1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG đội NGŨ TRÍ THỨC TỈNH bắc NINH THỜI kỳ đẩy MẠNH CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa đất nước

103 497 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 561 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc cách mạng KHCN hiện đại đang phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, của mọi quốc gia, dân tộc. Khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực quan trọng đối với sự phát triển KT XH, làm thay đổi cách thức tổ chức sản xuất cũng như vai trò của các yếu tố trong quá trình sản xuất. Trước sự tác động của cách mạng KHCN, việc xây dựng, phát triển kinh tế tri thức đã trở thành xu thế khách quan của các quốc gia. Đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu trong việc phát triển, ứng dụng tiến bộ KHCN hiện đại vào sản xuất và đời sống, xây dựng nền kinh tế tri thức.

Trang 1

VIẾT ĐẦY ĐỦ VIẾT TẮT

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH,HĐH

Trang 2

MỞ ĐẦU 3 Chương

1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỈNH BẮC NINH THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

10 1.1 Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh và xây dựng đội ngũ trí thức

tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước

10 1.2 Thực trạng xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 35

Chương

2

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỈNH BẮC NINH THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP

2.1 Yêu cầu xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 50 2.2 Một số giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh

Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC 93

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đang phát triển mạnh mẽ và tácđộng sâu sắc, toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, của mọi quốcgia, dân tộc Khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,

là động lực quan trọng đối với sự phát triển KT - XH, làm thay đổi cách thức

tổ chức sản xuất cũng như vai trò của các yếu tố trong quá trình sản xuất.Trước sự tác động của cách mạng KH&CN, việc xây dựng, phát triển kinh tếtri thức đã trở thành xu thế khách quan của các quốc gia Đội ngũ trí thức làlực lượng đi đầu trong việc phát triển, ứng dụng tiến bộ KH&CN hiện đại vàosản xuất và đời sống, xây dựng nền kinh tế tri thức Với mục tiêu sớm đưanước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước

ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đòi hỏi chúng taphải khai thác mọi nguồn lực, phát huy tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt

là vai trò của ĐNTT Nghị quyết Trung ương bảy khoá X của Đảng xác định:

“Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dântộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chấtlượng hoạt động của hệ thống chính trị, đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức làđầu tư cho phát triển bền vững” [11, tr.90,91]

Cùng với sự phát triển của đất nước, ĐNTT Việt Nam đã khôngngừng lớn mạnh và có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Tuy nhiên, hện nay ĐNTT còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập,nhất là về chất lượng và cơ cấu, chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnhCNH,HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Trong khi đó sự nghiệp CNH,HĐHđất nước và hội nhập quốc tế không chỉ tạo ra những điều kiện và thời cơthuận lợi để xây dựng, phát huy vai trò của ĐNTT, mà còn đòi hỏi phải có

Trang 4

ĐNTT vững mạnh Vì vậy, đầu tư xây dựng ĐNTT không chỉ là vấn đề cótính chiến lược lâu dài, mà còn là một đòi hỏi bức thiết hiện nay.

Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, tam giác tăngtrưởng của đồng bằng Bắc Bộ; là một trong những tỉnh có tốc độ CNH,HĐHnhanh nhất Miền Bắc hiện nay Mục tiêu Bắc Ninh đặt ra là tiếp tục: “Đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnhcông nghiệp vào năm 2015” [1, tr.24] Để đạt mục tiêu đó, một trong nhữngvấn đề hết sức quan trọng đặt ra đối với Bắc Ninh là phải quan tâm xây dựngĐNTT Tỉnh, tạo sự phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng và bảođảm sự hợp lý về cơ cấu

Trong những năm qua, ĐNTT tỉnh Bắc Ninh lớn mạnh về mọi mặt,đóng góp không nhỏ vào sự phát triển KT - XH của Tỉnh và đất nước Tuynhiên, nhận thức của một số tổ chức, lực lượng ở Bắc Ninh về vị trí, vai tròcủa trí thức đối với sự nghiệp CNH,HĐH còn biểu hiện chưa thống nhất, chưađầy đủ, dẫn đến chưa thật sự quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ này đápứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH của Tỉnh và đất nước Công tác xây dựngĐNTT của tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những hạn chế nhất định, ĐNTT Tỉnh còn

ít về số lượng, chất lượng chưa thật cao, cơ cấu còn bất hợp lý, chưa tươngxứng với vị trí, vai trò của nó trong sự nghiệp CNH,HĐH Vì vậy, việc xâydựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh vững mạnh đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐHđang đặt ra một cách cấp thiết

Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh

Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” làm luận

văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trí thức và xây dựng ĐNTT là vấn đề quan trọng trong công tác củaĐảng và có ý nghĩa sâu sắc đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước;

Trang 5

nên vấn đề này luôn được các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều công trình khoa học được công bốliên quan đến đề tài.

Nhóm công trình khoa học nghiên cứu mang tính tổng quan về trí thức và xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam:

“Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước” của

Đỗ Mười, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Cuốn sách là tập hợp các bài nói, bàiviết của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười Thông qua các bài nói, bài viết,nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã đã khẳng định: trí thức nước ta đại biểu chotrí tuệ của dân tộc Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, trí thức có vaitrò và trách nhiệm to lớn Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng, động viên, phát huy

sự sáng tạo của trí thức là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay

“Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay”

-Luận án tiến sĩ triết học của Phan Thanh Khôi, Hà Nội, 1992; “Một số vấn đề

về trí thức Việt Nam” của Nguyễn Thanh Tuấn, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998;

“Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Phạm Tất Dong (chủ biên), Nxb CTQG, Hà Nội, 2001…

Qua các công trình trên, các tác giả đã luận giải những vấn đề cơ bản về tríthức; giới thiệu sự hình thành, phát triển của trí thức Việt Nam qua các chặngđường lịch sử; luận giải làm rõ những đặc trưng truyền thống của trí thức ViệtNam; làm rõ vai trò, thực trạng của trí thức trong sự nghiệp CNH,HĐH đấtnước, cũng như chỉ ra những yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đặt ra đối vớitrí thức… Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất những định hướng, giải pháp cơbản tạo động lực thúc đẩy trí thức lao động sáng tạo và xây dựng, phát huyvai trò của trí thức Việt Nam trong quá trình CNH,HĐH đất nước

Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về việc xây dựng, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thuộc các địa phương trong quá trình đổi mới:

Trang 6

“Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức tỉnh Lâm Đồng trong công cuộc đổi mới hiện nay” - Luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Hằng

Nga, Hà Nội, 2000; “Đội ngũ trí thức tỉnh Bến Tre: thực trạng và phương

hướng phát triển thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” - Luận văn thạc sĩ

triết học của Nguyễn Thành Phương, Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội, 2001; “Đội ngũ trí thức Hải Dương trong sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa - thực trạng và giải pháp” - Luận văn thạc sĩ triết học

của Đặng Thị Mai, Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003;

“Đội ngũ trí thức tỉnh Lào Cai trong công cuộc đổi mới đất nước” - Luận văn

thạc sĩ triết học của Nguyễn Thế Hùng, Hà Nội, 2009; “Vai trò của đội ngũ

trí thức tỉnh Quảng Bình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay” - Luận văn thạc sĩ triết học của Lê Phong Hồng, Hà Nội, 2009… Thông

qua các công trình trên, các tác giả đã luận giải những vấn đề cơ bản về tríthức, vai trò của trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước; phântích những đặc điểm cơ bản về CNH,HĐH của từng địa phương và những yêucầu đặt ra đối với ĐNTT Đặc biệt các tác giả đã đi sâu phân tích làm rõnhững đặc điểm, vai trò, cũng như thực trạng của ĐNTT từng địa phươngtrong CNH,HĐH; trên cơ sở đó các tác giả đề xuất yêu cầu và những giảipháp cơ bản xây dựng và phát huy vai trò ĐNTT của các địa phương trongquá trình CNH,HĐH đất nước

Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về việc xây dựng, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong các ngành, lĩnh vực và các lực lượng trí thức khác nhau trong quá trình cách mạng:

“Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta”- Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn An Ninh, Hà nội,

1999; “Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong

Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” - Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn

Trang 7

Đình Minh, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội, 2003; “Xây dựng đội ngũ

trí thức ngành kiến trúc trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” - Luận

án tiến sĩ triết học của Lê Quang Quý, Hà Nội, 2005; “Phát huy vai trò đội

ngũ trí thức các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng hiện nay” - Sách

tham khảo của Trịnh Quang Cảnh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005; “Phát huy

nguồn lực nữ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tiến sĩ Đỗ Thị Thạch, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005… Thông qua các

công trình khoa học trên, các tác giả đã đi sâu phân tích đặc điểm, vai trò củatrí thức theo từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động, cũng như đặc điểm, vai tròcủa các lực lượng trí thức khác nhau; chỉ rõ yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐHđặt ra đối với trí thức thuộc các ngành, các lĩnh vực và các lực lượng trí thức;

từ đó đề xuất những định hướng, giải pháp cơ bản xây dựng, phát huy vai tròcủa trí thức theo từng ngành, từng lĩnh vực và của các lực lượng trí thức khácnhau trong quá trình CNH,HĐH đất nước

Ngoài các công trình khoa học nói trên, xung quanh vấn đề trí thức vàxây dựng ĐNTT còn có nhiều bài viết của các nhà khoa học được đăng tải trên

các tạp chí như: “Phát huy vai trò của trí thức Việt Nam trong hội nhập kinh tế

quốc tế” của Lê Khả Thọ, Tạp chí Cộng sản số 777 (Tháng 7-2007); “Đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức” của Đặng Hữu, Tạp chí Lý luận chính trị (Tháng 7-2008); “Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới” của Trường Lưu, Tạp chí Cộng sản số 791 (Tháng

9-2008); “Phát huy dân chủ trong xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam” của Nguyễn Thắng Lợi, Tạp chí Lý luận chính trị số (Tháng 9-2009); “Những biến

đổi quan trọng giai đoạn 2011-2020 và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam” của Trần Ngọc Hiên, Tạp chí Cộng sản số 804 (Tháng 10-2009); “Tạo

ra tầng lớp trí thức của riêng mình” của PGS.TS, Phan Thanh Khôi, Tạp chí

Tuyên giáo (Tháng 4-2010)… Các bài viết trên các tác giả đã phân tích yêu

Trang 8

cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, của hội nhập quốc tế đốivới việc xây dựng, phát triển ĐNTT Việt Nam, các nhóm trí thức thuộc cáclĩnh vực khác nhau; dự báo tình hình trong nước và thế giới trong những nămtới tác động đến việc xây dựng ĐNTT Việt Nam, từ đó nêu lên một số giảipháp, biện pháp cụ thể nhằm xây dựng ĐNTT Việt Nam cũng như các nhómtrí thức đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới.

