1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG KHỐI đoàn kết dân tộc THEO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH ở đắk lắk HIỆN NAY

103 703 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 754 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐKDT, xây dựng khối ĐKDT là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản về mối quan hệ tộc người, vai trò, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, lực lượng, con đường, biện pháp tăng cường hợp tác, gắn bó giữa các tộc người ở Việt Nam; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin về dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển những truyền thống xây dựng khối đoàn kết tốt đẹp của dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho quá trình xây dựng khối ĐKDT của nhân dân ta, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở, nền tảng lý luận trực tiếp quyết định tính đúng đắn, khoa học của việc xây dựng khối ĐKDT trên cả nước nói chung ở Đắk Lắk nói riêng.

Trang 2

tộc và những vấn đề cơ bản trong xây dựng khối đoàn

1.2 Thực trạng xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư

tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay và nguyên nhân

Chương

2

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG

KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ

CHÍ MINH Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY

542.1 Yêu cầu xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư tưởng

2.2 Giải pháp tiếp tục xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo

tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay 64

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐKDT, xây dựng khối ĐKDT là một hệ thốngquan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản về mối quan hệ tộcngười, vai trò, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, lực lượng, con đường, biện pháptăng cường hợp tác, gắn bó giữa các tộc người ở Việt Nam; là kết quả sự vậndụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc, giải quyết vấn đềdân tộc vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển những truyềnthống xây dựng khối đoàn kết tốt đẹp của dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh soiđường cho quá trình xây dựng khối ĐKDT của nhân dân ta, là tài sản tinh thần

to lớn của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở, nền tảng lý luận trực tiếp quyết định tínhđúng đắn, khoa học của việc xây dựng khối ĐKDT trên cả nước nói chung ởĐắk Lắk nói riêng

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc nên xây dựng khối ĐKDT - bộ phận củaxây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một truyền thống quý báu trongđấu tranh chống giặc ngoại xâm, khắc phục thiên tai, bảo vệ và xây dựng đất nước; lànguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta.Thực tiễn đã chứng minh lúc nào khối ĐKDT được xây dựng vững chắc thì lúc đóđất nước cường thịnh, ngược lại, lúc nào khối ĐKDT bị chia rẽ thì đất nước suy yếu,thậm chí tiêu vong Do đó, xây dựng khối ĐKDT nói chung, xây dựng khối ĐKDTtheo tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng

Đắk Lắk là một tỉnh miền núi, nơi có số lượng các dân tộc cao nhất cảnước, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng,

an ninh của khu vực Tây Nguyên Trong những năm qua, khối ĐKDT ở ĐắkLắk ngày càng được xây dựng vững chắc, tình hình kinh tế - xã hội đã có nhữngchuyển biến quan trọng, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộcngày càng được nâng cao, chính trị ổn định, xã hội từng bước phát triển, quốc

Trang 4

phòng - an ninh được giữ vững Tuy vậy, quan hệ dân tộc ở đây vẫn còn nhữngtồn tại, hạn chế nhất định, đang tiềm ẩn những vấn đề phức tạp ảnh hưởng tiêucực đến xây dựng khối ĐKDT, các thế lực thù địch núp dưới danh nghĩa cái gọi

là “Tin Lành Đề ga” đang ra sức lợi dụng những khó khăn, bức xúc của đồngbào các dân tộc nhằm kích động tư tưởng kỳ thị dân tộc, chia rẽ các tộc người,các cộng đồng dân tộc, gây mâu thuẫn, chia rẽ, mất ổn định an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội, phá hoại khối ĐKDT trên địa bàn Do đó, xây dựng khốiĐKDT theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay có vị trí, vai trò rất quantrọng góp phần phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực to lớntrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài “Xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp

cao học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học vừa có tính lý luận, vừa có ýnghĩa thực tiễn cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, ĐKDT nói riêng làvấn đề có ý nghĩa chiến lược, tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trìnhcách mạng Việt Nam của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn mới hiện nay; làchiến lược tập hợp các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nhằm hợpthành sức mạnh to lớn để đấu tranh với kẻ thù của dân tộc, giai cấp, với đóinghèo, lạc hậu Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết khoahọc đề cập dưới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau, khá toàn diện và sâu sắc, tậptrung chủ yếu trên các vấn đề:

* Về chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc

Đây là vấn đề lớn, mang tính chiến lược nên có nhiều công trình, đề tài,bài viết đề cập khá sâu sắc, tiêu biểu như các công trình sau:

Trang 5

Trong sách: Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, Phùng Hữu Phú, (chủ

biên), Nxb CTQG, H, 1995, các tác giả đã nêu lên quá trình hình thành chiến lượcđại đoàn kết Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN;phân tích một số nội dung cơ bản trong chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh Bằngnhững lập luận khoa học, kết hợp với kiểm chứng của lịch sử các tác giả đã khẳngđịnh: trong suốt hơn nửa thế kỷ qua tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tưtưởng của ĐCS Việt Nam, đã thấm vào trong suy nghĩ, hành động của tất cả ngườiViệt Nam yêu nước và hoá thành sức mạnh, thành động lực phát triển của cả dântộc Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành một bộ phận trong đường lốichiến lược của Đảng, nguồn sức mạnh vật chất đảm bảo thắng lợi cho cách mạng,vượt ra khỏi khuôn khổ tư tưởng thuần tuý, thực sự trở thành chiến lược cách mạng

- chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh

* Về quan điểm, chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc

Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này, trong đó có nhữngcông trình nghiên cứu chuyên sâu:

Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, H, 2006 Các tác giả đã

đưa ra quan niệm về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc; trình bày chính sáchdân tộc, ĐKDT của Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng; nêu lên những vấn đềnổi cộm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc như: vấn đề đất đai, địnhcanh, định cư, nghèo đói, y tế và giáo dục, hệ thống chính trị ở vùng DTTS, chốngphá của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS… Đồng thời, đề xuất một sốbiện pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc, ĐKDT hiện nay

Trong công trình “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam” (2004),

GS TS Phan Hữu Dật đã đưa ra cách tiếp cận hợp lý về khái niệm dân tộc,

nguồn gốc, quá trình hình thành một số dân tộc ở Việt Nam, đặc điểm kinh tế

-xã hội của một số vùng dân tộc thiểu số, quan hệ dân tộc ở nước ta… Đây là

Trang 6

những vấn đề nghiên cứu góp phần làm cơ sở cho Đảng, Nhà nước ta tham khảo

để hoạch định chính sách dân tộc, xây dựng khối ĐKDT

Đề án: “Một số chính sách phát triển kinh tế trang trại” giai đoạn 2010

-2015 của UBND tỉnh Đắk Lắk (2009) đã khái quát tình hình phát triển kinh tế trangtrại, chỉ ra một số tồn tại, khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế trang trại hiệnnay; xác định quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế trang trại cùng một số giảipháp, chính sách phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 - 2015,những cơ sở để góp phần xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk hiện nay

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay,

của Nguyễn Sỹ Họa luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quân sự,

2006, tác giả đã bàn tới tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bình đẳng dân tộc,

đề cập đến ĐKDT, tương trợ giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, đánh giá thựctrạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hiện chính sách dân tộc củaĐảng, Nhà nước ta, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn sựbình đẳng dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, gópphần phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng thành công CNXH

và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Bài báo “Vấn đề dân tộc và đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, của Nguyễn Anh Tuấn, Tạp chí Cộng sản số 13

(181) năm 2009, đã khái quát một số khó khăn cần tiếp tục giải quyết, một sốgiải pháp trước mắt cần tiếp tục thực hiện trong quá trình xây dựng khối đoànkết dân tộc ở Đắk Lắk; trong đó thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xãhội ở các huyện biên giới khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là giải pháp

cơ bản, lâu dài và có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện chính sách dântộc trên địa bàn tỉnh Khẳng định vấn đề dân tộc và đấu tranh chống địch lợi

Trang 7

dụng vấn đề dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là một nhiệm vụ trọng tâm, thenchốt, vừa là nhiệm vụ trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài, đòi hỏi cần có sựtỉnh táo, sáng suốt với những biện pháp đồng bộ trong quá trình thực hiện Đây

là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay

Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương Bảy (Khoá IX) tháng 3 năm 2003, lần

đầu tiên Đảng ta ra Nghị quyết chuyên đề “Về công tác dân tộc”, nhằm khẳng

định vị trí vai trò chiến lược cơ bản, lâu dài về vấn đề dân tộc, ĐKDT, thành tựu,hạn chế công tác dân tộc trong thời gian qua, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõnguyên nhân của thực trạng đó; đồng thời, xác định những quan điểm, nguyêntắc, mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện công tác dân tộc trong thời gian tới

Các công trình khoa học trên đã đề cập đến những khía cạnh, với nhữngđối tượng, ở phạm vi khác nhau, là những tài liệu quan trọng để tác giả thamkhảo, kế thừa trong nghiên cứu luận văn này Nhưng chưa có công trình nàonghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội một cách căn bản, hệ thống ở một

địa bàn cụ thể về vấn đề: Xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay Vì vậy đề tài luận văn không trùng lắp với

các công trình khoa học đã công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ

Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT, đánh giá thực trạng vận dụng tư tưởngcủa Người trong xây dựng khối ĐKDT ở tỉnh Đắk Lắk; đề xuất những yêucầu, giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng Hồ ChíMinh ở Đắk Lắk hiện nay

Nhiệm vụ:

- Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT.

