta hy sinh 4 chiến sĩ Các vị trí đóng quàn của địch ở Thượng Lý, Quán Toan, Dụ Nghĩa, Hỗ, Phú Thái, Phạm Xá, Lai Khê, Tuần Mây, Tiền Trung, Hải Dương thường xuyên bị du kích, bộ đội ta quấy rối đêm đêm

Đồng thời với các hoạt động tiến công, quấy rối địch của bộ đội, tự vệ, Các Đáng bộ còn lãnh đạo, tổ chức huy động quân dân địa phương mình ra sức thực hiện Lòi kêu gọi tiêu thổ kháng chiếh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiến quyết tản

cư bất hợp tác vói giặc Dọc theo tuvến đường sắt, bộ Hà Nội- Hải Phòng, hàng vạn nhàn dân các thị xã, thị trấn, khu trung tâm giao thông đã chấp nhận gian khổ

hy sinh để rời nhà cửa, quê quán đi tản cư kháng chiến, Các cán bộ, đảng viên đã

tự tháo dỡ, đốt phá nhà cửa của mình nêu gương cho quần chúng thực hiện "vườnkhông nhà trống", bất hợp tác với địch

Chủ trương tiêu thổ kháng chiến của ta không chi nhằm phá bò những cơ

sở, phương tiện mà địch có thể sử dung để đóng quàn, di chuyển lực lượng để đánh lại ta mà quan trọng hơn là đã biểu thị ý chí kiên quyết chiến đấu, thề không đoi ười chung vói quân cướp nước Thời gian sớm muộn có khác nhau, song hầu hết nhân dân các thị xã, thị ưấn, các làng xã ven đường Hà Nội-Hải Phòng đều đã

tự phá nhà cất giấu thóc lúa, của cải rồi tản cư theo sự tổ chức của chính quyền địa phương (5 )

, Theo kháo sát ớ ruot sổ xã ven dướn« 5: I-ai Vu Aí Quòc Cám Điên Gám Đinh Minh

nhàn đ án tán cư trong những tháng cuối nám 1946 đâu num 1947 Sô ơ ại chu

Hái , Gia Thuv thi co tư ven ià ngươi già ven.

Trang 29

Trẽn đoạn từ Gia Làm đến Thị xã Hải Dưcmg, rút kinh nghiệm những n<*ày đầu, còng tác phá hoại được tổ chức chu đáo hom Suốt ngày đêm liên tục hàn<* ngàn thanh niên cùng bộ đội, tự vệ các huyện cẩm Giàng, Bình Giang, Mỹ Hào, Văn Lâm, Yẻn Mỹ, Gia Làm, Thuận Thành, Gia Bình, Lang Tài được huy độnơ phá đường, cả đường bộ và đường sắt Gần 40 km đường sắt bị bóc các thanh ray bạt nền đường Khoảng 30 km đưòng 5 cũng bị đào phá thành các hố sâu, các ụ cao ngổn ngang chướng ngại vật Nền đường rải nhựa rắn chắc nhưng chỉ với dụng cụ thô sơ mà có nhiều đoạn đường hàng nghìn mét bị quân dân ta san bằng

mặt ruộng, nhiều ụ đất lớn được đắp lên ở Như Quỳnh, Bần Yên Nhàn vừa làm

chướng ngại, vừa làm cồng sự chiến đấu

Nghĩa Lộ, các nhà ga từ Đình Dù tới Đồng Niên, tất cả các cầu trên đường bộ và đường sắt như cầu Ghênh, cầu Ghẽ, cầu Thịnh Vạn, cầu cẩm Giàng đều bị ta đánh sập Với những cày cầu bè tông, do không có thuốc nổ, bộ đội, tự vệ ta phải kiên trì đập vỡ bê tồng bằng búa rồi dùng cưa sắt cắt đứt lõi thép cho sập gẫy Các con đường liên tỉnh , liên huyện nối với đường 5 di các địa phương cũng đểu bị phá hoại

Những ngày cuối tháng 12-1946 đầu 1947, do đường sắt không còn họat động được, quán Pháp hết sức lo ngại đã ráo riết tung lực lượng tìm cách đánh thông đường số 5 để nối liền Hà Nội với Hải Phòng Lọi dụng ưu thế binh lực từ Hải Phòng lên, chúng đã tổ chức nhiều cuộc hành quân cấp đại đội và tiểu đoàn từ thị xã Hải Dương ra phía cẩm Giàng nhầm tiến về Hà Nội Các cuộc tiến quàn giải toả giao thông của chúng đã bị quân dân Hải Dương chạn đánh, bị nhiều thiệt hại, tiến triển rất chậm chạp, Như ưận chặn địch ở địa phận xã Thanh Bình, ngày