Như vậy từ nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trìnhkhoa học, các bài viết đã tập trung nghiên cứu những vấn đề rất cơ bản vềtrí thức; phân tích, luận giải làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn; rút ra nhữngbài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp cơ bản xây dựng ĐNTTViệt Nam, cũng như xây dựng, phát huy vai trò của trí thức theo đặc điểm,chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng ngành, từng địa phương thời kỳCNH,HĐH đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay Tuy nhiên, chưa cócông trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về xây dựngĐNTT tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước Vì vậy đề tài

mà tác giả lựa chọn, nghiên cứu là đề tài độc lập, không trùng lắp với bất

kỳ đề tài, công trình khoa học nào đã công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Mục đích:

Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng ĐNTT tỉnhBắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, trên cơ sở đó đề xuất một số giảipháp cơ bản xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đấtnước

Trang 9

- Đề xuất yêu cầu và một số giải pháp cơ bản xây dựng ĐNTT tỉnhBắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.

* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là xây dựng ĐNTT tỉnh BắcNinh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu việc xây dựngĐNTT do tỉnh Bắc Ninh quản lý chủ yếu từ năm 2001 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn

* Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

* Phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng các phương phápnghiên cứu: lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, phương pháp chuyên gia,nghiên cứu tư liệu, thu thập thông tin, điều tra xã hội học

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu, làm sáng tỏ vị trí, vai trò vàđặc điểm của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh, cũng như công tác xây dựng ĐNTT tỉnhBắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước

- Luận văn góp thêm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, biện phápcủa các cấp uỷ Đảng, chính quyền và cơ quan chức năng tỉnh Bắc Ninh trong

Trang 10

xây dựng ĐNTT và làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác nghiên cứu vềĐNTT nói chung, ĐNTT tỉnh Bắc Ninh nói riêng.

6 Kết cấu của luận văn

Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục kèm theo

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG

ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỈNH BẮC NINH THỜI KỲ

ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 1.1 Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh và xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.1 Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

* Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh

Điều kiện tự nhiên và lịch sử văn hóa của Bắc Ninh

Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ, nằm ở phía bắc thủ đô Hà Nội, trong vùngkinh tế trọng điểm - tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh,với hệ thống giao thôngđường bộ, đường sắt, đường thuỷ, rất thuận tiện chophát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đẩy mạnh CNH,HĐH Dân số của BắcNinh hiện nay có khoảng hơn 1triệu người với thành phần dân tộc Kinh thuầnnhất Diện tích tự nhiên của Bắc Ninh khoảng hơn 800 km2, phần lớn diệntích là đồng bằng, đồi núi chỉ chiếm khoảng 0,53%, chủ yếu tập trung ở haihuyện Quế Võ và Tiên Du Là tỉnh đồng bằng, nên tài nguyên, khoáng sảncủa Bắc Ninh không nhiều, chỉ có trữ lượng nhỏ về tài nguyên rừng và một sốkhoáng sản khác như đất sét làm gạch, ngói, gốm, gạch chịu lửa; đá sa thạch

và than bùn…Tuy trữ lượng không lớn, song đây cũng là một điều kiện quantrọng để Bắc Ninh phát triển các ngành, nghề thủ công Bởi thế, với sự sángtạo, khéo léo và tinh tế của người dân, nên các làng nghề ở Bắc Ninh rất pháttriển và Bắc Ninh trở thành mảnh đất sở hữu nhiều làng nghề truyền thống nổitiếng như: làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kỵ, làng đồng Đại Bái, làngmộc Hương Mạc, làng mây tre Xuân Lai, làng gốm Phù Lãng

Về lịch sử văn hóa, Bắc Ninh là nơi có truyền thống văn hoá lịch sửlâu đời, đặc sắc; nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thuỷ, bộ tạocho xứ Kinh Bắc sớm trở thành một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa

Trang 12

với một vị trí đặc biệt trong lịch sử dân tộc và văn hoá Việt Nam Trải quahàng nghìn năm lịch sử chống ngoại xâm, vùng đất và con người Kinh Bắccòn được lịch sử giao cho trọng trách là "mảnh đất phên dậu phía bắc củakinh thành Thăng Long" Chính thế đứng và trọng trách lịch sử ấy đã hun đúcnên phẩm chất anh hùng, kiên cường, bất khuất của người dân Bắc Ninh.Truyền thống ấy một lần nữa lại tiếp tục được phát huy cao độ trong hai cuộckháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũngnhư trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế hiện nay

Cùng với quá trình giao lưu và trao đổi kinh tế là quá trình tiếp xúc,hội nhập văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo; Bắc Ninh trở thành một trong nhữngtrung tâm văn hóa, tín ngưỡng của cả nước; nơi tập trung của các di tích lịch

sử văn hóa lâu đời, của các công trình kiến trúc độc đáo, như đền Đô, chùaDâu, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp Bắc Ninh còn là một miền quê nổitiếng với truyền thống hiếu học, trong đó Luy Lâu (thuộc Thuận Thành ngàynay) là trung tâm Hán học đầu tiên của cả nước Dưới các triều đại phongkiến, Bắc Ninh là miền quê đóng góp nhiều nhất trạng nguyên và tiến sĩ chođất nước Trong hơn 800 năm khoa cử phong kiến Việt Nam, quê hương Kinh

Bắc đã đóng góp cho đất nước 17 trạng nguyên và hơn 600 tiến sĩ, chiếm 1/3

số trạng nguyên, tiến sĩ của cả nước và ở Bắc Ninh có nhiều làng được gọi là

“làng tiến sĩ” như Kim Đôi, Vĩnh Kiều, Vọng Nguyệt… Đặc biệt làng Tamsơn (thuộc thị xã Từ Sơn ngày nay) - nơi duy nhất của cả nước có đủ “Tam

khôi”, trong đó có 20 tiến sĩ và 2 trạng nguyên…[36, tr.30-31]

Với truyền thống văn hóa, lịch sử, lâu đời, Bắc Ninh là mảnh đất sinhthành và nuôi dưỡng nhiều nhân tài kiệt xuất của đất nước, tiêu biểu như các

vị vua triều Lý, đã có công lớn trong đấu tranh chống ngoại xâm và trong xâydựng đất nước thời phong kiến Trong thế kỷ XX, cũng xuất hiện nhiều nhàcách mạng xuất sắc như: Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt…Bắc Ninh còn là miền quê sản sinh ra nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng như: hoạ sĩTrần Văn Cẩn, Hoàng Tích Chù; nhạc sĩ Huy Du, Nguyễn Đức Toàn; nhà văn

Trang 13

Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Kim Lân; nhà thơ Thế Lữ và nhiềuvăn nghệ sĩ nổi tiếng khác.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh

Công nghiệp hóa là quy luật chuyển biến xã hội, từ xã hội nôngnghiệp sang xã hội công nghiệp văn minh Công nghiệp hoá vừa là động lực,vừa là kết quả tất yếu của sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của lực lượngsản xuất Công nghiệp hóa xuất hiện bắt đầu từ nước Anh vào khoảng nửacuối thế kỷ XVIII, gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, sau đólan ra các nước Tây Âu và nhiều nước khác trên thế giới Hiện nay côngnghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và là xu thế khách quan, là nấc thang tất yếu

mà bất cứ nước nào cũng phải đi qua để trở nên giàu có và hùng mạnh

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của CNH,HĐH đối với sự phát triểnđất nước theo định hướng XHCN, thực hiện “đi tắt đón đầu”, khắc phục sự tụthậu về KH&CN so với các nước trên thế giới, ngay từ Đại hội III, Đảng ta đãxác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lênCNXH Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, trong thời gian dài, côngnghiệp hoá ở nước ta chưa phát triển toàn diện, chủ yếu mới tập trung pháttriển các ngành công nghiệp nặng Vì thế, cơ bản nước ta vẫn là một nướcnông nghiệp lạc hậu với cơ cấu kinh tế bất hợp lý

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta chỉ rõ: “Mục tiêu của công nghiệphóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vậtchất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinhthần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, văn minh” [6, tr.70] Tiếp đó, Đại hội IX của Đảng chủ trương: “Đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưanước ta trở thành một nước công nghiệp” [8, tr.24] Đặc biệt, trước yêu cầuphát triển kinh tế tri thức và trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Xcủa Đảng khẳng định cần tiếp tục: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh

Trang 14

quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn vớiphát triển kinh tế tri thức” [9, tr.87].