- Đánh giá thực trạng xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở

Đắk Lắk những năm qua và nguyên nhân của thực trạng đó

- Đề xuất những yêu cầu và giải pháp cơ bản xây dựng khối ĐKDT theo

tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở thực tiễn:

Thực tiễn sự nghiệp xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk từ năm 2003 đếnnay, thông qua các số liệu tổng kết, đánh giá trong các văn kiện nghị quyết, chỉthị của Đảng; số liệu đánh giá của Ban Dân tộc tỉnh; các chỉ thị của Tỉnh uỷ,UBND tỉnh Đắk Lắk và kết quả điều tra, khảo sát của tác giả

Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn,với các phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh - thống kê,điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng HồChí Minh về xây dựng khối ĐKDT; đánh giá thực trạng và xác định những yêucầu, giải pháp chủ yếu xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk hiện nay góp thêm cơ

sở cho lãnh đạo, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh Đắk Lắk trongxây dựng khối ĐKDT hiện nay

Trang 9

7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Chương 1 XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN, THỰC TIỄN 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết dân tộc và những vấn đề cơ bản trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay

Ở Việt Nam dân tộc được hiểu theo 2 nghĩa chính:

Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng người hình thành và phát

triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có chung nguồn gốc nhân chủng,ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hoá và ý thức tự giác dân tộc

Theo nghĩa thứ hai, dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ

đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định - quốc gia dân tộc

Ngoài ra theo Từ điển Tiếng Việt dân tộc còn được nói tắt, với hàm ý chỉ

các DTTS, như chúng ta thường nói ai đó là người dân tộc, quan tâm đồng bàodân tộc… và ngay cả chính sách dân tộc cũng nhằm chủ yếu hướng đến đốitượng thụ hưởng là đồng bào các DTTS, người DTTS

Như vậy, với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận trong quốc gia đa dân

tộc; với nghĩa thứ hai dân tộc bao hàm toàn bộ nhân dân của quốc gia đó Đề tài

luận văn này tiếp cận vấn đề ĐKDT theo nghĩa đoàn kết các tộc người ở Đắk Lắk.

Trang 10

Theo Từ điển Chính trị vắn tắt: Đoàn kết là hợp nhiều người thành mộtkhối vững chắc, cùng một lòng một dạ nhất trí với nhau; sự ủng hộ các phongtrào, các tổ chức, cá nhân trên cơ sở quan điểm và lợi ích gần nhau hoặc thốngnhất; sự phối hợp hoạt động và hành động vì một mục đích chung [48, tr.232].

Trong phạm vi luận văn, tác giả chủ yếu đề cập vấn đề xây dựng khối

ĐKDT theo nghĩa đoàn kết tộc người, theo đó, ĐKDT là sự kết hợp, gắn bó tất cả các tộc người trong cộng đồng dân tộc không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp, nguồn gốc dân tộc và địa vực cư trú thành một khối vững chắc, ổn định, lâu dài trên cơ sở thống nhất về mục tiêu và những lợi ích chung căn bản, để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Việt Nam thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng do ĐCS Việt Nam lãnh đạo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT là một bộ phận trong tưtưởng ĐKDT của Người, hình thành trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thốngĐKDT; sự tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết và tập hợplực lượng cách mạng, phản ánh đặc điểm dân tộc Việt Nam; là những yêu cầu, đòihỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam, là kết quả đúc kết từ cuộc đời hoạt độngcách mạng của Hồ Chí Minh vì độc lập, tự do cho dân tộc, vì hạnh phúc cho nhândân; đó là hệ thống những vấn đề có tính nguyên tắc chỉ rõ mục tiêu, nội dung, lựclượng, biện pháp tập hợp gắn bó tất cả các tộc người trong cộng đồng dân tộckhông phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, trình độ phát triển cao haythấp, nguồn gốc dân tộc và địa vực cư trú thành một khối vững chắc, ổn định,lâu dài trên cơ sở thống nhất về mục tiêu và những lợi ích chung căn bản, để gópphần tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc Việt Nam thực hiện thắng lợi sựnghiệp cách mạng do ĐCS Việt Nam lãnh đạo Cùng với quan điểm chủ nghĩaMác - Lênin về dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng khối ĐKDT là nền tảng, kim chỉ nam cho Đảng, Nhà nước ta nói chung, cấp

bộ Đảng, chính quyền các cấp nói riêng hoạch định và thực thi chính sách ĐKDT

Trang 11

Dưới đây, tác giả sẽ tập trung làm rõ những tư tưởng cơ bản của Hồ ChíMinh về xây dựng khối ĐKDT và những vấn đề chính trong xây dựng khốiĐKDT ở Đắk Lắk hiện nay.

1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết dân tộc

Tư tưởng xây dựng khối ĐKDT của Hồ Chí Minh có nội hàm rộng lớn,phong phú, sinh động, nhiều góc độ, có thể khái quát trên một số vấn đề cơ bản sau:

* Xây dựng khối đoàn kết dân tộc có vai trò rất quan trọng, vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐKDT có vai trò rất quan trọng Xuất phát

từ đặc điểm nước ta là một nước gồm nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống, lạichịu tác động của chính sách “chia để trị” của các thế lực thù địch xâm lược, do đóngay khi còn hoạt động ở nước ngoài Người đã chỉ rõ: “nguyên nhân đầu tiên gây

ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là SỰ BIỆT LẬP” [20, tr.263]

Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh cách mạng thế giới và trong nước, Ngườikhẳng định ĐKDT là điều kiện quan trọng để đấu tranh giành độc lập cho dântộc: “Hiện thời, muốn đánh Pháp, Nhật ta chỉ cần một điều: toàn dân đoàn kết”[21, tr.198], trong đó có đoàn kết các dân tộc

Từ đó, dưới sự chỉ đạo của Người, ĐCS Việt Nam đã ra sức lôi kéo, tậphợp, động viên nhân dân các dân tộc cả nước đoàn kết trong Mặt trận Dân tộcthống nhất, một lòng đi theo Đảng vùng lên đấu tranh giành độc lập hoàn toàn

Cách mạng tháng Tám thành công đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷnguyên mới “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” Lần đầu tiên nhândân các dân tộc Việt Nam từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của nhiều nguyên nhân trong đó

có nguyên nhân quan trọng là sự đoàn kết nhất trí của cộng đồng các dân tộcViệt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

“Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể

Trang 12

nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hoà của mình” [26, tr.283] Ngườicho rằng: “Có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập,

tự do” [22, tr.553], trong khối đoàn kết đó có sự đoàn kết giữa các dân tộc

Đoàn kết dân tộc có vai trò rất quan trọng, Người viết: “Nhờ sức đoàn kếttranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độclập, các DTTS được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh emtrong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa Trướckia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lậpcàng cần đoàn kết hơn nữa” [23, tr.110]

Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các dân tộc không phân biệt là dântộc lớn hay dân tộc nhỏ phải đoàn kết chặt chẽ, phải thương yêu, quý mến nhaunhư anh em trong một nhà để đánh thắng kẻ thù xâm lăng, giữ gìn độc lập tự docho toàn dân tộc, Tổ quốc Việt Nam có được giải phóng thì các dân tộc trong đạigia đình dân tộc Việt Nam cũng mới được giải phóng Người căn dặn: “Trướckia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc, xúi dục dântộc này hiềm khích, oán ghét dân tộc khác để chúng áp bức, bóc lột chúng ta.Nay chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ” [30, tr.226]

Trong các bài nói và viết của mình về vấn đề dân tộc, bao giờ Hồ Chí Minhcũng nhắc đến vai trò của ĐKDT, đồng thời yêu cầu của mọi cán bộ đảng viênphải thực sự gương mẫu xây dựng khối ĐKDT: “Muốn làm tốt công tác này, cán

bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải gương mẫu” [33, tr.418].Xây dựng khối ĐKDT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, cácngành: “Mỗi ngành, mỗi bộ ở trung ương cần nhận rõ phần trách nhiệm của mìnhđối với miền núi và chú trọng hơn nữa công tác ở miền núi” [34, tr.612]

* Xây dựng khối ĐKDT phải dựa trên cơ sở khách quan là: các dân tộc đều có chung vận mệnh dân tộc, chung lợi ích cơ bản là chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc thống nhất đất nước, có chung chính phủ thống nhất đại diện cho lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam

Trang 13

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khối ĐKDT được hình thành và phát triểntrên cơ sở tất cả các dân tộc không phân biệt địa vực cư trú, ngôn ngữ, văn hoá,trình độ phát triển kinh tế - xã hội v.v đều có chung cội nguồn sâu xa là con Lạc,cháu Hồng, từ “bọc đẻ trăm trứng” do Mẹ Âu cơ sinh ra, đều là con dân nướcViệt, gắn bó với những truyền thống tốt đẹp lâu đời trong lịch sử đấu tranh dựng

và giữ nước của dân tộc Qua thời gian và những thử thách cam go, các thế hệdân tộc Việt Nam ngày càng sinh sôi, không ngừng khai phá, mở rộng lãnh thổ,đoàn kết cùng nhau đấu tranh chống chọi với thiên nhiên, với giặc ngoại xâmbảo tồn nòi giống, phát triển quốc gia dân tộc Do đó, trong tư tưởng của mình

về ĐKDT Hồ Chí Minh luôn khẳng định 54 dân tộc sinh sống trên đất nước ViệtNam đều là anh em một nhà, là thành viên không thể chia cắt của đại gia đìnhcác dân tộc Việt Nam Trong thư gửi Đại hội các DTTS miền Nam tại Plâycungày 19/4/1946 Người chỉ rõ: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,Giarai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các DTTS khác, đều là con cháu ViệtNam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,

no đói giúp nhau” [24, tr.217]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐKDT phải được xây dựng vững chắc trên

cơ sở những lợi ích chung và vận mệnh của tất cả các dân tộc

Lợi ích chung là vấn đề cốt lõi, là động cơ, là chất kết dính toàn dân tộcthành một khối thống nhất cùng đồng tâm, hiệp lực thực hiện những nhiệm vụcủa dân tộc Lợi ích chung của toàn thể dân tộc Việt Nam là chủ quyền quốc gia,độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Do thống nhất được những lợi ích cơ bản

đó mà trong hàng ngàn năm lịch sử, các dân tộc Việt Nam đã đoàn kết keo sơn,

kề vai sát cánh, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vững mạnh.Người nói: “Tổ quốc là Tổ quốc chung Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do.Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ” [27, tr.485]

Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là Chính phủ chung của các dântộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, là cơ sở vật chất, thiết chế quan trọng để