27 - 12 - 1946 bộ đội, tự vệ ta đã đánh lui một đại đội địch; trận Văn Thai (30-12­1946), ta diệt 35 tên Pháp, buộc chúng phải lui quân; trân cầu Ghẽ (2-1-1947), ta loại khỏi vòng chiến đấu 1 trung đội địch, buộc số còn lại phải tháo chạy vé Thi

xã Hải Dương

Không khai thông được tuyến đường theo hương từ Hải Dương lên, quân Pháp lại tổ chức lực lượng lớn đánh từ phía Gia Làm xuống Ngày 4-1- 1947, hơn 1 tiêu đoàn địch có xe táng dẫn đường đã từ Gia Lâm đánh xuống Như

Trang 30

Quỳnh Mũi tiến quân của chúng đã bị quàn dán Gia Làm chặn đánh quyết liệt Suốt cả buổi sáng hành quàn vừa đối phó với bộ đội, tự vệ ta, vừa dọn đường, đến trưa chúng mới tiến được tới khu vực cầu Ghénh Tại đây chúng lại vấp phai tuyến ngăn chặn của quàn dân Hưng Yên Từ trước, Đảng bộ Hưng Yên đã tăng cường cán bộ và lực lượng của tỉnh cùng lực lượng các huyện Bắc Hưng Yên, có

sự phối hợp của 1 đại đội Vệ quốc đoàn của Trung đoàn 44 đã lập phòng tuyến khá kiên cố để chặn địch Các lực lượng của ta đã bình tĩnh chiến đấu, kiẽn quyết chặn các đợt tiến công của địch, không cho chúng thông đường Quàn địch đã bị thiệt hại nặng với hơn 100 tên bị diệt, số còn lại buộc phải rút về Phú Thuỵ, chờ tăng viện

Ngày 6-1-1947, nhờ được bổ sung thèm 2 đại đội từ Bắc Ninh, quân địch lại tổ chức đánh xuống phía Đông quyết giải toả đường 5, thông đoạn Gia Lâm- Hải Dương Trước sực tiến công ào ạt của địch có cơ giói, xe táng yểm trợ, có trình độ thiện chiến, cơ động nhanh, vừa đánh chính diện vừa đánh theo lối gọng kìm, thọc sườn, lực lượng ta lại có hạn, vũ khí thô sơ, phòng ngự bị động lối ưận địa chiến, địa hình bất lợi, nên quàn ta phải rút dần khỏi các vị trí đê bảo toàn lực lượng Tuyến phòng ngự cầu Ghênh bị vỡ, địch tràn xuống chiếm Bần Yên Nhàn,

DỊ Sử Ngày 7-1-1947 , địch phối hợp cả hai cánh quàn, vừa đánh từ Dị Sử xuống, vừa đánh từ Hải Dương lên khiến các trận địa phòng thủ của ta bị kẹt vào giữa không thể ứng cứu được cho nhau, phải rút xa khỏi các trục đường chính Quán địch lần lượt chọc thủng các trận địa, vượt qua các chướng ngại vật, chiếm được khu vực Ghẽ, Quán Gỏi , hợp quân với nhau, nối thông đường 5

Sau khi chiếm đươc đường 5, địch tăng cường lực lượng đánh chiếm tuyến đường sắt Khác với tuyến đường bộ, trên tuyến đường sắt, ta chủ yếu thực hiện phá hoại, không có nhiều trận địa chặn đánh địch, do đó, hoạt động giải toả đường săt của địch có phần nhanh hơn Ngày 15-1-1947, địch đã chiếm được các

vị trí chủ yếu ưên đường sắt như ga Đình Dù, Nghiã Lộ, Xuân Đào, cầu Bà Sưih Tuv kiếm soát được đường sắt khá nhanh so với kiếm soát tuyến đường bộ, song việc khỏi phuc hoạt động của đường sắt lại không đơn giản, dẻ dàng, mau chóng như đối với đường bộ

Trang 31

Như vậy, phải sau gần một tháng rdo riết đánh chiếm, quàn Pháp mới tam thời giải toả được đường bộ và đường sắt tuyến Hà Nòi - Hải Phòng Chúng đã phải trả một giá rất đắt cho hành động đánh chiếm tuyến đường này, bời ngav từ đầu đã gặp phải một cuộc chiến tranh nhân dân của quân dàn ta dọc theo tuyến đường đi qua Dưới sự lãnh đạo của TW Đảng, của các Đảng bộ địa phương, cuộc chiến đấu của quân dân ta trẽn tuyến đường Hà Nội-Hải Phòng từ ngày 19-12­

1946 đến cuối 1-1947 đã diễn ra ưong tình thế bất lợi, song cũng rất anh dũng, hào hùng, báo hiộu một cuộc giành giật giằng co giưã ta và địch hết sức quyết liệt

về sau trên tuyến đường

Trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, lực lượng có hạn, kẻ địch manh hơn

ta về nhiều mặt, song các Đảng bộ và nhàn dân trẽn tuyến đường Hà Nội-Hải Phòng đã đồng tâm hưởng ứng lòi kêu gọi kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hổ Chí Minh, đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Quốc phòng Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