Như vậy, cùng với quá trình đổi mới, nhận thức của Đảng ta vềCNH,HĐH ngày càng hoàn thiện hơn, đường lối CNH,HĐH ngày càng phùhợp với đặc điểm, điều kiện của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH,cũng như trước sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN hiện đại, của kinh tế trithức Nhờ đó mà công cuộc đổi mới đất nước thu được những thành tựu quantrọng, tạo ra thế và lực mới, để nước ta tiếp tục vững bước trên con đườngXHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Từ quan điểm của Đảng và thực tiễn CNH,HĐH ở nước ta những nămqua cho thấy, CNH,HĐH là quá trình đi tắt, đón đầu về KH&CN; trước hết làquá trình trang bị và trang bị lại công nghệ mới cho các ngành sản xuất, đặcbiệt là với các ngành then chốt, mũi nhọn, khắc phục sự lạc hậu về công nghệ

để vươn lên trình độ công nghệ tiên tiến của khu vực và thế giới Công nghiệphóa, hiện đại hóa đồng thời cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu KT - XH,theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụcủa nền kinh tế; là quá trình phát triển các lĩnh vực KT - XH và văn hóa, gắnvới bảo vệ môi trường sinh thái… chứ không chỉ đơn thuần trong lĩnh vựckinh tế, kỹ thuật Công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn là quá trình mở cửa, chủđộng hội nhập, giao lưu với các nền văn minh trên thế giới, tiếp thu tinh hoavăn hoá nhân loại Vì vậy, CNH,HĐH là quá trình lâu dài, khó khăn và phứctạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó xây dựng và phát huyvai trò của ĐNTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Những năm qua, tỉnh Bắc Ninh tích cực đẩy mạnh CNH,HĐH, đầu tưcải tiến, mua sắm trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, tiếp nhận chuyển giao côngnghệ tiên tiến, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế… Giai đoạn 2006-2010, nhiệm

vụ CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn được đặt lên hàng đầu, bước đầu pháthuy được tiềm năng về đất đai và lao động nông thôn Từ một tỉnh nông

Trang 15

nghiệp, đến nay cơ cấu kinh tế của Bắc Ninh đang chuyển dịch mạnh sangcông nghiệp và dịch vụ Hiện nay, tỷ trọng các ngành trong GDP của Bắc Ninhlà: công nghiệp - xây dựng 64,8%, dịch vụ 24,2% và nông nghiệp 11% Đặcbiệt, Bắc Ninh đã quy hoạch được 15 khu công nghiệp với tổng diện tích 7.525

ha Riêng sản xuất công nghiệp của Bắc Ninh, từ 2005 đến nay, tăng bình quân27,9%/ năm; năm 2010 đạt 23.000 tỷ đồng, đưa Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 năm

2004 lên vị trí thứ 10 năm 2009 về sản xuất công nghiệp [1, tr.2-4] Các làngnghề ở Bắc Ninh cũng đang phát triển mạnh, tích cực ứng dụng công nghệhiện đại vào sản xuất, đẩy mạnh maketing quảng bá sản phẩm, mở rộng thịtrường ra các nước trong khu vực và thế giới Về cơ cấu vùng địa phương,cực phát triển công nghiệp không ngừng được mở rộng địa bàn, gồm thànhphố Bắc Ninh, Từ Sơn, Quế Võ, Tiên Du, Yên Phong Vùng trũng các huyệnGia Bình, Lương Tài, Yên Phong, Quế Võ chuyển sang nuôi trồng và chếbiến thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao

Với nhiều lợi thế, hiện nay Bắc Ninh là tỉnh thu hút được nhiều nhà đầu

tư lớn trong và ngoài nước, nhất là đầu tư nước ngoài Chỉ tính trong năm

2008, có 76 dự án đầu tư nước ngoài vào Bắc Ninh, với tổng vốn đăng ký đầu

tư là 1.426.391USD [42] đưa Bắc Ninh vươn lên đứng thứ 7 toàn quốc vàđứng thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ về thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài [1, tr.2-3] Hiện nay, Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tốc độCNH,HĐH nhanh nhất Miền Bắc, tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao và ổnđịnh Năm 2008 đạt mức tăng trưởng 16,2%, năm 2009 tuy ảnh hưởng của suythoái kinh tế toàn cầu, song mức tăng trưởng vẫn đạt 12,54% [32, tr.3], thunhập bình quân đầu người và mức sống nhân dân tỉnh Bắc Ninh không ngừngđược nâng lên Năm 2005, GDP bình quân đầu người đạt 525,7 USD [38,tr.12], năm 2010 đạt 1.800 USD [1, tr.2], cao hơn gấp 1,5 lần so với mứcGDP bình quân đầu người của cả nước (khoảng 1.200 USD) [13, tr.43]

Trong quá trình CNH,HĐH, các vấn đề xã hội cũng luôn được tỉnh BắcNinh quan tâm giải quyết Về giáo dục - Đào tạo: Bắc Ninh là một trong ba địa

Trang 16

phương đầu tiên của cả nước hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi Năm 2002,

Bộ Giáo dục và đào tạo đã công nhận tỉnh Bắc Ninh hoàn thành phổ cập trunghọc cơ sở Hằng năm, Tỉnh có từ 35-40% học sinh tốt nghiệp trung học phổthông thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng Về văn hoá - Thông tin, thể dục,thể thao có nhiều tiến bộ, mang đậm dấu ấn của truyền thống vùng Kinh Bắc…Thông tin liên lạc được hiện đại hoá đến 100% xã, phường, thị trấn; hệ thống

y tế từng bước được hiện đại hoá, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻnhân dân [32, tr.3] Chương trình xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm cónhững tiến bộ đáng kể, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm dần và thời gian sửdụng lao động ở nông thôn tăng lên qua các năm… Công tác bảo vệ an ninhchính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã đạt được nhiều kết quả [38, tr.23-24] Bên cạnh đó, Bắc Ninh mạnh dạn: “Đổi mới cơ chế quản lý, điều hành theohướng tinh giản các thủ tục hành chính, tạo nên hình ảnh về Bắc Ninh thân thiện,cởi mở trong thu hút các nhà đầu tư và an toàn cuộc sống” [32, tr.3]

Tiếp tục đẩy mạnh CNH,HĐH, Bắc Ninh xác định mục tiêu tổngquát đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 là: “Phát triển kinh tếnhanh và bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triểncác khu công nghiệp - đô thị hiện đại với công nghệ cao, công nghệ sạch;tăng cường đầu tư vùng sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao… Pháttriển toàn diện các lĩnh vực, văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục, nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực; giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường; thực hiệntốt chính sách an sinh xã hội…” [1, tr.23] Như vậy trong những năm tới đểđẩy mạnh CNH,HĐH, đòi hỏi tỉnh Bắc Ninh phải tập trung nỗ lực, huy động

có hiệu quả mọi nguồn lực, trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng và pháthuy vai trò của ĐNTT Tỉnh

* Trí thức

Trong bất kỳ chế độ xã hội nào, trí thức luôn là lực lượng đại diện chotrí tuệ đương thời, là nguồn lực đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗiquốc gia, dân tộc Vì vậy, xây dựng, phát huy vai trò của trí thức luôn giành

Trang 17

được sự quan tâm đặc biệt trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Tuynhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia lại có những quan điểm và cáchtiếp cận khác nhau về khái niệm “trí thức” Từ điển bách khoa Liên - Xô địnhnghĩa: “trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sángtạo, phát triển và truyền bá văn hoá”; Từ điển Wikipedia định nghĩa: “Trí thức làngười sử dụng trí tuệ để làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi vàtrả lời các câu hỏi có liên quan về hàng loạt các ý tưởng khác nhau” [12, tr.66].Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Trí thức: người chuyên làm việc, lao độngtrí óc” [40, tr.1075]…

Đảng Cộng sản Việt Nam, quá trình lãnh đạo cách mạng luôn quan tâmxây dựng và phát huy vai trò của ĐNTT Quan điểm của Đảng về ĐNTT đượcthể hiện trong nhiều văn kiện khác nhau “Tầng lớp trí thức” là thuật ngữ được

sử dụng phổ biến từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII trở về trước, từ Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta sử dụng thuật ngữ “Đội ngũ trí thức”,nhằm nhấn mạnh vai trò to lớn, đặc trưng lao động của trí thức và sự có mặtngày càng đông đảo của trí thức trên các địa bàn, các lĩnh vực và trong các giaitầng xã hội Tuy nhiên, chỉ đến Nghị quyết Trung ương bảy khoá X, Đảng ta

mới chính thức đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về trí thức: “Trí thức là những

người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [11, tr.81-82].

Tuy góc độ tiếp cận khác nhau, song các khái niệm trên tập trung đềcập tới một số dấu hiệu cơ bản sau:

Thứ nhất, trí thức là một tầng lớp xã hội

Từ khi lịch sử có sự phân công giữa lao động trí óc và chân tay, tríthức có mặt trong mọi xã hội và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự pháttriển của xã hội Tuy nhiên ở xã hội nào cũng vậy, trí thức đều không có quan

hệ riêng và trực tiếp về sở hữu tư liệu sản xuất Trí thức không phải là một

giai cấp mà chỉ là một tầng lớp xã hội được thu nạp từ nhiều giai cấp, tầng lớp

Trang 18

xã hội khác nhau; cho nên trí thức không đại biểu cho một phương thức sảnxuất độc lập nào Trong xã hội có giai cấp, trí thức luôn của giai cấp thống trị

đã đào tạo ra họ Vì vậy, V.I.Lênin đã khẳng định: “Nếu không nhập cục vớimột giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi” [16, tr.552]

Thứ hai, trí thức là người có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn sâu

Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của trí thức tuỳ thuộc vào điềukiện kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn phát triểnnhất định của lịch sử Trình độ học vấn và chuyên môn của trí thức được thểhiện ở trình độ khoa học cơ bản và khoa học chuyên ngành; được hình thànhqua đào tạo, bồi dưỡng và không ngừng phát triển bằng con đường tự đào tạo,lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân Ở nước ta, trình độ học vấncủa trí thức thường được quan niệm từ bậc cao đẳng trở lên Phần lớn trí thứcđược đào tạo từ các trường cao đẳng, đại học và được nhận các bằng cấp khácnhau Tuy nhiên bằng cấp cũng chỉ là một trong những tiêu chí để phân biệttrí thức với các lực lượng khác trong xã hội; bởi trên thực tế, nhiều ngườikhông qua đào tạo cơ bản, không có bằng cấp, nhưng bằng con đường tự học,

tự nghiên cứu và tích cực lao động sáng tạo, nên họ đã trở thành trí thức và bổsung vào ĐNTT

Thứ ba, trí thức là người lao động trí óc, sáng tạo

Lao động trí óc là đặc trưng lao động của trí thức, hoạt động lao độngchủ yếu của trí thức thể hiện trên một số lĩnh vực như: nghiên cứu ứng dụngKH&CN, sáng tác văn học - nghệ thuật, giảng dạy, tổng kết thực tiễn, pháttriển lý luận Do vậy, điều chủ yếu nhất để nói lên trí thức khác với bộ phậnlao động xã hội khác là ở kiểu lao động của họ, đó là lao động trí óc, lao độngsáng tạo Lao động sáng tạo của trí thức là đi tìm bản chất và phát hiện quyluật của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan; đem lại những tri thứckhoa học mới, tiến bộ, hữu ích, phổ biến và ứng dụng những tri thức đó vàothực tiễn để nâng cao chất lượng mọi mặt của đời sống xã hội, dự báo tươnglai và đưa ra phương hướng, biện pháp nhằm phát triển xã hội

