Nghị quyết Trung ương sáu, khoá X, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”
Trang 1CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Trang 2MỞ ĐẦU 3
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRÍ
THỨC HOÁ CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN
1.1 Trí thức hoá công nhân và vai trò của trí thức hoá công nhân
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 101.2 Thực trạng trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà
Chương 2: YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN TRÍ
THỨC HOÁ CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN
2.1 Yêu cầu trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà
2.2 Một số giải pháp cơ bản trí thức hoá công nhân trong các
doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay 62
Trang 3PHỤ LỤC
91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Trung ương sáu, khoá X, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định:
“Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua độitiền phong là Đảng Cộng sản; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiêntiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lựclượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lựclượng nòng cốt trong khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” [13, tr.43-44]
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH,HĐH, gắn vớiphát triển kinh tế tri thức, với mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2010 là: “…đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồnlực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…mở rộng quan hệ đối ngoại;chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xãhội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[12, tr.76] Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên đòi hỏi phải phát huy sứcmạnh tổng hợp, trong đó nội lực là quyết định mà trực tiếp là không ngừngnâng cao dân trí, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao Giai cấp côngnhân Việt Nam là lực lượng có ý nghĩa quyết định nhất đến sự nghiệp CNH,HĐH đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức Sự lớn mạnh củaGCCN là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới,công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã có chủ trương, giải phápsắp xếp, đổi mới DNNN để DNNN phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động
Trang 4sản xuất, kinh doanh Mặc dù còn một số những hạn chế nhất định, nhưngnhìn chung cổ phần hoá DNNN đã đạt được những kết quả tích cực Khi bàn
về vai trò của DNNN, Nghị quyết Trung ương sáu, khoá X về “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã chỉ ra: “Tiếp
tục đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp lại, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp nhà nước để góp phần giữ vững và phát huy vai trò chủ đạocủa nền kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa” [13, tr.143]
Qua 30 năm đổi mới, cùng với quá trình CNH,HĐH đất nước, GCCNnước ta đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa dạng
về cơ cấu, chất lượng được nâng lên đáng kể, dần hình thành một bộ phậncông nhân trí thức đang tiếp tục khẳng định vai trò là giai cấp lãnh đạo cáchmạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, sựphát triển của GCCN hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệpCNH,HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹthuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp, kỷluật lao động, ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế, đa phần công nhân từ nôngdân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống Một bộ phận công nhân chậmthích nghi với cơ chế thị trường Địa vị chính trị của GCCN còn mờ nhạt,chưa phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của cả nước, HàNội luôn là nơi hấp dẫn các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư pháttriển sản xuất kinh doanh, thu hút một lực lượng rất lớn lao động tham gia.DNNN có vai trò nòng cốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Đội ngũ công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội là một bộphận của giai cấp công nhân Việt Nam; động lực to lớn thúc đẩy phát triển
Trang 5kinh tế - xã hội của Hà Nội và đất nước Vì vậy, để xây dựng GCCN ViệtNam nói chung, đội ngũ công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nộinói riêng cần quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo, mục tiêu Nghị quyếtTrung ương sáu, Khoá X: “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặtcho công nhân, không ngừng trí thức hoá công nhân là một nhiệm vụ chiếnlược”…“xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển về số lượng,nâng cao chất lượng, cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngàycàng được trí thức hoá” [13, tr.48&50]
Trí thức hoá công nhân là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, làmột vấn đề mới và cần được sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành nóichung và của các DNNN trên địa bàn Hà Nội nói riêng Từ những lý do nêu ở
trên mà tôi chọn đề tài: “Trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay” làm luận văn thạc sỹ.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Xuất phát từ vai trò to lớn của giai cấp công nhân đối với quá trình đấutranh cách mạng cũng như xây dựng CNXH ở Việt Nam; nhất là trong quá trìnhđổi mới và tiến hành CNH, HĐH đất nước đã có rất nhiều công trình khoa họcnghiên cứu của các cá nhân và tập thể về vấn đề này
Vấn đề xây dựng GCCN Việt Nam đã được Đảng ta đề cập toàn diện,sâu sắc trong các Nghị quyết Đại hội, Nghị quyết chuyên đề, của Ban Chấphành Trung ương
Trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, đã có rất nhiều côngtrình khoa học khai thác nghiên cứu về GCCN Việt Nam ở những khíacạnh khác nhau;
* Về lịch sử giai cấp công nhân, phong trào công nhân Việt Nam:
Trang 6Trần Văn Giàu, “Giai cấp công nhân Việt Nam - sự hình thành và phát triển”, Nxb Sự thật, Hà Nội 1961.
Nguyễn Công Bình- Vũ Huy Phúc, “Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam”, Nxb Lao động, 1974;
“Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam”, Nxb Lao
động, 1977
Trong những công trình đó, các tác giả đã luận giải khá sâu sắc sự rađời của GCCN, của phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam; về vị trívai trò của GCCN Việt Nam, đồng thời chỉ ra những đóng góp to lớn củaGCCN, phong trào công nhân Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.Trên cơ sở nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng mà Đảng ta xác định, các tác giảđưa ra những dự báo khoa học về xu hướng phát triển của GCCN, của phongtrào công nhân và Công đoàn Việt Nam trong giai đoạn mới
* Về xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước và trí thức hoá công nhân
Có các công trình đã được in thành sách tham khảo và chuyên khảo như; Văn Tạo, “Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân - kinh tế tri thức và công nhân trí thức”, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1997.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - Viện Công nhân và Công đoàn,
“Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Lao động, Hà Nội, năm 1999.
PGS Cao Văn Lượng (chủ biên), "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
Viện Công nhân và Công đoàn, “Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI”, Nxb Lao động, hà nội
2003
Trang 7Viện Công nhân và Công đoàn, “Một số vấn đề cơ bản về xây dựng và phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH”,
PGS, TS Tạ Ngọc Tấn - Nguyễn Duy Hưng - Đoàn Văn Kiên (đồng
chủ biên), “Xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện mới”, Nxb Lao động, Hà nội, năm 2008.
Đặng Ngọc Tùng (chủ biên), “Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, Nxb lao động, Hà Nội - 2008
TS Lê Thanh Hà, “Phát triển kinh tế tri thức và hoạt động của công đoàn Việt Nam”; Nxb Lao động, Hà nội - 2008…
Một số luận án, luận văn bàn về vấn đề giai cấp công nhân tiêu biểu như: Trần Kim Hải, Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án tiến sĩ, chuyên ngành Kinh tế chính trị, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999
Trần Thị Bích Liên "Tích cực hoá nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình", Luận án tiến sĩ, Chuyên ngành
triết học, viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000
Trần Ngọc Sơn, "Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Luận án tiến sĩ,
Chuyên ngành triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2001
Một số bài báo khoa học tiêu biểu như;
Hoàng Trung Hải, “Để giai cấp công nhân tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”, Tạp chí Cộng sản số 4+5, tháng 12 năm 2003.