Trang 14

hoạch định, thực thi ĐKDT, xây dựng và phát triển đất nước Hồ Chí Minh khẳngđịnh:

“Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta.Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, đểủng hộ Chính phủ ta

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờgiảm bớt [24, tr.217]

Trong điều kiện ĐCS Việt Nam lãnh đạo xây dựng chính quyền, Nhà nước

là thiết chế quan trọng giúp nâng cao đời sống mọi mặt cho các dân tộc Ngườiviết: Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta Trong Quốc hội có đủđại biểu các dân tộc Chính phủ thì có “Nha dân tộc thiểu số” để chăm sóc cho tất

cả đồng bào Hồ Chí Minh khẳng định phải xây dựng một nhà nước của toàn dânđoàn kết, thống nhất trong toàn quốc, mang tính liên hiệp, tính thực tế, liêm khiết,hiệu quả: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ của toàn dân đoàn kết và tậphợp nhân tài không đảng phái

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng khối ĐKDT được đặttrên cơ sở vững chắc của những điểm tương đồng về nguồn gốc, nòi giống,chung vận mệnh quốc gia dân tộc Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ ChíMinh và Đảng ta đã biết cách khơi dậy, đánh thức và tôn trọng các cơ sở chung

đó nên đã tập hợp, xây dựng được khối ĐKDT tạo nên sức mạnh to lớn, đưa sựnghiệp cách mạng nước ta tới bến bờ thắng lợi

* Xây dựng khối ĐKDT hướng đến mục tiêu chung phù hợp với các dân tộc

ở Việt Nam: tạo sức mạnh tổng hợp cho dân tộc Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng con người, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - XHCN trên đất nước ta, đưa các dân tộc đi lên con đường phồn vinh, văn minh hạnh phúc

Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Người viết: “Bốn năm trước đây, tôi

có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lựclượng mới giành được ĐỘC LẬP, TỰ DO

Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập” [22, tr.553 - 554]

Trang 15

Để thực hiện được mục tiêu đó, Người đã làm hết sức mình, tuyên truyền,vận động các dân tộc phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, xâydựng, củng cố khối ĐKDT; chỉ đạo, tổ chức ra các mặt trận, các hội để tập hợp,đoàn kết mọi dân tộc không phân biệt già, trẻ, gái, trai, vùng, miền cùng đồngtâm hiệp lực, chung sức chung lòng, đánh thực dân phong kiến, giành độc lập, tự

do cho dân tộc

Việt Nam là quốc gia gồm nhiều dân tộc sinh sống, luôn kề vai sát cánhtrong lịch sử dựng và giữ nước; đứng trước âm mưu của kẻ thù luôn tìm cáchthôn tính, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các dân tộc không phân biệt DTTS haydân tộc đa số phải đoàn kết chặt chẽ, yêu thương quý mến nhau như anh emtrong một nhà để cùng nhau đánh giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho toàn thể dântộc Tổ quốc Việt Nam được giải phóng thì các dân tộc trong đại gia đình cácdân tộc Việt Nam mới được giải phóng, vì vậy, đồng bào các dân tộc phải đoànkết chặt chẽ tạo sức mạnh to lớn để đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ vững quyềnđộc lập cho đất nước và cho các dân tộc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng khối ĐKDT không chỉ để tạo nênsức mạnh vô địch chiến thắng kẻ thù, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,

mà còn nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp cách mạng của Đảng:đưa nước ta trở thành nước XHCN Bởi theo Hồ Chí Minh, xây dựng khốiĐKDT là vấn đề sống còn của sự nghiệp cách mạng, vừa là yêu cầu, là thuộctính đặc trưng của CNXH; xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng khác hẳn vềchất so với các xã hội bóc lột trước đó, là xã hội duy nhất có thể đem lại hạnhphúc, ấm no và tình đoàn kết gắn bó thật sự cho các dân tộc, mọi người dân.Trong xã hội mới này, các dân tộc cùng có cuộc sống hạnh phúc, đoàn kết, vui

vẻ, không có sự kỳ thị, phân biệt; không còn cảnh dân tộc lớn đè nén, “ăn hiếp”,

áp bức dân tộc bé theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” Người chỉ rõ: “Đồng bào tất cảcác dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phảiđoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung,

Trang 16

xây dựng CNXH làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no” [32,tr.282].

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng khối ĐKDT để tạo sứcmạnh to lớn của toàn dân tộc, đánh thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc,giải phóng nhân dân khỏi chế độ áp bức, bóc lột, bất công; đồng thời còn nhằmxây dựng thành công CNXH trên đất nước ta Đây là mục tiêu xuyên suốt trongquá trình lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta

* Xây dựng khối ĐKDT phải tuân thủ các nguyên tắc: giữ vững độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng khối ĐKDT phải chặt chẽ, rộng rãi, lâu dài trên cơ sở lợi ích chung thống nhất của quốc gia và lợi ích của các dân tộc; đoàn kết gắn liền với thực hiện quan hệ dân tộc bình đẳng, tôn trọng, thương yêu, giúp đỡ; đoàn kết trên cơ sở tôn trọng văn hoá, phong tục, tập quán; kiên quyết chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi

Giữ vững độc lập dân tộc do Đảng lãnh đạo là nguyên tắc thể hiện tư duy

biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa ĐKDT với độc lập dân tộcdưới sự lãnh đạo cách mạng của ĐCS Theo Người: Tổ quốc là Tổ quốc chung

Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do, nếu nước mất thì ai cũng phải làm nô lệ

Chỉ khi nào giữ vững được độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng thìkhối ĐKDT mới được xây dựng vững chắc, trở thành nguồn động lực to lớnthúc đẩy thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng CNXH trên đất nước ta Vìvậy, Người khẳng định tính thống nhất, đa dạng nhưng luôn gắn bó chặt chẽnhau của các dân tộc ở Việt Nam: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiềudân tộc Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên mộtlãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh

để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp” [31, tr.587]

Trang 17

Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam mà còn là đội tiên phong, lãnh tụchính trị của các dân tộc Việt Nam; mục tiêu, lợi ích của Đảng cũng chính là mụctiêu, lợi ích của các dân tộc Việt Nam nên xây dựng khối ĐKDT phải đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng Người viết: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn kêu gọi các dântộc xoá bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặtchẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ” [31, tr.587].

Đây chính là nguyên tắc bất di, bất dịch của Hồ Chí Minh trong xây dựngkhối ĐKDT, đảm bảo khối ĐKDT luôn lấy độc lập dân tộc làm ngọn cờ để quy

tụ, lôi cuốn tập hợp lực lượng đông đảo các dân tộc thành một khối vững chắc

Xây dựng khối ĐKDT phải chặt chẽ, rộng rãi, lâu dài trên cơ sở lợi ích chung thống nhất của quốc gia và lợi ích của các dân tộc

Lợi ích chung thống nhất của quốc gia dân tộc và lợi ích của các dân tộcchính là mẫu số chung, là điểm tương đồng, là cái đích để xây dựng khối ĐKDTvững mạnh, từ đó mà chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi íchchung cơ bản

Trong nhiều bài nói chuyện với đồng bào DTTS các tỉnh miền núi, Hồ ChíMinh thường nhấn mạnh đến nguyên tắc phải đoàn kết chặt chẽ, rộng rãi, nhằmđem lại cuộc sống ấm no cho tất cả các dân tộc Người thường nhắc: Đồng bào tất

cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phảiđoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung,xây dựng CNXH, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc ấm no

Thực tiễn cho thấy, chỉ khi nào lợi ích chung thống nhất của quốc gia vàlợi ích của các dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau thì khối ĐKDT mới trở nên bềnchặt Nguyên tắc này phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dântộc, trở thành tư tưởng chỉ đạo cho Đảng ta trong xây dựng khối ĐKDT tronggiai đoạn cách mạng hiện nay

Trang 18

Xây dựng khối ĐKDT phải trên cơ sở tôn trọng văn hoá, phong tục, tập quán; kiên quyết chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, chia rẽ dân tộc

Mỗi dân tộc trên đất nước Việt Nam đều có đặc điểm, bản sắc vănhoá, phong tục, tập quán riêng Do đó để xây dựng khối ĐKDT Hồ ChíMinh yêu cầu phải tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, tránh thái độ miệtthị, coi thường văn hoá, phong tục, tập quán của dân tộc khác; lấy việc xoá

bỏ thành kiến do lịch sử để lại, thực hiện bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ lẫnnhau giữa các dân tộc làm nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt quá trình xâydựng khối ĐKDT ở nước ta Người viết: “Ngày nay, các dân tộc anh emchúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hoá của mình thì chúng ta phảitẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp

đỡ nhau như anh em một nhà” [29, tr.496]

Hồ Chí Minh còn chỉ rõ trong xây dựng khối ĐKDT phải chủ động,tích cực đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành động chia rẽ dân tộc: “Nếu kẻnào chia rẽ thì phải làm thế nào? Thì phải đập vào đầu chúng nó” [30, tr.226]

Những nguy cơ gây mất ĐKDT xuất phát từ nhiều phía và thường biểuhiện ở tư tưởng dân tộc lớn, xem thường dân tộc nhỏ, sô vanh dân tộc hoặc tưtưởng dân tộc hẹp hòi, cục bộ, kỳ thị, miệt thị dân tộc; nhất là biểu hiện chia

rẽ, gây hận thù dân tộc Hồ Chí Minh nhắc nhở: Đảng và Chính phủ ta luônkêu gọi các dân tộc xoá bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùngnhau đoàn kết chặt chẽ

Những nguyên tắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐKDT là cơ sở đểĐCS Việt Nam đề ra đường lối, phương pháp đúng đắn, có trọng tâm, trọngđiểm trong suốt quá trình lãnh đạo xây dựng khối ĐKDT; khắc phục được tưtưởng đoàn kết một chiều, đoàn kết vô nguyên tắc Trong thực tế, rất ít trườnghợp trong một bài nói và viết của Người chứa đựng đầy đủ những nguyên tắc cơbản về vấn đề dân tộc của Đảng ta, nhưng nguyên tắc ĐKDT thì không bao giờ

Trang 19

thiếu và được đặt ở vị trí hàng đầu Thậm chí có khi Người chỉ nhắc đến nguyêntắc xây dựng khối ĐKDT.