Trang 19

Sản phẩm lao động sáng tạo của trí thức cũng rất đa dạng phong phú và

có giá trị xã hội to lớn Những sản phẩm lao động sáng tạo chủ yếu là nhữnggiá trị tinh thần, là sự phản ánh sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng và làmột nấc thang mới của nhận thức khoa học, chứ không dừng lại ở những trithức kinh nghiệm [30, tr.11-13]

Trí thức chân chính là người học thực, để có thực lực và thực tài; cónăng lực tự đào tạo một cách chủ động, sáng tạo, có phương pháp và bản lĩnhcủa một nhân cách khoa học, với sự kết hợp hài hoà giữa lý tưởng nghềnghiệp chuyên môn với lý tưởng chính trị, thể hiện qua thái độ lao động,trong tư duy khoa học, trong đạo đức và lối sống Trí thức còn là những người

có nhu cầu cao về đời sống tinh thần và luôn hướng tới các giá trị chân, thiện,mỹ; có lòng tự trọng, khát vọng tự do, dân chủ và công bằng Đặc biệt:

“Những trí thức chân chính bao giờ cũng nặng lòng yêu nước, thương dân,dám dũ bỏ tị hiềm, mặc cảm để làm tròn trách nhiệm của mình với dân, vớinước” [31, tr.237]

* Đặc điểm của đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ đặc điểm, tình hình của tỉnh Bắc Ninh, từ nghiên cứu khái quátchung về trí thức, tác giả đưa ra quan niệm về đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước như sau: Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

là một bộ phận của trí thức nước nhà, bao gồm những người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên đang hoạt động, lao động trí óc sáng tạo trong các ngành, các lĩnh vực, các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Bắc Ninh dưới sự lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền của tỉnh Bắc Ninh; là lực lượng quan trọng trong đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tỉnh và góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

Trang 20

Trước hết, ĐNTT tỉnh Bắc Ninh là một bộ phận của trí thức nước

nhà, nên họ cũng mang những đặc điểm chung của trí thức nước nhà Họchịu sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước; hay nói cách khác, họ là đốitượng được hưởng và chịu sự tác động của những cơ chế, chính sách, phápluật về quản lý, xây dựng, trọng dụng và đãi ngộ trí thức của Đảng, Nhànước Ngược lại, họ cũng có bổn phận, trách nhiệm đối với sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, có trách nhiệm đối với sự phồn thịnh của dân tộc

Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh bao gồm những người có trình độhọc vấn từ cao đẳng trở lên, đang hoạt động, lao động trí óc sáng tạo trongcác ngành, các lĩnh vực, các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Bắc Ninh dưới sựlãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền Tỉnh Họ là lực lượnggiữ vai trò quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh CNH,HĐH của Tỉnh vàgóp phần to lớn vào sự nghiệp CNH,HĐH đất nước

Cấu trúc của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh gồm số lượng trí thức, chấtlượng trí thức (gồm chất lượng từng trí thức và cả đội ngũ) và cơ cấu tríthức về trình độ, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động… Sứcmạnh của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh chỉ có được, vai trò của ĐNTT tỉnh BắcNinh chỉ được phát huy khi có sự kết hợp hài hòa, hợp lý của các yếu tốcấu thành ĐNTT Tỉnh Vì vậy, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh cần quantâm xây dựng đồng bộ, toàn diện cả số lượng, chất lượng và cơ cấu

Đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh là một bộ phận của trí thức nướcnhà, song họ lại đang hoạt động, lao động trong các ngành, các lĩnh vực,các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, họ chịu sự lãnh đạo, quản

lý trực tiếp của các cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Bắc Ninh, chịu sự tácđộng, chi phối bởi những điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa cũng nhưđiều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Tỉnh, nên họ mang những đặc điểmriêng

Trang 21

Thứ nhất, đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh chủ yếu được củng cố,

hình thành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đang phát triểnmạnh cả về số và chất lượng

Năm 1997, tỉnh Bắc Ninh được tách ra và tái thành lập từ tỉnh Hà Bắc

cũ, nên khác với nhiều tỉnh khác trong cả nước, ĐNTT tỉnh Bắc Ninh chủ yếuđược củng cố, xây dựng và phát triển cùng quá trình CNH,HĐH của Tỉnh.Tuy nhiên hiện nay, Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ CNH,HĐHnhanh nhất Miền Bắc, cho nên đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển củaĐNTT Tỉnh Bên cạnh đó, các cấp ủy đảng, chính quyền Tỉnh luôn quan tâmlãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác xây dựng ĐNTT Vì vậy, tuy chủ yếuđược củng cố, xây dựng và phát triển cùng quá trình CNH,HĐH của Tỉnh,song hiện nay ĐNTT tỉnh Bắc Ninh đang phát triển mạnh mẽ, mà trước hết về

số lượng Đơn cử như sự gia tăng tỷ lệ giáo viên các trường trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học so với số dân của Bắc Ninh đã cho thấy rõ điều đó.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ giáo viên các trường trung họcchuyên nghiệp, cao đẳng, đại học so với số dân của một số tỉnh đồng bằngBắc Bộ, trong 3 năm (2005-2007) là: Bắc Ninh 0,41‰, 0,54‰, 0,72‰, Hưngyên 0,64‰, 0.64‰, 0,7‰, Hải Dương 0,35‰, 0,41‰, 0,64‰, Thái Bình0,32‰, 0,36‰, 0,4‰ và Bắc Giang 0,24‰, 0,37‰, 0,38‰ [44] Như vậy,nếu tính riêng số giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đạihọc so với số dân đến năm 2007, Bắc Ninh là tỉnh có tỷ lệ cao nhất và tốc độgia tăng nhanh nhất Về trình độ của ĐNTT Bắc Ninh cũng không ngừngđược nâng lên; xét về trình độ học vấn, năm 2002 toàn Tỉnh chỉ có 35 tiến sĩ,

228 thạc sĩ, đến năm 2008 đã có 68 tiến sĩ và 716 thạc sĩ [43] Về trình độ lýluận chính trị của trí thức tỉnh Bắc Ninh cũng khá cao, theo số liệu điều tra,khảo sát: hiện nay tỉnh Bắc Ninh có 10,92% trí thức có trình độ cao cấp, có50,42% trí thức có trình độ trung cấp [41]

Thứ hai, đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh đa dạng về cơ cấu

Trang 22

Cơ cấu độ tuổi, giới tính: Hiện nay ĐNTT tỉnh Bắc Ninh có đủ các độtuổi khác nhau, từ thanh niên, trung niên đến trí thức cao tuổi và đang có xuhướng trẻ hoá Thực tế cho thấy, đa số trí thức Bắc Ninh đang ở độ tuổi từ 26đến 45, chiếm 75,63% [41] Đây là độ tuổi đang sung sức, năng động, cónhiều ước mơ, say mê sáng tạo và trí thức thuộc độ tuổi này đang giữ vai trònòng cốt của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh hiện nay Về cơ cấu giới tính: hiện nay ởBắc Ninh trí thức nam giới đang chiếm đa số

Về thành phần dân tộc và xuất thân của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh: BắcNinh là tỉnh có dân cư thuần nhất, nên khác với nhiều tỉnh khác cùng trongvùng đồng bằng Bắc Bộ, trí thức Bắc Ninh đều là người Kinh, do đó mà họcùng chung đặc điểm tâm lý, tính cách và trình độ nhận thức tương đối cao,đồng đều Về thành phần xuất thân, ĐNTT Bắc Ninh xuất thân từ hầu hết cáctầng lớp dân cư trong xã hội, trong đó chủ yếu là từ gia đình nông dân vàcông nhân Theo kết quả điều tra, khảo sát, có tới 43,7% trí thức xuất thân từgia đình nông dân, có 22,96% trí thức xuất thân từ gia đình công nhân, có26,89% trí thức xuất thân từ gia đình trí thức, chỉ có 6,72% trí thức xuất thân

từ các gia đình khác [41] Đây là một điều kiện thuận lợi để thực hiện liênminh công nhân - nông dân - trí thức, cũng như thực hiện đoàn kết rộng rãicác tầng lớp dân cư trong quá trình CNH,HĐH, phát triển KT - XH của Tỉnh

Trí thức Bắc ninh hiện nay khá đa dạng về ngành nghề chuyên môn vàlĩnh vực hoạt động Họ đảm nhiệm các công việc như, nghiên cứu khoa học,sáng tác văn hoá nghệ thuật và làm công tác xuất bản, báo chí, chăm sóc sứckhỏe cộng đồng… Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ĐNTT Bắc Ninh cómặt hầu hết trong các lĩnh vực khoa học, cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹthuật, khoa học xã hội và nhân văn; cả nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, cả côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, giáo dục - đào tạo,

y tế và hện nay một lực lượng trí thức khá đông trong các loại hình hoạt độngsản xuất kinh doanh cá thể Rõ ràng cơ cấu trí thức Bắc Ninh hết sức đa dạng,

Trang 23

đây là một lợi thế để Bắc Ninh phát huy vai trò của trí thức, thực hiện đẩymạnh CNH,HĐH và phát triển toàn diện các mặt, các lĩnh vực của Tỉnh.