ở các địa phương có tuyến đường đi qua không chỉ đã được các Đảng bộ phát đông kịp thời, sâu rộng mà có thể nói ngav từ đầu đã thể hiện đúng đường lối, phương châm chung của Đảng và Chủ tịch Hổ Chí Minh, đó là tiến hành chiến tranh nhàn dân, toàn dân, toàn diện Tính chất và hĩnh ảnh của cuộc chiến tranh nhân dân trên tuyến đường đã sớm được lãnh đạo, triển khai thực hiện bằng việc đoàn kết, huy động mọi lực lượng, lôi cuốn toàn dân, dùng mọi biện pháp, mọi phương tiện để đánh địch, phá hoại, cản trở giao thông vận tải của chúng Cu thể

đó là các hành động quả cảm, kịp thòi nổ súng bao vày, kìm chân, tiêu hao lực lượng địch trong các thị xã, thị trấn của các lực lượng vũ ưang có nhàn dân tham gia, phục vụ, là triệt để tản cư, bất hợp tác với giặc, là ra sức phá hoại nhà cửa, cầu đường theo khẩu hiệu "Tản cư là kháng chiến", "Vườn không nhà trống", "Tiêu thổ để kháng chiến"

Trong cuộc chiến đấu của toàn dân chống kẻ địch về mọi mặt, đã nổi bật lên hành động chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, không sợ hy sinh của các chiến

sĩ vệ quốc đoàn, các chiến sĩ quyết tử, các chiến sĩ tự vệ Hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng ở các trận đánh Cam Lộ, Phú Thái, Ghẽ, phố Gia Lâm Cuộc chiến đấu của nhàn dân ta trên tuyến đườns đã

Trang 32

diệt khoảng 300 tên địch, 4 xe tăng và nhiều vũ khí khác, đã phá nát cả tuyến đường sắt và đường bộ, đặc biột là đoạn từ thị xã Hải Dương đến Gia Làm Đã tổ chức được háu hết nhân dân tản cư bất hợp tác vói địch

Lãnh đạo phát động cuộc kháng chiến của quân dân các địa phươns trên dọc tuyến đường này vừa là nhiộm vụ, còng tác chung, vừa là nhiệm vụ, công tác trọng điểm của các Tỉnh uỷ, Huyện uỷ địa phương, nơi có tuyến đường đi qua Có thể nói, trong những ngày đầu kháng chiến, cuộc chiến đấu ngăn chặn giao thòng vận tải địch ữên tuyến đường Hà Nội - Hải Phòng chính là nội dung, hình ảnh tập trung, tiêu biểu nhất của hoạt động kháng chiến của Đảng bộ, quân dân các địa phương có tuyến đường đi qua, như Hà Nộị, Hưng Yên, Hải Dương, Hải - Kiến

Sự lãnh đạo của các đảng bộ và những diễn biến của cuộc chiến đấu của quân dân dọc tuyến đường ở thời kỳ cuối 1946 đầu 1947 chính là đặc điểm, là nội dung sẽ chi phối cả quá trình lãnh đạo kháng chiến về sau của các Đảng bộ vùng nàv Đó

là lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống địch càn quét, bình đinh, ra sức phá hoại các hoạt động giao thông vận tải của chúng

Bêin canh những cố gắng, thành công ban đầu đó, thời kỳ này sự lãnh đạo, chỉ đạo của các Đảng bộ địa phương, hoạt động kháng chiến của quân dân ta doc tuyến đường cũng đã bộc lộ những thiếu sót, hạn chế, non yếu

Đó là việc tổ chức bộ máy kháng chiến ở cấp tỉnh, huyện chưa phù hợp, UBKC, UBHC cùng tồn tại với Ban chỉ huy mặt trận , chức năng nhiệm vụ chưa

rõ ràng nên dẫn đến tình trạng chồng chéo, bỏ việc Tuyến đường qua nhiểu địa giói hành chính, sự phối hợp giưã các địa phương chưa thực hiện được chặt chẽ, nén địch đánh chiếm từng khu vực như bẻ đũa từng chiếc một Việc tổ chức chiến đấu, ngăn chặn địch mang tính bị động phòng thủ và quan niệm nặng về ưách nhiệm của lực lượng vệ quốc đoàn, mà chưa biết phát huy sức mạnh của đông đáo nhân dân Ban chỉ huy mặt trận Hải Dương và Hưng Yên đều chưa đánh giá hết

