1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU ÔN TẬP LÝ THUYẾT, BÀI TẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

69 2,9K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 122,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ 1.1 NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ 1.1.1 Sự ra đời và phát triển của tiền tệ 1.1.1.1 Sự ra đời của tiền tệ Trong quan hệ trao đổi, hình thức giá trị được biểu hiện qua 4 hình thái: Hình thái giản đơn (hay hình thái ngẫu nhiên): Là hình thái xuất hiện khi cộng đồng nguyên thuỷ bắt đầu tan rã, là sự bắt đầu của quan hệ trao đổi. Tuy nhiên, sự trao đổi này mới chỉ là quan hệ trao đổi trực tiếp vật lấy vật, diễn ra trên quy mô nhỏ, rất lẻ tẻ, không thường xuyên và mang tính ngẫu nhiên (Đây chính là nhược điểm, hạn chế) Phương thức trao đổi được thể hiện qua phương trình: x hàng hoá A = y hàng hoá B Ví dụ: 5 đấu thóc = 1 cái áo Hình thái mở rộng Khi cộng đồng nguyên thủy tan rã, hình thành gia đình, chế độ tư hữu đòi hỏi phải tiêu dùng sản phẩm của nhau. Ngoài ra, sự xuất hiện của cuộc phân công lao động xã hội lần thứ nhất (chăn nuôi tách khỏi trồng trọt) làm cho năng suất lao động tăng lên, có sản phẩn dư thừa để trao đổi;  Hàng hoá tham gia trao đổi cũng nhiều hơn. Phương trình trao đổi: x hàng hóa A = y hàng hóa B = z hàng hóa C = …. Ví dụ: 5 đấu thóc = 1 cái áo = 1 con gà =… Kết luận: Trong hình thái mở rộng, mặc dù đã có nhiều hàng hóa tham gia vào quá trình trao đổi, hình thái vật ngang giá đ¬ược mở rộng ra ở nhiều hàng hoá khác nhau, nhưng chưa có vật ngang giá chung. Quá trình trao đổi vẫn là trao đổi trực tiếp vật lấy vật. Vì vậy, quy mô trao đổi vẫn nhỏ, và việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Hình thái chung: Khi xã hội phát triển hơn, lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội cũng phát triển, cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện (thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp), làm năng suất lao động tăng lên, hàng hóa cũng được trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều hơn. Từng vùng, từng khu vực hình thành các chợ (thị trường) để trao đổi hàng hóa. Như vậy, đòi hỏi phải có một hàng hóa trở thành vật ngang giá chung Yêu cầu của vật ngang giá chung: gọn, nhẹ, dễ bảo quản, dễ chuyên chở và phù hợp với tập quán trao đổi của từng địa phương. Phương trình trao đổi: 5 đấu thóc 1 con gà = 1 tấm vải 1 cái áo 2 cái búa Trong phương trình trao đổi trên, chỉ có một hàng hoá đóng vai trò là vật ngang giá chung (là tấm vải), giá trị của các hàng hoá được biểu hiện qua vật ngang giá chung, và trao đổi chỉ thực hiện qua hai lần bán và mua. Như vậy, so với hai hình thái đã biết ở trên, ở hình thái này đã xuất hiện vật ngang giá chung, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quan hệ trao đổi hàng hoá. Tuy nhiên, vật ngang giá chung còn mang tính chất địa phương và thời gian nhất định. Các địa phương khác nhau thì hàng hóa dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau. Nên hình thái này còn cản trở đến việc mở rộng trao đổi hàng hóa giữa các địa phương, đặc biệt giữa các quốc gia với nhau. Hình thái tiền tệ

Trang 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ

1.1 NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ

1.1.1 Sự ra đời và phát triển của tiền tệ

1.1.1.1 Sự ra đời của tiền tệ

Trong quan hệ trao đổi, hình thức giá trị được biểu hiện qua 4 hình thái:

- Hình thái giản đơn (hay hình thái ngẫu nhiên):

Là hình thái xuất hiện khi cộng đồng nguyên thuỷ bắt đầu tan rã, là sự bắt đầucủa quan hệ trao đổi Tuy nhiên, sự trao đổi này mới chỉ là quan hệ trao đổi trực tiếp vậtlấy vật, diễn ra trên quy mô nhỏ, rất lẻ tẻ, không thường xuyên và mang tính ngẫu nhiên(Đây chính là nhược điểm, hạn chế)

Phương thức trao đổi được thể hiện qua phương trình:

 Hàng hoá tham gia trao đổi cũng nhiều hơn

Phương trình trao đổi:

x hàng hóa A = y hàng hóa B = z hàng hóa C = …

Ví dụ: 5 đấu thóc = 1 cái áo = 1 con gà =…

Kết luận: Trong hình thái mở rộng, mặc dù đã có nhiều hàng hóa tham gia vàoquá trình trao đổi, hình thái vật ngang giá được mở rộng ra ở nhiều hàng hoá khác nhau,nhưng chưa có vật ngang giá chung Quá trình trao đổi vẫn là trao đổi trực tiếp vật lấyvật Vì vậy, quy mô trao đổi vẫn nhỏ, và việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn

- Hình thái chung:

Khi xã hội phát triển hơn, lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hộicũng phát triển, cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện (thủ công nghiệptách khỏi nông nghiệp), làm năng suất lao động tăng lên, hàng hóa cũng được trao đổithường xuyên, đa dạng và nhiều hơn

Từng vùng, từng khu vực hình thành các chợ (thị trường) để trao đổi hàng hóa.Như vậy, đòi hỏi phải có một hàng hóa trở thành vật ngang giá chung

Yêu cầu của vật ngang giá chung: gọn, nhẹ, dễ bảo quản, dễ chuyên chở và phùhợp với tập quán trao đổi của từng địa phương

Phương trình trao đổi:

5 đấu thóc

Trang 2

1 con gà = 1 tấm vải

1 cái áo

2 cái búaTrong phương trình trao đổi trên, chỉ có một hàng hoá đóng vai trò là vật nganggiá chung (là tấm vải), giá trị của các hàng hoá được biểu hiện qua vật ngang giá chung,

và trao đổi chỉ thực hiện qua hai lần bán và mua

Như vậy, so với hai hình thái đã biết ở trên, ở hình thái này đã xuất hiện vậtngang giá chung, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quan hệ trao đổi hàng hoá Tuynhiên, vật ngang giá chung còn mang tính chất địa phương và thời gian nhất định Cácđịa phương khác nhau thì hàng hóa dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau Nênhình thái này còn cản trở đến việc mở rộng trao đổi hàng hóa giữa các địa phương, đặcbiệt giữa các quốc gia với nhau

- Hình thái tiền tệ

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền tệ đã xuất hiện khi có vậtngang giá chung dùng để trao đổi nhiều lần với các hàng hóa khác và vật ngang giáchung đó chính là tiền của vùng, của khu vực đó

Ngoài ra, theo C.Mác hàng hóa làm tiền tệ phải có giá trị cao là vật ngang giáchung cho cả thế giới hàng hóa

Phương trình trao đổi:

5 đấu thóc

1 con gà = 0,2 gr vàng

2 cái búa

1 cái áo

Ở phương trình trên, vàng là vật ngang giá chung cho tất cả hàng hoá

1.1.1.2 Quá trình phát triển của tiền tệ:

Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ đã lần lượt tồn tạidưới nhiều hình thức khác nhau:

Tiền bằng hàng

hóa thông thường 

Tiền vàng 

Tiền đúc bằng kim loại kém giá 

Tiềngiấy 

Tiền chuyểnkhoản

(1) Tiền bằng hàng hóa thông thường

Hàng hoá đặc biệt được chọn làm tiền phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Những hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung để trao đổi nhiều lần vớihàng hóa khác;

Trang 3

- Hàng hóa đó phải quý, hiếm, gọn, nhẹ, dễ bảo quản, dễ chuyên chở và phù hợpvới tập quán trao đổi từng địa phương.