Trang 8-GS.TS Mạch Quang Thắng, “Giai cấp công nhân Việt Nam một số vấn đề lý luận cần tiếp tục làm sáng tỏ”, Tạp chí Lao động Công đoàn,
tháng 10 năm 2008
Nhìn chung, các công trình và đề tài khoa học, bài viết xung quanh vấn đềGCCN đã đi sâu, luận giải và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò sứmệnh lịch sử của GCCN nói chung, GCCN Việt Nam trong sự nghiệp CNH,HĐH và hội nhập quốc tế nói riêng; đồng thời, đề cập đến vấn đề xây dựngGCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay
Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
một cách hệ thống vấn đề; Trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay Đề tài mà tác giả lựa chọn là một
công trình khoa học độc lập, không trùng lặp với bất cứ công trình khoa họcnào đã công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Từ luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn trí thức hoá công nhântrong các DNNN trên địa bàn Hà Nội, đề xuất yêu cầu và một số giải pháp đẩymạnh trí thức hoá công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội, góp phầnxây dựng GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
* Nhiệm vụ:
Làm rõ quan niệm trí thức hoá công nhân, thực chất, nội dung, vai tròtrí thức hoá công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH đất nước
Đánh giá đúng thực trạng, nguyên nhân, chỉ rõ một số vấn đề đặt ranhằm đẩy mạnh quá trình Trí thức hoá công nhân trong các DNNN trên địabàn Hà Nội thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 9Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản đẩy mạnh trí thức hoá côngnhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
*Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là vấn đề trí thức hoá công nhân
trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu: Trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp Nhà nước trên địa bàn Hà Nội; thời gian chủ yếu từ năm
rõ những vấn đề mà mục đích và nhiệm vụ của luận văn đã đưa ra
6 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng tổng hợpcác phương pháp nghiên cứu như: lôgích - lịch sử, phân tích - tổng hợp;
so sánh, điều tra xã hội học; phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ góc
độ chính trị - xã hội của vấn đề
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa cholãnh đạo Thành phố Hà Nội, các nhà quản lý và DNNN tham khảo, đưa ra các chủ
Trang 10trương chính sách đẩy mạnh trí thức hoá công nhân góp phần xây dựng GCCN có
đủ phẩm chất, năng lực, phát huy tốt vị trí, vai trò trong sự nghiệp CNH,HĐH,hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Hà Nội và đất nước đặt ra
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho quá trình giảngdạy, học tập và nghiên cứu những nội dung có liên quan
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mụctài liệu tham khảo
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRÍ THỨC HOÁ CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY 1.1 Trí thức hoá công nhân và vai trò của trí thức hoá công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.1.1 Quan niệm về trí thức hoá công nhân
*Quan niệm của các nhà kinh điển về trí thức hoá công nhân
Trí thức hoá công nhân là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩaquan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển GCCN và liên quan trựctiếp đến việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của đội ngũ này Mặc dù C.Mác,Ph.Ăngghen và V.I.Lênin chưa khi nào đề cập đến thuật ngữ trí thức hoácông nhân nhưng trong quan điểm, tư tưởng của các ông đã bàn khá nhiều
về nâng cao trình độ văn hoá, tri thức, trí tuệ cho công nhân
Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển của nền đại công nghiệp dưới
CNTB C.Mác- Ph.Ăngghen phát hiện ra vai trò của tri thức, khoa học kỹ thuật
của tinh thần và trí tuệ người lao động trong việc phát triển lực lượng sản xuất
mà cụ thể là máy móc C.Mác đã khẳng định: “Thiên nhiên không chế tạo ramáy móc…Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con người…tất cảnhững cái đó đều là những cơ quan của bộ óc con người do bàn tay con ngườitạo ra, đều là sức mạnh đã vật hoá tri thức" [34, tr 272-273]
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa lao động và máy móc đại côngnghiệp dưới CNTB, C.Mác đã chỉ rõ, sự phát triển ngày càng hiện đại củamáy móc và hệ thống máy móc chính là quá trình từng bước thay thế lao độnggiản đơn bằng lao động phức tạp có tính khoa học Vì vậy, lao động trực tiếptrở thành thứ yếu so với lao động khoa học của con người C.Mác đã viết:
“Lao động biểu hiện ra không phải chủ yếu là lao động được nhập vào quátrình sản xuất, mà chủ yếu là loại lao động trong đó con người, trái lại là
Trang 12người kiểm soát và điều tiết quá trình sản xuất” [34, tr369] C.Mác cho rằng;toàn bộ quá trình sản xuất “biểu hiện ra không phải như là một quá trình phụthuộc vào tài nghệ trực tiếp của người công nhân mà với tư cách là sự ứngdụng khoa học trong lĩnh vực công nghệ” [34, tr358].
Từ những phân tích trên C.Mác chỉ rõ: “Theo đà phát triển của đại côngnghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở lên ít phụ thuộc vào thời gian lao động
và số lượng lao động đã chi phí mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độchung của khoa học và tiến bộ kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụngkhoa học ấy vào sản xuất” [34, tr368-369] Chính vậy mà “phát minh đã trởthành một nghề đặc biệt và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vàonền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chấtquyết định và kích thích” [34, tr367]
Khi quan sát, nghiên cứu sự tác động của đại công nghiệp, của cách mạngkhoa học kỹ thuật đối với sự ra đời và phát triển của GCCN, C.Mác,Ph.Ăngghen đã nhận thấy sự ra đời và phát triển của một bộ phận “giai cấp vô
sản trí thức” Trong bức thư “Gửi Đại hội quốc tế sinh viên xã hội chủ nghĩa”
Ph Ăngghen đã viết: “Các bạn hãy cố gắng làm cho sinh viên hiểu được rằng,giai cấp vô sản trí thức phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên, bên cạnh
và trong hàng ngũ những người bạn của nó các công nhân thủ công nghiệp giai cấp ấy có sứ mệnh phải đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạngsắp tới” [33, tr613] Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen đã nhận thấy rằng, giaicấp vô sản trí thức sẽ được hình thành từ hàng ngũ sinh viên, coi sinh viên lànguồn bổ sung chủ yếu cho “giai cấp vô sản trí thức”, đồng thời giai cấp vôsản trí thức phải là những người có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn
-kỹ thuật cao, cùng với quá trình tăng lên về trí thức của công nhân hiện đại vàquá trình tăng lên của bộ phận “công nhân - trí thức”
Trang 13C.Mác, Ph.Ăngghen còn dự báo khoa học về sự xích lại gần nhau,chuyển hoá cho nhau giữa công nhân và trí thức, đồng thời nhấn mạnh: “sự
“xích lại gần nhau” và “mất tính đối lập” giữa lao động chân tay và lao độngtrí óc trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội và của khoa học, kỹthuật và của tiến bộ xã hội” [32, tr36] Bản thân C.Mác và Ph.Ăngghen đều làtrí thức, hai ông đã gia nhập vào phong trào công nhân, hoạt động cùngGCCN để tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận cho phong trào công nhân,đồng thời hai ông cũng tích cực tham gia vào quá trình trí thức hoá côngnhân
Trên cơ sở kế thừa, vận dụng những quan điểm tư tưởng của C.Mác,
Ph.Ăngghen trong điều kiện lịch sử mới, V.I Lênin đã làm phong phú hơn
những quan điểm C.Mác, Ph.Ăngghen trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng đốivới sự nghiệp cách mạng của công nhân nói riêng và đối với sự phát triển nềnkinh tế XHCN nói chung V.I Lênin chỉ rõ: “về mặt kinh tế và chính trị,chính sách kinh tế mới hoàn toàn bảo đảm cho chúng có khả năng xây dựngđược nền móng cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Tất cả “chỉ” là tuỳ ở lựclượng văn hoá của giai cấp vô sản và ở đội tiền phong của nó” [27, tr74] Bởitheo Lênin văn hóa chính là trí tuệ của nhân dân trong đó có đội ngũ côngnhân
Khi bàn về tầm quan trọng của việc nâng cao tri thức cho nhân dân laođộng nói chung và công nhân nói riêng trong quá trình xây dựng CNXH,
trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết”
V.I.Lênin nhấn mạnh: “Việc nâng cao năng suất lao động trước hết đòi hỏiphải có cơ sở vật chất của nền đại công nghiệp một điều kiện khác để nângcao năng suất lao động, trước hết là nâng cao trình độ học vấn và văn hoá củaquần chúng nhân dân” [24, tr229] “Công nhân phải học tập tri thức củachuyên gia tư sản bởi vì công nhân, nông dân càng nhanh chóng học tập đượccách tạo ra kỷ luật lao động tốt hơn và kỹ thuật lao động cao, bằng cách sử
Trang 14dụng các chuyên gia tư sản để học lấy môn khoa học ấy thì chúng ta sẽ thoátkhỏi “khoản tiền cống” cho các chuyên gia đó” [24, tr221].
Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN, V.I Lênin nhấn mạnh,GCCN phải liên minh được với nông dân, đặc biệt liên minh được với trí thứccách mạng, bởi vì: “…trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vôsản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được” [25, tr218]
Đối với các nước lạc hậu đi lên xây dựng CNXH, theo V.I.Lênin, cuộccách mạng trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng, phát triển khoa học kỹ thuậtcàng có tầm quan trọng đặc biệt Với các nước này, phải tìm mọi cách đểchiếm được những tri thức khoa học của nhân loại V.I.Lênin sử dụng hìnhảnh: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” [24, tr684]làm “vốn” tri thức cho mình để xây dựng CNXH
Trong bối cảnh thế giới khi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đangdiễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến các lĩnh vực đời sống xã hội thì đội ngũcông nhân trí thức xuất hiện ngày càng đông đảo, điều đó khẳng định tính đúngđắn trong tầm nhìn chiến lược và những dự báo có sức thuyết phục của C.Mác,Ph.Ăngghen, V.I Lênin về trí thức hoá công nhân
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng sáng tạo học thuyết
Mác-Lênin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đã làm sáng tỏ vai tròlịch sử của GCCN Việt Nam Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tới việc nângcao trình độ học vấn, tay nghề, ý thức giai cấp cho GCCN
Hồ Chí Minh đề cập đến “công nông trí thức hoá”, “trí thức hoá côngnông” và tầm quan trọng của quá trình này Theo Hồ Chí Minh, “trí thức hoácông nông” không có nghĩa công – nông biến thành trí thức, hoà tan vào tríthức mà là phải nâng cao trình độ học vấn, trí tuệ, chuyên môn của công –nông “Công nông hoá trí thức” cũng không phải là hạ thấp vai trò trí tuệ củatrí thức mà có nghĩa là trí thức phải gắn với công – nông, phục vụ công -
Trang 15nông, phục vụ sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, trong đó cótrí thức Với cách luận giải đó Hồ Chí Minh cho rằng, tầng lớp trí thức vàGCCN phải luôn gắn bó với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trongquá trình xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Để phát huy vai trò tiền phong là “gốc”, là lực lượng nòng cốt của cáchmạng, theo Hồ Chí Minh GCCN “cần phải học tập văn hoá để nâng cao trình
độ tri thức mình” [36, tr204]; đồng thời Người còn căn dặn: “Cần phải có kếhoạch bồi dưỡng cho cán bộ và công nhân có trình độ văn hoá và kỹ thuậtkhá”, thậm chí “phải có trình độ không kém gì kỹ sư” [38, tr224]
Khi bàn về mối quan hệ giữa lao động chân tay với lao động trí óc, Hồ ChíMinh đã chỉ rõ, không được phép coi khinh, phân biệt đối xử lao động trí óc và laođộng chân tay Lao động nào cũng vinh quang, lao động nào cũng tạo ra nhữnggiá trị vật chất và tinh thân nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội và bản thân Bác dạy:
“Mỗi người chúng ta phải nhận rõ, lao động chân tay và lao động trí óc đều vẻvang, đáng quý Chúng ta phải chống tư tưởng xem khinh lao động” [38, tr39]
Sự xích lại gần nhau, tác động và chuyển hoá giữa công nhân và tríthức cũng là một xu thế đang diễn ra nhanh chóng do sự phát triển của khoahọc – công nghệ Để chỉ ra mối quan hệ biện chứng này, Hồ Chí Minh chorằng: “Do sáng kiến và kinh nghiệm trong thi đua mà lao động chân tay nângcao trình độ kỹ thuật của mình Do thi đua mà lao động trí óc gần gũi, giúp
đỡ, cộng tác, học hỏi những người lao động chân tay và trở lên những ngườitrí thức hoàn toàn Thế là phong trào thi đua làm cho công, nông, binh, tríthức hoá và trí thức thì lao động hoá” [36, tr457]
Trí thức hoá công nhân là khách quan và là nội dung quan trọng trongxây dựng GCCN Trí thức hoá công nhân là nhằm hướng đến cái đích phục vụtốt hơn lao động sản xuất và làm tăng vị trí, vai trò của GCCN trong quản lýsản xuất và quản lý xã hội Theo Hồ Chí Minh, quá trình thực hiện “trí thức
Trang 16hoá công nông” thì vai trò của tầng lớp trí thức là rất quan trọng nhằm
“chuyển” tri thức vào nhân dân nói chung và công nhân nói riêng Hồ ChíMinh chỉ rõ: “ vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục Bây giờ xâydựng kinh tế, không có cán bộ không làm được việc Không có giáo dục,không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hoá” [38, tr224]
* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức hoá công nhân
Trí thức hoá công nhân Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối vớinâng cao trình độ mọi mặt đối với GCCN góp phần thực hiện sứ mệnh lịch sửcao cả của mình Quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế “…đã, đang và sẽxuất hiện nhiều ngành nghề, lĩnh vực mới do tiến bộ khoa học – công nghệ vàđòi hỏi khách quan của xã hội, của việc quốc tế hoá đời sống Xu hướng trí thứchoá công nhân, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc, tăng cường yếu tố trí tuệ
và lao động trí óc ngay trong dây chuyền công nghiệp đang tăng lên” [7, tr32]
Khi khoa học và công nghệ phát triển, nhiều ngành nghề mới xuất hiệnthì trí thức hoá công nhân sẽ trở thành nhu cầu tất yếu để phát triển đất nước
và hội nhập Đặt ra cho chúng ta phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn,trí tuệ, chuyên môn nghề nghiệp và trình độ khoa học công nghệ hiện đại đểcông nhân tiếp cận và làm chủ ngành nghề mới Tiếp tục quán triệt Nghịquyết Trung ương bảy khoá VII, Nghị quyết Đại Hội Đại biểu Đảng toàn IXtiếp tục xác định; đối với GCCN phải coi trọng phát triển về số lượng và chấtlượng, nâng cao giác ngộ bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp,thực hiện “trí thức hoá công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng sáng tạocông nghệ mới lao động đạt năng suất chất lượng và hiệu quả ngày càng cao,xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong trong sự nghiệp CNH,HĐH và vaitrò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới
Trang 17Từ khi đất nước đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập quốc tế dẫn đến sự dịch chuyển nhanh cơ cấu nền kinh tế Sự pháttriển kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo nên những biến động sâu sắc về
số lượng, chất lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ công nhân Trình độ học vấn,trình độ tri thức, chuyên môn nghề nghiệp của công nhân thấp và mất cân đốitrong cơ cấu lao động kỹ thuật giữa các bộ phận so với yêu cầu đẩy mạnhCNH,HĐH đất nước Nhận rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của GCCN trong giaiđoạn mới Đại hội X của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Đối với giai cấp công nhân, pháttriển về số lượng, chất lượng và tổ chức, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị,trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [12, tr18]
Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá X đã ra
nghị quyết chuyên đề về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời
kỳ đẩy CNH, HĐH đất nước” Bàn về mục tiêu xây dựng GCCN Việt Nam đến
năm 2020 Nghị quyết xác định: “Xây dựng giai cấp Việt Nam lớn mạnh, pháttriển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng có cơ cấu đáp ứng yêu cầu pháttriển của đất nước; ngày càng được trí thức hoá; có trình độ học vấn, chuyênmôn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận làm chủ khoa học – côngnghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, thích ứngnhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp,bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động” [13,tr50]
Như vậy, cùng với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ GCCN có xuhướng trí thức hoá ngày càng tăng Trí thức hoá công nhân đã và đang tạo rađộng lực to lớn bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đấtnước Nhưng trình độ tri thức sẽ không làm thay đổi bản chất của GCCN -những người lao động sản xuất công nghiệp
Trang 18Trên cơ sở nắm vững những quan điểm tư tưởng của C.Mác,Ph.Ăngghen, V.I Lênin, Hồ Chí Minh và của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, các nhà khoa học, tác giả quan niệm rằng: Trí thức hoá công nhân là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp, cách thức nhằm nâng trình độ học vấn, trình độ tri thức, chuyên môn nghề nghiệp, khoa học, công nghệ và năng lực hoạt động thực tiễn, làm chuyển hoá đội ngũ công nhân thành nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế; xứng đáng là lực lượng tiền phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH.
Trí thức hoá công nhân ở nước ta hiện nay là quá trình tất yếu gắn liềnvới sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và sự pháttriển lực lượng sản xuất tiên tiến Với xu thế toàn cầu hoá và quá trình CNH,HĐH đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức là quá trình nâng cao
hệ thống tri thức khoa học - kĩ thuật - công nghệ hiện đại cho GCCN để họxứng đáng là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất mới XHCN; lựclượng lãnh đạo công cuộc đổi mới và đi tiên phong trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử của mình đối với giaicấp, dân tộc và nhân loại
Vậy, thực chất của trí thức hoá công nhân là quá trình không ngừng phát
huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhất là tổ chức Côngđoàn các cấp; đẩy mạnh hơn nữa đổi mới nâng cao chất lượng công tác giáo dục
và đào tạo, coi trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo lại, đào tạo nâng cao đáp ứngyêu cầu của quá trình sản xuất hiện đại trong từng giai đoạn; đẩy mạnh quá trìnhCNH, HĐH đất nước gắn liền với phát triển nền kinh tế tri thức; ban hành và thựchiện nghiêm các chính sách xã hội cần thiết bảo đảm việc làm, thu nhập và đờisống của công nhân góp phần làm chuyển hóa GCCN ngang tầm trí thức Vớitrình độ trình độ học vấn, tri thức, chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cao; có khảnăng vận dụng tri thức khoa học, kĩ thuật, công nghệ hiện đại vào hoạt động thực
Trang 19tiễn sản xuất, kinh doanh; có năng lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; có tácphong công nghiệp và năng lực cải tiến, sáng tạo công nghệ sản xuất mới; có giácngộ giai cấp, có ý thức và hành vi chính trị, pháp luật đúng đắn.