àm mưu của địch đối với tuyến đường và quyết tâm bảo vệ đường của chúng, nên

đã thiếu kế hoạch đối phó lâu dài và thường sơ hở, bị động

Trong việc tổ chức chiến đấu, vai trò của cấp uỷ Đảng địa phương còn lúng túng, bị động vào kế hoạch tác chiến của bộ đội (E44) vì chưa có cơ quan chỉ huy quàn sự độc lập Việc tổ chức nhàn dân tản cư, do chưa thấy hết âm mưu- kế

Trang 33

hoạch của địch nén ờ một số noi để nhân dàn chạy loanh quanh(6 ) vất vả dẫn

đến mất mát của cải, đời sống không ổn đinh

Tất cả những khuyết điểm trên đã làm hạn chế đến thắng lợi, gây thêm tổn

thất cho nhàn dân ta Đó là những khuyết điểm, non kém khó tránh khỏi ở những

ngày đầu kháng chiến còn nhiều bỡ ngỡ ấu tri, là những bài học kinh nghiộm để

các đảng bộ và nhàn dân các địa phương trường thành, vượt qua khó khăn trong

thời kỳ mới, giành nhữnh thắng lợi to lớn hơn

2.1.2 N ỗ lực xảy dựng lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh nhàn dân về mọi mặt, ra sức phá tề trừ gian, phá hoại giao thông vận tải địch (đầu 1947 - đầu

1950).

Sau khi chiếm được tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng, thực dân Pháp đã liên tục mở các cuộc hành quân càn quét vào các làng xã xung quanh nhằm cướp

bóc của cải, bắt phu, xua giãn lực lượng ta để tạo một hành lang an toàn cho khu

vực chiếm đóng và vận chuyển Trong những cuộc hành quàn ấy, quân Pháp thực

hiện chính sách "đốt sạch, phá sạch, giết sạch", nhất ỉà những làng xóm có hoạt

động du kích

Hành động của đích ngay từ đầu đã tỏ ra hết sức tàn bạo Trẽn địa bàn các

xã dọc theo tuyến đường sắt - bộ Hà Nội-Hải Phòng, đã diễn ra nhiều cuộc tàn

sát nhàn dân ta rất dã man Như ngày 16-1-1947 chúng càn vào vùng Mỹ Hào,

địch bắt hơn 500 người, giết hơn 30 người, đốt hàng trăm ngôi nhà Ngày 8-2­

1947 càn vào làng Cam (Gia Lâm) giết hại hơn 100 người, chủ yếu là người già,

tré em Ngày 7-2-1947 càn vào vùng nam Mỹ Hào, đông Yên Mỹ, giết hại 250

người ở làng Thuần Xuyên Âm mưu của thực dân Pháp là hòng dùng sự tàn bạo

để thị uy, gây sự khiếp sợ, kinh hoàng, buộc nhãn dân ta phải thần phục chúng,

đế yên cho chúng tự do đi lại, vận chuyển trẽn tuyến đường

Đồng thòi vói việc càn quét, thực dân Pháp đã ráo riết tổ chức sửa đường, xây dựng cân cứ đóng quân lâu dài, nhất là từ cuối tháng 2-1947, khi Trung đoàn

vác định đ ịch sẽ chiếm các thành phó thị xã, thị tran.nen hao hẽt dén tán cư r* v iin i 'tonn then Khi ạ Ịch

hiu.ni các tu y ến đường g iao thõng quan trong, đò n g bào lụi chạy xu ong phiu aaxu tìoqc lén ptiía bac đtior.g 2.

Trang 34

Thủ đô rút khỏi Liên khu I, chúng làm chủ được nội thành Hà Nội Chúng tunơ quân bao vây các làng mạc, dồn dân ra mặt đường để khôi phục lại các đoạn đường đã bị ta phá hoại Hàng ngàn người đã bị chúng dùng lười lê, báng súng dùi cui cưống bức lao động khổ sai trèn tuyến đưòng liên tục nhiểu ngày đêm để nhanh chóng bảo đam thông xe, thông tầu phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược đang ngày càng mở rộng

Trên đường săt, ngoài việc khôi phục lại tuyến đường, chúng còn tổ chức sừa chữa lại cầu cống, xày dựng lại hệ thống nhà ga Trung bình khoảng 3 - 5 km

có 1 điểm dừng, từ 5 đến 10 Km có một ga tránh tàu (7 ) Tại mỗi điểm dừng, mỗi ga tàu chúng đều bố trí 3 đên 4 bốt gác, có khoảng 1 trung đội làm nhiệm vụ bảo vệ thường xuyên suốt ngày đêm