Nhược điểm: do hàng hoá được chọn làm tiền ở các vùng khác nhau thì khácnhau, do đó, cản trở sự phát triển quan hệ trao đổi giữa các vùng miền Hơn nữa, nhucầu của con người luôn thay đổi và ngày càng tăng, do đó hàng hoá được sử dụng làmtiền cũng thay đổi, vì vậy việc dùng hàng hoá làm tiền càng trở nên phức tạp

Phương thức này dần dần bị xoá bỏ để nhường cho một hàng hoá trung gian kháclàm bằng kim loại quý - thời kỳ kim tệ ra đời

(2) Tiền vàng

Do những đặc tính ưu việt của vàng so với các hàng hoá khác, trong thực tế lưuthông hóa tệ kim loại, vàng là loại tiền tệ được sử dụng phổ biến và lâu dài nhất Nhữngđặc tính của vàng bao gồm:

- Vàng là loại hàng hóa được nhiều người ưa thích; vì vậy dễ được mọi ngườichấp nhận trên diện rộng

- Đặc tính lý hóa (không thay đổi về mầu sắc, chất lượng dưới tác động của môitrường; dễ chia nhỏ hay hợp nhất) của vàng rất thuận lợi trong việc thực hiện chức năngtiền tệ;

- Giá trị của vàng ổn định trong thời gian tương đối dài, ít chịu ảnh hưởng của sựtăng năng suất lao động xã hội

Nhược điểm của nó:

- Trình độ sản xuất ngày càng phát triển, khối lượng hàng hoá dịch vụ trao đổingày càng nhiều, lượng vàng sản xuất ra không đáp ứng nhu cầu trao đổi của nền kinhtế;

- Theo thời gian giá trị của vàng trở nên quá lớn để làm vật ngang giá chung đốivới các hàng hóa có giá trị nhỏ và ngược lại;

- Theo các nhà kinh tế học, việc sử dụng tiền vàng là sự lãng phí những nguồn tàinguyên quý hiếm của xã hội

Bởi những nhược điểm trên, việc sử dụng tiền vàng dần trở nên bất tiện, dẫn tớiviệc bị loại ra khỏi lưu thông Ngày nay vàng được đưa vào dự trữ cho các quốc gia và

cá nhân, đồng thời nó được sử dụng trong thanh toán quốc tế

(3) Tiền đúc bằng kim loại kém giá:

Đặc điểm của tiền đúc bằng kim loại kém giá:

- Là các kim loại thường như: đồng, chì, kẽm, nhôm…

Trang 4

- Lưu thông chủ yếu trong triều đại phong kiến, do nhà vua độc quyền phát hành.

- Ngày nay, trên thế giới, nhiều nước vẫn dùng tiền đúc bằng các kim loại kém giá

Ý nghĩa của dùng tiền đúc bằng kim loại kém giá:

- Tiết kiệm của cải xã hội;

- Quy mô và khối lượng phát hành lớn, có nhiều mệnh giá khác nhau đáp ứngnhu cầu trao đổi, thanh toán trong nền kinh tế

Nhược điểm: giá trị nội tại rất nhỏ, dễ hỏng, dễ làm giả, nặng, vận chuyển vàkiểm đếm phức tạp…

(4) Tiền giấy:

Ưu điểm của tiền giấy:

- Tiền giấy gọn nhẹ, dễ cất giữ nên việc vận chuyển nó trở nên dễ dàng hơn

- Tiền giấy được in đủ loại mệnh giá, tiện lợi cho các giao dịch lớn nhỏ, việc giaodịch những khoản tiền lớn cũng trở nên thuận tiện hơn

- Chi phí in tiền giấy nhỏ, đem lại những lợi ích nhất định cho chính phủ

Nhược điểm của tiền giấy:

(5) Tiền chuyển khoản:

Tiền chuyển khoản: là hình thức tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong

sổ sách kế toán của ngân hàng và khách hàng

Như vậy, thực chất, tiền chuyển khoản là đồng tiền phi vật chất, nhưng nó cũng

có những tính chất giống như tiền giấy là được sử dụng trong thanh toán qua nhữngcông cụ thanh toán của ngân hàng như: séc, lệnh chuyển tiền…

Ưu điểm của tiền chuyển khoản so với tiền giấy, đó là: an toàn hơn, chuyển đổi

ra tiền giấy dễ dàng, thanh toán rất thuận tiện, kiểm nhận nhanh

1.1.2 Bản chất của tiền tệ

- Theo C.Mác: “Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt đóng vai trò là vật ngang giáchung để đo giá trị của tất cả các hàng hoá khác và là phương tiện thực hiện trao đổi”

Trang 5

Theo quan điểm của C.Mác, tiền vàng đ ược coi là tiền tệ vì tiền vàng có đầy đủ 2thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng, nó có thể đo đ ược giá trị của tất cả các hàng hoákhác

- Tuy nhiên các nhà kinh tế học hiện đại lại đưa ra khái niệm về tiền tệ: “Tiền làbất cứ một phương tiện nào được xã hội chấp nhận làm phương tiện trao đổi với mọihàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế”

Vậy theo quan điểm này, ngoài vàng ra, tất cả những phương tiện đóng vai tròtrung gian trong quá trình trao đổi đều được coi là tiền, nên phạm vi của tiền tệ được mởrộng hơn

 Bản chất tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giáchung để đo giá trị của các hàng hoá khác, làm phương tiện để trao đổi hàng hoá, dịch

vụ và thanh toán các khoản nợ Bản chất này đã đem lại cho tiền tệ một tính chất hết sứcđặc biệt, đó là khả năng có thể đổi lấy bất cứ một hàng hoá hay dịch vụ nào

Quá trình xuất hiện của tiền tệ cho ta thấy nó là sản phẩm của nền kinh tế hànghoá Điều đó có nghĩa rằng tiền tệ phát sinh, phát triển và tồn tại cùng với sự phát sinh,phát triển và tồn tại của sản xuất và trao đổi hàng hoá, ở đâu có sản xuất và trao đổihàng hoá thì ở đó có tồn tại tiền tệ

1.2 CÁC CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ

3 chức năng cơ bản sau:

- Chức năng đơn vị định giá (Thước đo giá trị)

- Chức năng phương tiện trao đổi

- Chức năng phương tiện dự trữ giá trị (Cất giữ giá trị)

1.2.1 Chức năng đơn vị định giá

Khái niệm: Tiền được dùng để đo giá trị trong nền kinh tế.

Đơn vị định giá là chức năng đầu tiên và cũng là chức năng quan trọng nhất củatiền tệ

Để thực hiện chức năng đơn vị định giá, tiền phải đảm bảo đủ các điều kiện:

- Tiền phải có giá trị danh nghĩa pháp định (Ví dụ: tờ 5.000 VNĐ, 50.000VNĐ,500.000 VNĐ các tờ tiền có mệnh giá khác nhau này, đều do nhà nước quy định.)

- Tiền phải quy định bằng đơn vị (Ví dụ: 1VND; 1 USD…);

- Khi thực hiện chức năng đo lường giá trị chỉ cần tiền tưởng tượng, không phải

là tiền thực (Ví dụ: tiền chuyển khoản…)

Ý nghĩa của tiền tệ khi thực hiện chức năng định giá:

Trang 6

- Xác định được giá cả hàng hóa để thực hiện trao đổi

Ví dụ: Giá cả của một con vịt là 160.000 VNĐ, giá cả của một cái áo là320.000 như vậy, một người có thể bán 2 con vịt, sau đó dùng tiền để đi mua áo Đây

là hình thức trao đổi hàng hoá, thông qua vật trung gian là tiền

- Giảm số giá cần xem xét, do đó giảm chi phí và thời gian trao đổi

Ví dụ: tiếp theo từ ví dụ bán vịt để mua vải trên, khi không có chức năng địnhgiá, người ta có thể coi giá cả của một cái áo là 2 con vịt; giá cả của 1 con vịt là 2 cáibúa, như vậy giá cả của 1 cái áo là 4 cái búa Tuy nhiên, nếu tiền tệ thực hiện chức năngđịnh giá, người ta chỉ cần nhớ, giá của 1 cái áo là 320.000, giá của 1 con vịt là 160.000,giá của 1 cái búa là 80.000 Như vậy, số lượng giá cả cần phải nhớ cũng giảm đi, và khimuốn trao đổi hàng, người ta có thể bán 2 con vịt, hoặc 4 cái búa để mua được cái áoluôn Thời gian trao đổi cũng được rút ngắn lại

- Dùng tiền tệ xác định chỉ tiêu giá trị trong công tác quản lý nền kinh tế quốcdân, doanh nghiệp, đơn vị và thu chi bằng tiền của cá nhân

1.2.2 Chức năng phương tiện trao đổi

Đây là chức năng thứ hai của tiền tệ nhưng lại là chức năng phản ánh rõ nét nhấtbản chất của tiền tệ Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môigiới trung gian trong việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ

Khái niệm: tiền tệ làm môi giới trung gian trong quá trình trao đổi hàng hoá Đặc điểm của tiền tệ, khi tiền tệ được đem ra làm chức năng phương tiện trao đổi:

- Có thể dùng tiền mặt hoặc tiền chuyển khoản

- Có thể dùng tiền vàng hoặc tiền dấu hiệu

- Chuẩn mực của tiền:

+ Phải được chấp nhận rộng rãi: Nó phải được con người chấp nhận rộng rãitrong lưu thông chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hoá mới đồng ýđổi hàng của mình lấy tiền

+ Dễ nhận biết: Con người phải nhận biết nó dễ dàng

+ Có thể chia nhỏ được: Tạo thuận lợi cho việc mua bán giữa các hàng hoá

Trang 7

+ Được tạo ra hàng loạt, số lượng đủ dùng trong trao đổi.