Trí thức hoá công nhân ở Việt Nam hiện nay có cơ sở khoa học từ nhu cầukhách quan của yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tếtri thức và đòi hỏi ở chính sự phát triển của bản thân GCCN Việt Nam
Trước hết, trí thức hoá công nhân do yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Công nghiệp hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã
hội theo hướng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, đưakhoa học, công nghệ vào sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững Theo đó, cũng làm thay đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang côngnghiệp, với hàm lượng chất xám ngày càng tăng
Tiến hành công nghiệp hoá mới có khả năng đưa nước ta thoát khỏi nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, xâydựng thành công CNXH
Đối với nước ta, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá Cùngvới quá trình công nghiệp hoá, phải đi vào hiện đại hoá ở một số lĩnh vực,một số ngành mũi nhọn, tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoahọc – công nghệ hiện đại, thực hiện bước phát triển “rút ngắn lịch sử”, “đitắt”, “đón đầu”, khắc phục sự tụt hậu ngày càng xa về khoa học – công nghệ
so với các nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy đòi hỏi phải có mộtđội ngũ công nhân có chất lượng cao, có trình độ tri thức, năng lực và bảnlĩnh chính trị vững vàng
Hai là, xuất phát từ những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức mà chúng ta đang hướng đến
Kinh tế tri thức là xu thế khách quan trên thế giới hiện nay Đó là nềnkinh tế mà sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức con người đóng vai trò
Trang 20quyết định đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ, góp phần thay đổi
bộ mặt cuộc sống của nhân loại
Trong nền kinh tế tri thức, sản xuất chủ yếu dựa vào tri thức Yếu tốđầu vào của sản xuất không chỉ là vốn và sức lao động mà chủ yếu là tri thức,lực lượng lao động trí tuệ gia tăng Xã hội trở thành một xã hội học tập, conngười cần học tập suốt đời Xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức
Ở nước ta, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế trithức Phát triển nền kinh tế tri thức luôn đặt ra yêu cầu cao đối với GCCNViệt Nam Cùng với quá trình tri thức hoá nền kinh tế chúng ta phải khôngngừng trí thức hoá lực lượng lao động nói chung và GCCN nói riêng, mới cóthể đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế tri thức
Ba là, xuất phát từ yêu cầu của quá trình hội nhập khu vực và thế giới
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá đang là khách quan tác động đến mọilĩnh vực của đời sống xã hội nhất là lĩnh vực kinh tế Khi khoa học & côngnghệ phát triển mạnh mẽ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và làm cholực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao Phân công lao động
xã hội không chỉ dừng lại ở biên giới quốc gia mà rộng ra toàn thế giới Toàncầu hoá tạo ra cơ hội, điều kiện để GCCN Việt Nam tiếp cận với những thànhtựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; trao đổi, học hỏi kinh nghiệm tổchức quản lý sản xuất kinh doanh của các nước; đồng thời để Việt Nam pháttriển quan hệ hợp tác, giao lưu và tăng cường đoàn kết với GCCN và nhândân lao động tiến bộ trên thế giới
Toàn cầu hoá sẽ đưa đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên tất cả cáclĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, văn hoá Điều này đòi hỏi cả dân tộc tanói chung, GCCN Việt Nam nói riêng phải vươn lên không ngừng Đó chính
là động lực thúc đẩy mạnh mẽ GCCN Việt Nam phát triển toàn diện Vì thế,cần phải xây dựng đội ngũ công nhân không chỉ có trí tuệ, có trình độ học
Trang 21vấn, chuyên môn nghiệp vụ cao mà còn phải thành thạo ngoại ngữ, tin học thìmới có thể đáp ứng được.
Bốn là, do trình độ dân trí của nhân dân nói chung và của đội ngũ công nhân ngày càng nâng cao
Những năm qua, cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, ngành giáo dục
và đào tạo phát triển đáng kể Việt Nam cơ bản đã hoàn thành phổ cập trung học
cơ sở; nhiều tỉnh, thành phố đang đẩy mạnh phổ cập trung học phổ thông Cũng từ
đó mà lực lượng lao động xã hội của nước ta có trình độ học vấn tăng nhanh đángkể đây là một lực lượng to lớn, sẵn sàng bổ xung cho bộ phận công nhân tríthức Mặt khác, do yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với nền kinh
tế tri thức buộc người công nhân phải không ngừng học tập, phấn đấu nâng caotrình độ học vấn, trình độ tri thức chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề để đáp ứngđược yêu cầu của nền sản xuất hiện đại
*Nội dung cơ bản của quá trình trí thức hoá công nhân Việt Nam
Trí thức hoá công nhân được xác định là một một nhiệm vụ quan trọng
có nội dung toàn diện Như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IXcủa Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: “…đối với giai cấp công nhân, coitrọng phát triển số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ bản lĩnh chính trị,trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện trí thức hoá công nhân, nâng caonăng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng xuất, chấtlượng hiệu quả lao động ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầutrong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trongthời kỳ mới” [9, tr124-125] Đó là định hướng căn bản cho việc xác địnhnhững nội dung chính của trí thức hoá công nhân ở nước ta hiện nay, cụ thể:
Một là, trí thức hoá công nhân là quá trình không ngừng nâng cao trình độ học vấn, trình độ tri thức của GCCN
Trang 22Trình độ học vấn chính là chìa khoá để tiếp cận tri thức khoa học, côngnghệ hiện đại Trình độ học vấn của công nhân vừa là mục tiêu vừa là điềukiện của quá trình nâng cao trình độ tri thức của công nhân Có trình độ họcvấn, trình độ tri thức cao sẽ giúp cho công nhân tiếp thu, ứng dụng, làm chủtri thức khoa học, công nghệ mới, khả năng sáng tạo cải tiến công cụ, nângcao chất lượng, hiệu quả trong sản xuất Khi trình độ học vấn, tri thức đượcnâng cao sẽ là cơ sở điều kiện nâng cao phẩm chất và năng lực toàn diện củaGCCN trên các lĩnh vực, xứng đáng là giai cấp cách mạng có đủ bản lĩnhchính trị, trí tuệ và năng lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hộicủa đất nước Vì vậy, thực hiện trí thức hoá công nhân ở Việt Nam phải nângcao chất lượng giáo dục và đào tạo, để không ngừng nâng cao trình độ họcvấn và tri thức khoa học của GCCN.