Kế cả đường sắt và đường 5, hệ thống bảo vệ của địch có tới hon 40 vị trí

cố định cỡ trung đội Ngoài ra còn có các đơn vị cơ động khác sẵn sằng ứng cứu, tiến hành các cuộc càn quét liên miên vùng phụ cận để đẩy lực lượng ta ra xa tuyến đường Lực lượng chốt giữ, bảo vệ đường và lực lượng cơ động ứng cứu vào đầu năm 1947 thuộc 3 phân khu: Gia Lâm, Hải Dương, Hải Phòng, do Bộ chỉ huy miển Bắc Đông Dương thống nhất điều hành

Trong các cuộc càn quét, thực dân Pháp đã tập trung đánh phá triệt đế hệ thống tổ chức Đảng, chính quyển và các đoàn thể của ta Đối tượng bắt bớ, bắn giết hàng đầu của chúng trong các cuộc càn quét, thanh trừng dân cư là nhằm vào cán bộ, đảng viên, dân quân, tự vệ ta Hàng trăm cán bộ, đảng viên, quân chúng cách mạng đã bị chúng lùng bắt, bắn giết thẳng tay, nhiéu người bị chúng bêu xác bên đường, giưả chợ, nơi tầu xe qua lại Vừa ra sức tìm cách xoá bỏ chính quyền nhân dân, chúng vừa ráo riết thiết lập bộ máy chính quyền tay sai, trước hết là các địa phương, các khu dân cư có tuyến đường đi qua Tháng 5-1947, chúng thành lập Hội đồng an dân Bắc Việt, Hội đổng an dàn các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương Đồng thòi chúng lập các quận hành chính: Nghĩa Lộ, Bần Yên Nhãn, DỊ Sừ ờ các làng xã sát tuyến đường, chúng cho tay chân đi tuvên truyén, khống chế, từng bước tâp hợp, lôi kéo các thành phần phản động, bất mãn và mót số người đã phuc

«V, vnị hê rhổng "a hien nay, so ga tau trươc nam 1955 nhiêu hơn Hiện nay mọt só ga da bò.Đùm Du, uánĐàc, LnĐicm.Đóng Nicá nhưng lai thêm ga Tuáh Lương và ga Cao Xá.

Trang 35

vụ chính quyển Pháp trước năm 1945 để lập tè Bọn Pháp và tay sai còn tìm cách

dụ dỗ, lùng bắt nhản dân trở về què quán làm ãn, rồi từng bước buộc họ gánh vác thuế khoá, phu phen, canh phòng, đi lính cho chúng

Trước tình hình mới của cục diện kháng chiến chung, tháng 4-1947 Trunơ ương Đảng đã mở Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ hai để xác định những vấn

đê cơ bản của cuộc kháng chiên toàn quốc Hôi nghi đã đề ra các nhiệm vu cu thể cho kháng chiến, nhấn mạnh: Về chính trị phải thực hiện 'Toàn dân đoàn kết kháng chiến lâu dài ", v ề quàn sự, phải "Phát triển chiến tranh du kích ngay trong vùng địch kiểm soát và ngay trong các thành phố địch tạm thòi làm chủ, vừa tiéu hao, vừa tiêu diệt địch " {75,28-29} Hội nghi cũng chủ trương tiến hành đại hội đảng bộ các cấp liên khu, tỉnh, huyện, xã để củng cố lại cấp uv, bổ sung cán bộ do sự xáo động lớn sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ Thực hiện chủ trương mới cuả Trung ương Đảng, dưới sự chi đạo của các phái viên cấp trên, trong các tháng giưã năm 1947, Đảng bộ các tỉnh thuộc vùng đường 5 đã tiến hành đại hội đại biểu Đảng bộ tại các địa điểm mà ta vẫn giữ vững quvén làm chủ Tháng 4-1947, là đại hội đại biểu Đảng bộ Hải Dương, tháng 5-1947 là đại hội Đảng bộ các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, tháng 7-1947 là đại hội của Đảng bộ Hải Kiến Trọng tâm của đại hội các Đảng bộ là tập trung quán triệt đường lối kháng chiến của Đảng, kiểm điểm nghiêm túc quá trình tổ chức kháng chiến ở địa phương, vạch ra phương hướng nhiệm vụ của Đảng bộ và kiện toàn cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo ở tỉnh và các khu vục

Đánh giá lại những tháng đầu năm 1947, các Đảng bộ đều nhận thấy chiến

sự diễn ra quá nhanh, việc quán triệt đường lối của Đảng chưa sâu sắc và cụ thể nên còn lúng túng trong việc tổ chức ngăn chặn các cuộc tiến còng của địch và các hoạt động khác Như ở Hưng Yên, Đại hội cho rằng: "Việc chuẩn bị kháng chiến còn ồ ạt, thiếu cụ thể, chưa có kế hoạch rõ ràng, chưa phân cống chi tiết ai đi?, ai ờ?, đánh ở đâu?, đánh thế nào? " {17,56}