+ Có tính đồng nhất: Các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngangnhau

Ý nghĩa của việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi:

- Mở rộng lưu thông hàng hóa: do tiền làm vật trung gian, có thể vận chuyển mộtcách tiện lợi, gọn nhẹ, vận chuyển đi xa do đó, nó giúp cho sự lưu thông diễn ra thuậnlợi, trên nhiều địa phương, mở rộng sự lưu thông, phát triển thị trường hàng hoá

- Kiểm soát tình hình lưu thông hàng hóa

- Trao đổi thuận tiện, nhanh chóng Do đó giảm thời gian, chi phí trao đổi

1.2.3 Chức năng phương tiện dự trữ giá trị

Dự trữ giá trị là một hình thức tích luỹ một lượng giá trị bằng cách lưu giữ

“phương tiện truyền tải giá trị” được xã hội chấp nhận

Khi tiền tệ được xã hội chấp nhận làm vật môi giới chung gian, chuyển đổi giá trịhàng hoá thành giá cả Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị Thì có nghĩa là, dữ trữgiá trị được thực hiện dưới dạng lưu giữ tiền

Khái niệm: Tiền là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian

Công thức vận động của tiền khi tiền thực hiện chức năng dự trữ giá trị:

H – T … T – H’

Yêu cầu của tiền khi thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị:

- Phải dự trữ giá trị bằng tiền vàng;

- Có thể dự trữ bằng tiền dấu hiệu hoặc gửi tiền vào ngân hàng với điều kiệnđồng tiền ổn định

Ý nghĩa của chức năng phương tiện dự trữ giá trị:

- Điều tiết số lượng phương tiện lưu thông, chức năng này được thể hiện, khi một

lượng tiền tạm thời "nhàn rỗi" trong dân cư sẽ được cất giữ hoặc gửi tiết kiệm Như vậy,với một số lượng cung tiền và nhu cầu chi tiêu nhất định trong nền kinh tế, lượng tiềntrong lưu thông cũng sẽ dừng lại ở một mức nhất định

- Tập trung, tích lũy được nhiều vốn cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức tíndụng Khi tiền tạm thời "nhàn rỗi" được tích luỹ, dự trữ và gửi tiết kiệm Các chủ thểtrong nền kinh tế sẽ tạo ra một nguồn vốn ngày càng lớn dần cho mình, để sử dụng khicần thiết

Trang 8

1.3 CÁC KHỐI TIỀN TỆ

1.3.1 Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn)

Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn) là khối lượng tiền do tổng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân trong mọi thời kỳ quyết định.

Gọi: Mn : Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông;

P : Mức giá cả hàng hoá trong lưu thông;

Q: Tổng khối lượng hàng hóa đưa vào lưu thông;

V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ

Công thức tính:

Mn =

P x QV

Từ công thức trên, ta có: “Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông tỷ lệ thuận với tổng số giả cả hàng hoá và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ”.

1.3.2 Khối lượng tiền trong lưu thông (Ms)

Khối lượng tiền trong lưu thông là khối lượng tiền thực có trong lưu thông, doyếu tố chủ quan của con người phát hành để đưa vào lưu thông bao gồm tất cả cácphương tiện được chấp nhận làm trung gian trao đổi với mọi hàng hóa, dịch vụ và cáckhoản thanh toán khác tại một thị trường và trong một thời gian nhất định

Khả năng thanh toán và chi trả nhanh hay chậm của mỗi loại phương tiện gọi là

“tính lỏng” của phương tiện đó trên thị trường

Các khối tiền trong lưu thông bao gồm:

 Khối tiền tệ M1

Là bộ phận có tính lỏng cao nhất, bao gồm những phương tiện được chấp nhậnngay trong trao đổi hàng hóa mà không phải qua một bước chuyển đổi nào Khối tiền tệnày bao gồm:

- Tiền mặt;

- Tiền gửi không kỳ hạn

VD: giấy bạc ngân hàng, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, ngân phiếu, séc cácloại, tiền gửi không kỳ hạn

 Khối tiền tệ M2

Trang 9

Được gọi là khối tiền tệ giao dịch mở rộng Theo khối tiền tệ này, tổng lượngtiền cung ứng bao gồm:

- Các phương tiện thanh toán khác (giấy chấp nhận ngân hàng…)

Khối lượng tiền trong lưu thông lớn hay nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào sự phát hành

“tiền tệ” của chính phủ, các ngân hàng nhà nước

 Mối quan hệ giữa Mn và Ms

Ms/Mn = 1: Tiền và hàng cân đối Đây là tỷ số giả định, trong thực tế rất khó đểđạt được tỷ lệ này

Ms/Mn > 1: Số lượng tiền trong lưu thông lớn hơn số lượng tiền cần thiết tronglưu thông Nền kinh tế thừa tiền, hay tiền bị mất giá, điều này dẫn đến hiện tượng lạmphát

Ms/Mn < 1: Số lượng tiền trong lưu thông nhỏ hơn số lượng tiền cần thiết tronglưu thông Nền kinh tế thiếu tiền, dẫn đến thiểu phát

1.4 CUNG VÀ CẦU TIỀN TỆ

1.4.1 Cầu tiền tệ

Khái niệm: “Cầu tiền tệ là số lượng tiền mà các pháp nhân và thể nhân cần thỏa mãn nhu cầu chi dùng”

Cầu tiền tệ được xác định bằng khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn)

Các loại cầu tiền tệ:

 Nhu cầu tiền cho giao dịch: Là nhu cầu về tiền để thực hiện các hoạt độnggiao dịch của pháp nhân và thể nhân (gọi chung là tác nhân)

Trang 10

Ví dụ: Nhu cầu tiền để thanh toán lương, mua nguyên vật liệu, mua vật phẩmtiêu dùng…

 Nhu cầu tiền cho tích lũy: Là lượng tiền các tác nhân tích lũy cho các nhu cầu

đã dự định trước, chúng ở dưới dạng tiền nhàn rỗi

Ví dụ: Tích lũy tiền để đầu tư mua sắm tài sản cố định, máy móc; mua nhà, đồgia dụng gia đình, đi học, …

Nhu cầu tích lũy phụ thuộc vào mức thu nhập và mục đích của các tác nhân Sốlượng tiền dự định chi dùng càng lớn, thì số lượng tích luỹ càng nhiều

 Nhu cầu tiền cho dự phòng: Là lượng tiền các tác nhân dự trữ đề phòng khicần sử dụng cho các nhu cầu bất thường hoặc để sử dụng khi gặp những rủi ro Nhu cầunày được chia làm ba loại:

- Dự phòng một số tiền để chờ cơ hội mua mà không dự báo trước được;

- Dự phòng chi thường xuyên;

- Dự phòng chi cho rủi ro: rủi ro đối với cá nhân như tai nạn, thiên tai, hạn hán,mất mùa

 Nhu cầu tiền để cất trữ: Là số lượng tiền nhàn rỗi lâu dài, chưa có mục tiêu sửdụng, được đưa vào cất giữ

Tổng hợp các nhu cầu tiền nêu trên hợp thành tổng cầu tiền của nền kinh tế trongmột thời kỳ và nó luôn biến động, phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: giá trị giao dịch,thu nhập, lãi suất, tập quán chi tiêu…

1.4.2 Cung tiền cho lưu thông

Khái niệm: Cung tiền cho lưu thông là chỉ việc phát hành vào lưu thông một khối lượng tiền tệ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền.

Tiền phát hành vào lưu thông bao gồm: tiền giấy, tiền kim loại, giấy bạc ngânhàng hay tiền chuyển khoản Tiền này được nhiều tác nhân cung ứng

Các kênh cung tiền:

 Ngân hàng Trung ương cung tiền

Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền Lượng tiền pháthành chủ yếu là tiền mặt, được gọi là tiền cơ sở

Ngân hàng Trung ương cung tiền thông qua các kênh sau:

Trang 11

- Ngân hàng Trung ương thực hiện cho vay tái chiết khấu đối với các Ngân hàngThương mại và cầm cố các giấy tờ có giá (thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi…) của cácNgân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng.