Hai là, trí thức hoá công nhân là quá trình không ngừng nâng cao trình
độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp của GCCN
Trí thức hoá công nhân không chỉ dừng lại ở việc nâng cao trình độ họcvấn, tri thức mà điều cốt lõi là trên nền tảng của trình độ học vấn, tri thứcđược đào tạo trong các nhà trường hoặc tự đào tạo mà không ngừng nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của GCCN Chỉ như vậy, GCCNmới có khả năng làm chủ công nghệ hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của sựphân công lao động xã hội, chủ động hơn trong quá trình hội nhập, thúc đẩynền kinh tế trong nước phát triển trên cơ sở nâng cao năng xuất lao động, tạo
ra nhiều hàng hoá đáp ứng nhu cầu không chỉ trong nước mà còn vươn ra thịtrường thế giới Vì thế, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp
là một nội dung quan trọng của quá trình trí thức hoá công nhân, làm chuyểnbiến căn bản khả năng của người công nhân và hình thành lên một bộ phậnlao động mới có chất lượng cao
Trang 23Ba là, trí thức hoá công nhân là quá trình nâng cao năng lực sáng tạo trong sản xuất, đời sống, nhất là năng lực ứng dụng, sáng tạo công nghệ mới của GCCN
Bản thân người công nhân nếu có trình độ học vấn, trình độ tri thứckhoa học, kỹ thuật và trình độ chuyên môn tay nghề cao, kết hợp với thực tiễnlao động sản xuất của mình sẽ là những cơ sở quan trọng giúp họ nâng caokhả năng cải tiến công cụ, ứng dụng khoa học, công nghệ và sáng tạo ranhững công nghệ mới Việc cải tiến công cụ sản xuất và ứng dụng khoa học –công nghệ diễn ra như một tất yếu nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệuquả trong sản xuất, thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước; tiến tớixây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới XHCN
Bốn là, trí thức hoá công nhân Việt Nam là quá trình nâng cao ý thức chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công nghiệp và ý thức pháp luật góp phần phát triển toàn diện GCCN
Trong đấu tranh cách mạng, bản lĩnh chính trị của GCCN Việt Namđược thể hiện thông qua vai trò lãnh đạo, tổ chức phong trào đấu tranh cáchmạng chống lại sự xâm lược của kẻ thù, đánh thắng hai tên đế quốc to là Pháp
và Mỹ thống nhất đất nước, tiến hành xây dựng CNXH Trong giai đoạn hiệnnay, đứng trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, thế giới vànhững khó khăn đặt ra trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, bản lĩnh chínhtrị của GCCN Việt Nam chính là sự kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào con đường đi lên CNXH, đường lối quanđiểm của Đảng ta; có ý thức giai cấp, ý thức dân tộc, tinh thần tự lực, tựcường, tự tôn dân tộc và hợp tác, đoàn kết quốc tế; xác định quyết tâm thựchiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hoà bình,độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trang 24Đi lên xây dựng CNXH từ một nước nghèo, kém phát triển, sản xuấtnông nghiệp là chủ yếu; công nghiệp chưa phát triển, đội ngũ công nhân xuấtthân chủ yếu từ nông dân, hiểu biết chính trị – xã hội, luật pháp còn ít Do đó,trí thức hoá công nhân sẽ giúp họ rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, tácphong công nghiệp theo tiêu chí: “GCCN Việt Nam hiện phải là những người
có tri thức, trung thực, có tác phong công nghiệp và nhân cách cao, tôn trọngnhân quyền và pháp luật nhà nước” [22, tr150]; khắc phục những tình trạng
vô tổ chức, kỷ luật, tuỳ tiện trong thực hiện quy trình sản xuất và bảo đảm antoàn lao động và những biểu hiện khác như, rượu chè, cờ bạc, tham gia vàocác tệ nạn xã hội…đi ngược lại với truyền thống đạo lý, thuần phong mỹ tụccủa dân tộc và bản chất tốt đẹp vốn có của GCCN
1.1.2 Vai trò của trí thức hoá công nhân trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Góp phần hình thành đội ngũ công nhân có số lượng, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh
tế tri thức và và hội nhập quốc tế
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trên
cơ sở phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH,HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế thế giới, nhất
là từ khi thực hiện chủ trương trí thức hoá công nhân đã tác động mạnh mẽđến sự phát triển GCCN về mọi mặt
Trước năm 1986 đội ngũ công nhân nước ta có khoảng 3,38 triệu người;năm 2007 là 9,5 triệu người, chiếm khoảng 11% dân số và 21% lực lượng laođộng xã hội [50, tr50]; đến nay, công nhân nước ta có khoảng 10,5 triệu người laođộng sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế và ngành nghề sản xuất
Về trình độ học vấn của công nhân nước ta trong những năm đổi mới
vừa qua được nâng lên đáng kể Năm 1985, tỷ lệ công nhân có học vấn
Trang 25trung học phổ thông chỉ là 4,2%, đến năm 2000 là 62,2%; năm 2007 con sốnày là 69,3% [50, tr58] Tuy nhiên, trình độ học vấn được nâng lên nhưngvẫn còn ở mức thấp so với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, cơcấu phân bố chưa hợp lý Công nhân có trình độ học vấn cao tập trung chủyếu ở thành phố lớn, ở các trung tâm công nghiệp và ở một số ngành, lĩnhvực sản xuất mũi nhọn như : điện tử, tin học, bưu chính viễn thông…
Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề
Trong xu thế hội nhập quốc tế, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thịtrường, Nhà nước, các doanh nghiệp, cá nhân người công nhân đã quan tâm vàchủ động trong đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, nắm vữngkhoa học kỹ thuật
Những năm qua, phát triển nền kinh tế tri thức đã làm xuất hiện nhiềungành nghề mới đòi hỏi trình độ học vấn, trình độ tri thức chuyên môn, kỹ thuậtcao đối với người lao động Vì thế, trong GCCN đã hình thành một bộ phậncông nhân trí thức, làm công tác quản lý, nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuậtgắn với sản xuất kinh doanh, năng động tiếp cận nhanh với khoa học – côngnghệ hiện đại, làm chủ máy móc thiết bị và thích ứng nhanh với cơ chế thịtrường Đến nay tỷ lệ công nhân tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên đang tăngmạnh trong các khu công nghệ, trong các ngành nghề, các doanh nghiệp có thiết
bị công nghệ sản xuất hiện đại; ví dụ như, Dầu khí Việt Nam là 43,3%, Điện lựcViệt Nam là 28,5%, Bưu chính viễn thông là 26,5%, Than khoáng sản Việt Nam
là 16%, Tổng công ty hoá chất Việt Nam là 15,8%, Dệt may là 5,6%… [50,tr59]
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn,tay nghề của GCCN đã tăng đáng kể nhưng so với yêu cầu của sự nghiệpCNH, HĐH đất nước thì vẫn chưa đáp ứng được Tình trạng thừa công nhânlao động giản đơn, thiếu công nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đang
Trang 26diễn ra khá phổ biến trong các doanh nghiệp và khu vực kinh tế Hiện nay,GCCN Việt Nam vẫn luôn tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt tiến tớilàm chủ khoa học – công nghệ hiện đại, có ngành nghề đã tiếp cận được vàứng dụng thành công công nghệ sản xuất hiện đại vào bậc nhất thế giới nhưngành Điện tử, Bưu chính viễn thông, Công nghệ thông tin, Vật liệu mới
* Nâng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đối với khu vực và quốc tế
Cùng với sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, quá trình tríthức hoá công nhân đã tạo ra cho GCCN Việt Nam trưởng thành lên rất nhiều và
đã có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta
Với đội ngũ hùng hậu chiếm tỷ lệ khoảng 11% dân số và 21% lựclượng lao động cả nước, GCCN Việt Nam đang là lực lượng sản xuất chủyếu, vận hành sử dụng những phương tiện, công cụ sản xuất tiên tiến, hiện đạinhất, quyết định phương hướng, tốc độ phát triển của nền kinh tế quốc dân.Hàng năm, họ đã tạo ra khối lượng giá trị chiếm trên 70% tổng sản phẩm
trong nước, đảm bảo 65% thu ngân sách nhà nước (năm 2006) Các doanh
nghiệp nhà nước đóng góp 37% GDP, 16% thu ngân sách, trong khi đó doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 17% GDP và doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp tập thể là 7% GDP [50, tr89].
GCCN Việt Nam là lực lượng quyết định đến phát triển kinh tế thị trường,
có khả năng sáng tạo trong sản xuất và đời sống xã hội, thích nghi nhanh với cơchế thị trường, năng động, chủ động tiếp cận khoa học – công nghệ tiên tiến,hiện đại Các cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân bậc cao, thợ giỏi rất năngđộng sáng tạo, có nhiều sáng chế, giải pháp hữu hiệu, có giá trị cao được ápdụng vào sản xuất và quản lý Ngoài ra, công nhân nước ta đã phát hiện, đề xuất
Trang 27nhiều giải pháp, kinh nghiệm quý báu cho Đảng, Nhà nước trong xây dựngđường lối phát triển kinh tế – xã hội, chỉ đạo sản xuất có hiệu quả.