Tuy vậy, các Đảng bộ đều có nhận đinh chuns là hầu hết cán bộ, nhân dân các địa phương đã hăng hái tham gia kháng chiến, tin tường ờ Đáng, Bác Hồ, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng của kháng chiến Phong trào quần chúng kiên quyết, nhanh chóng đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến với moi loai vũ khí trang bị,

Trang 36

mọi hình thức như vậy đã chứng tỏ các Đảng bộ đã lãnh đạo quân dân địa phương chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh toàn quốc kháng chiến của Trung ương Đảng hưởng ứng kịp thòi Lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Điều đó cũng có nghĩa là các Đảng bộ đâ lãnh đạo phát động và bước đầu tổ chức thành công cuộc Kháng chiến trẽn địa phương mình, nong đó quan trọng là các khu vực có tuyến đường Hà Nội -Hải Phòng đi qua, nơi có nhiều quàn địch nhất

Về phương hướng nhiệm vụ, căn cứ vào hoàn cảnh của từng địa phương, trong đó nét nổi bật chung là do bị địch chiếm đóng một phần, các Đảng bộ đều khẳng định phải quán triệt sâu sắc và triển khai rộng rãi cuộc chiến ưanh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính theo đường lối kháng chiến chung của Đảng Song phải được cụ thể hoá, vận dụng sáng tạo đường lối đó ở đia phương mình, bao gồm những vấn đề cơ bản như:

Một là, ra sức lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết toàn dân, nêu cao khẩu hiệu độc lập dân tộc, thực hiện quàn dàn, chính, đảng nhất trí Kiên quyết giữ đất, bám dân, quyết không cho địch lôi kéo dân về phía chúng

Hai là, triệt để áp dụng mọi hình thức đánh giặc cổ truyẻn của dân tộc, chú trọng hình thức chiến hanh "du kích vận động", thực hiện chiến tranh phá hoại, nhất là phá hoại giao thông vận tải địch trên tuyến đường Hà Nội-Hải Phòng Vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng ta, lấy súng giặc bắn giặc, vừa kháng chiến vừa kiến quốc

Ba là, tích cực lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, phát triển manh dân quân, du kích Phát động toàn dân, nòng cốt là bộ đội địa phương, dân quân du kích chống địch càn quét, phá tề trừ gian, không cho địch lập lại hệ thống chính quyền tay sai phản động

Bốn là, nhanh chóng củng cố lại hệ thống tổ chức Đảng, nhất là tổ chức

Đảng cơ sở ở vùng tạm chiếm Trên cơ sở phong trào kháng chiến của toàn dán,

tích cực phát triển đảng viên mới, lưa chọn và bổ sung thêm cán bộ, tăng cường

bộ máy tổ chức chỉ đạo, chỉ huy các cấp, bảo đảm liên lạc thông suốt, giữ vững chính quyền và các đoàn thể kháng chiến

Đại hội các tỉnh đã bầu BCH và quyết định thành lâp Ban chỉ đao vùng tamchiếm các cấp 0 cấp tinh, Ban chi đao vùng tạm bị chiem do mọt đong chi Tinh

Trang 37

uỷ viên phụ trách, các uỷ viên là Bí thư Huyện uỷ các huyện có vùng bị địch tạm chiếm Tuy tên gọi khác nhau, như ở Hưng Yên có Ban Công tác vùns tạm chiếm ( do đổng Lê Quý Quỳnh phụ trách), ở Hải Dương có Ban Chỉ đạo vùng tạm chiếm (do đổng chí Nguyễn Năng Hách phụ trách), ở Hải Kiến có Tiểu Ban vùng đất bị chiếm đóng (do đồng chí Nguyễn Phú Tuyên chỉ huy), ở Bác Ninh có

nhau là lãnh đạo, tổ chức các hoạt động kháng chiến trẽn địa bàn do địch kiểm soát Các tỉnh đều coi công tác trọng tâm của địa phương là ở vùng sau lưng địch, trong đó khu vực có tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng đi qua là gay go, ác liệt và quan trọng n h ấ t

Sau đại hội đảng bộ cấp tỉnh, các huyện đã mở hội nghị quán triệt đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng và những chủ trương cụ thê của cấp ưên Đảng bộ các huyện vùng tạm bị chiếm, hầu hết là những huyện có tuyến đường

Hà Nội- Hải Phòng đi qua, đã được các Tỉnh uỷ quan tâm chi đạo, hướng ưọng tâm công tác vào thực hiện các nhiệm vụ, chủ trương chung do đại hội các Đảng

bộ tỉnh đâ đề ra Quan điểm kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dưa vào sức mình là chính được phổ biến sâu rộng và quán triệt thêm một bước cho cán bộ, đảng viên, dân quân, du kích và nhân dân