Xây dựng khối ĐKDT phải gắn liền với xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng, tôn trọng, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, coi nhau như anh em ruột thịt

Trong các bài nói, bài viết của mình Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các dân tộc

dù đa số hay thiểu số, đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán đều nên phảibình đẳng, đoàn kết tôn trọng, giúp đỡ, thương yêu nhau như anh em một nhà.Người cho rằng để xứng đáng là người chủ tốt thì: Trước hết, tất cả các dân tộc, bất

kỳ lớn hay là nhỏ đều phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em

một nhà Do đó phải tẩy trừ thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu,giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà

Đồng thời, Người cũng thường xuyên nhắc nhở phải kiên quyết đấu tranhchống mọi hành động phá hoại khối ĐKDT như: khuynh hướng cô độc, hẹp hòihoặc đoàn kết một chiều, kỳ thị dân tộc

Người viết: “Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trongnhà Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người…Hai bên phải giúpđược lẫn nhau Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dântộc ít người không nên ngồi chờ giúp Một bên ra sức giúp, một bên ra sứclàm Giúp nhau thì việc gì cũng nhất định làm được” [30, tr.227]

Xuất phát từ tầm quan trọng của ĐKDT, Hồ Chí Minh yêu cầu cần pháthuy lòng yêu nước, tinh thần hăng hái của tất cả mọi người Đối với các DTTSvai trò của những người đứng đầu buôn, bản; của các vị già làng, các vị lang đạorất quan trọng, do đó thư gửi đồng bào thiểu số tỉnh Thanh Hoá ngày 21/2/1947của Người có đoạn viết: “Việc dìu dắt đồng bào Thượng du, tôi trông cậy lòng áiquốc và sự hăng hái của các vị lang đạo” [28, tr.64]

Trang 20

Để xây dựng khối ĐKDT thật sự, theo Hồ Chí Minh không phải dùng thủđoạn để lừa mị, lôi kéo đồng bào mà phải đoàn kết thật thà, chân thành, chặt chẽ,không áp đặt, bắt buộc mà phải phát huy dân chủ thật sự ĐKDT không phải làsách lược mà là chiến lược nằm trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc.

* Xây dựng khối ĐKDT phải toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về kinh tế: theo Hồ Chí Minh, CNXH là mọi người dân được ăn no mặc ấm,

sung sướng tự do, nhà ở tử tế, được học hành; muốn vậy phải thi đua tăng gia sảnxuất phát triển kinh tế Người yêu cầu phải tích cực hợp tác gắn bó trong sản xuất,nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc, tạo điều kiện để các DTTS nâng cao năngsuất lao động, giảm dần chênh lệch đời sống vật chất Trong rất nhiều bài nóichuyện với đồng bào DTTS của các tỉnh miền núi, Hồ Chí Minh thường xuyên căndặn: mọi dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, phải ra sức tăng gia sản xuất và thực hànhtiết kiệm, làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc, xây dựng CNXH

Hồ Chí Minh thường nhắc: sản xuất phải toàn diện, chú trọng cả trồng câylương thực và cây công nghiệp, phát triển nghề rừng, chú trọng đẩy mạnh chănnuôi miễn có lợi cho phát triển kinh tế quốc dân; phải tạo điều kiện thuận lợi đểcác DTTS phát triển sản xuất như: tạo cơ sở hạ tầng, vốn, phát triển khoa học kỹthuật cùng với tăng gia sản xuất phải triệt để thực hành tiết kiệm, coi tiết kiệm làyêu cầu quan trọng để phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS

Về chính trị: trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11

Quốc hội khoá I Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiềudân tộc Các dân dân tộc trên đất nước ta đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Do

đó, phải tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy dân chủ, đoàn kết, tạo nên sựgắn bó quyền lợi giữa các dân tộc trong tham gia vào những vấn đề chung của đấtnước, vào quản lý Nhà nước, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc ấm no

Đồng thời Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: phải tập trung xây dựng đội ngũ cán

bộ người DTTS đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chú trọng đào tạo, cất nhắc cán bộ miền

Trang 21

núi Theo Người đây là nhiệm vụ quan trọng nhưng: “phải làm sao cho cán bộ địaphương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương, chứ không phải

là bao biện làm thay” [33, tr.418]

Về văn hoá - xã hội: Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải tôn trọng văn hoá

truyền thống các dân tộc, tăng cường giao lưu văn hoá giữa các dân tộc; tạo điềukiện phát triển toàn diện đời sống vật chất tinh thần đồng bào DTTS, chú ý pháttriển văn hoá giáo dục nâng cao trình độ học thức cho đồng bào các dân tộc, bãi bỏhết những điều hủ tệ cũ; mở mang đường sá, phòng bệnh Người khẳng định:

“Ngày nay, các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hoá củamình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết,thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em một nhà” [29, tr.496] Chống áp đặt, coithường, miệt thị, kỳ thị văn hoá của các DTTS hoặc những biểu hiện ban ơn, hiềmkhích, phân biệt đối xử trong quan hệ tộc người

Về quốc phòng - an ninh: theo Hồ Chí Minh, miền núi đối với quốc phòng

rất quan trọng nên phải động viên tập hợp đồng bào các dân tộc tham gia bảo vệ anninh quốc phòng, giữ vững biên cương Tổ quốc Người nhắc nhở: “Toàn thể đồngbào miền núi phải nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ gìn trật tự trị an… ngăn chặnbọn phản cách mạng âm mưu phá hoại [36, tr.215] Phải có chủ trương phát triểnvùng dân tộc thiểu số toàn diện để giữ vững quốc phòng, an ninh

* Xây dựng khối ĐKDT phải xác định rõ lực lượng và phương pháp đoàn kết

Theo Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước phải luôn tập hợp, đoàn kết đồng

bào tất cả các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triểncao hay thấp trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Đây là lực lượng

to lớn không gì có thể lay chuyển được; nên phải đoàn kết đồng bào tất cả cácdân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Trang 22

Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn

kết chặt chẽ và rộng rãi Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài Nhưng vắndài đều hợp lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thếkhác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phảikhoan hồng đại độ” [25, tr.246]

Theo Hồ Chí Minh, để tập hợp được đồng bào vào khối đoàn kết thì phải

có phương pháp đoàn kết tốt, chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục, vận động,thuyết phục, cảm hoá để mọi người thấy sự cần thiết phải đoàn kết lại, tự giácthực hiện nhiệm vụ cách mạng Người yêu cầu: Phải tăng cường ĐKDT, vì đây

là một công tác rất quan trọng, có nội dung mới và rộng hơn Muốn làm tốtcông tác này, cán bộ, đảng viên và đoàn viên lao động phải gương mẫu

Như vậy, có thể khái quát nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí

Minh về xây dựng khối ĐKDT là: ĐKDT có vai trò rất quan trọng, vừa làmục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, nên Đảng, Nhà nước

phải quan tâm xây dựng khối ĐKDT Xây dựng khối ĐKDT phải dựa trên

cơ sở khách quan: các dân tộc đều có chung vận mệnh dân tộc, chung lợiích cơ bản là chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc thống nhất đất nước, cóchung chính phủ thống nhất đại diện cho lợi ích của toàn thể dân tộc Việt

Nam Xây dựng khối ĐKDT phải hướng đến mục tiêu chung phù hợp với

các dân tộc ở Việt Nam: tạo sức mạnh tổng hợp cho dân tộc Việt Namnhằm giải phóng dân tộc, giải phóng con người, cải tạo xã hội cũ, xây dựng

xã hội mới - XHCN trên đất nước ta, đưa các dân tộc đi lên con đường

phồn vinh, văn minh hạnh phúc Xây dựng khối ĐKDT phải tuân thủ các

nguyên tắc: giữ vững độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựngkhối ĐKDT phải chặt chẽ, rộng rãi, lâu dài trên cơ sở lợi ích chung thốngnhất của quốc gia và lợi ích của các dân tộc; đoàn kết gắn liền với thực

Trang 23

hiện quan hệ dân tộc bình đẳng, tôn trọng, thương yêu, giúp đỡ; đoàn kếttrên cơ sở tôn trọng văn hoá, phong tục, tập quán; kiên quyết chống tư

tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi Xây dựng khối ĐKDT phải toàn diện

trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Xây dựng khối ĐKDT phải xácđịnh rõ lực lượng và phương pháp đoàn kết

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT là cơ sở khoa học trựctiếp để Đảng, Nhà nước ta đề ra quan điểm đoàn kết dân tộc và xây dựng khốiĐKDT vững mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về lý luận trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay

Đắk Lắk là tỉnh miền núi có vị trí chiến lược về kinh tế - chính trị, quốc phòng - an ninh ở khu vực Tây Nguyên Đắk Lắk có 73 km đường biên giới giáp

tỉnh Mon Đun ki ri của Cam Pu Chia, diện tích tự nhiên là 13.125,37km2 Có 13huyện, 1 thị xã và 1 thành phố với 184 xã, phường, thị trấn, 2.384 thôn, buôn, tổdân phố; có các trục đường Quốc lộ 14, 26, 27 nối liền với các tỉnh Gia Lai, ĐăkNông, Phú Yên, Khánh Hoà Dân số trên 1,7 triệu người, với 45 dân tộc anh emcùng sinh sống, trong đó DTTS chiếm 32,97% dân số toàn tỉnh; DTTS tại chỗ là322.031 khẩu với 57.118 hộ, chiếm 18,54% trong tổng số DTTS của tỉnh, trong đó

có 11 dân tộc dưới 10 người, 3 dân tộc chỉ có 1 người (La Hủ, La Ha, Si La) [3].Đắk Lắk là hình ảnh thu nhỏ của Tây Nguyên nơi có đầy đủ các dân tộc thiểu sốđang sống ở Tây Nguyên và vẫn đang là điểm đến của làn sóng di cư tự do Điềunày ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk hiện nay