- Ngân hàng Trung ương có thể phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt Ngân sáchNhà nước

- Ngân hàng Trung ương phát hành tiền qua thị trường ngoại tệ, vàng và qua thịtrường mở

 Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tạo tiền qua các nghiệp vụ củamình (tiền chuyển khoản)

Điều kiện để các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng có cơ sở cung tiềnchuyển khoản:

- Hệ thống ngân hàng 2 cấp đã được hình thành

- Các ngân hàng hoạt động trong cùng hệ thống;

- Thực hiện nghiệp vụ tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt giữa ngânhàng và khách hàng

 Vậy, có 4 tác nhân tham gia vào quá trình cung ứng tiền cho lưu thông đó là:Ngân hàng trung ương, Ngân hàng thương mại, các tác nhân gửi tiền và các tác nhânvay tiền; trong đó ngân hàng trung ương giữ vai trò chủ đạo, là cơ quan độc quyền pháthành tiền giấy, tham gia vào cung ứng tiền chuyển khoản và quản lý chặt chẽ lượng tiềnchuyển khoản được tạo ra

1.5 CÁC TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ BẢN CHẤT CỦA TÀI CHÍNH

1.5.1 Các tiền đề quyết định sự ra đời của tài chính

Sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa – tiền tệ là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của tài chính Bên cạnh những tiền đề quyết định làm nảy sinh phạm trù tài chính là sản xuất hàng hoá và tiền tệ, nhà nước ra đời làm cho hoạt động tài chính ngày càng phát triển hơn.

- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư

Trang 12

Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổphần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh

và phân chia lợi nhuận Đồng thời, mối quan hệ này cũng được thể hiện thông qua cáckhoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo luật định

- Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính

Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanhnghiệp trong thị trường tài chính, cụ thể:

Với thị trường tiền tệ, thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhậnđược các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, cácdoanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định

Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác,doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn (ví dụ:phát hành các chứng khoán) Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả một khoản lãicho các chủ thể tham gia đầu tư

Ngoài việc huy động nguồn tài trợ vốn cho doanh nghiệp, thông qua thị trườngtài chính, các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửivào hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác

- Quan hệ kinh tế trong nội bộ các chủ thể:

Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các

bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanhnghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn

- Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác

Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động, Doanh nghiệp đóng vai trò là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh phải sửdụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất (như vật tư, máy móc thiết bị, ) chi trả cônglao động, chi trả các dịch vụ Thông qua việc chi trả, mua sắm này, hình thành nên mốiquan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các doanh nghiệp ở thị trường khác

Đồng thời, thông qua các thị trường, doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm củamình, nhằm thu lại một phần lợi nhuận hoạt động này cũng là một mặt của quan hệ tàichính giữa doanh nghiệp trong các thị trường

- Quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau trên Thế giới: thông qua hoạt động

mua bán xuất - nhập khẩu giữa các quốc gia với nhau, hoạt động viện trợ, tài trợ, đầu tư

ra nước ngoài, vay nợ cũng hình thành quan hệ tài chính - quan hệ kinh tế giữa cácquốc gia

Quan phân tích các mối quan hệ kinh tế, ta có thể thấy được hình thức biểu hiệnbên ngoài của tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ Do đó, có thể xác định nội dung

Trang 13

kinh tế - xã hội của phạm trù tài chính là tổng thể các quan hệ kinh tế thông qua việc tạolập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong xã hội.

Như vậy, ta có khái niệm chung nhất về tài chính như sau:

Tài chính là phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm (nguồn lực tài chính) nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của các chủ thể trong phát triển kinh tế - xã hội.

1.6 CÁC CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH

1.6.1 Chức năng phân phối

Khái niệm: Chức năng phân phối của tài chính được thể hiện là phương thức phân bổ nguồn tài chính theo thời gian và không gian

Thông qua chức năng phân phối, các nguồn lực đại diện cho những bộ phận củacải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khácnhau đảm bảo cho nhu cầu và lợi ích khác nhau của đời sống xã hội

Đối tượng của phân phối của tài chính là tổng thể các nguồn lực tài chính có

trong xã hội

Chủ thể tham gia phân phối các nguồn lực tài chính là các chủ thể có khả năng

cung ứng vốn, các chủ thể có nhu cầu vốn hoặc những chủ thể đóng vai trò quản lý

Ví dụ: cá nhân, doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tài chính, nhà nước

Các chủ thể này tham gia vào việc phân phối nguồn tài chính những tư cách khácnhau

Kết quả phân phối của tài chính là hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ dành

cho một mục đích nhất định

Đặc điểm của phân phối tài chính:

Thứ nhất, là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không đi kèm

theo sự thay đổi của hình thái giá trị

Thứ hai, phân phối của tài chính gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền

tệ Đây là đặc điểm chủ yếu, được coi là đặc trưng cơ bản của phân phối tài chính

Thứ ba, phân phối của tài chính trải qua hai quá trình: phân phối lần đầu và phân

phối lại

+ Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội là sự phân phối được tiến hành trong lĩnhvực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất haythực hiện các dịch vụ

+ Phân phối lại là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, sử dụng nhữngquỹ tiền tệ chứa đựng những nguồn lực tài chính đã được hình thành trong phân phối

Trang 14

lần đầu ra phạm vi xã hội rộng hơn hoặc theo những chi tiết cụ thể hơn trong mục đíchcủa các quỹ tiền tệ.

1.6.2 Chức năng giám đốc

Khái niệm: Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của nguồn tài chính

để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định

Đối tượng của giám đốc tài chính là quá trình hình thành và sử dụng các nguồn

lực tài chính

Chủ thể của giám đốc tài chính là các chủ thể phân phối, hoặc chủ thể quản lý.

Đó là các tác nhân tham gia vào các hoạt động phân phối tài chính trong nền kinh tế

Ví dụ: doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tài chính, nhà nước

Quá trình giám đốc

- Giám đốc thông qua công tác kế hoạch hoá: thông qua các phương án tạo lập và

sử dụng các quỹ tiền tệ, chọn ra phương án hiệu quả và an toàn nhất

- Giám đốc thông qua công tác kế toán: quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệphải được ghi chép và lập báo cáo kế toán Thông qua số liệu kế toán đáng tin cậy cóthể kiểm tra hiệu quả của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ

- Kết quả của giám đốc tài chính: từ kết quả kiểm tra việc tạo lập và sử dụng quỹtiền tệ, sẽ phát hiện ra những mặt được và chưa được của quá trình phân phối Từ đógiúp điều chỉnh, rút kinh nghiệp để thực hiện phân phối đạt hiệu quả hơn

Đặc điểm của giám đốc tài chính:

Thứ nhất, chức năng giám đốc của tài chính được thực hiện thông qua sự vận

động của tiền tệ thể hiện ở chức năng thước đo giá trị và phương tiện thanh toán

Thứ hai, chức năng giám đốc của tài chính được thực hiện thông qua việc phân

tích các chỉ tiêu tài chính

Thứ ba, chức năng giám đốc của tài chính được thực hiện một cách toàn diện,

thường xuyên, liên tục, rộng rãi, kịp thời đối với quá trình tạo lập, sử dụng các quĩ tiền

tệ Có nghĩa là ở đâu có tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính thì ở đó có thực hiệnchức năng giám đốc của tài chính

1.7 HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

1.7.1 Khái niệm về hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính là một tổng thể bao gồm các thị trường tài chính, các định chế tài chính trung gian, cơ sở hạ tầng pháp lý - kỹ thuật và các tổ chức quản lý giám sát và điều hành hệ thống để tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính theo thời gian và không gian một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất.

Trang 15

1.7.2 Cấu trúc của hệ thống tài chính

Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm:

Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian khác:

Đóng vai trò là bộ phận dẫn vốn, chuyển vốn từ tụ điểm này sang tụ điểm kháchay chuyển dịch vốn từ người có khả năng cung ứng vốn sang người có nhu cầu về vốn

Tuy nhiên, thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn thông qua hoạt độngtài chính trực tiếp Nghĩa là, người cần vốn sẽ bán các công cụ nợ, cổ phiếu hoặc tráiphiếu ra thị trường Người có vốn sẽ mua các công cụ này, như vậy vốn được chuyểntrực tiếp từ người có vốn sang người cần vốn Do sự đa dạng của các tài sản tài chính vàcác phương thức hoạt động mua bán trên thị trường nên trên thế giới xuất hiện nhiềuloại thị trường tài chính khác nhau: Thị trường chứng khoán New York ở Mỹ, thị trườngtrao tay, thị trường tiền tệ, thị trường vốn…

Còn các tổ chức trung gian tài chính thì lại thực hiện chức năng dẫn vốn thôngqua hoạt động tài chính gián tiếp Nghĩa là, các trung gian tài chính thực hiện huy độngvốn từ những chủ thể có khả năng cung ứng vốn, sau đó dùng vốn này để cho vay hoặcđầu tư cho các chủ thể có nhu cầu vốn Như vậy, vốn được chuyển giao từ người có vốnsang người cần vốn gián tiếp thông qua trung gian tài chính Các tổ chức tài chính trunggian chủ yếu như các ngân hàng, các công ty tài chính…

Tài chính doanh nghiệp

Tài chính hộ gia đình, và các tổ chức xã hội

Ngân sách nhà nước

Tài chính đối ngoại

Ch ương 2 ng 2. TÍN D NG VÀ LÃI SU T TÍN D NG ỤNG VÀ LÃI SUẤT TÍN DỤNG ẤT TÍN DỤNG ỤNG VÀ LÃI SUẤT TÍN DỤNG

2.1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN DỤNG

Người cho vay

Trang 16

- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sửdụng Điều đó được thể hiện thông qua việc người cho vay sẽ chuyển nhượng tiền hoặctài sản cho người đi vay, để người đi vay sử dụng nó Tuy nhiên việc chuyển nhượngnày chỉ mang tính chất chuyển nhượng quyền sử dụng chứ không mang tính chấtchuyển nhượng quyền sở hữu Có nghĩa là, sau này người đi vay vẫn phải trả lại "vốn"cho người cho vay.