Đại hội đảng bộ các cấp đợt này có một ý nghĩa quan trọng đối với các địa phương dọc tuyến đường Hà Nội- Hải Phòng Qua các đại hội, hệ thống tổ chức,

bộ máy lãnh đạo đảng bộ các cấp đã được củng cố lại, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân được thòng suốt, phấn khởi, tin tưởng hơn Các Đảng bộ đếu đã nâng cao thêm một bước nhận thức về vị trí, vai trò của cuộc kháng chiến của các địa phương có tuyến đường giao thòng huyết mạch đi qua, không những ưong phạm vi mỗi huyện, mỗi tỉnh mà còn có quan hệ tới cả chiên trường Bắc Bộ và với

cả nước Đồng thời trên cơ sở nhận thức rõ hơn vị trí tuyến đường mà có ý thức phối hợp các hoạt động chung trong thực tế công tác, chiến đấu, phá hoại giao thỏng vận tải địch

Mùa hè năm 1947, tai Đại từ, khi bàn về chủ trương hoat động ờ khu vực

"Đây sẽ là nơi riành giật ác liệt giữa ta và địch, cần dùng các tổ du kích bí mát và

Trang 38

Với sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo vùng tạm chiếm của các tỉnh, các huyện vùng đường 5 đã đẩy mạnh cồng tác xây dựng lực lượng về mọi mặt, tích cưc nắm tình hình, tổ chức quấy rối phá hoại, tiêu hao quân địch.

Về củng cố xảy dựng lực lượng, ban chi đạo vùng tạm chiếm các tỉnh đã chỉ đạo các huyện khẩn trương khắc phục những thiếu sót, đề ra nhiều biện pháp

ven đường giao thòng quan ưọng hoặc gần vị trí địch phải tổ chức tản cư triệt để; những nơi xa vị trí địch từ 2km trở lên, phải tổ chức cất giấu tài sản, vận động nhân dân ngày đi sơ tán đêm về sản xuất Thực hiện chủ trương của Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất, từ tháng 6-1947, các cơ quan chỉ huy quân sự địa phương được thành lập, từng bước chấn chỉnh biên chế, tổ chức các đơn vị vũ trang Hệ thống chỉ huy quân sự này được bố trí nằm ữong hệ thống UBKH các cấp, đặt dưói sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ, nên từ đây, các đảng bộ đã thực hiện được vai trò lãnh đạo kháng chiến ngày càng có hiệu quả hơn Các tỉnh đã cải tổ các đơn vị cảnh vệ thành bộ đội địa phương, xây dưng từ 3 đến 4 đai đội thuộc tỉnh đội Tỉnh Hải Dương có các đại đội 29, 50, 126 và 77 Tỉnh Hưng Yên

có các đại đội 25, 16, 14 Tỉnh Hải Kiến có đại đội 61, 65, 295, 195 Mỗi huyện củng cố 1 trung đội du kích thoát ly Huyện An Dương có trung đội Đặng Cương, Kim Thành có trung đội du kích Kim Thành, cẩm Giàng có trung đội Quang Trung Bình Giang có trung đội Lê Lợi, Nam Sách có trung đội Quốc Tuấn, Mỹ Hào có trung đội Hổng Châu, Văn Lâm có trung đội Lẻ Huỳnh, Yên Mỹ có trung

37

Trang 39

đội Bai Sậy, Gia Làm có trung đội Hồng Hà o các xã có lực lượng dân quàn đông đao, trong đó môi xã xây dựng 1 tiểu đội du kích thoát ly, được trang bị súng trường các loại, còn sỏ đông du kích chỉ có mã tấu, dao găm, mìn, lưụ đạn

Đê đây mạnh việc đanh phá giao thông vận tải địch trên tuyến đường Hà Nội-Hải Phòng, các tỉnh còn xây dựng các đon vị có chuyên môn, kỹ thuật riêng Tinh Hưng Yên có một trung đội công binh chuyên bám đường để đánh địa lôi (Trung đội này sang năm 1948 đã phát triển thành đại đội Vũ Hổ) Tỉnh Hải Kiến thanh lập đội giao thông chiến Kiến An ( đội công binh đặc b iệ t)

Hoạt động sôi nổi nhất của năm 1947 là việc đông đảo dân quân du kích thường xuyên phá hoại giao thông của địch Tỉnh uỷ Hải Dương và Tỉnh uỷ Hưng Yên nêu khẩu hiệu: "Ngày địch làm chủ, đêm ta làm chủ; ngày địch sửa đường, đêm ta phá đường" Suốt một thời gian dài, trên đường 5 đoạn từ thị xã Hải Dương đến Đình Dù, liên tục bị phá hoại, quấy rối, bởi hàng ngàn dân quàn du kích các huyện , các xã ven đường