Đồng bào các dân tộc Đắk Lắk có truyền thống anh hùng, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm giữ đất, bảo vệ buôn làng Từ sau cách mạng

tháng Tám năm 1945, nhiều vùng đồng bào dân tộc đã trở thành những căn cứ địacách mạng vững chắc như: xã Dliê ya huyện Krông Năng; xã Cư Pui, Cư DRăm,

Trang 24

Yang Mao huyện Krông Bông; xã DurKMăn huyện Krông Ana; xã Nam Nunghuyện Krông Nô; xã ĐăkPhơi huyện Lắc; xã Cư Pơng huyện Krông Buk Đồngbào các dân tộc ở Đắk Lắk luôn đoàn kết, hết lòng che chở, đùm bọc cách mạng;

có những vùng đồng bào phải nhịn ăn, nhịn mặc, bán trâu bò, mặc khố bằng vỏ cây,đốt cỏ tranh ăn thay muối để đóng góp sức người sức của cho cách mạng, góp phầnquan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Truyềnthống này là động lực quan trọng trong xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk hiện nay

Đắk Lắk là địa phương có sự biến động dân tộc hết sức phức tạp, có sự phân biệt tương đối rõ khối cư dân tại chỗ và dân cư mới di cư đến Trước kia,

các DTTS tại chỗ là cư dân chính chiếm đa số, thì nay chỉ còn là bộ phận nhỏcủa tỉnh Năm 1936 các dân tộc tại chỗ chiếm khoảng 95% dân số, đến năm

1975 giảm còn khoảng 50%, hiện nay chỉ còn 18,54% [3] Cộng đồng các dântộc sinh sống đan xen, trình độ phát triển không đồng đều, dân tộc Kinh có trình

độ phát triển khá cao, các DTTS về cơ bản còn ở trình độ phát triển thấp, cuộcsống của đồng bào còn nhiều khó khăn Biến động cơ cấu dân số này chi phối rấtlớn, cần lưu ý trong quá trình xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk

Trước kia, đặc trưng kinh tế của Đắk Lắk là “nương rẫy” canh tác trên đất đỏ

ba zan kết hợp với săn bắt, hái lượm, mang đậm tính tự cung, tự cấp; lực lượng sảnxuất ở trình độ thấp với công cụ thô sơ, canh tác lạc hậu, lao động chân tay là chủyếu Ngày nay, tuy đã có nhiều tiến bộ trong việc đưa máy móc, khoa học kỹ thuậtvào sản xuất nhưng kinh tế hàng hoá vẫn chưa phát triển; mức sống của đồng bàonhất là đồng bào DTTS tại chỗ còn rất thấp, bộ phận đồng bào sinh sống ở nhữngnơi đặc biệt khó khăn thường thiếu đói quanh năm Đây là nhân tố tiềm ẩn dễ dẫnđến xích mích, va chạm, xung đột dân tộc nếu Đảng, Nhà nước, các tổ chức chínhtrị xã hội không có chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng

Các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng để chống phá khối ĐKDT Hiện nay, tuy khối ĐKDT ở Tây

Trang 25

Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng tương đối ổn định, nhưng các thế lực thùđịch luôn lợi dụng những nguy cơ, những nhân tố tiềm ẩn gây mất ổn định như: đờisống đồng bào các dân tộc còn khó khăn, vấn đề dân di cư tự do, nạn chặt phá rừng,vấn đề tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động, lôi kéo đồngbào các dân tộc vào các hoạt động gây rối, biểu tình, vượt biên trái phép, gây mất anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội làm cho quá trình xây dựng khối ĐKDT ởĐắk Lắk phần nào gặp khó khăn.

Trong những năm gần đây, khối ĐKDT ở Đắk Lắk tương đối vững chắc, nhưng vẫn còn những yếu kém, bất cập nhất định, các thế lực thù địch đang ráo riết lợi dụng những yếu kém, bất cập đó để chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Từ những vấn đề đó, có thể quan niệm xây dựng khối ĐKDT theo tư

tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay là toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị nói chung và nhân dân ở Đắk Lắk nói riêng trong quán triệt, vận dụng, phát triển sáng tạo và hiện thực hoá tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT phù hợp với điều kiện lịch sử, địa lý - tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội và con người ở đây nhằm củng cố, tăng cường mối liên kết, gắn bó, hợp tác chặt chẽ giữa đồng bào các dân tộc trên địa bàn Tỉnh thành một khối vững chắc

Từ quan niệm xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở ĐắkLắk hiện nay cho thấy:

Chủ thể tiến hành xây dựng khối đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay bao gồm: Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội mà

trực tiếp là hệ thống chính trị và đồng bào các dân tộc của tỉnh, trong đó lựclượng vũ trang giữ vai trò quan trọng

Tất cả các dân tộc ở Đắk Lắk vừa là chủ thể vừa là khách thể được tậphợp vào trong khối ĐKDT, phải khắc phục các tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹphòi, tự ti, mặc cảm dân tộc để vươn lên nắm bắt khoa học kỹ thuật, tận dụng các

Trang 26

cơ hội vào phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hoá các dân tộc trên địa bàn.

Nội dung xây dựng khối ĐKDT: phải tiến hành toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh.

Về kinh tế: phải tạo nên sự hợp tác gắn bó trong sản xuất, nâng cao đời sống,

tạo điều kiện để các dân tộc nhất là các DTTS nâng cao năng suất lao động, giảmdần chênh lệch về mức sống Bởi vậy phải giải quyết tốt những vấn đề bức xúc củacác dân tộc về đói nghèo, đất đai, vốn, thuế, cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, tạo điều kiện tốt nhất trong khả năng có thể để đồng bào các dân tộc đẩy mạnh pháttriển sản xuất theo hướng: chú trọng phát triển kinh tế nhiều thành phần, lấy pháttriển kinh tế, nâng cao đời sống đồng bào làm nhiệm vụ trung tâm, gắn tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội

Về chính trị: tạo nên sự gắn bó quyền lợi giữa các dân tộc trong tham gia vào

những vấn đề chung của đất nước, vào quản lý Nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộđặc biệt đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Bởi vậy, cần đảmbảo để đồng bào các dân tộc ở Đắk Lắk tham gia vào các tổ chức, các hoạt độngchính trị - xã hội; được thật sự phát huy quyền làm chủ, quyền ứng cử, đề cử,quyền tham gia các hoạt động kiểm tra, giám sát nhất là giám sát các chươngtrình, dự án phát triển kinh tế, xã hội nhằm đảm bảo công bằng, bình đẳng, ổnđịnh chính trị, đồng thuận trong đồng bào, hướng đến xã hội phát triển

Về văn hoá - xã hội: tôn trọng văn hoá truyền thống các dân tộc, tăng cường giao

lưu văn hoá giữa các dân tộc; tạo điều kiện phát triển toàn diện đời sống vật chất tinhthần các dân tộc, giải quyết tốt các vấn đề xã hội Chú trọng nâng cao trình độ dân trí chođồng bào, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc; nhất là nâng cao mức độ thụhưởng các dịch vụ công như nước sạch, điện sinh hoạt, bưu điện, giao thông, y tế

Về quốc phòng - an ninh: nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác

của đồng bào các dân tộc trong tham gia ổn định chính trị, an toàn xã hội; bảo vệ,giữ vững biên cương Tổ quốc Trước hết cần tập hợp, động viên đồng bào kiên

Trang 27

quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chia rẽ gây mất đoàn kết, bất bìnhđẳng giữa các dân tộc; vô hiệu hoá thủ đoạn lợi dụng, lôi kéo đồng bào tham giabiểu tình, gây mất ổn định chính trị của các thế lực thù địch.

Nguyên tắc xây dựng khối ĐKDT: phải đặt trên nền tảng giữ vững độc lập

dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng khối ĐKDT phải chặt chẽ, rộngrãi, lâu dài trên cơ sở lợi ích chung thống nhất của quốc gia và lợi ích của cácdân tộc; đoàn kết trên cơ sở tôn trọng văn hoá, phong tục, tập quán; kiên quyếtchống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi

Phương pháp xây dựng: vận dụng tổng hợp các biện pháp; chú trọng công

tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục bằng những hành động thiếtthực, không tuyên truyền “suông”; tập trung phát triển kinh tế - xã hội trên mọilĩnh vực, đồng thời tăng cường đấu tranh với các nhận thức, hành động sai trái,phản động để nhân dân các dân tộc trên địa bàn Đắk Lắk thực sự đoàn kết thốngnhất với nhau, một lòng, một dạ theo cách mạng

Đây là quá trình khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải vận dụng trung thành,sáng tạo tư tưởng ĐKDT của Hồ Chí Minh

Xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk là một bộ phận trong chiến lược đạiđoàn kết toàn dân tộc, là một trong những hoạt động mang tính chính trị - xã hộisâu sắc, toàn diện của hệ thống chính trị các cấp, trực tiếp là hệ thống chính trị ở

cơ sở và bản thân đồng bào các dân tộc trên địa bàn; có liên quan trực tiếp đếnnhiều chủ trương, chính sách phát triển trên các phương diện kinh tế, chính trị, vănhoá - xã hội, quốc phòng - an ninh Đó là quá trình cụ thể hoá và tổ chức thực hiệnchủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước đối với Đắk Lắk, nhằm xác

lập mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ giữa các tộc người với nhau trên tất cả các mặt

của đời sống xã hội; hướng tới các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ nhaucùng tiến bộ; góp phần xây dựng Đắk Lắk ổn định, giàu mạnh và phát triển bềnvững

1.2 Thực trạng xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó

Trang 28

Có nhiều cách đánh giá thực trạng xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng

Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay Trong luận văn tác giả chọn đánh giá trướchết ở việc các chủ thể nhận thức đến mức độ nào về vai trò xây dựng khốiĐKDT; về nguyên tắc, nội dung, biện pháp xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng

Hồ Chí Minh; việc đề ra các chính sách ĐKDT và tổ chức thực hiện các chínhsách ấy; biện pháp triển khai thực hiện của hệ thống chính trị ở Đắk Lắk; cuốicùng là thực trạng khối ĐKDT ở Đắk Lắk được xây dựng đến mức độ nào cảmặt thành tựu và hạn chế

1.2.1 Thành tựu xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay và nguyên nhân

Một là, hệ thống chính trị ở Đắk Lắk trên cơ sở nhận thức rõ vị trí vai trò đoàn kết dân tộc đã kịp thời đề ra quan điểm, chủ trương, biện pháp ĐKDT sát đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quan tâm giải quyết tới lợi ích căn bản của các dân tộc, đưa các dân tộc xích lại gần nhau

Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của xây dựng khối ĐKDT theo tưtưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị ở Đắk Lắk đã chủ động,nghiên cứu, quán triệt tư tưởng của Người, nắm vững tư tưởng “phải làm sao giảithích cho đồng bào các dân tộc ở địa phương hiểu và đoàn kết tốt”, “một mặt là làm

sao mưu lợi ích cho đồng bào Một mặt nữa là làm sao tránh được tệ hại cho đồng bào” Đánh giá đúng vị trí chiến lược của Tây Nguyên trong đó Đắk Lắk là “thủ

phủ” nên Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng mang tính chiếnlược chỉ đạo toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khối ĐKDT ở TâyNguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng Nghị quyết số 10/NQ/TW của Bộ Chính trị

“Về phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ

2001 - 2010”; Quyết định số 253/2003/QĐ-TTg ngày 05/3/2003 của Thủ tướngChính phủ “Về việc phê duyệt dự án “Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chínhquyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002 - 2010”; Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triểnkinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào DTTS và miền núi giai

Trang 29

đoạn 2006 - 2010 v.v Đồng thời, Chính phủ còn ban hành nhiều văn bản pháp quyhướng dẫn việc tổ chức thực hiện các chính sách ưu tiên trên các lĩnh vực đời sốngvừa đáp ứng nhu cầu lợi ích chính đáng của đồng bào, vừa tạo cơ hội cho đồng bàocác DTTS có điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

Thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, trong những năm qua, hệthống chính trị tỉnh đã nỗ lực thực hiện công tác dân tộc và chính sách ĐKDTcủa Đảng, Nhà nước; tạo ra bước chuyển biến quan trọng về nhận thức và hànhđộng trong xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc; sự bình đẳng giữa các dântộc được thể hiện và phát huy trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, các dântộc trong tỉnh đoàn kết gắn bó xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnhphúc

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá IX), Tỉnh uỷ, UBNDtỉnh Đắk Lắk đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về công tác vận động, tập hợpquần chúng nhân dân vào khối ĐKDT Trong đó, Nghị quyết số 04 - NQ/TU ngày17/11/2004 “Về phát triển kinh tế buôn, thôn đồng bào DTTS tại chỗ đến năm2010” đã xác định phương hướng chung: “Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hộibuôn, thôn đồng bào DTTS tại chỗ phải gắn với định canh, định cư, xoá đói, giảmnghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS tại chỗ ;phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng gia đình văn hoá,buôn, thôn văn hoá, xã văn hoá ”; ngày 17/10/2006 HĐND tỉnh ban hành Nghịquyết số 35/NQ-HĐND “Về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh ĐắkLắk đến năm 2020”; ngày 7/11/2006, Tỉnh uỷ ban hành chỉ thị số 09-CT/TU “Vềgiảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010”; Ban Thường vụ tỉnh uỷ có chỉ thị số11-CT/TU ngày 02/5/2007 “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tácchăm sóc, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam điôxin”, Nghị quyết số 08 - NQ/TUngày 18/3/2008 “Về phát triển kinh tế - xã hội các huyện đặc biệt khó khăn đến

Trang 30

năm 2010 và những năm tiếp theo”; ngày 01/6/2009 UBND tỉnh thông qua Đề án:

“Một số chính sách phát triển kinh tế trang trại giai đoạn 2010 - 2015” v.v

Về cơ bản, các chỉ thị, nghị quyết đã quán triệt tốt tư tưởng Hồ Chí Minh

về ĐKDT, quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta, góp phần thúcđẩy phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế và đời sống đồng bào các dân tộccủa tỉnh, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhất

là giữ vững khối ĐKDT

Hai là, các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án của tỉnh đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần đồng bào, cơ sở quan trọng để tăng cường sự đoàn kết giữa các dân tộc

Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tăng cường ĐKDT:

“Trung ương Đảng và Chính phủ, mà trực tiếp là các cấp uỷ đảng, các uỷ ban địaphương phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào cácdân tộc” [35, tr.134] Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV khẳng định:đầu tư phát triển kinh tế thôn, buôn là tiền đề, là một trong những điều kiện cơbản xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bàoDTTS tại chỗ; đồng thời góp phần củng cố, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xãhội nông thôn Đây là chủ trương thiết thực vừa phản ánh tư tưởng “phải có kếhoạch giúp đỡ thiết thực đồng bào miền núi” của Hồ Chí Minh vừa thể hiệntrách nhiệm chính trị cao cả của hệ thống chính trị ở Đắk Lắk; giúp các cấp, cácngành đề ra được những chủ trương sát đúng, phát huy tính tích cực, chủ độngcủa các chủ thể và trực tiếp nâng cao chất lượng xây dựng khối ĐKDT trên thựctế

Nhiều chủ trương, chính sách, đề án đã cụ thể hoá, đưa Nghị quyết củaTỉnh uỷ vào cuộc sống như: “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 -2010”; Nghị quyết số 35/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về “Quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế xã hội tỉnh đến năm 2020”; Đề án “Một số chính sách phát

Trang 31

triển kinh tế trang trại giai đoạn 2010-2015” v.v kịp thời phát huy thế mạnh, phùhợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội, dân tộc của từng địaphương, đơn vị ở tỉnh Cụ thể:

Kinh tế phát triển nhanh, cơ sở hạ tầng được cải thiện, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt: những năm gần đây, mức độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh cao hơn mức

tăng trưởng trung bình trong cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm từ

2006 - 2008 đạt 12,5%; riêng 6 tháng đầu năm 2009 đạt 11,07% Cơ cấu kinh tế nông,lâm, ngư nghiệp chiếm 55,07%; công nghiệp - xây dựng chiếm 15,94%; thương mại -dịch vụ chiếm 28,99% Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt 700 triệu USD; riêng 6tháng đầu năm 2009 kim ngạch xuất khẩu đạt 310 triệu USD, nhập khẩu đạt 11 triệuUSD Thu ngân sách năm 2008 so với năm 2007 tăng gần 15%, thực hiện năm 2009

so với năm 2008 tăng khoảng 24% Nông nghiệp nông thôn chuyển dịch theo hướngthị trường, sản lượng cà phê nông sản vẫn dẫn đầu cả nước [51]

Tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, dự án phát triển kết cấu hạ tầngnhư: điện, đường, trường, trạm, trung tâm cụm xã, nước sạch, các hoạt độngkhuyến nông, khuyến lâm góp phần nâng cao trình độ sản xuất và cải thiện đờisống nhân dân trong tỉnh; 100% xã có điện thoại, có lưới điện quốc gia; 80% số

hộ nông dân nông thôn được sử dụng điện; 100% xã có đường ô tô đến trungtâm Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đến cuối năm 2008 chỉ còn 15,35% Đây chính

là cơ sở kinh tế quan trọng góp phần củng cố, tăng cường ĐKDT ở Đắk Lắk[51]

Văn hoá - xã hội bước đầu đã có những tiến bộ: Toàn tỉnh có trên 70% số

xã có nhà văn hoá, hầu hết thôn, buôn có nhà sinh hoạt văn hoá cộng đồng.Mạng lưới truyền thanh - truyền hình cơ sở tiếp tục được đầu tư phát triển, cơbản đã phủ sóng hầu hết các vùng trong tỉnh Có trên 90% hộ được xem truyềnhình và 95% hộ được nghe đài; phong trào thể dục - thể thao rèn luyện sức khoẻngày càng phát triển mạnh Ngành giáo dục phát triển mạnh cả về quy mô và

Trang 32

chất lượng, số lượng học sinh phổ thông tăng bình quân 2,7% năm, chất lượnggiáo dục được nâng lên; việc triển khai công tác tuyển sinh đại học, cao đẳngthực hiện đúng kế hoạch đề ra [51].

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”

có nhiều tác động tích cực đến đời sống nhân dân, đã có 1.061 thôn, buôn, khốiphố đạt tiêu chuẩn văn hoá, 296.000 gia đình được công nhận gia đình văn hoá.Lắp đặt được 22 trạm truyền thanh cơ sở cho các xã vùng sâu thuộc chương trìnhphủ sóng phát thanh Tây Nguyên 2006 - 2010 [53]

Những thành tựu về phát triển kinh tế, văn - xã hội trên là nhân tố quantrọng tạo nên sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay

Quốc phòng - an ninh trên địa bàn được giữ vững: Nhờ xây dựng khối

ĐKDT vững vàng nên hệ thống chính trị của tỉnh đã nắm chắc quần chúng,ngăn chặn, bắt giữ kịp thời nhiều vụ vượt biên trái phép góp phần ổn định tìnhhình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đến nay tình hìnhvượt biên theo nhóm hầu như không còn nữa, chỉ còn là các hoạt động lén lútnhưng cũng sớm bị quần chúng nhân dân tố cáo Đặc biệt, trong những nămgần đây số lượng người tham gia bạo loạn chính trị đã giảm nhiều; các vụ tụtập, kích động, lôi kéo đồng bào vào các hoạt động xấu cơ bản đều bị tố giácsớm Điều này chứng tỏ nhân dân đã tin tưởng vào Đảng, vào hệ thống chínhtrị ở địa phương, thực sự kề vai sát cánh, đoàn kết chặt chẽ với nhau trong xâydựng thế trận quốc phòng - an ninh