* Phát huy vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế
Từ những năm đầu thế kỷ XX, lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Namtrong đấu tranh cách mạng cũng như quá trình xây dựng CNXH luôn gắn liềnvới vai trò của GCCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng cộng sản Việt Nam
là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào côngnhân và phong trào yêu nước Việt Nam, mang bản chất của GCCN và bảnchất dân tộc sâu sắc Cơ sở chính trị – xã hội của Đảng trước hết và trung tâm
là GCCN Việt Nam Vì vậy, trí thức hoá công nhân là nâng cao trí tuệ củaGCCN, đồng thời nâng cao trí tuệ của Đảng để từng bước xây dựng và hoànthiện đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Trên cơ sở nền tảng là trình độ học vấn, trình độ tri thức, chuyên môn,nghiệp vụ cao sẽ giúp cho GCCN Việt Nam có giác ngộ giai cấp và ý thứcchính trị sâu sắc Giác ngộ giai cấp của GCCN được thể hiện ở chỗ là họ nhậnthức được rằng; GCCN là giai cấp những người lao động công nghiệp hiệnđại là chủ yếu, tạo ra phần lớn của cải vật chất cho xã hội, là lực lượng lãnhđạo cách mạng đấu tranh giành chính quyền và tổ chức xây dựng thành công
xã hội mới, xã hội XHCN Có sứ mệnh lịch sử ấy vì GCCN Việt Nam luôngiữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội, có tinh thần cách mạngtriệt để, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh soi đường
Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng của GCCN, cơ sở lý luận, phươngpháp luận về con đường, phương pháp cách mạng để GCCN thực hiện sứmệnh lịch sử của mình Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng học thuyếtMác- Lênin vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, chỉ ra con đường để cách mạngViệt Nam giành thắng lợi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
Trang 28nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
và dần trở thành tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp GCCN Việt Nam hiểu biết sâu sắc về các tổ chứctrong hệ thống chính trị Hiểu rằng, Đảng ta là đội tiền phong của GCCN Việt Nam,đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và của cả dân tộc; là lựclượng lãnh đạo toàn xã hội Qua đó giúp người công nhân nhận thức đầy đủ về vai tròcủa tổ chức Đảng trong nhà máy, xí nghiệp và không ngừng nâng cao trách nhiệmtham gia xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh
Đối với Nhà nước, người công nhân có hiểu biết sâu sắc về Nhà nướcViệt Nam XHCN; đó là nhà nước mang bản chất của GCCN, có tính nhân dân
và tính dân tộc sâu sắc; là nhà nước của dân, do dân, vì dân, quyền lực nhà nước
là tập trung thống nhất trong đó có sự phân công, phối hợp giành mạnh giữa baquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Nhà nước thống nhất quản lý mọi mặt xãhội bằng pháp luật đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và có nhiệm vụ xây dựngthành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
Đối với Công đoàn, người công nhân hiểu rằng công đoàn là một tổchức chính trị quần chúng có chức năng chăm lo và bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của cán bộ, công nhân, nhân viên và những người lao động khác vàphải có ý thức được trách nhiệm mình phải tham gia tổ chức này
Bên cạnh đó người công nhân còn có nghĩa vụ tham gia và hoạt độngtrong những tổ chức chính trị quần chúng khác như; Đoàn thanh niên, Hộiphụ nữ…đồng thời có những kiến thức cơ bản về hiến pháp và pháp luật vàcòn là lực lượng tuyên truyền, giải thích, đấu tranh bảo vệ đường lối, chínhsách, luật pháp của Đảng và Nhà nước
Những vấn đề cơ bản nêu trên thể hiện bản chất giai cấp và ý thức chínhtrị của GCCN và nó không ngừng được bổ xung, tăng cường cùng với quá trìnhtrí thức hoá công nhân Cũng từ đó mà trí tuệ của Đảng luôn được nâng cao, thể
Trang 29hiện trong xác định đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng,
an ninh, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
* Tạo ra sự xích lại gần nhau giữa giai cấp công nhân với đội ngũ trí thức, tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì “công nhân – tríthức và trí thức – công nhân” ngày càng được tăng cường trong cơ cấu GCCN
và càng khẳng định là bộ phận nòng cốt trong đội ngũ GCCN Do đó, sự gắn
bó giữa người công nhân có trí tuệ cao với với tầng lớp trí thức ngày càng chặtchẽ và xích lại gần nhau, khoảng cách giữa họ ngày càng ngắn lại nhưng khôngtrùng khít và điều đó xảy ra như một tất yếu khách quan
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “trí thức hoá côngnhân” và “công nhân hoá trí thức” là hai quá trình thống nhất biện chứng Haiquá trình này luôn diễn ra đồng thời, tạo lên mối quan hệ khăng khít giữa côngnhân và trí thức, giữa trí thức với công nhân và là cơ sở khách quan cho xâydựng và củng cố khối liên minh công nhân – nông dân và tầng lớp trí thức; lànòng cốt cho xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra một động lực tolớn thúc đẩy cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi
Trong quá trình đổi mới và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã đặt racho Đảng, Nhà nước ta cần tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa công nhân
và trí thức, tạo sự gắn bó giữa lao động trí óc và lao động chân tay, đó cũng
là những điều kiện cần thiết có tính chất nền tảng cho quá trình hình thành
và phát triển của kinh tế tri thức trong tương lai Trên thực tế, chúng ta đã cócác kỹ thuật viên cao cấp, kỹ sư thực hành, thợ bậc cao vừa trực tiếp vậnhành sản xuất hiện đại, vừa có khả năng nghiên cứu, sáng chế, phát minh vàứng dụng vào sản xuất, quản lý nhằm không ngừng nâng cao năng xuất,chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh, đó là những công nhân trí thức-
Trang 30một kết quả tất yếu của quá trình trí thức hoá công nhân; hiện nay, tỉ lệ nàychưa nhiều nhưng xu hướng sẽ tăng mạnh trong thời gian tới khi mà khoahọc – công nghệ càng phát triển.
1.2 Thực trạng trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay
1.2.1 Doanh nghiệp nhà nước và công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội
*Tổng quan về Hà Nội
Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc hội khoá XII về mở rộng địa giớihành chính Thủ đô, Hà Nội từ ngày 1/8/2008 (bao gồm cả Thủ đô Hà Nội, HàTây cũ, huyện Mê Linh - Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn- HoàBình) có diện tích là: 3344,7 km2; dân số 6,32 triệu người, chiếm 1% diệntích tự nhiên và 7,2% về dân số của cả nước; với 29 đơn vị hành chính cấpquận, huyện, thị xã trực thuộc
Hà Nội là mối giao thông quan trọng bậc nhất của nước ta Từ Hà Nội
đi đến các thành phố, thị xã ở vùng bắc bộ cũng như cả nước bằng đường bộ,đường thuỷ và hàng không Hà Nội là nơi hội tụ hai hành lang kinh tế CônMinh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội –Hải Phòng Đây chính là yếu tố tạo sự gắn bó chặt chẽ giữa Hà Nội với cáctrung tâm kinh tế- chính trị trong cả nước, là điều kiện thuận lợi để Hà Nộiphát triển kinh tế xã hội và tiếp cận kịp thời với các thành tựu về khoa học,công nghệ tiên tiến của nước ngoài, tham gia vào quá trình phân công laođộng khu vực và quốc tế
Về kinh tế, Hà Nội là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc.Những năm đổi mới, Hà Nội đã đạt được những thành tựu quan trọng trên cáclĩnh vực kinh tế – xã hội Tốc độ tăng GDP bình quân khoảng 11% năm Chỉtính riêng hai năm 2007-2008, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình năm là
Trang 3112,4% (so với mức trung bình của cả nước là 7,4%) Cơ cấu kinh tế ngành của
Hà Nội tiếp tục chuyển dịch theo xu hướng hiện đại Tính theo GDP là: dịch
vụ 57,5% - công nghiệp 40,5% - nông nghiệp 2% [14, tr28-29] Công nghiệp
do được sắp xếp lại đã tạo được đà phát triển mạnh Giá trị sản xuất tăng bìnhquân 19%/năm; các ngành chủ lực như thiết bị điện, điện tử, tin học, kim khí,dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, vật liệu mới tăng 19,7%/năm; sảnphẩm phong phú và hình thành một số ngành công nghiệp mới [14, tr29]
Hà Nội được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt trong quá trình xâydựng và phát triển Có lợi thế trong việc tiếp cận các thành tựu khoa học côngnghệ và tinh hoa văn hoá thế giới Phần lớn các chuyên gia đầu ngành kinh tếcủa cả nước đang công tác, nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở Hà Nội
Hoạt động đối ngoại của Thành phố Hà Nội ngày càng được mở rộng