Thứ ba, đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh mang đậm cốt cách văn hoá

truyền thống của vùng Kinh Bắc

Bắc Ninh là tỉnh thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, là một trongnhững cái nôi văn hoá không chỉ của đồng bằng Bắc Bộ mà của cả nước; làquê hương của làn điệu dân ca quan họ nổi tiếng đã được Tổ chức Giáo dục,Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hoáphi vật thể thế giới Người Bắc Ninh anh dũng, kiên cường, nhưng cũng rấtcần cù, thông minh, sáng tạo, giàu lòng nhân ái, độ lượng và có tinh thần lạcquan, yêu đời, hiếu học, luôn tự hào về truyền thống văn hoá của mình… Độingũ trí thức tỉnh Bắc Ninh, dù sinh ra lớn lên và trưởng thành từ quê hươngKinh Bắc, hay được thu hút từ địa phương khác về, đều ít nhiều được thừahưởng các giá trị văn hoá truyền thống của vùng Kinh bắc ngàn năm văn hiến

và mang trong mình những nét tâm lý, cốt cách văn hoá của người Kinh Bắc.Chính đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức phát huy tinh thầnđoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong công tác và trong cuộcsống Đặc biệt, truyền thống hiếu học là điều kiện thuận lợi để khuyến khích,

cổ vũ trí thức Bắc Ninh trong học tập, tự học, nâng cao trình độ mọi mặt vàtrong sáng tạo khoa học, nhất là trong bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trịvăn hoá truyền thống, cũng như sáng tạo các giá trị văn hoá mới Bên cạnh

đó, tinh thần lạc quan, yêu đời cũng là những phẩm chất không thể thiếu củanhững nhà khoa học, những văn nghệ sĩ; thừa hưởng phẩm chất này giúp chotrí thức Bắc Ninh không chùn bước trước những khó khăn, thách thức, pháthuy tinh thần sáng tạo, tạo ra những sản phẩm khoa học, những sản phẩm vănhóa, nghệ thuật mang giá trị xã hội cao

* Yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đặt ra đối với đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

Trang 24

Từ nghiên cứu điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa, cũng như sựnghiệp CNH,HĐH ở Bắc Ninh; từ nghiên cứu về trí thức nói chung và đặcđiểm của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh, cho thấy: đẩy mạnh CNH,HĐH đặt ra yêucầu rất cao đối với ĐNTT Tỉnh Yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH đặt ra đối vớiĐNTT Tỉnh thể hiện trên một số vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bắc Ninh,

đòi hỏi phải có đông đảo trí thức với đa dạng các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Bắc Ninh là một quá trình khó khăn,lâu dài, phức tạp; thực hiện bước chuyển căn bản từ sử dụng lao động thủ công

là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của côngnghiệp và tiến bộ của KH&CN, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao Côngnghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, màtrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả văn hóa, y tế và giáo dục - đàotạo Chính vì vậy, CNH,HĐH yêu cầu ĐNTT Tỉnh phải đông đảo về sốlượng, đa dạng về cơ cấu ngành nghề và lĩnh vực hoạt động, làm chủ đượctiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, ứng dụng có hiệu quả vàocác lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và mọi mặt của đời sống xã hội

Thứ hai, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bắc Ninh, đặt

ra yêu cầu cao về trình độ, chuyên môn, nghề nghiệp của đội ngũ trí thức Tỉnh

Trước yêu cầu phát triển của khoa học, tiếp nhận chuyển giao và ứngdụng công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống, đòi hỏi ĐNTT tỉnh BắcNinh phải có trình độ tri thức cao, thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp, cónăng lực tiếp thu và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của KH&CN hiệnđại, những tinh hoa văn hóa, văn minh thế giới và những di sản văn hóa dântộc vào thực tiễn Bắc Ninh Điều đặc biệt quan trọng là CNH,HĐH đòi hỏiphải có đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong từng lĩnh vực KT - XH, tạo ra lựclượng xung kích trong việc chuyển giao công nghệ, tiếp nhận chuyển giao

Trang 25

công nghệ tiên tiến, thực hiện ứng dụng có hiệu quả vào các lĩnh vực sảnxuất, kinh doanh và đời sống; đồng thời thực hiện dẫn dắt, hướng đạo bộ phận

có trình độ thấp hơn vươn lên bắt kịp dòng chảy chung của thời đại Trong xuthế toàn cầu hóa hiện nay, đòi hỏi ĐNTT Bắc Ninh, ngoài trình độ chuyênmôn, phải có kiến thức về ngoại ngữ và tin học để giao tiếp, xử lý thông tinkịp thời, nhạy bén, thích nghi nhanh và thực sự làm chủ tiến bộ khoa học, kỹthuật và công nghệ hiện đại

Thứ ba, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi đội ngũ trí thức

tỉnh Bắc Ninh phải có các phẩm chất cần thiết đáp ứng yêu cầu của lao độngcông nghiệp và của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Lao động công nghiệp đòi hỏi ĐNTT phải có tác phong công nghiệp,làm việc một cách khoa học, sáng tạo, khẩn trương, nghiêm túc có ý thức kỷluật và có tinh thần hợp tác cao, nhất là trong sáng tạo khoa học Trong điềukiện hiện nay, mỗi người dù tài giỏi, nhưng cũng rất khó có thể thành côngnếu ý thức tổ chức kỷ luật kém, nếu thiếu sự hợp tác, thiếu sự giúp đỡ, hỗ trợcủa tập thể

Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH,HĐH, một trong những vấn

đề quan trọng là phải phát triển kinh tế thị trường, định hướng XHCN Tuynhiên mặt trái của nền kinh tế thị trường đã và đang tác động không nhỏ đếnmỗi người dân nói chung và mỗi trí thức nói riêng Vì vậy, đòi hỏi ĐNTTTỉnh trước hết phải có lương tâm nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm caovới công việc, với sản phẩm mình làm ra và trách nhiệm cao đối với sự pháttriển, sự giàu mạnh của Tỉnh và đất nước Kinh tế thị trường đặt ra với mỗi tríthức nói chung, trí thức Bắc Ninh nói riêng phải có ý chí, nghị lực để vượtqua những tính toán vị kỷ, hẹp hòi; vững vàng trước những cám dỗ đờithường, trước sự mua chuộc, lôi kéo của các thế lực thù địch, sẵn sàng hy sinhlợi ích cá nhân vì nghĩa lớn, vì lợi ích của Đảng, của nhân dân và dân tộc

Trang 26

Thứ tư, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi đội ngũ trí

thức tỉnh Bắc Ninh phải có kiến thức và phương thức giải quyết hài hòa mốiquan hệ giữa con người với thiên nhiên

Con người là một bộ phận của thiên nhiên, gắn bó hữu cơ với thiênnhiên, nhưng trong quá trình tồn tại và phát triển, con người hoặc vô thức hoặc

có ý thức đã hủy hoại nghiêm trọng môi trường sống của mình Đặc biệt quátrình CNH,HĐH, việc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên, khoáng sản; việcứng dụng các trang thiết bị, công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống, màtrước đây vấn đề giảm thiểu chất thải chưa được tính toán và xử lý kỹ lưỡng đãgóp phần tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng môi trường thiên nhiên Cũng nhưcác địa phương khác trong cả nước, vấn đề ô nhiễm môi trường ở Bắc Ninhđang là vấn đề bức xúc và nan giải Hiện nay, một số lượng lớn chất thải củacác nhà máy, công ty, xí nghiệp, các bệnh viện và các làng nghề, cùng với việc

sử dụng thiếu kiểm soát các loại thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đãdẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước, không khí ảnh hưởng nghiêm trọngđến sức khỏe và cuộc sống của con người Vì vậy, mỗi người dân, mà trước hết

là ĐNTT Tỉnh cần phải có kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường; phảiphát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo, đề xuất những phươnghướng, giải pháp kỹ thuật xử lý có hiệu quả vấn đề rác thải công nghiệp, ngănchặn tình trạng tàn phá môi trường của các cơ sở sản xuất và của người dân…

Thứ năm, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, đòi hỏi

đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh phải có lòng yêu nước thiết tha và tinh thần tựcường dân tộc

Mục tiêu của CNH,HĐH là đưa Bắc Ninh và đất nước trở nên vănminh, giàu mạnh Chính vì vậy, đòi hỏi mỗi trí thức phải thấm nhuần truyềnthống yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc; phải trăn trở trước những khókhăn, trước sự kém phát triển của quê hương và đất nước; phải có thái độ dámnghĩ, dám làm; phải có tinh thần sáng tạo, táo bạo trong tư duy, hăng say laođộng, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, xung kích vào mặt trận KH&CN,

Trang 27

quyết chí đưa quê hương, đất nước vươn lên sánh vai với các cường quốctrong khu vực và thế giới.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời gắn với quá trình hội nhậpquốc tế, cùng với việc tiếp nhận những giá trị văn hóa, văn minh nhân loại,chúng ta cũng phải chịu những tác động xấu bởi sự du nhập của những tưtưởng tư sản và văn hóa, lối sống kiểu phương Tây, trái với thuần phong, mỹtục của dân tộc Bên cạnh đó, các thế lực thù địch luôn lợi dụng hội nhập đểthực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhằm phá hoại công cuộc xâydựng CNXH của nước ta, lái nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Vìvậy, đòi hỏi ĐNTT nói chung, ĐNTT Bắc Ninh nói riêng, phải có lòng yêunước thiết tha, tinh thần tự cường dân tộc, có ý thức bảo vệ và phát triển nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phải tích cực đấu tranh trên lĩnhvực tư tưởng lý luận, vạch trần các quan điểm sai trái, phản động; phải nêucao tinh thần cảnh giác cách mạng, thận trọng trong hợp tác, làm ăn với cácđối tác nước ngoài, không những không làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dântộc, mà còn góp phần đem lại sự phồn vinh cho quê hương, đất nước

1.1.2 Quan niệm và vai trò của việc xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

* Quan niệm về xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ nghiên cứu sự nghiệp CNH,HĐH ở Bắc Ninh và yêu cầu đẩymạnh CNH,HĐH đặt ra phải tiếp tục quan tâm xây dựng ĐNTT Tỉnh vữngmạnh, tác giả đưa ra quan niệm về xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩymạnh CNH,HĐH đất nước như sau:

Xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hoạt động có mục đích, có tổ chức của các cấp

uỷ đảng, chính quyền, cơ quan chức năng và chính đội ngũ trí thức; thông qua các chủ trương, biện pháp, cách thức, làm cho đội ngũ trí thức phát triển

Trang 28

nhanh về số lượng, có chất lượng ngày càng cao và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Từ quan niệm trên chỉ ra mục đích, nội dung, hình thức, biện phápcũng như chủ thể xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh

Mục đích của việc xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh là bồi dưỡng, rèn luyện, phát triển lựclượng trí thức sẵn có và đào tạo, thu hút thêm trí thức mới; là quá trình baogồm các hoạt động quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện tríthức, cũng như đánh giá, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách đãi ngộ…đối với trí thức, nhằm hình thành ĐNTT Tỉnh có số lượng ngày càng tăng, cóchất lượng cao và cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH củaTỉnh và đất nước Nói cách khác, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh là quá trìnhtạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo những nhân tài phục vụ sự nghiệpCNH,HĐH của tỉnh Bắc Ninh và của đất nước