- Sự chuyển nhượng này mang tính chất tạm thời hay có thời hạn: Vốn chuyểnnhượng sẽ chỉ diễn ra trong một thời gian nhất định, ngắn hay dài tuỳ thuộc vào quyđịnh và thoả thuận của 2 bên Hết thời hạn này, người đi vay phải trả lại vốn, do đó nómang tính chất tạm thời

- Người đi vay phải hoàn trả đúng hạn cho người cho vay cả vốn gốc và lãi: đếnthời hạn hoàn trả vốn, người đi vay sẽ phải trả lại vốn gốc và một phần lãi (theo quyđịnh trước) cho người cho vay

2.1.2 Cơ sở ra đời của tín dụng

Cơ sở ra đời: để giải quyết mâu thuẫn về vốn giữa người cần vốn và người cóvốn

2.1.3 Sự phát triển của quan hệ tín dụng trong nền kinh

tế thị trường

Tín dụng nặng lãi: Đây là quan hệ tín dụng đầu tiên và thô sơ nhất

Tín dụng nặng lãi xuất hiện và phát triển mạnh trong chế độ chiếm hữu nô lệ vàphong kiến Trước đây, tín dụng nặng lãi được thực hiện chủ yếu bằng hàng hóa, hiệnvật Sau này khi phát triển hơn, tín dụng nặng lãi vừa cho vay bằng hàng, vừa cho vaybằng tiền

Đặc điểm: lãi suất cao, do sản phẩm dư thừa dùng để cho vay thì ít mà số ngườivay thì nhiều nên người cho vay thu lãi rất cao Cũng bởi lãi vay quá cao nên các tiềnvay chỉ được sử dụng vào mục đích cấp bách, và người đi vay thường rơi vào tình trạngphá sản  khiến hoạt động sản xuất trong nền kinh tế giảm sút Nó góp phần làm tan rãkinh tế tự nhiên, đưa nền kinh tế đến một bước cao hơn, làm mở rộng quan hệ hàng hoá

- tiền tệ, đưa lên nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Tín dụng tư bản chủ nghĩa

Những hình thức tư bản chủ nghĩa bao gồm: tín dụng thương nghiệp (tín dụng giữa các nhà tư bản trực tiếp kinh doanh, mua bán chịu hàng hóa với nhau) và tín dụng ngân hàng (tín dụng giữa những người có tiền cho những người sản xuất, kinh doanh vay tiền thông qua môi giới trung gian là các ngân hàng, trong đó ngân hàng vừa là

Trang 17

người đi vay, vừa là người cho vay) Thời kỳ này, quan hệ tín dụng tư bản chủ nghĩa không chỉ mang tính sản xuất mà còn là động lực thúc đẩy nền kinh tế.

Tín dụng trong nền kinh tế thị trường

2.1.4 Phân loại tín dụng

 Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng bao gồm:

- Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn không quá 12 tháng, thường được sử dụng để cho

vay bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu thanh toán cho sinh hoạt cánhân

- Tín dụng trung hạn: Thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, dùng để cho vay vốn

mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các côngtrình quy mô nhỏ của các doanh nghiệp và cho vay xây dựng nhà ở hoặc mua sắm hàngtiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân

- Tín dụng dài hạn: Thời hạn trên 60 tháng, cho vay dự án đầu tư xây dựng mới,

cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn

 Căn cứ vào đối tượng tín dụng, tín dụng bao gồm:

- Tín dụng vốn lưu động: Được cấp nhằm hình thành vốn lưu động cho các doanh

nghiệp hoặc các chủ thể kinh tế khác; (vốn lưu động là vốn để hình thành nên các tàisản lưu động trong doanh nghiệp)

- Tín dụng vốn cố định: Được cấp nhằm hình thành vốn cố định của các doanh

nghiệp hoặc chủ thể kinh tế khác Được thực hiện dưới hình thức cho vay trung, dài hạn.(Vốn cố định là vốn hình thành nên tài sản cố định)

 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng bao gồm:

- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Cấp phát tín dụng cho các doanh

nghiệp và các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Tín dụng tiêu dùng: Cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

 Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng, tín dụng bao gồm:

- Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất kinh doanh

với nhau, hình thành trên cơ sở mua bán chịu hàng hóa hoặc ứng trước tiền trước khinhận hàng

- Tín dụng Nhà nước: Là các quan hệ tín dụng giữa Nhà nước và các chủ thể

trong và ngoài nước

- Tín dụng Ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa một bên là Ngân hàng, các tổ

chức tín dụng và các pháp nhân, thể nhân trong nền kinh tế

Trang 18

 Căn cứ vào tính chất bảo đảm tiền vay, tín dụng bao gồm:

- Tín dụng bảo đảm bằng tài sản: Là loại tín dụng được bảo đảm bằng các loại

tài sản của khách hàng, bên bảo lãnh hoặc hình thành từ vốn vay

- Tín dụng bảo đảm không phải bằng tài sản: Là loại tín dụng được bảo đảm

dưới hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ và hộ nông dân vay vốnđược bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương

 Căn cứ vào lãnh thổ hoạt động tín dụng, tín dụng bao gồm:

- Tín dụng nội địa: Là quan hệ tín dụng phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc

gia

- Tín dụng quốc tế: Là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các quốc gia với nhau

hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế

2.2 CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG

2.2.1 Tín dụng thương mại

 Khái niệm: Tín dụng thương mại là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa cácdoanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa hoặc ứng trướctiền trước khi nhận hàng

 Đặc điểm

- Đối tượng tín dụng thương mại là hàng hóa, nghĩa là vốn cho vay còn tồn tạidưới dạng hàng hóa như nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm dở dang, máy móc thiết bị, màchưa phải là tiền Vì vậy tín dụng thương mại còn gọi là tín dụng hiện vật

- Người đi vay và cho vay đều là các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quátrình sản xuất và lưu thông hàng hóa (người cho vay, chủ nợ là người bán; người vay,con nợ là người mua)

- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng thương mại gắn liền với sự vậnđộng của quá trình tái sản xuất xã hội, vì khối lượng tín dụng thương mại lớn hay nhỏphụ thuộc vào tổng giá trị của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu

 Công cụ lưu thông: là thương phiếu

Ưu – nhược điểm của hình thức tín dụng thương mại

- Ưu điểm:

+ Góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa

+ Nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm các chi phí giao dịch thông qua các tổ chứctrung gian, vì vốn được điều tiết giữa các doanh nghiệp một cách trực tiếp Ngoài ra, các

Trang 19

doanh nghiệp cũng linh động vay vốn, đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, nhanh chóng,không phụ thuộc vào các tổ chức trung gian khác.

+ Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông dẫn đến giảm chi phí lưu thông xãhội

+ Tạo điều kiện mở rộng hoạt động của tín dụng ngân hàng: chiết khấu và cầm

cố thương phiếu

- Nhược điểm:

+ Quy mô tín dụng nhỏ, bị giới hạn bởi khối lượng hàng hóa bán chịu Ngườibán không thể bán chịu vượt số lượng hàng hóa mình có, không thể thoả mãn nhu cầungười đi vay Mặt khác, người đi vay chỉ có thể mua chịu một phần hàng hóa hiện có

+ Thời hạn cho vay ngắn, không thể đáp ứng nhu cầu vay dài hạn

+ Tín dụng thương mại chỉ đầu tư một chiều chứ không thể có quan hệ cho vayngược lại, hay cho nên không thể mở rộng đầu tư vào mọi ngành trong toàn bộ nền kinh

tế quốc dân Như vậy phạm vi tín dụng cũng nhỏ hẹp

2.2.2 Tín dụng Nhà nước

 Khái niệm: Tín dụng nhà nước là các quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với dân

cư và các chủ thể kinh tế khác để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nướctrong quản lý kinh tế - xã hội

Trong hình thức này, Nhà nước đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là chủ thểcho vay, trong đó Nhà nước là người đi vay là chủ yếu

Khi đóng vai trò là người đi vay nhà nước thường phát hành công cụ tín phiếu,trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư, công trái, trái phiếu chính phủ quốc tế… để bán racho công chúng trong một thời hạn xác định, nhằm tăng nguồn thu ngân sách nhà nướcvào những mục đích cụ thể