Ba là, khối ĐKDT được xây dựng toàn diện, bền vững, lâu dài, ngày càng chặt chẽ

Việc xây dựng khối ĐKDT được quan tâm, đạt kết quả khá tốt: Nhằm cụ

thể hoá các Nghị quyết của Đảng, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đãphối hợp với các tổ chức thành viên xây dựng chương trình hành động thực hiện

Trang 33

Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) và các Nghị quyết của Đảng nhằm củng cố,tăng cường phát huy sức mạnh ĐKDT trong nhiệm vụ xây dựng và phát triểnkinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh luôn chú trọng việc củng cố

và mở rộng khối ĐKDT thông qua việc đa dạng hoá các hình thức tập hợp các dântộc, qua đó thu hút được đông đảo đồng bào, người tiêu biểu, các già làng, trưởngbuôn vào hoạt động của Mặt trận làm chất lượng, hiệu quả và phạm vi hoạt độngcủa Mặt trận được mở rộng và nâng cao Hàng năm tỉnh đều tổ chức gặp mặt tríthức dân tộc, già làng tiêu biểu, đưa các già làng đi tham quan tìm hiểu mô hìnhphát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khối đoàn kết ở khu dân cư của các địa phươngtiêu biểu trong cả nước để học tập kinh nghiệm

Ngày 6/01/2010 Đại hội đại biểu các DTTS toàn tỉnh lần thứ nhất, đưa rachương trình hành động xây dựng khối ĐKDT đến năm 2015, tầm nhìn đến năm2020; khẳng định: tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bàoDTTS, tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong đồng bào dân tộc, ưu tiênxây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; tiếp tục công tác xoá đói giảm nghèo; khaithác tiềm năng lợi thế so sánh của vùng để phát triển kinh tế; đồng thời phải bảo vệmôi trường sinh thái Phấn đấu đến năm 2015 không còn hộ đói, mở rộng và pháttriển sản xuất để tăng thu nhập cho bà con dân tộc và tăng số hộ khá giả [3]

Bằng nhiều nguồn vốn đầu tư qua các dự án, cố gắng đưa trên 90% số hộđồng bào dân tộc được sử dụng điện, sử dụng nước sạch, căn bản xoá hết tình trạngnhà dột nát và tạm bợ; đầu tư phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục và y tế nhằmđạt được mục tiêu 100% số con em dân tộc tốt nghiệp tiểu học, 70% số em tốtnghiệp trung học cơ sở, 50% số em tốt nghiệp trung học phổ thông; nâng cao chấtlượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng góp phần tích cực vàoviệc nâng cao sức khoẻ đời sống nhân dân [4] Thông qua Đại hội, tinh thần đoànkết các dân tộc trong tỉnh nâng lên rõ rệt

Trang 34

Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đồng bào tất cả các dântộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kếtchặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung, xây dựngCNXH làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no Trong những năm qua,

hệ thống chính trị ở Đắk Lắk đã tập trung hướng các chương trình, dự án pháttriển kinh tế - xã hội đến sự phát triển toàn diện của đồng bào, giúp đồng bào ổnđịnh sản xuất, đời sống

Các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất cho đồng bào DTTS, đồng bàonghèo được thực hiện đảm bảo đúng đối tượng, kịp thời phát huy tác dụng cácnguồn hỗ trợ đối với đời sống và sản xuất của nhân dân Chương trình 134 đến năm

2009 về cơ bản đã hoàn thành 3 mục tiêu lớn là giải quyết đất ở, hỗ trợ nhà ở vànước sinh hoạt, trong đó về đất ở đã giải quyết cấp đất cho 5.538 hộ với diện tích144,06 ha, đạt 100% kế hoạch; làm mới và sửa chữa 15.575 căn nhà, đạt 100% kếhoạch; đã cấp nước phân tán cho 14.539 hộ, đạt 100% kế hoạch, cấp nước tập trungcho 1.511 hộ, đạt 100% kế hoạch; về đất sản xuất: cấp 2.674,16 ha cho 7.406 hộ,đạt 96,48% kế hoạch về diện tích Chương trình 135, và một số chương trình khácđang được các địa phương triển khai thực hiện kịp thời, các nguồn hỗ trợ đã đếnđược với đối tượng thụ hưởng và phát huy tác dụng tốt [50]

Công tác giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS được quan tâm, cácchính sách hỗ trợ giải quyết, giới thiệu việc làm được thực hiện có hiệu quả Cácchỉ tiêu về giải quyết việc làm đạt khá, tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thịgiảm đáng kể, tỷ lệ thời gian lao động của lao động nông thôn tăng nhanh Chỉtiêu giảm nghèo đạt được cao hơn kế hoạch đề ra, các chính sách xã hội đượcquan tâm đã góp phần giải quyết khó khăn cho một bộ phận dân cư Các chínhsách đối với gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công được các cấp, cácngành chú trọng, giải quyết chính sách kịp thời, đúng đối tượng, đúng chế độ.Nhờ đó có điều kiện tiếp tục đầu tư vào xây dựng, từng bước hoàn thiện kết cấu

Trang 35

hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổchức sản xuất hợp lý, kéo đồng bào các dân tộc xích lại gần nhau.

Trên cơ sở vốn Trung ương giao, chỉ tính riêng quý I năm 2010, các dự

án và chính sách đã đạt được một số kết quả nhất định: Dự án Hỗ trợ pháttriển sản xuất cho 1.200 hộ nghèo: hỗ trợ 450 con bò cái sinh sản, 30 máymóc phục vụ sản xuất và chế biến sản phẩm nông nghiệp, 22.500 kg giốngcây lương thực, tổng kinh phí 4.350 triệu, bằng 30% kế hoạch; Dự án cơ sở hạtầng: đã đầu tư xây dựng 36 công trình hạ tầng thiết yếu, giá trị khối lượnghoàn thành là 15.236 triệu đồng, bằng 28,83% kế hoạch, trong đó bàn giaođưa vào sử dụng 11 công trình, đang thực hiện 25 công trình; Dự án đào tạo,bồi dưỡng cán bộ và cộng đồng đã hoàn thành 34 lớp đào tạo cộng đồng cho1.750 lượt người [52]… nhờ đó đào tạo nguồn nhân lực được chú trọng, đờisống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng cao; tốc độ giảm nghèo ngàycàng tăng, tạo điều kiện để đồng bào thoát nghèo bền vững, vươn lên khá giả;chính trị, quốc phòng - an ninh ngày càng được giữ vững; bản sắc văn hoá,dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ

Chính kết quả xây dựng toàn diện đó đã làm cho mối đoàn kết toàn diện, bềnvững, lâu dài giữa nhân dân các dân tộc ở tỉnh ngày càng được củng cố, tăng cường

Bốn là, các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, hoạt động chia rẽ khối ĐKDT, chống phá cách mạng của thế lực thù địch đều bị vạch trần và vô hiệu hoá

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước kia chúng ta xa cáchnhau, vì có kẻ xui giục để chia rẽ chúng ta”, “Miền núi đối với quốc phòng rất quantrọng” nên trong những năm qua, hệ thống chính trị cùng nhân dân các dân tộc ở Đắk

Lắk đã không ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác, tiếp tục củng cố và tăng cường thế

trận an ninh nhân dân, quốc phòng toàn dân nhất là vùng biên giới, các địa bàn trọngđiểm, địa bàn có nhiều vấn đề phức tạp; đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, trật tự

kỷ cương và an toàn trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Khối ĐKDT

Trang 36

được phát huy, công tác phòng chống Fulrô trong nhân dân đã đạt nhiều kết quả tốt;kêu gọi vận động đầu thú, kiểm điểm trước dân được chú trọng góp phần quan trọnggiúp nhiều đối tượng nhận thức được sai trái, tự thú trước nhân dân.

Kết quả đấu tranh phòng chống Fulrô đạt hiệu quả tốt; báo cáo dưới đâyphản ảnh điều đó:

tố giác đưa ra kiểm điểm trước dân Đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã nhận thứcđúng bản chất của cái gọi là “Nhà nước Tin Lành Đề ga” thực chất chỉ là vỏ bọc cho

âm mưu của một số phần tử phản động chống lại Đảng, Nhà nước ta mà thôi

Trong Quân đội, năm 2009, BCHQS tỉnh đã tổ chức nhiều buổi nói chuyệncho các đối tượng đào tạo tại Trường Quân sự tỉnh, tập trung vào các lớp học viênđào tạo chỉ huy trưởng quân sự xã, phường, thị trấn và lớp đào tạo sĩ quan dự bị về

âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối ĐKDT của các thế lực thù địch qua chuyên đề:

“Phản bác âm mưu, ý đồ của FULRO lưu vong lợi dụng “Tuyên ngôn quyền người bản địa” để kích động, lừa mị đồng bào DTTS Tây Nguyên” Qua đó giúp các đối tượng này nhận thức đúng đắn nội dung “Tuyên ngôn quyền người bản địa”, quán

triệt đường lối chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước làm cơ sởtuyên truyền, vận động học sinh, sinh viên các trường liên kết đào tạo, trường địa

Trang 37

phương kết nghĩa, nhân dân các DTTS hiểu rõ về “Tuyên ngôn quyền người bản địa”, góp phần cùng hệ thống chính trị và khối đoàn kết toàn dân tộc vạch mặt âm

mưu của kẻ thù, tăng cường cảnh giác đập tan mọi ý đồ của các thế lực thù địch

Số người tham gia biểu tình, bạo loạn đến năm 2008 còn không đáng kể:

Tuy nhiên tình hình vượt biên trái phép vẫn còn phức tạp:t biên trái phép v n còn ph c t p:ẫn còn phức tạp: ức tạp: ạp:

[Báo cáo số liệu công tác dân vận của BCHQS tỉnh Đăk Lăk, ngày 10/6/2008].