Nội dung xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

Một là, xây dựng về số lượng

Xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh về số lượng là làm cho ĐNTT Tỉnhngày càng tăng lên cùng với tiến trình đẩy mạnh CNH,HĐH Số lượng là cốtvật chất tạo nên chất lượng, để ĐNTT tỉnh Bắc Ninh có chất lượng cao trướchết phải có số lượng trí thức đông đảo Đội ngũ trí thức ít về số lượng sẽkhông thể bao quát hết các lĩnh vực; đồng thời áp lực công việc lớn sẽ hạnchế năng lực sáng tạo của họ; vì thế, sẽ không thể có được ĐNTT có chấtlượng cao và hoạt động hiệu quả nếu thiếu trí thức Tạo ra ĐNTT đông đảo về

số lượng, bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các lĩnh vực khoa học, văn hóa nghệthuật, các cơ quan Đảng, chính quyền, hành chính sự nghiệp và các cơ sở kinhtế; trong đó cần đặc biệt quan tâm phát triển nhanh trí thức thuộc các ngành,các lĩnh khoa học phục vụ trực tiếp sự nghiệp CNH,HĐH của Tỉnh

Hai là, xây dựng về chất lượng

Trang 29

Đẩy mạnh CNH,HĐH đòi hỏi phải phát triển nhanh và ứng dụng hiệuquả thành tựu của KH&CN vào sản xuất, cũng như vào các lĩnh vực của đờisống xã hội Sự nghiệp CNH,HĐH đòi hỏi phải nâng cao dân trí, tạo nguồnnhân lực chất lượng cao, tạo những nhân tài cho sự nghiệp CNH,HĐH; đồngthời cũng đòi hỏi phải phát triển toàn diện các lĩnh vực y tế, văn hóa và bảo vệmôi trường sinh thái… Không ai khác, chính ĐNTT là những người giữ vai trònòng cốt trong sáng tạo và phát triển KH&CN, cũng như ứng dụng các thànhtựu KH&CN vào sản xuất, kinh doanh và đời sống; là những người trực tiếpgiảng dạy, truyền bá, phổ biến tri thức khoa học đến các tầng lớp nhân dân Độingũ trí thức cũng chính là lực lượng chủ yếu sáng tạo ra các tác phẩm nghệthuật, các sản phẩm văn hóa góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhândân Thông qua vai trò tư vấn, phản biện xã hội tích cực, trí thức còn giúp chocác cấp ủy đảng, chính quyền Tỉnh có căn cứ, cơ sở khoa học để hoạch địnhcác chủ trương, chính sách xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội củaTỉnh Do đó, xây dựng về chất lượng là nội dung quan trọng hàng đầu trongxây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.

Xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh về chất lượng là xây dựng các phẩm chấtchính trị, đạo đức, lối sống, trình độ và năng lực công tác, mà trước hết cần tậptrung nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, năng lực sáng tạo của tríthức, bởi: “Chỉ có con người làm chủ được tiến bộ công nghệ và tri thức khoa họcmới làm chủ được quá trình phát triển” [5, tr.51] Đồng thời, cần rèn luyện giúp tríthức nâng cao khả năng thích ứng với cơ chế thị trường, với hội nhập quốc tế

Mặt khác: “Chỉ có phát huy mặt đức của nhân tài, thì tài năng của họmới được chuyển hoá thành các giá trị xã hội” [15, tr.57], cho nên cùng vớiviệc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, phải quan tâm nângcao bản lĩnh chính trị, xây dựng trách nhiệm công dân, tinh thần dân tộc; tạo

sự gắn bó thiết tha của trí thức với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với chế độXHCN; xây dựng tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên, tinh thần trách nhiệmtrong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời phải quan tâm xây dựng đạođức, lối sống; tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp của trí thức

Trang 30

Nói cách khác, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh về chất lượng là bồi dưỡng,phát triển toàn diện cả đức và tài của ĐNTT đáp ứng với đòi hỏi ngày càngcao của sự nghiệp CNH,HĐH của Tỉnh và đất nước

Ba là, xây dựng về cơ cấu

Xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh về cơ cấu, thực chất là hình thành vàphát triển cơ cấu ĐNTT cân đối, hợp lý nhằm phát huy vai trò của ĐNTT;khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của Tỉnh, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệpCNH,HĐH và phát triển KT - XH nhanh, bền vững Để xây dựng cơ cấuĐNTT tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH phải xây dựng toàn diện,đồng bộ, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Xây dựng cơ cấu cơ cấu trí thức theo ngành nghề chuyên môn, lĩnh vực hoạt động và theo các tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác Xây dựng cơ cấu

ĐNTT tỉnh Bắc Ninh theo chuyên môn, nghiệp vụ và lĩnh vực hoạt động, cầnquan tâm đào tạo và thu hút trí thức về công tác tại Tỉnh với sự đa dạng vềngành nghề chuyên môn và lĩnh vực hoạt động; trong đó cần ưu tiên thu hútnhững trí thức thuộc các ngành, các lĩnh vực khoa học, trực tiếp đáp ứng yêucầu đẩy mạnh CNH,HĐH của Tỉnh Bên cạnh đó cần bảo đảm sự hợp lý của tríthức giữa các cơ quan, các đơn vị hành chính, sự nghiệp; bảo đảm sự cân đốicủa trí thức giữa các tổ chức, hiệp hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các địaphương trong Tỉnh khắc phục sự mất cân đối của ĐNTT Bắc Ninh hiện nay

Cơ cấu về trình độ, thực chất là xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh không

chỉ có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao mà còn đa dạng

về trình độ (cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ) Phát triển nhanh số lượng tríthức có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trịcao, phẩm chất đạo đức và lối sống tốt, đáp ứng yêu cầu từng vị trí công tác,từng lĩnh vực hoạt động; coi trọng phát triển trí thức có học hàm, học vị cao,nhằm từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, trên các lĩnh vực

Cơ cấu về độ tuổi, giới tính, đối với cơ cấu về tuổi đời, tuổi nghề cần

thu hút, sắp xếp, bố trí kết hợp hài hoà giữa trí thức có tuổi đời, tuổi nghề cao;giữa trí thức dày dạn kinh nghiệm, có độ chín về tri thức khoa học và năng

Trang 31

lực sáng tạo với trí thức mới ra trường, còn ít kinh nghiệm; gắn với thực hiệntrẻ hoá ĐNTT Tỉnh Về giới tính, cần hình thành ĐNTT tỉnh Bắc Ninh ở tất

cả các loại hình hoạt động, các lĩnh vực khoa học, văn hóa nghệ thuật và sảnxuất kinh doanh… bảo đảm sự phù hợp theo khả năng, sở trường và đặc điểmtâm lý giới tính; cần ưu tiên phát triển đội ngũ nữ trí thức

Hình thức, biện pháp xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

Xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh nhằm hình thành ĐNTT Tỉnh có sốlượng ngày càng tăng, có chất lượng cao và có cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầuđẩy mạnh CNH,HĐH của Tỉnh và đất nước Xây dựng ĐNTT Tỉnh Bắc Ninh,đòi hỏi phải thực hiện nhiều khâu, nhiều bước, nhiều quy trình khác nhau, chonên phải sử dụng tổng hợp nhiều hình thức biện pháp, như thực hiện đa dạnghóa các hình thức đào tạo, thu hút trí thức; thực hiện xây dựng ĐNTT Tỉnhthông qua công tác quy hoạch, quản lý, tuyển dụng, bố trí sử dụng trí thức;thông qua các đợt sinh hoạt chính trị, học tập các văn kiện nghị quyết củaĐảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước và của Đảng bộ, chính quyềnTỉnh và thông qua phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong xâydựng ĐNTT Tỉnh cũng như thông qua việc phát huy tính tự giác, sự nỗ lựcphấn đấu vươn lên của chính trí thức Tỉnh…

Chủ thể xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

Xây dựng ĐNTT Việt Nam nói chung và ĐNTT tỉnh Bắc Ninh nóiriêng là một việc làm hết sức lâu dài, phức tạp và là quá trình bao gồm nhiềukhâu, nhiều bước, nhiều giai đoạn khác nhau… Vì thế, phải phát huy vai tròcủa nhiều chủ thể khác nhau, trong đó chủ thể cơ bản và giữ vai trò quyết địnhtrực tiếp là hệ thống tổ chức đảng, chính quyền Tỉnh và chính bản thân ĐNTTTỉnh

Hệ thống các tổ chức đảng, chính quyền các cấp tỉnh Bắc Ninh là chủthể đề ra, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chínhsách xây dựng, phát huy vai trò của ĐNTT, cũng như thực hiện tôn vinh vàđãi ngộ đối với trí thức… Vì vậy, hệ thống tổ chức đảng, chính quyền các cấp

Trang 32

tỉnh Bắc Ninh không chỉ là chủ thể định hướng chính trị, tư tưởng, mà còntrực tiếp xây dựng ĐNTT Tỉnh

Cho dù tổ chức đảng, chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng, cóquan tâm đến đâu và cố gắng đến đâu; chủ trương chính sách dù có đúng đúng;nhưng bản thân ĐNTT không ý thức được vị trí, vai trò của mình; không xácđịnh được trách nhiệm lớn lao của mình với sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH củaTỉnh và đất nước; không tự học tập trau dồi tri thức, không tự giác rèn luyệnnăng lực sáng tạo và phẩm chất đạo đức, lối sống; thì bản thân ĐNTT sẽkhông thể trưởng thành, không thể đáp ứng được yêu cầu cao của sự nghiệpCNH,HĐH của Tỉnh và đất nước Chính vì vậy, một trong những vấn đề cực

kỳ quan trọng là phải phát huy vai trò tự chủ, tự giác của ĐNTT Tỉnh với tưcách là chủ thể tự xây dựng chính mình