Và khi đóng vai trò người cho vay nhà nước thường sử dụng các biện pháp hỗ trợlãi suất đầu tư, bảo lãnh tín dụng, cho vay đầu tư Ví dụ: Nhà nước hỗ trợ, quy địnhgiảm lãi suất của cho vay xây dựng cơ bản; hay nhà nước bù lỗ giá xăng dầu cho dâncư

Trang 20

- Phương thức huy động đa dạng như phát hành các loại công trái, tín phiếu khobạc, ký danh hoặc vô danh;

- Tín dụng nhà nước vừa mang tính lợi ích kinh tế, vừa mang tính cưỡng chế,chính trị, xã hội

- Tín dụng nhà nước là loại tín dụng mang tính chất tín chấp cả về phía đi vaycũng như cho vay

- Tín dụng nhà nước là công cụ để nhà nước tài trợ cho các ngành kinh tế cònyếu, các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn chậm phát triển,cũng như thực hiện các chương trình kinh tế trọng điểm

- Tín dụng nhà nước là công cụ tài chính quan trọng để nhà nước quản lý, điềuhành vĩ mô nền kinh tế Ví dụ: thông qua phát hành công cụ nợ, thu hồi tiền mặt, làmgiảm lượng tiền trong lưu thông => kiềm chế lạm phát; hoặc các chính sách ưu đãi lãisuất => kích thích sự phát triển của những lĩnh vực kinh tế mục tiêu

- Tạo điều kiện để mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ đốingoại, góp phần làm cho nền kinh tế trong nước nhanh chóng hội nhập với nền kinh tếthế giới và khu vực một cách có hiệu quả

Ví dụ: thông qua hoạt động viện trợ, tài trợ, đầu tư cho nước ngoài => mở rộng

và thắt chặt thêm mối quan hệ với các quốc gia khác

Tuy nhiên, tín dụng nhà nước có mặt hạn chế là khi chính phủ huy động vốn quaphát hành trái phiếu có thể gây sức ép tăng lãi suất khiến cho đầu tư tư nhân giảmxuống

2.2.3 Tín dụng ngân hàng

 Khái niệm: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngânhàng còn bên kia là các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế quốc dân (doanhnghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội…)

Trong hình thức này, Ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là chủ thểcho vay

 Đặc điểm

Trang 21

- Huy động vốn và cho vay được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tiền tệ;

- Các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian trong quá trình huy động vốn

và cho vay vốn, đi vay để cho vay;

- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với

sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội Trong nhiều trường hợp vốntín dụng ngân hàng không tham gia vào quá trình tái sản xuất và lưu thông hàng hóa màchúng được sử dụng vào những mục đích phi sản xuất như: chiết khấu hoặc cầm cố cácthương phiếu khống

 Ưu – nhược điểm của hình thức tín dụng ngân hàng

- Có khả năng cung ứng khối lượng tín dụng lớn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay củakhách hàng Do ngân hàng có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau, sau đó tạo nênkhối lượng vốn lớn cho khách hàng vay

- Thời hạn tín dụng đa dạng: tín dụng ngắn hạn, trung han, dài hạn thời gian tíndụng phụ thuộc vào nhu cầu và sự thoả thuận của ngân hàng và bên đi vay cũng như bêncho vay

- Có phạm vi hoạt động rộng, liên quan đến nhiều chủ thể (cá nhân, doanhnghiệp, tổ chức xã hội, ) và các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế (y tế, giáo dục,xây dựng cơ bản, khu đô thị, tiêu dùng )

- Tuy nhiên tín dụng ngân hàng có độ rủi ro cao - gắn liền với chính ưu điểm củatín dụng ngân hàng do ngân hàng có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với số vốn tự

có, hoặc có sự chuyển đổi thời hạn và phạm vi tín dụng rộng

2.3 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG

2.3.1 Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển

Vai trò này của tín dụng thể hiện thông qua các nội dung:

- Đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện mở rộng sảnxuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đảm bảo sự phát triển liên tục của sản xuất vàlưu thông hàng hóa

- Đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, duy trì mối liên hệ giữa sảnxuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội trong nước và ra thị trường Quốc tế

- Điều chỉnh quy mô sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại kinh tế của các doanhnghiệp, vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong từng chủ thể sản xuất kinhdoanh, trong từng ngành…

- Thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nước

Trang 22

2.3.2 Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

- Là phương tiện góp phần cân đối thu chi ngân sách Nhà nước, đảm bảo cácnguồn lực tài chính để thực thi các chính sách kinh tế - xã hội;

- Nhà nước sử dụng công cụ tín dụng để điều tiết sự vận động của các nguồn vốntín dụng nhằm thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của các ngành nghề, phù hợp vớiđịnh hướng phát triển kinh tế của Nhà nước;

- Điều tiết lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối tiền hàng, ổn định giá cả hàng hóa;

- Là công cụ thực thi các quan hệ hợp tác Quốc tế, nhằm thu hút các nguồn lựctài chính để đầu tư phát triển kinh tế trong nước

2.3.3 Tín dụng góp phần quan trọng vào việc làm giảm thấp chi phí sản xuất và lưu thông

- Giảm chi phí lưu thông tiền tệ:

- Giảm tổn thất khi doanh nghiệp thiếu vốn liên quan đến cơ hội kinh doanh

- Giảm chi phí sản xuất, lưu thông của chính doanh nghiệp nhận vốn vay

- Thúc đẩy các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng phải tính toán cụ thể để hoạtđộng tín dụng đem lại lợi ích cao nhất và an toàn nhất

2.3.4 Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách xã hội và nâng cao đời sống dân cư

- Là công cụ tài trợ và nâng cao hiệu quả của các chính sách tài trợ xã hội nhưchính sách xóa đói giảm nghèo của Nhà nước;

- Cải thiện, nâng cao mức sống người dân

2.4 CÁC CHỨC NĂNG CỦA TÍN DỤNG

2.4.1 Tập trung và phân phối lại tiền nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả

- Tập trung vốn: Thông qua các tổ chức trung gian (ngân hàng, tổ chức tíndụng ) tín dụng tập trung được khối lượng lớn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xãhội để hình thành quỹ cho vay Tuỳ thuộc vào thời hạn cho vay cụ thể, đối tượng chovay, mà hình thành nên các chính sách lãi suất cho mỗi khoản vay khác nhau

- Phân phối lại vốn: Trên cơ sở quỹ cho vay đã có, các ngân hàng, tổ chức tíndụng tiến hành phân phối nguồn vốn này cho các đối tượng có nhu cầu Đây là quá trìnhphân phối lại vốn tiền tệ Quá trình này phải tuân theo các nguyên tắc của tín dụng vàchấp hành đầy đủ những quy định của pháp luật

Cả hai nội dung trên của tín dụng đều phải thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định Bởi lẽ, xét về tính chất sở hữu vốn thì vốn đóvẫn thuộc quyền sở hữu của người cho vay Mặt khác, nguồn vốn cho vay là tạm thời

Trang 23

nhàn rỗi và người đi vay chỉ tạm thời thiếu Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo hiệu quả sử dụng và tiết kiệm vốn Chính vì vậy, nguyên tắc hoàn trả là một tất yếu của tín dụng.

Ý nghĩa:

- Tín dụng đã góp phần điều hòa lượng vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Từ đó làmgiảm đến mức thấp nhất vốn nhàn rỗi không có ích để đầu tư vào sản xuất kinh doanh,thỏa mãn nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp và cá nhân

- Quá trình tập trung và phân phối lại vốn của tín dụng đã giúp cho các doanhnghiệp chuyển hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện mới trong môi trườngcạnh tranh Do đó, chức năng này đã góp phần vào việc bình quân hóa tỷ suất lợi nhuậntrong nền kinh tế quốc dân

2.4.2 Kiểm soát các hoạt động kinh tế bằng tiền

2.5 LÃI SUẤT TÍN DỤNG

2.5.1 Khái niệm lợi tức tín dụng và lãi suất tín dụng

- Khái niệm: Lợi tức là khoản tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay ngoài phần vốn gốc vay ban đầu, sau một thời gian sử dụng tiền vay Lợi tức tín dụng

là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay trả cho việc sử dụng tiền vay.