Trang 38

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm phá hoại an ninh chínhtrị, trật tự an toàn - xã hội ở Việt Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng, cụ thể ở

Đắk Lắk rất thâm độc, xảo quyệt, nhưng nhờ sự đoàn kết thống nhất cao, tinh

thần cảnh giác tốt, thái độ đấu tranh kiên quyết, phương pháp khéo léo nên đồngbào các DTTS trong tỉnh về cơ bản đã đập tan âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khốiĐKDT của thế lực thù địch, không để mắc mưu kẻ thù

Năm là, đã vận dụng tổng hợp các biện pháp xây dựng khối ĐKDT theo

tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

Trong chỉ đạo tổ chức xây dựng khối ĐKDT, Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn yêu cầu xây dựng khối ĐKDT phải sát với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xãhội, cư dân của vùng đồng bào các dân tộc Theo Người: Miền núi đất rộng,người thưa, tình hình vùng này không giống vùng khác Vì vậy, áp dụng chủtrương, chính sách phải thật sự sát tình hình thực tế mỗi nơi Tuyệt đối chớrập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội

Những năm qua, quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh công táctuyên truyền đã chú trọng nhiều hơn đến chất lượng, nội dung, hình thức hoạtđộng nên phục vụ tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh,quốc phòng; các hoạt động văn hoá nghệ thuật được tổ chức sâu rộng hơn theohướng ưu tiên cho cơ sở đã góp phần cải thiện đời sống tinh thần cho nhân dân;phong trào thể dục thể thao nhất là thể thao quần chúng có chuyển biến tốt Côngtác phát thanh, truyền hình ngoài việc tăng số giờ tiếp sóng, phát sóng chươngtrình Trung ương còn ưu tiên để các chương trình địa phương tăng thời lượngphát các chuyên mục, chương trình tiếng DTTS; hình thức các chuyên mục,chuyên trang đã được cải tiến nhiều, nội dung phong phú, thiết thực hơn

Cùng với tổ chức triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến các tầng lớp nhân dân, Mặt trận tổ

Trang 39

quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh đã chú trọng đa dạng hoá các hình thức tậphợp quần chúng nhân dân, tích cực vận động và kết nạp thành viên là đồng bàocác DTTS vào trong tổ chức, hướng các hoạt động vào xây dựng khối ĐKDT.Hằng năm, nhân các ngày lễ, tết truyền thống của đồng bào các dân tộc, các địaphương thông qua Mặt trận đã tổ chức nhiều hoạt động gặp mặt, giao lưu, vănhoá, văn nghệ với nhiều chủ đề thiết thực qua đó tuyên truyền, vận động nhândân chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, gópphần xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được 100% khu dân cư trong toàn tỉnh hưởng ứng triển khai Các cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa” v.v được tổ chức sâu rộng qua đó khơi dậy mạnh mẽ đạo lý “Thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” trong cộng đồng dân cư, dân tộc, góp phần quan trọng xây dựng khối đoàn kết dân tộc “Quỹ vì người nghèo” các cấp trong

tỉnh đã thu được hơn 34 tỷ đồng, cộng với sự giúp đỡ về ngày công, tiền mặtcủa bà con, dòng họ và cộng đồng đã hỗ trợ xây dựng mới 2.496 nhà Đạiđoàn kết, sửa chữa 648 nhà; công nhận 51/184 xã, phường, thị trấn hoànthành việc xoá nhà tạm; thông qua các nguồn khác nhau đã hỗ trợ 6,5 tỷ đồnggiúp hàng trăm lượt người nghèo đến khám chữa bệnh, giúp đỡ hàng trămlượt học sinh nghèo đến trường và hàng năm giúp đỡ, hỗ trợ trên 2.500 hộnghèo thoát nghèo bền vững Công tác chính sách của lực lượng vũ trang tỉnhcũng có nhiều phương pháp sáng tạo nên từ 2006 - 2009 đã đóng góp 518triệu đồng để xây nhà tình nghĩa, 105 triệu xây nhà đồng đội, 13.675.671.500đồng để gặp mặt thăm hỏi, tặng quà [6]

Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh: “Nước ta có nhiều dântộc, đấy là điểm tốt Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng, có khi hai dân tộc

một tiếng nói Cán bộ đi làm việc chỗ nào, phải học tiếng ở đấy” [35, tr.137],

Trang 40

có khoảng 65% đội viên các đội công tác vận động quần chúng đã sử dụngthành thạo ngôn ngữ của đồng bào các DTTS nơi họ đứng chân công tác Đặcbiệt từ năm 2008, tỉnh đã xây dựng giáo án và dạy thử nghiệm ở bậc tiểu họcChương trình song ngữ Êđê - Việt cho học sinh DTTS; đã có 72 trường tiểuhọc với 474 lớp, 10.914 học sinh và 11 trường trung học cơ sở với 30 lớp,1.108 học sinh được học tiếng Êđê, qua đó rút kinh nghiệm xây dựng giáo áncho các chương trình song ngữ khác Đã xây dựng mới và cải tạo 640 phònghọc ở 257 điểm trường lẻ trong toàn tỉnh, trong đó tại các buôn đồng bàoDTTS có 75 điểm, 195 phòng; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú đãđược xây dựng ở tất cả các huyện, thành phố; hình thức bán trú, nội trú dânnuôi được triển khai ở 5/14 huyện cho học sinh DTTS ở vùng xa, khó khăn.Nhiều hình thức đào tạo được áp dụng để từng bước nâng cao chất lượng giáodục đào tạo cho đồng bào DTTS như: cử tuyển vào các trường đại học, caođẳng, trung học chuyên nghiệp; mở rộng hệ thống cơ sở đào tạo nghề, huấnluyện nghề; cử đi học các lớp ngắn hạn, dài hạn về nghiệp vụ, lý luận chínhtrị, quản lý nhà nước; mở lớp tập huấn, bồi dưỡng về quản lý thôn, buôn,tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân [41].

Những nội dung, biện pháp trên của hệ thống chính trị cơ sở ở Đắk Lắkkhá linh hoạt, sáng tạo thiết thực, thực sự thuyết phục được đồng bào nên đồngbào các dân tộc trong tỉnh cơ bản một lòng đoàn kết, thống nhất góp phần giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

Như vậy, thời gian qua, việc xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk theo tư

tưởng Hồ Chí Minh đã đạt những thành tựu rất quan trọng: hệ thống chính trị ởĐắk Lắk đã kịp thời đề ra quan điểm, chủ trương, biện pháp ĐKDT đúng đắnkhông mâu thuẫn với lợi ích căn bản của các dân tộc, đưa các dân tộc xích lại gầnnhau; các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án của tỉnh đã thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần đồng bào, cơ sở quan

Ngày đăng: 07/10/2016, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương (2006), Chỉ thị số 09 - CT/TU “Về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2006
2. Ban Chỉ đạo Tây nguyên (2009), Báo cáo năm 2008, những công tác trọng tâm năm 2009, Buôn Ma Thuột, ngày 01/01/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo năm 2008, những công tác trọng tâm năm 2009
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tây nguyên
Năm: 2009
3. Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk, (2010), Báo cáo tại Đại hội dân tộc thiểu số lần thứ nhất, Đắk Lắk ngày 6/01/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Đại hội dân tộc thiểu số lần thứ nhất
Tác giả: Ban Dân tộc tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2010
4. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk (2008), Báo cáo số liệu công tác dân vận sáu tháng đầu năm 2008, ngày 10/6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số liệu công tác dân vận sáu tháng đầu năm 2008
Tác giả: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2008
5. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk (2008), Chuyên đề: “Phản bác âm mưu, ý đồ của FULRO lưu vong lợi dụng “Tuyên ngôn quyền người bản địa” để kích động, lừa mị đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản bác âm mưu, ý đồ của FULRO lưu vong lợi dụng “"Tuyên ngôn quyền người bản địa"” để kích động, lừa mị đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Tác giả: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2008
6. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk (2010), Báo cáo công tác chính sách năm 2009, ngày 02/6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác chính sách năm 2009
Tác giả: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2010
7. Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, (sách tham khảo), Nxb CTQG, H, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
8. Phan Hữu Dật (2004), Góp phần nghiên cứu về dân tộc Việt Nam, (sách tham khảo), Nxb CTQG, H, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu về dân tộc Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
9.Trương Minh Dục (2005), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc, Nxb CTQG, H, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc
Tác giả: Trương Minh Dục
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
10. Dương Quốc Dũng (chủ biên), (2006), Bình đẳng và đoàn kết dân tộc ở Việt Nam - hỏi và đáp, Nxb QĐND, H, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng và đoàn kết dân tộc ở Việt Nam - hỏi và đáp
Tác giả: Dương Quốc Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010, Số 10-NQ/TW, H. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb CTQG, H, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
14. Nguyễn Sĩ Hoạ (2006), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, H, 2006, Học viện Chính trị quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Tác giả: Nguyễn Sĩ Hoạ
Năm: 2006
15. Lê Việt Hùng (2006), Vai trò của lực lượng vũ trang Quân khu 2 trong đấu tranh chống chia rẽ dân tộc trên địa bàn quân khu hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, H, 2006, Học viện Chính trị quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của lực lượng vũ trang Quân khu 2 trong đấu tranh chống chia rẽ dân tộc trên địa bàn quân khu hiện nay
Tác giả: Lê Việt Hùng
Năm: 2006
16. V.I.Lênin (1914), “Về quyền dân tộc tự quyết”, Toàn tập, Tập 25, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền dân tộc tự quyết”, "Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1914
17. V.I.Lênin (1914), “Về quyền bình đẳng dân tộc”, Toàn tập, Tập 25, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền bình đẳng dân tộc”, "Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1914
20. Hồ Chí Minh (1924), “Thư gởi đồng chí Phêtơrốp, Tổng thư ký Ban phương Đông”, Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H. 2000, tr.263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư gởi đồng chí Phêtơrốp, Tổng thư ký Ban phương Đông”, "Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1924
21. Hồ Chí Minh (1945), “Kính cáo đồng bào”, Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, H. 2000, tr.198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kính cáo đồng bào”, "Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1945
22. Hồ Chí Minh (1945), “Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa” Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, H. 2000, tr.553, 554 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa” "Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1945

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w