* Vai trò của việc xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trí thức luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong cách mạng XHCN,Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn cầnnhững bác sĩ, kỹ sư, nhà hoá học, nông học và các chuyên gia khác, vì vấn đề

là phải nắm lấy việc quản lý không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn cả toàn

bộ nền sản xuất xã hội nữa, và ở đây cần đến những kiến thức vững chắc chứkhông phải là những câu nói xuông xáo” [22, tr.613-614] Ở Việt Nam, nhậnthức rõ vai trò quan trọng của trí thức đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc vàxây dựng xã hội mới, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báucủa dân tộc Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế” [25, tr.156] Nhấtquán quan điểm đó, Đảng ta khẳng định: “Trí thức Việt Nam là lực lượng laođộng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh CNH,HĐH đấtnước và hội nhập quốc tế… Xây dựng ĐNTT vững mạnh là trực tiếp nâng tầmtrí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước” [11, tr.90-91] Vì vậy, xây dựngĐNTT tỉnh Bắc Ninh có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ là vấn đề chiếnlược lâu dài mà còn là vấn đề trực tiếp trước mắt, thực hiện mục tiêu xây dựng

Trang 33

Bắc Ninh thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 Vai trò đó được thể hiện trênmột số vấn đề cơ bản sau:

Một là, xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh, góp phần tạo nguồn

nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa của Tỉnh và đất nước

Ngày nay, “Đất nước mạnh hay yếu, dư lực phát triển kinh tế lớn haynhỏ, ngày càng được quyết định bởi tố chất người lao động, bởi số lượng vàchất lượng trí thức” [15, tr.143] Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất hiện đại, xây dựng cơ sở vậtchất - kỹ thuật cho CNXH, nó đòi hỏi phải lấy việc phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao làm trung tâm, là động lực chủ yếu và chỉ có nguồn nhân lựcchất lượng cao, chúng ta mới có thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐHđất nước Xây dựng ĐNTT chính là tạo ra những con người có năng lực pháttriển toàn diện, có tri thức, có sức khỏe, làm chủ tiến bộ khoa học, kỹ thuật vàcông nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng các nguồn lực tựnhiên, nguồn lực vật chất khác cho sự phát triển KT - XH Xây dựng ĐNTTtỉnh Bắc Ninh là tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia trên các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục - đào tạo… Đồng thời, thông qua ĐNTTtỉnh Bắc Ninh, góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệpCNH,HĐH của Tỉnh Vì vậy, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh chính là gópphần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐHcủa Tỉnh và đất nước

Hai là, xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh góp phần phát triển

tiềm lực khoa học, công nghệ; bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá, nâng caođời sống tinh thần của nhân dân Tỉnh

Trước hết “Thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóaphụ thuộc rất nhiều vào năng lực nội sinh và những điều kiện hoạt động khoa

Trang 34

học, công nghệ của đội ngũ trí thức” [5, tr.17] Trí thức là người có trình độhọc vấn cao, trình độ chuyên môn sâu, là những người hiểu biết sâu rộngnhiều ngành khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.Đặc biệt ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, chínhtrí thức là những người giữ trọng trách nghiên cứu, phát minh, sáng chế vàphát triển các lý thuyết khoa học, tiến bộ kỹ thuật, thực hiện chuyển giao vàtiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại, ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh

và đời sống, tạo sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, góp phầnchuyển đổi cơ cấu kinh tế, thay đổi phương thức lao động, đưa năng xuất laođộng không ngừng nâng cao Vì vậy, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh gópphần phát triển tiềm lực KH&CN thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐHcủa Tỉnh Mặt khác, cùng với các nhà khoa học là các văn nghệ sĩ, các nhànghiên cứu, phê bình văn học, nghệ thuật… họ là lực lượng có vai trò đặc biệtquan trọng trong giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống và sáng tạo

ra các giá trị văn hoá mới góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.Thực tế những năm qua, ĐNTT Bắc Ninh trên lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật,thông các cơ quan chức năng, cùng với các nghệ nhân quan họ đã hoàn chỉnh

hồ sơ, đề nghị UNESCO công nhận dân ca quan họ là di sản văn hoá phi vậtthể thế giới; đồng thời tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, nghệ thuật khác có ýnghĩa, góp phần tạo sự phong phú về đời sống văn hóa tinh thần của nhândân Vì vậy, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh góp phần phát triển tiềm lựcKH&CN, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH của Tỉnh, đất nước và bảotồn các giá trị văn hoá truyền thống, cũng như sáng tạo ra các giá trị văn hoámới góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân

Ba là, xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh góp phần nâng cao chất

lượng hoạch định các chủ chương, chính sách của Đảng bộ, chính quyền Tỉnh và

Trang 35

hiệu quả tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và của địaphương đến các tầng lớp nhân dân

V.I Lênin từng nhấn mạnh: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia

am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nàochuyển lên chủ nghĩa xã hội được” [18, tr.217] Thực tế cho thấy, trí thức làngười có thể nắm bắt được bản chất của sự vật, hiện tượng; nắm bắt được quyluật vận động, phát triển của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, từ

đó họ có thể đưa ra các dự báo khoa học trên từng lĩnh vực Vì vậy, thông quanghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và thông qua vai trò tư vấn,phản biện xã hội mà trí thức giúp Đảng bộ, chính quyền Tỉnh có những căn

cứ, cơ sở khoa học để xây dựng, hoạch định các chủ trương, chính sách, xâydựng các quy chế, quy định của Tỉnh trong công tác quản lý, điều hành xã hội,phát triển kinh tế, văn hoá… bảo đảm cho các chủ trương, chính sách mangtính khoa học, khả thi Mặt khác đường lối, chính sách của Đảng; các chủtrương, các quyết sách của Đảng bộ, chính quyền Tỉnh chỉ trở thành hiện thựctrên thực tế khi nó được thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân, biến thành nhậnthức, thành niềm tin và quyết tâm hành động của họ Không ai khác chính tríthức là lực lượng chủ yếu, giữ vai trò nòng cốt trong công tác tuyên truyền,giáo dục, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, các chủ trương,nghị quyết của Đảng bộ, chính quyền Tỉnh và những thành tựu, tiến bộ khoahọc kỹ thuật đến các tầng lớp nhân dân Tỉnh Trong những năm qua, ĐNTTBắc Ninh cũng đã thực hiện rất tốt nhiệm vụ này Theo “Báo cáo công tác quản

lý khoa học năm 2009 và quý I năm 2010” của Sở KH&CN tỉnh Bắc Ninh chỉra: ĐNTT Tỉnh, thông qua các cơ quan của Sở đã “chọn lọc, hệ thống và biêntập được hơn 350 quy trình kỹ thuật sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, xuấtbản 5.000 cuốn lịch khoa học, công nghệ, hơn 6.000 Tạp chí thông tin khoahọc, công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống, triển khai đào tạo 4 lớp tin học

Trang 36

văn phòng cho cán bộ 55 xã, phường, thị trấn” [34] Vì vậy, xây dựng ĐNTTtỉnh Bắc Ninh góp phần nâng cao chất lượng hoạch định các chủ chương,chính sách của Đảng bộ, chính quyền Tỉnh và hiệu quả tuyên truyền đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chương trình, kế hoạchphát triển KT - XH của địa phương đến các tầng lớp nhân dân

Bốn là, xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh góp phần củng cố, tăng

cường khối liên minh công - nông - trí thức vững mạnh, tạo cơ sở xã hội, chính trịvững chắc góp phần xây dựng Đảng bộ và chính quyền các cấp của Tỉnh vữngmạnh

Sự thành bại của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH của tỉnh Bắc Ninh,phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng bộ, vai trò quản lý của chính quyền Tỉnh

và việc huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng khốiliên minh công nhân - nông dân - trí thức Xây dựng ĐNTT Tỉnh lớn mạnh,góp phần phát triển công tác giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh công tác tuyêntruyền, phổ biến kiến thức, nâng cao trình độ dân trí Thông qua vai trò của cácnhà khoa học, tạo ra những tiến bộ khoa học, kỹ thuật và các quy trình côngnghệ hiện đại, ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tạo sự pháttriển mạnh mẽ của các lĩnh vực này, nâng cao năng xuất lao động và thu nhậpcho công nhân và nông dân Mặt khác thông qua vai trò của các văn nghệ sỹtrong việc sáng tạo các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị không ngừngnâng cao đời sống tinh thần của nhân dân nói chung, của công nhân và nôngdân nói riêng Như vậy, xây dựng ĐNTT Tỉnh vững mạnh chính là tăng cườngmối liên hệ mật thiết, tăng cường khả năng liên minh trên thực tế giữa côngnhân - nông dân - trí thức, làm cơ sở, nòng cốt để xây dựng khối đại đoàn kếttrong Tỉnh Do đó, xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh góp phần tạo cơ sở xã hội -chính trị quan trọng để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức đảng,vai trò quản lý của chính quyền Tỉnh và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn

Trang 37

kết, thực hiện thành công sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH của Tỉnh và đấtnước

1.2 Thực trạng xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.1 Ưu điểm của việc xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân

* Những ưu điểm của việc xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

Một là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức xây dựng đội ngũ trí thức

của các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Bắc Ninh

Trong những năm qua, về cơ bản lãnh đạo, chính quyền tỉnh Bắc Ninhluôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của trí thức và tầm quan trọng củacông tác xây dựng ĐNTT Tỉnh, đề cao trách nhiệm trong xây dựng, hoạchđịnh các chủ trương, nghị quyết, chính sách về đào tạo, tuyển dụng, bố trí sắpxếp và đãi ngộ đối với trí thức Tỉnh bảo đảm sát đúng, phù hợp với điều kiệncủa địa phương và đặc điểm của ĐNTT Quán triệt sâu sắc đường lối, quanđiểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về xây dựng, phát huy vaitrò của ĐNTT; Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạocác cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, cácđơn vị sự nghiệp trong Tỉnh triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như của Đảng bộ, chínhquyền Tỉnh về xây dựng và trọng dụng và đãi ngộ ĐNTT Tỉnh Nhất là, vấn

đề đào tạo, bồi dưỡng trí thức luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền Tỉnhdành cho sự quan tâm đặc biệt, nên đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.Đảng bộ, chính quyền Tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức, cơ quan, banngành, đoàn thể sử dụng linh hoạt nhiều hình thức, biện pháp khá phù hợp,phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhiều tổ chức, nhiều lực lượng khácnhau trong tham gia xây dựng ĐNTT Tỉnh Quá trình tổ chức thực hiện xây