 Phương pháp tính lãi đơn

Lãi đơn là số tiền lãi được xác định dựa trên số vốn gốc (vốn đầu tư ban đầu) vớimột lãi suất nhất định

Trang 24

i: lãi suất/ kỳn: số kỳ tính lãi

FVn: Tổng vốn và lãi

2.5.2 Phân loại lãi suất tín dụng

 Căn cứ vào tiêu thức quản lý vĩ mô: lãi suất được chia thành lãi suất sàn, lãisuất trần, lãi suất cơ bản…

 Căn cứ vào tiêu thức nghiệp vụ tín dụng: phân chia thành lãi suất tiền gửi, lãisuất cho vay, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất thị trường liên ngânhàng

- Lãi suất tiền gửi là lãi suất huy động vốn, dùng để tính lãi phải trả cho ngườigửi tiền

- Lãi suất cho vay được áp dụng để tính lãi tiền vay mà người đi vay phải trả chongười cho vay

Về nguyên tắc, mức lãi suất cho vay bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửibình quân và có sự phân biệt các khoản vay với thời hạn cho vay và mức độ rủi ro Sựthay đổi lãi suất cho vay có tác dụng đến quy mô cho vay và khả năng cung ứng tiềnvào lưu thông

- Lãi suất chiết khấu là lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại đốivới khách hàng dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá chưa đến thời hạn thanhtoán

- Lãi suất tái chiết khấu:

Trang 25

+ Là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTW đối với các ngân hàng thương mại vàcác tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tái chiết khấu các giấy tờ có giá chưa đến thờihạn thanh toán

+ Lãi suất tái chiết khấu do NHTW ấn định cho từng thời kỳ, căn cứ vào mụctiêu chính sách tiền tệ Lãi suất này dùng để kiểm soát và điều tiết sự biến động lãi suấttrên thị trường Đối với ngân hàng thương mại , lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc để

từ đó ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác

- Lãi suất thị trường liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi chonhau vay vốn trên thị trường liên ngân hàng Nó được hình thành bởi quan hệ cung cầuvốn của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác và chịu sự chi phối bởilãi suất tái chiết khấu

 Căn cứ vào tiêu thức biến động của giá trị tiền tệ: phân chia thành lãi suấtdanh nghĩa và lãi suất thực

Lãi suất danh nghĩa là lãi suất chưa loại trừ tỷ lệ lạm phát.

Ví dụ: Hiện nay lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại là 9%/năm Mức lãi suất 9%/ năm chính là lãi suất danh nghĩa Tỷ lệ lạm phát 7%/năm

Do tiền có giá trị theo thời gian, tiền càng để càng mất giá nên trên thực tế mứclãi suất mà người cho vay thực được hưởng bao giờ cũng nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa

Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát

= 9% - 7% = 2%

Với những người cho vay, điều cần quan tâm nhất là lãi suất thực chứ không phải

là lãi suất danh nghĩa Vì khi cho vay họ cần phải tính là sau một thời hạn cho vay có lãihay thua lỗ

 Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất:

 Căn cứ vào loại tiền cho vay

 Căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế

2.5.3 Cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất tín dụng

Mức độ rủi ro cho vay càng cao > Lãi suất cho vay càng cao và ngược lại

Kỳ hạn dài > Rủi ro càng lớn > Lãi suất cho vay càng cao.

2.5.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng

Ảnh hưởng của cung cầu tín dụng

Trang 26

- Cung tín dụng: là lượng nguồn vốn có thể dùng để cho vay.

- Cầu tín dụng là lượng vốn mà nền kinh tế cần vay

Ảnh hưởng của rủi ro và kỳ hạn

Ảnh hưởng của lạm phát

Khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng  cầu vốn sẽ tăng

Ảnh hưởng của chính sách kinh tế của Nhà nước

có xu hướng tăng lên

Ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế - xã hội khác

3.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

3.1.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân sách nhà nước

a Khái niệm Ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

Các quan hệ kinh tế này, bao gồm:

- Các doanh nghiệp: quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành nguồnthu của Ngân sách thông qua các loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp (thuế thu thậpdoanh nghiệp, tiêu thụ đặc biệt ) Đồng thời, Ngân sách chi hỗ trợ cho sự phát triểncủa doanh nghiệp dưới hình thức xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ vốn, lãi suất

- Các tầng lớp dân cư: thể hiện qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụtài chính đối với nhà nước bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí (thuế thu nhập cá

Trang 27

nhân, học phí, lệ phí trước bạ xe oto ) Một bộ phận dân cư khác nhận từ ngân sách nhànước các khoản trợ cấp (trợ cấp mất việc làm, trợ cấp hưu trí, trợ cấp thai sản ).

- Các tổ chức xã hội, tổ chức tài chính khác: thể hiện thông qua việc, nhà nướccấp kinh phí để duy trì tồn tại các tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp; đồng thời các đơn vị

có các khoản thu, để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách, và cũng để thực hiện nghĩa vụđóng góp cho ngân sách Quan hệ với các tổ chức tài chính, thông qua việc vay vốn hay

- Ngân sách nhà nước được chia thành các quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau

đó Ngân sách nhà nước mới được chi dùng cho những mục đích nhất định đã địnhtrước;

- Hoạt động thu, chi Ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc khônghoàn trả trực tiếp là chủ yếu

3.1.2 Vai trò của Ngân sách nhà nước

Hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh

tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định Các nhu cầu chi tiêu này được thỏa mãn bằng các nguồn thu NSNN, mà chủ yếu là thuế (chiếm 80 - 90% tổng thu).

Đây là vai trò truyền thống của NSNN, tồn tại trong bất cứ thời đại, chế độ xã hội nào kể từ khi nhà nước ra đời Nó xuất phát từ sự cần thiết khách quan của việc ra đời nhà nước với chức năng quản lý kinh tế - xã hội.

Trang 28

- Về mặt phát triển kinh tế: NSNN được sử dụng để kích thích nền kinh tế phát triển hoặc hình thành cơ cấu kinh tế mới, thông qua các hoạt động như:

+ Dùng vốn NSNN để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như giao thông, điện, nước thủy lợi…Đây là những lĩnh vực rất cần cho sự phát triển kinh tế xã hội nhưng tư nhân không muốn đầu tư (do tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn

chậm) hoặc không đủ khả năng (về vốn và trình độ) để đầu tư.

+ Thực hiện những ưu đãi về tín dụng hoặc thuế nhằm khuyến khích phát triển những ngành nghề hoặc vùng cần phát triền, ví dụ các ngành kinh tế mới ( Công nghệ sinh học, tin học), các ngành trong điểm (sản xuất hàng xuất khẩu), các vùng kinh

tế ở vùng sâu vùng xa cần được hỗ trợ phát triển để đảm bảo đời sống người dân ở đó.

+ Thông qua việc áp dụng thuế suất cao đối với những mặt hàng xa xỉ có tác dụng định hướng tiêu dùng nhằm tiết kiệm nguồn vốn có hạn của xã hội, để dành cho sự phát triển kinh tế.

+ Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước có thể tăng chi phí ngân sách cho đầu tư, cắt giảm thuế nhằm kích cầu, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi.

+ Thông qua các khoản chi đầu tư từ vốn ngân sách và ưu đãi thuế để thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới, hợp lý hơn, qua đó phát huy các nguồn lực trong xã hội một cách hiệu quả.

- Về mặt ổn định kinh tế xã hội: Được thể hiện qua các hoạt động như

+ Lập quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa, vật tư thiết yếu, các quỹ dự phòng tài chính (kể cả bằng vàng và ngoại tệ) để ổn định kinh tế xã hội khi có sự biến động do thiên tai, tai họa lớn

mà Nhà nước cần can thiệp.

+ Hỗ trợ các quỹ bình ổn giá, quỹ bảo hiểm xã hội.

+ Cấp tín dụng ưu đãi hoặc mua lại các doanh nghiệp có

vị trí quan trọng đang gặp khó khăn, có nguy cơ giải thể hoặc phá sản.

Trang 29

+ Lập quỹ dự trữ ngoại tệ để ổn định tỉ giá.

+ Sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt hoặc mở rộng nhằm điều tiết kinh tế vĩ mô (giảm nhiệt nền kinh tế, chống lạm phát, phục hồi tổng cầu).

+ Ngoài ra, các hoạt động nhằm cân bằng ngân sách cũng có ảnh hưởng lớn tới các cân bằng vĩ mô của nền kinh tế…

- Về mặt thực hiện công bằng xã hội

+ Chi phúc lợi công cộng như giáo dục , y tế, văn hóa… nhằm tạo điều kiện nâng cao mặt bằng xã hội.

+ Chi trợ cấp cho những người có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa, gia đình có công với nước.

+ Chi trợ cấp thất nghiệp nhằm giúp ổn định xã hội.

+ Chi hỗ trợ việc làm cho người nghèo, người tàn tật qua tín dụng ưu đãi.

+ Thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập

cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt… nhằm điều tiết thu nhập cao để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp, góp phần giảm bớt khoảng cách giầu nghèo.