Hà Nội có quan hệ với thủ đô, tổ chức kinh tế - xã hội của hơn 60 nước.Thông qua nhiều hoạt động, vị thế của Hà Nội ngày càng nâng cao trêntrường quốc tế Đây là điều kiện thuận lợi để Hà Nội nhanh chóng tiếp cậnvới khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới
Hiện nay phát triển kinh tế Hà Nội tính ổn định chưa cao, sức cạnh tranhcủa hàng hoá còn yếu, hiệu quả sản xuất, kinh doanh còn thấp Đa số DNNN địaphương quy mô còn nhỏ, công nghệ lạc hậu Cùng với việc tập trung phát triểnkinh tế, Hà Nội phải coi trọng việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội, nêu caocảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địchnhằm xoá bỏ CNXH ở Việt Nam
Với những thành tựu to lớn đã đạt Hà Nội được UNESCO tặng danh hiệu
“Thành phố vì hoà bình”, được Đảng, Nhà nước tặng danh hiệu “Thủ đô anhhùng” Năm 2010 cùng với cả nước, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội phấn khởi kỷniệm đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
* Tổng quan về các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội
Trang 32Ngành công nghiệp Hà Nội có lịch sử từ lâu đời Trong tiến trình đổimới chung của cả nước, công nghiệp Thành phố đang có những chuyển biến
rõ rệt về mọi mặt theo hướng phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới Hiện nay, Hà Nội là trung tâm công nghiệp lớn thứ haicủa cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh
Về cơ cấu công nghiệp theo khu vực kinh tế, trên địa bàn Hà Nội có khuvực kinh tế nhà nước (Trung ương và địa phương), khu vực kinh tế ngoài nhànước (tập thể, tư nhân và cá thể) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Theo sốliệu của Cục thống kê Hà Nội (năm 2009) tổng số doanh nghiệp sản xuất côngnghiệp nhà nước trên địa bàn là 147 bao gồm các ngành kinh tế như khaikhoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, cungcấp nước Trong đó doanh nghiệp kinh tế nhà nước Trung ương là 101 và kinh tếnhà nước địa phương là 46 Tổng số lao động sản xuất công nghiệp nhà nướctrên địa bàn là 90 536 người, giá trị sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp nhànước trên địa bàn theo số liệu 2008 là 20.242 tỷ VNĐ chiếm 24,76% tổng giá trịsản xuất công nghiệp của Hà Nội Chỉ số phát triển giá trị sản xuất công nghiệpthường xuyên tăng Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp sản xuất côngnghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội năm 2000 là 1355 triệu USD, năm 2007 là
2969 triệu USD và năm 2008 là 4273 triệu USD [4, tr102]
Các doanh nghiệp nhà nước sản xuất công nghiệp của Trung ương trên địa bàn Hà Nội
Những năm qua, thực hiện Chỉ thị 20/1998/CT- TTG ngày 21/4/1998
của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhànước đã làm cho số doanh nghiệp và lao động công nghiệp giảm đáng kể.Năm 2000 có 174 doanh nghiệp / số lao động là 50 207 người; năm 2006 là
132 / 43102 người; năm 2008 là 101 / 39202 người Tuy nhiên, các chỉ số sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn tăng đều hàng năm: giá trị sản xuất
Trang 33công nghiệp năm 2000 là 7673 tỷ VNĐ; năm 2006 là 14 230 tỷ VNĐ và 2008
là 15 193 tỷ VNĐ Kim ngạch xuất khẩu năm 2000 là 1165 triệu USD, năm
2006 là 2062 triệu USD và năm 2008 là 3828 triệu USD Các sản phẩm côngnghiệp có khả năng cạnh tranh cao
Đối với các doanh nghiệp nhà nước sản xuất công nghiệp của Hà Nội
những năm qua đã giảm mạnh về số doanh nghiệp và lao động công nghiệp.Năm 2000 có 135 doanh nghiệp / số lao động là 42.203 người; năm 2006 là51/31521 người; năm 2008 là 46 / 21782 người Tuy nhiên, sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp vẫn tăng liên tục: giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000 là
2 474 tỷ VNĐ; năm 2006 là 4718 tỷ VNĐ và 2008 là 5048 tỷ VNĐ Kim ngạchxuất khẩu năm 2000 là 195 triệu USD, năm 2006 là 372 triệu USD và năm 2008
là 445 triệu USD Riêng 6 tháng đầu năm 2009 tổng sản phẩm nội địa (GDP)tăng 3,6 lần, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,2% Điều đó cũng cónghĩa là, chủ trương sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp của Đảng, Nhà nước ta làhoàn toàn sáng suốt, đúng hướng tạo điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường
và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh của Hà Nội
Với 147 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thuộc khu vực kinh tếnhà nước, chiếm 28,1% tổng giá trị sản xuất công nghiệp (trong đó riêngdoanh nghiệp nhà nước Trung ương chiếm 20,5%) [5, tr28] Tổng sản
phẩm nội địa GDP thực tế (năm 2008) đạt 78 953 tỷ đồng Khu vực này
giữ vai trò chủ đạo của công nghiệp Thủ đô với các ngành công nghiệpthen chốt như dệt may, chế biến thực phẩm - đồ uống, chế tạo máy móc,điện tử, tin học, vật liệu xây dựng và hoá chất Các cơ sở công nghiệp
Trang 34tuy ít (chỉ chiếm 0,2% số cơ sở toàn thành phố) nhưng có quy mô lớn vàquy trình công nghệ hiện đại.
Các DNNN trên địa bàn đã thực hiện nghiêm các quy định hoạtđộng doanh nghiệp, hưởng ứng tham gia tích cực vào các cuộc vận động,các phong trào lớn của đất nước, các hoạt động văn, thể, mỹ của Thànhphố Tổ chức, duy trì hoạt động của các đội tự vệ nhà máy, xí nghiệp,góp phần xây dựng khu vực phòng thủ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự
xã hội, CNH, HĐH và hội nhập kinh tế thế giới
Về cơ cấu độ tuổi
Cùng với quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước GCCNViệt Nam đang có xu hướng trẻ hoá Theo điều tra của Tổng Liên đoàn Laođộng Việt Nam vào năm 2007, nhóm công nhân độ tuổi 18-30 chiếm 48,9%;
Trang 35nhóm tuổi trên 50 là 4,8%, còn lại là nhóm tuổi từ 31- 49 [50, tr55] Thếnhưng, ở các DNNN đang trong quá trình sắp xếp, đổi mới, nên việc tuyểndụng thêm công nhân rất ít, nếu có tuyển dụng chỉ là để thay thế một số vị trílàm việc do công nhân nghỉ hưu Điều này khiến cho đội ngũ công nhân ở cácDNNN trên cả nước nói chung và địa bàn Hà Nội nói riêng có xu hướng giàhoá Qua điều tra khảo sát cho thấy chỉ có 36% công nhân ở độ tuổi 18-30,nhóm 31- 49 tuổi là 51,3%, trên 50 tuổi là 12,7% [phụ lục1;1] Như vậy,nhóm tuổi từ 31 trở lên cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp ngoài nhànước; nhất là tuổi trên 50 ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ là2%.
Về năng lực thực hành sống, hội nhập của công nhân trong DNNN trên địa bàn Hà Nội.
Đội ngũ công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội được sống vàlàm việc trong môi trường giàu truyền thống lịch sử văn hoá nhất của cả nước,tiếp thu những nét đẹp, văn minh, lịch sự của người Hà thành, được rèn luyệntrong môi trường lao động XHCN Những yếu tố đó đã tạo ra cho đội ngũ côngnhân có khả năng giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, sống chân thành cởi mở,
dễ thích nghi trước những diễn biến phức tạp của cuộc sống Họ đã và đang
hưởng ứng tích cực cuộc vận động xây dựng người Hà Nội “Văn minh, thanh lịch, hiện đại” và các hoạt động văn hoá, thể thao, vui chơi giải trí do Thành phố
tổ chức Tuy nhiên, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường và một số yếu
tố tiêu cực khác đã làm nảy sinh lối sống tiêu cực của một bộ phận nhỏ côngnhân trong các DNNN Biểu hiện như sa sút về phẩm chất đạo đức, trộm cắp, cờbạc, nghiện hút, lười lao động; ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật, kém…
Trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ
Trang 36Công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội có trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cao nhất cả nước Hà Nội đã hoàn thành phổ cập xongtrung học cơ sở và đang tiếp tục phổ cập trung học phổ thông Số liệu của CụcThống kê Hà Nội năm 2008 cho thấy, trình độ tiểu học là 0,6%, trung học cơ sở là10,2%, trung học phổ thông 89,2% [4, tr346]; 76,67% số công nhân lao động đãqua đào tạo nghề [phụ lục 1;3]; công nhân có trình độ trung cấp là 37,1%, caođẳng, đại học là 25,5% [4, tr348] Trong khi đó, Hà Nội là trung tâm văn hoá của
cả nước, tập trung hơn 100 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệpnên càng có điều kiện nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật,tay nghề cho đội ngũ công nhân
Thái độ chính trị và hoạt động chính trị, xã hội