Trang 38

dựng ĐNTT, Đảng bộ, chính quyền Tỉnh thường xuyên tiến hành tổ chức sơ,tổng kết, kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách

về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, bố trí, sắp xếp và đãi ngộ đối với trí thứcTỉnh

Hai là, kết quả xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh

Trong những năm qua, đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh có sự phát triển nhanh về số lượng Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, nếu năm 2002

toàn Tỉnh chỉ có 14.826 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, thì đến năm

2008 đã có tới 27.149 người, tăng 81,12% Tính theo các cơ quan, đơn vịhành chính sự nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh… thì các cơ sở, sảnxuất kinh doanh là khối có số lượng trí thức gia tăng nhanh nhất Năm 2002,các cơ sở sản xuất kinh doanh trong toàn Tỉnh chỉ có 3.431 người có trình độ

từ cao đẳng trở lên (trong đó 15 người có trình độ sau đại học), thì đến năm

2008 có 10.803 người (trong đó có 152 người có trình độ sau đại học), tăngtới 214,86%, riêng số có trình độ sau đại học tăng hơn 10 lần [43] Như vậy

có thể nói trong những năm qua ĐNTT tỉnh Bắc Ninh có sự gia tăng mạnh về

số lượng, trong đó khối các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nơi trực tiếp sản xuấthàng hóa, trực tiếp ứng dụng thành tựu của KH&CN và tiến bộ kỹ thuật, sốlượng trí thức có tốc độ gia tăng lớn hơn

Cùng với sự tăng nhanh về số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh cũng không ngừng được nâng cao Trước hết, về trình độ học vấn

của ĐNTT tỉnh Bắc Ninh có sự phát triển mạnh mẽ Nếu như năm 2002 toànTỉnh chỉ có 35 tiến sĩ, 228 thạc sĩ và 9.228 đại học (tỷ lệ tiến sĩ, thạc sĩ chiếm1,78% tổng số trí thức), thì đến 2008 đã có 68 tiến sĩ và 716 thạc sĩ và 18.295đại học (tỷ lệ thạc sĩ, tiến sĩ chiếm 2,88% tổng số trí thức) Như vậy, so vớinăm 2002, năm 2008 tiến sĩ tăng 94,29%, thạc sĩ tăng 214%, đại học tăng98,26% và tỷ lệ tiến sĩ, thạc sĩ so với tổng số trí thức, tăng từ 1,78% lên 2,88%

Trang 39

[40] Về trình độ lý luận chính trị, theo số liệu khảo sát, điều tra, hiện nay BắcNinh có khoảng 50,42% trí thức có trình độ lý luận trung cấp và 10,92% tríthức có trình độ lý luận cao cấp [41] Về phẩm chất chính trị, nhìn chungĐNTT Bắc Ninh đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự nghiệpđổi mới do Đảng khởi xướng và đồng tình với các chủ trương, quyết sách củalãnh đạo Tỉnh Hầu hết trí thức Tỉnh đã nhận thức được đầy đủ vị trí, vai tròcủa mình đối với đời sống xã hội, có ý thức vươn lên để khẳng định mình,vượt qua những khó khăn về điều kiện làm việc, sinh hoạt, học tập… đónggóp tài năng, trí tuệ cho sự phát triển của Tỉnh trên nhiều lĩnh vực khác nhau.

Cơ cấu đội ngũ trí thức tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng ngày càng hợp

lý Hiện nay, trí thức Bắc Ninh có mặt trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực

khoa học, từng bước đáp ứng được yêu cầu sự nghiệp CNH,HĐH của Tỉnh vàcủa đất nước Về cơ cấu độ tuổi, hiện nay ĐNTT tỉnh Bắc Ninh có đủ các độtuổi và đang có xu hướng trẻ hoá Theo số liệu điều tra, khảo sát có tới75,63% trí thức ở độ tuổi từ 26 đến 45 [41] Cơ cấu trí thức theo đơn vị hànhchính, hiện nay trí thức có mặt ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố thuộcTỉnh, trong đó tập trung khá đông trí thức ở thành phố Bắc Ninh và thị xã TừSơn Theo thống kê của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, hiện nay thành phố BắcNinh có 9.493 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, chiếm 34,96% trí thứctoàn Tỉnh, trong đó có 21 tiến sĩ và 358 thạc sĩ; thị xã Từ Sơn có 4.503 người

có trình độ từ cao đẳng trở lên, chiếm 16,58% trí thức toàn Tỉnh, trong đó có

40 tiến sĩ và 204 thạc sĩ [3, tr.232] Sự tập trung trí thức ở thành phố Bắc Ninh

và thị xã Từ Sơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao trí tuệ cho các

cơ quan đảng, chính quyền Tỉnh và đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh mẽ củacác khu công nghiệp của Tỉnh

Chính những ưu điểm của việc xây dựng ĐNTT tỉnh Bắc Ninh trongthời gian qua đã tạo ra ĐNTT Tỉnh khá mạnh và có những đóng góp quan trọng

Trang 40

trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là đối với sự phát triển KH&CN củaTỉnh Điều này được thể hiện:

Chỉ tính trong ba năm (2007-2009), tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức triển khainghiên cứu thành công 195 đề tài, dự án (có 02 dự án cấp nhà nước) trên cáclĩnh vực điều tra cơ bản, khoa học xã hội nhân văn, nông - lâm nghiệp - thuỷsản, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và công nghệ thông tin

Đối với chương trình KH&CN phục vụ nông nghiệp, Tỉnh đã tiến hànhnghiên cứu và khảo nghiệm thành công hàng chục giống lúa mới; đã xâydựng được các vùng sản xuất áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ sinh họcđáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá cũng như phục vụ nhu cầu của các tầnglớp nhân dân Tỉnh Trong 3 năm, Tỉnh còn triển khai thực hiện được 19 đề tài,

dự án, hỗ trợ các doanh nghiệp và làng nghề đổi mới công nghệ, nâng caochất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm

Trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin: Năm 2009, Tỉnh đã đưavào hoạt động văn phòng “một cửa” liên thông ứng dụng công nghệ thông tintại UBND thành phố Bắc Ninh và văn phòng trực tuyến tại Ban quản lý cáckhu công nghiệp Các đề tài, dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệthông tin trong các lĩnh vực giáo dục, giao thông, xây dựng, hành chính… đãgóp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các lĩnh vực và từng bước hiện đạihoá hoạt động hành chính của Tỉnh Bên cạnh đó Tỉnh đã: “Triển khai môhình kết nối mạng máy tính, Internet đến các cơ sở, nâng tổng số mạng máytính, Internet được kết nối lên 95/126 xã, phường và 148 điểm bưu điện - nhàvăn hóa cơ sở, đưa thông tin kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ đến cácvùng nông thôn phục vụ sản xuất, đời sống” [39, tr.117]

Trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: trong ba năm(2007-2009), đã triển khai thực hiện 12 đề tài cấp tỉnh và 130 đề tài cấp cơ sở

về áp dụng tiến bộ kỹ thuật Hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến

Ngày đăng: 07/10/2016, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cục Thống kê Bắc Ninh, Chân dung cơ sở kinh tế, hành chính và sự nghiệp Bắc Ninh, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung cơ sở kinh tế, hành chính và sựnghiệp Bắc Ninh
Nhà XB: Nxb Lao động
4. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Niên giám thống kê năm 2008, Nxb Thống kê, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2008
Nhà XB: Nxb Thống kê
5. Phạm Tất Dong, Định hướng phát triển ĐNTT Việt Nam trong CNH,HĐH, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển ĐNTT Việt Nam trong CNH,HĐH
Nhà XB: NxbCTQG
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ khoá VII, Nxb CTQG, Hà nội. 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ khoáVII
Nhà XB: Nxb CTQG
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCHTƯ khoá VIII, Nxb CTQG, Hà Nội. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCHTƯ khoá VIII
Nhà XB: Nxb CTQG
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà nội. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb CTQG
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà nội. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb CTQG
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ khoá X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ khoá X
Nhà XB: Nxb CTQG
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ khoá X, Nxb CTQG, Hà nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ khoáX
Nhà XB: Nxb CTQG
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy khoá X, Nxb CTQG, Hà Nội. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghịTrung ương bảy khoá X
Nhà XB: Nxb CTQG
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI củaĐảng
Nhà XB: Nxb CTQG
14. Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH,HĐH, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vàoCNH,HĐH
Nhà XB: Nxb CTQG
15. Thẩm Vinh Hoa và Ngô Quốc Diệu, Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài - kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài- kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước
Nhà XB: Nxb CTQG
16. V.I.Lênin (1894) “Nội dung kinh tế của chủ nghĩa Dân tuý và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơ-ru-vê về nội dung đó”, Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nội dung kinh tế của chủ nghĩa Dân tuý và sự phê phántrong cuốn sách của ông Xtơ-ru-vê về nội dung đó”, Toàn tập, tập 1
Nhà XB: NxbTiến bộ
17. V.I.Lênin (1918) “Tổ chức thi đua như thế nào”, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổ chức thi đua như thế nào”, Toàn tập, tập 35
Nhà XB: NxbTiến bộ
18. V.I.Lênin (1918) “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết”, Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết”,Toàn tập, tập 36
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
19. V.I.Lênin (1920) “Diễn văn tại Đại hội II toàn Nga của các cán bộ ngành y tế và vệ sinh”, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Diễn văn tại Đại hội II toàn Nga của các cán bộ ngànhy tế và vệ sinh”, Toàn tập, tập 40
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
21. C.Mác và Ph.Ăngghen (1844) “Gia đình thần thánh”, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Gia đình thần thánh”, Toàn tập, tập 2
Nhà XB: Nxb CTQG
22. C.Mác và Ph.Ăngghen (1893) “Thư gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa”, Toàn tập, tập 22, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thư gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hộichủ nghĩa”, Toàn tập, tập 22
Nhà XB: Nxb CTQG
23. Hồ Chí Minh (1945) “Nhân tài và kiến quốc”, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhân tài và kiến quốc”, Toàn tập, tập 4
Nhà XB: Nxb CTQG

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w