Đồng thời với các hoạt động phá hoại giao thòng rầm rộ bằng cuốc, xẻng của đông đảo dân quân du kích, các trận phục kích đánh mìn đã xuất hiện, gây nên những phong trào thi đua đánh giặc ưong bộ đội, du kích , trong nam nữ thanh niên Ngày 20-1-1947 và ngày 23-2-1947, một đơn vị còng binh của E44 cùng du kích xã Cộng Hoà (Yên Mỹ) đặt địa lôi ở Phố Nối, diệt 2 xe tải và 20 tên địch, mở đầu phong trào đánh địa lôi ở Hưng Yên Nguyễn Văn Huân, người trực tiếp giật mìn ở trận này về sau còn đánh thắng nhiều trận nữa, và trở thành "vua mìn" Hưng Yên với biệt danh " Saú Đậu" Chuyện đánh mìn của Nguyẻn Vãn Huân đã được tỉnh uỷ Hưng Yên chỉ đạo tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong địa phương và các đơn vị thuộc khu n i Một chiến sĩ vãn công chiến khu 3 đã viết lại trận đánh mìn ở Phố Nối thành một bài tấu nói, biểu diễn ở nhiều nơi Ngày 4-5­

1947 du kích cẩm Giàng chôn mìn và phuc kích ở Mao Điền, phá 3 xe vận tải, diệt 29 tên

Trong tháng 7-1947, có hàng loat trận đánh du kích của các xã: du kích Dươnơ Ná phá cầu Lường rỏi chôn mìn diêt xe tăng đích; du kích Minh Đưc đanh mỉn ở cầu Thịnh Van; du kích Tiền Tiến, Trung Kiên, Chi Đạo liên tục quấy rối vị ttrí địch ở cầu Ghênh, Nghĩa Lộ

Trang 40

Trên đường sắt, ngày 6-5-1947 , du kích Kim Thành đánh quả địa lôi đầu tiên ở đầu phía tây ga Phạm Xá, phá 1 đầu máy, lật đổ 8 toa, 32 tên chết và bị thương Ngày 5-10-1947, nữ du kích Đinh thị Nhìn giật địa lôi ở gần làng Mân Lộc (Kim Lương) đâ lật đổ đầu tàu 6 toa, diệt 12 tên địch, gày nên một phong ơào nam nữ du kích thi đua đánh mìn, địa lôi phá hoại giao thông vận tải địch Cuối tháng 8 năm 1947, bộ đội huyện Thanh Hà và du kích xã Minh Đức đã dùng vải cơrếp (một loại cao su hoà với xăng ngâm vải) đốt cầu Lai Vu làm tắc giao thông trong 2 ngày

Trẽn đoạn đường thuộc huyện An Dương, tiếp giáp với khu phòng thủ Hải Phòng, từ đầu năm đến tháng 9-1947, đội công binh của đại đội Nguyễn Huệ cùng du kích huyện phối hợp với các xã Hổng Hưng, Đại Bản, Lê Thiện đã đánh

15 trận trên đường 5, lật đổ 4 đầu tàu, phá huỷ 30 xe quàn sự Tiêu biểu là ưận ngày 12-8-1947 ở Cam Lộ, chiến sĩ Nguyễn Vãn Ngợi đã ôm bom 3 càng diệt xe bọc thép địch Đội du kích An Dương được Mặt trận đường số 5 tặng danh hiệu

"Con sư tử đường 5"

Như vậy, từ sau đại hội đảng bộ các cấp, dưód sự chi đạo của các Đảng bộ, chi bộ, các hoạt động chiến tranh nhân dân như: phá hoại, phục kích, tập kích, gây rối, diễn ra ở các địa phương, đã cổ vũ, thu hút đông đảo nhân dân tham gia, nhất là trên tuyến đường 5, đường sắt, gây cho địch nhiều thiệt hại Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, hầu hết cán bộ, du kích phải nương nhờ các vùng lân cận, nod địch chưa kiểm soát, vi đa số nhân dân ven đường đã đi tản cư Đêm đêm, cán bộ,

du kích luồn về nắm tình hình, tổ chức phục kích, quấy rối, phá đường, gần sáng lại nít ra

Do hoạt động trong điều kiện như vậy nên cán bộ, chiến sĩ ta gập rất nhiều chan khổ, nguy hiểm mà kết quả thấp Mặt khác, sau một thời gian tản cư tránh giặc lương thực mang theo cạn dần, việc làm, đòi sống không ổn định, sô đông đồng bào lai muốn trở về vên bề làm ăn Vê phía đích, trươc sự phat tnen cua phong ưào chiến tranh du kích, chúng đã ráo riết thúc ép lâp tề, nhăm kiếm soát các làng xã, triệt phá các cơ sờ kháng chiến, tao ra những vành đai an toàn trongkhu vưc 0 tất cả các làng xã chưa lâp tê, đích ban phao, can quet, đot pha henmiên

Ngày đăng: 08/10/2016, 11:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w