3.2 THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

3.2.1 Khái niệm, đặc điểm thu ngân sách Nhà nước

a Khái niệm thu ngân sách Nhà nước

Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu của Nhà nước.

b Đặc điểm thu ngân sách Nhà nước

- Thu ngân sách nhà nước là nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách nhànước Nguồn này được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải

xã hội dưới hình thức giá trị

- Thu ngân sách Nhà nước chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giátrị nảy sinh trong quá trình nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chínhquốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước

Trang 30

- Thu ngân sách Nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của cácphạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập…

3.2.2 Nội dung thu ngân sách Nhà nước

Thu NSNN gồm thu trong cân đối ngân sách và thu bù đắp thiếu hụt của ngânsách

3.2.2.1 Thu trong cân đối ngân sách Nhà nước

Thu trong cân đối ngân sách Nhà nước gồm các khoản thu thường xuyên (thuế,phí, lệ phí) và không thường xuyên

a Các khoản thu thường xuyên (Gồm: Thuế, phí và lệ phí)

 Thuế

- Khái niệm: “thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.”

+ Thuế là hình thức đóng góp được quy định trước và có tính pháp lý cao thểhiện thông qua việc là nhà nước ban hành cụ thể các luật thuế, sắc thuế và yêu cầu đốitượng nộp thuế phải tuân thủ Có tính chất cưỡng chế

+ Thuế chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội

+ Thuế được giới hạn trong biên giới quốc gia: mỗi nước ban hành luật thuế vàsắc thuế riêng biệt, trong luật pháp của họ

- Phân loại thuế:

Phân loại theo tính chất chuyển dịch (phương thức đánh thuế):

Trang 31

+ Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của ngườinộp thuế Đây là loại thuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế và họ không cókhả năng thu hồi lại tiền thuế bằng cách chuyển gánh nặng thuế sang một người khác.

Phân loại theo đối tượng chịu thuế:

+ Thuế thu nhập: Là sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được(Thuế TNCN, TNDN )

+ Thuế tiêu dùng: Là sắc thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị HHDV tiêu dùngtrong hiện tại (thuế GTGT, thuế TTĐB…)

+ Thuế tài sản: Là sắc thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản (Thuế trướcbạ…)

+ Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước (thuế tài nguyên…)

- Vai trò của thuế:

+ Vai trò tạo nguồn thu trong ngân sách nhà nước

+ Vai trò kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế

+ Vai trò phân phối, điều tiết thu nhập trong xã hội

Đây là khoản thu mang tính chất bù đắp một phần chi phí đầu tư cung cấp cácdịch vụ công cộng cho xã hội

Ví dụ: Phí giao thông đường bộ, viện phí bệnh viện công, học phí các trườngcông lập…

Trang 32

- Lệ phí: là khoản thu phát sinh ở các cơ quan của bộ máy chính quyền Nhà nước khi cung cấp các dịch vụ công cộng về hành chính, pháp lý cho dân chúng.

Ví dụ: lệ phí trước bạ xe oto, lệ phí cấp giấy phép xây dựng, lệ phí cấp giấychứng nhận đăng ký kinh doanh, lệ phí công chứng…

Lệ phí thường là các khoản thu nhỏ, rải rác, chủ yếu phát sinh ở các cơ quanchính quyền địa phương vừa bù đắp giảm bớt gánh nặng ngân sách chi cho việc duy trìquản lý bộ máy này, vừa phải đóng vóp một phần vào ngân sách

b Các khoản thu không thường xuyên (Gồm thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước

và các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân)

 Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước cũng tham gia vào việc tổ chức các doanhnghiệp nhà nước, trực tiếp sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận Ví dụ: công ty điện lực,công ty may xuất khẩu của nhà nước, hãng hàng không, công ty than khoáng sản

 Các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân

- Các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân vào nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầngtại địa phương

Ví dụ: địa phương muốn làm đổ bê tông trục đường chính nhưng ngân sách địaphương có hạn vì thế người dân địa phương đóng góp thêm để xây dựng công trìnhphục vụ trực tiếp cho họ

- Các khoản đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước: Đónggóp ủng hộ Quỹ nạn nhân chất độc màu da cam, Quỹ ủng hộ đồng bào lũ lụt…

- Các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ, các tổ chức cá nhân ở nướcngoài Các khoản thu khác theo quy định: thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản…

3.2.2.2 Thu bù đắp thiếu hụt Ngân sách (Gồm: Vay trong nước,viện trợ và vay nước ngoài)

a Vay trong nước

Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành các công

cụ nợ để vay dân cư, và các tổ chức Các công cụ nợ thường bao gồm:

- Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dưới một năm,

đươc phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sáchnhà nước trong năm tài chính

- Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên

một năm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách nhà nướcxuất phát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế

Trang 33

- Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên

một năm và được phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định đã được ghitrong kế hoạch đầu tư của nhà nước

b Viện trợ và vay nợ nước ngoài

Viện trợ nước ngoài: bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại

với lãi suất thấp và thời hạn trả nợ dài hơn so với các khoản vay trên thị trường quốc tế

Viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đang thiếu hụttrong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Viện trợ, thường mang tính chất

hỗ trợ, không mang tính thu lợi nhuận

Vay nợ nước ngoài: là những khoản cho vay của nước ngoài theo điều kiện

thương mại và lãi suất thị trường

Vay nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức:

- Phát hành công cụ nợ (trái phiếu) ra nước ngoài

- Vay bằng tín dụng xuất khẩu, tức là nhà nước mua nợ hàng hoá ở nước ngoài,

và trả tiền sau đó một thời gian, nhưng phải chịu lãi suất

- Vay từ các ngân hàng thương mại nước ngoài

Tuy nhiên, vay nước ngoài thường phải chịu lãi suất tương đối cao Vì vậy việctính toán sử dụng nguồn vốn này cho có hiệu quả là hết sức cần thiết, nếu không khoảnvay nợ này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách

3.2.2.3 Bồi dưỡng nguồn thu ngân sách Nhà nước

Cụ thể:

- Chú trọng vào việc tạo lập, hình thành các nguồn thu Đồng thời, cần giám sát,kiểm tra việc sử dụng ngân sách, để nguồn ngân sách được sử dụng hiệu quả

- Thực hiện tiết kiệm, nâng cao năng suất lao động => tăng nguồn thu ngân sách

- Thực hiện toàn dân tạo vốn: không những nhà nước, mà các tế bào xã hội, các

cá nhân, hộ gia đình cũng phải chung tay, góp sức cùng thực hiện các chủ trương tăngthu ngân sách

Các giải pháp tăng thu ngân sách:

- Song song với việc khai thác tài nguyên, ngân sách Nhà nước cần phải đầu tưnuôi dưỡng, tái tạo và phát triển các nguồn tài nguyên, tài sản quốc gia

- Chính sách thuế phải vừa huy động được cho Nhà nước, vừa khuyến khích tích

tụ vốn của doanh nghiệp và dân cư

Trang 34

- Nhà nước cần đầu tư trực tiếp vào các ngành mũi nhọn và lĩnh vực then chốt.Vừa phục vụ nhu cầu trong nước (không phải nhập khẩu => tiết kiệm chi phí), vừa cóthể xuất khẩu ra nước ngoài (tăng thu từ nước ngoài).

- Nhà nước cần giảm chi tiêu tiêu dùng, thực hiện chính sách tiết kiệm, thông quaviệc tinh giảm biên chế, hoàn thiện bộ máy nhà nước Tránh thất thoát khi đầu tư vàocác dự án kém khả thi

Lưu ý: Khi GDP bình quân đầu người tăng thì thu ngân sách tăng

3.3 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

3.3.1 Khái niệm, đặc điểm chi Ngân sách Nhà nước

 Khái niệm: Chi ngân sách Nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân

sách Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.

 Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước

- Gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - chính trị- xã hộicủa Nhà nước trong từng thời kỳ

- Chi ngân sách Nhà nước gắn với quyền lực và mang tính pháp lý cao

- Mục đích của chi ngân sách Nhà nước là nhằm phục vụ cho lợi ích chung củaquốc gia nên mang tính chất công cộng: xây dựng công viên, vườn hoa, xây dựngđường giao thông, thuỷ điện,

- Tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách Nhà nước được xem xét trên tầm vĩ

mô, thông qua việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng màcác khoản chi ngân sách đảm nhận

- Chi ngân sách Nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp

- Chi ngân sách Nhà nước là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nógắn chặt với sự vận động của phạm trù giá trị khác tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hốiđoái

3.3.2 Nội dung chi Ngân sách Nhà nước

Gồm: Chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và các khoản chi khác theo quy định của Pháp luật

3.3.2.1 Chi đầu tư phát triển

* Khái niệm: Chi đầu tư phát triển là việc Nhà nước sử dụng một phần nguồn tài

chính đã được tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế- xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và dự trữ quốc gia nhằm thực hiện các mục tiêu ổnđịnh và tăng trưởng kinh tế

Ngày đăng: 08/10/2016, 08:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w