Cùng với lực lượng công nhân viên chức lao động Hà Nội, công nhântrong các DNNN trên địa bàn có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức tốt,tin tưởng, ủng hộ và quyết tâm đi đầu thực hiện đường lối do Đảng khởixướng và lãnh đạo, có tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, ý thức tự lực, tựcường, năng động, sáng tạo, vươn lên trong khó khăn thử thách Nhận thức vềkinh tế thị trường ngày càng rõ hơn, tiếp cận nhanh với thiết bị, công nghệhiện đại Họ rất quan tâm lo lắng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội củađất nước và tình trạng tiêu cực, tham nhũng đang xảy ra hiện nay Tích cựctham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âmmưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch và những biểu hiện tiêucực khác
Về đời sống vật chất, tinh thần
So với công nhân cả nước thì đời sống vật chất, tinh thần của công nhântrong các DNNN trên địa bàn Hà Nội trong những năm đổi mới đã có sự cảithiện đáng kể Số công nhân có tiền gửi tiết kiệm ngày càng tăng, nhiều người đãmua sắm được vật dụng sinh hoạt đắt tiền…Tuy nhiên, có một bộ phận không
Trang 37nhỏ đời sống còn nghèo khổ, việc làm không đều, thu nhập không ổn định, họphải thuê nhà sống tạm bợ trong khi giá cả thị trường tăng hàng này…Nhữngcông nhân có hoàn cảnh khó khăn thường rơi vào các doanh nghiệp nhà nướcđịa phương và tập trung chủ yếu ở các ngành may mặc, giày da, hoá chất…
1.2.2 Những ưu điểm, hạn chế của quá trình trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Trí thức hoá công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội hiện nayvừa là yêu cầu khách quan, vừa là tiền đề, điều kiện, để xây dựng GCCN toàndiện góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH gắn liền với phát triểnnền kinh tế tri thức Quá trình trí thức hoá công nhân được diễn ra trên các mặt,trong đó tập trung chủ yếu vào nâng cao trình độ học vấn, trình độ tri thức,chuyên môn kỹ thuật, tay nghề; hướng vào phát triển tư duy sáng tạo, cải tiến
tư liệu sản xuất và phương thức quản lý sản xuất, kinh doanh mới; khôngngừng nâng cao ý thức chính trị, đạo đức, pháp luật của đội ngũ công nhântrong
* Những ưu điểm trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
Một là, công tác giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nghề cho công nhân đã có những đổi mới đáng kể, phần nào đáp ứng được yêu cầu của trí thức hoá công nhân
Là trung tâm giáo dục lớn nhất của cả nước, Hà Nội hiện có tổng số 62
trường đại học, cao đẳng, 47 trường trung học chuyên nghiệp; 193 trường cóđào tạo công nhân kỹ thuật, 89 cơ sở dậy nghề, với số lượng sinh viên chiếmkhoảng 35,7% tổng số sinh viên cả nước Hiện có hơn hai nghìn tiến sỹ đangcông tác giảng dạy, nghiên cứu, tại Hà Nội chiến trên 70% số tiến sỹ hiện có.Đây là một lợi thế lớn để các DNNN trên địa bàn Hà Nội có thể tuyển được lực
Trang 38lượng công nhân theo nhu cầu của đơn vị mình hoặc thực hiện mô hình phốihợp giữa đào tạo của trường gắn với nhu cầu sử dụng của nhà máy
Thực hiện chủ trương đổi mới, các nhà trường những năm qua đã chủđộng trong việc đa dạng hoá ngành nghề đào tạo đáp ứng yêu cầu sử dụng củanền kinh tế quốc dân Nhiều trường mạnh dạn đi trước đào tạo các ngành nghềmới, đón đầu những công nghệ mới tiên tiến của thế giới Kết quả cho thấy có63,33% số công nhân được hỏi và trả lời đào tạo nghề hiện nay của các nhàtrường đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện đại [phụ lục1;15]; 38% sốcông nhân được hỏi trả lời hoàn thành tốt công việc trong dây chuyền sản xuấthiện đại, 46% hoàn thành mức khá [phụ lục1;16]; và có 13,33% trả lời trình độđào tạo của các nhà trường là hiện đại, 76% trả lời tương đối hiện đại [phụlục1;17] Nhờ có sự đổi mới công tác giáo dục và đào tạo trong những năm qua
mà trình độ học vấn, trình độ tri thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghềcủa giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nộiđược nâng lên đáng kể cụ thể:
Về trình độ học vấn, trình độ tri thức, theo số liệu tổng hợp của Cục
Thống kê Hà Nội, trình độ học vấn của công nhân lao động công nghiệptrong các DNNN trên địa bàn Hà Nội năm 2000 có tới 0,3% là mù chữ, tiểuhọc là 7,1%, trung học cơ sở 23,2%, trung học phổ thông là 69,4% Đếnnăm 2008 số liệu đã có sự thay đổi đáng kể; trình độ tiểu học là 0,6%,trung học cơ sở là 10,2%, trung học phổ thông 89,2% [4, tr346], không còncông nhân mù chữ Kết quả trên cơ bản đã phản ánh đúng kết quả điều tra
xã hội học (5/2010) vừa qua với các tỷ lệ là 1,3%/16%/81,2% [phụ lục1;2).Trong khi công nhân có trình độ trung học cơ sở, trung học phổ thông của
cả nước hiện nay chỉ đạt 80% [3, tr98]
Trình độ học vấn, tri thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp cóảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp Nếu lực
Trang 39lượng này có trình độ học vấn, trình độ tri thức cao, có kinh nghiệm quản lýkinh doanh tốt, nội bộ đoàn kết, sẽ là cái “nền” để doanh nghiệp phát triển.Nhận thức được vấn đề này, những năm qua các DNNN đã tích cực, chủ độngtrong xây dựng nguồn, tuyển nguồn, bổ nhiệm những cán bộ chủ chốt thực sự
có đủ trình độ, năng lực đáp ứng được từng vị trí công tác Theo số liệu thuthập, đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội có tới 13,57% có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ, 51,03% có trình độ đại học, 27% có trình độcao đẳng, 8,4% có trình độ trung cấp (cán bộ từ cấp trưởng phòng trở lên)[Phụ lục 2] Đây chính là lực lượng giữ vai trò nòng cốt, quyết định đến quátrình trí thức hoá công nhân trong các doanh nghiệp
Trình độ học vấn của đội ngũ công nhân trong các DNNN trên địa bàn
Hà Nội cao hơn so với mặt bằng xã hội và cao nhất cả nước, trong đó DNNNTrung ương cao hơn địa phương Hầu hết công nhân đã tốt nghiệp trung học cơ
sở, trong đó chiếm đa số tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông Đặc biệt côngnhân trẻ có trình độ học vấn cao ngày càng tăng Đây là lợi thế rất cơ bản trongviệc tiếp thu, chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ mới để phát triểnsản xuất, kinh doanh và làm tăng sức cạnh tranh của lao động trên thị trường
Để tiếp thu và vận hành được thiết bị máy móc công nghệ hiện đại,trong quá trình tiếp nhận, chuyển giao công nghệ đòi hỏi người công nhânphải có trình độ ngoại ngữ nhất định Được sự quan tâm của lãnh đạodoanh nghiệp và cố gắng của công nhân mà số lượng công nhân được cử đihọc và tự học ngoại ngữ ngày càng tăng Qua điều tra cho thấy hiện có 48%công nhân có trình độ A Anh văn, Nga văn là 16% [phụ lục 1; 4)
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, qua nghiên cứu được biết,
hầu hết công nhân trong các DNNN trên địa bàn Hà Nội khi bước vào làmviệc đều được đào tạo qua một khoá học, có thể là dài hoặc ngắn hạn tuỳ theotính chất công việc đảm nhận Biểu thống kê hoạt động Công đoàn từ 2008đến 5/2009 toàn Thành phố hiện có 118.050 công nhân bậc 4 và 5; 48094
Trang 40công nhân bậc 6 và 7, trong đó công nhân sản xuất công nghiệp trong cácDNNN chiếm 28% lực lượng này [28, tr19].
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nâng cao trình độchuyên môn, tay nghề của GCCN nói chung và công nhân trong DNNNtrên địa bàn Hà Nội nói riêng, Hà Nội đã đề nghị với Bộ Giáo dục vàĐào tạo và chỉ đạo các doanh nghiệp mở thêm nhiều trường lớp; tăngcường đầu tư, phát triển các trường dạy nghề, có chính sách ưu tiên đốivới các trường trọng điểm đào tạo đội ngũ công nhân cho các khu côngnghiệp, khu chế xuất Theo số liệu của Cục Thống kê Hà Nội từ năm
2005 đến năm 2008 cho thấy; Năm 2005 có 193 trường đến năm 2008 là
279 trường tăng 44,5% (bao gồm trường cao đẳng, trung cấp nghề, dạynghề; đại học, cao đẳng, THCN có dạy nghề; trung tâm dạy nghề) Sốhọc sinh tuyển mới năm 2005 là 62500, đến năm 2008 số học sinh đãphát triển rất cao là 117000 tăng 87,2% [4, tr354]
Những năm qua, chất lượng đào tạo nghề của các trường, các trung tâm
cơ bản đã đáp ứng yêu cầu sản xuất của nền kinh tế quốc dân Khi được hỏi
về đào tạo nghề hiện nay của các trường đã đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đạihay chưa thì số công nhân trả lời đáp ứng tốt là 13,33%, đáp ứng được63,33%, qua đó cho thấy đào tạo của các nhà trường cơ bản đã bám sát yêucầu của thực tiễn sản xuất hiện đại [phụ lục 1;15]
Sự đổi mới về quy trình, nội dung, phương thức đào tạo của các nhàtrường, cùng với sự quan tâm của các doanh nghiệp và nỗ lực của mỗi cánhân mà trình độ chuyên môn, tay nghề của đội ngũ công nhân đã tăng lênkhông ngừng Theo số liệu của Cục Thống kê Hà Nội cho thấy, năm 2005,công nhân lao động có trình độ trung cấp 25,1%, trình độ cao đẳng, đại học là13,24%, trên đại học là 11,2% Nhưng đến năm 2008, tỷ lệ đã có sự thay đổiđáng kể Công nhân lao động có trình độ trung cấp là 37,1%, tăng được 12%;